Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ

Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm

Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờDaily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.

Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.

Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim.

Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9,   có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or(Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).Theo Con đường Thiên lý

From: TU-PHUNG

Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải

LONG AN, Việt Nam (NV) – Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan, từ công an đến điều tra viên, luật sư, nhân chứng.

Mới đây, hôm 10 Tháng Sáu, ông Trần Thanh Lâm, 38 tuổi, phó công an xã Nhị Thành, đột ngột tử vong trong lúc đang trực đêm tại trụ sở.

Theo báo Long An, buổi sáng cùng ngày, ông Lâm “đi tuần tra với các công an viên ở xã và có than đau đầu.” “Khi đang nằm võng xem TV thì các dân phòng nhìn thấy ông Lâm gồng người lên mấy lần, giống như bị khó thở. Mọi người lại kiểm tra thì phát hiện ông Lâm bất tỉnh và tím tái nên đưa đi cấp cứu nhưng ông đã tử vong. Suy đoán ban đầu là ông Lâm bị suy tim, suy phổi cấp dẫn đến tử vong đột ngột,” báo Long An tường thuật.

Báo Long An cũng cho hay gia đình ông Lâm thuộc diện khó khăn, hai con ông còn nhỏ. Hiện nhà chức trách đã giảo nghiệm tử thi và “đang điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân cái chết của ông Lâm.”

Liên quan vụ này, bản tin trên báo VOV của Đài Tiếng Nói Việt Nam tiết lộ: “Một đồng nghiệp trực chung ca cho biết, sau khi vào ngủ tầm 15 phút thì mọi người nghe có tiếng động mạnh tại giường ông Lâm nằm. Các đồng nghiệp chạy vào bật đèn thì thấy ông còn thở nhưng rất yếu và lịm đi sau vài phút. Sức khỏe của ông Lâm ngày thường rất tốt, hay đi tuần tra đêm cùng đồng nghiệp và về sinh hoạt bình thường.”

Xã Nhị Thành là nơi đặt bưu điện Cầu Voi, nơi xảy ra vụ án Hồ Duy Hải vào đêm 13 Tháng Giêng, 2008.

Facebooker Hoàng Dũng cho hay trên trang cá nhân rằng ông Trần Thanh Lâm vào ngành công an năm 2007. Ngày 21 Tháng Ba, 2008, ông Lâm thời điểm đó là công an viên, được ghi nhận “phát hiện ra đống than nằm giữa lối đi từ nhà bà Nguyễn Thị Loan, mẹ Hồ Duy Hải, sang nhà người dì của anh Hải.”

Liên quan tình tiết này, một số báo nhà nước dẫn cáo trạng nói anh Hải “khai nhận đống than là do đốt quần áo phi tang sau khi giết hai nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi.”

Cổng vào xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. (Hình: longan.gov.vn)

Hôm 23 Tháng Năm, nhà báo Trương Châu Hữu Danh, phóng viên trang Báo Sạch, tiết lộ trên trang cá nhân rằng ông Nguyễn Thanh Long, nhân chứng cuối cùng nhìn thấy một trong hai nạn nhân ở bưu điện Cầu Voi, người ký bút lục 262, đã qua đời hồi năm ngoái ở tuổi 47.

Trước đó, hồi Tháng Mười Hai, 2019, Luật Sư Trần Hồng Phong, người trợ giúp pháp lý cho anh Hồ Duy Hải tại phiên xử “giám đốc thẩm,” kể trên trang cá nhân về hiện tượng “kỳ lạ” – bốn người tham gia trong vụ án Hồ Duy Hải đều bị đột tử. Đó là Huỳnh Văn Minh (công an viên xã Nhị Thành, đột tử trong lúc đang trực đêm vào năm 2009), Nguyễn Thanh Hải (công an viên chết năm 2010 vì tai nạn giao thông), Phạm Văn Tiến (phó ban chuyên án, trưởng phòng Cảnh Sát Điều Tra, người phát ngôn với báo chí về vụ Hồ Duy Hải, đột tử tại trụ sở cơ quan vào năm 2012) và ông Trần Ngọc Lẫm (kiểm sát viên cao cấp thuộc Viện Kiểm Sát Tối Cao tại Sài Gòn, người giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm xử Hồ Duy Hải, đột tử năm 2013 tại tư gia).

