Điều tra viên “lúng túng” trả lời những mâu thuẫn về dấu vân tay tại hiện trường vụ án

Điều tra viên “lúng túng” trả lời những mâu thuẫn về dấu vân tay tại hiện trường vụ án

 Thứ năm, 07/05/2020 

  (BVPL)- Trả lời về việc thu và xác định mẫu vân tay tại hiện trường vụ án, có rất nhiều mẫu vân tay nhưng lại không có dấu vân tay trùng với vân tay của Hồ Duy Hải và nạn nhân Hồng, Điều tra viên vụ án tỏ ra lúng túng. Đặc biệt, khi HĐXX và đại diện VKS hỏi về việc đã thu giữ đầy đủ dấu vân tay chưa? Lí do không thu dấu vân tay ở những nơi quan trọng như ly nước, hộc tủ đựng tiền?….thì Điều tra viên không có câu trả lời.

Dấu vân tay của Hồ Duy Hải không có tại hiện trường vụ án và không xác định được của ai?

Phiên xét xử giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải tiếp tục với phần tranh luận giữa đại diện các Thẩm phán TANDTC, Kiểm sát viên VKSNDTC và những người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Điều hành phiên xét xử, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình đề nghị đại diện VKSND tối cao phân tích rõ thêm về  nội dung đã nêu trong kháng nghị.

Trong sáng ngày 7/5/2020, HĐXX theo thủ tục giám đốc thẩm đã làm rõ về mâu thuẫn được VKSND tối cao kháng nghị về dấu vân tay thu được tại hiện trường vụ án.

Theo nội dung kháng nghị của VKSND tối cao, kết quả giám định cho thấy, dấu vân tay thu được ở hiện trường (cửa kính, vòi nước ở lavabo) không phải của bị cáo Hồ Duy Hải. Theo bản án, sau khi sát hại chị Hồng, chị Vân, Hồ Duy Hải ra nhà tắm mở vòi nước rửa tay, rửa dao cho sạch máu. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã phát hiện, thu giữ một số dấu vết “đường vân tay ở mặt trong của kính trên cánh cửa sau và trên tay nắm vòi nước ở lavabo (BL 44).

Tuy nhiên, Bản kết luận giám định số 158/KL-P21 ngày 11/4/2008 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận: Các dấu vết vân tay thu được tại hiện trường vụ án không phát hiện trùng với điểm chỉ 10 ngón vân tay thu được tại hiện trường vụ án, không phát hiện trùng với điểm chỉ 10 ngón tay in trên chỉ bản của Hồ Duy Hải (BL 53).

Vì vậy, theo KSV VKSNDTC những dấu vân tay trên là của ai chưa được làm rõ.

Trả lời về nội dung này, Điều tra viên vụ án cho rằng việc thu giữ dấu vân tay tại hiện trường đã đúng quy định, và lí giải, việc không có dấu vân tay của Hồ Duy Hải là trùng khớp với lời khai của Hải vì có việc sau khi gây án, Hải đã đi rửa tay nên không để lại dấu vân tay (?).

Trước câu trả lời của Điều tra viên, thành viên HĐXX cho rằng, có rất nhiều khu vực có thể lưu lại dấu vân tay, tại sao lại chỉ lấy vân tay tại cửa nhà vệ sinh và lavabo nơi Hải rửa tay? Thêm nữa, hiện trường của vụ án rất rộng, từ nơi Hải gây án đến nhà vệ sinh, những nơi có thể lưu lại dấu vân tay như: ly nước, chiếc ghế, hộc tủ, tủ đựng tiền… đặc biệt là hung khí (chiếc thớt dính máu ở hiện trường, cái ghế dùng để đánh nạn nhân- PV) tại sao lại không lấy vân tay trên đó?.

Điều tra viên tỏ ra lúng túng, trả lời, việc Hồ Duy Hải đi nhiều nơi nhưng không để lại vân tay là điều … bình thường. Lí giải cho việc “bình thường” này, Điều tra viên cho biết thêm, khi khám nghiệm hiện trường phát hiện và thu giữ được 7 dấu vân tay, trong đó 2 dấu vân tay của nạn nhân và 5 dấu vân tay của ai không truy nguyên được, như nạn nhân Hồng, ăn, ở, sinh hoạt tại hiện trường xảy ra vụ án nhưng lại không tìm được dấu vân tay nào của chị Hồng tại hiện trường. Tại hiện trường chỉ tìm được dấu vân tay của nạn nhân Vân. Các tài liệu này không được đưa vào hồ sơ vụ án mà được lưu tại Cơ quan điều tra và các Điều tra viên chưa cung cấp được cho Hội đồng Thẩm phán.

Tìm nhưng không thấy, thấy nhưng không phải của Hồ Duy Hải

Tiếp tục chỉ ra những mâu thuẫn trong việc hiện trường vụ án không có dấu vân tay của Hồ Duy Hải, đại diện VKSND tối cao đưa quan điểm: Đây là án truy xét, nên việc lấy dấu vân tay tại hiện trường của vụ án là rất quan trọng. Theo đại diện Viện kiểm sát, việc lấy dấu vân tay đang thể hiện có nhiều thiếu sót.

Theo đó, từ vị trí của nạn nhân Vân, từ lời khai của Hồ Duy Hải, cần xác định lấy dấu vân tay trên địa bàn rộng, điều này thể hiện Cơ quan điều tra chưa làm hết, bỏ qua nhiều vị trí lưu lại dấu vân tay. Tại hiện trường còn có vân tay, tóc, đôi dép… đây có phải là của Hải không cũng chưa được làm rõ?

Đại diện VKS còn nhấn mạnh về những tài liệu thể hiện thu giữ dấu vân tay tại hiện trường, trong đó, dấu vân tay tại hiện trường còn được đối chiếu và kết luận của hai đối tượng là Sol và Nghị. Trong khi dấu vân tay thu được 7 mẫu nhưng lại không có dấu vân tay nào của Hải.

Thành viên HĐXX, hỏi căn cứ vào đâu Điều tra viên xác định được đối tượng tình nghi trong vụ án khi không dựa vào dấu vân tay để lại hiện trường. Thành viên HĐXX dẫn chứng, ban đầu Điều tra viên xác định đối tượng Đinh Vũ Thường là đối tượng tình nghi, sau đó chuyển thành nhân chứng vì lí do không tìm thấy dấu vân tay của Thường tại hiện trường. Ngược lại, trường hợp của Hải lại trở thành hung thủ, mặc dù cũng không tìm thấy có dấu vân tay của Hải ở hiện trường? Điều tra viên cho rằng, dấu vân tay chỉ là một căn cứ để xác định hung thủ, với Thường, Sol, Mi được loại khỏi danh sách tình nghi vì có tình tiết ngoại phạm.

Đặc biệt, đại diện VKSND tối cao còn đưa ra mâu thuẫn trong việc việc đối chiếu, giám định vân tay lại được thực hiện sau 3 tháng xảy ra vụ án, sau khi Hải bị bắt.

Thành viên HĐXX cũng nêu câu hỏi đối với Điều tra viên về việc đã quét toàn bộ mẫu vân tay thu giữ tại hiện trường để tìm xem trùng khớp với các đối tượng khác chưa? Điều tra viên cho rằng, về nguyên tắc là phải quét đối chiếu để tìm các đối tượng nhưng do kỹ thuật hình sự ngày đó còn hạn chế nên không làm được.

Nhiều thành viên HĐXX cũng nêu quan điểm về việc khó có thể lí giải khi hiện trường vụ án lại không có dấu vân tay của cả nạn nhân và hung thủ, phải chăng còn nhiều vị trí Cơ quan điều tra chưa thu lấy dấu vân tay.

Chánh án Nguyễn Hòa Bình nhận định, theo như trả lời của Điều tra viên thì Cơ quan điều tra có tìm dấu vân tay tại hiện trường nhưng có nhiều vị trí không thấy, có thấy dấu vân tay nhưng lại không phải của Hải.

Tại phiên xét xử, đại diện VKSND tối cao đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An cung cấp một số tài liệu, như các bản vân tay, vì trong hồ sơ vụ án không có, dẫn đến làm ảnh hưởng đến bản chất vụ án.

Chánh án Nguyễn Hòa Bình kết luận, chấp thuận đề nghị của đại diện VKSND tối cao, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Long An cung cấp bản chính các tài liệu, đặc biệt là những tài liệu liên quan đến các bản vân tay thu được từ hiện trường vụ án, để HĐXX đánh giá tài liệu này với bản chất của vụ án khi nghị án.

Hà Nhân

Image may contain: 6 people, people sitting
Image may contain: 3 people

KẺ NÀO LÀ HUNG THỦ THỰC SỰ? NGUYỄN VĂN NGHỊ LÀ AI?

Image may contain: 1 person, text
Liên Trà

Fb Nguyen Xuan Dien

KẺ NÀO LÀ HUNG THỦ THỰC SỰ? NGUYỄN VĂN NGHỊ LÀ AI?

Vụ án tử tù Hồ Duy Hải: Đơn tố giác đối tượng Nguyễn Văn Nghị của gia đình Hồ Duy Hải

LS Trần Hồng Phong: Từ tháng 5-2015, gia đình Hồ Duy Hải đã gửi lá đơn dưới đây đến Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, tố giác một người tên là Nguyễn Văn Nghị có dấu hiệu là hung thủ trong vụ án Bưu điện Cầu Voi mà Hồ Duy Hải bị kết án tử hình và đang kêu oan. Tới nay vẫn chưa có kết quả giải quyết của các cơ quan chức năng. Xét rằng một mạng người có thể chết oan là không thể chấp nhận được, và gây nguy hại cho uy tín của nền tư pháp nước nhà, nên chúng tôi quyết định công khai lá đơn này.
———————
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Long An, ngày 11 tháng 5 năm 2015

ĐƠN TỐ GIÁC TỘI PHẠM

(V/v: Ông Nguyễn Văn Nghị có nhiều dấu hiệu là người
đã giết hại hai nữ nhân viên tại Bưu điện Cầu Voi)

Người tố giác: NGUYỄN THỊ LOAN, sinh 1963
Địa chỉ: ấp 1, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG ĐƠN

I. Nhiều bài báo phản ánh Nguyễn Văn Nghị có mặt tại Bưu điện Cầu Voi tối 13/1/2008 và có liên quan đến vụ giết người:

1. Tóm tắt vụ án:
2. Nội dung đăng trên báo chí về sự liên quan của Nguyễn Văn Nghị:
* Báo Thanh Niên:
* Báo Người Lao Động:
* Báo Pháp luật Việt Nam:
II. Kết luận chủ quan và sai lầm về thời gian gây án của Cơ quan điều tra tỉnh Long An:
1. Dấu hiệu “thức ăn đã nhuyễn” cho thấy hai nạn nhân phải bị giết sau 22 giờ đêm:
2. Máu của hai nạn nhân không thể chưa đông/ khô sau hơn 13 giờ kể từ thời điểm chết:
3. Tình tiết mới: Lúc 22h tầng 1 Bưu Điện còn đèn sáng với nhiều nghi vấn
4. Sự mâu thuẫn trong lời khai về thời điểm nghe tiếng kêu và thời điểm Vân mua trái cây chưa được làm rõ:

III. Phân tích về khả năng phạm tội của Nguyễn Văn Nghị

1. Về ý thức chủ quan:
2. Những dấu hiệu khách quan:
2.1. Nguyễn Văn Nghị chắc chắn đã có mặt tại Bưu điện Cầu Voi.
2.2. Tình tiết Nghị có mặt tại quán cà phê lúc khoảng 20h10’ không/chưa đủ cơ sở để kết luận Nghị ngoại phạm.
2.3. Vì sao Nghị phải bỏ trốn?
2.4. Kết luận giám định về việc thức ăn đã tiêu hóa trong dạ dày hai nạn nhân và nhiều tình tiết khác cho thấy rõ khả năng hai nạn nhân đã bị sát hại vào khoảng từ 21h trở về sau.
2.5. Ánh đèn sáng trên lầu 1 Bưu điện vào lúc 22h đêm cho thấy ít nhất một trong hai nạn nhân đã ở trên lầu trong đêm hôm xảy ra án mạng.
2.6. Cửa đi lên lầu 1 bị khóa cho thấy có sự bất thường và khả năng có dấu vết tội phạm.
2.7. Dấu vân tay của ai?
2.8. Dấu dép trên mặt ghế
2.9. Các “vét bầm” ở chân nạn nhân Hồng
2.10. Ai đã mang mút xốp đến bưu điện Cầu Voi, phải chăng mút xốp dùng để gói “con dao còn mới tinh”?
2.11. Ai đã tắt đèn tại Bưu Cục trong đêm xảy ra vụ án?
2.12. Có đúng là Hồ Duy Hải đã đưa tiền cho Vân đi mua trái cây?

IV. Hàng loạt sai sót và vi phạm thể hiện dấu hiệu “chạy tội” cho Nguyễn Văn Nghị

1. Việc có mặt ở quán cà phê lúc 20h10’ không phải là tình tiết ngoại phạm của Nguyễn Văn Nghị
2. Vì sao Nguyễn Văn Nghị không được đưa vào danh sách “nhân chứng” – kể cả trong trường hợp Hồ Duy Hải là hung thủ?
3. Vì sao không tiến hành đối chất, làm rõ thời gian gây án?
4. Vì sao toàn bộ thông tin có liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đều bị rút khỏi hồ sơ vụ án?
5. Vì sao không tiến hành việc cho Nguyễn Văn Nghị nhận dạng hung thủ?
6. Vì sao không giám định vân tay của Nguyễn Văn Nghị?

