Tỷ lệ ủng hộ ông Trump tăng mạnh tại ‘bang chiến trường’ California

Tỷ lệ ủng hộ ông Trump tăng mạnh tại ‘bang chiến trường’ California

image

Cuộc thăm dò mới nhất cho thấy tỷ lệ ủng hộ ông Trump đã tăng lên mức kỷ lục 52%. 

Một số lượng lớn người Mỹ gốc Phi và đảng viên Đảng Dân chủ đã quay sang ủng hộ Trump, và xếp hạng chấp thuận của sáu bang chủ chốt cũng tăng lên, theo Epoch Times.

Cử tri độc lập ủng hộ

Theo thống kê của chương trình truyền hình trực tiếp C-SPAN, lượt theo dõi Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa đêm đầu tiên là khoảng 440.000 người, gấp 6 lần lượt theo dõi đêm đầu của Đại hội toàn quốc của Đảng Dân chủ (DNC) với 76.000.

Trong tuần qua, đông đảo cử tri gốc Hoa ở Nam Canada cũng bày tỏ quan điểm của mình trên mạng xã hội, trong đó thường xuyên đăng tải các bài viết “Chúa phù hộ nước Mỹ, ủng hộ Trump tái đắc cử”.

Cử tri độc lập của California, ông Lưu cho rằng mình thường có quan điểm tương đối trung lập về chính trị và ông ấy thẳng thắn thừa nhận, nhận thức về hội nghị hai bên là khác nhau. Ông cảm thấy rất khó chịu khi xem Đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ.

Ông nói: “Tôi đã thật vất vả cuối cùng cũng xem xong hội nghị của Đảng Dân chủ đầy căm thù và u ám này. Nhiều người bày tỏ cảm xúc tại hội nghị. Họ ủng hộ bạo lực và căm ghét đối thủ. Điều quan trọng nhất là họ đã hạ thấp truyền thống và thành tựu của Mỹ, bỡn cợt nó không đáng một đồng”.

Tuy nhiên, sau khi xem Đại hội Đảng Cộng hòa, ông Lưu cảm thấy: “Tôi phải thừa nhận rằng Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng hòa đã thể hiện phong cách mà Hoa Kỳ nên có. Mọi thứ đều rất tích cực. Trái tim của tất cả các nhóm sắc tộc đều liên kết và họ thực sự yêu mến Hoa Kỳ, họ tôn trọng lẫn nhau, có niềm tin và cũng đang duy trì Hiến pháp Hoa Kỳ, hy vọng rằng Hoa Kỳ sẽ tốt đẹp hơn. Như Phó Tổng thống Pence đã nói, cuộc bầu cử này không còn là một cuộc tranh chấp lưỡng đảng, mà là liệu Hoa Kỳ có thể duy trì nền dân chủ Mỹ hay không“.

Một cử tri người Hoa khác, bà Lư, cho rằng ngày tổng tuyển cử đang đến gần và xuất phát điểm của chính sách hai đảng ngày càng rõ ràng, một là con đường dẫn tới nền dân chủ Mỹ mà Tổng thống Trump và đảng Cộng hòa muốn duy trì, hai là con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Dân chủ muốn đi. Bà tin rằng, như ông Trump đã nói, cuộc bầu cử tổng thống năm nay là cuộc bầu cử quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ. Bà cũng tin rằng những cử tri Mỹ có tư duy độc lập sẽ có những lựa chọn sáng suốt.

ĐCSTC là một chủ đề lớn trong lần tranh cử này của Hoa Kỳ

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nói chuyện với các phóng viên trên Không lực Một khi ông từ New Hampshire trở về Washington, Hoa Kỳ ngày 28/8.

Trong cuộc bầu cử Mỹ năm nay, quan hệ Mỹ – Trung cũng trở thành tâm điểm chú ý của thế giới bên ngoài. Vào một ngày trước đại hội của Đảng Cộng hòa, chiến dịch tái tranh cử của ông Trump đã ban hành mười chương trình nghị sự chính sách lớn cho nhiệm kỳ thứ hai của ông là “chiến đấu vì bạn”, bao gồm một chương riêng về chính sách đối với Trung cộng.  

Khi chấp nhận đề cử của Đảng Cộng hòa, Trump nói rằng ông sẽ không bao giờ quên việc ĐCSTC đã che giấu tác hại của dịch bệnh gây ra cho Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đã nhiều lần nhấn mạnh trong các bài phát biểu trước công chúng rằng Tổng thống Trump sẽ yêu cầu ĐCSTC phải chịu trách nhiệm về dịch bệnh, trục xuất các gián điệp ngoại giao và chấm dứt các thỏa thuận thương mại không công bằng để chống lại các mối đe dọa của ĐCSTC.

Tuy nhiên, ứng cử viên Đảng Dân chủ Biden và ứng cử viên phó tổng thống Kamala Harris chỉ đề cập đến Trung cộng một lần trong bài phát biểu của họ, càng không đề cập đến việc ĐCSTC phải chịu trách nhiệm về việc che giấu dịch bệnh.

Lam Thuật, một nhà bình luận các vấn đề thời sự và chuyên gia về Trung cộng sống ở California, nói rằng quan hệ Mỹ-Trung và các chính sách đối với ĐCSTC là chủ đề không thể không có trong cuộc bầu cử lần này. “Mục tiêu của Trump khi nhậm chức là làm cho Hoa Kỳ hùng mạnh trở lại, nhưng sự tồn tại của ĐCSTC lại trở thành trở ngại lớn nhất đối với sức mạnh của Hoa Kỳ. Chẳng hạn như thương mại không công bằng, đánh cắp thông tin tình báo của Mỹ, đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ, che giấu dịch bệnh,… Bạn phải biết rằng trước khi có dịch bệnh, chắc chắn nền kinh tế Hoa Kỳ đang ở thời kỳ tốt nhất trong vòng 50 năm”.

ĐCSTC thâm nhập vào mọi tầng lớp xã hội ở Hoa Kỳ thông qua nhiều phương tiện khác nhau, xuất khẩu tư tưởng ý thức hệ của mình, đàn áp dân chủ và tự do, và đã bị chính quyền Trump trừng phạt.

Nhiều tài liệu, giấy tờ đã được hủy trước khi các nhân viên ngoại giao Trung cộng rời đi.

Lam Thuật nói: “Tất cả các biện pháp trừng phạt mà nhóm Trump áp đặt lên ĐCSTC chỉ nhằm chống lại chế độ độc tài của ĐCSTC. Các biện pháp trừng phạt như vậy không phải là ngắn hạn, càng không phải chỉ là khẩu hiệu tranh cử, mà đại diện cho sự nhận thức ra bản chất của ĐCSTC từng bước một của toàn bộ giới học thuật và chính trị Hoa Kỳ. Để khắc phục bản chất bất hảo của ĐCSTC, Trump đang điều chỉnh chính sách sai lầm của Hoa Kỳ đối với ĐCSTC đã kéo dài trong 30 năm qua“.

Ông tin rằng nếu Hoa Kỳ muốn vĩ đại trở lại thì phải đối phó với ĐCSTC, nếu không ĐCSTC sẽ tiếp tục đe dọa Hoa Kỳ. “ĐCSTC vẫn còn ảo tưởng về cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ. Họ tưởng tượng rằng Biden sẽ có thể lên nắm quyền để xoa dịu quan hệ Mỹ-Trung và sẽ cố gắng can thiệp vào cuộc bầu cử Hoa Kỳ. Một khi Biden lên nắm quyền, mọi chuyện có thể thực sự phát triển theo hướng mà ĐCSTC mong đợi”.

Từ những hành động trong quá khứ của Biden với tư cách là thượng nghị sĩ và phó tổng thống, cũng như lịch sử bỏ phiếu tại Quốc hội, chuyên gia Lam Thục nói: “Có thể thấy rằng ông ấy vẫn chưa nhận ra bản chất của ĐCSTC là một chế độ độc tài phản nhân đạo. Đây cũng là vấn đề lớn nhất mà nhóm vận động tranh cử năm nay phải đối mặt”.

Linda Jiang, Epoch Times _ Phụng Minh

Ông Nguyễn Phú Trọng xuất hiện trở lại run rẩy và đi lại khó khăn

Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam hôm 1-9 xuất hiện trở lại sau khoảng thời gian vắng mặt nhằm kỷ niệm 75 năm quốc khánh, tuy nhiên các đoạn clip do báo chí nhà nước đăng tải cho thấy tay chân ông run rẩy, đi lại khó khăn.

Bạn nghĩ sao?

0:13 / 1:28

VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC TRONG TAY NHỮNG KẺ BỆNH HOẠN

VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC TRONG TAY NHỮNG KẺ BỆNH HOẠN

Hệ thống luật pháp quốc gia văn minh nó vận hành từ trên xuống theo thứ tự hiến pháp là luật cao nhất, tiếp theo là luật pháp và sau cùng là sắc lệnh hành pháp (sắc lệnh hành pháp là văn bản dưới luật). Những văn bản luật thấp hơn bị luật cao hơn loại bỏ nếu nó mâu thuẫn với luật ở bậc cao hơn. Đấy là xứ văn minh, còn với hệ thống luật pháp CS thì sao? Về hình thức vẫn quy định vậy nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại.

Ở chế độ CS, Hiến pháp bị vô hiệu bởi luật pháp, luật pháp bị vô hiệu hóa bởi nghị định, và nghị định thì bị vô hiệu hóa bởi thông tư. Ví dụ như điều 25 Hiến pháp quy định công dân có quyền biểu tình, nhưng luật biểu tình chưa thông qua mà ai biểu tình thì chính quyền xem họ như là kẻ “phạm pháp”. Hay như khi luật pháp ban ra mà chưa có nghị định triển khai hoặc thông tư hướng dẫn thì xem như đạo luật ấy bị treo không thể thi hành được.

Nếu nói hiến pháp là phép vua thì những thứ văn bản dưới luật như: nghị định, quyết định, thông tư vv… chính là những thứ lệ làng. Cách vận thành ngược đời của hệ thống luật pháp CS nó cho phép lệ làng vô hiệu hóa được phép vua. Bộ máy nhà nước CS có cơ cấu vận hành kiểu này được ví như một cơ thể có kết cấu đảo lộn so với bản thiết kế của tạo hóa vậy, bộ óc thì nằm ở trực tràng còn chất thải của hệ tiêu hóa thì được chứa ở hộp sọ. Với một kết cấu như thế này thì làm sao ĐCS dẫn dắt được đất nước “sánh vai cùng cường quốc năm châu” được đây? Hoang đường! Thay vì cơ quan đầu não chưa những neron thần kinh- một loại tế bào thuộc loại tinh hoa của một cơ thể thì ở đây nó lại chứa shit. Vận mệnh đất nước này rồi sẽ ra sao khi bị shit điều khiển?

