Số thi hài chờ hỏa thiêu dồn ứ, Los Angeles cho tạm thời xả giới hạn

Số thi hài chờ hỏa thiêu dồn ứ, Los Angeles cho tạm thời xả giới hạn

Jan 18, 2021 

LOS ANGELES, California (NV) – Los Angeles County đang phải “chiến đấu” chống tình trạng lây lan dịch bệnh COVID-19 trầm trọng, khiến nhiều người thiệt mạng, nên cơ quan kiểm soát phẩm chất khí trời nơi này đã tạm thời miễn giới hạn hỏa thiêu các thi hài, để giúp giải quyết tình trạng ứ đọng hiện nay.

Theo bản tin CNN, cơ quan South Coast Air Quality Management District (SCAQMD) hôm Chủ Nhật, 18 Tháng Giêng, đưa ra thông cáo nói rằng giấy phép hoạt động của các nhà hỏa thiêu thường giới hạn số thi hài họ có thể hỏa thiêu hàng tháng, tùy thuộc vào ảnh hưởng đối với phẩm chất khí trời trong khu vực.

Vệ Binh Quốc Gia California trợ giúp đưa các thi thể bệnh nhân COVID-19 vào nơi trữ tạm thời. (Hình: LA County Dept. of Medical Examiner-Coroner via AP)

Tuy nhiên, sau khi có yêu cầu từ cả cơ quan giảo nghiệm tử thi và y tế quận hạt Los Angeles, SCAQMD đưa lệnh khẩn cấp, theo đó tạm thời ngưng thi hành các giới hạn về số cuộc thiêu xác có thể thực hiện, miễn là các nơi này phải gửi email thông báo trước và đáp ứng một số điều kiện.

 Đây là biện pháp mới nhất được đưa ra trong hoàn cảnh có cuộc khủng hoảng COVID-19 vô cùng trầm trọng ở Los Angeles County. Nơi đây vừa vượt qua mức một triệu người bị nhiễm virus, các bệnh viện báo động hết chỗ đón nhận bệnh nhân, và giới hữu trách phải kiếm thêm các xe đông lạnh để tạm thời chứa thi hài các nạn nhân dịch COVID-19.

Hồi đầu tháng này, Los Angeles County nói rằng trung bình cứ tám phút là có một người chết vì virus tại đây.

Cơ quan SCAQMD nói trong bản thông cáo rằng: “Mức độ người chết hiện nay đang hơn gấp đôi mức trung bình của những năm không có dịch, khiến các bệnh viện, nhà quàn cùng nhà thiêu xác bị vượt quá khả năng và không thể giải quyết tình trạng ứ đọng.”

SCAQMD cũng nói đang sắp có một đợt gia tăng mới về số người thiệt mạng do COVID-19, một phần là do các cuộc tụ tập trong thời gian lễ đầu năm mới. (V.Giang) [kn]

Người lấy laptop của Pelosi ở Capitol định bán cho tình báo Nga

Người lấy laptop của Pelosi ở Capitol định bán cho tình báo Nga

Jan 18, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Một cô gái ở tiểu bang Pennsylvania, bị cáo buộc là tham gia cuộc bạo loạn ở tòa nhà Quốc Hội (Capitol) Mỹ, nói với một bạn tình cũ rằng định bán máy laptop lấy từ văn phòng của Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi cho tình báo Nga, theo hồ sơ truy tố nộp tại tòa, được tiết lộ hôm Thứ Hai, 18 Tháng Giêng.

Bản tin của NBC News nói rằng cô Riley June Williams, 22 tuổi, bị truy tố tội có hành vi gây rối trong khu vực Capitol, với ý định cản trở phiên họp của Quốc Hội, cùng là các tội danh khác, sau khi bị người yêu cũ tố giác với giới chức công lực.

Riley June Williams. (Hình: FBI)

Người tố giác này, được nhân viên FBI Jonathan Lund gọi là W1 (nhân chứng 1) trong hồ sơ truy tố, gọi cho FBI và nói rằng cô ta “dự tính gửi máy điện toán cho một người bạn ở Nga, và sau đó người này dự trù sẽ bán cho SVR, cơ quan tình báo quốc ngoại của Nga.”  

Cũng theo hồ sơ truy tố, W1 với FBI rằng đã được cho xem hình ảnh video do các người bạn khác thu, cho thấy cô Williams lấy cắp máy điện toán, hay hard drive, từ văn phòng của bà Pelosi.

FBI cho biết nhân chứng W1 nói việc chuyển giao máy điện toán sang Nga bất thành vì lý do nào đó và “Williams hiện vẫn còn giữ máy hay cũng có thể đã phá hủy.”

Nhân viên FBI Lund nói rằng tố giác lấy cắp và chuyển giao máy điện toán cho Nga hiện vẫn còn được điều tra. Cô Williams chưa bị truy tố về tội danh này.

FBI cho hay họ nói chuyện với bà mẹ của cô Williams hôm Thứ Bảy và bà khai rằng “nhận ra con gái bên trong tòa nhà Quốc Hội và cô ta bỗng dưng ủng hộ hành động chính trị của Tổng Thống Trump, cùng là chăm chú tham gia các trang nhắn tin của thành phần cực hữu.”

Cô Williams, 22 tuổi, sống với mẹ ở thành phố Harrisburg, tiểu bang Pennsylvania, theo báo The Philadelphia Inquirer. Cô này nay bỏ trốn, đổi số điện thoại, xóa hết các trang mạng xã hội của mình.

Phó chánh văn phòng của bà Pelosi là Drew Hammill, xác nhận trong bản tweet rằng laptop của bà Pelosi đã bị đánh cắp trong phòng họp hôm 6 Tháng Giêng, nhưng máy chỉ “được dùng trong các cuộc thuyết trình.” (V.Giang) [kn]

Người mẹ vẽ vết bớt lớn lên mặt để giống với con trai của mình

 

Enzo Cestari có mẹ là chị Carolina Giraldelli (26 tuổi) sống tại Cáceres, Brazil. Cậu bé sinh ra vào tháng 5/2017 theo phương pháp sinh mổ sau khi bác sĩ phát hiện ra Enzo đang bị dây rốn quấn cổ 2 vòng. Nhưng đó vẫn chưa phải là điều khiến chị Carolina bất ngờ và lo sợ nhất. Ngay khi bác sĩ đưa con cho chị xem mặt, chị đã giật mình khi thấy diện mạo của con.

Một vết bớt màu xám đen chiếm diện tích khá lớn trên gương mặt của Enzo, che phủ gần hết trán và kéo xuống một bên mũi. Nó khiến Carolina “giật mình và thấy sợ”.

Sau đó, khi Enzo được 5 ngày tuổi, cậu bé phải trải qua cuộc phẫu thuật để kiểm tra vết bớt. Cuối cùng, bác sĩ kết luận Enzo mắc phải bớt sắc tố bẩm sinh lành tính.