Ngoài ra còn một cái chết khác là Luật Sư Võ Thành Quyết, người từ công an chuyển sang làm luật sư và được chỉ định bào chữa cho anh Hải. Tờ Lao Động hồi Tháng Năm cho biết ông Quyết đã qua đời, “nhưng những gì còn lưu lại cho thấy ông đã không cố ‘cãi’ cho Hồ Duy Hải vô tội.”

Diễn biến mới nhất của vụ Hồ Duy Hải trên báo đảng là hôm 31 Tháng Năm, Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội thông báo đã tiếp nhận đơn cầu cứu mới nhất của bà Nguyễn Thị Loan. (N.H.K) [qd]

NGUOI-VIET.COM

Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải

Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan.

Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt

Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.

Nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang vào tối ngày 12 tháng 6 xác nhận tin vừa nêu với Đài Á Châu Tự Do:

“Người nhà báo, Lê Hữu Minh Tuấn bị triệu tập làm việc rồi bị bắt đưa về Trại giam Chí Hòa. Đã có lệnh bắt.Tuấn là một người ôn hòa, kín tiếng và không phải là một nhà bất đồng chính kiến.”

Theo nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang thì anh Lê Hữu Minh Tuấn, 30 tuổi, thường được gọi là Lê Tuấn, ghi danh tham gia Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam từ năm 2015.

Anh Lê Hữu Minh Tuấn đã tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Lịch sử tại Đại học Đà Nẵng. Hiện anh đang học thêm tại Đại học Luật Hà Nội.

Trong thời gian qua, sau khi chủ tịch Hội Nhà Báo Độc lập Việt Nam Phạm Chí Dũng bị bắt, anh Lê Hữu Minh Tuấn thường xuyên bị cơ quan an ninh mời, triệu tập làm việc.

Chủ tịch Hội Nhà báo Độc Lập Phạm Chí Dũng bị bắt vào ngày 21 tháng 11 năm ngoái và vào ngày 23 tháng 5 vừa qua, phó chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Nguyễn Tường Thụy cũng bị bắt đưa từ Hà Nội vào giam tại Chí Hòa.

RFA.ORG

Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt

Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.

Thứ chính trị bỉ ổi

Hoang Le Thanh
Thứ chính trị bỉ ổi

Nhà báo Hoa Kim Ngo

Một kẻ nghiện người da đen và bị bắt vì tiêu tiền giả. Cứ cho là cảnh sát cố tình đè cổ đến chết vì kỳ thị màu da, để sau đó làm phẫn nộ người dân dẫn đến biểu tình đòi không kỳ thị người da màu.

Nhưng những kẻ lợi dụng cái chết này làm chính trị tôn y lên làm anh hùng thì là một thứ chính trị bỉ ổi.

Cũng giống những kẻ lợi dụng để đánh bóng tên tuổi khi đi biểu tình, những kẻ cướp phá được những kẻ bệnh vực đánh đồng là tự do biểu thị ý kiến.

Tởm nhất là chính những kẻ thổi phồng, lợi dụng và đánh đồng những người tử tế với những kẻ cơ hội. Đó chính là bọn đạo đức giả và vô lương. Chính quyền vào tay bọn này thì những giá trị đích thực đạo đức và quyền con người bị bọn này làm cho đảo lộn.

Sương Quỳnh

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2935849699975145&id=100006504312070

Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, sitting

VNTB – Đã không biết sao lại bắt dân chúng chờ cả trăm năm?

Minh Phuong Nguyen and 3 others shared a link.

