Hai ngày sau cuộc gặp gỡ Hawaii, Ngoại trưởng Mỹ gọi Trung Quốc là quốc gia ‘bất hảo’

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã gọi Trung Quốc là quốc gia ‘bất hảo’ trong bài phát biểu công khai đầu tiên kể từ khi gặp một quan chức cấp cao của Bắc Kinh 2 ngày trước ở Hawaii.

BÁO CHÍ HAY GIA NÔ ?

Từ Thức
BÁO CHÍ HAY GIA NÔ ?

Nhân ngày ‘’báo chí cách mạng’’, 2 chuyện gởi ai muốn suy nghĩ đôi chút:
Thứ nhất : Thủ tướng Do Thái bị lôi ra toà, như một phó thường dân, về tội nhận quà cáp và tìm cách mua chuộc để báo chí nói tốt về mình
Thứ hai: Thủ tướng An Nam thưởng tiền cho các báo đã có công ‘’tuyên truyền cho những nỗ lực thành tựu” của nhà nước, ”xây dựng hình ảnh VN là điểm an toàn, hấp dẫn, năng động’’. Và ra chỉ thị cho báo chí phải cố gắng hơn nữa, trong việc ‘’lan toả năng lượng tích cực’’ của chính phủ trong xã hội.

ĐỘC LẬP, GIA NÔ

Một bên, Do Thái, dù trong tình trạng chiến tranh, vẫn coi quyền tự do ngôn luận là nền tảng của chế độ dân chủ, sự độc lập của báo chí là yếu tố quan trọng hàng đầu. Một bên, dù tự nhận là xã hội bình yên, VN coi báo chí là gia nô, con cháu trong nhà, gọi dạ bảo vâng.
Benjamin Netanyahou, cách đây vài tuần, bị giải toà, xin toà án cho miễn khỏi bị chụp hình khi ngồi trên ghế bị cáo, như một tên ăn trộm gà, tai hại cho hình ảnh một Thủ tướng đương nhiệm. Toà án bác bỏ lời yêu cầu: không có chuyện ưu đãi, mọi người đều bình đẳng trước công lý.
Phiên toà hoãn tới cuối tháng Bẩy, theo lời yêu cầu của luật sư.
Một trong 3 hồ sơ khiến thủ tướng ra toà: Netanyahou đã tìm cách mua chuộc Shaul Elovitch, giám đốc một tổ hợp báo chí, với hy vọng có một bài báo nói tốt cho đảng cầm quyền, trong mùa bầu cử, trên Yediot Aharonot, tờ báo lớn nhất Do Thái.
Phiên toà có thể kéo dài …3 năm, vì các hồ sơ rất phức tạp.
Nếu có đủ bằng chứng kết tội, Netanyahou có thể lãnh 7 năm tù .
Toà án Do Thái không nhẹ tay với các chính trị gia cầm quyền, vì nghĩ họ có bổn phận phải nêu gương cho dân: cựu thủ tướng Ehud Olmert đã lãnh 6 năm tù ở về tội tham nhũng, Chủ tịch nước Moshé Katzov 7 năm về tội sách nhiễu tình dục

ĐẠO ĐỨC
Tại VN, thủ tướng ra chỉ thị cho báo chí, lấy ngân quỹ quốc gia thưởng 1 tỷ đồng cho ‘’tất cả các báo ‘’ ( cho mỗi tờ báo ?), đã tích cực trong nghĩa vụ tuyên truyền cho Đảng.
Đó là cà rốt. Phía roi vọt: trưởng ban Tuyên Giáo Võ Văn Thưởng đe doạ một cách tránh trợn, không thèm gỉa vờ giữ đôi chút thể diện cho người làm báo:
‘’Báo chí nào buông lỏng-Thưởng phán- không quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng Đảng, thì các cơ quan đó mắc nhiều sai phạm, cả trong công tác cán bộ, nội dung thông tin và thực thi đạo đức nghề nghiệp’’.
Cúi đầu, còng lưng nhận lệnh của Thưởng, là ‘’thi hành thông tin’’ và ‘thực thi đạo đức nghề nghiệp’’ của nhà báo, được vinh hạnh coi là công tác cán bộ !
( tuthuc-paris-blog. com)

Image may contain: text

Nhớ về nhà báo Hải Đường

Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: 1 person

Mai Pham

Ngày hôm nay tôi nhớ cô nhà báo Hải Đường bị giết xác quăng sông Hồng. Em là con nhà nông, chăm chỉ hiền lành, và cũng rất quyết liệt khi viết bài điều tra chống tiêu cực. Hai năm rồi và kẻ thủ ác vẫn nhởn nhơ bên ngoài. Đám tang em, đứa con trai nhỏ cứ ngơ ngác nhìn lên trời kiếm mẹ. Xin gửi em một đóa hoa hồng đỏ thắm.

VÌ SAO VIỆT NAM TỤT HẬU SO VỚI NHẬT BẢN?

Từ Thức shared a post.

Bài viết cách đây gần một thế kỷ.

Ngày nay VN đã vượt xa Nhật Bản, chính vì cách mạng đã gột rửa đầu óc bằng cấp. Trí thức VN ngày nay đều là các nhà nhiên cứu, chuyện viên, trên mọi phương diện.

No photo description available.

Phan Ngoc Minh is with Le Thai Phong.

VÌ SAO VIỆT NAM TỤT HẬU SO VỚI NHẬT BẢN?

Mời các bạn tham khảo bài viết của cụ Phan Khôi viết năm 1937

Nhiều người An Nam hay nói: Nhật Bản là một nước đồng văn với nước ta, họ cũng theo đạo Khổng mạnh, họ cũng là một nước phụ dung văn hóa của nước Tàu như nước mình, thế mà họ duy tân tự cường được đến như thế, còn nước mình ra thế này, đáng lấy làm tức.