Thở phào nhẹ nhõm vì sức khỏe con vẫn bình thường. Chị nói: “Kết quả đến và chúng tôi biết rằng đó chỉ là một vết bớt, không gì khác hơn với một vết sơn trên mặt con”. Cũng từ đây, chị nảy ra một ý định đặc biệt: vẽ lên mặt vết bớt giống con. Tháng trước, chị đã nhờ một người bạn tên Elaine Ricci vẽ lên mặt mình và chị đã để gương mặt ấy đến công ty làm việc.

Lý do của chị là muốn có thể hiểu rõ hơn những định kiến mà con đang phải đối mặt. Chị nói: “Tôi thừa nhận rằng đôi khi thật buồn khi thấy và cảm nhận những ánh mắt dò xét về diện mạo của con trai tôi, vẻ đáng tiếc, khinh miệt, sợ hãi và đôi khi là ghê tởm. Vợ chồng tôi vẫn cư xử bình thường với con và giúp con cảm nhận điều đó”.

Nhìn thấy lớp trang điểm trên mặt mẹ, Enzo đã rất bất ngờ. “Khi tôi về nhà từ nơi trang điểm, phản ứng của Enzo là vui sướng vô cùng, dù cho con không thực sự hiểu. Tôi chắc chắn rằng con yêu việc tôi làm. Chúng tôi đã chụp rất nhiều bức ảnh và ngày hôm đó thật tuyệt vời. Sau khi chụp ảnh xong, tôi đã để lớp trang điểm đó đi làm. Vài người nhìn tôi với ánh mắt khác lạ nhưng tôi vẫn bình tĩnh vì tôi là một người mẹ đầy niềm tự hào nhất trên thế giới. Tôi đã để lớp trang điểm trên mặt cho đến khi đi ngủ vào ngày hôm đó nhưng tôi cảm nhận được rằng nó sẽ ở bên tôi từ thời điểm đó”, chị Carolina kết luận.

Việc làm của chị Carolina đã nhận được sự khen ngợi, ủng hộ từ nhiều người mẹ khác. Tất cả mọi người đều cảm nhận rằng việc làm đó thực sự vô cùng có ý nghĩa với Enzo bé nhỏ, sẽ giúp bé tự tin hơn trong cuộc sống.

S.T.

Image may contain: 1 person, text that says 'NGƯỜI MẸ VE VẾT BỚT LỚN LÊN MẶT ĐỂ GIỐNG VỚI CON TRAI CỦA MÌNH'

Hãy cầu nguyện khẩn thiết cho những ai đang bị nhiễm COVID-19

Hãy tiếp tục sống trong ân sủng của Chúa nhé. Xin bạn hãy cầu nguyện khẩn thiết cho những ai đang bị nhiễm COVID-19. Đa tạ!

Cha Vương

 Thứ 3: 19/01/2021

TIN MỪNG: Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu. (Mt 10:16)

 SUY NIỆM: Yêu sách [đòi hỏi một cách gắt gao, không nhân nhượng, vì tự cho là mình có quyền] với đơn sơ: 

+ BẨM SINH ham danh dự, mong được trọng kính. ÂN SỦNG luôn qui hướng mọi danh dự, mọi vinh quang về Chúa. 

+ BẨM SINH sợ xấu hổ, sợ khinh chê.  ÂN SỦNG vui chịu “nhục vì danh Chúa” (Act. 5, 41). 

+ BẨM SINH thích thư nhàn và nuông chiều thể xác.  ÂN SỦNG không ưa nhàn rỗi, ham làm việc luôn. 

+ BẨM SINH ưa tò mò, ham cái đẹp, tránh thô hèn. ÂN SỦNG lại sung sướng vì cái đơn sơ, tầm thường, không ngại cái thô hèn, không thẹn phải mặc áo cũ. 

+ BẨM SINH tìm của thế tục, vui vì tư lợi, buồn vì phải thua thiệt, khó chịu vì một vài lời sỉ nhục.  ÂN SỦNG chú trọng điều bất diệt, không thèm điều mau qua. Không nao núng khi thua thiệt. Nói nặng tránh mất lòng, vì nó đã gửi kho tàng và vui vẻ trên trời, ở đó không gì hư nát được. (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q3:54 t.t.) 

 LẮNG NGHE: CHÚA là Đấng nhân từ chính trực, / Thiên Chúa chúng ta một dạ xót thương, / hằng gìn giữ những ai bé mọn, tôi yếu đuối, Người đã cứu tôi. (Tv 116:5-6)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, ơn cứu độ của Chúa không đến từ những điều vĩ đại, không đến từ quyền lực danh vọng hay tiền bạc nhưng là từ những điều đơn sơ và nhỏ bé. Xin cho con biết từ bỏ những đòi hỏi của sự phức tạp của ích kỷ để con luôn kết hiệp với Chúa với tâm tình hiến dâng và tin tưởng vào suối nguồn ân sủng của Chúa trong mọi hoàn cảnh.

 THỰC HÀNH: Sống ngày hôm nay một cách đơn sơ và giản dị để thấu cảm nỗi khốn khó của người nghèo đói. Thí dụ: đơn giản bữa ăn tối bằng một bát cơm trắng ăn với rau luộc để nghĩ tới và cầu nguyện cho những người thiếu may mắn hơn bạn.

From: anh Dzung Do (Mr Print)

NỤ HÔN CỦA CHÚA GIÊSU: BÀI HỌC TỪ MỘT CẬU BÉ GIÚP LỄ

NỤ HÔN CỦA CHÚA GIÊSU: BÀI HỌC TỪ MỘT CẬU BÉ GIÚP LỄ

TGPSG / Aleteia — Khi cậu bé lần đầu tiên giúp lễ làm một việc khác thường (đón nhận nụ hôn của Chúa Giêsu), cậu đã giúp cha xứ có thêm hiểu biết mới về tình yêu của Chúa Kitô.

Khi Linh mục José Rodrigo López Cepeda thụ phong linh mục được 6 tháng, Đức Giám mục đã chỉ định ngài đến phục vụ tại giáo xứ Đền Thánh Orosia, Tây Ban Nha, thay cho một linh mục đã làm cha xứ ở đó gần 30 năm.

Ban đầu, điều đó không hề dễ dàng đối với vị linh mục trẻ, vì dân chúng đã quen với cách làm việc lâu năm của cha xứ cũ.  Linh mục José nói rằng “mặc dù nhiệm vụ khó khăn, nhưng nó đã đạt kết quả tốt, và nó sẽ không thành công như bây giờ nếu không có sự giúp đỡ của một cậu bé tên là Gabriel.”  Linh mục José đã chia sẻ câu chuyện trên Facebook vào đầu năm nay và nó rất đáng đọc.

