
Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Phạm Thánh
Nguyễn Thị Cỏ May
Nước Pháp thật bất hạnh. Do nghiệp chướng? Thực tế từ nhiều năm nay, khủng bố ám sát liên tục xảy ra, nối tiếp nhau làm như nước Pháp là mục tiêu lý tưởng của Hồi giáo nhằm tiêu diệt? Chỉ vì Pháp là quốc gia của Ánh Sáng (pays des Lumìeres), quê hương của Nhơn quyền và Dân quyền!
Cuộc chiến để bảo vệ những lý tưởng nhơn bản ấy phải là của toàn dân, phải được mỗi người dân bắt tay nhau chặc chẻ cùng chiến đấu. Nhưng chắc chắn sẽ dài hơi .
Tháng 1 năm 2015, có hơn 4 triêu người Pháp cùng xuống đường biểu tình chống hồi giáo khủng bố bắn chết 11 nhà báo và nhơn viên của tuần báo Charlie Hebdo ngay tại Tòa soạn. Lúc đó cơ hồ như cả nước Pháp đều là « Tôi là Charlie! Je suis Charlie!» . Thì nay, khẩu hiệu mới xuất hiện « Tôi là Thầy Giáo! Je suis Prof!» Chỉ cách nhau có 5 năm !
Nhà báo bị bắn vì quyền « Tự do Diễn đạt». Thầy Giáo bị cắt đầu vì « diễn đạt lại Quyền Tự do Diễn đạt » để dạy học trò của mình hiểu biết giá trị nhơn bản .
Hành động giết Thầy Giáo Sử Địa Samuel Paty một cách dã man được nhiều người Pháp hiểu như đây là lời tuyên chiến của hồi giáo. Một đòn tấn công thẳng vào trung tâm nền Cộng hòa, vào trường học của Pháp vì trên tường, trên cổng mỗi trường học đều có khẫu hiệu «Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ – Liberté, Égalité, Fraternité»
Tất cả mọi người đều nói «Thế đủ rồi!»
X in thưa ngay « Chưa đủ » đâu . Vì lúc Cỏ May tôi sắp gỏi bài đi thì có tin một thanh niên Tunisien, lúc 9 giờ sáng, đi vào nhà thờ Đức Bà tại thành phố Nice, giết 3 người Pháp đi nhà thờ bằng cách cắt đầu bằng dao. Một bà 45 tuổi bị cắt, đầu sắp rớt . 2 người kia cũng đều bị cắt cổ .
Môt bà trông thấy vội bấm báo động . Cảnh sát tới và can thiệp . Tên sát nhơn bị thương, được chở vào nhà thương Pasteur cúu cấp .
Tên Tunisien này 21 tuổi, vượt biển qua Âu châu được Ý vớt hồi đầu tháng 9 và bị cách ly ở Ý vì dịch vũ hán . Sau bị trục xuất nhưng không bị nhốt nên nó chạy qua Pháp vào đầu tháng 10 .
Như vậy chánh phủ Pháp mới tuyên chiến với hồi giáo bằng miệng nhưng chúng nó, sau chiến dịch gạch mặt TT Macron, đốt cờ Pháp ở các nước á rặp, thật sự ra tay, máu đổ, đầu rơi ở Pháp !
Ai cũng biết chúng nó ở đó từ lâu
Ai cũng biết chúng nó đã ở đó từ lâu. Ít nhứt cũng từ năm 1981, năm ông François Mitterrand, đảng trưởng đảng Xã hội chủ nghĩa, đắc cử Tổng thống, và chúng nó 800 000 người có được giấy tờ hợp lệ . Ai cũng biết ở Marseille, có hơn 4000 người, không thấy người ở đâu, chỉ thấy giấy tờ hưởng tiền xã hội, đau binh, thì có người nằm nhà thương chữa tri . Quỹ An sinh Xã hội kêu thâm thụt hằng chục tỷ euros, báo chí nêu lên những trường hợp bất thường . Nhưng đều lại trở thành bình thường . Và cũng ở Marseille có nhiều nơi, cảnh sát không dám tới nếu không đi với một lực lượng võ trang hùng hậu . Như khu Ma-Thiên-lãnh . Ở Lyon và vùng Paris có những nơi trở thành sào huyệt của anh chị . Ở Garges, sát Paris, đồn cảnh sát nhốt vài người của chúng nó bị bắt chiều hôm trước, tối đến, chúng nó kêu cảnh sát thả ra, cảnh sát chưa thả, chúng liền tấn công đồn, phá cửa, giải thoát đồng đội, sẳn tay đốt luôn đồn. Nói như vậy để thấy chúng nó đã có sẳn ở đó từ lâu rồi. Đã thành lập nhiều quốc gia trong nước Pháp. Chánh phủ biết. Các ông bà chánh khách biết . Biết rất rõ. Nhưng không dám đụng tới không vì Chánh phủ thiếu khả năng mà vì sức mạnh của lá phiếu.
Cánh Hữu dẹp, cánh Tả la lên và nhiệt tình bênh vực. Các Hội từ thiện, nhơn đạo, văn hóa xã hội túa ra bênh vực, nhơn danh nhiều thứ Quyền . Rồi còn bị chính Dân chủ trói tay. Như trường hợp ông Abdelhakim Sefrioui là Imam, Hội trưởng nhiều Hội hồi giáo, bị cảnh sát từ mươi năm nay xếp vào thành phần nguy hiểm «S» và đề nghị thu hồi quốc tịch của ông nhưng không được. Nay có thể nói ông ta là « cái đầu» trong vụ cắt đầu Thầy Giáo Samuel Paty. Hiện Abdelhakim Sefrioui bị nhốt chờ ra Tòa.
« Chúng nó ở đó» đã được nhà báo Jean-Pierre Obin báo động từ năm 2002 « Làm thế nào đã để cho hồi giáo cực đoan vào trường học?» (Comment on a laissé pénétrer l’islamisme à l’école?, Ed Hermann) . Gần đây, có lẽ tác giả có ý báo động chánh quyền và cử tri đúng vào lúc bầu cử địa phương hồi tháng 3/2020 vừa qua, ông Bernard Rougier đưa ra cuốn sách điều tra tỉ mỷ tình trạng hồi giáo xâm nhập xã hội pháp với ý đồ chánh trị « Lảnh thổ bị hồi giáo chinh phục» (Les territoires eonquis de l’islamisme), và trước đó, ông Bernerd Rougier cũng đã lên tiếng báo động « Lảnh thổ của Cộng hòa bị mất» (Les territoires perdus de la République) .
Về phía dân chúng, cũng có nhiều bài báo, nhiều ý kiến báo động về tình trạng đất nước đang bị hồi giáo chinh phục từng phần . Chánh quyền biết nhưng trong chánh giới thẩm quyền lại không có mấy người nặng lòng yêu nước thật sự . Hay có nhưng bị chìm trong làn sóng «chánh trị lá phiếu» (La politique politicienne) mà ngày nay cái chết thảm hại của Thầy Giáo Samuel Paty chỉ đủ làm cho họ kịp giựt mỉnh « Ca suffit!» (Thế đủ rồi).
Nhưng nay nhìn lại thì xã hội Pháp đã bị chia làm hai dạng song hành và tạm yên như nhờ một thứ qui ước thầm lặng mặc nhiên. Nếu Chánh phủ thật sự động viên toàn dân tranh đấu thống nhứt nước Pháp về cho người Pháp thì phải rủ bỏ ngay mọi ảo tưởng. Trường học đã bị xâm nhập từ lâu. Năm 2004, ông Jean-Pierre Obin đã đưa ra một bản báo cáo theo đó trong một số trường không được nói tới Voltaire, học trò môn Văn không được đọc truyện Madame Bovary.
Làm thế nào một nữ sinh nhỏ từ chối môn bơi lội? .Một đứa nhỏ trai 5 tuổi từ chối bắt tay cô giáo Mẫu giáo của nó vì đó là một người đàn bà? Ai có thể tưởng tượng một đứa con gái lớp CM2 (như Lớp 5) dám lớn tiếng trong lớp cho rằng luật charia quan trọng hơn luật Cộng hòa? Nghe em nói, Cỏ May tôi nhớ lại có lần bà Nguyễn thị Thoan, Phó Chủ tịch nước CHXHVN/VN, con dâu của ông Đại tường Lê Đúc Anh, cả quyết « dân chủ xã hội chủ nghĩa của ta hơn hẳn thứ dân chủ tư bản cả vạn lần!». Cỏ May tôi cho rằng em bé hồi giáo này vượt hẳn bà vc kia rất xa vì chỉ mới mươi tuổi mà can đảm đến như vậy . Thảo nào, vài năm nữa em sẽ ôm bom đi khủng bố. Còn vc chỉ xúi dân như Nguyễn văn Trỗi hoặc kẻ khùng khùng điên điên như Võ thị Sáu chết thay cho, xong rồi chúng ca ngợi để xúi người khác chết tiếp. Vậy vc hèn hơn hồi giáo nhiều quá .
Kẻ thù của Dân chủ Tự do
Sau cái chết của Thầy Giáo Samuel Paty, cả nước Pháp và nhiều nước Âu châu và thế giới phản ứng lên án hồi giáo dã man . Báo chí, mạng xã hội của các nước hồi giáo đồng loạt phản ứng lại, kết án Thầy Giáo Samuel Paty xúc phạm Mohamed, cho rằng cắt đầu Thầy Giáo là cách trả lời «logique» cho những tội ác lịch sử của những người thiên chúa giáo. Cách suy nghĩ như vậy cho thấy hồi giáo không thể sống chung với phần thế giới còn lại không phải cùng hồi giáo . Và cả với những tôn giáo khác đều bị lên án là « infidèles» (ngoại đạo) . Nhiều người hồi giáo, cà ông Tổng thống Thổ Erdogan, đều tấn công TT Macron, xóa hình ông, đốt cờ Pháp vì ông kêu gọi toàn dân chống hồi giáo, bảo vệ đất nước Pháp .
Cách suy nghĩ của những người hồi giáo như vậy là một trở ngại lớn cho tiến trình phát triển nhơn loại .
Hí họa Mohamed như những hình vẻ của tuần báo Charlie bị hồi giáo khắp nơi lên án là «phạm thánh» (plasphème) mà trong luật pháp không có điều luật nào cấm phạm thánh vì đó là cái tội hết cả . Tuy nhiên, hồi giáo vẫn tôn trọng sự diển dịch của họ, cho đó là muốn khêu khích và họ hăm dọa trong những ngày tới sẽ có những khủng bố tàn bạo hơn để phục hận. Phải chăng vụ cắt cổ 3 người ở Nice sáng nay là trả lời cụ thể?
Vụ giết Thầy Giáo Samuel Paty ờ Conflans-Sainte-Hơnrine hôm 16/10 vừa qua không chỉ là một vụ giết người, mà đó là tấn công vào hệ thống giáo dục của Pháp, thứ dạy trẻ con hiểu biết quyền tự do diễn đạt và cả quyền ngăn cấm ai không cho tự do diễn đạt nữa . Chẳng những điều này hoàn toàn trái với văn hóa tuân phục của hồi giáo, mà còn là điều không thể chấp nhận được vì đứa trẻ nhận những hiểu biết mà không cần sự phù hộ của Mohamed .
Đừng mơ hồ với hồi giáo
Người hồi giáo cực đoan (islamiste) nuôi dưởng một tư tưởng rất đơn giản và rất được phổ biến: đời sống là cuộc chiến tranh mà họ chuẩn bị để đánh thế giới ngoại đạo, tức không theo hồi giáo (infidèle). Chiến tranh là phương tiện tái lập quyền lực của Chúa Trời, nghĩa là quyền lực của những người hồi giáo . Chiến tranh không phải là một tai nạn, một bất ngờ, mà là một ý muốn sâu xa, một cái nhìn về thế giới, bằng chứng của đức tin thật sự .