Người nào nói như thế là chưa biết rõ nước Nhật Bản. Phải, họ thuở xưa cũng theo đạo Khổng Mạnh, cũng làm một nước phụ dung văn hóa của Tàu như ta thật, nhưng có sự khác nhau lắm trong cái giống nhau ấy.

Người Nhật theo đạo Khổng Mạnh nhưng không theo cái học khoa cử, không bắt chước làm những kinh nghĩ, thi, phú là thứ văn chương vô dụng. Sĩ phu họ không bị những cái bả vinh hoa của cử nhân, tiến sĩ làm mê muội đi. Đầu óc họ thưở nào đến giờ vẫn trong sạch, cho nên khi thấy có Tây học thì họ nhận biết là đáng theo mà theo ngay.

Lại thêm, người Nhật theo văn hóa Tàu mà những cái dở, những sự mê tín của người Tàu, họ không chịu theo. Tức như người Nhật không tin địa lý, quỷ thần, đốt vàng mã. Nhờ đó trong tư tưởng họ không vướng víu những cái tối tăm dơ bẩn để mất thời gian gột sạch đi rồi mới hấp thu cái hay cái tốt được.

Người Việt Nam ta từ triều Trần, triều Lê về sau chỉ biết tôn chuộng cái học khoa cử, là cái học phù hoa vô dụng, làm cho sĩ phu trở nên đui điếc. Đã vậy lại còn mắc nhiều sự mê tín của Tàu đưa qua cho, như là tin phong thủy, bói toán… cùng vô số thứ dị đoan. Hồi triều Tự Đức, nước Nhật đã hăm hở theo Âu Hóa rồi, nhưng người mình thì trong óc còn chất chứa bao cái sự dơ bẩn tối tăm nên cứ thủ cựu mãi mà không làm như họ được.

Nước ta vì thâm nhiễm cái di độc của văn hóa Trung Hoa, khoa cử và dị đoan mê tín nên sự nhận biết về thế giới văn minh phải chậm hơn Nhật 50 năm. Từ ngày bỏ khoa cử thì dân ta có khai thông lên một chút, nhưng bao nhiêu sự hủ bại vẫn còn choán trong tâm trí thành thử không tiến bộ cho nhanh chóng đước.

Bây giờ, lấy việc nước Nhật làm gương ta nên cải cách tinh thần, trên cõi đất ấy còn lắm phen phá hoại và kiến thiết rồi mới toan làm được việc gì.

Theo Phan Khôi, báo Sông Hương, Huế số 32, ngày 27 tháng 3 năm 1937.

#Ad69

Lời Tạ Ơn Cho Một Khuôn Mặt Mới !

Lời Tạ Ơn Cho Một Khuôn Mặt Mới !

http://vietmania.blogspot.com/2015/12/loi-ta-on-cho-mot-khuon-mat-moi-phung.html  

  • Phùng Annie Kim

David Rodebaugh, tay đua xe máy và Patrick Hardison, người lính cứu hỏa trước khi lâm nạn.

Patrick Hardison hay mọi người thường gọi anh là Pat đang ngán ngẩm vì công việc làm ăn có mòi ế ẩm. Cửa hàng bán vỏ xe hơi trên đường Main của anh không hiểu sao dạo này vắng khách. Nó nằm trong một khu thương mại thuộc thành phố Senatobia. Senatobia gốc là tiếng của người da đỏ “Senatohoba”, dịch sang tiếng Mỹ có nghĩa là “White Sycamore” là thành phố nhỏ thuộc quận Tate về phía Tây Nam tiểu bang Mississippi.

Thành phố Senatobia đang chìm trong cái nắng gắt và cái nóng bức của buổi trưa hè oi ả. Cây cối đứng lặng. Không một ngọn gió. Đường phố và bãi đậu xe thưa thớt bóng người. Người dân sống trong thành phố này đang trốn cái nóng và cái nắng ở trong nhà hay trong những nơi có máy điều hòa không khí. Nhiệt độ mùa này có khi lên đến một trăm mười độ F.. Bỗng tiếng điện thoại reo vang. Pat phóng vội lên xe. Có một đám cháy không xa lắm.

Khi còn học trung học Pat thích ngành cứu hỏa. Nghề buôn bán vỏ xe hơi là nghề tay mặt và là nguồn sinh kế chính của gia đình anh gồm một vợ và năm con từ nhiều năm nay. Anh là một lính cứu hỏa đã nghỉ việc nhưng vì yêu nghề, anh sẵn sàng tự nguyện phục vụ khi Sở Cứu Hỏa cần.Anh cũng là một khuôn mặt quen thuộc trong số hai mươi người trong thành phố tình nguyện làm công việc nguy hiểm và đầy bất trắc này.Anh được thông báo có một căn nhà trong khu “townhouse” đang cháy và anh lúc nào cũng sẵn sàng tham gia việc chữa cháy mà không có một chút thù lao nào.

Khi đội cứu hỏa đến nơi thì ngọn lửa đã bốc cao đến trần nhà phía sau nhà bếp. Người chồng chạy thoát ra ngoài và la lớn rằng bà vợ ông ta còn bị kẹt trong đó. Pat và ba đồng nghiệp đội mũ an toàn, mang mặt nạ chống khói và bộ quần áo bảo hộ đặc biệt của lính cứu hỏa. Từ cửa trước, họ tiến từng bước vào trong, vừa gọi vừa nhìn chung quanh tìm người đàn bà. Bất ngờ trần nhà sụp xuống chỗ Pat đang đứng. Cả một khối lửa chụp vào mặt Pat, bắt vào chất nhựa của chiếc mặt nạ làm chiếc mặt nạ bốc cháy, tan chảy ra cùng lúc với khuôn mặt anh. Trong lúc nguy biến, anh vẫn còn tỉnh táo tìm cách tháo bỏ mặt nạ ra, nín thở và nhắm mắt lại. Hành động này giúp ngăn khói không xông vào cổ và phổi đồng thời bảo vệ được đôi mắt. Tháo bỏ chiếc mặt nạ cũng là lúc sự đau đớn từ khuôn mặt cháy đen, nóng rát và biến dạng lan đến toàn thân làm anh mờ mắt, lảo đảo. Anh quỵ xuống trong tay của những người bạn đồng nghiệp. Họ kéo anh ra khỏi ngôi nhà trong tình trạng sức khỏe thật là tồi tệ.