Cậu bé Gabriel

 Tuần thứ hai sau khi cha José về giáo xứ, một cặp vợ chồng trẻ đã đến nói chuyện với ngài cùng với cậu con trai Gabriel tám tuổi của họ – cậu bé đã gặp một số thử thách mà cha José miêu tả là “đặc biệt về mọi mặt.”

Cha mẹ của Gabriel đã xin cha xứ mới cho con trai mình được giúp lễ.  Lúc đầu, vị linh mục hơi do dự, không phải vì cậu bé có điều chi kém cỏi, mà chỉ vì ngài đang gặp nhiều khó khăn khi điều khiển giáo xứ.  Tuy nhiên, cậu bé có một “vũ khí bí mật” để chiếm được trái tim của vị linh mục.  Khi cha José hỏi cậu bé có muốn trở thành người giúp lễ không, thay vì trả lời bằng lời nói, cậu bé đã ôm chặt lấy thắt lưng vị linh mục (cao vừa mức cậu bé có thể với tới).  Làm sao vị linh mục này có thể từ chối cho được?

Thánh lễ đầu tiên của Gabriel trong tư cách là người giúp lễ

Cha José bảo cậu bé đến dự Thánh lễ sớm 15 phút vào Chủ nhật tuần sau để có thể kịp giờ giúp lễ lần đầu tiên.

Gabriel đến đúng giờ cùng với toàn bộ gia đình – những người đang mong chờ được nhìn thấy cậu giúp lễ.  Cậu mặc chiếc áo dài màu đỏ và áo choàng trắng có viền ren do bà ngoại làm.  Gia đình của cậu bé đã đã làm cho cộng đoàn dự lễ tăng số người lên cách đáng kể!  Cha José đã mô tả những gì xảy ra sau đó.

“Tôi đã phải chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho Thánh lễ.  Tôi không có ‘ông từ giúp nhà thờ’ hoặc người kéo chuông, vì vậy tôi phải chạy tới chạy lui và phải đến khi Thánh lễ sắp bắt đầu, tôi mới phát hiện ra rằng Gabriel chưa hề biết giúp lễ.  Vì thời gian còn quá ít, tôi nảy ra một ý và nói với cậu bé: “Gabriel, con cứ làm những gì cha làm nhé!  Được không?”

Gabriel là một cậu bé rất ngoan ngoãn và thật thà.  Khi Thánh lễ bắt đầu, vị linh mục hôn lên bàn thờ, cậu bé cũng làm như vậy.  Khi đến bài giảng, cha José nhận thấy rằng mọi người đều đang mỉm cười và chú ý – nhưng không phải chú ý nhìn ngài, mà nhìn chú giúp lễ bé nhỏ kháu khỉnh đang ngoan ngoãn làm hết sức mình để bắt chước mọi cử chỉ của vị linh mục.

Nụ hôn

Sau thánh lễ, cha José kể lại, ngài đã nói với Gabriel những gì cậu nên và không nên làm trong Thánh lễ.  Cha José nói thêm rất rõ rằng, hôn bàn thờ là một cử chỉ dành riêng cho linh mục; Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô, và linh mục, trong khi cử hành Tiệc Thánh, được kết hợp với Ngài một cách đặc biệt.

Cha José viết: “Cậu bé nhìn tôi với đôi mắt to đầy thắc mắc và không hiểu hết những lời tôi đang giải thích cho cậu ấy.”  Mặc dù Gabriel ngoan ngoãn nhưng cậu ấy cũng thẳng thắn và không ngần ngại nói: “Con cũng muốn hôn bàn thờ.”  Những lời giải thích lặp đi lặp lại cũng không giúp thay đổi mong muốn được hôn bàn thờ của cậu bé.  Cuối cùng, cha José nói rằng cha sẽ hôn bàn thờ “cho cả hai người.”  Cậu bé dường như chấp nhận giải pháp này, ít nhất là vào giây phút ấy.

“Bàn thờ đã hôn con”

 Chúa nhật tiếp theo, khi Thánh lễ bắt đầu, vị linh mục hôn lên bàn thờ và quan sát xem cậu bé sẽ làm gì.  Gabriel không hôn bàn thờ với cha José.  Thay vào đó, cậu áp má vào bàn thờ và giữ như thế “với nụ cười thật tươi trên khuôn mặt bé bỏng” cho đến khi cha José bảo cậu dừng lại.

Sau thánh lễ, vị linh mục nhắc lại với cậu bé rằng cậu không được hôn bàn thờ và vị linh mục đang làm điều đó “cho cả hai.”  Câu trả lời của cậu bé khiến vị linh mục ngạc nhiên: “Con không hôn bàn thờ; mà bàn thờ đã hôn con.”  Rất ngạc nhiên, cha José nói: “Gabriel, con đừng đùa giỡn với cha!” Cậu bé không đổi ý: “Thật mà, thưa cha, Chúa đã cho con ngập tràn những nụ hôn.”

Thật đơn giản mà đẹp thay!  Chuyện này không thể không làm cho ta nhớ đến những lời Chúa Giêsu đã nói về trẻ em, được Thánh sử Mátthêu ghi lại:

“Khi ấy, Chúa Giêsu nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, Con cảm tạ Cha, vì Cha đã giấu kín những điều này không cho người khôn ngoan, thông minh biết nhưng lại tiết lộ cho trẻ thơ…” (Mt 11, 25), “Nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời (Mt 18, 3).  Cha José nói rằng những lời của Gabriel khiến ngài tràn ngập “sự ghen tị thánh thiện.”  Ngài cũng muốn có được những nụ hôn ấy!  Vì vậy, sau khi mọi người đã về hết, cha José đóng cửa nhà thờ, đi đến bàn thờ và bắt chước cậu bé giúp lễ, áp má vào bàn thờ và cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hôn con như Ngài đã hôn Gabriel.”

Hãy để mình được Chúa Giêsu yêu thương trước

 Trong bài viết của mình, cha José nói rằng cậu bé Gabriel đã dạy ngài về tầm quan trọng của việc để bản thân mình được Chúa Giêsu yêu thương trước, và giữ mình kết hiệp thân mật với Chúa trong những lúc khó khăn.  Cha José nói: Cậu bé đã nhắc tôi nhớ rằng, việc mục vụ không phải là việc của riêng tôi, và việc chiếm được trái tim tha nhân chỉ có được khi tôi sống thân mật ngọt ngào với Đức Kitô – vị Linh mục duy nhất.

Từ đó, cha José giải thích, mỗi khi hôn bàn thờ, ngài thường đặt má lên đó để “đón nhận nụ hôn của Chúa”, bởi vì “nhờ Gabriel – cậu bé giúp lễ cũng là thầy của tôi, tôi học được rằng trước khi hôn bàn thờ Chúa, tôi cần được Ngài hôn.”

