Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, người xây nhà tĩnh tâm giữa sa mạc

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, người xây nhà tĩnh tâm giữa sa mạc

 Vũ Đình Trọng/Người Việt

LUCERNE VALLEY, Califonia (NV) – Câu chuyện một linh mục từ Việt Nam sang Mỹ du học, rồi ở lại xây một đan viện trên một mảnh đất khô cằn rộng 80 mẫu, nằm trong vùng sa mạc, quả là một chuyện khó tin.

Đức Giáo Hoàng Francis chúc lành cho công trình Đan Viện Thánh Guise. Bên cạnh là Linh Mục Phạm Sĩ Hanh. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Càng khó tin hơn, khi trong tay ông không có một đồng nào, và các mối quan hệ xã hội, chỉ gói gọn từ linh mục bề trên, những người bảo lãnh ông du học, và một vài giáo dân thương mến ông.

Khởi đầu của Linh Mục M. Anthony Phạm Sĩ Hanh chỉ có thế!

Hành trình tìm mảnh đất xây dựng Đức Tin

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh thuộc dòng Xitô (O.Cist) Hà Tĩnh, Việt Nam. Năm 2001, ông nhận được một học bổng năm năm từ nhà dòng chiêm nghiệm Biển Đức ở tiểu bang Pennsylvania.

Ông kể: “Bắt đầu bề trên cho tôi học đan tu để hướng dẫn cho các thầy sau này hiểu được nguồn gốc đời sống đan tu, hướng đi, đánh giá của giáo hội. Sau một năm, bề trên kêu tôi đổi sang học chuyên về Kinh Thánh. Học Kinh Thánh được một năm thì đổi sang học làm nhà dòng.”

Học được gần hai năm, môt số giáo dân ở Mỹ gợi ý ông mở trung tâm tĩnh tâm. Đó là nhu cầu về tâm linh, họ muốn có nơi đến để tìm lại mình qua lời kinh cầu, qua suy ngẫm, để gội rửa vẩn đục tâm hồn.

“Giáo dân biết tôi ở dòng chiêm niệm, nên mới đề nghị như thế. Đó vừa là nhu cầu của họ, vừa là tình yêu mến giáo dân dành cho tôi. Chính gợi ý đó, bề trên của tôi họp, bàn tính, hỏi han. Thực sự tôi được đi du học để về nước làm thầy giáo. Theo đức tin, những chuyện tôi làm ở đây, đều là sự an bài từng bước của Chúa.”

Nếu có “sự an bài của Chúa” như tâm tình của Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, thì chắc chắn, “sự an bài đầu tiên” là cuộc gặp gỡ giữa ông và hai gia đình Công Giáo, anh chị Bằng-Hằng, và anh chị Hải-Hồng, tại Pennsylvania. Hai gia đình không chỉ “hối thúc” ông mua đất, mà còn sẵn sàng tặng ông 20% số tiền đặt cọc để làm thủ tục sang nhượng.

Không tìm được đất ở Pennsylvania, họ tiếp tục về California tìm tiếp, để rồi “sự an bài cuối cùng” về miếng đất xây đan viện xuất hiện.

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Vũ Đình Trọng/Người Việt)

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh kể: “Tháng Mười, năm 2004, tôi về Quận Cam (California) tham dự ‘Hành Trình Emmaus’ lần đầu tiên được tổ chức tại đây. Hai gia đình chị em Hồng và Hải cũng về đây chở tôi đi tìm đất. Ba ngày trời tìm mệt mỏi vẫn không có miếng đất nào phù hợp để mở đan viện. Tôi quyết định mai bay về Pennsylvania. Chuyện mua đất cứ để Chúa lo.”

Buổi chiều cuối cùng ở California, trên đường xem đất về, cả nhóm ghé vào một văn phòng địa ốc chào tạm biệt cô Teresa, người đã giúp đỡ họ rất nhiều trong thời gian qua. “Dù không mua được miếng đất nào, nhưng phải cảm ơn cô ấy vì sự nhiệt tâm đáng quý,” Linh Mục Phạm Sĩ Hanh nói.

“Đúng lúc chúng tôi đến, cô Teresa đang tiếp hai vợ chồng muốn bán miếng đất 80 mẫu của họ ở sa mạc.”