Mỹ Thuận (VNTB) – “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao lâu, có mấy chặng đường cần tiếp tục làm rõ” là tựa bài viết trên tờ Thanh Niên điện tử, số phát hành ngày 10-6-2020. Bài báo có đoạn tường thuật: “Có lần nào Tổng bí thư …

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ Li Wenliang

Từ Thức to TT GROUP
Bác sĩ Li là người đầu tiên đã đưa ra ánh sáng virus ở Vũ Hán. Chết vì virus, ông trở thành anh hùng của cà một dân tộc
Image may contain: one or more people
Hai Nguyen Dinh

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ Li Wenliang

Bức thơ cuối cùng của bác sỹ Li Wenliang được dịch sang tiếng Việt, mời các bạn cùng đọc:

Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi vẫn còn có cha và mẹ
Và các con thơ
Người vợ đang mang thai sắp sinh,
Và nhiều bệnh nhân trong phòng khám.
Mặc dù sự trung thực không được tưởng thưởng,
Mặc dù con đường đã đến ngõ cụt,
Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục.
Ai bắt tôi chọn đất nước này, và gia đình này,
Biết bao nhiêu đau khổ,
Khi trận chiến này kết thúc,
Tôi sẽ nhìn lên trời mà lệ rơi như mưa.

Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi chỉ là một bác sĩ,
Tôi không thể đứng nhìn những vi-rút này
Làm tổn thương đồng nghiệp của tôi
Và rất nhiều người vô tội,
Mặc dù họ sắp chết,
Nhưng luôn luôn nhìn vào mắt tôi,
Với niềm hy vọng được sống.

Ai có thể nhận ra rằng mình sắp chết?
Linh hồn tôi ở trên thiên đàng,
Nhìn xuống chiếc giường trắng,
Với cơ thể của tôi nằm trên đó,
Và khuôn mặt quen thuộc.
Cha mẹ tôi ở đâu?
Và người vợ yêu dấu của tôi nữa,
Người mà tôi đã từng có một thời ráo riết theo đuổi.

Có một ánh sáng ở trên trời!
Và ở cuối sự sáng đó là thiên đường mà mọi người thường nói đến.
Nhưng tôi không muốn đến đó.
Tôi muốn trở về quê hương của tôi ở Vũ Hán.
Tôi có ngôi nhà mới mua ở đó,
Mà tôi vẫn đang phải trả tiền vay mỗi tháng.
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Khi đứa con duy nhất của cha mẹ tôi không còn
Thật là buồn biết bao?
Và người vợ yêu dấu không có chồng bên cạnh,
Làm thế nào để đối mặt với những thăng trầm trong tương lai

Tôi đã ra đi rồi.
Tôi thấy họ lấy cơ thể của tôi,
Đặt nó vào một cái túi,
Ở đó có nhiều đồng bào.
Cũng ra đi giống như tôi,
Bị đẩy vào lửa trong lò thiêu
Lúc bình minh.

Xin tạm biệt những người tôi yêu mến.
Xin chia tay Vũ Hán, quê hương tôi.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Có ai đó sẽ một lần nhớ đến,
Có người đã cố gắng cho họ biết sự thật càng sớm càng tốt
Cố gắng cho bạn biết sự thật càng sớm càng tốt.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Người ta học được đứng thẳng,
Không còn để những người tử tế,
Phải chịu đau khổ vô tận

Tôi đã đánh trận tốt lành,
Tôi đã xong sự chạy,
Tôi đã giữ được đức tin.

Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho tôi.” (II Ti-mô-thê 4:7-8a)
(b/s Lý với người vợ trẻ).

Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Accueil – Histoire de comprendre – Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien

Le Dr Li Wen Liang, “le héros qui a dit la vérité”, était chrétien
Eric MartinPar Eric

“Partout en Chine, les gens parlent du Dr Li Wen Liang. C’est le médecin qui a découvert le nouveau coronavirus et au petit matin du 7 février à 2 h 58, il a été promu à la gloire et est parti vers notre Père céleste.

En décembre de l’année dernière, il a été arrêté pour avoir dénoncé des rumeurs sur une mystérieuse pneumonie comme un virus. Ce matin, nous avons découvert qu’il était en fait un frère en Christ. Nos cœurs sont profondément émus par son choix sacrificiel de faire connaître le virus malgré les risques auxquels il est confronté, en particulier pour sa réputation et sa propre santé.

Il a continué à soigner les patients jusqu’à ce qu’il soit lui-même infecté. Quel héritage laisser derrière lui ce que signifie être comme Jésus pour ceux qui souffrent en temps de crise.