Hiện tại, Gabriel đã 25 tuổi và vẫn sống ở thị trấn đó.  Cha López Cepeda hiện đang thi hành chức vụ linh mục ở Mexico (quê hương của Gabriel) và đã không trở lại Tây Ban Nha kể từ năm 2010.  Trước khi ra đi, ngài đã chào cậu giúp lễ này, khi ấy đã thành chàng thanh niên.  Bất chấp khoảng cách xa xôi, họ vẫn kể lại cho nhau nghe ký ức đẹp đẽ này, trong đó Đức Kitô đã và sẽ luôn là nhân vật chính của câu chuyện.

Cecilia Zinicola & Matthew Green (Aleteia)
Nguyệt Nguyễn chuyển ngữ (TGPSG

From: Langthangchieutim

Nu hon cua Chua Giêsu.jpg

BÍ MẬT CHIẾC ĐỒNG HỒ KHÁCH ĐỂ QUÊN

 

BÍ MẬT CHIẾC ĐỒNG HỒ KHÁCH ĐỂ QUÊN

Trong một con phố ở thành phố Hoschton, có một tiệm giặt là “Diana”. Bà chủ của tiệm giặt là là bà Henry đã 72 tuổi. Chồng bà, ông Henry mới qua đời chưa được bao lâu, bỏ lại mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng.

Việc kinh doanh đã dừng lại từ lâu song bên ngoài, tấm biển hiệu “Diana” vẫn được treo như trước. Tiệm giặt là nằm ở vị trí trung tâm, rất thuận lợi cho việc làm ăn nhưng bà Henry nhất quyết không bán hay cho thuê lại.

Sau một trận bệnh nặng, biết mình không còn sống được bao lâu nữa nên cuối cùng, bà cũng nhờ công ty đấu giá đăng quảng cáo bán đấu giá ngôi nhà của mình.

Chỉ có điều khó hiểu là: Gắn liền với nhà đất để bán đấu giá còn có một chiếc đồng hồ quả quýt rất bình thường, không chỉ vậy, bà cụ ra giá khởi điểm cho chiếc đồng hồ này còn cao hơn nhiều so với giá nhà đất. Trên thông tin quảng cáo còn ghi rõ: Ai biết về lai lịch của chiếc đồng hồ sẽ tặng không nhà đất cho người đó.

Thông tin quảng cáo này quá hấp dẫn nên đã thu hút rất nhiều người muốn tìm kiếm vận may.

Hội trường nơi diễn ra buổi tổng duyệt cho buổi bán đấu giá chật kín người, điện thoại reo không ngớt nhưng không một ai có thể nói đúng lai lịch của chiếc đồng hồ.

Robert bí ẩn

Bà Henry đợi bên cạnh điện thoại, thần sắc đăm chiêu, trầm ngâm. Bà rất mong trước khi mình qua đời có thể hoàn thành được tâm nguyện cuối cùng của mình. Thì ra, chiếc điện thoại đó có ý nghĩa rất lớn đối với bà. Hơn 50 năm trước, bà Henry và ông Henry kết hôn không lâu, họ đã dùng tên mình là “Diana” để mở một tiệm giặt là. Công việc kinh doanh diễn ra rất thuận lợi. Vào một buổi chiều tối, khi bà định đóng cửa tiệm thì một thanh niên bước vào. Vài ngày trước, bà đã chào hỏi người này ngay cửa tiệm.

Hôm đó, người thanh niên ấy đi qua cửa tiệm, nhìn thấy bà, anh ta tỏ ra vô cùng kinh ngạc, dường như có điều gì đó thầm kín. Hôm đó trời có mưa nhỏ, bà Henry đã chủ động mời anh ta vào trong tiệm tránh mưa và mới biết anh ta tên Robert, là một thanh niên thất nghiệp.

Nhìn dáng vẻ nghèo khổ của đối phương, trước khi đi, bà Henry đã cho anh ta 10 đồng và còn đưa cho anh ta một chiếc ô.

Hôm đó Robert đã đến để trả ô và còn để lại một bộ đồ, nhờ bà Henry giặt và nói 3 ngày sau sẽ đến lấy.

Sau khi Robert đi, theo thói quen thông thường, bà kiểm tra xem khách có vô ý để quên đồ gì trong túi hay không.

Đột nhiên, tay bà chạm phải một vật bằng kim loại, lấy ra xem, đó là một chiếc đồng hồ quả quýt. Tiếp tục kiểm tra, bà phát hiện thêm trong túi còn có một bức thư. Tò mò, bà mở chiếc đồng hồ ra xem và lặng người, kinh ngạc: Trên vỏ ngoài của chiếc đồng hồ có kẹp một tấm ảnh thiếu nữ rất xinh đẹp, cô gái đang cười tươi như hoa ấy chính là bà hồi trẻ.

Bà kêu lên thất thanh: “Smith!” và sau đó, nước mắt cứ thế tuôn trào.

Chiếc đồng hồ bí ẩn

Smith là mối tình đầu của bà Henry. Năm 1950, bà và ông Smith đã đính hôn, chiếc đồng hồ kia chính là vật đính ước giữa hai người.

Không lâu sau đó, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Smith là một thượng úy của quân đội Hoàng gia Anh nên phải sang Triều Tiên tham chiến.

Mặc dù không ngày nào bà không cầu nguyện cho Smith nhưng thông tin bất hạnh vẫn được chuyển về quê nhà, Smith đã qua đời trên chiến trường.

Dẫu vậy, bà vẫn không tin vào sự thật tàn khốc này, bởi Smith đã hứa với bà nhất định sẽ trở về và cưới bà. Mang theo hy vọng cuối cùng đó, bà đã cố gắng sống và chịu đựng nỗi đau đến năm 1953 khi chiến tranh kết thúc. Thế nhưng trong đoàn lính từ Triều Tiên trở về, bà tìm mỏi mắt cũng không thấy bóng dáng người yêu đâu.

Sau một trận bệnh nặng, bà nghe theo sự sắp xếp của gia đình, vội vã kết hôn với ông Henry và mở tiệm giặt là “Diana”.

Bà không thể ngờ rằng, Thượng đế vẫn chiếu cố mình, cho mình nhìn thấy vật đính ước giữa mình và Smith năm đó. Sau một hồi kinh ngạc, bà bắt đầu đặt câu hỏi:

“Vậy Robert là ai? Tại sao anh ta lại có chiếc đồng hồ quả quýt này?

Anh ta cố tình đưa nó cho mình hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, bức thư kia có liên quan gì đến chiếc đồng hồ hay không?

Bức thư là của một người có tên Weber gửi cho Robert. Trong thư, người này nói anh ta mắc bệnh nặng, cần một khoản tiền để chữa bệnh, mong Robert niệm tình bạn bè mà cho anh ta vay 1000 bảng anh…”

Bà Henry thận trọng cất giữ chiếc đồng hồ, muốn đợi Robert quay lại lấy để hỏi mọi chuyện. Thế nhưng 3 ngày trôi qua, rồi đến 1 tháng trôi qua, Robert “bốc hơi” không để lại dấu vết.