V. Những tình tiết oan sai cơ bản của Hồ Duy Hải

1. Dấu vân tay thu giữ tại hiện trường không phải là của Hồ Duy Hải:
2. Không có ai nhận diện Hồ Duy Hải có mặt tại bưu điện Cầu Voi vào buổi tối xảy ra vụ án:
3. Qui kết giết người bằng dao, ghế nhưng không hề thu giữ được tang vật nào:
4. Chỉnh sửa lời khai, biên bản trái qui định, làm sai lệch hồ sơ vụ án:

VI. Kiến nghị:

1. Làm rõ tình tiết đêm 13/1/2008, sau khi rời khỏi quán cà phê (lúc khoảng 20h10) Nguyễn Văn Nghị đã làm gì? Ở đâu?
2. Làm rõ tình tiết ánh đèn sáng trên lầu 1 lúc 22h tối 13/1/2008. Ai đã lên lầu 1 và cắt điện tại Bưu điện Cầu Voi tối 13/1/2008?
3. Làm rõ thời gian chết của hai nạn nhân. Qua đó xác định chính xác thời gian gây án của hung thủ.
4. Tiến hành giám định vân tay đối với Nguyễn Văn Nghị so sánh với mẫu dấu vân tay của hung thủ thu giữ tại hiện trường.
5. Làm rõ lý do vì sao không triệu tập Nguyễn Văn Nghị làm nhân chứng và rút toàn bộ thông tin, lời khai của Nguyễn Văn Nghị ra khỏi hồ sơ vụ án.

TIN NÓNG VỤ HỒ DUY HẢI

Image may contain: 1 person, text
Liên Trà

TIN NÓNG VỤ HỒ DUY HẢI

LS LN Luân

Phiên toà đầu tiên (6/5/2020), sau khi Chủ toạ yêu cầu LS Trần Hồng Phong (bào chữa cho Bị cáo H.D. Hải) công bố các ý kiến thì buổi chiều Hội đồng Thẩm phán TANDTC bảo LS Phong không phải tiếp tục tham gia. LS Phong sau đó vẫn ở Hà Nội để gửi đơn đề nghị tham gia toàn bộ phiên toà nhưng không được.

Lập tức các Luật sư Đồng nghiệp trong cả nước soạn văn bản kiến nghị khẩn cấp gửi đi các nơi. May mắn là Liên đoàn LSVN cũng có văn bản đề nghị toà để LS Phong tiếp tục tham gia theo đúng quy định.

Chiều nay, buổi Livestream tôi cũng phân tích quy định và tính cấp thiết, quan trọng phải có luật sư bào chữa để đảm bảo đi đến tận cùng sự thật của vụ án.

Cách đây mấy phút, LS Phong vừa mới đáp xuống Sân bay Tân Sơn Nhất thì nghe tin được cho phép quay lại để mai tham gia. Tôi đã trao đổi với LS Phong thì anh nói đang tìm vé trở lại Hà Nội nhưng không biết có vé không.

Thấy thương cho LS Phong và cái nghề này quá.

Cuối cùng, tôi chia sẻ với anh Phong là có một số nguồn đưa tin bất lợi cho Bị cáo Hải nên bảo cố gắng đọc để mai tranh luận dù biết anh đang kiệt sức vì mệt.

P/S: Tất cả cùng nín thở chờ đợi phán quyết của toà.

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Trong những ngày đầu tháng 02 năm 1990, có một con đường ở huyện ngoại thành đã được báo chí làm cho nổi tiếng.  Con đường ấy một đầu là giăng ngang biểu ngữ khai trương phòng vật lý trị liệu trá hình, còn đầu kia là sừng sững một khách sạn mini sang trọng làm nhà riêng của người biển thủ, chức danh là giám đốc.  Con đường ấy chợt nổi tiếng vì những vụ tai tiếng.

Từ hai mươi thế kỷ nay, trong Giáo Hội, người ta biết có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng.  Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc.  Con đường ấy trải dài tin yêu để lâng lâng vươn lên sự sống.  Con đường ấy thấp sáng hy vọng để dẫn tới Nhà Cha trên trời.  Đường mở về miên viễn, Đường dẫn đến vĩnh hằng.  Đó là đường mang tên Chúa Giêsu.

  1. Đường hy vọng tin yêu.

Nếu có một câu hỏi được các Tông đồ đặt ra nhiều nhất thì đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn.  “Thầy ở đâu?” là câu hỏi của Gioan đặt ra trong lần đầu gặp gỡ, để được gọi đến xem và bước vào ơn gọi; “Thầy muốn chúng con dọn lễ Vượt Qua ở đâu?” là câu hỏi của các Tông đồ đặt ra để có được địa chỉ chính xác cho Bữa Tiệc Ly; và hôm nay lại là Tôma nôn nóng bật ra câu hỏi “Thầy đi đâu?” trước một tương lai vẫn còn ẩn khuất.

Bận tâm về nơi chốn là bởi vì trong đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành trình, mà cuộc hành trình cuối cùng là tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy mình chịu chết.  Có khối ông đã coi đây là con đường thất bại của Chúa để trở thành con đường thất vọng của mình.  Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Người lại bị đóng đinh như tên tử tội.  Công dã tràng!  Khi mọi vốn liếng hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bỗng dưng lật ngửa trắng tay, người ta như rớt từ trên cao quay cuồng chao đảo.  Thế mới hay ước vọng thì rộng lớn nhưng khung đời lại chật hẹp mà thực tế lại phũ phàng!

“Thầy đi đâu?” Ẩn sâu dưới câu hỏi ấy là một tâm trạng hoang mang trước một quá khứ vừa mới khép lại mà tương lai chưa kịp mở ra.  Tương lai ấy mới mẻ hay chỉ là quá khứ đươc lặp lại ở thì sẽ đến?  Đã một lần vỡ mộng, các Tông đồ băn khoăn là chuyện thường tình.  Giống như đứa trẻ lỡ một lần phải bỏng, hễ thấy lửa là tự nhiên rụt tay lại.  Vì thế, nghe trong câu hỏi “Thầy đi đâu?” có âm hưởng lo âu tự hỏi “mình đi đâu?”

Thất vọng về quá khứ và hoang mang trước tương lai, đó là những con đường các Tông đồ đã nếm trải.  Nhưng mở đầu Tin Mừng hôm nay lại là lời của Chúa Giêsu: “Các con đừng xao xuyến.”  Đó là lời an ủi vỗ về, đồng thời cũng là lời cắt băng khai mở một con đường mới trong hy vọng tin yêu.

  1. Đường mang tên Giêsu.

“Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.”  Trả lời cho Tôma, cùng lúc Chúa Giêsu để lộ cho biết từ nay chỉ có một con đường duy nhất được mở ra trong ơn cứu độ, và tên gọi con đường ấy lại chính là Người.

Người là Đường Sự Thật bởi Người là Chân Lý, một chân lý sống động khả tín làm nền tảng và hướng đi cho mọi cuộc đời, một thực tại năng động đầy Thần Khí làm sức mạnh giải thoát cho mọi kẻ tin.  Đường Sự Thật không phải là một hệ thống tín điều do Chúa Giêsu thiết định, nhưng là toàn thể cuộc sống lời nói việc làm của Người trong ý nghĩa cứu độ.  Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra?  Giữa phiên tòa dịp lễ Vượt Qua, trước mặt Chúa Giêsu, Philatô đã hỏi một câu ngớ ngẩn: “Sự Thật là chi? – Quid est Veritas?”  Chúa Giêsu không trả lời, vì Sự Thật hiện thân chính là Người đứng đó.  Có biết đâu hỏi là đã trả lời, chỉ cần sắp xếp lại thứ tự các mẫu tự sẽ thành hàng chữ: “Est Vir qui adest” (x. Tihamet Toth, Chúa Cứu Thế Với Thanh Niên, p. 95).

Người là Đường Sự Sống bởi Người là Sự Sống thượng nguồn phát sinh các sự sống khác trong công trình sáng tạo, và là Sự Sống cội nguồn mà mọi sự sống khác phải tìm về trong công cuộc tái tạo của ơn cứu độ.  Người thông ban sự sống cho mọi sinh linh, và luôn đi bước trước để lôi kéo mọi người về với Sự Sống của Thiên Chúa.  Người chịu chết để nhân loại được sống, và Người sống lại để mãi mãi mở ra nẻo đường dẫn vào cõi sống.  Mọi sự sống trần gian có thể đổi thay tan biến, nhưng Sự Sống Người là vĩnh cữu trường tồn.  Người hằng sống hằng trị muôn đời.

Người là Đường dẫn tới Nhà Cha bởi Người và Cha không thể tách lìa: Chúa Con ẩn mình trong Chúa Cha, và Chúa Cha tỏ hiện trong Chúa Con.  Vẫn là Một từ ngàn xưa và mãi là Một tới ngàn sau.  Thế nên Đường mang tên Giêsu tất yếu cũng là địa chỉ Nhà Cha, và ngược lại tìm đến Nhà Cha cũng là hành trình vào Đường Sự Thật và Sự Sống.

  1. Đường con đi.

Dẹp bỏ con đường cũ của thất vọng hoang mang để khai mở con đường mới bằng toàn diện con người mình, Chúa Giêsu muốn truyền lại cho các Tông đồ cái kinh nghiệm hiện sinh phong phú liên kết với Cha qua Chân Lý và Sự Sống; đồng thời đó cũng chính là lời mời gọi Giáo Hội cất bước lên đường với những hành trang đi về hạnh phúc.

Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những con người biết mình có một lý tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lý tưởng ấy.  Trút bỏ những hành trang cồng kềnh của danh lợi thú, đoạn tuyệt với những ngõ cụt lối mòn sao gợn sỏi đá của cuộc sống khô khan, chấp nhận canh tân để có được bước đi vừa thanh thót vừa thanh thản của đời nhân đức chính là hát lên khúc ca mới trên con đường mới.  Vì lý tưởng ấy chính là lẽ sống, cũng chính là vinh dự một đời: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, Dân riêng của Chúa…” (bài đọc thứ hai).

Đi trên Đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững.  “Thầy đi dọn chổ cho các con.”  Vận mệnh tương lai đã mở ra.  Không còn xa xôi tít tắp, nhưng đã châm rễ từ cuộc đời này.  Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại Nhà Cha đã được định hình ngay từ bây giờ trong bước đường lữ thứ của Hội Thánh ở giữa lòng đời.  Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng về một cứu cánh, được tái sinh trong giới hạn nhưng không ngừng hướng về vô hạn.  Thiết tưởng lời kinh của Thánh Augustinô có thể là tóm kết của bước đi hy vọng đã biến thành khát vọng: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con để cho Chúa, nên con mãi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Ngài.”

Đi trên Đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ.  Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới.  Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ bàn thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em.  Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành.  Có thể nói được rằng tình yêu và phục vụ là đôi chân của Giáo Hội lữ hành đặt bước chân mình trong dấu chân Chúa.  Và cũng có thể hiểu được rằng cách nhìn “con người là con đường của Giáo Hội” (Gioan Phaolô II) chính là tốc độ mới của tình yêu chan hòa phục vụ trên Đường Giêsu hôm nay.

Và lời cuối cùng sẽ là một lời kinh, dệt nên khúc hát hy vọng cho những ai đang băn khoăn tìm kiếm một con đường sống, và biến nên hành khúc tin yêu cho những ai đã một lần cất bước hành trình: “Chúa muốn nhận con đường con đi, nên Ngài đã sinh xuống dương gian.  Chúa đã nhận đôi bàn tay con, dìu từng bước, bước đi trên đường.  Chúa ôi, khi nhìn đời con, con không hiểu từng giọt lệ sầu.  Chúa ôi, khi nhìn đời Ngài, con đã gặp đường hướng con đi.”

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống (trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

‘Luật sư ơi, cứu con’

Ngô Thị Thứ

‘Luật sư ơi, cứu con’

Thứ bảy 20/10/2012 15:53 GMT + 7

Có vụ án thật kỳ lạ. Kỳ lạ đến mức làm cho những người tham gia nghĩ rằng tòa chỉ muốn kết án cho xong việc và bị cáo dường như bị sắp xếp để chết thay cho hung thủ thực sự.

  1. Tôi nhận lời bào chữa cho Hồ Duy Hải, bị cáo trong vụ án hai nữ nhân viên Bưu điện Cầu Voi (huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An) bị sát hại đầu năm 2008, trong tâm trạng khó tả. Bởi lẽ, sự man rợ của hung thủ khi cướp đi sinh mạng hai người mà báo chí đã thông tin khiến tôi cũng như nhiều người đều mong muốn kẻ thủ ác sớm phải đền tội thích đáng. Đã định từ chối, nhưng ánh mắt như van lơn, tìm kiếm sự chia sẻ của hai người phụ nữ (một là mẹ, một là dì ruột của bị cáo), và giọng nói ngèn nghẹn, cầu cứu của họ “Oan con tôi lắm, cháu không giết người, cháu không đáng phải chịu tội” đã khiến tôi thay đổi ý định, với lời khẳng định: “Tôi chỉ nhận lời đọc hồ sơ vụ án, nếu phát hiện oan sai, mới nhận bào chữa cho Hải, nếu không thì sẽ từ chối”. Gia đình đồng ý.

Bị cáo Hồ Duy Hải trước tòa

  1. Hai lần đầu gặp trong trại tạm giam của Công an tỉnh Long An, dù tôi đã thuyết phục, thậm chí có khi như năn nỉ, Hải chỉ lặng câm, không một lời nói, mắt luôn hướng về hai chiến sĩ đang giám sát sự tiếp xúc của luật sư với bị can đầy lo sợ. Lẽ thường, bị can phải tranh thủ thời gian gặp ngắn ngủi để trình bày sự thật, hoặc thanh minh với hy vọng luật sư sẽ giúp mình vô tội hay giảm nhẹ tội, nhưng đây chỉ là sự im lặng! Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tôi thấy có nhiều sai sót, mâu thuẫn. Chẳng hạn, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Tỉnh Long An khẳng định: “Các dấu vân tay thu được tại hiện trường vụ án không phát hiện trùng với điểm chỉ 10 ngón trên chỉ bản của Hồ Duy Hải”.