Chiến tranh không phải là thứ nói suôn, mà đó là tiến bước biến lòng tin thành hành động của tín ngưởng. Chiến tranh là sửa đổi lại thế giới, nghĩa là giết những kẻ ngoại đạo (infidèles), …
Hồi giáo phải tiêu diệt các nước Tây phương, tức tiêu diệt sạch nền văn hóa và văn minh của Dân chủ Tự do và Nhơn quyền .. Để bảo vệ văn hóa hồi giáo của họ . Cũng như Tàu phải đánh Mỹ và Âu châu, không chỉ chiếm đất mà trước tiên là nhằm tiêu diệt nền văn hóa Dân chủ và Nhơn quyền để có thể thực hiện giấc mộng trung hoa . Xi Cận-bình chỉ thành công khi áp đặt được mô hình trung quốc lên toàn thế giới.
Như vậy khó có thể có thứ hồi giáo ôn hòa hay thứ cộng sản ôn hòa. Hồi giáo, đã rỏ bản chất nó như vậy. Còn cộng sản?
Xin nói ngay «đã là cộng sản thì thứ nào, ở đâu, cũng là một thứ» . Chỉ có cộng sản hay không cộng sản mà thôi.
Ở Việt Nam, có người nói cộng sản Nam kỳ ôn hòa hơn cộng sản Thanh Nghệ Tĩnh hay Bắc kỳ. Từ đó vội cho rằng Nguyễn Tấn Dũng, dân Nam kỳ, dù sao cũng cởi mở hơn, đi với Mỹ, vì có con liên hệ sui gia với Mỹ, con học ở Âu châu và Mỹ, chắc chắn Dũng sẽ từng bước dựa vào Mỹ mà thay đổi Việt nam trở thành nước dân chủ với nền kinh tế thị trường thật sự . Ảo tưởng nào cũng đẹp!
Thấy hồi giáo hảy hiểu đảng cộng sản có gì khác hơn hay không?
VC không cắt đầu công khai để trị tội nhưng Hồ Chí Minh đã từng cho cày và bừa kéo qua đầu nông dân tiểu chủ thời cải cách ruộng đất .
Trong vụ Têt Mậu Thân Hồ đã giết dân Huế cách nào? Có cực kỳ dã man không?
Chỉ có khác là VC giết người gian ác hơn hồi giáo. Chưa có một tên đảng viên vc nào dám lập thành tích bằng cách ôm bom khủng bố như hồi giáo.
VC khôn hơn hồi giáo hay hèn hơn?
Nhưng chắc chắn VC và Hồ Chí Minh giết nhiều dân của mình hơn hồi giáo, hơn Hitler, hơn thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ .
Nguyễn thị Cỏ May
From: TU-PHUNG
Cái dáng rất buồn
Tôi có hai người bạn cũng bị bịnh lú lẫn, hai người bạn này đã chết. Tình trạng của anh giống như bài viết này.
Trần Mộng Tú
Anh bước vào giai đoạn lú lẫn (Alzheimer) ở cuối đời. Mấy năm nay anh đã thay đổi rất nhiều. Bắt đầu anh quên quên nhớ nhớ, tiếp đến là anh dễ xúc động, anh hay khóc. Mấy năm trước, nghe cô bạn đọc Thơ của anh, anh cười, anh nhớ lại, đọc tiếp theo, chỉ độ một năm sau đó, anh không đọc theo nữa, anh chỉ nghiêng đầu lắng nghe, rồi bật khóc.. Hình như anh biết được người kia vừa nói ra những câu gì rất thân yêu, rất thân thuộc với mình, và điều đó làm anh xúc động, anh khóc rưng rức. Chị lại nhỏ nhẹ dỗ anh:
– Nín đi, nín đi, Thơ của anh, cô ấy nhớ đấy mà, phải vui chứ.
Anh nghe chị, ngoan như em bé, lau nước mắt, bằng mấy ngón tay, rồi cười, một nụ cười rất thơ trẻ.
Những năm kế tiếp, anh bắt đầu quên mặt họ hàng, quên mặt những người bạn thân, anh chỉ nhớ có chị thôi. Anh 85 tuổi, chị 80 tuổi. Hai vợ chồng già sống với nhau, con trai, con gái đều có gia đình. Đứa ở xa, đứa ở gần cũng vậy thôi. Một năm tụ họp gia đình đôi ba lần vào dịp Lễ, Tết.
Khi anh mới bắt đầu lãng quên, sức khỏe anh vẫn còn tốt, sáng sáng chị chở anh tới Gym. Chị bơi lội, anh ngồi ngoài nắng hóng mặt trời. Chị đi chợ, đi tới nhà bạn họp mặt luôn luôn có anh đi theo. Mỗi ngày anh một chậm hơn và quên nhiều hơn nhưng anh vẫn tự lo được vệ sinh cho mình, chị chỉ cần nhắc.
Rồi bỗng một ngày anh không làm gì một mình được nữa, chị phải phụ anh. Cơ thể chị nhỏ quá so với anh, chị không thể khênh vác, tắm gội cho anh được. Anh bắt đầu ngu ngơ như một đứa trẻ còn mặc tã, mà anh đang mặc tã thật, chị không thể nào khênh, đỡ anh làm những việc vệ sinh cá nhân cho anh. Chị gọi con, con trai chị từ tiểu bang xa về tìm Home Care để gửi Bố vào.
Tìm mãi mới được một nơi gần nhà, Mẹ chỉ lái xe có 8 phút là thăm được Bố. Số tiền hơi cao, nhưng để con lo.
Con ở lại thêm vài ngày nữa yên tâm có chỗ tốt cho Bố mà Mẹ không phải đi xa, muốn thăm Bố lúc nào cũng được. Chị ngậm ngùi:
– Ừ thôi con về nhà với vợ, con đi.
Mấy hôm có con, chị yên tâm.. Con đi rồi, chị một mình trống trải, thấy căn nhà của mình sao nó rộng mênh mông thế này, căn nhà không có anh bỗng tự nhiên thành xa lạ, giống như chính chị cũng vừa dọn vào một ngôi nhà mới, chị buồn trống cả hồn. Buổi tối đi ngủ chị nghĩ tới anh ở nhà mới với những người xa lạ chắc anh còn buồn hơn chị bây giờ. Thương anh quá, chị mong sao cho đến sáng để vào thăm anh.
Anh đã ở nhà mới được hai tuần, mỗi ngày chị tới thăm, người ta không cho chị vào hẳn phòng anh, ngay cả phòng khách cũng chưa được vào (vì đang thời Đại Dịch), họ đưa anh ra ngoài hàng hiên, nơi đó có sẵn mấy cái ghế cho anh chị ngồi gặp nhau. Chị thấy anh sạch sẽ, tươm tất chị cũng mừng, nhưng mỗi lần thấy anh hiền lành như một đứa trẻ ngoan, chị lại mủi lòng.
Sao anh thay đổi nhanh thế! Gặp chị anh không vui, chị đứng lên về anh không buồn, trên nét mặt anh chị không thấy một cảm xúc nào, anh nhìn chị như nhìn cái cây hay bức tường trước mặt, ánh mắt anh không vui, không buồn. Con chim sẻ sà xuống sân cỏ trước mặt hai người, chị cầm tay anh lay lay, chỉ anh, anh nhìn mà như không nhìn, ánh mắt anh không biểu lộ một cảm xúc nào.
Khi tới thăm anh, chị cứ đinh ninh là khi anh bước ra, thấy chị, ánh mắt anh sẽ sáng lên, miệng anh sẽ mỉm cười và khi chị bịn rịn chia tay về, ánh mắt anh sẽ buồn buồn, tay anh sẽ nắm chặt tay chị. Nhưng không, anh thản nhiên đứng lên đi vào, không hề quay đầu lại.
Chị không thấy anh khổ, không thấy anh buồn hay vui. Hình như anh không còn cảm giác buồn vui nữa. Sao anh thay đổi nhanh thế!
Chị nghĩ tới ba tháng mùa Đông sắp tới, người ta đã cho chị biết là sẽ không có thăm viếng vì trời lạnh người già yếu không thể ra ngoài hiên được và thân nhân vẫn chưa được quyền vào bên trong, nếu đại dịch vẫn còn.
Chị nghĩ tới nét mặt vô cảm xúc của anh, nghĩ tới hình ảnh anh đi vào không hề quay đầu lại và chị đứng ứa nước mắt nhìn theo dáng cái lưng im lặng của anh khuất sau cánh cửa.
Trời ơi trong 3 tháng mùa Đông, ngay cả cái lưng im lặng, cái dáng rất buồn đó, chị cũng không được nhìn thấy, mặc dù nó vẫn hiện hữu.
Bất giác chị ôm mặt mình nấc lên.
Trần Mộng Tú
Tháng 9-18-2020
From: TU-PHUNG
CHUYỆN CHINESE KLEPTOCRACY
BÀI 448: NHỮNG “CON QUỶ ĐỘI LỐT NGƯỜI” TRONG TRẠI LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC NỮ TỈNH SƠN ĐÔNG, TÀU CỘNG
Khi cầm trên tay một món hàng giá rẻ xuất xứ Tàu, rất có thể bạn đang chạm tới phần nổi của một tảng băng tội ác chìm khuất phía sau. Từ lâu, dư luận thế giới đã biết đến việc lạm dụng lao động tù nhân được chế độ ĐCS Tàu bảo hộ nhằm tạo ra những mặt hàng giá rẻ có tính cạnh tranh cao trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ít nhiều người ta vẫn cho rằng “tù nhân” là những tội phạm có việc làm sai trái, và giọng điệu “lao động gột rửa tội lỗi” của chính quyền Bắc Kinh đã lấp liếm đi tính chất tà ác của những trại lao động cưỡng bức này. Sự thực là, rất nhiều người bị giam giữ trong các trại cưỡng bức lao động ở Tàu là những công dân lương thiện, như các học viên Pháp Luân Công, tín đồ Công giáo, người Duy Ngô Nhĩ. Họ bị tước đoạt tự do chỉ vì tư tưởng của họ không phù hợp với lý luận của ĐCS Tàu.
I- TỘI ÁC KINH HOÀNG TRONG TRẠI LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC NỮ SỐ 2 TỈNH SƠN ĐÔNG
Kể từ khi cuộc bức hại Pháp Luân Công bắt đầu vào năm 1999, Trại Lao động Cưỡng bức Nữ số 2 tỉnh Sơn Đông đã trở thành một nơi chuyên giam giữ các học viên Pháp Luân Công. Báo cáo từ Minh Huệ Net cho biết có hơn 1.000 học viên Pháp Luân Công bị giam trong 7 khu của trại lao động vào năm 2001. Các lính canh của trại lao động đã được huấn luyện để tra tấn, lừa gạt và tẩy não các học viên bằng các thủ đoạn đen tối và ác độc. Kết quả là, một số học viên đã bị bức hại đến chết, trong đó nhiều người trở nên tàn tật, rối loạn tinh thần và bị bệnh nặng.
Pháp Luân Công là một môn khí công Phật gia tu luyện cả thân lẫn tâm dựa trên nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn. Tân Hoa Xã, tờ báo chính thức của ĐCS Tàu tuyên bố: “Thực tế, cái gọi là nguyên tắc ‘Chân, Thiện và Nhẫn’ được giảng bởi ông Lý Hồng Chí (người sáng lập Pháp Luân Công) chẳng có gì chung với sự phát triển văn hóa và đạo đức xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang cố gắng đạt được”. Bởi lẽ đó, các học viên Pháp Luân Công tại Trại Lao động Cưỡng bức Nữ số 2 tỉnh Sơn Đông bị buộc phải tham gia các phiên tẩy não nhằm ép buộc họ từ bỏ đức tin, hoặc lao động không công từ 5:30 sáng đến 21:30 tối.