Il a choisi d’être un exemple d’Emmanuel, «Dieu avec nous» pour les habitants de Wuhan.
Pouvez-vous imaginer la joie qu’il a dû ressentir en entrant dans l’éternité et en entendant les mots: “Bien joué, mon bon et fidèle serviteur”?

Alors aujourd’hui, veuillez prier pour sa famille, en particulier sa femme qui est également infectée et enceinte de 8 mois de leur deuxième enfant. Que Dieu les guérisse surnaturellement et leur donne grâce, paix, force et réconfort pendant cette période.

Le Dr Li Wen Liang a écrit un poème chinois profondément touchant sur la façon dont sa famille lui manquerait, son bien-aimé Wuhan Il a cité 2 Tim 4: 7-8 J’ai combattu le bon combat, j’ai achevé la course, j’ai gardé la foi. Désormais la couronne de justice m’est réservée ; le Seigneur, le juste juge, me le donnera dans ce jour-là, et non seulement à moi, mais encore à tous ceux qui auront aimé son avènement.”

LHCÂ tăng tốc chống tin thất thiệt: Trung Quốc bị chính thức nêu tên

Thuc Tran and 2 others shared a link.

Ủy Ban Châu Âu vào hôm qua 10/062020 đã loan báo một loạt biện pháp nhằm chống lại các hành vi loan tin thất thiệt chung quanh đại dịch Covid-19 ngày càng nhiều, xuất phát từ n…

Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’

Ngoc Luc

Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’

*
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian (Anh Quốc) rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông trong gần bốn tháng qua.

Ông Khảm, 70 tuổi, là công dân Úc gốc Việt, thành viên đảng Việt Tân, đang thi hành án 12 năm tù tại Việt Nam với tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” mà ông phủ nhận.

Ông Khảm và những người bạn thuộc “Hội Anh Em Dân Chủ” tại Việt Nam, bị y án sơ thẩm qua một phiên tòa xử “án bỏ túi” tại Sài Gòn hồi đầu Tháng Ba năm nay. Luật sư và gia đình ông Khảm cho biết rằng tình trạng bệnh tật của ông khiến bản án 12 năm tù “giống như bản án tử.”

Em gái ông, người sống ở Việt Nam, cho biết đã đi thăm ông trong tù lần gần nhất là vào Tháng Hai, gửi tiền và các loại thuốc trị bệnh cao huyết áp và mức cholesterol, bệnh tăng nhãn áp và sỏi thận, theo The Guardian.

Thời điểm đó, gia đình được thông báo rằng ông Khảm không còn ở trại giam B34 của Bộ Công An CSVN tại Sài Gòn nhưng không cho biết nơi ông được chuyển đến. Vài tuần sau, gia đình ông được báo tin rằng ông ấy đã bị chuyển đến một nhà tù “cách Sài Gòn hơn ba giờ chạy xe” nhưng vẫn chưa được liên lạc với ông.

Các chuyến thăm lãnh sự của sứ quán Úc Châu dự trù diễn ra từ Tháng Hai đến Tháng Năm đều bị hủy bỏ vì lo ngại về sự lây lan của COVID-19. Giấy phép cho một chuyến thăm vào Tháng Sáu được ghi nhận “đang chờ phê duyệt.”

Anh Dennis Châu, được tờ báo dẫn lời: “Bố tôi bây giờ đã già yếu mà không được giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tôi lo lắng sức khỏe và tinh thần ông bị suy sụp. Bây giờ, trước mắt bố tôi là một hành trình dài cho đến ngày được ra tù mà không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính phủ Úc, có vẻ như họ đã quên mất ông rồi.”

 

NGUOI-VIET.COM
Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông

Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí

Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí

Ngày 4/4/2020 (giờ Hoa Kỳ), báo Washington Post đưa tin cháu ngoại của dòng họ Kennedy, Maeve Kennedy Townsend McKean, 40 tuổi, và con trai, Gideon Joseph Kennedy McKean, 8 tuổi, bị chết đuối trong một vụ chìm ca nô tại vịnh Chesapeake, tiểu bang Maryland.