Vậy đó là vân tay của ai? Ai mới là hung thủ thật sự? Vì sao cơ quan điều tra không truy tìm trong tàng thư căn cước để tìm chủ nhân của dấu vân tay để lại hiện trường? Hay như, con dao, cái thớt được cho là hung khí gây án cũng không được thu giữ, dù khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra làm khá kỹ (thu được cả những sợi tóc, cọng bún, hạt cơm khô, vết máu…), để rồi đến 5 tháng sau mới cho người đi mua về để mô phỏng tang vật, thậm chí còn sửa chữa kích thước con dao trong biên bản ghi lời khai của một nhân chứng, để làm cơ sở kết tội Hải… Những mâu thuẫn, sai sót đó, cùng với sự im lặng bất thường của bị can càng thôi thúc tôi muốn tìm hiểu sự thật vụ án. Tôi trở lại gặp Hải lần thứ ba. Động viên, giải thích, thuyết phục mãi, thậm chí có lúc phải dọa: “Cháu không nói ra, thì sẽ bị tử hình mà không ai cứu được”, Hải mới nói được mấy câu: “Con không giết người. Con không làm gì cả. Oan con lắm. Luật sư ơi, cứu con”. Rồi đột nhiên, mặt mày Hải nhăn nhúm lại như phải chịu đau đớn tột cùng vì một tác động từ đâu đó. Nhiều lần gặp Hải trong trại tạm giam sau đó đều tương tự như thế. Những lời kể lõm bõm, nhỏ giọt, ánh mắt thất thần, hãi hùng, lo sợ cho tôi cảm nhận dường như Hải không dám nói ra sự thật vì sự đe đọa nào đó.

  1. Tôi chuẩn bị thật kỹ hồ sơ cho ngày xét xử sơ thẩm cuối tháng 11 năm 2008. Điều lạ là, dù gia đình bị cáo Hải đã nhờ tôi làm luật sư bào chữa, nhưng tại tòa vẫn có thêm một luật sư được chỉ định bào chữa cho Hải. Dù đây là việc vi phạm tố tụng, nhưng tôi thầm nghĩ, dù sao có đồng nghiệp hỗ trợ vẫn hơn và yên tâm trình bày phần bào chữa trong đó nêu ra 41 điểm sai sót trong quá trình điều tra, truy tố và khẳng định cơ quan điều tra đã suy diễn dựa vào hiện trường và lời khai của bị cáo, dù lời khai đó có nhiều điểm không phù hợp với thực tế khách quan vụ án, đồng thời đề nghị tòa trả hồ sơ vụ án, điều tra lại để xác định chính xác hung thủ, không để oan sai cũng như lọt tội.

Đại diện VKS hôm đó, không tranh luận mà chỉ đọc lại cáo trạng, đồng thời cũng thừa nhận có nhiều sai sót nhưng “không thể làm lại nữa vì đây là án điểm, thời gian kéo dài lâu, dư luận bức xúc”! Điều lạ và thật lạ là, luật sư đồng nghiệp được chỉ định bào chữa cho Hải, chẳng những không bào chữa mà mau mắn nhận tội thay thân chủ và chỉ mong được giảm án từ tử hình xuống còn chung thân trong khi chính bị cáo lại kêu oan tại Tòa! Giờ giải lao, trước khi tranh luận, tôi có trao đổi với luật sư này những nội dung mâu thuẫn, sai sót, vi phạm, thì bất ngờ vị này thốt ra: “Ông nói gì được thì nói, ở đây tôi bị kẹt (?!)”. Chưa hết, sau phần trình bày của tôi, luật sư đồng nghiệp còn “buộc tội” than chủ khi cho rằng “Dấu vân tay của bị cáo không trùng với vân tay thu được tại hiện trường thì bỏ không sử dụng chứ đâu có gì (!?)” Rồi hội đồng xét xử cũng bỏ qua những sai phạm trong điều tra, truy tố để tuyên tử hình bị cáo. Đến khi xét xử phúc thẩm cũng thế, dù thừa nhận có nhiều thiếu sót của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng vẫn kết án tử hình Hồ Duy Hải.

  1. Từ ngày nhận lời bào chữa cho Hồ Duy Hải, tôi có điều kiện để tìm hiểu về nhân thân của thân chủ. Ông nội Hải là cán bộ miền Nam tập kết, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Bà nội cũng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Còn cố ngoại của Hải lại là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Gia đình cô dì, chú bác cả hai bên đều là những người lương thiện, nông dân cần cù, chất phác. Nhiều khi tôi cứ tự hỏi, liệu một cây lành có sinh trái đắng?

Riêng Hải lại có nhiều thiệt thòi. Bố mẹ ly dị với nhau lúc Hải mới lên 5 khi bố có vợ khác. Buồn phiền chuyện tình cảm, mẹ Hải ra nước ngoài lam lũ kiếm sống. Hơn 4 năm rưỡi qua, kể từ ngày con bị bắt và kết án tử hình, người phụ nữ ấy suy sụp hẳn, già cỗi và gày còm. Đôi chân chị đã bươn chải khắp nơi để kêu oan cho con. Đã hai lần nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi còn tại nhiệm, có ý kiến đề nghị các cơ quan chức năng xem xét, làm rõ vụ việc để tránh oan sai, nhưng sự việc gần như rơi vào im lặng. Chỉ có, TAND Tối cao trả lời, nhưng lại căn cứ vào những tài liệu có nhiều sai sót, bất cập để khẳng định việc kết án tử hình Hồ Duy Hải là có căn cứ.

Dù không phải là thẩm phán, nhưng với những chứng cứ rõ ràng và bằng niềm tin nội tâm, tôi thật sự không tin Hải là người đã cầm dao cắt cổ hai nạn nhân như kết luận điều tra và cáo trạng. Hung thủ thật sự là ai? Hải đã phạm tội gì và đáng nhận hình phạt nào trong vụ án trên, khi lời kêu oan của bị cáo “Luật sư ơi, cứu con!”, cứ mãi ám ảnh tôi. Giả sử, nếu tiếng kêu oan không thấu trời xanh, thì có lẽ tôi chỉ có thể tự an ủi mình, có lẽ đó là định mệnh!

Luật sư Nguyễn Văn Đạt

Nguồn:

https://baonga.com/luat-su-oi-cuu-con.html

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

HUY PHƯƠNG

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

HUY PHƯƠNG

Biết nhau qua một thời gian khá dài, trong và ngoài nước, chắc bạn đọc và bằng hữu của chúng tôi công nhận là tôi có thói quen dùng loại văn chương tử tế, chưa bao giờ phải nổi giận, dùng loại văn chương chì chiết, dung tục và thô bạo để diễn tả ý nghĩ của mình.

Nhưng hôm nay, xin tất cả bỏ qua, vì trong trường hợp này, Phật trên tòa sen cũng phải nổi giận, Chúa cũng phải cau mày vì một câu nói hỗn xược, ngang ngược của một viên tướng CSVN tên là Nguyễn Chí Vịnh. Câu nói đó lại được thốt ra trong ngày 30 Tháng Tư năm nay là: “Bảo là không có kẻ thắng người thua là không đúng. Thắng rồi nhưng tôi không có trả thù. Thắng rồi tôi khoan dung. Thắng rồi tôi tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường. Đó là tấm lòng nhân ái của đảng và nhà nước mình.”

Câu nói này na ná phát biểu của tên tướng “đồ tể” Lê Đức Anh mấy chục năm về trước: “Lòng nhân ái làm nên ngày 30 Tháng Tư, 1975!”

Cả triệu triệu người Việt Nam còn ở trong nước hay đã ra hải ngoại, có mắt thấy tai nghe, đã biết những kinh nghiệm xương máu, thực tế phũ phàng, đã trải qua những ngày dở chết dở sống từ khi quân Bắc Việt tiến chiếm Sài Gòn, như là một đại họa cho dân tộc, như cơn đại hồng thủy nhấn chìm số phận bi thảm của con người, đã cho chúng ta thấy cái đại ác mang mặt nạ “nhân ái, khoan dung,” mà bọn xâm lược Hà Nội dành cho những người thua trận, được Nguyễn Chí Vịnh và Lê Đức Anh ca tụng, chính là thứ nhân ái, khoan dung “chó đẻ,” không hơn không kém.

Nguyễn Chí Vịnh là con trai của Nguyễn Chí Thanh, năm 1975 còn là học sinh trường cấp 3 Lý Thường Kiệt.

Trước hết câu nói của Nguyễn Chí Vịnh là hỗn xược, đã tạt gáo nước lạnh vào mặt những giới chức đi trước, cao cấp, tiền bối của y, là không nhập nhằng gì cả, phải có kẻ thắng người thua.

Trước đó, tướng của Vịnh là Trần Văn Trà đã từng phát biểu: “Đối với chúng ta không có kẻ Thua người Thắng, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta Thắng Mỹ.”

Võ Văn Kiệt cũng đã từng nói: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu…”

Từ đó đến nay, CSVN luôn luôn hô hào hòa hợp, hoà giải, kêu gọi người Việt hải ngoại xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, để cùng nhau bắt tay xây đựng đất nước. Bộ Ngoại Giao CSVN đã lập ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội đã thường xuyên tổ chức Hội Nghị người Việt ở nước ngoài, Sài Gòn tổ chức đoàn văn nghệ phục vụ kiều bào nhân dịp Tết, vinh danh những người bỏ nước ra đi vì chế độ là … “khúc ruột ngàn dặm…,” “máu thịt của tổ quốc,” tất cả đều vì đồng đô la, nghe là lợm giọng! Chúng ca tụng “Những nghĩa cử cao đẹp, trân quý của kiều bào ta thể hiện tinh thần “tương thân tương ái” – vốn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam!” Gần đây, ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, đã động viên và khen ngợi việc ủng hộ, đóng góp cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 của đồng bào nước ngoài. Mặt khác, còn tư duy hận thù, đắc thắng, Nguyễn Xuân Phúc lại kêu gọi “chống dịch phải tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam.”

Trước hết câu nói ngụy biện để bệnh vực cho chế độ của tướng Phát-Xít quân phiệt, Nguyễn Chí Vịnh là “không có trả thù!” Bắn giết, chôn sống, dội nước sôi xuống đầu (*) ngay cả những người đầu hàng, san bằng nghĩa trang của phe thua trận, giam cầm gần một triệu người đối đầu và khác chính kiến vào trại tập trung! Điều này không phải là trả thù và được gọi là khoan dung sao?

Kỳ thị kẻ mới người cũ, phân biệt “gia đình có công với Cách Mạng” với “tàn dư Mỹ Ngụy,” “có nợ máu,” hạn chế con em miền Nam không có cơ hội học hành. Điều này không phải là trả thù và được gọi là khoan dung sao?

Nói đến Cộng Sản Việt Nam là nói đến cái ác. Biểu tượng của lòng nhân ái, khoan dung chính là một cây búa hiện nay đang được trưng bày tại ở bảo tàng quân đội Việt Nam, Hà Nội, được chú thích như sau: “BÚA. Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, huyện đội phó huyện Mỏ Cày (Bến Tre) đã dùng để bổ chết 10 tên ác ôn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”

Một cây búa lừng danh “nhân ái” khác là cây búa “khảo cổ” mà đàn em Lê Duẫn đã dùng để đập đầu Giáo Sư Nghiêm Thẩm, giám đốc Bảo Tàng Viện Sài Gòn, chỉ vì vị giáo sư anh hùng này không chịu hoàn thành đơn đặt hàng của bí thư Lê Duẩn, chứng minh “dân Việt Nam là thủy tổ các dân tộc Đông-Nam Á-Châu!”

Ngay đối với những người dân thường không có “nợ máu,” Bắc Việt với chính sách trả thù nhắm vào nhân dân miền Nam vì “chúng” quá tự do, quá giàu sang, quá sung sướng bằng chính sách tịch thu nhà cửa, cướp cạn tài sản của người giàu, hai lần ăn cướp công khai bằng thủ đoạn đổi tiền, đày ải dân lành đi vùng kinh tế mới. CSVN dùng chính sách hộ khẩu, phân bố lương thực, dân không kiếm ra công ăn việc làm, xô đẩy người miền Nam vào bước đường cùng, phải rời nước ra đi, bỏ thây trên biển cả. Điều này Nguyễn Chí Vịnh chắc không đến nỗi ngu đần mà không nhận ra, nhưng chẳng qua vì tham vọng mà bỏ lương tri, nói cương để được lòng chế độ.

Bây giờ là lúc Nguyễn Chí Vịnh nói huỵch toẹt ra, là không hòa hợp, hòa giải gì cả, là tao thắng là mày thua.

– “Thắng rồi, tôi tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường.”

Nguyễn Chí Vịnh nếu có đủ trí khôn của thời niên thiếu, hay có đông đủ họ hàng, bạn bè nói lại cho nghe thì cũng biết rằng miền Nam thua trận có hằng trăm ngàn chuyên viên đủ mọi ngành nghề cấp cao, nhiều cán sự lành nghề… nhưng tất cả đều chỉ có một con đường đi cuốc đất, đạp xích lô, bán thuốc lá lẻ, xăng lẻ, vá xe vệ đường hay bôn ba chốn chợ Trời… Nếu không, cũng tìm đường ra đi, để công sở, trường học, nhà máy, công trường… lại cho bọn lợn lòi từ hang động trở về. Chính sách “hồng hơn chuyên” cố chấp, đầu đặc đã là tiêu hao bao nhiêu tài nguyên của đất nước, khi chúng quan niệm “chất xám” trí tuệ không giá trị bằng một nắm phân nơi “vùng kinh tế mới!” Đó là “tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường” đó ư?