Đôi khi, họ phải làm thêm giờ đến quá nửa đêm, thậm chí đến 2:00 sáng, họ buộc phải ngồi trên những chiếc ghế đẩu nhỏ liên tục trừ thời gian ăn cơm, đi vệ sinh hoặc làm những công việc lao động mà bắt buộc phải đứng. Các học viên từ chối từ bỏ đức tin bị tra tấn bằng nhiều cách thức khác nhau, chẳng hạn như cấm ngủ trong thời gian dài đến hơn 40 ngày, biệt giam, còng tay, sốc điện bằng dùi cui, hạn chế sử dụng nhà vệ sinh và tắm rửa, đứng trong thời gian dài, ngồi xổm hoặc úp mặt vào tường, bị treo lên hoặc bị trói chặt.
II- CÂU CHUYỆN THƯƠNG TÂM VỀ CÔ TRẦN CHẤN BA
Cô Trần Chấn Ba (SN 1962, Kế toán viên Công ty hạt giống Jinhua, tỉnh Sơn Đông) từng bị giam giữ bất hợp pháp tại Trại Lao động Cưỡng bức Nữ số 2 tỉnh Sơn Đông một năm rưỡi. Cô bị chính quyền ĐCS Tàu bắt cóc vào ngày 25-12-2008 trong lúc đang phát tờ rơi về Pháp Luân Công. Trong những nỗ lực để “chuyển hóa” cô Ba, các viên chức trại lao động đã tra tấn tinh thần và thể xác cô đến tàn tật. Sau đây là trích đoạn từ tự thuật của cô Trần Chấn Ba trên Minh Huệ:
1- CÁC LÍNH CANH ĐÃ LÉN LÚT BỎ THUỐC VÀO LƯỢNG THỨC ĂN ÍT ỎI CỦA TÔI
Trong hai tháng bị tra tấn tàn bạo ba lần, và bị còng tay vào một cửa sổ trong bảy ngày, các viên chức trại đã cung cấp một lượng thức ăn ít ỏi mà chỉ đủ duy trì cho tôi sống qua ngày. Hầu như mọi ngày họ chỉ cho tôi một bữa ăn, nhưng thỉnh thoảng tôi bị bỏ đói trong nhiều ngày. Khi bánh bao và vài cọng rau được chuyển đến nhà vệ sinh hoặc nơi tôi bị giam, những người giám sát (các tù nhân được giao nhiệm vụ trông chừng tôi) chỉ cho tôi một miếng bánh nhỏ, và họ ăn rau.
Tôi chỉ còn da bọc xương trước khi bị còng tay vào một cửa sổ. Tôi cảm thấy rằng họ đã thêm một vài thứ lạ vào thức ăn của tôi vì tay chân tôi chuyển thành màu xanh, hai môi tôi bị sưng lên, và đầu tôi quay cuồng sau mỗi lần tôi ăn gì đó. Toàn thân tôi bị sưng tấy chỉ trong một đêm. Tôi cảm thấy như mình sắp chết. Tôi nói với tù nhân Vương Phó Cầm rằng các lính canh chắc chắn có ý đồ muốn đầu độc cho tôi chết.
Sự nghi ngờ của tôi đã được xác nhận không lâu sau đó. Một lần tôi yêu cầu được ăn bánh xoắn bột (một loại bột chiên kiểu Tàu), ngay sau khi ăn vào, tôi cảm thấy bị tê liệt, sưng tấy, và mất hết sức. Mặt, hai bàn tay, và chân của tôi trở nên thâm tím sau nhiều ngày. Tôi cảm thấy hai môi, lỗ mũi cũng bị sưng, và khó thở. Đôi chân bị sưng tấy của tôi không thể xỏ dép. Người chung xà lim với tôi là Lưu Hải Lan, một người phạm tội trộm cắp bị kết án, đã ăn hai cái bánh xoắn của tôi và cũng bị tình trạng tương tự.
2- CÁC LÍNH CANH ĐÃ CẤM TÔI TẮM RỬA TRONG THỜI GIAN DÀI
Tôi bị cấm tắm rửa trong 117 ngày, từ ngày tôi bị bắt là 25-12-2008 đến khi kết thúc lần thứ hai bị đánh đập tàn bạo vào ngày 19-4-2009. Người tôi rất hôi và bẩn.
Một ngày vào tháng 6-2009, (phó trại) Triệu Lệ Lệ đột nhiên đồng ý cho tôi tắm rửa và ra lệnh cho Vương Thiến mang nửa chậu nước đến. Nhưng trước khi tôi có cơ hội lau chùi thân thể, Từ Kính tuyên bố rằng thời gian đã hết. Cô ta đá vào chậu làm nước văng tung tóe khắp phòng.
Khi lần đánh đập thứ ba kết thúc vào giữa tháng 8-2009, Triệu Lệ Lệ nói rằng tôi có thể gội đầu. Tù nhân Tiết Liên Hỉ đã mang đến một nửa chậu nước, chỉ để cho Từ Kính hất đổ. Đêm thứ hai Từ Kính chỉ cung cấp đủ nước để tôi lau chùi phần trên thân thể. Trong một năm rưỡi bị giam, họ không bao giờ cho tôi tắm rửa trong nhà vệ sinh hay nhà tắm, cũng không cho phép tôi giặt quần áo bẩn. Quần lót của tôi rất dơ trong những lần có kinh nguyệt. Tôi không có sự lựa chọn nào ngoài việc đổi quần lót với những người đã được thả ra.
Tù nhân Hầu Bảo Cầm đã đổi quần dài của cô với tôi khi một người giám sát ra ngoài trong chốc lát. Khi tôi cởi quần dài ra, lớp da rơi ra khỏi chân tôi hình thành một lớp dày trên sàn nhà. Một ngày mùa đông năm 2009, khi tù nhân và người giám sát Trương Hiểu Lệ đang ngủ, tôi vặn vòi nước để gội đầu. Âm thanh đã đánh thức cô ta dậy, và cô ta đã tố cáo tôi với Hạ Lệ. Khi quay trở trở lại, cô ấy đã tắt vòi nước khi tóc tôi vẫn còn đầy xà phòng.
Khi tôi yêu cầu được gội đầu vào ngày trước khi được thả ra, Hạ Lệ lúc đầu đã từ chối nhưng đã thay đổi ý định khi máy quay phim của cô ta đã sẵn sàng. Hóa ra cô ta và Tống Mẫn đã bí mật quay phim khi tôi đang gội đầu. Tôi nhấn một tay ở đáy chậu để làm điểm tựa, và dùng tay kia để xoa tóc. Thỉnh thoảng tôi xoa đầu bằng cả hai tay.
Sau khi trở về nhà và bị tàn tật, chồng tôi đã nộp một đơn khiếu nại đến Cục giáo dục lao động cưỡng bức tỉnh Sơn Đông, sau đó họ đã gửi một đội điều tra đến trại lao động. Sau năm ngày ở đó, đội đã đi đến kết luận rằng tôi không bao giờ bị đánh đập, và tôi không bị tàn tật. Bằng chứng họ dùng để chứng minh cho kết quả điều tra là cuộn phim bí mật ghi hình tôi khi tôi đang gội đầu bằng cả hai tay.
3- CÁC LÍNH CANH RA LỆNH CHO TÔI PHẢI LAO ĐỘNG NẶNG BẤT CHẤP VIỆC TÔI BỊ TÀN TẬT
Khi tôi đến trại lao động vào tháng 1-2009, mọi người phải thức dậy vào lúc 5 giờ 30 phút sáng và chỉ có ba phút để rửa mặt và đánh răng. Thông thường chúng tôi làm việc 16 giờ mỗi ngày, chỉ với năm phút ăn trưa và hai phút đi vệ sinh. Thỉnh thoảng chúng tôi phải thức cả đêm để hoàn thành công việc đúng thời hạn. Thời khóa biểu này không thay đổi đến tận tháng 10-2009 khi có đợt thanh tra trại. Nhưng lịch làm việc mới với 8 giờ chỉ kéo dài một vài ngày. Ngay sau khi thanh tra rời đi, chúng tôi phải làm việc 12 giờ một ngày.
Khối lượng công việc nặng nhọc như vậy dẫn đến chấn thương lưng cho những người lớn tuổi, và làm biến dạng ngón tay của những người trẻ hơn. Từ lúc chúng tôi làm việc trên những sản phẩm điện tử có chứa chất độc, hơn hai phần ba số người bị ngứa da với những chỗ sưng đỏ. Chung Ngọc Hoa, một trong những tù nhân bị hen suyễn, thở rất khó khăn, và mặt của cô bị sưng tấy.
Sau lần thứ hai bị tra tấn tàn bạo, xương sống, xương sườn, đốt sống thắt lưng của tôi đã bị thương. Xương sống của tôi đã bị trật ra so với đầu của tôi nữa, luôn bị lệch sang trái. Răng của tôi cũng không thẳng hàng, và rất khó cho tôi nhai và nuốt. Tôi đặt một cuộn giấy vệ sinh giữa vai và đầu để nâng đầu. Hầu như trong một năm, đầu tôi bị nghiêng như thế cho đến khi tôi phải nằm xuống và không thể đứng dậy.
Lính canh vẫn cho người giám sát tôi khi tôi bị liệt nửa người. Họ đánh tôi khi tôi từ chối lao động nặng. Vì tay trái của tôi mất cảm giác và không làm việc được, tôi phải giữ sợi chỉ trong răng trong khi dùng tay phải để làm việc. Khi tôi không hoàn thành công việc, chắc chắn họ sẽ buộc tôi thức khuya để hoàn thành nhiệm vụ. Sau hai tháng đau khổ đến kiệt sức như vậy, tất cả xương của tôi đều đau, và tôi thường xuyên bị bất tỉnh. Lúc đầu, tôi di chuyển xung quanh bằng cách dựa vào một cái ghế nhỏ. Sau đó hai người phải khiêng tôi đi xung quanh. Cuối cùng tôi hoàn toàn không thể di chuyển và nằm trên một tấm bảng gỗ trong năm tháng. Lúc được thả ra, Hạ Lệ, Lý Tú Vân và hai lính canh khác đã bọc tôi vào một cái chăn và mang tôi ra khỏi trại lao động.
III- ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Cô Trần Chấn Ba cho rằng lý do cô không bị chết trong trại lao động là vì việc cô bị tra tấn đã được phơi bày trên Minh Huệ Net nhiều lần cũng như áp lực từ phía gia đình cô, trong đó có người thân ở hải ngoại đang làm trong những tổ chức quốc tế nổi tiếng. Tuy nhiên, không phải ai cũng may mắn như cô Ba.
Ông Âu Tư Văn (SN 1943), nhân viên đã nghỉ hưu của nhà máy cơ khí quân đội Phong Lôi thành phố An Thuận, tỉnh Quý Châu, đã bị tra tấn đến chết trong Trại cưỡng bức lao động Trung Bát, tỉnh Quý Châu.
Ông Trương Khánh Quân (SN 1949) bị tra tấn đến chết trong Trại lao động cưỡng bức Ẩm Mã Hà ở Cửu Đài, tỉnh Cát Lâm.
Bà Hầu Hữu Phương (SN 1955), giảng viên trường trung học Tây Pha, tỉnh Cam Túc, bị bức hại đến chết trong Trại cưỡng bức lao động Bình An Đài, tỉnh Cam Túc. Xương tay, chân bà đều bị gãy, và bà bị xuất huyết nội rất nặng.