Người đàn ông tên Weber bí ẩn

Nhớ ra người đàn ông tên Weber đang mắc bệnh nặng cầu cứu Robert giúp đỡ, lòng bà Henry bất giác cảm thấy bất an. Robert một đi không trở lại, là người biết chuyện, cảm thấy nếu khoanh tay ngồi nhìn người đàn ông tên Web gặp nạn mà không giúp, bà cảm thấy tội lỗi.

Nghĩ vậy, bà Henry liền gửi 1000 bảng Anh đến địa chỉ ghi trên thư. Đó là toàn bộ tài sản riêng của bà trước khi kết hôn.

Đồng thời, bà cũng gửi kèm một lá thư, nói rõ mọi chuyện và nhờ Weber nếu thấy Robert, hãy nhắn anh ta đến tiệm giặt là lấy đồ của anh ta về. Thư gửi đi nhưng chẳng nhận được hồi âm. Song bà Henry không vì thế mà bỏ cuộc. Bà quyết định vượt đường xá xa xôi đi tìm Weber nhưng tìm đến địa chỉ trên thư, bà chỉ nghe được những thông tin khiến mình kinh ngạc. Người trong thôn nói Weber là một người mồ côi không bà con thân thích. Anh ta rong ruổi kháp nơi không làm ăn gì, chẳng ai biết hành tung của anh ta, thậm chí họ cũng chưa từng nghe nói anh ta mắc bệnh nặng…

Một cảm giác tê tái xuất hiện trong lòng bà, thậm chí bà đã nghĩ mình đã rơi vào bẫy lừa đảo của một ai đó. Còn may là chiếc đồng hồ vẫn còn nên bà vẫn tìm tấy được một chút hi vọng và nguồn động viên to lớn.

Vài năm trôi qua, người giải mã những thắc mắc trong lòng bà vẫn chưa xuất hiện. Đột nhiên một hôm, bà nhận được một tờ hóa đơn chuyển tiền, số tiền trên hóa đơn là 2000 bảng.

Cũng kể từ đó, mỗi năm bà nhận được một khoản tiền tương tự vào những khoảng thời gian không cố định. Người gửi và địa chỉ liên tục thay đổi khiến bà không thể tìm ra.

Khoản tiền này trở thành tâm bệnh lớn nhất của bà Henry, bà không biết nên xử lý thế nào, đành phải cố duy trì tiệm giặt là với hy vọng một ngày nào đó, người có tên Robert kia từ trên trời rơi xuống, giải mã tất cả những điều còn chưa được làm sáng tỏ.

Cứ như thế, vài chục năm qua đi, xem ra sức khỏe của bản thân ngày một đi xuống, cuối cùng, bà quyết định thông qua cách bán đấu giá đặc biệt này để “người giấu mặt” xuất hiện, để tài sản của bà và chiếc đồng hồ có chỗ để gửi gắm.

Khi hoạt động tổng duyệt cho buổi triển lãm chuẩn bị kết thúc, bất ngờ có một người đàn ông lớn tuổi xuất hiện. Ông ta nhìn kỹ chiếc đồng hồ, nước mắt chảy thành dòng, sống chết đòi gặp bằng được người ủy thác bán chiếc đồng hồ này, đồng thời nói rằng chiếc đồng hồ là của ông ta.

Bà Henry vội vã nhờ người mời người đàn ông lớn tuổi kia đến. Nhìn thấy bà Henry, người đàn ông buột miệng nói:

“Diana? Bà có đúng là Diana trong bức ảnh kẹp trong chiếc đồng hồ?”

Bà Henry lặng người. “Diana” – cái tên này bao nhiêu năm qua không có ai biết đến, hai người đặt câu hỏi cho nhau cùng lúc:

“Sao ông biết tên tôi?”;

“Sao bà lại có được chiếc đồng hồ này?

Người đàn ông lớn tuổi nghẹn ngào giới thiệu mình là Brian, để tìm chiếc đồng hồ này, ông đã dành một nửa thời gian nửa cuộc đời cùng với tài sản tích cóp được, chạy đôn chạy đáo khắp các hãng đấu giá và nhà sưu tập, thật không ngờ chiếc đồng hồ mà ông nhọc công tìm kiếm bao lâu nay đã sớm trở về với chủ của nó.

Người đàn ông lớn tuổi khi đã bình tĩnh trở lại mới chầm chậm kể lại:

“Năm đó, tôi với vai trò là “quân liên hợp quốc” đến chiến trường Triều Tiên. Trong một chiến dịch, tôi trở thành tù binh. Trong trại tù binh, tôi gặp Smith khi đó đang bị trọng thương và viêm phổi.

Smith biết mình không còn sống được lâu nên đã đưa chiếc đồng hồ lại cho tôi, nhờ tôi sau khi về nước thì đưa cho cô gái có tên Diana và gửi lời xin lỗi của anh ấy đến cô ấy vì đã không thể cùng người mình yêu sống đến hết đời.”

Nghe đến đây, bà Henry khóc không thành tiếng. Bao nhiêu năm qua, cuối cùng bà cũng đã biết được thông tin xác thực về Smith. Bà lau nước mắt và hỏi tiếp:

“Về sau thì sao?”

“Về sau, có một tối, hai chiến sĩ quân y đến và khiêng Smith đi, nói là phải điều trị cách ly. Smith rưng rưng nước mắt vẫy tay cáo biệt và không ngừng nhắc tôi nhất định phải đưa món đồ anh ấy gửi cho Diana.

Từ đó về sau, tôi không gặp lại Smith. Sau khi về nước, tôi mang chiếc đồng hồ đi tìm Diana nhưng thật không ngờ, trên tàu hỏa, tôi đã bị kẻ cắp ăn trộm mất.

“Khi đó tôi đã vô cùng rối bời, đó có thể là một sự ủy thác nặng nề của người quá cố! Tôi bắt đầu tìm kiếm chiếc đồng hồ đó trong suốt mấy chục năm qua. Trong những năm quá, chiếc đồng hộ cũng đã trở thành nút thắt không thể tháo gỡ trong lòng tôi. Cho đến hôm nay, khi nhìn thấy nó và gặp được bà, tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng.”

Bà Henry bất giác nhớ ra khoản tiền bà nhận được hàng năm, vội hỏi:

“Vậy số tiền là do ông gửi đến đúng không?”

“Tiền?” Brian lắc đầu: “Những năm qua, để có thể đi khắp nơi tìm kiếm chiếc đồng hồ nên tôi hầu như không có tiền tích lũy. Tôi vẫn muốn hỏi bà, làm sao bà có được chiếc đồng hồ này?”