Đúng là “không có kẻ thắng người thua là không đúng,” nhưng bất hạnh cho miền Nam thất trận, không may mắn thất trận vào tay một kẻ hào hiệp để có được một Hiệp Ước Của Người Quân Tử – The Gentlemen’s Agreement- mà mất nước vào tay thảo khấu, lục lâm, mới ra cớ sự “dãi thây trăm họ,” oán hận ngút trời, như sau cuộc chiến tương tàn Việt Nam…

Hôm nay đến ngày 30 Tháng Tư lần thứ 45, người dân miền Nam ai cũng mang một vết thương chưa lành. Bao nhiêu năm qua, chúng ta đã quá hiểu nhau tính cách của nhau. Đây không phải là lúc dùng những luận điệu tuyên truyền trẻ con và xảo trá ấy nữa! 45 năm trôi qua, thời buổi này mà kẻ côn đồ, dao búa còn nói chuyện trịch thượng tha thứ hay cho rằng mình là kẻ khoan dung, nhân ái, thì đây đúng là thứ khoan dung, nhân ái loại “bà Tú Để,” loại “chó đẻ” mà chẳng ai muốn nghe.

Một lần nữa, xin bạn đọc tha thứ nếu chúng tôi đã làm bẩn mắt quý vị, nhưng với loại người ấy, chúng ta không thể dùng một loại từ ngữ nào đúng hơn! Hồn ông Bùi Bảo Trúc có linh thiêng xin về chứng giám!

 
*** 

HÌNH:Các Thương Phế Binh VNCH, những người bị phân biệt đối xử sau 30 Tháng Tư, 1975, đang chờ đợi nhận quà từ thiện tại Chùa Liên Trì, thành phố Sài Gòn ngày 9 Tháng Tư, 2015. Hơn 40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, CSVN vẫn cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Nhưng với chủ nghĩa tư bản hoang dã, tham nhũng và bất bình đẳng xã hội, lời tuyên bố “chiến thắng” chỉ là sự trống rỗng. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images).

Image may contain: 1 person, sitting and indoor

Bài học nghiêm khắc từ Covid – 19

Bài học nghiêm khắc từ Covid – 19

Một lần nữa bài học về đạo lý tình người và sự lương thiện đang dần giúp con người chiêm nghiệm và tỉnh ngộ ra. Một trận đại dịch lại có thể phơi bày cùng lúc cả hai hình thái đối lập nhau: Cao cả, nhân văn và phi nhân tính của con người một cách rõ ràng.

Trong thế kỷ 21, khi văn minh đạt đến đỉnh cao, nhất là công nghệ hiện đại và tiện nghi vật chất gần như hoàn hảo, nhu cầu hưởng thụ lại quá đầy đủ, ít ai nghĩ đến có một lúc con người phải đối diện với một thảm cảnh nghiệt ngã như hôm nay – Covid 19, trận dịch lớn nhất lịch sử trong thế kỷ qua, chợt khởi như một cơn ác mộng đã khiến cho nhân loại phải kinh hoàng. Trước khi diễn ra đại dịch toàn cầu, chúng ta tự cho mình là cái rốn của vũ trụ. Chúng ta luôn ảo giác trái đất này như tên nô lệ để phục vụ những yêu cầu của mình một cách bất tận. Lúc bình an và sung túc nhiều người trong chúng ta dễ sanh ra sự ỷ lại, tự mãn, luôn sống trong sự hối hả mà chưa từng nhìn lại, kiểm thảo và chiêm nghiệm cuộc sống, bởi họ xem việc đó là triết lý của thầy tu, của những kẻ bi quan hay những người không đủ khả năng tạo ra đồng tiền.

Vì quá say mê trong sự hưởng thụ xa hoa đã làm cho chúng ta quên đi mình là ai trên hành tinh này? Chân thành mà nói, chúng ta không có gì đáng để kiêu ngạo và tự hào khi mình chỉ là một con nợ – nợ xã hội và nợ ngân hàng thiên nhiên rất lớn. Và cái gì vay mượn thì một lúc nào đó chúng ta cũng phải trả, trả sòng phẳng cả vốn lẫn lời. Đây là quy luật công bằng của vũ trụ, một sự thanh lọc có điều kiện không hề thiên vị. Chỉ cần con vi rút Corona nhỏ bé xuất hiện, nó bắt đầu trở thành phép thử khắc nghiệt cho lòng can đảm, đức hy sinh, tình yêu thương, sự chia sẻ, tính lương thiện hay những thói hư tật xấu, ích kỷ, tham lam, của mỗi con người trong xã hội. Một trận dịch xảy ra, nó vừa là một nguy cơ nhưng cũng vừa là cơ hội để nhắc nhở cho con người thức tỉnh lại, biết nhìn lại mình, biết sống hợp đạo lý, tình người, biết tôn trọng người khác, không còn sống hối hả, mù quáng và bất chấp tất cả nữa.

Khi khó khăn bất ngờ xảy đến chúng ta dễ dàng bộc lộ bản năng. Nhiều hình ảnh rất hiếm thấy ở một số quốc gia trong giai đoạn trước khi dịch Covid – 19 lan tràn, như: một vài người Nhật sẵn sàng đấm đá nhau khi giành mua khẩu trang; hay tại Úc người ta có thể đánh nhau trong siêu thị chỉ vì giành giấy vệ sinh; một cụ già ở thành phố Melbourne nhìn chằm chằm vào kệ siêu thị trống trơn rồi bật khóc sau khi hàng hóa đã bị vơ vét hết; một số người Mỹ cực đoan sẵn sàng đe dọa, mắng chửi, kỳ thị  những người bị nghi ngờ nhiễm virut hay những ai nghiêm túc đeo khẩu trang; một số nước châu Âu có những nhóm người lo sợ thái quá, mất kiểm soát nên kỳ thị và đánh đuổi những người trở về quê hương từ tâm dịch…Trước những hình ảnh đó, hào quang của những đất nước được xem là văn minh, lịch sự đáng ngưỡng mộ đã có dấu hiệu bị lu mờ.

Khi trận dịch toàn cầu diễn ra, nó phá vỡ rất nhiều trật tự trong cái mác văn minh  mà con người đã tự dựng lên và tô vẽ rất mỹ miều. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, nếu không xuất phát từ cái tâm có tu tập và đạo đức vốn có thì mọi thứ lịch sự, văn minh đó có vẻ hào nhoáng hơn là giá trị thực, nó được duy trì khi cuộc sống an lành. Lịch sự và nồng hậu trong các dịch vụ khách sạn hay những nơi vui chơi giải trí, đều phải được trả bằng tiền, càng lịch sự bao nhiêu thì người được phục vụ phải trả giá càng cao bấy nhiêu. Nếu không có tiền chúng ta có nhận được sự đãi ngộ như thế không? Những thứ mặt trái luôn tiềm ẩn trong tâm con người chỉ vì chưa có dịp để biểu lộ mà thôi.

Thế giới nói chung hay một xã hội nói riêng cần nương tựa nhau để tồn tại. Con người là một thành phần trong một đại thể, theo triết lý Phật giáo gọi đó là Nhân duyên sinh. Bạn không thể tồn tại độc lập, sự có mặt và tồn tại của người này là điều kiện cần và đủ cho sự có mặt và tồn tại của người kia và ngược lại, kể cả muôn loài. Một đất nước vô cảm, thiếu trách nhiệm, cả thế giới chịu ảnh hưởng. Một người vô cảm, thiếu trách nhiệm, đương nhiên sẽ làm hại nhiều người khác. Thế giới này không phải của riêng ai và không phải để phục vụ cho cá nhân nào (Nothing belong to anyone). Vì vậy, bạn đừng cho rằng mọi thứ trên cuộc đời này chỉ để phục vụ cho sự hưởng thụ của bạn, hay những quốc gia có quyền, có tiền mới đáng sống, còn những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trên thế giới này thì không cần thiết để có mặt . Sự độc quyền của đồng tiền một thời đã đến lúc phải nhường chỗ lại cho cuộc sống cộng đồng, tình thương và đạo lý (Money is not everything). Những cường quốc số một thế giới, với đủ các loại vũ khí sẽ làm được gì trước sự tấn công không khoan nhượng của một con vi rút bé tí; những quốc gia lắm tiền nhiều của thì đang dần kiệt quệ và khủng hoảng trước đối thủ dường như không hề cân sức.

Bạn nên biết rằng, mọi chúng sanh trên cuộc đời, dù là cây cỏ, con kiến, con cá… đều có vai trò bình đẳng cho sự tồn tại trong một trật tự của vũ trụ, không một ai  được sự ưu đãi đặc biệt trong quy luật đó. Vạn vật sinh ra trong tự nhiên để nương tựa vào nhau, cùng sanh cùng diệt cộng hưởng nhau, không thừa không thiếu trong một mắc xích dây chuyền. Hủy hoại một mắc xích cũng là hủy hoại chính mình. Con người cũng chỉ là một mắc xích bình đẳng trong chuỗi trật tự đó. Và, chúng ta cũng sẽ bị phản công một cách tan tác như những gì mà mình đã từng gây ra cho vạn vật trong thế giới này. Con người đã ăn tận diệt những loại ăn côn trùng thì con người phải chịu hậu quả côn trùng độc hại sinh sôi nảy nở lan tràn tấn công. Chính con người đã khiến vô số loài đã tuyệt chủng, đang nguy cơ tiệt chủng thì số phận của chủ nhân gây ra cũng có muôn vàn lý do để đối mặt với sự tiệt chủng tương tự. Biến đối khí hậu môi trường đã khiến loài khủng long từng là vua trên trái đất một thời, bây giờ chỉ còn là những hóa thạch thì con người đang là, nếu không có một kế hoạch dừng hay kìm hãm sự hủy hoại môi trường thì việc tiệt chủng sự sống sẽ được lặp lại trên trái đất này là điều khó tránh khỏi. Đừng than trời trách đất mà chỉ cần bình tĩnh nhìn lại mình thì mới thấy chính con người là một thủ phạm đáng sợ nhất hành tinh!

Vì tham vọng làm giàu và phục vụ nhu cầu hưởng thụ của loài người mà các quốc gia trên thế giới cạnh tranh phát triển ngành công nghiệp đáng kinh ngạc. Hệ quả tất yếu của nó là từ không khí cho đến nguồn nước hầu như đều bị ô nhiễm nặng, hiệu ứng nhà kính báo động từng ngày và mọi hiện tượng bất thường của thiên nhiên xảy đến liên tục, dù có sợ hãi nhưng dường như không mấy ai bận tâm. Loài người chưa từng cám ơn thiên nhiên đã tạo đủ yếu tốt tốt đẹp để mình được tồn tại, trái lại chúng ta khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hủy diệt và trả lại thiên nhiên bằng những chất thải độc hại. Chưa ai trong chúng ta cám ơn những chúng sinh đã nằm xuống cho bữa ăn của mình mà trái lại chúng ta tận diệt chim trời cá nước không chừa bất cứ một chủng loài nào, kể cả trứng và con non. Vì không tôn trọng sự sống của muôn loài, giết chóc bừa bãi và vô nhân đạo thì có lúc chúng ta phải trả giá cho sự lạnh lùng và vô tâm đó. Chúng ta đang hủy diệt sự sống của mình từng ngày trên hành tinh này mà cử ảo tưởng rằng mình đang tận hưởng.  

Lời nhận định của một nhà báo mà tôi rất tâm đắc: “Khi thiên tai địch họa xảy ra, con người thường xót xa coi mình là nạn nhân của tự nhiên, số phận. Mấy ai nghĩ được sâu xa, hàng ngày chính họ cũng góp phần để trở thành hung thủ?”. Đây là lời nhận định rất chính xác, nhằm phản ánh cho tự ngã của con người. Chính  cái “tôi” quá lớn, nên nó đã che mờ cả lý trí để chúng ta không còn nhận ra những khuyết điểm của mình, và mọi thứ cản trở cái “tôi” điều trở thành cái khả ố, đáng ghét, đáng phải bị loại trừ.

Thông thường, con người cứ tưởng mình là loài khôn ngoan và rất mạnh, nhưng thật ra chúng ta chỉ là những sinh vật nhỏ bé, rất mong manh và dễ vỡ trên hành tinh này. Thực tế là chúng ta có thể bỏ mạng một cách dễ dàng chỉ vì một con vi rút rất nhỏ đến độ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nếu so với vũ trụ, chúng ta chỉ bằng một con vi rút đang ngo ngoe dưới kính hiển vi. Mọi hành vi và tính chất của chúng ta, vũ trụ đều giám sát và phân tích như một nhà bác học y khoa đang phân tích vi trùng trong từng giây một.

Xác thân của người vốn được nâng niu, tâng bốc, tôn trọng trước và sau khi chết như một đạo lý truyền thống ở mỗi quốc gia. Khi trận dịch xảy ra, vi rút Covid có sự lây lan khó lường nên hầu như ai cũng sợ hãi, kể cả người trực tiếp làm nhiệm vụ thì nỗi sợ hãi lại càng lớn hơn vì có nguy cơ lây nhiễm cao hơn. Thông qua báo đài, chúng ta có dịp chứng kiến nhiều hình ảnh thương tâm xảy ra nhiều nơi trên thế giời: Tại Tây Ban Nha, các bệnh viện đều quá tải, nơi phòng cấp cứu, các Bác sĩ phải chọn để bệnh nhân nào chết, vì có quá nhiều người đang hấp hối cùng lúc, và ưu tiên cho người trẻ bởi họ có cơ hội sống sót cao hơn. Một số người già nhiễm bệnh bị bỏ mặc tại nhà đến chết. Một vài quốc gia xử lý thi thể của người nhiễm bệnh qua đời một cách nhanh gọn không còn được tổ chức nghi lễ trang nghiêm, không còn ai đưa tiễn bằng những lời khóc than hay kèn trống nhạc. Họ ra đi trong sự lạnh lùng, sợ hãi trên những chiếc xe tải quân đội chở tử thi đi hỏa thiêu hoặc những hố chôn xác tập thể trước sự bất lực, vô vọng của người thân. Nhiều bệnh nhân nhiễm vi rút Corona cảm nhận được họ sắp ra đi, họ khẩn cầu Bác sĩ cho họ được trò chuyện với con cháu lần cuối, nhìn mặt người thân để trăn trối hay nói lời vĩnh biệt. Tuy đau nhói tim can nhưng Bác sĩ đành bất lực! Họ cô độc đi từ giường bệnh đến lò thiêu. Họ có mang theo được những gì mà họ đã từng lao nhọc kiếm tiềm đi theo bên mình để làm hành trang hay chỉ mang bao nỗi niềm hối tiếc, ân hận, đau khổ và sợ hãi. Lúc đó chúng ta mới thấm thía đạo lý gia đình, sự yêu thương, quan tâm chăm sóc cho nhau nó thiêng liêng và quan trọng thế nào trong kiếp nhơn sinh tạm bợ này!