Đó chỉ là vài trong số các trường hợp bị tra tấn và bức hại đến chết được báo cáo trên Minh Huệ Net. Các trại lao động cưỡng bức đã gây ra bao tội ác kinh hoàng cho đến tận năm 2013 khi hệ thống này bị giải thể ở Tàu. Tuy nhiên, ngành công nghiệp lao động cưỡng bức vẫn tồn tại. Ông Uông Chí Viễn, Giám đốc Tổ chức Quốc tế Điều tra Cuộc Bức hại Pháp Luân Công (WOIPF) cho biết trên tờ The Epoch Times rằng, các trại lao động cưỡng bức này chỉ đơn giản là đổi tên và sáp nhập vào hệ thống nhà tù, như thể “bình mới rượu cũ”.
(Thanh Ngọc – DKN 30/10/2020)

Bài dài nhưng nên đọc
GIẢI THÍCH VỀ CỬ TRI ĐOÀN TRONG BẦU CỬ TỔNG THỐNG HOA KỲ
Tim Pham
October 30, 2020
Trước khi nói về Cử Tri Đoàn và cách thức cùng thể lệ bầu cử, chúng ta cần nhớ rằng nước Mỹ không phải là một quốc gia có 50 tỉnh mà nước Mỹ là một hiệp chủng quốc gồm 50 tiểu bang tự trị. Khi các tiểu bang gia nhập vào Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, họ chỉ phải đồng ý là sẽ tuân thủ theo một số điều luật của liên bang mà bang nào cũng phải theo. Ngoài các điều luật đó ra, các tiểu bang hoàn toàn tự trị và tự vận hành. Nói một cách nôm na, nước Mỹ như là tập thể của 50 vườn hoa. Tuy nằm trong công viên lớn có tên là Hoa Kỳ, nhưng các chủ vườn có thể trồng các loại cây và hoa mà mình muốn với điều kiện là cây của vườn này không được lấn sang đất của vườn khác. Chính phủ liên bang không giới hạn số lượng và chiều cao của cây. Nói một cách khác, sự phát triển kinh tế của bang này không được gây hại đến sự phát triển kinh tế của các bang khác.
Tại các tiểu bang của Hoa Kỳ, hiến pháp và luật lệ của mỗi tiểu bang có giá trị và hiệu lực cao hơn hiến pháp và luật lệ của chính phủ liên bang. Các cuộc bầu cử ở cấp tiểu bang đều theo thể thức phổ thông đầu phiếu, nghĩa là ai được nhiều phiếu thì người đó thắng. Chỉ có chiếc ghế tổng thống Hoa Kỳ mới được bầu theo thể thức Cử Tri Đoàn (Electoral College).
VÌ SAO CẦN CÓ CỬ TRI ĐOÀN?
Vì sao chiếc ghế Tổng Thống không được quyết định bằng thể thức phổ thông đầu phiếu, nghĩa là đa số thắng thiểu số? Câu trả lời rất đơn giản là, ngay từ đầu, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã hoàn toàn không có ý định tạo ra một nền dân chủ dựa trên nền tảng thuần tuý của nguyên tắc đa số thắng thiểu số. Sau khi nghiên cứu lịch sử thế giới một cách cẩn thận và tỉ mỉ, họ đã học được điều mà, ngày nay, hầu hết mọi người đã quên hoặc chưa bao giờ được học. Đó là, một nền dân chủ chỉ thuần túy dựa trên nguyên tắc đa số thắng thiểu số, lấy thịt đè người là một nền dân chủ bất công và không bao giờ là nền dân chủ thực sự. Trong một nền dân chủ thuần túy dựa trên sức mạnh của đại đa số thì các nhóm thuộc đại đa số sẽ có thể dễ dàng áp đặt sự chuyên chế của mình lên phần còn lại của đất nước. Nó sẽ tạo ra một xã hội trong đó các nhóm đa số sẽ lấn lướt, áp đặt, và hiếp đáp các nhóm thiểu số; các bang lớn, đông dân sẽ lấn áp và chà đạp quyền lợi của các bang nhỏ.
Nền dân chủ dựa trên sức mạnh của đại đa số được ví như khi hai con sói và một con cừu ngồi lại với nhau để đưa ra quyết định “dân chủ” về món ăn cho bữa tối. Dĩ nhiên con cừu sẽ luôn là món ăn cho bữa tối và cả bữa trưa ngày hôm sau. Con cừu, với thân phận thế cô, sức yếu sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được trong một xã hội mà đại đa số là sói. Tượng tự, trong một xã hội mà đại đa số là phụ nữ, thì khi “bầu phiếu dân chủ”, đàn ông luôn luôn sẽ là người rửa chén sau bữa ăn. Trong một xã hội mà bần cố nông nhiều hơn thành phần trí thức, tiểu tư sản, thì khi “bầu phiếu dân chủ”, bần cố nông sẽ luôn cai trị những người trí thức. Dân chủ theo kiểu đa số thắng thiểu số này sẽ rất nguy hiểm cho đất nước, là phản dân chủ, và là bản án chung thân cho số ít. Đây là nền “dân chủ” mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ muốn tránh bằng mọi giá.
Thấy được sự nguy hiểm của nguyên tắc “lấy thịt đè người”, dùng sức mạnh của số đông để đàn áp, thống trị số ít này, các nhà lập quốc của Hoa Kỳ đã phải ngồi lại với nhau ròng rã nhiều tháng để tìm ra một phương pháp nhằm giảm thiểu sức mạnh toàn trị của số đông trên mảnh đất Hoa Kỳ. Và cuối cùng, họ đã nghĩ ra một hệ thống bầu cử Tổng Thống có tên là Electoral College, tức Cử Tri Đoàn.
Cử Tri Đoàn được sáng lập để ngăn ngừa và giảm thiểu sự lấn áp của số đông đối với số ít, để đảm bảo quyền lợi cho các bang có số dân nhỏ, để đảm bảo tiếng nói và nguyện vọng của họ cũng được xem trọng như các tiểu bang lớn.
Đó là lý do vì sao các tiểu bang dù nhỏ hay lớn đều chỉ được có hai đại diện trong Thượng Viện. Điều này đảm bảo rằng trong các cuộc bầu phiếu tại Thượng Viện tất cả các bang đều có sức mạnh như nhau vì mỗi bang đều có hai phiếu bầu. Để bù lại việc các bang lớn bị “xử ép” khi chỉ có hai đại diện tại Thượng Viện, số ghế đại diện của mỗi bang tại Hạ Viện được dựa trên dân số của mỗi bang. Như vậy, các tiểu bang lớn sẽ được nhiều ghế đại diện trong Hạ Viện hơn các tiểu bang nhỏ. Tuy có vẻ “bất công” đối với các tiểu bang nhỏ, nhưng thực sự thì lại rất công bằng bởi vì con ngựa to lớn hơn và làm việc có hiệu quả cao hơn nên dĩ nhiên phần ăn sẽ được nhiều hơn con lừa. Công bằng tuyệt đối không bao giờ tồn tại.
Theo thể thức bầu cử của Cử Tri Đoàn ngày nay, một ứng cử viên cần ít nhất 270 phiếu bầu để giành chiến thắng. Vì sao điều này lại quan trọng như vậy? Bởi vì thể thức Cử Tri Đoàn khuyến khích xây dựng liên minh và vận động bầu cử trên bình diện toàn quốc để giành được sự ủng hộ của nhiều loại cử tri khác nhau, từ nhiều vùng khác nhau của nước Mỹ. Nếu một cử tri chỉ có được sự ủng hộ của miền Nam hoặc miền Tây thì không đủ để đắc cử. Họ không thể giành được con số tối thiểu 270 phiếu đại cử tri nếu chỉ có một phần của đất nước ủng hộ họ. Do đó, đối với một ứng cử viên, mọi tiểu bang và mọi cử tri đều trở nên quan trọng như nhau.
Ngược lại, nếu chiến thắng nghĩa là chỉ cần làm sao để có đủ số phiếu phổ thông, thì một ứng cử viên chỉ cần tập trung toàn bộ nỗ lực của mình để vận động tại các thành phố lớn nhất hoặc các bang lớn nhất mà không cần phải quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, và khó khăn của các tiểu bang nhỏ.
Thể thức Cử Tri Đoàn còn có tác dụng ngăn ngừa sự gian lận và hối lộ. Thí dụ như nếu Châu Á cần bầu ra một tổng thống. Châu Á có 4,6 tỉ dân, Trung Quốc có 1,5 tỉ dân và Ấn Độ có 1,4 tỉ dân. Nếu theo thể thức Cử Tri Đoàn thì thắng được Trung Quốc và Ấn Độ vẫn chưa đủ điểm để đắc cử. Vì vậy, các ứng cử viên phải coi trọng và quan tâm đến các nước khác. Nếu theo thể thức bầu phiếu phổ thông, thì các ứng cử viên chỉ cần tập trung vận động để dân Trung Quốc và Ấn Độ bầu cho mình vì hai nước này hợp lại đã có 3 tỉ dân. Trung Quốc và Ấn Độ có thể liên minh mua chuộc một ứng cử viên nào đó và vị ứng cử viên đó chỉ cần đáp ứng nhu cầu của Trung Quốc và Ấn Độ sau khi đắc cử. Vì phiếu bầu của Việt, Miên, Lào không quan trọng và không cần thiết nên quyền lợi của các nước này cũng sẽ không được đảm bảo. Như vậy, Trung Quốc và Ấn Độ có thể thao túng toàn bộ Châu Á. Trung Quốc hoàn toàn có thể sử dụng sông Mekong và sông Hồng theo ý của mình. Họ có thể đào kênh thuỷ lợi dẫn hết nước vào ruộng của họ, tuỳ tiện xây đập thuỷ điện và kết quả là gây hại cho các nước thấp cổ, bé miệng ở hạ nguồn như Việt, Miên, Lào. Đây chính là hệ thống dân chủ dựa trên nguyên tắc đa số thắng thiểu số, lấy thịt đè người, bang lớn chèn ép bang nhỏ mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ muốn ngăn ngừa bằng mọi giá.
Cử Tri Đoàn còn có rất nhiều cái lợi khác, một trong số đó là đếm phiếu. Theo thể thức bầu phiếu phổ thông, nếu hai ứng cử viên có số phiếu xấp xỉ bằng nhau thì việc đếm lại phiếu bằng tay (recount) trên phạm vi toàn quốc sẽ được dùng để quyết định người thắng cuộc vì computer có thể bị trục trặc. Việc đếm phiếu bằng tay trên phạm vị toàn quốc sẽ gây tốn kém rất nhiều thời gian, công sức, và tiền bạc. Đó là chưa kể đến việc sau khi đếm phiếu mà vẫn xấp xỉ thì lại phải đếm lại. Thể thức Cử Tri Đoàn sẽ giải quyết vấn đề này nhanh gọn và đỡ tốn kém hơn nhiều. Tôi xin được lấy tiểu bang Minnesota làm ví dụ. Minnesota được 10 Electoral Votes (gọi là 10 phiếu đại cử tri). Ai thắng được số phiếu phổ thông tại Minnesota thì sẽ được cộng 10 phiếu đại cử tri vào tổng số phiếu đại cử tri của mình. Nếu như số phiếu phổ thông của hai cử viên tại bang này xấp xỉ bằng nhau thì chỉ cần đếm lại phiếu tại Minnesota để quyết định thắng thua chứ không cần phải đếm lại phiếu trên toàn nước Mỹ. Và đây cũng là một trong những lý do mà các chuyên gia thời nay gọi các nhà lập quốc là “thiên tài” khi họ đã sáng lập ra Cử Tri Đoàn.