Đó là ngày năm tháng chín năm hai ngàn lẻ một, “ngày định mệnh”của người lính cứu hỏa hai mươi bảy tuổi vì khuôn mặt của anh từ nay không còn là khuôn mặt của một con người bình thường.

Khuôn mặt Patrick bị tàn phá.

Pat được đưa vào bệnh viện chữa trị suốt sáu mươi ba ngày với nhiều cuộc giải phẫu. Anh đã mất hai tai và môi, cái mũi chỉ còn là miếng xương và mô mí mắt không còn khiến anh không thể nhìn rõ được. Nếu để lâu, anh có thể bị mù. Anh không dám nhìn mình trong gương. Một khuôn mặt đáng sợ, khuôn mặt của loài ma quái đã làm cho ba đứa con nhỏ của anh Alison, Dalton và Averi khóc thét lên khi nhìn thấy bố từ bệnh viện trở về.

Anh tâm sự làm sao trách được các con khi anh nhìn anh trong gương, anh cũng sợ…chính mình. Cái đầu trọc lóc, hai bên trơn tuột không có lỗ tai, đôi mắt nhỏ như hai cái lỗ, không có mí mắt trên, hấp háy và ti hí như mắt của loài kỳ nhông, cái miệng phẳng lì, méo mó, không có môi, cái mũi trơ xương nhọn hoắt. Kinh khủng nhất là những lớp da biến dạng, nhăn nhúm, chảy xệ xếp lớp trên mặt làm mặt anh thật đáng sợ.

Anh kể anh đã tìm cách đùa giỡn với chúng, kể chuyện về những con gấu anh đã đánh nhau với gấu nhưng chúng vẫn bỏ chạy, la hét và khóc ầm ỹ. Những giọt nước mắt của các con, của vợ anh cũng chính là những giọt nước mắt rơi từ hai cái lỗ nhỏ bất hạnh ấy để rồi có những lúc quá đau khổ anh đã muốn “Thà chết đi cho rồi”!. “Sống như thế không phải là đời sống”.

Trong vòng bảy năm sau đó, Pat đã trải qua liên tục bảy mươi ba ca phẫu thuật lớn nhỏ. Các bác sĩ đã dùng mô thịt và da đùi để tái tạo lại khuôn mặt gồm miệng, mũi và mí mắt nhưng cũng không thể làm cho khuôn mặt Pat trở nên bình thường. Một người bạn thân đau lòng trước sự đau đớn hành hạ thể xác Pat, sự mặc cảm trước đám đông và từ chối không muốn gặp ai, cuộc hôn nhân kéo dài được mười năm đến nay đã kết thúc, tâm lý bị các con ghê sợ và tránh xa, lại thêm chứng nghiện thuốc giảm đau và công việc kinh doanh bị trở ngại đã khiến cho người bạn này viết thư cho tiến sĩ Eduardo Rodriguez, người y sĩ tài năng đã thực hiện ca phẫu thuật cấy ghép mặt thành công năm hai ngàn lẻ hai tại Đại học Trung tâm Y Tế Maryland. Pat cầu xin sự giúp đỡ của ông, một cơ hội để đưa anh trở về đời sống bình thường. Nhận được thư, tiến sĩ Rodriguez hứa sẽ cố gắng hỗ trợ trường hợp của Pat và đưa anh vào danh sách chờ đợi vào tháng tám năm hai ngàn lẻ bốn.

Và Bác sĩ gốc Cuba Eduardo Rodriguez, người đạt kỳ tích.

Mười năm chờ đợi ca mổ, mười bốn năm sống trong đau khổ và gần như tuyệt vọng vì nổi bất hạnh, người khác có thể đã bỏ cuộc nhưng đối với Pat, anh đã có những đức tính cần thiết như can đảm, kiên nhẫn, sự tận tụy, trách nhiệm, niềm tin và hy vọng. Bác sĩ Rodriguez đã nhận xét Pat là một bệnh nhân được tuyển chọn hoàn hảo, một “ perfect candidate” thích hợp để thực hiện ca mổ phức tạp này.

Con đường thực hiện ca mổ này đòi hỏi Pat phải trải qua nhiều cuộc thí nghiệm, bảo đảm Pat sẵn sàng về tâm lý và thể chất nhưng vấn đề quan trọng nhất là phải tìm người hiến tặng các bộ phận thích hợp với cơ thể của Pat. Một người gốc Á châu, một phụ nữ, đợi đến người thứ ba là David Rodebaugh sống ở Brooklyn New York mới đúng là người mà bác sĩ hài lòng.

David hai mươi sáu tuổi, làm nghề thợ máy, một tay đua xe gắn máy đã từng thắng nhiều giải thưởng, có máu giang hồ, có cùng loại máu, loại tóc, màu da, cấu trúc xương, cân nặng phù hợp với cơ thể của Pat. David lái xe gắn máy tránh một người phụ nữ trên đường làm anh ta ngã xuống. David không đội mũ bảo hiểm nên đầu đập mạnh trên đường. Bác sỹ đã mổ David hai lần nhưng David bị hôn mê, rơi vào đời sống thực vật. Gia đình đã đồng ý rút ống thở để David ra đi. Theo ý nguyện của David để lại, anh hiến tặng toàn bộ cơ thể cho chương trình “Live-On NY” hay còn gọi là “The New York Organ Donor” trong đó có khuôn mặt của David dành cho Pat.