Một lần nữa  bài học về đạo lý tình người và sự lương thiện đang dần giúp con người chiêm nghiệm và tỉnh ngộ ra. Một trận đại dịch lại có thể phơi bày cùng lúc cả hai hình thái đối lập nhau: Cao cả, nhân văn và phi nhân tính của con người một cách rõ ràng. Chúng ta có thêm nhiều bài học sâu sắc về tình yêu thương nhân loại, sự giúp đỡ nhau trong một cộng đồng, lòng hy sinh trong những hoạn nạn luôn là điểm son quý báu nhất, là thước đo chính xác nhất cho giá trị đạo đức nơi mỗi con người.

Lời Phật dạy luôn là chân lý: Nhận thức được triết lý Vô thường để không chủ quan cho sự vĩnh cửu của mọi thứ trên cuộc đời, nhất là mạng sống; nhận thức được Nhân duyên sinh để không hoang tưởng mình là cái rốn của vũ trụ; nhận thức Nhân quả để không sống liều lĩnh, mù quáng; thực tập từ bi để có tình thương yêu, tôn trọng sự sống của muôn loài và cùng chia sẻ nỗi thống khổ của chúng sanh; và tu tập để đạt đến Giác ngộ là đỉnh cao trí tuệ, vượt trên tất cả mọi thứ tri thức thông thường và vật chất tạm bợ trên thế gian này. 

Mọi việc rồi cũng sẽ qua đi nhưng vết thương của nó để lại không hề nhỏ. Nó sẽ là một dấu ấn khó phai của một kiếp người khi một lần đối mặt và trải qua. Và chính lúc này đây, chúng ta thấy rằng, sự chia rẽ, hận thù hay ích kỷ, độc tài dựa trên tiền bạc và vũ lực là cái yếu, chỉ có đạo đức, lòng nhân ái, tình bao dung và tính lương thiện của con người mới là sức mạnh, mới có đủ yếu tố và năng lượng tích cực để nối kết con người gần lại với nhau, giúp nhau tồn tại, vượt qua mọi thách thức để sống trong hòa bình và hạnh phúc.

Phước Tiến

From:TU PHUNG

30 tháng 4: THỬ NHÌN LẠI

Tuyet Lam
Bài viết rất hay, rất chính xác. Đáng đọc.

30 tháng 4: THỬ NHÌN LẠI
(Trần Gia Phụng)

Thông thường, ngày 30-4-1975 được giải thích là ngày sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, và là ngày “đại thắng mùa xuân” của cộng sản Bắc Việt. Ngoài hai cách nhìn nầy, còn có một cách nhìn thứ ba mà ít người chú ý đến.

Trong thập niên 60, khi viếng thăm Việt Nam Cộng Hòa, được hỏi làm thế nào để chiến thắng cộng sản, Moshe Dayan, danh tướng độc nhãn Do Thái, đã trả lời như sau: “Bắc Việt sẽ thất trận khi họ chiếm được Sài Gòn.”(1) Lúc đó, giới báo chí và chính trị Sài Gòn đã bàn tán về câu nói của Moshe Dayan(1915-1981), nhưng không ai dại gì giao trứng cho ác (quạ), mà nghĩ đến một giải pháp quá rủi ro là để cho cộng sản chiếm được Sài Gòn. Cuối cùng, khi cộng sản thật sự chiếm được Sài Gòn năm 1975, một bên buồn quá, cũng như một bên vui quá, nên cả hai phía đều quên luôn ý kiến của Moshe Dayan.

1.- AI THẮNG AI?

Trong cuộc chiến tranh vừa qua, người cộng sản thường tự hào rằng chính họ đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Theo biểu kiến bên ngoài, “Mỹ cút, ngụy nhào” thật đó, nhưng thực sự Mỹ không cút, mà phải nói cho thật đúng ý nghĩa bối cảnh lịch sử là Mỹ ngưng không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì lý do thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và lực lượng Việt Nam Cộng Hòa không thất trận, chỉ ở thế bắt buộc phải ngưng súng, ngưng chiến đấu. Việt Nam Cộng Hòa dư biết rằng trong thế tranh chấp giữa các cường quốc, với sự thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ, nếu lực lượng Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục chiến đấu, chỉ làm tổn hại thêm xương máu của binh sĩ và dân chúng, mà không tránh được sự áp đặt từ bên ngoài, trong khi Liên Xô và Trung Cộng tung hết vũ khí cho Bắc Việt và Hoa Kỳ ngưng tiếp liệu quân nhu và vũ khí cho Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi thế chiến thứ nhì (1939-1945) kết thúc, thế giới bước vào chiến tranh lạnh giữa hai khối tự do (tư bản) và cộng sản. Khi đắc cử tổng thống Hoa Kỳ ngày 5-11-1952 thay ông H. Truman, đại tướng D. Eisenhower tuyên bố rằng chiến tranh Ðông Dương không còn là chiến tranh thuộc địa mà là “cuộc chiến giữa Cộng sản và thế giới Tự do.”(2) Từ đó, Hoa Kỳ viện trợ Ðông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng càng ngày càng nhiều để chống lại Việt Minh cộng sản.

Lúc đó, Hoa Kỳ và các nước Tây phương nghĩ rằng các nước trong thế giới cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc là một khối chính trị chặt chẻ, nên tìm tất cả các cách để ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Vì vậy, sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, Hoa Kỳ quyết định giúp miền nam Việt Nam để chận đứng làn sóng cộng sản mà cụ thể hơn là sự bành trướng của Trung Quốc.

Những diễn tiến chính trị trong khối cộng sản sau khi Stalin từ trần ngày 5-3-1953, và nhất là khi Khrushchew lên cầm quyền, rồi đưa ra chủ trương sống chung hòa bình giữa các nước không cùng một thể chế chính trị, hòa dịu với các nước Tây phương năm 1956, thì bắt đầu sự rạn nứt giữa Liên Xô và Trung Quốc. Lúc đầu mới chỉ lời qua tiếng lại giữa hai đảng Cộng Sản anh em, sau đó giữa hai nhà nước cộng sản, và cuối cùng thực sự đánh nhau dọc biên giới đông bắc Trung Quốc, trên sông Ussuri (Ô Tô Lý giang) năm 1969.

Dựa trên những dữ kiện thực tế đó, các chính trị gia Hoa Kỳ nhận thấy rằng các nước cộng sản không phải là một khối chặt chẽ, mà họ là những thực thể riêng biệt, với những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng. Hoa Kỳ không bỏ lỡ cơ hội kiếm cách khai thác mâu thuẫn giữa các nước cộng sản, đúng ra là giữa Liên Xô và Trung Quốc để làm thế nào ly gián họ, và tránh cho họ xích lại gần nhau như trước. Vì vậy, người Hoa Kỳ bắt đầu xét duyệt lại chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ

Trong khi đó, nếu Hoa Kỳ càng giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại Bắc Việt cộng sản, thì Liên Xô và Trung Quốc ở thế cùng liên kết để giúp Bắc Việt chống lại Hoa Kỳ, tức Hoa Kỳ tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho Liên Xô và Trung Quốc tạm gác những mâu thuẫn song phương, để cùng nhau cứu giúp một nước cộng sản khác nhắm tạo uy tín và hấp lực với các nước khác, nhất là các nước trong khối không liên kết. Nói cách khác, làm như thế, chẳng khác gì Hoa Kỳ tạo cơ hội cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc xích lại với nhau. Trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics), vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, người Hoa Kỳ còn ngộ ra rằng “Bắc Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiển nguyên tử, Liên Xô có thể làm được việc đó. Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít vũ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ.”(3)

Chẳng những thế, các chính trị gia Hoa Kỳ lúc đó còn đi xa hơn, cho rằng “hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt Nam với chẳng có hy vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa của Trung Hoa nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô.”(4) Chúng ta hãy nghe một nhà ngoại giao kỳ cựu Hoa Kỳ, ông Bill Sullivan, nguyên là đại sứ Hoa Kỳ tại Lào, lúc đó là thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương, sau đó phụ tá và sát cánh với Henri Kissinger trong các cuộc thương thuyết tại hội nghị Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam, trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Như thế, tôi đi đến kết luận, và điều nầy ông nghe có vẻ tráo trở, rằng không thắng cuộc chiến nầy thì chúng ta sẽ khá hơn. Ðặc biệt nữa là người Trung Hoa đã khai thông với chúng ta, và làm cho người Trung Hoa tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam.”(5)

Ngày 14-4-1971, tại Ðại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh, thủ tướng Trung Quốc là Chu Ân Lai tiếp đãi và nói chuyện thân mật với đoàn bóng bàn Hoa Kỳ sang đấu giao hữu với đoàn bóng bàn Trung Quốc theo lời mời của Tổng cục Bóng bàn nước nầy. Ngày 9-7-1971, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ là Henri Kissinger có mặt ở Bắc Kinh và được Chu Ân Lai tiếp kiến. Ngày 25-10-1971, Ðại hội đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay cho Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) mà không bị Hoa Kỳ phủ quyết, nghĩa là Hoa Kỳ cũng bỏ rơi Ðài Loan, đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ, để bắt tay với Trung Quốc. Sau đó, tổng thống Hoa kỳ Richard Nixon viếng thăm Trung Quốc một tuần bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà ông Nixon cho rằng đây là “một tuần lẽ sẽ làm thay đổi thế giới.”(6) Cuộc viếng thăm nầy đưa đến “Thông cáo chung Thượng Hải” ngày 28-2 theo đó hai bên đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ một điều là cùng nhau tôn trọng sự khác biệt giữa hai bên và hứa sẽ kiếm cách cải thiện bang giao song phương.

Ðúng như ông Nixon loan báo, cuộc viếng thăm đã đưa đến việc thay đổi thế giới, bắt đầu từ việc Hoa Kỳ sắp đặt lại chiến lược toàn cầu và Á Châu, từ đó rút quân dần dần ra khỏi Việt Nam. Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam theo đúng chiến lược của họ, bởi vì người Mỹ tin rằng “thua trận ở Việt Nam lành mạnh hơn cho Hoa Kỳ hơn là thắng trận. Rằng thua trận nằm trong quyền lợi quốc gia. Rằng đó là lợi thế… Ðó là quan niệm cấp tiến triệt để vào thời đó, rằng thua trận và phó mặc các đồng minh Ðông nam Á của chúng ta cho số phận của họ, như thế mới đúng là cách làm của chúng ta.“(7)

Như thế, xét cho cùng, Hoa Kỳ chẳng thua trận, mà Hoa Kỳ chỉ bỏ cuộc ở Việt Nam để thực hiện việc thay đổi chiến lược toàn cầu quan trọng hơn đối với họ trong cuộc tranh chấp với Liên Xô. Trong khi tự cho rằng “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”,(8) thì chính Bắc Việt đã tiếp tay với người Mỹ để thực hiện kế sách của Hoa Kỳ. Từ đó, Hoa Kỳ đã thành công trong việc làm sụp đổ khối Liên Xô và Ðông Âu. Như thế, có thể nói người Hoa Kỳ đã chịu thua mặt trận (battle) Việt Nam, để đại thắng cuộc chiến tranh (war) toàn cầu, và hiện nay trở thành cường quốc số 1 trên thế giới.(9)

Ði vào thế chiến lược mới của Hoa Kỳ, về phía Việt Nam Cộng Hòa, dầu bị Hoa Kỳ bỏ rơi, ngưng viện trợ, và trước sức mạnh của Bắc Việt được Liên Xô và Trung Cộng giúp đỡ tận “cây kim sợi chỉ”, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục chiến đấu anh dũng trong 2 năm sau hiệp định Paris, chứ không để cho đất nước sụp đổ ngay. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa không thua bộ đội cộng sản Bắc Việt, mà chỉ buông vũ khí, ngưng chiến đấu vì nhận thấy rằng trong thế chiến lược mới, các cường quốc trên thế giới quyết tâm áp đặt một giải pháp chính trị, mà mình cô thế khó cưỡng chống lại được, tiếp tục chiến đấu chỉ làm tổn hại thêm nhiếu nhân mạng vô tội, nên cuối cùng lực lượng Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận ngưng chiến đấu chứ không phải họ thua cuộc.

Trước khi ký hiệp định Paris năm 1973, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã hứa hẹn, mà không ghi thành văn bản, là sẽ viện trợ Việt Nam 4 tỹ Mỹ kim để Việt Nam tái thiết đất nước sau chiến tranh. Tuy nhiên, Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt bằng võ lực, đi ngược lại với tinh thần hiệp định Paris ký kết giữa các bên lâm chiến, và đã được nhiều nước công nhận. Dựa vào việc Bắc Việt không tôn trọng hiệp định Paris, Hoa Kỳ bác khước lời hứa trước kia. Hơn nữa, khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa sau hiệp định Paris, Bắc Việt cưỡng chiếm luôn số tài sản khổng lồ ước tính khoảng 6 tỷ Mỹ kim mà Hoa Kỳ đã để lại Việt Nam. Số tài sản nầy còn cao hơn lời hứa hẹn của Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho Việt Nam 4 tỷ Mỹ kim trước đây. Vì cả hai lý do nầy, cho đến nay, cộng sản Việt Nam không thể mở miệng nhắc lại chuyện Hoa Kỳ hứa hẹn viện trợ để tái thiết Việt Nam sau 30 chiến tranh mà Hoa Kỳ đã can dự vào. Thua cuộc cờ toàn cầu, Bắc Việt lại thất bại luôn trong cuộc đấu trí để đòi viện trợ của Hoa Kỳ sau chiến tranh.