Ngày 15/11/2018 Quốc hội CS đã thông qua luật Bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó sức khỏe lãnh đạo đảng và nhà nước CS được liệt vào hàng bí mật quốc gia. Đáng lý ra luật này được áp dụng ngay. Nhưng không! Nó phải đợi nghị định cho phép. Luật phải đợi xin phép văn bản dưới luật cho phép. Được biết ngày 24/08/2020, Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 1295/QĐ-TTg về danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực y tế, trong đó hồ sơ bệnh án, thông tin, kết quả khám bệnh, chữa bệnh, kiểm tra sức khỏe của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng được liệt vào diện “tối mật”. Nghĩa là, kể từ đây, ai đưa tin về bệnh tật lãnh đạo mà chưa được phép thì đều có thể bị truy tố. Lúc này thì xem như bộ công an đã được bật đèn xanh sẵn sàng bắt bớ những ai dám công bố sức khỏe lãnh đạo khi chưa cho phép.

Như đã nói, cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền CS thực chất nó chỉ là nơi chứa chất thải của hệ tiêu hóa của cơ thể nên những quyết định nó đưa ra mang màu sắc bẩn bựa chứ không bao giờ có tính minh triết. Luật xem sức khỏe lãnh đạo là bí mật quốc gia cùng với nghị định xem sức khỏe lãnh đạo vào diện tin tức tối mật đã đặt số phận đất nước này vào tay những con người hoặc bệnh hoạn, hoặc điên khùng. Và tất nhiên, đất nước này phải trả giá cho những điều đó.

Hãy tưởng tượng, một xe bus chở hàng chục người mà giao tay lái cho một người bệnh cầm lái thì hậu quả sẽ ra sao? Một con tàu chở hàng ngàn người mà giao cho người bệnh cầm lái thì sẽ ra sao? Chắc chắn không ai chấp nhận vì nó sẽ mang đến tai họa cho hành khách. Vậy thì nếu có một phương tiện chuyên chở 100 triệu người mà giao tay lái cho một người bệnh hoạn thì hậu quả sẽ ra sao chắc là không cần phải giải thích.

Số phận đất nước cần phải được lèo lái bởi con người minh mẫn nhất chứ không thể rơi vào tay một kẻ lú lẫn hoặc một kẻ bệnh hoạn hoặc một kẻ điên khùng. Luật và nghị định được viết ra kia về bản chất, nó chỉ nhằm mục đích làm thỏa mãn tính háo danh của những người cộng sản chứ nó không giúp ích gì cho lợi ích quốc gia cả. Một tên bệnh hoạn cầm lái con tàu 100 triệu dân và được giấu giếm cẩn thận tình hình bệnh tình của y thì quả thật rất đáng sợ. Đấy chính là lý do tại sao đất nước này luôn tụt hậu mãi và ngày một phụ thuộc kẻ thù truyền kiếp mà không cách nào thoát ra. Một kẻ minh mẫn trong ĐCS Việt Nam khi đứng trước thiên triều Tàu Cộng còn không biết làm gì chứ đừng nói chi kẻ bệnh hoạn?!

Hình ảnh thủ tướng Nhật với tướng tá còn chắc khỏe bỗng nhiên từ chức vì sức khỏe không cho phép so với hình ảnh Nguyễn Phú Trọng mò mẫm bước từng bước nặng nề nhưng cố bám ghế cùng với hình ảnh nước Nhật cường thịnh và Việt Nam nhu nhược đã nói lên tất cả. Một đời lãnh đạo bệnh hoạn nắm vận mệnh đất nước đã là nguy, đằng này với ĐCS thì nhiều đời lãnh đạo như thế.

Ví dụ như trường hợp Lê Đức Anh, sau Đại hội 8 chỉ vài tháng ông ta bị đột quỵ. Bệnh xuất huyết não khá nặng nhưng ĐCS đã ém nhẹm để giữ ghế chủ tịch nước cho riêng ông ta. May cho ông ta là hơn ba tháng sau hệ thống y tế CS chữa cho ông hồi phục, rồi ông xuất hiện trên truyền và đài phát thanh đọc lời chúc mừng năm mới năm 1997 như không có chuyện gì xảy ra.

Đỗ Mười là kẻ có tiền sử bệnh tâm thần. Nặng đến mức, năm 1963 ông ta phải sang Tàu Cộng chữa bệnh, thế nhưng ông ta vẫn được đảng giao cho nhiều trọng trách lớn. Giữa thập niên 1990 khi đang là Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (tên gọi cũ của chức danh thủ tướng chính phủ), thì cánh nhà báo nhiều lần chứng kiến ông ta họp báo với quần tây không được kéo khóa. Ông ta mắc chứng đãng trí khá nặng, thế nhưng sau đó ông ta lên tổng bí thư và giữ ngai đến 6 năm rồi mới trao lại cho Lê Khả Phiêu.

Như ta biết, các lãnh đạo CS đời đầu như Hồ Chí Minh và Lê Duẩn đều chết khi còn đang giữ ghế. Điều đó có nghĩa là trước khi chết một thời gian, số phận đất nước này bị nắm trong tay của một kẻ kẻ bệnh hoạn. Với hàng loạt những kẻ bệnh hoạn nối tiếp nhau tiếp nhận việc cai trị đất nước thì đất nước này đi về đâu?

Không một quốc gia tiến bộ nào mà ra tầng tầng lớp lớp luật để tạo điều kiện cho những kẻ bệnh hoạn nắm giữ vận mệnh đất nước, chỉ có ĐCS mới làm thế. Để ĐCS cai trị, tất đất nước này sẽ chẳng có tiền đồ sáng sủa nào cả. Vận mệnh của đất nước không bằng tham vọng của kẻ bệnh hoạn. Là công dân một nước như thế chúng ta nghĩ sao về hoàn cảnh trớ trêu này?

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://nld.com.vn/thoi-su/thong-tin-suc-khoe-cua-uy-vien-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-la-toi-mat-20200830180410665.htm

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Quyet-dinh-1295-QD-TTg-2020-Danh-muc-bi-mat-nha-nuoc-linh-vuc-y-te-451024.aspx

https://www.sggp.org.vn/suc-khoe-lanh-dao-cao-cap-cua-dang-nha-nuoc-la-bi-mat-nha-nuoc-559266.html

https://danluat.thuvienphapluat.vn/nghi-dinh-va-thong-tu-cai-nao-co-gia-tri-phap-ly-cao-hon-95348.aspx

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem . Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20).  Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình.  Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.  Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu?  Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không?

Phêrô
Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó.  Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia.  Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma.  Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma.  Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê
Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp.  Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X.  Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)
Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo.  Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh.  Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2).  Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này.  Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela.  Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan
Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo.  Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su.  Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9).  Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê
Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên.  Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô
Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô.  Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau.  Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.

Tôma
Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ.  Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi.”  Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)
Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài.  Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải  trước khi tử đạo ở Êthiopia.  Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)
Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.  Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô
Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi.  Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.”  Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng.  Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành
Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai người cùng nhau giảng đạo như một cặp.  Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm.  Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia
Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi.  Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó.  Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.
________
Chú thích:
(1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa.  Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu.  Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi).  Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên.  Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra.  Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.  Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi.  Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên.  Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa.  Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình.  Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng.  Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5.  Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”.  Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên.  Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm!  Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau.  Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài.  Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

12 Tong Do 2.jpg

Nghiệp

Nghiệp

“Thầy còn mong muốn gì hơn là tạo ra Thiên đường chỉ có ánh sáng và hạnh phúc cho tất cả mọi người?” Người nói. “Chẳng lẽ con không hiểu chính vì điều này mà thầy xuống dưới nhân gian để dạy con người hãy thương người như thương mình? Vì chừng nào họ không thương yêu nhau, thì dù ở trên trời hay ở dưới thế họ cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được nơi chốn nào để họ có thể tránh được mọi khổ đau.” 

Selma Lagerlöf – Trần Quốc Việt (Danlambao dịch) – Chuyện xảy ra vào thời Chúa Giê su và Thánh Phê rô mới đến Thiên đường sau nhiều năm lang thang và chịu nhiều gian khổ đau thương trên trần thế.

Ta có thể tưởng Thánh Phê rô sung sướng xiết bao trước sự đổi đời này! Ta có thể hình dung cảnh ngồi trên Núi Thiên đường và nhìn ra khắp thế gian quá khác xa với cảnh đi lang thang hết nhà này sang nhà khác như kẻ ăn mày. Đi dạo trong vườn Thiên đường tuyệt đẹp cũng thật khác biết bao với đi rong ruổi khắp thế gian, mà chẳng biết dừng chân trú lại nơi nào vào đêm mưa bão hay lại phải tiếp tục đi trên đường trong bóng đêm giá lạnh. 

Ta tưởng sau cuộc hành trình như thế chắc hẳn ông sung sướng vô cùng khi được đặt chân đến nơi chốn hằng mơ ước. Chắc chắn trước đấy Thánh Phê rô không phải lúc nào cũng tin tưởng mọi sự rồi sẽ kết thúc tốt đẹp. Đôi khi ông không thể nào mà không cảm thấy rất nhiều hoài nghi và lo lắng, vì Thánh Phê rô đáng thương đã không thể nào hiểu nếu Chúa Giê su là chúa của cả thế gian thì tại sao họ lại phải trải qua muôn vàn gian khổ ở trần thế. 

Bây giờ, chẳng mơ ước nào có thể còn hành hạ ông nữa. Ta có thể vững tin ông lấy làm sung sướng trước sự giải thoát này. 

Giờ đây ông thực sự mới thấy tất cả những khổ đau ông và Chúa Giê su đã phải chịu đựng, hay cuộc sống rất thiếu thốn họ phải vui vẻ chấp nhận trước đây thảy đều chẳng đáng gì. 

Ngày xưa lúc họ rơi vào hoàn cảnh thê thảm đến mức Thánh Phê rô tưởng như ông không thể nào chịu đựng được nữa, Chúa Giê su đã đưa ông đến một dãy núi rất cao, và bắt đầu lên núi mà không bảo ông biết lên núi để làm gì. 

Họ đi lang thang ngang qua các thành phố dưới chân núi, và qua những lâu đài trên núi cao. Họ đi qua những trang trại và túp lều, và bỏ lại phía sau lưng cái hang cuối cùng của người tiều phu. 