THỂ THỨC CỦA CỬ TRI ĐOÀN
Quốc hội Hoa Kỳ được chia làm hai viện: thượng viện (Senate) gồm có 100 Thượng Nghị Sĩ (TNS) và Hạ Viện (House of Representatives) gồm có 435 Hạ Nghị Sĩ (HNS). Lúc đầu, Hạ Viện chỉ có 59 ghế. Số ghế này được tăng theo sự phát triển dân số. Đến khi số ghế lên đến 435 thì Hạ Viện quyết định không tăng nữa. Mỗi tiểu bang có 2 TNS và con số này không đổi. Số HNS của mỗi bang được phân bố dựa trên dân số. Tiểu bang California có 53 ghế HNS vì dân số đông, trong khi bang Alaska chỉ có 1 ghế HNS vì dân số ít. 435 ghế trong Hạ viện được chia cho các bang theo chỉ số ưu tiên dựa trên một công thức toán học thuần tuý chứ không dựa trên một ưu tiên chính trị nào cả.
Đầu tiên, tất cả 50 tiểu bang đều được phân bố một ghế. 435 – 50 = 385. Chiếc ghế số 51 sẽ trở thành chiếc ghế thứ hai cho California vì lúc này chỉ số ưu tiên của bang này cao nhất nhờ vào số dân đông nhất. Sau đó, chỉ số ưu tiên của bang này được giảm xuống theo công thức toán học vừa nêu ở trên. Nếu chỉ số ưu tiên vẫn còn cao nhất thì chiếc ghế thứ 52 sẽ trở thành chiếc ghế thứ ba cho California. Cứ như vậy cho đến khi chỉ số ưu tiên của California thấp hơn Texas (Texas có số dân cao thứ nhì) thì Texas sẽ nhận được chiếc thứ hai của mình. Tiếp tục như vậy cho đến khi không còn ghế nào để phân bố.
Dân số của các tiểu bang được thống kê 10 năm một lần. Vì số ghế giới hạn ở mức tối đa là 435, nên bang nào giảm dân số thì phải mất ghế và bang nào tăng dân số sẽ được tăng ghế.
Mỗi tiểu bang sẽ nhận được số phiếu đại cử tri bằng với tổng số ghế của mình trong cả hai viện. Ví dụ: California có 53 ghế trong Hạ Viện cộng với 2 ghế trong Thượng Viện nên sẽ có 55 phiếu đại cử tri.
Cộng số ghế trong Thượng Viện (100) và Hạ Viện (435) thì sẽ được 535 ghế. Do đó, 50 tiểu bang sẽ có tổng cộng 535 phiếu đại cử tri. Trường hợp cá biệt duy nhất là Washington D.C. Vì không phải là một tiểu bang của Hoa Kỳ nên Washington D.C. không có TNS và HNS mà chỉ có một đại diện trong quốc hội. Tuy vậy, địa hạt này vẫn được phân bố 3 phiếu đại cử tri.
Như vậy, toàn nước Mỹ hiện nay có 538 phiếu đại cử tri (100 + 435 + 3 = 538). Một cử tri nếu muốn đắc cử Tổng Thống phải đạt được tối thiểu là 270 phiếu đại cử tri. Trong trường hợp không ai đạt được số 270 phiếu, hoặc các ứng cử viên có số phiếu bằng nhau thì Hạ Viện sẽ bầu Tổng Thống và Thượng Viện sẽ bầu Phó Tổng Thống.
VAI TRÒ CỦA ĐẠI CỬ TRI
Bầu cử Tổng Thống Mỹ được tiến hành qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu được tiến hành theo thể thức phổ thông đầu phiếu. Giai đoạn hai được bầu bởi các Đại Cử Tri. Lấy Minnesota làm ví dụ. Minnesota có 10 phiếu đại cử tri. Cử tri của đảng nào thắng ở Minnesota bằng phiếu phổ thông thì đảng đó sẽ cử 10 đại diện của đảng mình vào đoàn Đại Cử Tri. Đoàn này, trước khi đến Washington D.C. để bầu Tổng Thống, sẽ phải hứa là sẽ trung thành với cử tri của đảng mình.
Điều đặc biệt là họ không bắt buộc phải làm theo những gì đã hứa. Luật pháp cũng không bắt buộc họ phải trung thành. Họ chỉ phản bội lời hứa khi có lý do chính đáng. Thường thì họ phản bội lời hứa vì lương tâm của họ cho rằng ứng cử viên của đảng mình không xứng đáng làm Tổng Thống. Lý do thứ hai, vì họ là người sinh hoạt trong đảng nên họ có thể nhìn thấy những sai trái trong nội bộ mà những người đi bầu bình thường không thấy được. Trong trường hợp này, họ có thể bầu cho bất kỳ ai mà họ muốn hoặc bỏ phiếu trắng. Những người này được gọi là Faithless Electors (Đại Cử Tri Vô Tín).
Trong lịch sử bầu cử Hoa Kỳ, những người Vô Tín này không nhiều và sự vô tín của họ chưa bao giờ làm đảo ngược kết quả bầu cử. Trong các cuộc bầu cử năm 1948, 1956, 1960, 1968, 1972, 1976, và 1988 mỗi cuộc đều chỉ có một người Vô Tín. Năm 2000, có một người bỏ phiếu trắng. Nhưng cuộc bầu cử mới nhất vào năm 2016 có đến 5 người phản Hillary Clinton và 2 người phản Donald Trump. Như vậy, Hillary Clinton là người đang giữ kỷ lục bị phản nhiều nhất trong một cuộc bầu cử.
HIỆU QUẢ CỦA CỬ TRI ĐOÀN
Mục đích chính của thể thức Cử Tri Đoàn là để ngăn chặn sự nguy hiểm của sự thống trị của số đông, lấy thịt đè người, lấy mạnh hiếp yếu. Kể từ khi được chính thức đưa vào sử dụng trong các cuộc bầu cử vào năm 1788, thể thức Cử Tri Đoàn với cách phân bố số phiếu đại cử tri bằng với số đại diện trong Quốc Hội đã luôn chứng tỏ sự hữu hiệu của nó trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các tiểu bang.
Một ví dụ điển hình là việc tranh chấp quyền lợi nguồn nước từ sông Colorado giữa California và sáu tiểu bang khác (Wyoming, New Mexico, Colorado, Utah, Nevada, Arizona). Miền Nam California vốn dĩ rất khô hạn vì thiếu nước trầm trọng và hầu như không bao giờ có mưa. Từ xưa đến nay, nguồn nước chính của Nam California là từ sông Colorado. Để bảo đảm lượng nước đủ dùng từ sông này, California đã nhiều lần sử dụng lợi thế 53 ghế tại Hạ Viện so với 28 ghế của sáu bang kia để đưa ra những dự luật có lợi cho mình qua việc hạn chế việc sử dụng nước của các bang ở thượng nguồn. Tuy 53 ghế là lợi thế rất lớn, nhưng nó cũng chỉ chiếm 12% của các ghế tại Hạ Viện. Các bang không liên quan sẽ không muốn đứng về phía ai mà chỉ bầu cho những gì họ cho là hợp lý và có lợi cho nước Mỹ. Kết quả là hầu hết các dự luật đó đều thất bại. Nếu có dự luật nào được thông qua tại Hạ Viện thì khi đưa lên Thượng Viện cũng sẽ không được thông qua. Ở Thượng Viện mỗi bang chỉ có hai ghế đại diện nên sáu bang kia (12 đại diện) sẽ lật ngược thế cờ. Đến năm 1950s, California mới bắt đầu dẫn nước từ miền Bắc xuống miền Nam, nhưng để phát triển kinh tế, nông nghiệp, và để đáp ứng cho sự tăng dân số tại miền Nam, California không thể chỉ dựa vào nguồn nước SWP từ phía Bắc mà cần luôn cả nguồn nước từ sông Colorado. Biết không thể đảm bảo nguồn nước bằng việc lấy thịt đè người, California phải xuống nước và hứa cho sáu bang kia nhiều ưu đãi về kinh tế như bán cam rẻ hơn, bán các sản phẩm nông nghiệp khác với giá rẻ hơn. Như vậy, tuy có mâu thuẫn quyền lợi, nhưng các bang có liên quan vẫn phải đối xử ôn hoà và tôn trọng lẫn nhau.
Kể từ năm 1788, có 5 ứng cử viên thắng cuộc bầu phiếu phổ thông nhưng lại không thắng được chức Tổng Thống mà 4 người trong số đó là của đảng Dân Chủ. Mỗi lần thất bại, đảng Dân Chủ đều đổ thừa cho thể thức Cử Tri Đoàn và bảo rằng “Electoral doesn’t work” vì nó không phản ánh ý kiến của số đông. Họ còn cho rằng Electoral College được lập ra để làm lợi cho đảng Cộng Hoà. Thật ra, họ đã sai khi nói như vậy.
Cử Tri Đoàn được đưa vào sử dụng (năm 1788) trước khi có đảng Dân Chủ (năm 1828) và đảng Cộng Hoà (năm 1854), cho nên không thể nói là nó được lập ra để thiên vị và bênh vực bất kỳ đảng nào. Cử Tri Đoàn được lập ra để phá vỡ sự độc quyền thống trị lâu dài của số đông, cho số ít có khả năng cạnh tranh và cơ hội để thắng số đông và nó đã làm được những gì mà các nhà lập quốc muốn nó làm. Phiếu phổ thông đại diện cho sức mạnh của số đông và năm lần thất bại của số đông đã chứng minh điều đó. Như nhiều chuyên gia chính trị đã nói: “Electoral College works perfectly. It works as designed. That’s how it’s supposed to work.”
Để thấy thêm hiệu quả tuyệt vời của thể thức Cử Tri Đoàn trong việc phá vỡ sự độc quyền thống trị của số đông hay của một đảng nào đó, chúng ta không cần phải nhìn đâu xa mà hãy nhìn lại những cuộc bầu cử gần đây nhất. Năm 2000, Al Gore của đảng Dân Chủ thắng phiếu phổ thông nhưng Goerge Bush lại làm tổng thống vì thắng phiếu đại cử tri. Năm 2016, Hillary Clinton của đảng Dân Chủ cũng thắng phiếu phổ thông nhưng Donald Trump lại làm tổng thống vì thắng phiếu đại cử tri. Nếu không có thể thức Cử Tri Đoàn thì Al Gore và Hillary Clinton của đảng Dân Chủ đã làm tổng thống. Như vậy có nghĩa là suốt 28 năm (từ 1993 đến 2021), nước Mỹ liên tục bị độc quyền thống trị bởi bốn Tổng Thống thuộc đảng Dân Chủ. Với sự độc quyền cai trị trong suốt 28 năm đó, đảng Dân Chủ hoàn toàn có đủ sức và đủ thời gian để đưa nước Mỹ theo bất kỳ mô hình xã hội nào họ muốn. Thể thức Cư Tri Đoàn đã phá vỡ sự độc quyền thống trị dài hạn và nguy hiểm này. Ngược lại, 28 năm của bốn đời Tổng Thống Cộng Hoà cũng không phải là một điều tốt cho đảng Dân Chủ. Như vậy ai có thể nói Electoral College doesn’t work?
Ngoài ra, thể thức Cử Tri Đoàn còn làm cho các cuộc bầu cử trở nên vô cùng khó đoán. Trong khi thể thức phổ thông đầu phiếu là một lá bài chỉ có hai mặt sấp ngửa dễ đoán thì thể thức Cử Tri Đoàn như một bộ bài có 50 lá mà lá nào cũng có hai mặt, lá nào cũng quan trọng như nhau và không ai dám chắc lá nào sẽ thuộc về ai. Tính khó đoán này giúp ngăn ngừa âm mưu thao túng cuộc bầu cử, tạo ra rất nhiều tình huống bất ngờ, làm tăng thêm sự náo nức, háo hức, và hồi hộp chờ đợi. Nó biến ngày bầu cử thành ngày hội thật sự của nước Mỹ.