2.- THỰC TẾ SAU 30-4

Quan sát kỹ sinh hoạt xã hội Việt Nam sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam năm 1975, mọi người đều nhận thấy rõ ràng ngay từ đầu, đại đa số những người Bắc, từ cán bộ, bộ đội đến thường dân, khi vào Nam đều học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo người Bắc, trừ một thiểu số xu phụ theo chế độ mới, kè kè chiếc nón cối để tỏ ra là người “cách mạng”. Người Bắc thích ăn bận theo người Nam, đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà cộng sản gọi là “nhạc vàng”, đọc sách Nam, từ tiểu thuyết trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam. Ngay cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng Lao Ðộng (năm 1976 cải danh thành đảng Cộng Sản) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận Âu phục theo kiểu người Nam. Chẳng những thế, hầu như miền Bắc cũng được Nam hóa bằng sản phẩm của miền Nam. Lúc đó, đại đa số người nào ở miền Bắc vào cũng “tranh thủ” cho được tối thiểu ba thứ “đạp đồng đài”(10) để đem về Bắc sử dụng hoặc trang bị cho gia đình. (Rất ít người như bà Dương Thu Hương chỉ lo đi mua sách miền Nam. Theo lời Dương Thu Hương, khi bà vào Sài Gòn thì bà tìm đến các chợ sách để mua sách cũ và bà ta bị choáng ngợp vì sách vở văn chương triết học ở miền Nam quá phong phú chứ không nghèo nàn và bị kềm kẹp như cộng sản tuyên truyền.)

Trong lịch sử thế giới, ai cũng biết người Mông Cổ nổi tiếng thiện chiến và chiếm được một đế quốc rộng lớn từ thời Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan, trị vì 1206-1227). Cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt (Qubilai) tức Nguyên Thế Tổ (trị vì 1260-1294) đem quân Mông Cổ vào chiếm Bắc Kinh năm 1264, rồi từ đó chiếm luôn toàn bộ nước Trung Hoa. Khi người Mông Cổ tiếp xúc và tiêm nhiễm nền văn minh và văn hóa Trung Hoa, thì dường như họ không còn làø người Mông Cổ nữa. Có thể nói vó ngựa chiến chinh Mông Cổ oai hùng khắp Âu Á một thời đã hoàn toàn bặt tăm khi họ đặt chân vào đất trung nguyên Trung Hoa.

Cộng sản Bắc Việt, dầu chẳng oai hùng như người Mông Cổ, tiến quân vào miền Nam, chiếm đóng bằng bạo lực, nhưng cuối cùng bị choáng ngợp vì sự phồn thịnh của miền Nam (mà họ gọi là phồn vinh giả tạo) và nền văn hóa đa dạng của miền Nam, một nền văn hóa vừa giữ bản sắc dân tộc, vừa hòa hợp với tinh hoa của văn hóa Tây phương. Từ đó, người cộng sản Bắc Việt không còn là họ nữa, chỉ trừ có vỏ bọc là đảng Cộng Sản để nắm độc quyền lãnh đạo đất nước.

Chẳng những chỉ có Bắc Việt được Nam hóa mà cả khối Quốc tế Cộng sản cũng biến chuyển theo. Ngay sau khi cộng sản chiếm Ðà Nẵng, trước khi Sài Gòn sụp đổ, tại bán đảo Sơn Trà diễn ra một cuộc gặp gỡ vào đầu tháng 4-1975 giữa đại biểu của một số nước cộng sản, để quan sát đài truyền tin phát sóng của quân đội Hoa Kỳ đặt tại núi nầy. Sau khi nghe thuyết trình viên cộng sản Việt Nam trình bày về công suất lớn lao của đài phát sóng Hoa Kỳ đặt tại đây, đại diện Liên Xô làm thinh, đại diện Trung Cộng cười mỉa và chúc mừng Việt Nam, đại diện của Ba Lan rất thích thú. Trởû về lại Ðà Nẵng, đại diện Ba Lan xin Uỷ ban Quân quản, do Hồ Nghinh làm chủ tịch, được dùng điện đài Ðà Nẵng để liên lạc với Tòa Ðại sứ Ba Lan ở Hà Nội. Ðại khái nội dung liên lạc là yêu cầu Tòa Ðại sứ Ba Lan điện về nước xin chính phủ Ba Lan tạm ngưng các chương trình đặt mua máy truyền tin của Liên Xô, đợi phái đoàn quan sát về nước. Lý do chính của thái độ các đại diện các nước cộng sản, kể cả việc đại diện Trung Cộng cười mỉa, là vì trước đó không lâu, vào cuối 1974, đầu 1975, tại Hà Nội, vừa mới khánh thành một trạm thông tin liên lạc do Liên Xô viện trợ cho Hà Nội mà Liên Xô khoe rằng đó là máy tối tân nhất thế giới lúc bấy giờ, với công suất chỉ bằng một phần hai mươi (1/ 20) công suất của trạm truyền tin của quân đội Hoa Kỳ đặt tại Sơn Trà, Ðà Nẵng.(11)

Câu chuyện trên giải thích thắc mắc của nhiều người lý do vì sao khi rút lui khỏi miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, nhân viên Hoa Kỳ được lệnh để lại toàn bộ kho lẫm, máy móc, dụng cụ, vật liệu, trang thiết bị của tất cả các cơ sở Hoa Kỳ tại Việt Nam mà không phá hủy gì cả, từ đài phát thanh địa phương, đến tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, và cả Trung tâm Nguyên tử lực tại Ðà Lạt. Lúc đó, người ta cho rằng người Hoa Kỳ lo bỏ chạy nên không kịp phá hủy, nhưng ngay lúc đó cũng có dư luận cho biết rằng một nhân viên Hoa Kỳ tại Huế, trước khi rút lui, đã tháo một chốt chính làm tê liệt đài phát thanh Huế đặt tại Phú Bài (Thừa Thiên) khi chạy vào Ðà Nẵng, liền bị tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại đây khiển trách.

Cũng có dư luận cho rằng Hoa Kỳ cố tình để lại vật liệu và trang thiết bị cho cộng sản Việt Nam sử dụng, tạo thành nhu cầu mới cho cộng sản, đến khi hư hao hay cạn hết, thì phải tìm mua lại nơi các nước tư bản. (Ví dụ người ta nói rằng ở miền Tây có một kho phân bón khổng lồ. Bắc Việt lấy được, chở ra Bắc sử dụng. Ðến khi phân bón hết, ruộng đã lỡ dùng phân bón, nay không dùng không được, đành phải đi kiếm mua ở các nước tự do khác.)

Sau năm 1975, nhiều phái đoàn của các nước Liên Xô và Ðông Âu đến thăm Việt Nam đều được xem cuộc “triển lãm nguội” của hàng hóa Hoa Kỳ và các nước phương Tây, cũng như tham khảo báo chí, sách vở khoa học kỹ thuật Âu Mỹ tại miền Nam.(12)

Như thế có thể người Hoa Kỳ đã nghĩ đến kế hoạch Moshe Dayan, và không phải chỉ nhắm vào cộng sản Bắc Việt, mà còn nhìn xa hơn, muốn “bày hàng triển lãm” kỹ thuật tối tân với các nước trong khối Quốc tế Cộng sản, mà từ lâu nay bị Liên Xô bưng bít che đậy. Phải chăng cuộc “triển lãm nguội” nầy của Hoa Kỳ đã lôi cuốn được các nước cộng sản, góp phần làm cho tình hình ở đây biến động mau lẹ, đưa đến sự sụp đổ của các nước cộng sản Ðông Âu và Liên Xô vào các năm từ 1989 đến 1991?

3.- CỘNG SẢN BẮT ÐẦU THUA CUỘC

Trong cuộc chiến năm 1975, phải bình tâm mà nhận xét rằng một trong những lý do cộng sản Bắc Việt thành công là bộ máy tuyên truyền của cộng sản hoạt động có kế hoạch và mạnh mẽ hữu hiệu hơn phía Việt Nam Cộng Hòa. Bộ máy tuyên truyền nầy đã làm việc có tính toán liên tục từ năm 1945, khá thành công ở trong nước cũng như trên thế giới. Năm 1956, ở ngoài Bắc xảy ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Cuộc đàn áp trí thức và văn nghệ sĩ của nhà cầm quyền Hà Nội diễn ra rõ ràng như thế, mà cộng sản bưng bít và tuyên truyền ngược lại, khiến ở trong Nam, nhiều người không tin là những chuyện đó có thật. “Chế độ miền Nam, tất nhiên là làm rầm rộ lên nhân vụ án nầy để tuyên truyền mặt trái của chế độ miền Bắc. Nhưng sau nầy, khi hỏi chuyện anh em miền Nam thì được biết là họ không tin, họ tưởng là sự việc bị bịa đặt ra, chứ làm gì đảng có thể đối xử với trí thức miền Bắc tàn tệ đến mức như thế.” (13)

So với trình độ văn hóa của toàn dân, học giả Nguyễn Hiến Lê, tác giả của khoảng trên 20 bộ sách nghiên cứu lớn nhỏ, phải được kể là một nhà thông thái. Ông Nguyễn Hiến Lê đã can đảm thú nhận những suy nghĩ và tình cảm của ông trước năm 1975: “Tôi vốn có cảm tình với Việt minh, với cộng sản; ghét thực dân Pháp, Mĩ, nhất là từ 1965 khi Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam; tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mĩ. Tôi phục tinh thần hi sinh, có kỉ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp.”(14) Một người thông thái như ông Nguyễn Hiến Lê mà còn bị lầm lẫn về cộng sản, huống gì là đại đa số dân chúng Việt Nam. Sau năm 1975, chạm mặt với đời sống thực tế dưới chế độ cộng sản, ông Nguyễn Hiến Lê mới thấy rõ mình đã lầm lẫn bấy lâu nay. Ông viết tiếp: “… muốn thấy chế độ đó ra sao thì phải sống dưới chế độ dăm năm. Ðó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng mà tôi [Nguyễn Hiến Lê] và có lẽ 90% người miền Nam rút được từ 1975 tới nay [1981]“.(14)

Bên cạnh đó, phải kể thêm một hiện tượng tâm lý khá lạ lùng: trước năm 1975, không kể dân chúng ở ngoài chính quyền, ngay cả nhiều công chức hoặc sĩ quan binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, tuy làm việc và lãnh lương chính phủ quốc gia, đôi khi cũng chao đảo và không mấy tin tưởng ở chính nghĩa Quốc gia của chế độ mình đang phục vụ. Tuy nhiên, sau khi cộng sản vào chiếm miền Nam, thì tất cả mọi người miền Nam đều tiếc nhớ một thời đã qua, hướng trở về chế độ Việt Nam Cộng Hòa và từ đó ý thức Quốc gia dân tộc trong họ trổi dậy mạnh mẽ hơn cả thời trước nữa.

Như vậy, chính từ sau đỉnh cao chiến thắng quân sự ngày 30-4-1975, thiết lập được chế độ độc tài dựa vào bạo lực công an trị, cộng sản Hà Nội lại bắt đầu thua cuộc, mất hết nhân tâm, mất hết quần chúngï. Chẳng những cộng sản Hà Nội đã thua cuộc ở trong nước, càng ngày cộng sản Hà Nội càng thua cuộc trên thế giới. Các nước trên thế giới trước đây vốn có cảm tình với cộng sản Việt Nam, nay hoảng hốt trước cảnh vượt biên ồ ạt của dân chúng Việt Nam. Ðiều nầy khiến cho cả thế giới sực tỉnh. Không cần ai tuyên truyền, cả thế giới đều thấy rõ nhà cầm quyền Hà Nội đã mất lòng dân đến độ nào, dân chúng mới bất chấp gian nguy, dùng tính mạng đánh cuộc với số phận, để tìm đường sống.

Những tác giả Tây phương trước đây viết bài ủng hộ cộng sản, nay lại quay qua đả kích cộng sản. Tiêu biểu cho những người nầy là sử gia Jean Louis Margolin, giáo sư tại Université de Provence (Pháp), một trong các tác giả viết bài trong sách Le livre noir du communisme [Sách đen về chủ nghĩa cộng sản], đã nói trong một cuộc phỏng vấn vào cuối năm 1999: “Thành thật mà nói, vào những năm 60, tôi đã từng xuống đường biểu tình ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đã từng reo mừng với những cuộc chiến thắng tại Cam-bốt cũng như tại Việt Nam. Tôi từng nghe nói đến những vụ tàn sát Tết Mậu Thân 68, nhưng tôi tin và nghĩ rằng đó chỉ là sự tuyên truyền của Mỹ. Không phải chỉ một mình tôi, mà tôi tin rằng rất nhiều người cùng thời với tôi đã bị sai lầm vì những tuyên truyền sai lạc của cộng sản.”(15)

Có lẽ cũng nên thêm ở đây lời sám hối của nữ tài tử Jane Fonda. Năm 1972, bà Jane Fonda đến Bắc Việt chụp những tấm hình đăng khắp các báo trên thế giới quảng cáo cho cộng sản Bắc Việt. Về Hoa Kỳ, bà tham gia phong trào phản chiến để yêu cầu Hoa Kỳ rút quân. Năm 1988, chính Jane Fonda đã hối hận khi trả lời phỏng vấn của ký giả Barbara Walters: “Tôi sẽ còn hối tiếc đến lúc xuống mồ về những bức hình chụp tôi đứng cạnh mấy khẩu súng bắn máy bay, trông như tôi đang nhắm bắn các máy bay Mỹ… Hành động đó làm hại bao nhiêu chiến sĩ… Ðó là hành động kinh khủng nhất mà tôi có thể phạm. Ðúng là không biết suy nghĩ.”(16)

Dù luôn luôn tự hào là kẻ chiến thắng, nhưng cuối cùng cộng sản lại chạy theo học hỏi tất cả những gì do “Mỹ ngụy” để lại, kể cả việc bắt buộc phải tự từ bỏ chính sách kinh tế chỉ huy, chấp nhận nền kinh tế tự do vốn thịnh hành ở miền Nam và tại các nước tự do trên thế giới, mà họ gọi là kinh tế thị trường. Nay nền kinh tế thị trường không phải chỉ được áp dụng ở miền Nam như trước năm 1975, mà cả trên miền Bắc, nơi cộng sản đã bỏ công sức hơn 20 năm (1954-1975) để xây dựng và củng cố xã hội chủ nghĩa. Cộng sản mà không còn chính sách kinh tế chỉ huy thì chắc chắn không còn là cộng sản nữa. Trong khi đó, nước Mỹ không bị hư hao một tấc đất; lại càng ngày càng mạnh; và cộng sản Việt Nam phải trải thảm đỏ để đón lãnh tụ của Hoa Kỳ vào tháng 11-2000. Trong cuộc đón tiếp nầy, dầu nhà cầm quyền Hà Nội không thông báo, dân chúng đã đứng ngoài trời nhiều giờ trong thời tiết lạnh lẽo của mùa đông để chào mừng người khách quý Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam sau 1975. Còn về phía “ngụy”, người dân Việt Nam ngày nay, kể cả những người ở ngoài Bắc đều hãnh diện nếu được gọi là “ngụy”. “Ngụy” không nhào mà “ngụy” đi vào lòng người, người Nam cũng như người Bắc, và đang càng ngày càng hiển hiện khắp nơi trong đời sống hằng ngày, to lớn và mạnh mẽ đến nổi nhà cầm quyền Hà Nội nay lại sợ “diễn biến hòa bình”, còn hơn là thời chiến tranh súng đạn.