Cuối cùng họ đến nơi núi đứng sững sững trần trụi, chẳng bóng cây hay lá cỏ nào, nơi một tu sĩ ẩn dật dựng cái chòi để ở và biết đâu để giúp cho lữ khách lỡ đường có nơi tá túc. 

Sau đó, họ đi băng qua những đồng tuyết, nơi những con sơn thử ngủ vùi, rồi đến nơi những vách băng lớn chất chồng lên nhau nằm chênh vênh bên sườn núi mà ngay cả sơn dương cũng rất khó vượt qua được. 

Ở đấy Chúa Giê su thấy một con chim nhỏ có ức đỏ nằm chết cóng trên tuyết, và Người liền nhặt chim lên và nhét chim vào ngực Người. Thánh Phê rô nhớ lại lúc đấy ông không biết phải chăng chim nhỏ ấy là thức ăn chiều của họ. 

Hai thầy trò đi lang thang rất lâu trên những khối băng trơn tuột, và Thánh Phê rô tưởng như ông càng lúc càng đi đến rất gần địa ngục, vì gió lạnh buốt kinh hồn và sương mù đen kịt liệm kín họ, và ông cố nhìn thật xa nhưng chẳng thấy bất kỳ sự sống nào. Tuy nhiên họ chỉ mới lên được lưng chừng núi. 

Rồi ông van Chúa Giê su hãy quay trở lại. 

“Chưa về được,” Chúa Giê su đáp, “vì thầy muốn chỉ cho con thấy điều này để con có can đảm mà chịu đựng mọi đau thương.” 

Rồi họ tiếp tục đi mãi qua sương mù và băng giá cho đến lúc họ không đi được nữa vì gặp một bức tường thành cao vô cùng tận chắn ngang trước mặt. 

“Bức tường này bao quanh núi,” Chúa Giê su nói, “và con không thể vào được bên trong dù ở bất kỳ chỗ nào. Không có bất kỳ sinh vật nào có thể nhìn vào được bên trong bức tường, vì thiên đường bắt đầu từ chính nơi đây và từ nơi đây lên đến đỉnh núi là nơi ở của những người chết được hưởng chân phúc.” 

Nhưng Thánh Phê rô không thể nào mà không lộ vẻ hoài nghi. 

“Ở trong ấy không có bóng tối và cũng chẳng có giá lạnh,” Chúa Giê su nói, “nhưng lúc nào cũng là mùa hè với ánh sáng rực rỡ của mặt trời và các vì sao.” 

Nhưng Thánh Phê rô cảm thấy không thể nào tin được điều này. 

Rồi Chúa Giê su lấy con chim Người mới nhặt được trên băng ra, nghiêng người ra phía sau, ném chim qua bức tường, để chim rơi xuống Thiên đường. 

Ngay lập tức sau đấy Thánh Phê rô nghe tiếng kêu ríu rít mừng rỡ, sung sướng. Ông nhận ra đúng tiếng hót của con chim sẽ ức đỏ, và cực kỳ kinh ngạc. 

Ông quay sang Chúa Giê su và nói: “Thầy và con hãy trở lại trần thế và chịu đựng tất cả những gì phải chịu đựng, vì bây giờ con nhận thấy thầy nói sự thật, và con đã thấy nơi mà Sự sống cuối cùng thắng được sự chết.” 

Thế rồi họ xuống núi và lại bắt đầu đi nay đây mai đó. 

Bao nhiêu năm trường trôi qua từ độ Thánh Phê rô thoáng thấy thiên đường; nhưng ông vẫn luôn luôn ao ước nơi chốn bên kia bức tường. Rồi cuối cùng ông đến được nơi ấy, và không còn phải nỗ lực và khao khát nữa. Bây giờ suốt ngày dài ông có thể uống thỏa thích hạnh phúc tuyệt vời từ những dòng suối bất tử. 

Nhưng Thánh Phê rô ở trên Thiên đường mới được hai tuần thì thiên thần đến gặp Chúa Giê su nơi Người ngự trên ngai, cúi đầu chào Người bảy lần, rồi báo cho Người biết Thánh Phê rô chắc phải sầu thảm lắm. Ông chẳng chịu ăn uống gì và mắt ông đỏ rực vì nhiều đêm mất ngủ. 

Nghe vậy Chúa Giê su liền đứng lên đi tìm Thánh Phê rô. 

Người tìm thấy ông ở một chỗ xa khuất, ở nơi ngoài cùng của Thiên đường, nơi ông nằm xuội ra trên mặt đất, tưởng chừng như chẳng còn sức để đứng lên, và ông xé quần áo của mình và rắc tro lên tóc. 

Khi Chúa Giê su thấy ông quá đau khổ, Người liền ngồi xuống đất bên cạnh ông, và nói chuyện với ông tựa như ngày xưa Người vẫn thường ngồi bên cạnh ông trò chuyện vào thuở họ đi nay đây mai đó khắp nơi trên trần thế khốn khổ này. 

“Thánh Phê rô ơi, điều gì khiến con đau khổ đến như thế?” Chúa Giê su hỏi. 

Nhưng Thánh Phê rô chẳng thể đáp lại vì ông đang quá đau khổ. 

“Điều gì khiến con đau khổ đến như thế?” Chúa Giê su hỏi lần nữa. 

Lúc Chúa Giê su nhắc lại câu hỏi, Thánh Phê rô tháo vương miện vàng ra khỏi đầu mình rồi ném nó xuống dưới chân Chúa Giê su như muốn nói ông sẽ không dự phần vào danh dự và vinh quang của Người nữa. 

Nhưng, tất nhiên, Chúa Giê su hiểu Thánh Phê rô đau khổ đến độ ông không biết mình làm gì. Người không lộ vẻ giận ông. 

“Con phải nói cho thầy biết điều gì khiến con âu sầu,” Người nói hết sức nhẹ nhàng như ngày xưa, giọng nói Người càng chan chứa thương yêu hơn nhiều. 

Nhưng đến đây Thánh Phê rô đứng phắt dậy; thế rồi Chúa Giê su nhận thức ông không chỉ quá đau khổ, mà còn rất phẫn nộ. Ông bước đến Chúa Giê su với đôi bàn tay nắm chặt lại và với ánh mắt giận dữ. 

“Bây giờ con không muốn phục vụ thầy nữa!” Thánh Phê rô nói. “Con cũng không muốn ở thêm một ngày nào nữa trên Thiên đường.” 

Chúa Giê su cố gắng làm cho ông bình tâm trở lại, như Người trước kia đã từng làm thế rất nhiều lần mỗi khi Thánh Phê rô nóng giận. 

“Thì con chắc chắn có thể ra đi, “Người nói, “nhưng trước tiên con hãy nói cho thầy biết điều gì khiến con không vừa ý.” 

“Con cho thầy biết con đã chờ đợi tự bao lâu phần thưởng tốt hơn như thế này khi cả hai thầy trò chúng ta chịu dựng đủ mọi thứ đau khổ ở dưới trần thế.” 

Chúa Giê su thấy lòng của Thánh Phê rô chất chứa đầy sân hận, nhưng Người chẳng giận ông. 

“Thầy bảo con tự do muốn đi đâu tùy ý,” Người đáp, “thầy chỉ mong sao con cho thầy biết điều gì khiến con khổ não.” 

Rồi, cuối cùng, Thánh Phê rô cho Chúa Giê su biết tại sao ông rất đau khổ. 

“Con có mẹ già,” ông thổ lộ, “mẹ con mất cách đây vài ngày.” 

“Bây giờ thầy biết tại sao con sầu não,” Chúa Giê su nói. “Con rất đau khổ vì mẹ con không được lên Thiên đường.” 

“Đúng như thế,” Thánh Phê rô nói xong bỗng cảm thấy đau khổ vô cùng liền than khóc thảm thiết. 

“Con nghĩ ít ra con cũng đã xứng đáng để cho mẹ con được lên đây chứ,” ông nói. 

Nhưng khi Chúa Giê su biết điều làm cho Thánh Phê rô đau đớn như thế, đến lượt Người cũng trở nên phiền muộn. Mẹ của Thánh Phê rô không phải là hạng người có thể lên được Nước Trời. Bà chỉ biết ky cóp tiền bạc chứ không bao giờ nghĩ đến điều gì khác, và bà chẳng bao giờ cho những người nghèo đến nhà bà nhờ vả dù chỉ một đồng xu hay một miếng bánh. Nhưng Chúa Giê su hiểu Thánh Phê rô không thể nào thấu hiểu được rằng mẹ ông là người quá tham lam và bủn xỉn nên không được hưởng chân phúc. 

“Thánh Phê rô này,” Người nói, “làm sao con biết chắc mẹ con sẽ cảm thấy vui vẻ khi ở đây với chúng ta?” 

“Đấy, bây giờ thầy lại nói như thế để không phải lắng nghe lời cầu nguyện của con,” Thánh Phê rô đáp. “Thử hỏi ai chẳng hạnh phúc khi ở trên Thiên đường?” 

“Những ai không vui với hạnh phúc của người khác thì không thể vui hưởng hạnh phúc ở đây,” Chúa Giê su đáp. 

“Như vậy ngoài mẹ con ra còn có những người khác cũng không nên ở đây,”Thánh Phê rô nói, và Chúa Giê su biết ông đang nghĩ về Người. 

Rồi Người chợt cảm thấy phiền muộn vì Thánh Phê rô đã đau khổ đến mức ông không còn biết mình nói năng gì. Người đứng một lát và mong Thánh Phê rô ăn năn, và hiểu mẹ ông không xứng đáng được lên Thiên đường, Nhưng lòng Thánh Phê rô vẫn không lay chuyển. 

Rồi Chúa Giê su gọi thiên thần đến và sai thiên thần bay xuống địa ngục để đưa mẹ của Thánh Phê rô lên Thiên đường. 

“Thầy hãy cho con thấy thiên thần đưa mẹ con lên đây bằng cách nào,” Thánh Phê rô nói. 

Chúa Giê su cầm tay Thánh Phê rô và dẫn ông đến vách núi cao dựng đứng tựa mà nghiêng về một bên. Và Người chỉ cho ông thấy ông chỉ cần cúi người ra vách đá chỉ một chút thôi là có thể nhìn thẳng xuống địa ngục. 