Maeve Kennedy Townsend McKean là cháu ngoại của Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy (1925-1968), em trai Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, John Fitzgerald  Kennedy (1917-1963). Sự nghiệp chính trị của cả hai anh em đều chấm dứt bởi những cuộc ám sát năm 1963 và 1968.

Trở lại với vụ chết đuối của Maeve Kennedy Townsend McKean và con trai Gideon, tờ báo cho biết nguyên nhân cái chết thương tâm chỉ vì một quả bóng cậu con trai bị rơi xuống nước. Hai mẹ con xuống ca nô để vớt bóng và sau đó bị chìm xuống dòng sông South River.

Theo lời David McKean, chồng của Maeve, kể lại lúc đó khoảng 4 giờ chiều, bọn trẻ đang đá banh và trái banh rơi xuống nước nên cả hai mẹ con xuống ca nô để nhặt banh. Lực lượng Tuần duyên cho biết gió tại khu vực xảy ra vụ chìm ca nô có tốc độ 30 dặm một giờ và sóng cao khoảng từ 1 đến 2 mét.

Gia đình Maeve Kennedy Townsend McKean, chồng David McKean và các con, trong đó cậu con trai Gideon Joseph Kennedy McKean

Một lần nữa, tai nạn chết người đã xảy đến cho gia tộc Kennedy. Có người còn gọi đó là “lời nguyền của dòng họ”. Câu hỏi được đặt ra là liệu các tai ương chỉ một mình gia tộc Kennedy gánh chịu, đặc biệt là hai vụ ám sát cướp lấy mạng sống của một Tổng thống và một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.

Người ta tự hỏi đó là định mệnh nghiệt ngã như một lời nguyền cho dòng họ hay chỉ đơn giản là những âm mưu có phối hợp chống lại gia tộc danh giá và quyền thế này. Chúng ta lần lượt điểm qua những tai ương bất hạnh đã xảy đến cho dòng họ Kennedy.

1941: Rosemary Kennedy (1918-2005), con thứ ba và là con gái đầu của Joseph P. Kennedy phải trải qua giải phẫu thuỳ não để chữa trị bệnh thiểu năng trí tuệ (mental retardation). Kết quả của cuộc giải phẫu là một thảm hoạ, và Rosemary phải sống trong một dưỡng đường cho đến khi qua đời năm 2005.

1944: Joseph P. Kennedy, Jr. (1915-1944), con đầu của Joseph P. Kennedy đã hi sinh trong một phi vụ vượt qua eo biển Manche trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

1948: Kathleen Kennedy (1920-1948), con thứ tư và là con gái thứ hai của Joseph P. Kennedy chết trong một tai nạn máy bay tại Pháp.

1956: Vợ của Tổng thống Kennedy, Jacqueline Bouvier Kennedy, sinh một bé gái đặt tên là Arabella, nhưng bị chết non. 

1961: Joseph P. Kennedy (1888-1969), người cha già của gia tộc Kennedy, bị đột qụy khiến mọi cử động của cơ thể trở nên cực kỳ khó khăn cho đến ngày chết.

1963: Patrick Bouvier Kennedy, con trai thứ hai của John F. Kennedy và Jacqueline Kennedy, sinh non tám tuần lễ và chết chỉ vài ngày sau khi ra đời.

Ngày 22/11/1963: Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, tiểu bang Texas, dù các cuộc điều tra chính thức qui cho Lee Harvey Oswald là thủ phạm, cho đến nay vẫn còn nhiều nghi vấn về kết luận này.

Tổng thống John Fitzgerald  Kennedy (1917-1963)

Ngày 6/6/1968: Robert F. Kennedy (1925-1968), em trai của John và anh trai của Ted (Edward Kennedy), bị ám sát tại Los Angeles sau khi giành thắng lợi trong kỳ bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ tại California, trong khuôn khổ chiến dịch tranh cử Tổng thống của ông. Thủ phạm được cho là Sirhan Sirhan, song vẫn còn tồn tại nhiều nghi vấn xoay quanh vụ ám sát.