4.- NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

Lúc mới cưỡng chiếm được miền Nam, cộng sản Hà Nội rất lo sợ phản ứng của dân chúng, nên việc đầu tiên là bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của chế độ Cộng Hòa còn lại trong nước đi “học tập cải tạo”, thực chất là tập trung, cô lập, bắt giam dài hạn không tuyên án trên các vùng rừng thiêng nước độc, vì cộng sản lo sợ họ là những người có khả năng tập họp, tổ chức, và lãnh đạo dân chúng chống cộng sản. Số lượng sĩ quan và công chức bị bỏ tù tối thiểu là 1.000.000 người. Những người nầy bị tù tối thiểu là một năm (rất ít), có người hai năm (nhiều), ba năm, có người lên đến 15 năm hoặc 20 năm. Nếu tính trung bình một người bị tù 2 năm, và tối thiểu 1.000.000 người bị tù, thì số thời gian mà người Việt nói chung bị cộng sản giam tù là 2 .000.000 năm.(17)Những người nầy lại ở trong độ tuổi trung niên sung mãn để hoạt động, sản xuất, và có trình độ văn hóa khá cao nếu so chung với trình độ của toàn thể dân chúng Việt Nam.

Việc bắt giam sĩ quan, công chức, cán bộ Việt Nam Cộng Hòa của cộng sản còn có mục đích đe dọa gia đình những người có thân nhân bị tù, vì nếu họ vọng động thì thân nhân của họ khó có cơ hội trở về đoàn tụ gia đình. Dầu chính sách nầy rất thâm độc, nhưng lúc đầu, ngay sau năm 1975, vẫn xảy ra những tổ chức bạo động chống nhà cầm quyền cộng sản, ví dụ vụ các ông Nguyễn Nhuận, Ðặng Ngọc Quờn, nguyên là giáo sư Viện Ðại Học Huế, vụ Ông Nguyễn Văn Bảy, nguyên giáo sư trường Kỹ Thuật Ðà Nẵng, vụ nhà thờ Thánh Vinh Sơn ở Sài Gòn…Dĩ nhiên những cuộc bạo động nầy không thể thành công, nhưng đã nhen nhóm ngọn lửa đấu tranh trong lòng dân chúng. Dần dần, người ta ý thức rằng phương thức bạo động khó thành công, nên quay qua phản ứng bất bạo động nhưng không kém phần cương quyết. Từ đây, bắt đầu sự lên tiếng của những nhà trí thức như Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Ðình Huy, Hoàng Minh Chính, Phan Ðình Diệu, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh. Sự lên tiếng nầy liền được đáp ứng ở trong cũng như ngoài nước. Tiếp đó, là những cuộc biểu tình bất bạo động của dân chúng ở Thái Bình, Xuân Lộc (Ðồng Nai), Huế…

Một sự thật lý thú là hiện nay ở trong nước, dân chúng không còn phân chia Quốc gia hay cộng sản, mà tất cả đoàn kết thành một khối tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ, đối kháng với nhà cầm quyền độc tài cộng sản. Khi được nhà cầm quyền Hà Nội gởi đi lưu diễn ở Hoa Kỳ vào đầu tháng 3-2001, nữ ca sĩ Phương Thanh đã tuyên bố: “Nói rằng Phương Thanh hát dở, hay không thích tiếng hát của Phương Thanh thì Phương Thanh xin tạ lỗi, nhưng nói rằng Phương Thanh là Việt Cộng thì tội nghiệp cho Phương Thanh lắm! “(18)

Ngay cả những thành phần trước đây đã từng trung kiên với đảng Cộng Sản, nay cũng đứng về phía dân chúng, đòi hỏi dẹp bỏ đảng Cộng Sản. Tiêu biểu nhất là ý kiến của ông Vũ Ðình Huỳnh, một thời làm bí thư cho Hồ Chí Minh, gần cuối đời đã tỉnh ngộ và đề nghị: “”Muốn cho dân tộc ta không thua kém các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng, dân ta không nghèo khổ mãi thì không thể thiếu một điều kiện tiên quyết: ấy là phải gạt bỏ sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.”(19) Sau đó, ông Nguyễn Văn Trấn (1914-1998), gia nhập đảng Cộng Sản miền Nam ngay từ những ngày đầu mới thành lập, đã từng làm Phó bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ năm 30 tuổi (1944), tập kết ra Bắc năm 1954, dân biểu Quốc hội Hà Nội trước năm 1975, cũng viết:” Tội ác của chế độ này [chế độ cộng sản Việt Nam], từ 40 năm nay, thật nói không hết.” (20)

Trong khi đó, ở ngoài nước, nhờ sống rải rác khắp nơi trên thế giới, cộng đồng người Việt hải ngoại tạo nên một địa bàn ngoại cứ rộng rãi bất khả xâm phạm. Từ đó, cộng đồng người Việt hải ngoại là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho những thành phần yêu nước và ly khai với đảng Cộng Sản ở trong nước; đồng thời là một ngoại lực hỗ trở người Việt ở trong nước về mọi mặt, tạo niềm tin để họ tiếp tục cùng với cộng đồng ở hải ngoại tranh đấu, đưa đất nước ra khỏi chế độ cộng sản phi nhân vong bản hiện nay.

Trước tình hình đó, để lấy lòng dân chúng lần nữa, ở trong nước, cộng sản Việt Nam mở phong trào đổi mới từ năm 1985. Nói là đổi mới nhưng vẫn duy trì độc quyền chính trị, lo sợ “diễn biến hòa bình”, định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do ngôn luận. Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh. Cộng sản kiếm cách đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam.

Ra bên ngoài, nhà cầm quyền cộng sản kiếm cách ve vuốt Việt kiều. Chính sách của cộng sản đối với Việt kiều có một điểm cần chú ý: khi dân chúng không chịu nổi cuộc sống dưới chế độ cộng sản, phải bỏ nước ra đi, thì nhà cầm quyền Hà Nội gọi họ là phản động, phản quốc. Sau một thời gian ổn cư tại nước ngoài, người Việt hải ngoại chắt chiu tiết kiệm, gởi tiền về nuôi thân nhân càng ngày càng nhiều. Vào đầu thập niên 90, cộng sản liền đổi cách xưng hô, gọi những người vượt biên là “núm ruột ngàn dặm” của tổ quốc.

Những người Việt Nam ra đi định cư tản mác khắp thế giới, đông nhất là tại Hoa Kỳ. Dần dần, cộng đồng Việt Nam lớn mạnh và thành công trên đất khách, nay là quê hương thứ hai của mình. Nhờ có điều kiện học hành, nhiều tinh hoa Việt Nam đã đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng chung của quê hương mới. Chế độ cộng sản liền kiếm cách lợi dụng, kêu gọi “núm ruột ở xa” hãy bỏ qua quá khứ, nhìn về tương lai, đóng góp xây dựng đất nước. Chính sách của cộng sản đối với người Việt ở hải ngoại có thể tóm tắt trong các điểm sau đây:

· Bòn rút tiền bạc càng nhiều càng tốt.

· Chỉ sử dụng tay sai để kinh doanh, hoặc tuyên truyền đường lối chính sách nhà nước cộng sản.

· Lợi dụng trí thức thuộc ngành khoa học kỹ thuật, mời về nước để giảng dạy hoặc làm việc trong các ngành hoàn toàn chuyên môn về khoa học kỹ thuật, như bác sĩ, kỹ sư…

· Hoàn toàn không chấp nhận các phê bình hay góp ý thẳng thắn về chính trị để xây dựng quê hướng, những đòi hỏi về nhân quyền, dân quyền, và không chấp nhận những thành phần trí thức về khoa học nhân văn như triết học, tư tưởng, văn chương, sử học, xã hội học, trừ những thành phần tình nguyện làm tay sai tuyên truyền cho cộng sản để đổi lấy một số quyền lợi và hư danh nhất thời.

Dầu rất yêu nước, và rất khắc khoải về tiền đồ dân tộc, đại đa số người Việt ở nước ngoài, nhất là những thành phần tinh hoa trong các ngành thương mãi, khoa học kỹ thuật, văn chương giáo dục, chẳng ai chấp nhận hợp tác với chế độ cộng sản Hà Nội. Hợp tác với nhà cầm quyền Hà Nội chỉ giúp kéo dài một chế độ vong bản, phi nhân, từ đó gián tiếp kéo dài thêm niềm thống khổ triền miền của dân tộc Việt.

Kinh nghiệm Ðông Âu cho thấy khi dân chúng nhìn ra chân tướng phản dân hại nước của chế độ cộng sản, đồng thời ý thức được tự do dân chủ, dân quyền và nhân quyền, tự họ đứng lên lật đổ chế độ cộng sản để cứu nguy dân tộc. Tuy đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang lợi thế nhờ cầm quyền bằng bạo lực công an trị, nhưng thời điểm giải trừ chế độ nầy đang khởi động, và chắc chắn sẽ lớn mạnh, nhất là một khi cộng đồng người Việt ở hải ngoại càng ngày càng đông đảo, và khoa học kỹ thuật càng ngày càng phát triển, nhà cầm quyền cộng sản không thể che đậy độc tài, nói láo một chiều để đánh lừa như trước đây.

Tiến trình dân chủ và dân quyền trên thế giới hiện nay là không thể đảo ngược được; những nhà nước độc tài càng ngày càng bị lên án và cô lập. Bằng chứng là khi Lê Khả Phiêu, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam viếng thăm nước Pháp từ 21 đến 25-5-2000, chẳng có đài truyền hình nào ở Paris đưa tin. Rải rác vài báo viết ít dòng ngắn ở trang trong và nhân đó chỉ trích chế độ cộng sản Việt Nam, kể cả các báo trước đây ủng hộ cộng sản Việt Nam như tờ Libération [Giải Phóng]. Ðặc biệt báo Nouvel Observateur [Người Quan Sát Mới] số ngày 31-5 chạy bài của nhà báo nổi tiếng Delfeil de Ton, với tựa đề “Một Pinochet này nữa”. Trong bài báo nầy có đoạn viết: “Pinochet vừa thăm nước Pháp; không có ai đòi bắt giữ hắn. Hắn mang tên Lê Khả Phiêu, cái tên rất khó đọc. Khác với Pinochet ở Chili, tội ác thuộc về quá khứ, đã về hưu, Lê Khả Phiêu đang tại chức, đang gây tội ác, tổ chức của ông ta từng gây nhiều vụ ám sát, giết người, nhiều người chết trong biển cả khi trốn chạy chế độ độc ác của ông ta. Ông ta không cho phép một chút quyền tự do tư tưởng và tự do báo chí nào…”(21)

Do tất cả những lẽ trên, câu nói của Moshe Dayan đúng là một lời tiên tri về tương lai cuộc chiến vừa qua: “Bắc Việt sẽ thất trận khi họ chiếm được Sài Gòn.” Chính vì chiếm được Sài Gòn năm 1975, nên ngay sau đó chẳng những cộng sản Việt Nam, mà cả cộng sản thế giới cũng bắt đầu thất trận. Cho nên có thể xem ngày 30-4 chỉ là ngày sụp đổ tạm thời của Việt Nam Cộng Hòa, nhưng lại chính là khởi điểm đánh dấu sự sụp đổ vĩnh viễn của huyền thoại cộng sản Việt Nam trong lòng dân tộc Việt Nam. Sự sụp đổ của huyền thoại cộng sản càng làm cho chính nghĩa Quốc gia dân tộc xuyên suốt từ thời tổ tiên chúng ta lập quốc, bị chao đảo một thời gian vì hỏa mù của lý thuyết Mác xít ngoại lai, nay lại sáng tỏ hơn bao giờ cả. Tinh thần Quốc gia Dân tộc bất di dịch là chân lý ngàn đời của dân chúng Việt không thể nào bị đánh bại. Chắc chắn trước tình hình quốc nội cũng như quốc tế thuận lợi như trên,một ngày không xa, chính thể Quốc gia sẽ phục sinh, nhân dân Việt Nam sẽ được tự do, hạnh phúc và phú cường.