Khi Thánh Phê rô nhìn xuống, thoạt đầu ông không thấy gì giống như ông nhìn vào cái giếng sâu hun hút. Ông tưởng như vực thẳm vô cùng tận mở ra ngay dưới chân mình. 

Hình ảnh đầu tiên ông có thể nhận thấy lờ mờ là thiên thần đang bay xuống âm phủ. Thánh Phê rô thấy thiên thần bay rất nhanh xuống bóng tối dày dặc mờ mịt bên dưới mà không mảy may sợ hãi, chỉ vươn cánh ra một chút để không rơi xuống quá nhanh. 

Nhưng khi đôi mắt Thánh Phê rô đã hơi quen dần với bóng tối ông bắt đầu càng lúc càng thấy nhiều hơn, Trước tiên, ông thấy Thiên đường nằm trên dãy núi hình tròn bao quanh vực thẳm mênh mông, và đáy vực thẳm này là nơi ở của những âm hồn của những kẻ tội lỗi. Ông thấy thiên thần rơi, rơi hoài và rơi mãi mà vẫn chưa tới đáy vực. Ông chợt khiếp sợ vô cùng trước độ sâu khủng khiếp của vực thẳm. 

“Cầu mong thiên thần bay lên lại với mẹ con!” ông nói. 

Chúa Giê su chỉ nhìn ông với ánh mắt rất buồn. 

“Không có sức nặng nào nặng đến mức mà thiên thần của thầy không mang nổi.” Người nói. 

Sâu thăm thẳm dưới tận âm phủ nơi ánh sáng mặt trời không thể nào chiếu đến là nơi bóng tối ngự trị. Nhưng dường như thiên thần khi bay chắc mang theo ánh sáng bên mình nên nhờ đó Thánh Phê rô có thể thấy cảnh vật ở dưới đáy. 

Đó là sa mạc đá đen vô tận. Dưới đáy phủ kín toàn là những ngọn đá dựng đứng lởm chởm sắc nhọn. Giữa những ngọn đá này là những vũng nước đen lấp lánh. Không có một ngọn cỏ, không có một bóng cây, không có một dấu hiệu của sự sống. 

Nhưng hồn bị đọa đày lúc nhúc lổn nhổn khắp mọi nơi trên những ngọn đá sắc nhọn này. Họ bám trên đỉnh những vách đá dựng đứng mà họ đã trèo lên tới được ấy với hy vọng thoát ra được khỏi vực thẳm, nhưng khi họ thấy không còn chỗ nào để trèo tiếp lên được nữa, họ vẫn đu bám ở trên đấy, dù họ cực kỳ sợ hãi vì tuyệt vọng đau khổ. 

Thánh Phê rô thấy nhiều hồn ngồi hay nằm với hai cánh tay vươn ra trong niềm khao khát vô tận và mắt nhìn đăm đăm nhìn lên bên trên. Còn những hồn khác lấy hai tay che mặt lại như không muốn nhìn thấy cảnh ghê sợ tuyệt vọng chung quanh họ. Tất cả họ đều bất động; chẳng một ai đi lại. Nhiều hồn nằm hoàn toàn im lìm bất động trong những vũng nước, chẳng mảy may cố gắng đứng lên. 

Nhưng điều đáng sợ nhất là có hằng hà sa số những âm hồn bị sa đọa. Tưởng như dưới đáy vực thẳm chỉ toàn là thân với đầu chen chúc sát nhau. 

Thánh Phê rô chợt cảm thấy thêm mối lo sợ khác. 

“Thầy thấy đấy thiên thần không thể nào tìm ra mẹ con được.” Ông nói với Chúa Giê su. 

Chúa Giê su nhìn Thánh Phê rô vẫn với ánh mắt thật buồn như trước. Tất nhiên Người biết Thánh Phê rô không cần phải lo lắng cho thiên thần. 

Nhưng Thánh Phê rô thấy thiên thần dường như không thể nào tìm ra mẹ ông trong biển linh hồn bị đọa đày đông không kể xiết ấy. Thiên thần xoải cánh bay tới bay lui trên địa ngục để tìm mẹ ông. 

Bất ngờ một trong những hồn bị đày đọa đáng thương ấy chợt thoáng nhìn thấy thiên thần, ông ta liền nhảy lên và vươn hai tay về phía thiên thần và kêu to: 

“Hãy mang tôi đi với! Hãy mang tôi đi với!” 

Rồi bất ngờ cả biển hồn ấy sống lại. Tất cả hàng muôn ức triệu và hàng muôn ức triệu hồn bị đày đọa trong địa ngục tức thì cùng bừng tỉnh lại, và cùng giơ tay thật cao lên trên và đồng thanh kêu van thiên thần hãy đưa họ lên thiên đường chân phúc. 

Tiếng gào thét của tất cả các hồn từ đáy vực vang vút lên đến tận nơi Chúa Giê su và Thánh Phê rô đứng. Cả hai nghe mà thấy lòng mình đau như cắt. 

Thiên thần khẽ nghiêng qua nghiêng lại bên trên những hồn bị đọa đày; nhưng khi thiên thần bay tới bay lui tìm hồn, tất cả các hồn đều chạy ào như bị gió lốc cuốn theo sau thiên thần. 

Cuối cùng thiên thần chợt nhìn thấy hồn mình đang tìm. Thiên thần xếp cánh trên lưng lại và lao vút xuống như tia chớp. Thánh Phê rô bật ra tiếng reo vang sung sướng khi ông thấy thiên thần vòng tay quanh mẹ mình và nhắc bà lên. 

“Phúc thay cho ai đưa mẹ con lên với con thầy ơi!” ông nói. 

Chúa Giê su đặt nhẹ tay lên vai Thánh Phê rô như muốn khuyên ông biết đừng quá vội vui mừng. 

Nhưng Thánh Phê rô chực khóc vì quá sung sướng khi thấy hồn mẹ đang được cứu vớt. Ông hiểu giờ đây chẳng còn điều gì khác có thể chia lìa mẹ con. Hơn nữa niềm vui của ông càng tăng lên gấp bội khi ông thấy dù thiên thần nhắc mẹ ông lên rất nhanh nhưng một số hồn bị đọa đày vẫn bám được theo hồn mẹ ông mà sắp được cứu vớt, để họ cũng có thể tái sinh cùng với bà trên Thiên đường. 

Chắc có hơn chục hồn bám vào hồn mẹ già ông. Thấy thế Thánh Phê rô nghĩ đây quả là vinh hạnh rất lớn lao cho mẹ khi giúp đưa được nhiều chúng sanh đáng thương bất hạnh thoát ra khỏi đia ngục. 

Thiên thần cũng chẳng làm gì để ngăn cản những hồn này. Dường như hoàn toàn chẳng màng đến gánh nặng trên mình, thiên thần càng lúc càng bay bổng lên cao, và chuyển động hai cánh rất nhẹ nhàng tựa như mang con chim nhỏ đã chết lên trời. 

Nhưng rồi Thánh Phê rô thấy mẹ ông bắt đầu tìm cách thoát ra khỏi những hồn bị đọa đày đã bám vào bà. Bà nắm chặt tay họ để gỡ họ ra, thế rồi lần lượt từng hồn một rơi xuống lại địa ngục. 

Thánh Phê rô có thể nghe rõ tiếng họ khẩn cầu và van xin mẹ mình; nhưng bà già chẳng muốn bất kỳ ai chỉ ngoại trừ bà được cứu vớt. Bà càng lúc càng gỡ được nhiều hồn bám vào mình, và để họ rơi chìm xuống lại khổ đau. Khi họ rơi xuống, tiếng than van và nguyền rủa vang dậy khắp không gian. 

Rồi Thánh Phê rô gọi mẹ thật to để cầu khẩn mẹ hãy rủ lòng thương người, nhưng bà không chịu lắng nghe mà vẫn tiếp tục làm như vậy. 

Thánh Phê rô nhận thấy thiên thần khi mang càng nhẹ thì lại bay càng lúc càng chậm dần. Thánh Phê rô bỗng sợ hãi vô cùng đến độ chân đứng không vững nên phải quỳ xuống. 

Cuối cùng, chỉ còn một hồn bị đọa đày duy nhất vẫn bám cổ mẹ Thánh Phê rô. Hồn này là phụ nữ trẻ ôm cổ bà và van xin khóc lóc không ngừng vào tai bà để xin được bay cùng với bà lên Thiên đường hạnh phúc. 

Lúc này thiên thần đã mang họ đến gần sát Thiên đường đến độ Thánh Phê rô đã giơ tay ra sẵn để đón mẹ. Ông nghĩ thiên thần chỉ cần phải đập cánh thêm hai hay ba lần nữa là lên đến được đỉnh núi. 

Nhưng bất ngờ đôi cánh thiên thần hoàn toàn bất động, và sắc mặt thiên thần đổi sang màu đen như bóng đêm. 

Vì lúc này bà già đã vòng tay ra sau lưng và nắm lấy hai cánh tay của hồn phụ nữ trẻ đang ôm cổ bà, và rồi bà bấu và cấu xé mãi cho đến khi bà gỡ được hai bàn tay ôm cổ bà ra, để cuối cùng bà cũng thoát ra khỏi hồn cuối cùng đu bám theo mình. 

Khi hồn bị đọa đày ấy rơi xuống thiên thần như chẳng còn sức cất cánh trở lại cũng chìm xuống theo gần chục mét. 

Thiên thần nhìn bà già với ánh mắt rất buồn, rồi thả lỏng tay ôm quanh lưng bà ra, và thiên thần để cho bà rơi xuống như thể vì chỉ còn một mình bà thôi nên bà trở nên quá nặng đến mức thiên thần không thể nào mang nổi. 

Ngay sau đấy thiên thần đập cánh lần cuối rồi bay vút vào thiên đường. 

Nhưng Thánh Phê rô vẫn nằm ở nơi đấy thật lâu và khóc nức nở không thôi. Chúa Giê su đứng im lặng bên ông. 

“Thánh Phê rô này,” cuối cùng Chúa Giê su nói, “Thầy đã không bao giờ nghĩ con sẽ khóc như thế này sau khi con đã lên Thiên đường.” 

Lúc ấy người phục vụ già của Chúa Giê su ngẩng đầu lên đáp: 

“Thiên đường gì ở đây hở thầy, nơi con nghe bao tiếng than van của người thân yêu nhất và thấy muôn vàn khổ đau của đồng loại!” 

Mặt Chúa Giê su đượm vẻ buồn não vô cùng. 