Tiến sĩ Eduardo Rodriguez khoa trưởng trung tâm y khoa Langone của trường đại học New York bắt đầu ca mổ vào lúc bảy giờ rưỡi sáng ngày mười bốn tháng tám với một đội ngũ bác sĩ giỏi và y tá chuyên nghiệp gồm một trăm người.

Bốn mươi tám tiếng đồng hồ trước khi mổ, khuôn mặt David phẳng và dẹp, hai bên lỗ tai có xiên lỗ và có một cái sẹo hình móc câu ở sọ trong ca mổ trước đây. Lát nữa đây, khuôn mặt này sẽ được bàn tay khéo léo của bác sĩ Rodriguez tách ra khỏi hộp sọ và nổi lềnh bềnh trong một thau có dung dịch lạnh pha chất dùng để bảo quản cho cho sự tuần hoàn máu (hemodynamic preserving solution). Nó không còn là của David. Nó cũng chưa thuộc về Pat.

Khi các bác sĩ khám nghiệm và tuyên bố rằng bộ não đã chết, bác sĩ Rodriguez lạng da đầu của David từ phía sau đến hai bên mang tai rồi vòng qua mũi. Thủ thuật tinh xảo và tài năng của vị bác sĩ người xứ Cuba này là làm thế nào cắt các mô “tissue” mà vẫn giữ được các sợi thần kinh, các bắp thịt, hai động mạch cổ đưa máu từ tim đến các bộ phận như đầu, óc, mặt, cổ (carotid arteries) và hai tĩnh mạch cổ đưa máu từ đầu về tim. (internal jugular veins).

Trong khi tiến hành phẫu thuật, một sự trục trặc bất ngờ xảy ra đó là tĩnh mạch cổ của David lớn hơn của Pat làm Pat bị chảy máu nhiều. Bác sĩ Rodriguez phải làm một thủ thuật đưa tĩnh mạch vào một cái lỗ được khoét thật nhỏ trên cạnh động mạch của Pat để cho máu chảy vào tĩnh mạch này làm cho máu ngưng chảy.

Hai phòng mổ cạnh sát nhau. Pat nằm trong phòng mổ phía bên kia trong tình trạng mê sâu. Anh không biết rằng khuôn mặt mới của David đang trên đường di chuyển. Bác sĩ Rodriguez đeo bao tay, ông chậm rãi nhúng sâu vào dung dịch có máu đỏ, lấy khuôn mặt ra khỏi cái chậu, vẫy nhẹ cho máu nhỏ xuống hết rồi ông nghiêng mặt nhìn lên ống kính chụp hình. Khi giơ cao trước máy chụp hình, khuôn mặt hình như phồng to hơn. Nó không còn là khuôn mặt của David nữa. Cái trán hẹp hơn. Hai gò má phình to hơn. Hai cái môi xệ xuống như đang mỉm cười. Bác sĩ Rodriguez và các bác sĩ phụ tá đều biết công việc mình phải làm. Họ nâng khuôn mặt của David đặt lên trên khuôn mặt của Pat. Họ cắt bỏ các vết sẹo, nối lại các mạch máu và giây thần kinh, sắp xếp lại các xương mặt, phục hồi hai mí mắt, điều chỉnh lại hai môi, sau đó “drapping” phủ lớp da trên mặt Pat như người ta trải chiếc khăn trải giường.

Khuôn mặt mới.

Hai mươi sáu tiếng đồng hồ làm việc căng thẳng. Từ khi chuẩn bị trước khi mổ, tiến hành làm phẫu thuật, theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sau ca mổ, số tiền chi phí lên tới con số từ tám trăm năm chục ngàn đến một triệu đồng. Số tiền này được trường đại học tài trợ. Đây là ca mổ tốn tiền nhất từ trước đến nay. Đó cũng là ca mổ phức tạp mất nhiều thời gian và có số bác sĩ và y tá tham gia đông nhất.

Trở lại ngành y khoa chỉnh hình, các ca mổ lớn cấy ghép mặt thành công và nổi tiếng trên thế giới trong vòng hơn mười năm nay đếm trên đầu ngón tay như năm hai ngàn lẻ một, bà Connie Culp, bốn mươi sáu tuổi bị chồng bắn. Năm hai ngàn lẻ năm, bà Isabelle Denoire ba mươi tám tuổi, người Pháp bị chó cắn. Năm hai ngàn mười, Oscar Wells ba mươi mốt tuổi bất ngờ lỡ tay tự bắn vào mặt. Năm hai ngàn mười một, Dallas Wiens, hai mươi tuổi làm nghề xây dựng bị phỏng vì điện giật… Đánh giá về sự thành công ca mổ của Pat, bác sĩ khoa trưởng trường đại học y khoa Robert Grossman nói: “ Đây là cái mốc chính và cũng là sự đóng góp quan trọng và to lớn về sự tiến bộ trong lãnh vực khoa học và ngành y khoa”.

Điều lo ngại nhất của giới y sĩ trong việc tiến hành phẫu thuật thay hoặc ghép các bộ phận đó là cơ thể chống lại sự tiếp xúc với các tế bào lạ.Trong vòng ba tháng theo dõi, bệnh nhân phải dùng một loại thuốc đặc trị chống lại sự đào thải các bộ phận cấy, ghép trong cơ thể.Theo thống kê, cứ ba trong năm trường hợp thay hay cấy, ghép, bệnh nhân chết vì các bộ phận mới không thích hợp này.

Da là bộ phận lớn và bảo vệ cơ thể. Nó là người lính đầu tiên và mạnh nhất chống lại bệnh tật và các vi trùng xâm nhập. Vì thế sau sáu tháng theo dõi và uống thuốc cho đến suốt đời, cơ thể Pat càng ngày phục hồi khá hơn. Pat có thể ăn được thức ăn bình thường mặc dù nói chưa rõ. Các vết sưng đỏ ở mặt xẹp và tan dần. Pat có thể đội mũ lưỡi trai, đeo kính râm, đeo tai giả đi mua sắm trong cửa hàng Macys mà không bị ai dòm ngó hay để ý về sự khác lạ trên khuôn mặt mới. Một khuôn mặt bình thường như những khuôn mặt của những người chung quanh được xã hội chấp nhận.