Rất nhiều nước muốn áp dụng mô hình này tại nước họ, nhưng dĩ nhiên là số đông ở nước họ đã không đồng ý và như vậy, sau mỗi cuộc bầu cử, số đông lại tiếp tục thống trị số ít. Đối với số ít, đó là một bản án chung thân. Có ai muốn làm số ít trong một đất nước mà đa số thắng thiểu số không?

Lũ cuốn gỗ trôi đầy trên sông. Hình trục vớt gỗ quý tại cầu sông Bua ở Quảng Ngãi. Ông Nguyễn Viết Chưởng – Chủ tịch UBND xã Sơn Bua thông tin, gỗ trôi bít kín cầu Sông Bua làm hư hỏng 2 nhịp cầu số 5 và số 6, gây mất an toàn.
Cái này có phải do đế cuốc Mỹ nó phá rừng nó để gỗ mấy chục năm nay mới trôi xuống không ta ơi
https://dantri.com.vn/…/lu-cuon-luong-go-khong-lo-bit…
Fb Nguyễn Thị Bích Hậu



TRÁNH CHO LINH HỒN SỐNG TRONG THÂN XÁC TẬT NGUYỀN TỘI LỖI
(Tháng cầu cho các linh hồn)
Tuyết Mai
Trong chúng ta ai có cơ hội thỉnh thoảng ghé thăm người thân thương, họ hàng, hay bạn bè thân quen của chúng ta trong Viện Dưỡng Lão?. Là các cô, dì, chú, bác, cha mẹ, ông bà, hay bạn bè của chúng ta là những bệnh nhân. Là những người đã không còn có sức khỏe như trước đây, không còn có thể tự lo cho mình được. Vâng, họ là thành phần có bệnh từ do những hậu quả của tai biến mạch máu não (stroke), nhồi máu cơ tim (heart attack), bại liệt. Mang bệnh mất trí nhớ (Alzeimer’s), loạn trí nhớ (dementia), bệnh già, v.v….
**
Tất cả những người bệnh nhân này đã không còn có thể tự lo cho mình được từ thuốc men cho đến miếng ăn uống, nhất là vấn đề vệ sinh cá nhân. Nhân tháng cầu cho các linh hồn, chúng tôi muốn mượn những người này để nhắc nhở cho nhau rằng ngay cả người vẫn còn thở, còn sống nhưng tất cả đã không còn có thể làm được gì cho chính họ nữa. Nếu có thể thì rất có giới hạn; xin hết thảy chúng ta cũng nhớ cầu nguyện nhiều cho họ. Nhưng cũng rất may thay trong số các người bệnh nhân đó số ít cũng vẫn còn có bộ óc minh mẫn có thể dâng kinh cầu nguyện hằng ngày cho chính họ, cho gia đình, cho anh chị em sống xa, gần và cho hết thảy Linh Hồn trong Luyện Ngục.
**
Từ Viện Dưỡng Lão ta có thể suy ra Luyện Ngục là Nơi mà không một Linh Hồn nào còn có thể làm được gì cho chính họ, để giúp họ được giải thoát cảnh tù tội do chính họ khi còn sống đã gây ra. Nhất là những linh hồn khi ở dương trần đã làm khổ, làm tội cho biết bao nhiêu người khác. Thứ đến là những linh hồn luôn sống lãnh đạm với Thiên Chúa, thờ ơ với 10 Điều Răn và sống thiếu trách nhiệm với người trong gia đình. Sống ích kỷ và tỏ lộ sự khinh bỉ, ruồng rẫy, xua đuổi những anh chị em khổ nghèo rách rưới sống chung quanh rất cần sự chia sẻ.
**
Vâng, Luyện Ngục là Nơi mà hết thảy chúng ta phải đến sau cuộc đời trần gian này để được thanh luyện, để linh hồn được tẩy sạch mọi vết bợn nhơ của tội lỗi; để linh hồn mới xứng đáng được Mẹ Maria đem về Trời hưởng mọi phước hạnh và vinh quang cùng với ba ngôi Thiên Chúa. Do đó mong sao trong suốt tháng 11 Cầu cho các linh hồn, chúng ta cố gắng tìm nhiều cơ hội để lập công cho chính mình; để có thể làm giảm thời gian bị cầm giữ ở Luyện Ngục sau này và nhanh chóng được về Nhà Cha ta ở trên Trời. Mà cách hữu hiệu nhất không bao giờ dư mà cũng chẳng bao giờ phí thời giờ, đó là siêng năng đọc Kinh Mân Côi như lời Mẹ Maria nhắn nhủ.
**
Chúng ta có thể dùng mọi thời giờ rảnh để dâng kinh như khi ngồi chờ đợi ở bến xe, ở văn phòng bác sĩ . Giờ tập thể dục buổi sáng. Sau giờ làm, về nhà chúng ta cũng có thể hy sinh cắt chút thời giờ mà dâng kinh thay vì lên phone để chat, nói chuyện phone hàng giờ với bạn bè, lên FaceBook coi những chuyện vô bổ, la cà ở quán cà phê hay nhậu nhẹt, v.v….
–*–
Vì thưa nếu bây giờ mà không thực hành e rằng chúng ta không còn có thời giờ để tạo công đức cho chính mình nữa đâu. Vì ai có thể đảm bảo rằng ngày mai chúng ta còn sống trong khi dịch bệnh Covid-19 còn đang hoành hành ở khắp nơi; số người bị nhiễm tăng nhiều hơn và ca chết cũng nhiều hơn 1 năm trước. Mà nếu không còn sống nữa thì linh hồn của chúng ta biết sẽ đi về đâu?. Chẳng lẽ chúng ta không sợ chết?. Không sợ rằng linh hồn của mình sẽ bị mồ côi mãi nơi Luyện Ngục không ai cầu nguyện cho?. Hay cả đời chúng ta toàn sống phạm tội trọng thì không sợ rằng linh hồn của mình sẽ đến thẳng Hỏa Ngục muôn đời hay sao?.
**
Ai cũng biết chuyện dụ ngôn anh nhà phú hộ giàu có và anh nghèo ghẻ chốc là Lazarô. Nên giàu hay nghèo sống ở trên trần gian này, Thiên Chúa Người rất công bằng đã ban cho tất cả chúng ta có cơ hội và thời giờ để chọn sống cách sao cho đẹp lòng Chúa và đẹp lòng người. Tạo công đức cho chính mình khi còn được sống. Mà ai càng giàu có thì cơ hội lập công đức càng nhiều hơn vì có phải Chúa trao cho ai nhiều thì Chúa sẽ đòi lại nhiều. Ai bảo tiền bạc không mua được Nước Trời? Điển hình là có rất nhiều tỷ phú và triệu phú họ đang thi hành và cố công lập nhiều thành quả cho kho tàng của họ ở trên Trời – Nơi không hề bị mối mọt và bị teng sét.
**
Với số tiền cả trăm triệu, cả tỷ bạc thì nhiều người cộng lại có thể nuôi được cả Nước Phi Châu cùng những quốc gia nghèo đói, bệnh tật có đông dân. Xây được bao nhiêu nhà thương và nhà tình thương. Bao nhiêu Nhà Thờ. Xin được biết bao nhiêu Thánh Lễ cầu cho Linh Hồn mồ côi trong Luyện Ngục. Họ còn làm được rất nhiều nhiều điều khác có lợi cho Linh Hồn của chính họ; cho gia đình, người thân thương và cho rất nhiều linh hồn nơi Luyện Ngục nữa.
**
Còn chúng ta thuộc thành phần nghèo khổ thì ai quên được chuyện bà góa nghèo là người mà được Chúa Giêsu khen thưởng vì bà đã bỏ vào hòm tiền tất cả những gì bà có vì lòng mến?. Đời sống ở trần gian này không ai xa lạ với danh từ “lập công” cả. Đi làm việc ai cũng ráng cố gắng để lập công; mục đích là để được tăng lương, tăng chức để có được cuộc sống thoải mái sung túc hơn. Nhưng khổ nỗi trần gian chỉ cho chúng ta cuộc sống rất tạm bợ, chóng qua và chóng tàn.
**
Như chúng ta hằng ngày hết sức chú trọng đến sắc đẹp nhưng rồi sắc đẹp cũng sẽ mau tàn úa, nhăn nheo và chảy xệ theo thời gian “như hoa sớm nở tối tàn” vậy. Còn của cải thì cũng sẽ như câu “Vật đổi sao dời” vì hôm nay nó còn trong tay ta nhưng mai nó sẽ nằm trong tay người khác. Còn chức vụ và quyền hành thì ai cũng biết câu “Lên voi xuống chó” là chuyện rất đời thường. Chỉ có duy nhất linh hồn Thiên Chúa ban cho từng người mới có được sự sống đời đời vì là giống thiêng liêng không hề chết được. Nên có là khôn ngoan hay không nếu chúng ta từ ngay bây giờ biết chuẩn bị cho linh hồn của mình sau khi chết sẽ được đến nơi mình ao ước tới mới là quan trọng cho cả một đời người lúc sống cũng như lúc đã chết. Amen.
Y tá con của Chúa,
Tuyết Mai
3 tháng 11, 2020
NAY NGƯỜI MAI TA MÀ THÔI
(THÁNG CÁC LINH HỒN)
Giả sử một ngày tôi không còn trên đời này nữa, những người yêu tôi và ghét tôi sẽ thay đổi như thế nào?
Giả sử có một ngày, khi tôi chết đi…
Người ghét tôi, họ sẽ nhảy múa…
Người yêu tôi, họ sẽ khóc như mưa…
Ngày thứ 2 qua đi…
Thân xác tôi sẽ được chôn dưới lòng đất…
Người ghét tôi, nhìn thấy mộ tôi, họ chỉ mỉm cười và bước đi…
Người yêu tôi, không dám quay đầu nhìn lại, dù chỉ một lần.
Một năm sau…
Thân xác thịt của tôi đã trở nên mục nát.
Ngôi mộ của tôi, cỏ mọc um tùm trong sương gió.
Người ghét tôi, sau khi ăn uống no say, đôi khi vẫn rất khó chịu khi nhắc đến tên tôi.
Người yêu tôi, trong đêm khuya vắng vẻ, vẫn khóc thầm gọi tên tôi.
Mười năm sau…
Thân xác tôi không còn nữa, chỉ còn lại bộ xương cốt.
Người ghét tôi, không còn nhớ mặt tôi nữa, mà chỉ còn nhớ tên tôi một cách mơ hồ.
Người yêu tôi, đôi khi trầm lắng trong giây lát khi nhớ đến tôi. Cuộc sống khiến cho mọi thứ dần dần trở nên phai nhạt…
Mấy chục năm sau…
Ngôi mộ của tôi, trải qua bao mùa mưa gió, chỉ còn lại một bãi đất hoang vu.
Người ghét tôi… Không còn nhớ tôi nữa.
Người yêu tôi, cũng đã nằm xuống đất.
Đối với thế giới này, tôi đã trở thành hư vô.
Những phấn đấu một đời của tôi, với bao của cải vật chất… Không thể mang đi thậm chí là một cọng cỏ…
Những ham muốn, theo đuổi một đời của tôi, không thể mang đi một chút hư danh.
Kiếp này…
Cho dù là giàu sang hay nghèo hèn, rốt cuộc cũng phải đi đến bước cuối cùng.
Đến khi nhìn lại, mới thấy uổng phí một đời, tôi muốn khóc, nhưng không thể khóc thành tiếng. Tôi hối hận, nhưng tất cả đã quá muộn.
Hãy sống một cách thiết thực, đừng vì ánh mắt của người đời, hay tiêu chuẩn đánh giá của bất kỳ ai.