“Thầy còn mong muốn gì hơn là tạo ra Thiên đường chỉ có ánh sáng và hạnh phúc cho tất cả mọi người?” Người nói. “Chẳng lẽ con không hiểu chính vì điều này mà thầy xuống dưới nhân gian để dạy con người hãy thương người như thương mình? Vì chừng nào họ không thương yêu nhau, thì dù ở trên trời hay ở dưới thế họ cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được nơi chốn nào để họ có thể tránh được mọi khổ đau.” 

Selma Lagerlöf (1858-1940) là nhà văn Thụy Điển. Bà là nhà văn nữ đầu tiên nhận Giải thưởng Nobel văn chương vào năm 1909. 

Nguồn: Từ tác phẩm Christ Legends của nhà văn Selma Lagerlöf, bản dịch tiếng Anh của Velma Swanston Howard, nhà xuất bản Henry Holt And Company, 1908, trang 203-219. Tựa đề tiếng Anh “Our Lord and Saint Peter”. Tựa đề tiếng Việt của người dịch. 

Toàn bộ tác phẩm Christ Legends qua bản dịch của Velma Swanston Howard được đưa lên mạng ở địa chỉ sau: 

http://www.holybooks.com/wp-content/uploads/Christ-Legends-by-Selma-Lagerl%C3%B6f.pdf

Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ký Sinh & Tầm Gửi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ký Sinh & Tầm Gửi

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Họa sỹ Lê Huy Cầm cho biết: “Vừa dứt xong cái tranh cho cựu sinh viên Đại Học Dalat sẽ đấu giá kiếm tiền cho sinh viên nghèo trong ngày họp mặt 20 năm.” Bên dưới thông tin này là lời nhắn của FB Hue Chau (“Nếu dành cho cựu SV ĐH Dalat pre 75 thì trên tháp chuông nhà Nguyện Năng Tĩnh kg phải là cái… ơi Lê Huy”) và hồi đáp của tác giả: “Sinh viên ra trường năm 2000 nên vẽ như vậy.”

Tôi rời Viện Đại Học Đà Lạt đã lâu, ngay sau Mùa Hè Đỏ Lửa, vào năm 1972. Gần nửa thế kỷ đã vụt đi với không biết bao nhiêu là nước suối, nuớc sông (cùng với nước mưa/nước mắt) đã ào ạt qua cầu và qua cống. Nhìn lại hình ảnh trường xưa không khỏi có thoáng chút bồi hồi, và cũng thấy có hơi hụt hẫng.

Tuy thế, tôi hoàn toàn đồng ý với lời giải thích thượng dẫn của tác giả bức tranh. Thấy sao thì vẽ vậy thôi. Mà sao vàng và cờ đỏ thì được “gắn” vào tất cả những công trình kiến trúc ở VN (trường học Yersin, nhà ga Đà Lạt, bưu điện Sài Gòn, Toà Đô Chính, Dinh Gia Long, Dinh Độc Lập …) chớ có sót chỗ nào đâu.

Ngó riết rồi cũng quen mắt thôi mà!

Chỉ riêng có “chỗ” này thì phải công nhận là nhìn hơi quá chướng, theo nhận xét của một nhà văn miền Nam – lần đầu đặt chân đến Hà Nội – hồi năm 1989:

“Ô nhưng cái gì thế kia? Trên đỉnh Tháp Rùa có một ngôi sao! Cái này ra ngoài dự kiến của tôi về cảnh trí ở đây. Tôi chợt hiểu và liên tưởng ngay đến các ngọn tháp chuông ở điện Cẩm Linh mà tôi thấy trên báo chí Liên Xô, trên mỗi tháp cũng có gắn một ngôi sao. Dấu hiệu của Cách Mạng.

Chỉ tiếc khi nhìn ngôi sao trên đỉnh tháp Rùa thì trí tưởng tượng của tôi về câu chuyện con rùa đòi thanh gươm của Lê Lợi không thể nào hoạt động được, nó tê cứng như con chuột bị con rắn thôi miên vậy.

Tôi tự hỏi có phải trong trường hợp nào cũng cần phải đem cái hiện tại đè lên trên cái cổ truyền như thế không. Thỏa mãn một nhu cầu nhất thời có khi lại làm hại một sự thành tựu đã lâu đời. Và nếu ‘ý chí’ muốn rằng cái nhất thời phải thành vĩnh viễn trong tương lai thì nên tạo ra một công trình mới, ở chỗ khác, chứ sao lại sống tầm gửi vào những gì đã thành lịch sử như thế.” (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. NXB Thế Kỷ: Westminster 1994).

Ah, thì ra thế! Thế ra là chủ trương “sống tầm gửi” có nguồn gốc tuốt bên Nga, quê hương cách mạng tháng mười, từ hồi đầu thế kỷ trước lận (và đã trở thành truyền thống chung của khối anh em vô sản trên toàn thế giới) chớ đâu có phải là chuyện tình cờ hay cá biệt! Tuy thế, khách quan mà nói, chính sách “tầm gửi” khi vào đến Việt Nam thì mới phát huy được thêm hai “mảng” mới tinh: đám thuyền nhân (boat people) và bọn công nhân xuất khẩu.

Những kẻ trôi sông lạc chợ này sinh sống gần như là một loài cá vậy, cá hồi. Họ được (hay bị)  Đảng và Chính Phủ đẩy ra khỏi nước, tứ tán khắp nơi, tha phương cầu thực. Tất cả đều chăm chỉ cần mẫn mưu sinh, và cần kiệm từng đồng, để mỗi khi hồi hương thì có được một mớ đô la nặng túi. Đó là chưa kể số tiền gửi về hàng qúi, hay hàng tháng, cứ như thể là đóng hụi (chết) vậy.

Theo trang VnEconomy: “Việt Nam tiếp tục trong top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Kiều hối chuyển về năm nay ước đạt 16,7 tỷ USD … tăng nhẹ so với 16 tỷ USD của năm 2018.” Nếu không có những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi (và nước mắt) của hàng triệu khúc ruột xa ngàn dặm thì cái  “chính phủ tầm gửi” hiện hành, chắc chắn, đã không thể nào tồn tại được tới ngày nay.

Trong cái đám dân bá vơ này (thảng hoặc) cũng có vài cá nhân nổi bật, được Nhà Nước VN đặc biệt quan tâm. Nghệ sỹ dương cầm Đặng Thái Sơn là một người như thế. Từ Nga, có lần, ông gửi thư về cho thân phụ (một nhân vật bất đồng chính kiến – nhà thơ Đặng Đình Hưng) với những dòng chữ nhạt nhoà nước mắt:

“Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…” (Thế Giang. “Cây Đắng Nở Hoa.” Thằng Người Có Đuôi. Nguời Việt: Westminster 1987).

Ngay sau khi “cây đắng nở hoa” thì … thánh đế hồi tâm. Đặng Thái Sơn được trao  danh hiệu Nghệ Sỹ Nhân Dân, cùng với nhiều lời tung hô thái quá (tung toé) trên khắp những trang báo quốc doanh:

  • Âm thanh thế kỷ 20 dưới tiếng đàn Đặng Thái Sơn
  • Huyền Thoại Dương Cầm Đặng Thái Sơn
  • Cánh chim tìm về tổ
  • Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn
  • Đặng Thái Sơn, những nổi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập

Bên cạnh câu chuyện đắng cay này, có không ít những lời bình vô cùng cay đắng:

  • Đặng Chương Ngạn“Tiền đi thi không cho, đến cả cái danh xưng thí sinh Việt Nam cũng không cho, nhưng sau khi đoạt giải lại nhận ông ấy là người Việt Nam.”
  • Lê Công Định: “Tôi nhớ ngày anh Đặng Thái Sơn đoạt giải về nước, cả hệ thống truyền thông bu lại ca ngợi đảng và nhà nước đã hun đúc tài năng của dân tộc!”
  • Hoàng Khởi Phong: “Cha anh, nhạc sĩ và nhà thơ Đặng Đình Hưng được nhìn thấy con ông như một con cá kình, quẫy thủng cái lưới mà thoát ra biển khơi.”
  • Nhat Vu Hong:“Chính vì sự bội bạc đó nên Đặng Thái Sơn không về VN mà định cư tại Canada.”
  • Son Nguyen & Bùi Phi Hùng: “Cũng giống như Ngô Bảo Châu, người Việt được chăm bón, vun trồng ở tận đẩu tận đâu rồi thành quả, về ‘báo công’ cho nhà nước hít hà, phả ra đầy khí quyển những lời hào sảng hết cỡ; đưa tất cả lên đỉnh, tưởng chừng như thế gian này chỉ còn có người Việt; người Việt sẽ làm cho TG thăng hoa…”

Trường hợp của G.S Ngô Bảo Châu thì tương đối vẫn còn mới mẻ, rất nhiều người biết nên cũng chả cần phải rườm lời, trừ sự kiện này: ông không phải là một con cừu nên không quen bám lề, và thỉnh thoảng lại đi “trật đường rầy” một khoảng (hơi) xa. Có lẽ xa nhất là lời bình luận của ông vào hôm 19 tháng 5 năm 2016, nhân ngày sinh nhật lần thứ 126 của Hồ Chí Minh: “Có quý‎ mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.”

Thế là Nhà Nước VN sùy chó ra cắn ngay:

  • Ngô Bảo Châutiếp tục cổ súy cho các hành động sai trái chống phá đất nước của những tên phản động như Lê Công Định, Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam, Mẹ Nấm…
  • Ngô Bảo Châumột con trâu biết làm toán
  • Ngô bảo Châuđã tìm cho riêng mình một con đường khác, đi ngược lại con đường mà đảng, Bác Hồ cùng nhân dân đã chọn hơn 70 năm qua…
  • Ngô Bảo Châutrên con đường ngụy dân chủ phản bội dân tộc.

Ngó bộ thì lũ chó này chưa chắc đã cắn rách được gấu quần của nạn nhân nhưng tư cách của đám chủ thì ai cũng nhìn thấy rõ: đồ ăn hại và phường vô lại.

Nguyễn Đức Chung và ‘họa anh hùng’

Nguyễn Đức Chung và ‘họa anh hùng’

Sự kiện ông Nguyễn Đức Chung, Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, Chủ tịch thành phố Hà Nội kiêm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội bị tạm giam hôm 28 tháng 8 vì “chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” đã tô vẽ thêm cho đại họa về… “anh hùng”.