Sau đây là những lời tâm sự của Pat trong ngày lễ Thankgivings.

Sau ca mổ ngày mười bốn tháng tám năm hai ngàn mười bốn thành công, mỗi buổi sáng thức dậy, tôi tập một thói quen đó là đứng trước gương, tôi nhìn tôi trong gương với tất cả sự nhận biết từng cử chỉ và hành động mình đang làm. Tôi lấy tay xoa nhẹ và chậm rãi trên đôi má bầu bĩnh và toàn khuôn mặt tròn trịa với tất cả sự trân trọng. Cảm giác trơn láng, nhẵn nhụi, mịn màng của màu da trắng làm tôi liên tưởng đến một người, hơn cả một người bạn, một ân nhân, người cứu rỗi đời tôi: David Rodebaugh. Anh đã cho tôi làn da này.

Mỗi khi tôi xoa nhẹ và chậm rãi trên đôi má dọc theo hai bên thái dương, dưới cằm rồi vòng lên trên môi, hai tay tôi có cảm giác nham nhám, thô tháp, tôi biết rằng đó là những tế bào của những sợi râu quai nón và râu mép đang hoạt động. Chúng đang nhú dần từng ngày dưới làn da như những đóa hoa từ từ hé nụ. Chúng sẽ mọc dài ra rất nhanh, có sợi dài sợi ngắn và màu nâu đen. Đó là những sợi râu mạnh khỏe, đầy sức sống của David đang sống dậy trong làn da này và trên khuôn mặt tôi. Tôi không có râu quai nón. Đó là những sợi râu của người đã hiến tặng: David Rodebaugh.

Mỗi khi tôi nhìn đôi mắt tôi trong gương với hai lằn mí rất rõ làm cho đôi mắt càng ngày càng mở to ra sau khi hết sưng. Trên đôi mắt là cặp lông mày mọc khá dầy và có màu nâu đen cùng với màu của những sợi râu, tôi có cảm tưởng đôi mắt David đang nhìn và cười với tôi như muốn nói rằng sao chúng ta trông giống nhau thế hả anh bạn Pat?

Tôi thường ôm những đứa con tôi và hôn chúng trước giờ đi ngủ. Đôi môi của tôi màu hồng, hình giống như chiếc thuyền, có một nhân trung rất sâu ở chính giữa, môi trên mỏng hơn môi dưới. Khi môi tôi chạm trên đôi má mịn màng của những đứa trẻ, tôi có cảm giác đôi môi ấy mềm, láng, ngọt ngào của tình yêu thương. Khi David còn sống, tôi nghĩ rằng đôi môi yêu thương ấy đã từng hôn lên những đôi môi của nhiều người con gái trong cuộc đời của David, chàng thanh niên đẹp trai và lãng tử đã cho tôi một đôi môi đẹp và gợi cảm hơn cả đôi môi của tôi trước kia.

Tôi với David bây giờ là một. Chúng tôi có trong nhau. David không còn sống nhưng mẹ anh người phụ nữ tốt bụng đã đồng ý ký tên hiến tặng khuôn mặt David cho tôi. Khi đến thăm và nhìn khuôn mặt tôi, bà tưởng đã nhìn thấy con trai bà. Bà cảm động ôm tôi khóc òa và nói với tôi rằng: “Phép lạ của David sẽ sống mãi” (The miracle of David will live on).

Đúng như thế. Khuôn mặt của tôi là một “phép lạ” mà đứa con bất hạnh của bà đã ban cho một người đã chịu nỗi bất hạnh suốt mười bốn năm qua. Hạnh phúc của tôi bây giờ là sự bất hạnh vĩnh viễn của bà. Tôi không biết dùng lời lẽ nào để chia sẻ sự đau khổ của bà mẹ mất con cũng như tôi cũng không biết diễn tả thế nào về niềm hạnh phúc của người được xã hội chấp nhận là một con người. Sau tai nạn, trải qua nhiều sự đau đớn về thể xác và tâm lý, giữa sống và chết, hạnh phúc và đau khổ, được và mất… đối với tôi bây giờ cũng chỉ là những ảo ảnh của cuộc đời.

Người thứ ba tôi muốn nhắc đến với tất cả lòng biết ơn cùng với lòng kính mến, nể phục về tài năng và đạo đức của người y sĩ trong ngành y khoa đó là bác sĩ Eduardo Rotriguez. Khuôn mặt hiến tặng của David nếu không có đôi bàn tay khéo léo, tấm lòng nhân hậu, sự nhiệt tình và bộ óc siêu đẳng của ông trong nghề nghiệp chuyên môn, tôi sẽ tiếp tục sống trong cõi địa ngục trần gian đến cuối đời. Từ sự tuyệt vọng vì chờ đợi ca ghép mặt suốt mười năm quá lâu, ông đã an ủi tôi “Dont let you down”. Từ sự bi quan, ông cho tôi phân nửa sự lạc quan và sự thật “ It could give you a normal face or could kill you”.

Từ sự đau đớn về thể xác, ông cho tôi niềm tin rằng sẽ có những viên thuốc mới sẽ làm cho tôi vượt qua cơn nghiện. Ông theo dõi sát cơ thể tôi từ khi có đủ những điều kiện tiến hành ca mổ, khi tôi nằm trên bàn mổ cho đến sáu tháng sau ca mổ với ánh mắt lúc nào đăm chiêu và nghĩ ngợi sau mỗi lần khám bệnh hàng ngày.