Thượng nghị sĩ Robert Fitzgerald Kennedy (1925-1968)

1969: Trong khi lái chiếc xe của Ted Kennedy (sinh năm 1932, con trai út của Joseph P. Kennedy) rơi khỏi cầu trên đường về nhà, người phụ nữ ngồi trong xe với Ted, Mary Jo Kopechne, trước đó là phụ tá cho Robert Kennedy, chết trong tai nạn này.

1973: Edward Kennedy, Jr. (con trai của Edward Kennedy) mất chân phải vì bệnh ung thư xương.

1973: Joseph P. Kennedy II, con trai của Robert và Ethel, gây tai nạn khi lái xe tại Cape Cod khiến một người ngồi trong xe, Pam Kelley, bị bại liệt hoàn toàn.

1983: Robert F. Kennedy, Jr. bị bắt giữ tại tiểu bang South Dakota vì tội tàng trữ heroin.

1984: David A. Kennedy, một con trai khác của Robert, chết vì dùng Demerol và Cocaine quá liều ở một khách sạn tại Palm Beach, tiểu bang Florida.

1986: Patrick J. Kennedy, con trai của Thượng nghị sĩ Ted Kennedy, bắt đầu điều trị cai nghiện cocaine.

1991: William Kennedy Smith, con trai của Jean Kennedy (sinh 1932, con thứ tám và là con gái út của Joseph P. Kennedy) bị cáo buộc cưỡng bức một phụ nữ tại Palm Beach, Florida, song Smith được xử trắng án.

1997: Michael Kennedy, con trai của Robert, chết trong một tai nạn trượt tuyết tại Aspen, tiểu bang Colorado.

1999: John F. Kennedy, Jr., cùng với vợ Carolyn Bessette Kennedy, và chị vợ Lauren Bessette, tử nạn khi chiếc máy bay riêng do Kennedy điều khiển rơi xuống biển trong một chiều đầy sương mù trên chuyến bay từ New York đến đảo Martha’s Vinyard.

2002: Michael Skakel, cháu của Ethel Skakel Kennedy, bị buộc tội giết Martha Moxley, một cô gái trẻ sống gần nhà.

2011: Kara Kennedy Allen chết vì bệnh tim trong khi tập thể dục tại một câu lạc bộ ở Washington, D.C. Chín năm trước cô mắc bệnh ung thư phổi, nhưng đã chữa khỏi.

2012: Mary Richardson Kennedy (vợ của Robert F. Kennedy) treo cổ tự sát tại nhà riêng ở Bedford, Westchester, New York.

Và cái chết của cô cháu gái Tổng thống Kennedy mới xảy ra đã một lần nữa khiến ta không khỏi rùng mình vì những biến cố trong dòng họ “danh gia, thế phiệt” Kennedy.

Gia tộc Kennedy, năm 1931, tại Gia trang Kennedy, Hyannis Port, Massachusetts, (John F. Kennedy, thứ hai bên trái và Robert F. Kennedy bên phải)

Ta thường có câu “Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí” là vậy!

Nguyễn Ngọc Chính

From:Tu Phung

Thủ tướng Úc: Canberra không để Trung Quốc “bắt chẹt”

Căng thẳng gia tăng giữa Úc và đối tác thương mại quan trọng nhất là Trung Quốc. Ngày 11/06/2020 thủ tướng Úc Scott Morrison tuyên bố: Canberra không sợ Bắc Kinh dùng đòn kinh tế trả đũa Úc vì đã đòi điều tra về nguồn gốc virus corona.

Trả lời một đài phát thanh Úc, thủ tướng Scott Morrison nhấn mạnh: Canberra muốn duy trì mối quan hệ thương mại quan trọng với Bắc Kinh nhưng chính quyền Úc sẽ “không bao giờ run sợ trước những đòn uy hiếp”, hay “đánh đổi những giá trị của m

See More

Căng thẳng gia tăng giữa Úc và đối tác thương mại quan trọng nhất là Trung Quốc. Ngày 11/06/2020 thủ tướng Úc Scott Morrison tuyên bố: Canberra không sợ Bắc Kinh dùng đòn kinh tế trả đũa Úc vì đã…

Bài học “láng giềng”

Bài học “láng giềng”

04:07 | Posted by bxvn

Trần Trung Đạo

Các nhà lãnh đạo quốc gia phân tích tương lai của một quốc gia dựa trên các điều kiện kinh tế chính trị quân sự đang diễn ra. Tuy nhiên, như lịch sử đã chứng minh, khi quyết định, phần lớn các lãnh đạo đều nhìn về quá khứ. Lý do, quá khứ đã được chứng nghiệm giúp cho họ yên tâm và xem đó như là nguồn bảo đảm cho quyết định của mình.