Robert và Weber

Đúng lúc bà Henry muốn nói cho Brian chuyện ly kỳ liên quan đến chiếc đồng hồ thì điện thoại đổ chuông.

Trong điện thoại là giọng một thanh niên, người đó nói:

“Có một người tên là Robert, chắc chắn bà còn nhớ chứ ạ?”

Nghe đến cái tên Robert, bà Henry căng thẳng đến mức tim muốn nhảy ra ngoài, vội vã nói:

“Tôi nhớ, tất nhiên tôi nhớ! Ông ta vẫn còn sống chứ?”

Người kia trả lời:

“Ông ấy là bố cháu, đã qua đời rồi. Trước khi chết, ông dặn cháu nhất định phải báo đáp bà, nói là bà đã cứu ông ấy.”

“Chắc cậu nhầm rồi, tôi cứu bố cậu ư? Tôi không làm chuyện này!” Cảm giác khó hiểu biểu lộ ra ngoài khuôn mặt bà Henry.

“Không nhầm đâu ạ, chính là bà đã cứu bố cháu. Thực ra hồi còn trẻ bố cháu tên là Weber, làm nhiều việc xấu.

Ông ấy nói với cháu là có một hôm, gặp được bà ở bên ngoài tiệm giặt là, ông ấy đã giật mình vì bà và người con gái trong bức ảnh kẹp trong chiếc đồng hồ quả quýt giống hệt nhau. Chiếc đồng hồ đó là bố cháu ăn trộm và chuẩn bị mang đi bán.

Hôm trời mưa đó, bà mời bố cháu vào tiệm tránh mưa, còn cho 10 dồng và tặng thêm một cái ô. Bố cháu nói, đó là lần đầu tiên ông cảm nhận được sự tôn trọng và ấm áp, nên quyết định tặng chiếc đòng hồ cho bà.

Nhưng khi đó vì quá nghèo đói nên ông đã cố tình nhét một bức ‘thư cầu cứu’ trong túi quần cùng với chiếc đồng hồ, không ngờ bà thực sự tốt bụng, đã chuyển cho người có tên Weber kia 1000 bảng Anh.

Bố cháu nhận được tiền thì vô cùng cảm động, ông thề là sẽ làm lại cuộc đời. Kể từ đó, bố cháu đổi hẳn tên thành Robert, không dùng tên cũ nữa. Đợi cháu tích cóp được 2000 bảng, cháu sẽ gửi cho bà.

Bố cháu ra đi quá đột ngột, khi đó cháu đã thề sau này có một ngày phát đạt, nhất định sẽ đến gặp và thay bố cháu xin lỗi bà.

Hôm nay, đọc báo thấy thông tin quảng cáo, cháu biết người bà đang tìm nhất định là bố cháu. Qua đây, cháu xin bà hãy chấp nhận lời xin lỗi của cháu và cảm ơn bà một lần nữa đã giúp đỡ bố cháu.”

Khoản tiền bí ẩn

Nghe đến đây, bà Henry như có cảm giác giải tỏa được gánh nặng trong lòng. Bao nhiêu điều chất chứa, đèn nặng trong lòng bà mấy chục năm qua cuối cùng cũng có đáp án.

Chỉ có điều bà không ngờ được rằng, một hành động lương thiện nhỏ bé của mình lại có thể thay đổi được cuộc đời của một con người, có thể khiến anh ta dùng cả đời để báo đáp, cảm ơn.

Bà Henry vội vã nói với người trong điện thoại:

“Tiền bố con cháu gửi cho tôi, tôi chưa động đến một đồng, có hơn 100.000 bảng anh, dù thế nào cũng mời cháu đến chỗ ta một chuyến.”

Bên kia điện thoại vọng lại câu trả lời đầy kinh ngạc:

“Bà ơi, không thể nào, mặc dù chúng cháu luôn muốn tích cóp 2000 bảng anh cho bà nhưng vì cuộc sống khó khăn quá, chúng cháu không có nhiều tiền đến vậy chứ chưa nói đến việc gửi cho bà, chắc bà nhầm rồi ạ.”

Nói xong, người thanh niên gác máy.

Dù vậy, bà Henry vẫn vui, chỉ cần có số điện thoại, bà không lo không tìm ra địa chỉ của người đó.

Ngày hôm sau, buổi bán đấu giá diễn ra đúng kế hoạch. Sảnh lớn chật kín người, mọi người đều muốn biết kết quả của buổi bán đấu giá cũng như bí mật của chiếc đồng hồ.

Khi người bán đấu giá đang kể lại lai lịch của chiếc đồng hồ, những tràng pháo tay trong hội trường vang lên giòn giã, ai nấy đều cảm động.

Và đúng lúc người bán đấu giá tuyên bố bất động sản của bà Henry, như lời hứa ban đầu, sẽ được trao tặng cho ông Brian, một sự việc không ai ngờ đến đã xảy ra.

Hãng đấu giá nhận được điện thoại của tòa án, nói là có một ông cụ gọi điện đến nói rằng, chiếc đồng hồ có tranh chấp về quyền sở hữu, yêu cầu hoãn bán đấu giá. Người bên tòa án còn nói, ông cụ đó đang trên đường đến nơi diễn ra sự kiện.

Ông cụ bí ẩn

Hội trường bỗng chốc trở nên ồn ào, bà Henry và Brian vô cùng kinh ngạc, nhìn nhau thắc mắc: Người đó là ai? Tại sao lại có liên quan đến chiếc đồng hồ này?

Thời gian trôi qua chậm như hàng thế kỷ, rồi cuối cùng người đàn ông lớn tuổi bí hiểm ấy cũng xuất hiện. Ông cụ ngồi trên xe lăn tiến vào hội trường.

Bà Henry kinh ngạc, bà biết, chủ nhân thực sự của chiếc đồng hồ đã đến. Bà kêu lên một tiếng “Smith” rồi ngất đi.

Brian vội chạy lại phía người đàn ông ngồi xe lăn: “Trời ơi, Smith, ông vẫn còn sống!”

Người vừa đến đó chính là ông Smith, người đã “chết” hơn 50 năm qua.

Thì ra, trong đêm ở trại tù binh, Smith đã được chuyển đến một bệnh viên dã chiến cách chiến trường rất xa. Bác sĩ trong viện đã phải tiêm cho ông 10 lọ Penicillin mới có thể cứu ông khỏi tay tử thần. Mặc dù giữ được mạng sống nhưng Smith phải cắt bỏ 2 chân.

Ý định muốn chết đi đã nhiều lần xuất hiện trong đầu ông nhưng nhờ niềm khát khao mãnh liệt được thấy người mình yêu, ông đã ngoan cường sống tiếp.

Khi về nước, trên danh sách binh lính trở về, ông dùng tên giả, cấp trên của ông cũng đã bố trí riêng một bệnh viện để chữa trị, tránh gặp người quen. Vì biết rằng chỉ khi mình “chết” đi, người yêu mới có được cuộc sống hạnh phúc.