Thế rồi một hôm, ông mời tôi cùng đi mua sắm với ông trong khu Macys. Tôi rất ngạc nhiên vì lời đề nghị này. Tôi và ông đi lang thang một lúc lâu, trong lòng nghĩ rằng ông đang cần tìm mua những chiếc áo sơ mi mới. Ông quan sát mọi người qua lại. Không ai quay lại nhìn hay quan tâm gì đến tôi cả. Ông nói ông muốn chứng kiến tận mắt hình ảnh xã hội đời thường chấp nhận tôi như thế nào. Khi nghe ông nói đến câu này, tôi đã bật khóc.

Trên đường về, ông khen tôi “You are special”. Tôi nói chính ông mới là người xứng đáng “You are special”?

Vài ngày sau tôi được ông trực tiếp đến tận giường bắt tay, ôm tôi và báo cho tôi biết tôi sẽ được xuất viện sau sáu tháng chữa trị. Nụ cười của ông lúc ấy thật rạng rỡ. Bệnh viện đã chụp rất nhiều tấm hình tôi trong ca mổ để theo dõi và làm tài liệu nhưng bức hình đẹp nhất sau mười bốn năm chạy trốn hình ảnh mình trên ống kính đó là tôi được chụp với ông trong buổi lễ chia tay và với những người đã từng gắn bó với tôi trong bệnh viện. Ông đã tạo nên một kỳ tích trong lịch sử y khoa ngành cấy ghép mặt ở xứ Mỹ và mãi mãi là thần tượng của tôi.

Ngoài ra, tôi muốn gửi những lời cám ơn đến đội ngũ các bác sĩ phụ tá bác sĩ Rodriguez và những người y tá mặc quần áo, đội mũ xanh làm việc âm thầm bên cạnh bác sĩ Rodriguez. Đó cũng là những chiếc áo trắng đi lại vội vã trên hành lang hay cắm cúi làm việc trong các phòng hành chánh, các phòng thí nghiệm, những người lao công, gác cổng, các sinh viên tập sự vô danh và rất nhiều người trong bệnh viện biết đến bệnh nhân Pat. Họ đã chăm sóc công việc vệ sinh, miếng ăn thức uống, chia sẻ từng viên thuốc, từng mũi kim chích trong những tiếng rên la vì đau đớn của tôi. Làm sao tôi kể cho hết còn biết bao nhiêu con người đóng góp cho quỹ học bổng của sinh viên trường đại học “the University Grant” đài thọ cho ca mổ này.

Cuối cùng tôi muốn cám ơn đến mái gia đình nhỏ của tôi. Các con tôi Cullen, đứa lớn đã vào đại học. Cullen và Brandon ngày đó chỉ đứng xa mà nhìn bố với ánh mặt sợ hãi. Còn ba đứa kia Dalton, Averi và Alison chắc đã quên hình ảnh chúng khóc thét lên và bỏ chạy khi thấy khuôn mặt của bố. Bây giờ chúng đã ôm tôi và cho tôi những nụ hôn nồng ấm như ôm hôn mẹ của chúng.

Cuối cùng, tôi muốn cám ơn Chrissi, người vợ cũ của tôi. Chrissi đã mệt mỏi vì phải chia sẻ bệnh tật của tôi rất nhiều trong mười năm qua nhưng sự chịu đựng của người phụ nữ có giới hạn. Cô ấy còn trẻ và cần có một sự thay đổi. Mặc dù hạnh phúc chỉ kéo dài có mười năm nhưng cô ấy vẫn còn trách nhiệm với các con của tôi. Với tôi, thế là đủ lắm rồi. Dù sao, cô ấy với tôi vẫn còn là tình bạn. Năm đứa con tôi vẫn là chiếc cầu nối giữa bố mẹ chúng.

Khuôn mặt mới. Cuộc đời mới. Niềm tin và hy vọng mới. Ngày lễ Thankgivings năm nay tôi muốn gửi một thông điệp đến mọi người thân yêu của tôi rằng trong những lúc tối tăm nhất của cuộc đời vẫn còn một tia sáng lấp lóe ở cuối đường hầm. Hãy bám víu lấy chút ánh sáng mong manh ấy và kiên nhẫn chờ đợi. Ánh sáng ấy sẽ có lúc lan tỏa và bừng sáng khi mình vượt qua được khúc quanh cuối đường. Tôi đang choáng ngợp đón nhận những tia sáng lấp lánh ấy. Đó là niềm vui đã trở lại trong trái tim tôi.

Ý tưởng này tôi học từ bác sĩ Eduardo Rogriguez, người ơn suốt đời và cũng là người đã cho tôi khuôn mặt mới.

Phùng Annie Kim
  

DANH DỰ và PHẨM CÁCH DÂN TỘC

Tích Lê Văn

Năm 1905, cụ Phan Bội Châu cùng một số đồng chí của Cụ ( Cụ Tăng Bạt Hổ và cụ Đặng Tử Kính ) tìm đường sang Nhật Bản để cầu viện, cứu quốc. Đến ga tàu hỏa Tokyo, các cụ muốn tìm đến nơi ở của một người quen là Ân Thừa Hiến để tạm tá túc. Cụ Phan gọi một người phu kéo xe đến, nhưng ông ta không biết chữ, vội đi tìm một người khác biết chữ tới gặp nhóm khách Việt Nam. Cứ theo địa chỉ cụ Phan viết ra, người kéo xe đưa cả đoàn tới nơi, nhưng Ân Thừa Hiến không còn ở đó nữa.

Đang lúc cụ Phan bối rối vô cùng thì người phu xe Nhật Bản bảo cả nhóm chờ rồi tự mình đi tìm địa chỉ ông Ân Thừa Hiến. Suốt từ 2 giờ chiều, đến 5 giờ chiều thì ông ta quay lại, hớn hở báo tin rằng đã tìm thấy địa chỉ, rồi kéo xe đưa Phan Bội Châu và những người khác đến nơi. Rồi ông ấy hỏi xin hai hào rưỡi (0,25 Yên) tiền kéo xe.