Lịch sử nhân loại để lại những bài học trong quá khứ không thể bỏ qua. Ba Lan là bài học xương máu nhất. Các diễn biến chính trị, quân sự đang diễn ra tại Á Châu cho thấy Tập Cận Bình “yêu” láng giềng Việt Nam cũng giống như Hitler từng “yêu” láng giềng Ba Lan.

Trong diễn văn đọc trước Quốc hội Đức ngày 21 tháng Năm, 1935, Hitler ca ngợi tình láng giềng giữa Đức và Ba Lan: “Chúng tôi công nhận, với sự hiểu biết và tình hữu nghị thắm thiết của những người Quốc Xã dành cho Ba Lan, quê hương của một dân tộc ý thức quốc gia. Quốc Xã Đức, và đặc biệt chính phủ Đức hiện nay, không có mong muốn nào hơn là sống trong điều kiện hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước láng giềng”.

Nội dung tương tự, Tập Cận Bình ca ngợi tình láng giềng giữa Trung Cộng và Việt Nam khi phát biểu trước cái gọi là “Quốc hội Việt Nam” ngày 6 tháng 11, 2015: “Cổ nhân có câu “ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”… Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh”.

Ngay cả trong lúc nói những câu ân cần dành cho láng giềng Ba Lan, Hitler đã có ý định xóa bỏ quốc gia này trong bản đồ thế giới.

Lúc 4:45 phút sáng Thứ Sáu ngày 1 tháng 9, 1939, Hitler tung một đạo quân lên đến 1,5 triệu người thuộc nhiều binh chủng và áp dụng chiến thuật tấn công chớp nhoáng để tấn công Ba Lan từ cả hai hướng Bắc và Nam. Chỉ riêng lục quân đã lên đến 54 sư đoàn. Quân đội Ba Lan cũng lên đến một triệu nhưng chống cự chưa được bốn tuần lễ. Thủ đô Warsaw đầu hàng ngày 27 tháng 9, 1939. Hơn năm triệu, trong tổng số ba mươi mốt triệu dân Ba Lan bị giết trong Thế Chiến Thứ Hai.

Tại sao Hitler đánh Ba Lan trước?

 

Các sử gia đưa ra nhiều lý do nhưng nếu chọn một lý do, phần lớn đồng ý lý do hàng đầu là không gian sinh tồn của một Hitler đang ôm mộng đế quốc. Ba Lan, ngoài ra còn giữ vị trí chiến lược như một vùng độn (buffer state) ở phía Đông, và để tấn công Liên Xô, Đức phải tấn công Ba Lan trước.

Theo sử gia Tadeusz Piotrowski, tại Obersalzberg ngày 22 tháng 8, tức chỉ một tuần lễ trước khi tấn công Ba Lan, Hitler chỉ thị cho các tư lịnh mặt trận: “Mục đích của chiến tranh là tiêu diệt khả năng vật chất của kẻ thù. Đó là lý do tôi đã chuẩn bị, hiện nay mới chỉ từ phía Đông, các đơn vị SS với các mệnh lệnh giết không thương xót hay khoan dung tất cả đàn ông, đàn bà, và trẻ em con cháu dòng dõi Ba Lan hay nói tiếng Ba Lan. Với cách duy nhất này chúng ta mới có thể có được một không gian sinh tồn mà chúng ta cần”.