***

Ông Chung trở thành “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân” năm 2004 và từ đó thăng tiến không ngừng: Phó Giám đốc, Giám đốc Công an Hà Nội, Chủ tịch thành phố Hà Nội, ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội…

Theo những thông tin do Bộ Công an công bố hồi cuối tuần trước, ngoài vụ án vừa kể, dường như, ông Chung sẽ còn bị khởi tố để điều tra thêm về một số hành vi phạm tội nữa vì là đồng phạm trong ba vụ án khác.

Vụ án thứ nhất “Vi phạm quy định về kế toán – rửa tiền, Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Nhật Cường. Vụ án thứ hai: “Buôn lậu, Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng – rửa tiền. Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Nhật Cường, Sở KH-ĐT Hà Nội và một số đơn vị liên quan. Vụ án thứ ba: “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Hà Nội (1).

Trên thực tế, cả công luận lẫn công chúng đã đề cập đến việc ông Chung có dấu hiệu phạm nhiều tội từ lâu, ít nhất là từ giữa thập niên 2010, khi Công ty Nhật Cường đột nhiên được chọn làm nhà thầu cung cấp các giải pháp kỹ thuật, công nghệ cho việc thực hiện kế hoạch quản trị – điều hành ở Hà Nội bằng mạng máy tính. Hay khi Công ty Arktic trở thành doanh nghiệp độc quyền cung cấp RedOxy-3C (sản phẩm xử lý ô nhiễm nguồn nước) cho Hà Nội (2)…

Tuy nhiên ông Chung vẫn… vô sự như ông Phan Văn Vĩnh – một “anh hùng” khác của “các lực lượng vũ trang nhân dân” … Ông Vĩnh trở thành “anh hùng” trước ông Chung vài năm và giống như ông Chung, ông Vĩnh thăng tiến không ngừng bất kể điều tiếng: Đại tá Giám đốc Công an tỉnh Nam Định, Thiếu tướng Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm, Trung tướng Tổng cục Trưởng Tổng cục Cảnh sát,…

Một năm sau khi nghỉ hưu, “anh hùng” Phan Văn Vĩnh mới bị khởi tố rồi bị tống giam với cáo buộc “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” – bày ra, sắp đặt để Công ty Đầu tư Phát triển An ninh công nghệ cao (CNC) tổ chức đánh bạc qua mạng Internet trên phạm vi toàn quốc. Thêm một năm nữa sau khi bị phạt chín năm tù vì tội vừa kể, ông Vĩnh bị khởi tố thêm tội “Ra quyết định trái pháp luật” (3).

Cho đến bây giờ, bảy năm sau khi ông Vĩnh ra lệnh bán vật chứng (615 khối gỗ trắc) của một “vụ án buôn lậu”, hệ thống tư pháp vẫn chưa thể khắc phục được hậu quả của quyết định càn rỡ ấy vì tòa xác định, các bị cáo chỉ buôn chứ không… lậu!

***

Ngoài những cá nhân… “anh hùng” đã xộ khám, Việt Nam còn có những tập thể… “anh hùng”. Nhìn một cách tổng quát, số “anh hùng” cá nhân hay “anh hùng” tập thể phá hơn… giặc càng ngày càng nhiều!

Sau khi xảy ra vụ thảm sát tại bãi đá Gạc Ma và để mất thêm hàng loạt bãi đá ở khu vực quần đảo Trường Sa, năm 1989, quân chủng Hải quân của Quân đội nhân dân Việt Nam được phong tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”. Tuy được phong tặng danh hiệu được xem là cao quý này sau hải quân hàng chục năm nhưng sau hàng chục vụ tai nạn xảy ra đối với các phi cơ quân sự. đến 2010, quân chủng Phòng không – Không quân cũng trở thành “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”.

Năm ngoái và năm nay, hai quân chủng “anh hùng” này nổi như cồn vì thi nhau bán công thự, công thổ, chỉ đạo tham gia các chương trình liên kết, liên doanh “trời ơi, đất hỡi”… Các Tư lệnh của quân chủng phòng không – không quân và hải quân người thì bị cách chức (Thượng tướng Phương Minh Hòa), người thì bị phạt tù (Đô đốc Nguyễn Văn Hiến), toàn bộ Ban Thường vụ Đảng ủy của các quân chủng phòng không – không quân (4), hải quân (5) cũng bị xử lý kỷ luật.

Bên cạnh những “Anh hùng các lực lượng vũ trang”, những cá nhân, tập thể là… “Anh hùng lao động” cũng y như thế. Ông Trương Văn Tuyến, Tổng Giám đốc VINASHIN, “Anh hùng lao động” đầu tiên của ngành dầu khí bị truy tố vì “lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” (6). Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) trở thành tập thể “Anh hùng lao động” năm 2011 và phá sản vì thua lỗ hơn 3.000 tỉ đồng.

Ê ẩm vì PVC tập thể “Anh hùng lao động” và Trịnh Xuân Thanh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVC, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phải thu hồi danh hiệu “Anh hùng lao động” của PVC và “Huân chương Lao động” đã cấp cho ông Thanh (7).

Việc tước danh hiệu “anh hùng” dẫu hi hữu nhưng không phải là chưa có tiền lệ. Năm 2014, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã từng tước danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang” của ông Hồ Xuân Mãn (8).

Ông Mãn được tặng danh hiệu “Anh hùng các lực lượng vũ trang” năm 2010 lúc đang là Bí thư tỉnh Thừa Thiên Huế. Các cựu chiến binh là đồng đội của ông Mãn mất bốn năm gặp gỡ nhiều người, tố cáo với nhiều nơi, rằng ông Mãn – điển hình của việc “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên toàn quốc – “khai man thành tích” và được cả tổ chức đảng lẫn hệ thống công quyền tiếp sức để trở thành… “anh hùng” giả!

Cuối cùng, do có rất nhiều nhân chứng còn sống, nhiều tài liệu còn được lưu giữ cẩn thận, cả đảng và nhà nước phải nhìn nhận ông Mãn đã… man khai. Trong 17 thành tích mà ông Mãn liệt kê và được tổ chức đảng cũng như hệ thống công quyền ở Huế xác nhận, chỉ có 2/17 là đúng. Tuy nhiên một trong hai không được đồng đội của chính ông Mãn đồng tình xem là thành tích…

Năm 1972, khi còn là du kích, ông Mãn đã xả súng vào một đám giỗ ở ấp Phò Ninh (xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế) để giết Trưởng ấp. Tuy vụ xả súng vào đám giỗ – có cả ông nội của ông Mãn ngồi tại đó – giết được Trưởng ấp nhưng làm chín thường dân (bao gồm ba đứa trẻ) mất mạng, tám người bị thương và toàn bộ nạn nhân không phải bà con thì cũng là hàng xóm nhưng lúc báo công, ông Mãn vẫn xếp toàn bộ nạn nhân vào loại ác ôn, có… nợ máu với nhân dân (9)…

***

Chẳng rõ trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng, có nơi đâu, thời nào, “anh hùng” liên tục gieo rắc đại họa cho dân lành như lúc này ở Việt Nam. “Anh hùng” từ đâu mà ra và vì sao lại thế?

CHẶN DÂN ĐỦ ĐƯỜNG…

8 SÀI GÒN

CHẶN DÂN ĐỦ ĐƯỜNG…

Nhân dân chẳng lẽ không còn cái quyền cơ bản với một đại biểu quốc hội (dân biểu) đang đại diện cho chính mình, dù đó chỉ là mặt hình thức?

Ít ra, chính các cơ quan công quyền phải ngay lập tức cho điều tra số tiền mua quốc tịch của đại biểu quốc hội để làm rõ có hay không việc rửa tiền, tham nhũng hoặc vấn đề khác.

Tuyên giáo thành uỷ của một thành phố có thẩm quyền gì để nói về vấn đề tài sản của đại biểu trước nhân dân?

Ông ta đã đi quá xa với số tiền khổng lồ không rõ nguồn gốc, trong khi vị này lại khuyên nhủ nhân dân đừng nên đi quá xa một vấn đề nghiêm trọng.

Bảo sao tham nhũng chẳng những không giảm mà còn thách thức cả chính phủ như đã từng thừa nhận chính nó không thể chống được tham nhũng.

Đây là một lời tuyên chiến chống lại việc chống tham nhũng của chính Đảng của các ông khơi mào và hô hào thực thi.

LUÂN LÊ

***

TIẾC GÌ CÁI THỨ NHƯ…

Ông Phạm Phú Quốc?!

Mặc dù đích xác Phạm Phú Quốc là kẻ hai lòng, không trung thực với tổ chức, gian dối với nhân dân.

Nhưng chiều nay, khi lãnh đạo TP.HCM họp thông tin sau nhiều ngày im lặng, tôi đọc chỉ nghe thấy lãnh đạo toàn tiếc nuối với mong đừng suy diễn thêm về trường hợp của Phạm Phú Quốc.

Tình thương đặt không đúng đối tượng chính là nhẫn tâm với đám đông còn lại.

Hay là tương lai sẽ xét lại vua Lê Chiêu Thống là hôn quân hay minh quân, nhỉ?!

Chứ lẽ ghét thương của quan nhân khó dzị, thứ dân phải sống làm sao.

Sát nhân thì báo giới bắt đầu bằng, “… ở nhà là một đứa trẻ ngoan, lễ phép hay giúp đỡ hàng xóm”.

Quan nhân đương nhiệm lừa dối hai quốc tịch, ăn cây táo rào cây sung thì, “…lấy làm tiếc”.

Tôi đọc bao nhiêu lời dạy của tiền nhân, hoá ra đều sai cả ư?!

Ai lại đi tiếc cho kẻ làm quan lại sở hữu thêm một quốc tịch sơ-cua bao giờ?!

Hay là tiếc cho chính bản thân vì dự tính theo chân, nhưng phút chốc bỗng xa diệu vợi.

Lãnh đạo thành phố tiếc cho Phạm Phú Quốc không bằng thiếu niên tiếc vì idol Khá Bảnh đi tù đâu.

Thân làm lãnh đạo mà đến xác định đối tượng ghét yêu còn sai lệch, thì lấy gì Phạm Phú Quốc không nhơn nhơn, “Tui có hai quốc tịch là do vợ bảo lãnh”.

Sao lãnh đạo thành phố không tiếc cho niềm tin của nhân dân dành cho tổ chức đã bị Phạm Phú Quốc công nhiên cướp mất?!

NGÔ NGUYỆT HỮU

TAO BỊ TÂM THẦN MÀ MẦN TỔNG BÍ THƯ ĐÓ! ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG TAN HOANG MỚI LẠ!