Cảm phục, biết ơn và cũng muốn đền đáp công sức của người phu xe, Phan Bội Châu cảm tạ và xin trả ông ấy 1 đồng. Người phu xe kiên quyết từ chối. Và để an lòng nhóm cụ Phan, ông ấy nói:

“Chiếu theo quy luật Nội vụ sảnh đã định, thì từ ga Đông Kinh đến nhà này giá xe chỉ có ngần ấy. Và lại ý ta nghĩ các người là người ngoại quốc, yêu mến nước Nhật Bản mà đến, vậy nên ta hoan nghênh các người, chứ không phải hoan nghênh tiền đâu. Bây giờ các người cho tiền quá lệ, thì là khinh bạc người Nhật Bản rồi đó.”

Sau này Phan Bội Châu nhớ lại, cụ viết:

“Chúng tôi nghe lời ấy, từ tạ anh ta xong, mà tự nghĩ càng thêm tủi. Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta, xem với người phu Nhật Bản chẳng đáng chết thẹn lắm hay sao!”
(Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 6, Nxb Thuận Hóa, 2000, tr. 153-154.)

ĐÓ LÀ CHUYỆN CỦA GẦN 115 NĂM VỀ TRƯỚC.

Còn hôm nay, ở nước ta, giữa thế kỷ 21 này, một gã lái xe xích lô tên Phạm Văn Dũng (48 tuổi) ở Tp. Hồ Chí Minh đã thừa cơ lừa đảo, thu của một cụ già người Nhật Bản tên là Oki Toshiyuki (83 tuổi) 500.000 đồng cho 1 cuốc xe khoảng 5 phút. Dã man hơn, khi cụ già ngoại quốc trả tiền, hắn còn chộp ví, cướp đoạt thêm của cụ 2.400.000 đồng nữa.

Thật là khốn nạn, đê tiện hết chỗ nói.

Nhưng chuyện đó, dù có tệ, cũng chưa thấm vào đâu so với chuyện ở Hà Nội.
Cả nhóm chuyên gia Nhật Bản lội xuống dòng sông Tô Lịch, bất chấp nắng mưa, ô nhiễm dầm mình để thí nghiệm, tìm cách ứng dụng công nghệ cao để làm sạch dòng sông thiêng giữa lòng Thủ đô.

Thế mà nhân danh “đúng quy trình”, người ta xả nước vào sông giữa lúc thí nghiệm chưa xong. Khi bị chất vấn còn cãi nhem nhẻm, rằng “đúng quy trình”, “bất khả kháng” vv…

Nếu có lương tâm, trách nhiệm, sao trước khi xả nước, họ không thảo luận kĩ với nhóm chuyên gia Nhật?

Sao họ không tìm giải pháp khác???

Nói như cụ Phan hơn 114 năm trước: Thật đáng chết thẹn lắm!
Cụ Phan ơi! Hơn 100 năm trước, cụ đã mượn lời người khác để mắng mỏ dân tộc mình: “dã man quen thói ngu hèn”.

Cụ mắng thế là mong cho người mình thấy hổ thẹn mà sửa mình để lớn lên, sao cho xứng với nhân quần thế giới. Nhưng đã hơn 100 năm qua rồi, dân tộc mình vẫn thế.
….
Hổ thẹn lắm cụ Phan Bội Châu ơi!

Kính gửi tới ông Oki Toshiyuki : toàn dân Việt Nam chúng tôi thành thật xin lỗi ông.

——-
nguồn fb Phạm Tứ Kỳ

Image may contain: one or more people, people sitting, eyeglasses, hat and text

KHƠI LẠI VẾT THƯƠNG

Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: text
Image may contain: one or more people, people standing, outdoor and text
Image may contain: text
Mai-Agnetha Pham is with Mai-Agnetha Pham.

Nguồn: Fb Bong Lau

KHƠI LẠI VẾT THƯƠNG

Đêm nay người biểu tình “Black Lives Matter” kéo đổ pho tượng của Tướng Albert Pike rồi tưới xăng đốt pho tượng đã đứng trên bệ đá hơn 100 năm qua.
Đây là pho tượng của vị Tướng quân đội Liên Minh miền Nam duy nhứt ở thủ đô Washington. Cảnh sát chỉ đứng quan sát và không có phản ứng. Hình như họ được lịnh không can thiệp.

Có lẽ người biểu tình không biết nhiều về Albert Pike. Hễ những ai có liên hệ tới quân đội Liên Minh Confederate là đạp đổ.

Albert Pike là nhà thơ và nhà văn nổi tiếng. Ông còn là nhà báo và sau trở thành luật sư. Sinh trưởng ở miền Bắc, thành phố Boston, Massachusetts nhưng ông bỏ đi giang hồ về miền viễn Tây Hoa Kỳ sống bằng nghề săn bắn và buôn bán. Nhờ lưu lạc ở miền Tây Nam Hoa Kỳ ông có liên hệ mật thiết với các bộ lạc da đỏ.

Trong cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ, Albert Pike chỉ huy một đơn vị kỵ binh lập được nhiều chiến công và được vinh thăng cấp bực đại úy.

Sau chiến tranh Albert Pike dọn về miền Nam ở thành phố New Orleans hành nghề luật sư binh vực quyền lợi cho các bộ lạc da đỏ chống lại chính quyền Liên Bang (Union).

Trước cuộc nội chiến năm 1861, Albert Pike quan niệm rằng nếu chính quyền Liên Bang không đối xử bình đẳng với miền Nam mà coi họ là công dân hạng nhì thì miền Nam sẽ đứng ngoài Liên Bang Hoa Kỳ.

Chiến tranh bùng nổ, Albert Pike được thăng chức thiếu tướng. Trong đạo quân của ông có những đơn vị kỵ binh da đỏ do ông huấn luyện.

Về sau Albert Pike bất đồng ý kiến với cấp chỉ huy và ông viết thơ lên cấp cao hơn tố cáo cấp chỉ huy của mình. Ngược lại Albert Pike bị vu khống biển thủ tiền của quân đội Liên Minh và để binh sỹ da đỏ của mình cắt da đầu tù binh Liên Bang.