Yêu, hận, tình, thù chỉ tồn tại khi chúng ta còn sống.
Trăm năm qua đi chỉ trong một nháy mắt. Cuối cùng cũng chỉ còn lại nắm tro tàn..
Đời này,
Bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn.
Cũng có một ngày phải đi đến bước cuối cùng của nó.
“Sống trên Đời Sống, cần có một Tấm Lòng”
Mỗi ngày đều hạnh phúc thì tuyệt rồi.
Trong lòng trân quý những gì đáng trân quý,
Bao nhiêu phồn hoa, Thoáng qua phút chốc,
Trăm năm sau, Chỉ còn lại một nắm cát vàng.
Hỏi thế gian có gì là tồn tại mãi?
Nay người mai ta cũng thế thôi!
Thịnh Mai
From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen
Ngày 03-11
Thánh MARTINÔ PORRES
Tu Sĩ (1579 – 1639)
1579 là niên biểu ghi nhớ ngày sinh ra của Martinô ở Lima, Pêru con của một người mẹ da đen và của một người cha hiệp sĩ và 1639 là niên biểu ghi nhớ ngày qua đời của thánh nhân. Sáu mươi năm giữa hai niên biểu này là khoảng thời gian Martinô tiến tới miền ánh sáng, trong sự khiêm tốn và hiến mình trọn vẹn để phục vụ các bệnh nhân.
Cuộc tình của cha mẹ Ngài không suông sẻ lắm, vì màu da của mẹ Ngài đã đưa đến những hất hủi không những cho bà mẹ mà còn cho cả những đứa con xấu số của bà nữa. Nhưng hoàn cảnh đen tối ấy, Martinô lại coi như nén bạc trao tay để Ngài sinh lời, thành bông hoa khiêm tốn tuyệt vời.
Hồi còn là một thiếu niên, Martinô đã chứng tỏ lòng bác ái đầy khiêm tốn phục vụ của mình. Hôm ấy khi theo chị mang thức ăn cho gia đình, Ngài nghe thấy tiếng rên rỉ của một bà lão người da đỏ. Dừng lại Ngài kinh hãi khi thấy một người lính Tây Ban Nha đang hành hạ lão. Đầy thương cảm, cậu thiếu niên Martinô cúi xuống lão già người da đỏ. Nhưng ông thù ghét cự tuyệt: Thằng nô lệ… mày đen đủi. Bọn da đen tụi mày là kẻ thù của dân da đỏ.
Nhưng người thiếu niên da đen này đã không bỏ cậu đi. Cậu nói chuyện với lão già da đỏ cách dịu dàng đến nỗi lão đã thú nhận là ba ngày rồi không ăn thứ gì vào bụng lại chẳng có con cháu gì cả. Martinô đã khóc và đưa tất cả thực phẩm cả ngày đã mua được cho lão già.
Vào thời đó, chỉ cần học một chút nghề cạo gió, cắt lể như Martinô đã học thì đã được coi là đủ để chữa nhiều loại bệnh, như Martinô đã săn sóc các bệnh nhân. Và các con bệnh có thể là loài người hay loài vật, bởi vì mọi loài đau khổ đều có quyền được người bạn da đen này khiêm tốn tận tình săn sóc. Ngài đã chữa lành một con gà tây gẫy giò. Người ta còn nói rằng: Ngài đã làm cho nhiều con vật sống lại.
Vào tuổi 15, Ngài nhập dòng Daminh như một thày dòng ba. Thày thích làm những việc khiêm tốn đến độ đã được biệt danh là “thày chổi”. Tại nhà dòng Đức bà Mân Côi, Ngài vẫn tiếp tục nghề thuốc của mình với một đức ái nhẫn nại vô bờ, như là một y tá của nhà dòng. Ngài kín múc sức mạnh trong kinh nguyện và khổ hạnh, vừa dấu mình làm việc và lần hạt Mân côi, thức đêm để cầu nguyện rồi ngủ trên cái cáng dùng khiêng xác chết.
Trong dòng Ngài cũng vẫn tiếp tục lấy tình yêu để đáp lại những bất công. Một bệnh nhân giận dữ với Martinô, nhưng Ngài đã êm ái nói với họ: – Anh giận dữ phải lẽ lắm, nhưng cơn giận có thể gia tăng cơn bệnh của anh. Hãy dùng món ăn anh thích này đi và tôi thoa bóp chân cho anh.
Ngài không hề bất nhân, nhưng lại càng lo lắng săn sóc nhiều hơn cho những người tỏ ra độc ác bất công như Ngài.
Martinô đã từ chối không lãnh chức linh mục để có thể tiếp tục làm đày tớ mọi người. Để thưởng lòng trong trắng, đức bác ái và sự khiêm tốn, Thiên Chúa đã ban cho Ngài ơn chữa bệnh, nói tiên tri và làm nhiều phép lạ. Ngài qua đời trong hương thơm thánh thiện năm 1639.
Cuộc điều tra phong thánh cho Ngài đã sớm khởi sự từ năm 1657, nhưng mãi 200 năm sau, năm 1837, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI mới phong Ngài lên hàng chân phước và 100 năm sau nữa, ngày 6 tháng 5 năm 1962, Đức giáo hoàng Gioan XXIII phong Ngài lên bậc hiển thánh. Hương thơm thánh thiện của Ngài quả là không thể tan loãng theo thời gian.

httpv://www.youtube.com/watch?v=DhggXxMpO3s&list=PLYNu2WsZ1JUhQ7J1GGZCKRwWY41IaYbRS&index=1
LÀM QUAN MÀ ĐỂ DÂN GHÉT… LÀ BIẾT THẾ NÀO RỒI!
Báo ngày 1.11.2020 đăng tin một kẻ lạ mặt đã vào tận nhà ông Hoàng Văn Trường, nguyên Bí thư Thành uỷ Nha Trang dùng hung khí cắt cổ ông khiến ông bị thương phải chở đi cấp cứu.
Thằng lạ mặt đó cũng gan thiệt chớ, chắc phải căm hận ông Trường lắm mới dám làm thế.
Chợt nhớ trước đây cũng có tin ông Phạm Thế Dũng, cựu chủ tịch tỉnh Gia Lai cũng bị một người khách lạ úp luôn tô phở vào đầu khi ông Dũng đi ăn phở sáng. Nhà ông cũng nhiều lần bị quăng đầu chó vào sân và lôi đi cái cửa của căn nhà đồ sộ. Ông cũng thường bị dân chửi rủa và ném đá khi đi tập thể dục buổi sáng.
Cả hai ông có điểm giống nhau là ông nào cũng có nhà to như lâu đài và tài sản thì ăn ba đời cũng không hết. Cũng còn có điểm tương đồng nữa là lúc đương chức, hai ông gây nhiều tội ác và nhiều sai phạm. “Khuyết điểm của ông Phạm Thế Dũng là nghiêm trọng, để lại nhiều hậu quả khó khắc phục, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm sút uy tín của tổ chức đảng và cá nhân, do đó Bộ Chính trị, UBKTTW quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với ông Phạm Thế Dũng.” Và thế là ông chấm dứt con đường quan lộ, về hưu sớm. Nhưng nhân dân không quên ông, họ căm ghét ông nên luôn nguyền rủa ông.
Cũng có ông một thời là lãnh đạo cấp cao, một thời hét ra lửa. Đến lúc qua đời, mộ luôn bị trét đầy phân, bôi bẩn, viết những lời căm hận. Cuối cùng phải hốt cốt, di dời.
Làm quan mà để dân ghét, dân thù là biết thế nào rồi. Không biết Đảng bố trí nhân sự thế nào mà lắm quan bị dân căm thù đến thế.
Cũng không biết quan ta làm thế nào mà giàu quá vậy, ông nào cũng dinh thự nguy nga, hoành tráng? Những thứ đó lộ rõ như ban ngày mà sao ban chống tham nhũng của Đảng không nhìn thấy nhỉ?
Người xưa bảo: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” và “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mấy quan này nghe nói cũng đầy bằng cấp mà sao không biết những câu này mà giữ mình nhỉ?
Lòng tham vô độ đã lấn mất lý trí rồi.
3.11.2020
DO DUY NGOC



Dân chủ nước Mỹ nhìn từ Úc châu.
Nguyễn Quang Duy
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, bản Hiến Pháp Hoa Kỳ và các bản Hiến Pháp của 50 tiểu bang đều không nhắc đến từ ngữ dân chủ (democracy), như vậy tam quyền phân lập có bao hàm ý nghĩa của dân chủ hay không ?
Dân chủ định nghĩa theo Hiến Pháp
Muốn hiểu được ý nghĩa của tam quyền phân lập tại Mỹ, chúng ta cần quay lại thời lập quốc, năm 1776 với 13 cựu thuộc địa Anh Quốc liên kết trong một liên bang thân hữu (league of friendship) cùng soạn bản Tuyên Ngôn Độc Lập.
Sau đó đến năm 1781, những nhà lập quốc lại cùng nhau soạn bản Dự Thảo Hiến Pháp, theo đó các chính quyền tiểu bang giữ lại chủ quyền lãnh thổ, chính quyền trung ương lo việc ngoại giao và quân sự, mọi quyết định ở trung ương cần ít nhất 9 tiểu bang đồng ý.
Năm 1783, chính quyền trung ương chính thức ký Hòa ước với Anh Quốc, các nhà lập quốc nhận ra rằng để có thể tồn tại vững vàng chính quyền trung ương cần được quyền in tiền, quyền thu thuế, quyền hòa giải và phân xử tranh chấp giữa các tiểu bang.
Nên vào năm 1787 đại biểu từ 12 tiểu bang đã gặp nhau tại Philadelphia để thảo luận về một bản Hiến Pháp xây dựng một thể chế cộng hòa liên bang.
Vì mỗi tiểu bang có dân số, có điều kiện văn hóa, địa lý, kinh tế, tôn giáo và sắc tộc khác nhau, nên thay vì chọn phổ thông đầu phiếu các nhà lập quốc mới nghĩ đến cách bầu tổng thống theo cử tri đoàn, rồi tổng thống đề cử thẩm phán và thượng viện thảo luận thông qua việc đề cử.
Bằng phương cách dân chủ gián tiếp độc đáo này các tiểu bang có đông dân không thể dùng lá phiếu cử tri để lấn áp quyền lực và quyền lợi của các tiểu bang nhỏ có dân số ít.
Các tiểu bang chịu trách nhiệm về y tế, giáo dục, an ninh trật tự, an sinh xã hội, điều hành các cuộc bầu cử và hầu hết những vấn đề trực tiếp liên quan đến đời sống của người dân.
Trong khi chính quyền liên bang chỉ nắm quyền về ngoại giao, quốc phòng, tiền tệ và quyền hòa giải, phân xử tranh chấp giữa các tiểu bang và giữa liên bang với các tiểu bang.
Bảo thủ chống cấp tiến
Từ đó đến nay vẫn có 2 luồng tư tưởng chính trị:
Tư tưởng bảo thủ cho rằng các chính phủ tiểu bang gần với dân hơn chính phủ liên bang nên phục vụ người dân tốt hơn vì thế cần giữ nguyên mô hình dân chủ gián tiếp như bản Hiến Pháp đã viết ra.
Tư tưởng cấp tiến lại cho rằng thế giới đã thay đổi rất nhiều những điều ghi trong Hiến Pháp cần được mở rộng hay thay thế, chính quyền trung ương cũng cần được mở rộng quyền lực.
Các tiểu bang cũng có hành pháp, lập pháp và tư pháp riêng và nhiều tiểu bang từ thống đốc, dân biểu, nghị sĩ và thẩm phán đều thông qua bầu phiếu trực tiếp.