Smith không lấy vợ, sống cuộc đời độc thân nhưng không lúc nào không nhớ về Diana. Tất cả những thông tin về bà, ông đều tìm hiểu được. Tiền nhà nước bù đắp cho những tổn thất mà ông phải chịu, ông đều dồn lại và gửi cho Diana.

Khi biết ông Henry qua đời, lại thấy quảng cáo bán đấu giá của người yêu cũ, ông cuối cùng đã không thể ngồi yên, vội vã tìm đến.

Dù sao thì cũng đã đến tuổi gần đất xa trời, cho dù gặp được người yêu cũ một lần rồi chết, ông cũng cam tâm.

Bà Henry cảm thấy mình như vừa đang nằm mơ, chỉ có điều giấc mơ ấy quá dài và quá ly kỳ. Vừa tỉnh dậy, người trong mơ đã đổi hình thù dáng vẻ.

Vậy là khoản tiền lớn mà bà nhận được suốt mấy chục năm qua là do người bà yêu thương nhất gửi đến, bà đã cất giữ bao nhiêu năm mà không hề hay biết.

Nước mắt tuôn rơi vì hạnh phúc, bà Henry quyết định để lại toàn bộ nhà đất cho Brian, không phải ai cũng có thể dành hơn nửa đời người cũng như tài sản tích lũy được để thực hiện cho bằng được một lời hứa.

Bà cũng quyết định gửi một phần tiền cho con của Robert, dù sao thì ông ta cũng đã tặng chiếc đồng hồ lại cho bà và cuối cùng nó đã trở về tay của chủ nhân đích thực.

Còn với mình, bà quyết định về sống cạnh ông Smith, sống nốt quãng thời gian còn lại…

Từ fb Tuấn Mai SG

Người Việt tài năng.

Trần Bang
 
Nửa đầu thế kỷ 20 ở cả nước, trước 30/4/1975 ở Miền Nam -VNCH, nên văn hoá Pháp-Việt thời thuộc địa đã đào tạo ra “lớp trí thức vàng” cho Việt Nam.
+2

  Người Việt tài năng.

Đây là đại Tá Không Quân, Tiến sĩ về Khoa học Không gian Nguyễn Xuân Vinh, ông cũng là nhà văn với bút danh Toàn Phong.

Ông là Tư lệnh của Quân chủng Không quân Việt Nam Cộng Hòa (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Ông là người đầu tiên được cấp bằng Tiến sĩ về Khoa học Không gian tại Đại học Colorado Hoa Kỳ.

Ở cái thời mà đại đa số người dân Việt còn đi xe đạp, thì bằng các lý thuyết toán học, những nghiên cứu của GS. Vinh, đã vạch đường bay cho phi thuyền Apollo lên mặt trăng. Và bằng nghiên cứu của ông, NASA thu hồi phi thuyền về trái đất thành công.

Vinh lại còn là một nhà văn có tài thực sự , quyển sách “Đời Phi Công” ông viết dưới bút hiệu Toàn Phong đã được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.

Năm nay ông 91 tuổi và định cư ở Mỹ.

TỪ VÔ THẦN TRỞ LẠI ĐẠO CÔNG GIÁO: JOHN VON NEUMANN, CHA ĐẺ CỦA NGÀNH KHOA HỌC MÁY TÍNH

Image may contain: 1 person, text that says 'John Von Neumann (cha đẻ ngành khoa học máy tính hiện đại) "Có lẽ phải có Chúa hiện hữu. Vì nhiều vấn đề (trong khoa học) sẽ dễ dàng lý giải hơn nếu có Chúa hơn là không có Chúa."'

Bao dung cho người khác để cuộc sống nhẹ nhàng an lạc

 Bao dung cho người khác để cuộc sống nhẹ nhàng an lạc

Sống trên đời này, xin bạn hãy dùng tấm lòng bao dung, sự tha thứ của mình đối với mọi người xung quanh, nhất là kẻ thù của mình. Đôi khi, hãy thầm cảm ơn kẻ thù của bạn vì chính người đó cho biết đâu là giá trị đích thực, cái gì tốt đẹp và cần phải trân trọng nó.

Có 3 kiểu người nên tha thứ nhất trong cuộc đời mỗi người. Làm được như vậy, nhân sinh mới hết khổ đau, sầu não, tâm can mỗi người mới thực sự thanh thản để tạo ra phước nghiệp, lưu đời con cháu.

Thứ nhất, bản thân mỗi người

Chúng ta khó tìm ra người nào sinh ra trong đời lại hoàn hảo, không có khuyết điểm hay sai lầm nào. Cũng chẳng thể tìm được con người chỉ có thành công mà không trải qua thất bại, chỉ vui tươi cả ngày mà không có phút giây sầu muộn. Đời là bể khổ thật đấy, nhưng chính cái suy nghĩ tiêu cực, bi quan khiến nỗi khổ của mỗi người thêm nặng nề chồng chất. Vậy hà cớ chi cứ phải lưu giữ những sai lầm của bản thân mà không học cách khoan dung, tha thứ. Tha thứ cũng là cách đơn giản để buông bỏ mọi phiền muộn, để tâm được thanh tịnh, làm nhiều điều hay lẽ phải, tích phúc tích tức cho bản thân và cả những người xung quanh.

Thứ hai, kẻ thù của mỗi người

Dù bạn tài năng kiệt xuất, hay chỉ an phận thủ thường cũng khó thoát khỏi ánh mắt soi mói, đố kị của người xung quanh, nói nặng hơn chính là kẻ thù. Bởi khi người ta đã sinh lòng đố kị, dù là chuyện nhỏ nhặt cũng tìm mọi cách để soi xét, bới lông tìm vết. Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, bạn không muốn gây hấn, tạo hiềm khích nhưng người ta lại thích gây chuyện thị phi, vùi dập, thậm chí là vu cáo, hãm hại bạn. Lúc này, nếu bản thân bạn hẹp hòi, tìm cách “trả đùa” kẻ thù thì cũng chẳng khác chúng là bao, thậm chí còn phải lao tâm khổ tứ, tâm tưởng bất an, chẳng thể vui sống và cảm nhận những điều tốt đẹp. Vậy nên, sống trên đời này, xin bạn hãy dùng tấm lòng bao dung, sự tha thứ của mình đối với mọi người xung quanh, nhất là kẻ thù của mình. Đôi khi, hãy thầm cảm ơn kẻ thù của bạn vì chính người đó cho biết đâu là giá trị đích thực, cái gì tốt đẹp và cần phải trân trọng nó.