Ông bỏ trốn. Về sau bị bắt và bị xử tội bất tuân thượng lịnh và tội phản quốc. Albert Pike xin từ chức và được trả tự do. Ông qua đời ở Washington năm 1891 thọ 81 tuổi.

Tiểu sử của Thiếu Tướng Albert Pike không thấy nói ông đối xử xấu với nô lệ da đen. Không những vậy ông có một quá trình binh vực quyền lợi cho người thiểu số da đỏ. Ông còn hứa hẹn nếu miền Nam chiến thắng người da đỏ sẽ có một quốc gia riêng biệt.

Những phần tử cực đoan của phong trào Black Lives Matter đã đạp đổ tượng của ông chỉ vì ông là Tướng của quân đội miền Nam. Họ không muốn biết ông đã bị quân đội này kết án phản quốc.

Những kẻ cực đoan ngu tối này còn trùm quốc kỳ Mỹ lên đầu tượng của Tổng Thống Hoa Kỳ đầu tiên là George Washington ở Portland – Oregon tẩm xăng đốt rồi kéo đổ tượng đài một vị anh hùng lập quốc. Chỉ vì ông từng là một đại điền chủ có nuôi nô lệ da đen trong nhà.

Sau cuộc nội chiến những người lãnh đạo Hoa Kỳ thời ấy đã biết xây dựng tinh thần đoàn kết hòa hợp hòa giải nên không đả phá các biểu tượng của quân đội miền Nam.

Giờ đây phong trào đập phá các biểu tượng của quân đội miền Nam nói riêng và lịch sử Hoa Kỳ nói chung đã xé rách lại vết thương nội chiến trong quá khứ.

Các lãnh đạo của đảng Dân Chủ vẫn im lìm không lên án các hành động quá khích cực đoan như vậy mà có người còn cổ súy nữa. Họ cho rằng phải đạp đổ quá khứ để xây dựng sự bình đẳng cho người da màu.

Họ đã sai lầm vì đạp đổ các tượng đài sẽ không mang lại sự bình đẳng. Sự bình đẳng phải được xây dựng bằng cung cách sống của mỗi công dân.

Sự tàn phá ấy chỉ đào thêm hố sâu chia rẽ vì những người Mỹ da trắng ở miền Nam sẽ cảm thấy bị xúc phạm và đe dọa. Rồi những người cực đoan da trắng sẽ phản công. Những hình tượng của danh nhân da đen, nhà thờ, trường học và chính người da đen sẽ trở thành mục tiêu của sự trả thù.

Những chính khách Mỹ ngây thơ hoặc cố tình thúc đẩy một cuộc cách mạng văn hóa xóa bỏ lịch sử quốc gia. Hãy đến Việt Nam học tập kinh nghiệm “hòa hợp hòa giải” của nhà nước Việt Cộng. Đến để biết các tượng đài nghĩa trang của quân đội miền Nam đã bị đập phá không được tôn trọng, và kết quả sau hơn 40 năm “thống nhứt” sự phân biệt kỳ thị Nam Bắc vẫn ngùn ngụt trong lòng người.

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA ĐỘC ĐÁO Ở ĐÀ LẠT VÀ CÁI SỰ “LUÔN SÁNG SUỐT” CỦA NHỮNG NGƯỜI CS.

No photo description available.
Image may contain: plant and outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: 3 people
Image may contain: 1 person, outdoor
Văn Lang

 

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA ĐỘC ĐÁO Ở ĐÀ LẠT VÀ CÁI SỰ “LUÔN SÁNG SUỐT” CỦA NHỮNG NGƯỜI CS.

Tối hôm qua 17/06/2020, trên kênh VTV1 chuyên mục VTV travel phát sóng chương trình giới thiệu du lịch Đà Lạt, có nhắc đến tuyến đường sắt nổi tiếng ở đây. Nhắc, nhưng không dám nói hết, nói rõ cho tỏ tường số phận buồn của tuyến đường sắt độc đáo đó sau năm 1975.

Trước năm 1975, ở Việt Nam có một tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt – Tháp Chàm huyền thoại do người Pháp xây dựng từ thời Pháp thuộc, là một trong hai tuyến đường sắt răng cưa leo núi của thế giới: Một của Việt Nam và một của Thụy Sĩ.

Sau năm 1975, chính quyền đã cho tháo dỡ các thanh ray và tà vẹt của tuyến đường sắt răng cưa độc đáo này để sử dụng vào việc sửa chữa tuyến đường sắt Bắc-Nam, mặc cho các chuyên viên kỹ thuật hỏa xa ra sức can ngăn bởi chúng được chế tạo đặc biệt (có lỗ đặt ốc vít để gắn các thanh thép răng cưa), nếu tháo đi thì sau này sẽ không thể tìm đâu ra để lắp lại.

Chưa dừng lại đó, họ còn tháo dỡ các cây cầu để lấy sắt, chỉ còn những mố cầu trơ trụi. Còn các đầu tàu hơi nước cổ chuyên dụng dùng để leo đèo trên đường sắt răng cưa ư? Họ cũng đem bán cho một doanh nghiệp của Thụy Sĩ với giá sắt vụn, chấm dứt mọi hy vọng mỏng manh tái thiết tuyến đường sắt vốn là một kỳ công kỹ thuật độc đáo của người Pháp để lại.

Hai chiếc đầu tàu sau đó đã được người Thụy Sĩ phục hồi và bây giờ vẫn hoạt động đều đặn trên tuyến đường sắt răng cưa leo núi tại Thụy Sĩ (Furka-Bergstrecke).

Tấn bi kịch về công trình kỹ thuật độc đáo của người Pháp ở Việt Nam này là điển hình cho sự phá hoại vô minh sau năm 1975.

(Bài và hình của fb Lê Quang Huy).