TRẦN GIA PHỤNG (Toronto)

CHÚ THÍCH:

1. Nguyễn Tiến Hưng and Jerrold L. Schester, The Palace File, Harper & Row, Publishers, New York, 1986, tr. 350. Nguyên văn: “North Vietnam will lose the war when it takes over Saigon.” [Sách The Palace File được các ông Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Ðàm chuyển dịch sang tiếng Việt dưới nhan đề Hồ sơ dinh Ðộc Lập, vơi một số những thay đổi do Nguyễn Tiến Hưng; Chu Xuân Viện nhuận sắc, Nxb. C & K Promotions, Inc., Los Angeles, không đề năm xuất bản. Trong sách nầy, câu nói của Moshe Dayan được trích dẫn ở trang 594.]

2. Nguyễn Ðình Tuyến, Những biến cố lớn trong 30 năm chiến tranh tại Việt Nam 1945-1975, Houston, Texas, 1995, tr. 19.

3. Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334. Sách nầy được chọn là sách hay nhất về bang giao quốc tế của Câu lạc bộ Overseas Press, Hoa Kỳ.

4. Roger Warner, sđd. tr. 336. Nguyên văn: “that it might be worthwhile to sacrifice South Vietnam. Rather than squander more American lives and billions of dollars trying to prop up South Vietnam, with little chance of succeeding, why not accede to its failure in exchange for an opening to China, in order to weaken the real ennemy, the USSR?“.

5. Roger Warner, sđd. tr. 336. Nguyên văn: “So I came to the conclusion, and this may sound thoroughly cynical to you, that we would be better off not ro win this war. Particularly because the Chinese had made a breakthrough to us, and it was far more important to get the Chinese broken off from the Soviets and leaning to one side in our favor than for us to win in Vietnam.” [Bill Sullivam là một nhà ngoại giao kỳ cựu của Hoa Kỳ, đã từng làm đại sứ Hoa Kỳ tại Ai Lao, thứ trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương, phụ tá và sát cánh cho đến phút chót với Henri Kissinger trong các cuộc thương thuyết tại hội nghị Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam.]

6. John S. Bowman, tổng biên tập, The Vietnam War, Day by Day [Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày], Mallard Press, New York, 1989, tr. 190.

7. Roger Warner, sđd. tr. 333. Nguyên văn: “that losing the Vietnam War would be healthier for the U.S. than winning it. That losing was in the national interest. That it was a plus… It was a radical notion at the time, that by losing the war and by abandoning our Southeast Asian allies to their fate we would be doing the right thing.”

8. Lời của Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng Việt Nam. (Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.)

9. Một ví dụ rõ rệt nhất trong lịch sử Việt Nam, là vào năm 1801, nhà Tây Sơn đem quân vây Quy Nhơn do Võ Tánh và Ngô Tùng Châu của lực lượng Nguyễn Phúc Ánh trấn giữ. Theo kế hoạch của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh chịu thua trận nầy, bỏ Quy Nhơn, tung quân ra đánh chiếm Phú Xuân, rồi ra Bắc hà dẹp nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước.

10. Ðạp đồng đài: tức xe đạp, đồng hồ, và radio transistor. (Lúc đó có nhiều từ ngữ rất lạ lùng về việc nầy: ví dụ đồng hồ không người lái tức đồng hồ tự động, đồng hồ có đèn tức đồng hồ dạ quang, đồng hồ có cửa sổ tức đồng hồ có khung ngày.)

11. Chuyện nầy do một cán bộ tên Phương, thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Hà Nội, được gởi vào Nam để nghiên cứu kế hoạch văn hóa, kể tại nhà của nhà văn Phan Du tại Ðà Nẵng vào thời điểm trên, người viết có mặt trong buổi nói chuyện nầy.

12. Một câu chuyện mà người viết nghe kể tại Sài Gòn trước năm 1980: Khi thủ tướng Cộng Hòa Dân Chủ Ðức (Ðông Ðức), ông Erich Honecker (1912-1994), qua thăm Việt Nam, ghé Sài Gòn, lúc đó đã có tên là Thành phố Hồ Chí Minh. Honecker đề nghị thuê các trí thức Sài Gòn sang làm việc tại Ðông Ðức, trả bằng ngoại tệ qua nhà cầm quyền cộng sản. Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân TPHCM lúc đó là Võ Văn Kiệt đồng ý ngay vì nhà nước cộng sản rất cần ngoại tệ. Theo nhu cầu về chuyên viên của chính phủ Ðông Ðức, ông Võ Văn Kiệt lên danh sách các chuyên viên đã tốt nghiệp các trường đại học Ðông Âu, Liên Xô và Trung Cộng, nhưng Honecker lắc đầu từ chối, và tự mình đưa ra một danh sách nêu đích danh tên tuổi những chuyên viên khoa học kỹ thuật miền Nam đã tốt nghiệp tại miền Nam, cũng như ở Âu Mỹø còn ở lại miền Nam.

13. Nguyễn Minh Cần, Công lý đòi hỏi, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tt. 76-77.

14. Nguyễn Hiến Lê, Hồi kí tập III, Nxb. Văn Nghệ, California, 1988, tt. 17-18, 25.

15. Cuộc phỏng vấn do Thanh Thảo thực hiện, nguyệt san Việt Nam Dân Chủ, số 40, California, tháng 1-2000. (tài liệu rút từ Internet, http//www.Imvntd.org/vndc0100/bai06.htm). Những chữ in đậm do người viết bài nầy muốn nhấn mạnh.

16. * Ngô Nhân Dụng, “Jane Fonda hối tiếc”, http://www.nguoi-viet.com/spcl/0622/binhluan.htm * Xin xem thêm về Jane Fonda: http://www.rjgeib.com/thoughts/fonda/fonda.html

17. Số người Việt Nam Cộng Hòa bị tù sau năm 1975 chưa từng được cộng sản tiết lộ. Sau khi thăm dò nhiều người bị tù ở nhiều trại học tập tại các tỉnh khác nhau, người viết chỉ đưa ra con số ước chừng mà thôi. Nhiều người cho biết con số thật sự bị tù nhiều hơn, phải trên 1.000.000 người, vì chẳng những quân nhân, công chức, mà cán bộ xã ấp ở nông thôn, và cả phụ nữ nữa, cũng bị đi tù nhiều năm

18. Việt Mercury, San Jose, California, 9-3-2001, http://www.vietmercury.com/2001/week10/News/Story01.html)

(Nữ ca sĩ Phương Thanh, trả lời phỏng vấn của thông tín viên Ðức Hà)

19. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 303. Lời nói trên là của ông Vũ Ðình Huỳnh nói với con là nhà văn Vũ Thư Hiên năm 1986. Ông Vũ Ðình Huỳnh gia nhập đảng CS năm 1930, từng chứa chấp, nuôi ăn trong nhà tại Hà Nội những cán bộ cộng sản, kể cả ông Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ðình Huỳnh còn là bí thư của ông Hồ, Vụ trưởng Vụ lễ tân Bộ ngoại giao cộng sản cho đến khi hưu trí năm 1964.

20. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995, tr. 345.

21. Thành Tín, “Pháp du phiêu lưu ký”, Thông Luận.

(Tài liệu của Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

Image may contain: text

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Cũng may Cô Vid kịp thời
Ngăn Tàu Hán hóa giống nòi Việt Nam,
Không cho Đảng Tặc Hồ làm
Tay sai bán nước dâng hàm thú kia.

“Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên.” (Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã).

RFA.ORG

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Hội Nghị Thành Đô là cụm từ nhức nhối đối với người quan tâm tới vận mệnh đất nước có liên quan đến yếu tố Trung Quốc. Hồi gần đây sự đòi hỏi minh bạch hội nghị này ngày một xuất hiện nhiều hơn trong giới sĩ phu cũng nh…

MỘT SỐ NHÂN VẬT ĐÃ QUA ĐỜI BÍ ẨN TRONG 12 NĂM

Image may contain: 4 people, people sitting, suit and indoor
Mai Trung Chinh

MỘT SỐ NHÂN VẬT ĐÃ QUA ĐỜI BÍ ẨN TRONG 12 NĂM
Liên quan đến việc giải quyết tử tù HỒ DUY HẢI.
– Thượng tá Phạm văn Tiến, người ký lệnh bắt Hồ Duy Hải 21/3/2008. Đã qua đời.
– Nguyễn Thanh Hải, công an viên điều tra Nhị Thành, LA, đã qua đời.
– Huỳnh văn Minh, công an viên điều tra Nhị Thành, L.A, đã qua đời.
– Võ thành Quyết, đoàn LS LA, thủ trưởng cơ quan điều tra LA. đã qua đời.
– Chủ tịch Trần Đại Quang, người yêu cầu Chánh Án TAND tối cao và VKSND giải quyết dứt điểm vụ Hồ Duy Hải (tháng 7/2018). Đã qua đời.

Anh chàng này kể cũng cao số.
– Trương Tấn Sang ký lệnh hoãn thi hành án tử ngày 4 tháng 2/2014, chỉ sớm hơn ngày thi hành án 1 ngày.
– Có đến 25.000 chữ ký xin ân xá, Tổ chức Ân Xá Quốc Tế, LHQ, Tổ Chức Ân Xá Na-uy với 25.000 người Na-uy ký đơn xin ân xá cho HDH.
– Lần quyết định kháng nghị án lần cuối là ngày 22/11/2019.
Nhưng nếu lần này hủy án, vấn đề ai là thủ phạm đây? 12 năm rồi, từ các nạn nhân đến mấy người liên quan đến việc điều tra đã chết queo hết cả rồi, tang chứng đốt hết và mua mới rồi, chả còn cái gì mà tìm…
Có nhiều người biết đó, mà không nói…

VÀI ĐIỀU KHIẾN VIỆT NAM “KHÁC BIỆT” THẾ GIỚI 

VÀI ĐIỀU KHIẾN VIỆT NAM “KHÁC BIỆT” THẾ GIỚI 

– Trên thế giới, khi bị tước đoạt dân chủ người ta đổ ra kín đường để đấu tranh, ở VN người ta đổ ra kín đường xem bắn pháo hoa.

– Trên thế giới, khi để bùn đỏ nguy hiểm tràn ra người ta bồi thường và truy cứu trách nhiệm, ở VN người ta lên báo bảo rằng đấy là “bùn có màu đỏ”.

-Trên thế giới khi tham nhũng thành quốc nạn người ta thực hiện chiến dịch “bàn tay sạch”, ở VN người ta bảo đừng ném chuột kẻo vỡ bình.

– Trên thế giới, khi ngân sách cạn kiệt, nợ công tăng cao người ta quy trách nhiệm cho chính phủ, ở VN người ta coi đấy là trách nhiệm toàn dân.

– Trên thế giới, người ta coi việc giành lại những gì của đất nước đã bị cướp đoạt là trách nhiệm của mình, ở VN người ta “ưu ái” nhường lại cho đời sau.

– Trên thế giới, khi để tham nhũng tràn lan, kinh tế kiệt quệ người ta từ chức, ở VN người ta bảo Đảng phân công thì tôi làm, tôi không xin xỏ ai.

– Trên thế giới, khi ngoại bang xâm lược bờ cõi, người ta gọi đấy là kẻ thù, ở VN người ta gọi đấy là anh em.

– Trên thế giới, người ta gọi là thắng lợi khi đánh đuổi được ngoại xâm, ở VN người ta chờ nó rút sau khi đã tung hoành chán chê rồi tuyên bố thắng lợi.

– Trên thế giới, khi người ta biểu tình chống ngoại xâm mọi người bảo đấy là yêu nước, ở VN người ta bảo đấy là phản động.

– Trên thế giới, người ta bảo nhân quyền là do tạo hóa ban cho và bất khả xâm phạm, ở VN người ta bảo đấy là do Đảng ban cho và tao thích xâm phạm lúc nào thì xâm phạm.

♦️ Tội ác ghê gớm nhất của người ta ở VN là:

– biến con người Việt thành những con người không còn tử tế, không còn liêm sỉ, càng lúc càng tham lam, tàn bạo, thủ đoạn;

– biến xã hội Việt Nam thành xã hội suy đồi và giả dối đến mức chưa từng có từ trước tới nay trong văn hoá Việt;

– biến nước Việt thành một nơi chất độc huỷ hoại không những đến thứ để ăn, để uống, để hít thở mà còn huỷ hoại đến tận ý chí, tinh thần và đạo làm người; một nơi không còn một chút nội lực, một nơi con người thờ ơ với hiểm hoạ diệt vong ngay trước mắt…”

Nguồn: mạng XH

NGƯỜI MẸ CỦA TỬ TÙ

NGƯỜI MẸ CỦA TỬ TÙ

Fb Nguyen Xuan Dien

Khi xảy ra vụ án, công an khám nhà lấy đi 4 nhẫn vàng của con gái bà. Khi đã có án, phải đi kêu oan, bà phải bán đất và bán nhà để trang trải lộ phí.

Bà còn cùng bố mẹ vợ con các tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Đặng Văn Hiến đi kêu oan khắp các quảng trường, nơi công cộng có đông người qua lại để hy vọng được mọi người chú ý và cảm thông sâu sắc.

Mười hai năm đi kêu oan cho con, bà đã đội 2000 bộ đơn, gõ cửa hết thảy các cơ quan từ Toà tối cao, Quốc hội, VP Chủ tịch nước, Chính phủ, Viện KSND tối cao và tư gia các ông bà lớn.

Bà còn kêu đến các Nhà thờ Công giáo và Chùa Phật để hy vọng Các đấng bề trên trong thế giới tâm linh chở che cho con bà và giữ gìn nó đến ngày được minh oan.

Ngày mai 6/5/2020, vụ án oan của con trai bà sẽ được xét xử Giám đốc thẩm tại Trụ sở Toà án Tối cao, số 48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Xin cầu nguyện Chư Phật Mười Phương và Bách Thần cùng các đấng tối cao phù hộ và khai quang cho phiên toà được sáng láng để đứa con ngoan của bà được trở về trong vòng tay của bà!

Image may contain: 1 person, standing and outdoor
Image may contain: 1 person