Thứ ba, bạn bè của mỗi người

Bạn thân thiết đôi khi cũng gây ra không ít tổn thương cho nhau, bởi đã là người ai cũng có hai mặt thiện và ác cùng song hành tồn tại. Dù đó là sự tổn thương vô tình hay hữu ý đi nữa, đều khiến tinh thần bạn bị tổn thương. Trong lúc đau khổ, tuyệt vọng, chúng ta lại chẳng thể suy nghĩ thông suốt được, rồi chìm đắm trong những điều bi quan, tiêu cực. Cho nên, bạn cần học cách tha thứ cho bạn bè của mình. Thay vì nghĩ tới tổn thương nhất thời, bạn có thể hoài niệm về mối quan hệ tốt đẹp, những gì họ từng giúp đỡ và mang lại niềm vui cho bạn.

Hoa Tâm

From: TU-PHUNG

Mùa Thu Cuộc Tình-TRUYỆN NGẮN TIỂU TỬ…

TRUYỆN NGẮN TIỂU TỬ…

Mùa Thu Cuộc Tình

Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị : một trái cà tô-mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị ! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị ! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh-kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy.

Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết ” làm ” một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…

Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là ” đi chợ Tàu ” chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương : những khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen !), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ…

Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. “Chắc lá đã rụng đầy”, ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur.

Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa ! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa ! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu…

Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết : “Anh thừơng nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai ? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo-nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh ! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trứơc mắt để hứơng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hứơng về đâu hả em ? Anh bỗng ứa nứơc mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả ?” Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật ngừơi, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…

Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nứơc mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những ngừơi giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình.

Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than : “Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy !”. Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay ngừơi lại để nhìn sâu vào mắt : “Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa ? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao ?”. Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến “cái ngày không còn có nhau” đó.

Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác ! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, Nhà Nước đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng “văn phạm Nhà Nước”.

Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến ! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được nhập cảnh gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt…

Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu ! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa ! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…

Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một ! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ ?

Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ-rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy !

“Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc ! Vậy rồi thôi ! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết !”. Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số ! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ “Thôi ! Đừng nghĩ tới nữa” Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…

Khi đi qua trước phòng gác-dang, có tiếng gọi :

– Ông Georges ! Ông Georges !

Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác-dang bước ra trao cho ông một điện tín, nói :

– Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.

Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa : “Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai”. Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe : “Đúng rồi ! Bả được xuất cảnh rồi !”.

Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng :

– Có sao không ? Có chuyện gì không ? Ông Georges ?

Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh :

– Cám ơn bà ! Cám ơn bà nhiều ! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng ! Quá tốt bụng ! Cám ơn ! Cám ơn !

Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh ! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng “Nhưng mà… Nhưng mà…” trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang. Nữa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói vói xuống :

– Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi ! Cám ơn ! Cám ơn nhiều !

Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hưu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi !

Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi ! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà ! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu “Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai” Đọc là hiểu ngay ! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa ! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong. Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy ! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi ! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng.

Tội nghiệp ! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức ! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là “thằng Năm trúng số độc đắc” hoặc “đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy”. Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương…

Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá !

Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mười năm… lâu lắm chớ ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá ! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không ! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra.

Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp-phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó ! Coi vậy mà cũng nặng ớn ! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À ! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó “sáng” ra mới được.

Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À ! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy ! Mà thiệt ! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì ! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn “nét” lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi ? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt ! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…

…Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói ! Tuy vậy, cũng phải “bỏ bụng” một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô-mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho “lấy có” và ăn cũng cho “lấy có”. Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu “hai đứa gặp nhau” (Tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng !),ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi “hai đứa hẹn hò” (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không ?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó. Chao ôi ! Đẹp quá ! Dễ thương quá ! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…

-oOo-

Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi.

Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột.

Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh:

– Georges ! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nỗi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ !

Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu.

Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật ! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa :

– Ông chờ đón bạn à ?

Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời :

– Không ! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.

Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết ! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…

Lại nghĩ đến bà Năm. Bả điệu” lắm ! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà ! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó dàng trời ! Người ta nói bả có “gout”. Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái “gout” để vào đâu cho nó nổi !

Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu “Gái không con mà nom cũng mòn con mắt”, nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn !

Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục “điệu” như thường ! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có “tác phong cách mạng” thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng “Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi”, bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn : “Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được”…

Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngã văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài ! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France.

Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ : “Ông Năm !” Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi : “Ông Năm…”

Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt : khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi ! Là vợ tôi đây mà !

Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng : “Mai !” Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp ! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng “Ông Năm” như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt !

Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn : “Sao vầy nè ?”. Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết : “Sao vầy nè… Trời ?”. Tiếng “Trời” nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng : nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà “tụi nó” chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy !

Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói :

– Thôi mình về đi em !

Tiếng “em” thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng “em” mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy ! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa : to tròn như mắt đầm, trồng đen lay láy.

Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu :

– Để em xách !

Tiếng “em cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm…

Ông vói tay cầm lấy quai túi :

– Để anh xách cho.

Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải :

– Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.

Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra “tụi nó” đày đọa bả đến nước đó ! Bả tội gì ? Tội gì ? Tội vượt biên ? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa ? Vậy tội gì ? Ông Năm nghiến cái căm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra : “Quân khốn nạn !”

-oOo-

Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói :

– Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không ?

Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo :

– Gì không nổi ? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.

Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy ! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy ! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này ! Tội nghiệp !

Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được !

Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh :

– Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.

Bà Năm dịu dàng :

– Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…

Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng “hai đứa” nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi : bây giờ “hai đứa” vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết : họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.

Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi :

– Cây thánh giá này đây ?

Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu : cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng…

Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá.

Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh :

– Để em soạn đồ ra.

Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy ! Ông thấy thương vợ vô cùng.

Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn : vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ…

Vừa làm bà vừa nói :

– Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.

Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm :

– Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.

Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây ? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.

Có tiếng bà Năm nói :

– Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.

Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tìm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi ! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa !

Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sửa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răng, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi ! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt !

Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp ! Mười năm xa quê hương…

Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo :

– Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp-phê đó.

Bà Năm nghi ngờ :

– Anh mà làm bếp cái nỗi gì ? Mua ở tiệm thì có.

Ông Năm cười sảng khoái :

– Em lầm rồi ! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi ! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe !

Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng.

Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cáng gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc.

Ông vui vẻ :

– Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em ?

Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng :

– Súp ngon chớ ! Anh học nấu ở đâu vậy ?

Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật :

– Hùm… Không nói đâu ! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết !

Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…

Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra để mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước ! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất.

Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa ! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa ! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ : “Mình !”. Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng “mình” nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều.

Tiếng “mình” mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng “mình” gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng “mình” cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng “mình” ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng “mình” gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm xóc lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, run lên như đang cơn sốt, thân xác gầy còm của vợ. Và tai ông còn nghe những tiếng “mình” đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…

Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ?

-oOo-

Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì…

…Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm, lâu nay, bây giờ bà mới cho biết : hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. “Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy ! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa ?”. Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật ! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho “nhân dân”. Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất !

Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mưòi năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…

Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.

Mùa thu đó lá rụng thật nhiều…