TAO BỊ TÂM THẦN MÀ MẦN TỔNG BÍ THƯ ĐÓ! ĐẤT NƯỚC NÀY KHÔNG TAN HOANG MỚI LẠ!

__________________________________________________

Thông tin Đỗ Mười từng mắc bệnh tâm thần đã được nhiều tài liệu ghi lại. Trong sách Bên Thắng Cuộc, phần 2 – Quyền Bính, nhà báo Huy Đức viết:

“Giữa thập niên 1990, thỉnh thoảng, bị cánh nhà báo chặn lại khi vừa bước từ toilet ra, Tổng Bí thư Đỗ Mười, với quần quên kéo khóa, leo lên chiếc bàn nước nhỏ đặt phía sau Hội trường Ba Đình, ngồi xếp bằng vui vẻ chuyện trò với dân báo chí. Nhiều khi cao hứng, ông nói: “Tôi đã từng bị thần kinh đấy”. Không phải ông nói đùa, theo ông Nguyễn Văn Trân, Bí thư Trung ương Đảng khóa III, người từng hoạt động với ông, có thời gian ông Đỗ Mười bị bệnh thần kinh, gần như không thể làm việc, có lúc lên cơn, ông phải dùng một cây gậy múa cho hạ nhiệt, có lúc người ta thấy ông Đỗ Mười một mình leo lên cây… Năm 1963, ông đã phải đi Trung Quốc chữa bệnh tới mấy năm mới về Việt Nam làm việc”

Còn trong quyển sách Đèn Cù, quyển 2, nhà văn Trần Đĩnh cũng ghi lại rằng:

“Các lão thành hỏi nhau có nhớ hồi nào Đỗ Mười điên nằm Việt – Xô. Lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết.”

Có lẽ do di truyền, nên con cháu của Đỗ Mười cũng đều bị mắc bệnh tâm thần tương tự.

Dù có tiền sử bị bệnh tâm thần, nhưng Đỗ Mười vẫn là một nhân vật đầy quyền lực trong chế độ CSVN. Sau năm 1975, ông này là nhân vật cầm đầu chiến dịch đánh tư sản, đổi tiền… khiến toàn bộ nền kinh tế miền Nam xụp đổ, tài sản nhân dân bị mất trắng.

Nhờ những ‘chiến tích’ này, Đỗ Mười đã leo lên đến chức thủ tướng CSVN từ năm 1988 đến 1991, sau đó trở thành tổng bí thư cho đến mãi tận năm 1997.

Đỗ Mười cũng là nhân vật chịu trách nhiệm chính về thỏa ước bán nước năm 1990 tại Hội Nghị Thành Đô cùng với Lê Đức Anh và Nguyễn Văn Linh.

Dân gian kể rằng, thời trước ‘cách mạng’, Đỗ Mười có nghề gia truyền là thiến heo, hay còn gọi là hoạn lợn. Từ năm 1961 đến 1967 thì bệnh tâm thần tái phát nên phải sang Trung Cộng chữa trị.

Theo nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, Đỗ Mười tiết lộ ‘bí quyết’ chữa khỏi bệnh tâm thần là nhờ… đi bộ.

(Từ Bên Thắng Cuộc & Đèn Cù)

__________________________

Ảnh đen trắng: Nhà toán học Ngô Bảo Châu báo cáo trước nhà tâm thần Đỗ Mười. Há há há!

Ảnh màu: Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh chú thích trên facebook như sau: “Cái nầy cũng là đồ cũ cách đây hơn 20 năm, chừ dọn lại nhà mới thấy. Lúc ấy đang chọc giận ông ĐM. Qua vụ phỏng vấn nầy ông tiết lộ với tui, ông từng bị bệnh tâm thần sau nhờ chơi môn thể thao là đi bộ thì mới chữa hết bệnh.”

Gia đình tôi sẽ không bao giờ khuất phục các ông.

Trần Bang

Thu Đỗ  is with 
Trịnh Bá Khiêm .
Hôm nay anh Huy công an khu vực(người hôm qua đưa giấy triệu tập tôi) có gọi điện cho anh trai của anh rể tôi và cũng xin luôn số gọi cho anh rể tôi nhờ anh rể tôi giúp anh ta bảo tôi gỡ đoạn quay trực tiếp tối qua. Anh ta đã bị kỉ luật và đã ghi bản kiểm điểm rồi.

Đây là lần đầu tiên anh rể tôi nhờ nên tôi sẽ không từ chối nhưng đây cũng sẽ là lần cuối cùng tôi sẽ giúp anh trong những trường hợp như này.

Nhưng trước khi tôi gỡ tôi, tôi xin tường thuật buổi làm việc này.

Anh Huy công an khu vực đưa giấy triệu tập cho tôi và mời tôi vào lúc 2h chiều ngày 3/9/2020 đến 89 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội để làm việc liên quan đến chồng tôi là Trịnh Bá Phương.

Tôi nói là tôi không đi được:

Thứ nhất là con tôi mới 2 tháng tôi không thể đi được

Thứ hai là cấp trên của các ông bắt cả 3 người trong gia đình tôi, tôi còn phải đi làm kiếm sống để nuôi gia đình tôi chứ, các ông có nuôi được gia đình tôi không.

Nếu các anh muốn làm việc thì các anh đến nhà tôi.

Và tôi cũng hỏi anh ta là người dân ở đây nói với tôi rằng có người hỏi công an phường Dương Nội rằng tiền covid đâu sao không thấy, anh ta nói rằng tiền này gom hết lại hỗ trợ tôi nuôi 2 con nhỏ, vì họ đã bắt cả 3 người trong gia đình tôi. Tôi nói rằng từ đầu dịch đến nay gia đình tôi chưa nhận được một đồng nào, một hạt gạo cũng như một cái khẩu trang nào. Tại sao lại nói hộ trợ gia đình tôi, các ông điêu thế, không phải thích nói gì thì nói đâu.

Qua đây tôi cũng yêu cầu người phát ngôn ra câu này phải xin lỗi tôi và gia đình tôi.

Và tôi cũng hỏi luôn các ông, các ông nghĩ gì khi bắt cả 3 người trong một gia đình khi mà vợ người ta mới đẻ được 4 ngày. Nếu các ông có con và có mẹ thì các ông hỏi vợ mình, mẹ mình xem vợ và mẹ các ông như thế nào, sẽ sống ra sao. Chắc các ông cũng hiểu.

Bây giờ các ông còn muốn gì nữa hay muốn bắt nốt người trong gia đình tôi.

Nếu như có thể bắt cả nhà tôi không thấy tội lỗi, áy náy với lòng mình vì lòng tham mà bất chấp tất cả thì cứ việc bắt hết đi

Gia đình tôi sẽ không bao giờ khuất phục các ông.

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

Image may contain: 1 person, standing
International Youth Movement For Human Rights

“THỰC TẾ” VÀ “THỰC DỤNG”

Có một lần, một người bạn Mỹ dạy học chung với tôi bảo với tôi rằng: “Người Việt Nam bọn mày lúc nào cũng bảo người Mỹ bọn tao sống thực dụng. Bọn tao không sống thực dụng mà sống thực tế. Tao ở Việt Nam hơn chục năm nay thấy người Việt Nam mới sống thực dụng“.

Hơi nóng mặt, tôi hỏi lại: “Thế mày định nghĩa thế nào là thực tế, thế nào là thực dụng?”

Bạn tôi bảo:

“Sống thực tế là hiểu rõ thực trạng cuộc sống, không mơ mộng hão huyền hay tìm cách trốn tránh thực tại.

Sống thực tế là hiểu rõ năng lực và giá trị thực của bản thân để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.

Còn sống thực dụng là bất chấp thực tế, bất chấp năng lực thực sự của mình ra sao mà chỉ chăm chăm giành được cái lợi nhỏ trước mắt, ngoài ra mặc kệ hậu quả sau này nghiêm trọng thế nào.”

Đã từng sống ở Mỹ một thời gian dài, tôi biết bạn tôi nói đúng.

Ở Mỹ, học sinh học vừa sức, không nhồi nhét, không quan tâm đến thành tích và cũng không có khái niệm trường chuyên lớp chọn. Bằng cấp đối với họ chỉ là một tờ giấy chứng nhận rằng họ đã đạt yêu cầu về mặt kiến thức lẫn chuyên môn ở một trình độ nhất định, không có gì ghê gớm cả. Cái họ quan tâm là trên thực tế, năng lực và kiến thức của anh có tương xứng với bằng cấp và vị trí của anh trong xã hội hay không. Ở Việt Nam thì bằng cấp và thành tích là thước đo quyết định địa vị cũng như thu nhập. Cha mẹ ép con cái học cố sống cố chết để vào trường chuyên lớp chọn rồi vào đại học. Học xong đại học thì phải cố bơi cho được cái thạc sĩ. Tất cả không phải vì kiến thức mà chỉ vì chỗ đứng trong xã hội. Kết quả là học được gì không quan trọng, có sử dụng được không cũng không quan trọng, thậm chí bằng giả cũng chả sao. Cái quan trọng nhất là kiếm sao cho được nhiều tiền.

Ở Mỹ, mỗi lần một công trình được thi công, người ta phải tính toán sao cho thiên nhiên ở đó bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất, hệ cân bằng sinh thái ít bị tổn hại nhất, môi trường sống của người và động thực vật không bị phá hoại, vì họ hiểu được một vấn đề thực tế rằng tài nguyên thiên nhiên là những di sản vô giá bắt buộc phải bảo tồn cho thế hệ sau.

Còn ở Việt Nam, miễn là kiếm được ít tiền bỏ túi, người ta sẵn sàng xả độc ra biển, hút cát dưới sông, phá rừng xây thuỷ điện, thậm chí san bằng cả một khu bảo tồn sinh thái độc đáo để xây resort, gắn cáp treo bất chấp hậu quả về sau.

Ở Mỹ, người dân quan tâm đến bầu cử, đến chính trị vì họ biết họ có quyền công dân cũng như mọi quyết định chính trị của họ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của gia đình họ.

Ở Việt Nam, người dân chỉ lo kiếm tiền vun đắp cho bản thân được ngày nào hay ngày nấy. Họ thờ ơ dửng dưng với những bất công tiêu cực của xã hội miễn sao những điều đó không xảy ra với họ là được. Tham nhũng tràn lan, nợ công tăng vọt, doanh nghiệp quốc doanh thất thoát nghìn tỉ… đối với họ đều không phải là vấn đề đáng bận tâm nếu ngày mai vẫn còn bia để dô dô.