Ba Lan là quốc gia duy nhất Hitler không cần lập một chế độ bù nhìn, thay vào đó bị cai trị trực tiếp và vô cùng hà khắc dưới bàn tay của Hans Frank, một luật sư riêng của Hitler được cử sang cai trị Ba Lan. Tội phạm chiến tranh này bị treo cổ tại Nuremberg ngày 16 tháng 10, 1946. Hitler còn chủ trương đồng hóa dân tộc Ba Lan trong đó có cả việc thay đổi họ tên, ngôn ngữ, lễ nghi nhà thờ và gần như mọi phương tiện thông tin.

Tại sao Ba Lan đầu hàng chỉ trong vòng bốn tuần lễ?

Các sử gia đưa ra nhiều lý do, nhưng nếu phải chọn một, có lẽ nên chọn lý do Ba Lan không chuẩn bị chiến tranh về mọi mặt ở một mức độ như Đức Quốc Xã.

Vũ khí quá lạc hậu, trông cậy các đồng minh ở xa, quân đội trên danh nghĩa có cả triệu quân nhưng động viên chỉ mỗi một ngày trước khi các chiến xa Đức vượt biên giới dù Hilter đã nuốt sống Tiệp từ tháng Giêng, 1939.

Không cần phải phân tích dài dòng, chỉ thay Việt Nam vào Ba Lan trong bài viết sẽ thấy hiểm họa Trung Cộng đang đè nặng trên đầu dân tộc Việt.

Những kẻ độc tài thời đại nào cũng giống nhau vì đều là những con người có lòng tham quyền lực không đáy. Dưới mắt họ không có con người mà chỉ có đất đai và của cải.

Nếu Hilter chỉ muốn dừng lại ở Áo và Tiệp, có lẽ bản đồ thế giới ngày nay đã khác.

Tương tự, Trung Cộng sau 40 năm bán sức lao động của bảy trăm triệu người Trung Hoa để tạo một lượng thặng dư tài sản khổng lồ để khắp nơi trên thế giới nhưng không dừng lại. Tập Cận Bình nuôi mộng bá chủ thế giới và sẽ xua đàn kiến đỏ Tàu Cộng tàn phá Việt Nam trong một ngày nào đó.

Những gì xảy ra ở Ba Lan sẽ xảy ra ở Việt Nam với một mức độ thảm khốc hơn nhiều trong tương lai.

Vậy câu hỏi đặt ra là phải làm gì?

Về mặt lý luận, người viết đã phân tích trong bài “Để thắng được Trung Cộng”, xin tóm tắt dưới đây:

  1. Việt Nam phải có dân chủ. Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến.
  2. Vượt qua mọi bất đồng để tạo thế đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài.
  3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Giống hệt vị trí của Ba Lan trước Thế chiến thứ Hai, Việt Nam hiện còn đang giữ vị trí chiến lược nhưng vì CSVN bám theo chân Tàu Cộng nên không chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia được. Mọi chính sách đối ngoại của CSN đều phải được Bắc Kinh chấp thuận và không được tự tiện đi ra ngoài chính sách đối ngoại toàn cầu của Trung Cộng.
  4. Ba Lan có liên minh quân sự với Anh và Pháp nhưng gần như không có sự hợp tác chiến lược cụ thể nào. Ngay cả sau khi tuyên chiến với Đức, các lãnh đạo Anh và Pháp vẫn còn tin vào một giải pháp chính trị hơn là một đương đầu trực tiếp bằng quân sự. Do dự là cha đẻ của mọi thất bại. Liên minh giữa Ba Lan với Anh, Pháp là những liên minh không đáng tin cậy và quốc gia nào có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy.

Bốn điểm nêu trên, chọn lựa dân chủ là quan trọng nhất.

Tổng thống Harry Truman đã không mạnh dạn gởi hàng không mẫu hạm USS Franklin D. Roosevelt và hạm đội tháp tùng hùng hậu vào Địa Trung Hải để bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ trong xung đột Eo Biển Thổ năm 1946 và nhất là không ủng hộ Thổ vào NATO nếu Thổ không cam kết một nền dân chủ.

Yêu nước ngày nay đồng nghĩa với yêu dân chủ và mọi người Việt dù ở đâu hãy nỗ lực cho mục đích tối cần thiết và quan trọng này.

T.T.Đ.

Nguồn: FB Chính luận Trần Trung Đạo