Đã có một số đề nghị tu chính Hiến Pháp: tổng thống và các thẩm phán liên bang phải thông qua phổ thông đầu phiếu.
Nhưng muốn tu chính cần 2/3 dân biểu ở Hạ Viện đồng ý, rồi cần 2/3 nghị sĩ ở Thượng Viện đồng ý và rồi lại cần 3/4 các tiểu bang đồng thuận.
Cách thức khác là 50 tiểu bang ngồi lại để soạn ra cách thức bầu cử mới nói cách khác một hiến pháp mới.
Trên thực tế việc bất đồng quan điểm, khuynh hướng, niềm tin và nhất là lợi ích giữa các tiểu bang càng ngày càng đa dạng, mở rộng và phức tạp hơn, nên việc tu chính hay một hiến pháp mới sẽ khó có thể xảy ra.
Từ một liên bang thân hữu lỏng lẻo chỉ trong vòng 100 năm, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc số một trên thế giới và giữ vững vị thế này đến nay.
So với Liên Minh Âu Châu, hiện Anh Quốc đã rút ra, các nước còn lại đầy mâu thuẫn về quyền lợi mới thấy được viễn kiến của các nhà lập quốc Hoa Kỳ.
Đảng Dân Chủ Cộng Hòa
Bản Hiến Pháp quy định luật hoạt động chính trị chung cho các đảng chính trị từ liên bang xuống đến tiểu bang và xuống tận địa phương, biết về lịch sử thành lập đảng chính trị sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nền dân chủ tại Mỹ.
Đảng Dân chủ Cộng hòa được thành lập vào năm 1791 nhằm cạnh tranh với đảng Liên bang gồm những nhà quý tộc Anh và những nhà tư sản muốn tạo ra một ngân hàng liên bang và đề cao sức mạnh của chính quyền liên bang.
Đảng Dân chủ Cộng hòa chủ trương chính quyền liên bang phải hoạt động trong vòng Hiến pháp theo đúng nghĩa đã được viết ra để bảo vệ các tiểu bang, nhờ đó đảng này được giới công nhân và nông dân nhiệt tình ủng hộ khiến đảng Liên bang liên tục thất cử và đến năm 1812 ngừng sinh hoạt.
Không còn cạnh tranh chính trị, nội bộ đảng Dân chủ Cộng hòa bắt đầu chia làm 2 cánh: một cánh ủng hộ và một cánh chống lại tình trạng nô lệ.
Một số tiểu bang miền Bắc đã hủy bỏ chế độ nô lệ trước khi Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1776, muốn phát triển về kỹ nghệ, nên giới tư bản và công nhân đã chống lại tình trạng nô lệ và nhiệt tình ủng hộ đảng Cộng Hòa.
Cánh miền Nam đa số là nông dân cần nô lệ phục vụ nông trại, đồng thời muốn mở rộng đất đai về phía Nam và phía Tây nên ủng hộ đảng Dân chủ.
Trong cuộc bầu cử năm 1860 đảng Cộng hòa nhờ tập trung vào đề tài giải phóng nô lệ mà mang lại chiến thắng cho Tổng thống Abraham Lincoln, nhưng đồng thời cũng dẫn đến nội chiến Bắc Nam.
Trong gần 1 thế kỷ, đảng Cộng Hòa được xem là đảng cấp tiến, chính phủ không xen vào chuyện cá nhân hay gia đình, cởi mở di dân, chi tiêu rộng rãi, mở rộng kỹ nghệ, bảo vệ thị trường và xây dựng chính quyền trung ương mạnh.
Đảng Dân Chủ được coi là bảo thủ cho rằng chính phủ trung ương không được phép đưa ra các đạo luật can thiệp vào tôn giáo hay đạo đức, thuế thấp và không được xen vào chuyện của các chính phủ tiểu bang.
Người da đen mặc dầu đã được tham gia bầu cử ở liên bang cũng như ở tiểu bang, nhưng đảng Dân Chủ vẫn thuộc người da trắng và vẫn cấm người da đen tham gia các cuộc bầu cử sơ bộ.
Đảng Dân Chủ đổi chiều…
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930, Tổng thống Franklin Roosevelt (1933-45) thắng cử đã đưa ra Đối Sách Mới (New Deal) và chuyển đảng Dân Chủ thành một đảng với khuynh hướng cấp tiến cải tổ xã hội, chăm lo cho tầng lớp lao động và xây dựng hệ thống an sinh xã hội.
Người da đen bắt đầu được quyền tham gia các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ nên cũng bắt đầu chuyển sang sinh hoạt với đảng Dân Chủ.
Đến thời Tổng thống John Kennedy và Tổng thống Lyndon Johnson thực hiện kế hoạch chống lại nghèo đói bất công và ban hành Đạo Luật về Dân Quyền chống kỳ thị chủng tộc nên đa số cử tri da đen chuyển sang bầu cho đảng Dân Chủ.
Sang đến thời Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống Barack Obama chính sách tân tự do, mở cửa thị trường gây nạn thất nghiệp trong khu vực công nghiệp, ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống của người lao động và nhất là người lao động Mỹ da đen.
Kết quả cuộc thăm dò cử tri vào tháng 7/2016 do hãng Rasmussen thực hiện chỉ 13% cử tri cho rằng cuộc sống của thanh niên người Mỹ da đen đã tốt hơn kể từ cuộc bầu cử của Tổng thống Obama vào tháng 11/2008.
Trong khi đó có tới 41% tin rằng đời sống trở nên tồi tệ hơn và 39% tin rằng cuộc sống của thanh niên da đen không có gì thay đổi.
Sự thất bại của Chính phủ Obama đã giúp Tổng thống Trump thắng cử, người lao động da trắng đã bỏ phiếu cho ông, trong khi cử tri da đen đã không đi bầu.
Đầu tháng 6/2019 hãng Rasmussen thực hiện khảo sát khác cho thấy 33% cử tri cho rằng cuộc sống của những người Mỹ da đen trẻ tuổi đã trở nên tốt hơn kể từ ngày ông Trump thắng cử, 20% cao hơn 8 năm cầm quyền của Tổng thống Obama.
Chừng 36% cử tri cho rằng tình trạng trở nên tồi tệ hơn, và 22% đánh giá cuộc sống của những người trẻ tuổi da đen không có gì thay đổi.
Trong khoảng thời gian tiến hành cuộc khảo sát, tháng 6/2019, nhờ những chính sách kinh tế của Chính phủ Trump con số thất nghiệp đã xuống thật thấp, nhiều người lao động và người Mỹ da đen đã có được công ăn việc làm.
Theo các cuộc khảo sát gần đây nhiều cử tri người Mỹ da đen đã chuyển sang bầu cho đảng Cộng Hòa, có 2 ứng cử viên trẻ người Mỹ da đen hy vọng sẽ thắng cử là ông John James ứng cử thượng viện tiểu bang Michigan và bà Kim Klacik ứng cử Hạ Viện đại diện khu vực số 7 Maryland.
Trong khi đó đảng Dân Chủ vẫn tự tin là cử tri da đen sẽ tiếp tục ủng hộ đảng này, ông Joe Biden vừa rồi tuyên bố người Mỹ da đen không bầu cho đảng Dân Chủ thì họ không phải là người Mỹ da đen.
Chính sách cởi mở di trú của đảng Dân Chủ có từ thời Tổng Thống Lyndon Johnson cũng giúp đảng Dân Chủ có được số cử tri ngày càng tăng từ các di dân, nhất là từ di dân gốc Á châu và Nam Mỹ.
Bầu cử 2020
Ông Trump tiếp tục tranh cử với chủ trương nước Mỹ trên hết được ông ngắn gọn giải thích như sau:
Một người có lo được cho mình, thì mới lo được cho gia đình, mới đóng góp được cho cộng đồng, cho đất nước và cho thế giới, nên trách nhiệm ưu tiên hàng đầu của chính phủ là phải lo cho dân Mỹ có công ăn việc làm.
Nước Mỹ có giàu, có mạnh, có ổn định thì mới có khả năng đóng góp cho thế giới và nếu ông thắng cử ông sẽ tiếp tục chính sách như nhiệm kỳ trước: nước Mỹ trên hết.
Ngược lại các chính sách của ông Biden quay trở lại với thời chính phủ Obama, một mặt tăng thuế, tăng sự can thiệp chính phủ liên bang vào tiểu bang và trở lại chính sách ngoại giao theo khuynh hướng tân tự do toàn cầu hóa.
Cuộc tranh luận bầu cử Tổng thống lần thứ hai ông Biden đã tỏ ra gần gũi hơn với cánh tả cấp tiến dân chủ xã hội, với “Bidencare” một bước tiến tới hệ thống y tế miễn phí cho toàn dân, mức lương tối thiểu $15/1giờ, giáo dục đại học miễn phí và đặc biệt là xóa bỏ kỹ nghệ khai thác dầu khí từ mỏ dầu và các mỏ đá phiến.
Chiến dịch tranh cử
Quỹ tranh cử của ông Biden nhiều hơn của ông Trump vài trăm triệu Mỹ Kim, đa số là các khoản tiền lớn do các nhà tư bản tài phiệt đóng góp, nhờ thế ông Biden có nhiều tiền để quảng cáo tranh cử, tập trung vào những tiêu cực của ông Trump và đề cao ông Biden là người thay thế.
Ông Trump có ít tiền hơn, nhưng đa số đến từ các đóng góp nhỏ, chiến dịch tranh cử cũng khác với hằng ngàn thiện nguyện viên gõ cửa từng nhà đến từng tổ chức vận động cho ông, đồng thời ông bay từ tiểu bang này sang tiểu bang khác liên tục tiếp xúc với hằng chục ngàn người dầm mưa chịu lạnh tiếp đón ông.
Cánh tả dân chủ xã hội không nhận đóng góp từ giới tư bản tài phiệt, mà nhận từ hằng triệu cá nhân đóng những khoản tiền nhỏ, họ cũng gõ cửa từng nhà, đến từng tổ chức, mở các diễn đàn thu hút giới trẻ vào tranh luận và nhất là vận động bầu cử bằng cách công khai minh bạch đường lối chính sách cấp tiến dân chủ xã hội.
Ông Trump đã chuyển đảng Cộng Hòa từ một đảng bảo thủ thành một đảng biết lo cho thành phần lao động, cả người da trắng lẫn người da đen và biết quan tâm đến các cộng đồng sắc tộc như Việt Nam hay người gốc Nam Mỹ.
Ngược lại, phong trào dân chủ xã hội cũng chuyển đảng Dân Chủ từ các chính sách tân tự do xa rời quần chúng Mỹ, để ngày càng gần hơn với chính sách xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nhà nước tập trung quyền lực vào trung ương.
Nước Mỹ tự do dân chủ…
Đã có trên 80 triệu người đi bầu, những đoàn cử tri sắp hàng hằng tiếng đồng hồ để được bầu cho ứng cử viên họ chọn lựa, nếu nghĩ rằng không ai xứng đáng, người Mỹ có quyền tự do không đi bầu và không ai có quyền áp lực họ phải đi bầu.
Trong lần bầu cử trước chỉ 55 % cử tri đi bầu, lần này tỷ lệ theo dự đoán có thể lên đến 70 %, bởi thế khó nói trước ai sẽ là người thắng cử, mà nếu biết trước kết quả ai sẽ thắng thì e rằng dân chủ ở Mỹ vẫn còn rất giới hạn.
Nước Mỹ như một viên kim cương, 50 cạnh là 50 tiểu bang, mỗi cạnh lại được mài dũa với hằng ngàn chính quyền dân chủ địa phương, mỗi cạnh nhỏ lấp lánh phản chiếu giá trị của nó, tạo thành giá trị của nước Mỹ một quốc gia tự do và dân chủ nhất thế giới.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
31/10/2020
From FB Quang Ha