Ở Mỹ người dân thể hiện lòng yêu nước bằng cách gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự cường thịnh của quốc gia. Họ không làm những điều có lợi cho bản thân nhưng đi ngược lợi ích cộng đồng.

Ở Việt Nam, người ta thể hiện lòng yêu nước bằng cách ngồi tự hào khoe khoang bề dày lịch sử dân tộc với những chiến công của tổ tiên, hoặc lên cơn mê sảng vì một giải bóng đá khu vực hoặc lên mạng không tiếc lời thoá mạ một thằng Tây nào đó dám cả gan nói xấu Việt Nam. Còn lại họ thản nhiên dùng đủ mánh khoé xấu xa để giết đồng bào mình và trục lợi từ việc đó, từ việc rải đinh ra đường cho tới việc bơm hoá chất độc hại vào thực phẩm.

Ở Mỹ, người dân cân bằng cuộc sống bằng niềm tin tôn giáo. Họ đến nhà thờ để tìm sự yên bình trong tâm trí và sinh hoạt cộng đồng giúp đỡ những người cùng đức tin.

Ở Việt Nam, người ta đi lễ chùa, đền, miếu cầu tiền bạc, cầu trúng số, cầu thi đậu, cầu chức quyền… như thể thánh thần sẽ vì những thứ hương hoa xôi thịt rẻ tiền mà thoả mãn lòng tham không đáy của đám người trần mắt thịt.

Ở Mỹ, những dịp cưới hỏi hay ma chay, giỗ chạp là những sự kiện riêng tư. Họ tổ chức đơn giản, trang trọng và chỉ mời những người thực sự có ý nghĩa với họ.

Ở Việt Nam, ma chay hiếu hỉ cưới xin là những dịp tốt để làm rùm beng tốn kém vừa để chứng tỏ với thiên hạ vừa để kiếm tiền mừng.

Ở Mỹ, người ta dạy trẻ con cách tự lập, cách ứng xử giao tiếp, cách bảo vệ bản thân không bị xâm phạm, cách thoát hiểm… những kĩ năng thực tế con người cần để tồn tại và phát triển trong xã hội.

Ở Việt Nam, người ta nhồi vào đầu bọn trẻ một mớ kiến thức cao siêu nhưng vô dụng với đích đến là những bằng cấp.

Ở Mỹ, người ta đánh giá trí thông minh và năng lực của con người qua sự sáng tạo, phát minh và đóng góp cho xã hội. Anh là ai không quan trọng, miễn sao anh có đóng góp cho xã hội thì anh sẽ được sự công nhận và tưởng thưởng xứng đáng.

Ở Việt Nam, năng lực của con người được đánh giá qua, gốc gác, sự khôn lỏi ma lanh và khả năng dùng thủ đoạn để thăng tiến. Đóng góp cống hiến là chuyện hết sức xa vời.

Lối sống thực tế và lối sống thực dụng không hề giống nhau mặc dù chúng dễ gây ra nhầm lẫn. Lối sống thực tế mang đến những sự phồn vinh vững mạnh và lâu dài vì nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của những giá trị thực.

Ngược lại lối sống thực dụng triệt tiêu và đảo lộn những giá trị thực tiễn để tạo ra cái lợi nhỏ trước mắt, để lại những tác hại khôn lường. Chọn lối sống thực dụng, chúng ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt cho lựa chọn thiếu sáng suốt này.

VH

CÓ LẼ, CHÚNG TA CẦN QUỲ XUỐNG.

CÓ LẼ, CHÚNG TA CẦN QUỲ XUỐNG.

“Có lẽ, chúng ta cần phải quỳ xuống xin lỗi những đứa trẻ Việt Nam. Con cháu của một dân tộc đang chứng kiến sự nhu nhược, suy đồi và bế tắc từ cha anh của chúng.”

(Nhạc sỹ Tuấn Khanh)

……….

Trong cùng một thời điểm,

tin tức về những đứa trẻ tội nghiệp ở Việt Nam ập vào lòng nhân ái đang đau yếu của người Việt, không khác gì một cú knock-out chí mạng.

Chúng ta – những người trưởng thành – đều lảo đảo theo những cách khác nhau.

Cuối tháng 8/2019, bé Đặng Thùy Trâm 10 tuổi, theo bà ngoại đi mò cua bắt ốc mưu sinh ở Vịnh Cam Ranh bị nước cuốn đi mà chết.

Nhưng cùng với cháu, là 4 nhân mạng gia đình nghèo khó ấy cũng chết chìm theo trong buổi nhặt nhạnh cuối cùng đó.

Báo Tuổi trẻ cho hay.

Cũng trong tháng 8, chuyện 2 đứa bé gái sống trong gia đình bên nội, bị tất cả gã đàn ông cưỡng hiếp, ép làm nô lệ tình dục từ lúc 10 tuổi đến 17 tuổi.

Thời gian súc vật đó kéo dài suốt nhiều năm ở Xã An Trường A, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, xóm làng ai cũng biết nhưng không hiểu sao chính quyền địa phương cứ làm ngơ.

Mới đây, một nhóm phụ nữ làm từ thiện đến tìm hiểu và tìm cách giải cứu cho em gái nhỏ, đã bị cả gia đình đó chặn đường, hành hung, dọa giết vì sợ bị cướp đi nguồn vui thú của họ.

Chuyện đồi bại huyên náo đến mức quanh vùng đều biết, chỉ những người cần phải biết thì không.

Và cuối tháng 8, những tin tức ngày càng lộ rõ ở trường Gateway, Hà Nội, cho thấy một bé trai 6 tuổi đã chết oan khuất tại nhà trường, không như những giả thuyết đánh lạc hướng đầy tính nghiệp dư của công an điều tra và ban giám đốc nhà trường, nơi được nói đến là có liên quan đến việc làm ăn của con gái đương kim thủ tướng. Nếu không có giới truyền thông tự do trên internet, không có những phụ huynh xót xa,

những người vô danh giận dữ lên tiếng vì sự mờ ám, có lẽ, mọi sự đã được dàn xếp trở thành một cái chết ngớ ngẩn không liên quan đến trường Gateway đang ăn nên làm ra.

Theo kịch bản, bé sẽ được chết nhạt nhòa trong nền đạo đức xã hội chủ nghĩa. Không những bé trai đó, người phụ nữ đưa đón học sinh có lẽ cũng có một số phận không lành, vì sự bộc trực của bà.

Sống hay chết, trẻ em Việt đều đang bấp bênh trước những cửa ngõ vào đời, bất chấp đầy dẫy các hội, đoàn nhân danh các em mà được xênh xang, bất chấp các lời cam kết, tuyên thệ thơm phưng phức lấy ra từ các lò bánh vẽ mỗi ngày.

Số phận có công lý của nó. Những số phận nghèo hèn hay cao sang, đều có những kịch bản-công lý bất ngờ.

Trong thế giới duy vật đắc chí hôm nay, mọi nỗ lực thực tế bằng tiền của hay địa vị để mưu cầu một vị trí vượt lên đồng loại, cũng không thể chọn lựa được màu của số phận.

Ngay vào lúc nhà nước giương cao ngọn cờ mãi miết vinh thân phì gia, người dân chỉ nên lo kiếm cái ăn cái mặc, những chuyện khác “hãy để cho nhà nước giải quyết”,

những ví dụ ập đến, bộc lộ cốt lõi đang sụp đổ của một xã hội chỉ còn phục vụ ánh nhìn duy lợi.

Chết nhiều thật.

Những con số người Việt chết hàng năm vì ung thư, tử nạn vì giao thông, chết vì tiêm chích, dịch bệnh, chết vì lũ lụt, chết trong đồn công an…trở nên là những cột mốc cao ngất, cao như một cường quốc về cái chết.

Khổ nạn nhiều thật.

Những câu chuyện kể trong thời kết nối vũ trụ nghe mà sợ.

Ô nhiễm tràn các con đường, bờ biển, đô thị.

Đất đai bị cướp cho dự án, cho âm mưu, rừng núi trơ trọi và sông hồ cạn kiệt, người lên tiếng bị tù đày, tín ngưỡng truyền đời bị càn quét… đất nước chữ S ngày càng cong quặn vì những khổ nạn chất chồng.

Nhưng chúng ta, có thể đáng chết, có thể đáng phải nhận khổ nạn, nhưng con cháu chúng ta không đáng phải nhận những gì đang thấy, đang diễn ra hôm nay. Lẽ ra, những đứa trẻ Việt Nam phải có một cuộc sống khác, một tương lai khác.

Lẽ ra, non nửa thế kỷ với một chính quyền thống nhất địa lý, trẻ em Việt phải được hưởng thụ một xã hội có một lộ trình tương lai khác.

Có lẽ, chúng ta cần phải quỳ xuống xin lỗi những đứa trẻ Việt Nam.

Con cháu của một dân tộc đang chứng kiến sự nhu nhược, suy đồi và bế tắc từ cha anh của chúng.

Khổ nạn hay cái chết của chúng không phải là may rủi, mà là sự thỏa hiệp và cam chịu tệ hại của chúng ta.

Có lẽ, chúng ta cần quỳ xuống xin lỗi những gia đình mang khổ nạn, đang chịu những cái chết. Vì họ là đồng bào.

Vì họ cùng chia sẻ đất nước này với chúng ta trong thế kỷ bị nhà cầm quyền dẫn dắt vào mê lộ duy lợi, chỉ còn biết đến mình, tranh nhau vượt lên và hài lòng vì thấy mình đã khôn khéo hay khỏe mạnh nhất, để giành được chỗ đứng gần máng ăn của nông trại-người.

Chúng ta xin lỗi vì đã mê mãi trong cuộc đua vô nghĩa, mà đau đớn nhất, con chuột đến nhất trong cuộc đua chuột, vẫn chỉ mãi là một con chuột.

Chúng ta cần xin lỗi tổ tiên, đất nước này.

Vì lẽ nơi chốn đã cưu mang chúng ta, nhưng chúng ta đã quá hèn yếu và bất lực, đã để mặc cho những người cầm quyền tham danh hám lợi, đưa cuộc sống chúng ta thành một bàn cờ, mà mỗi nước đi chỉ thí mạng con người cho việc dựng lên những lâu đài mới, dòng tộc tự xưng và những bài hát màu hồng về số phận, khổ nạn, về cái chết của chúng ta, của chính con cháu chúng ta.

(Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

Image may contain: one or more people, people sitting and outdoor