Linh Mục Hanh nghĩ “như một phép lạ,” vì đúng lúc gần như tuyệt vọng, ông lại nhận được “ánh sáng cuối đường hầm.” Ông quyết định dời ngày về Pennsylvania, để đi xem đất. Miếng đất nằm ở đằng sau đường cao tốc 247, “tuyệt đẹp” như ước muốn của ông: Rộng rãi, có núi, không bị ồn vì tiếng xe cộ, không một bóng nhà. vì chẳng có ai ở, nên không có hệ thống điện, nước.

“Tôi tin đây là cách Chúa đặt trách nhiệm vào tôi, bắt tôi khởi đâu bằng một nơi nắng gió, không điện, không nước. Chúng tôi bắt đầu tạo dựng đan viện như vậy đấy.”

Khó khăn chưa hết cho người “không đồng xu dính túi” như Linh Mục Hanh. Khó khăn đến, không từ người bán đất, mà từ cộng đoàn người Mỹ ở Pennsylvania, nơi bảo lãnh ông qua Mỹ du học.

“Họ không chấp nhận cho tôi mua đất vì tôi làm gì có tiền. Luật sư của họ giải thích rất rõ, rất có lý rằng, tôi mới qua Mỹ không người thân thích, tiếng Mỹ không rành, lại không làm ra tiền, nên rất phiền toái nếu sau này có chuyện gì liên quan đến pháp luật.”

“Ngày cả Cha Viện Phó Pier, cũng dùng thành ngữ ‘you’re dead meat’ để cảnh báo rằng tôi đang gặp một rắc rối nghiêm trọng.” Linh Mục Phạm Sĩ Hanh nói tiếp: “Tôi phải thuyết phục cha viện phó rằng hai gia đình giúp tôi qua Mỹ với hai bàn tay trắng. Giờ họ là triệu phú nhờ cố gắng làm việc cật lực. Họ cho tôi 20% tiền đặt cọc mua đất, tôi không nghĩ là họ ‘ngu ngốc.’”

Toàn cảnh Đan Viện Thánh Giuse tại vũng sa mạc Lucerne Valley, California. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Cuối cùng Linh Mục Hanh cũng thuyết phục được Viện Phó Pier đồng ý. Ông như trút được gánh nặng, dù “ngài không cho tôi đứng tên mua, vì nếu có chuyện gì sẽ ảnh hưởng đến nhà dòng của ngài.”

Cuộc hành trình thực hiện Đức Tin của Linh Mục Phạm Sĩ Hanh trên đất Mỹ chỉ mới bắt đầu. Còn hàng ngàn khó khăn trước mắt, đang đợi ông.

“Dấu chỉ của Chúa qua Thánh Lễ Di Cư”

Linh Mục Phạm Sĩ Hanh chịu chức vào Tháng Năm, 2004, tại Pennsylvania. Tháng Mười, ông mua được miếng đất nằm giữa thung lũng Lucerne thuộc vùng sa mạc quận San Bernardino, California.

Để có tiền trả góp mua đất mỗi tháng $486, ông xin cha bề trên ở Việt Nam cho phép giữ lại tiền xin lễ của giáo dân, khoảng hơn $200 mỗi tháng. Giáo dân biết tin ông mua đất xây đan viện, họ không chỉ đóng góp tiền xin lễ, mà còn gởi thêm vào đó, mỗi lần năm ba chục đô la, để giúp ông đủ tiền trả nợ hàng tháng.

Trả được hơn một năm, qua hai gia đình hai chị em Hồng-Hải, ông quen một gia đình giáo dân ở Florida. Biết ông đang vất vả trả tiền mua đất hàng tháng, họ tặng ông $50,000, giúp ông trả hết tiền đất.

“Năm 2006, để chuẩn bị đón thêm các linh mục từ Việt Nam qua, tôi phải chắc chắn chỗ đó có nước.”

  Linh Mục Phan Sĩ Hanh nhớ lại: “Tôi mướn người đến khoan tìm, hai tuần sau mới tìm ra nguồn nước. Còn điện thì tôi mướn hệ thống điện solar. Thế là xong hai việc quan trọng nhất trước khi bắt đầu kế hoạch xây dựng.”

Đầu năm 2007, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh và bốn linh mục khác từ Việt Nam qua, về vùng đất “sa mạc” Lucerne Valley, California, “phó thác vào Chúa, và Thánh Giuse” như đức tin của ông, quyết tâm biến mảnh đất khô cằn thành nơi mọi người muốn tìm về để tĩnh tâm, khai sáng tâm trí.

Đài Thánh Guise (phải) và Thánh Giá Nguyện Đường (trên cao, bên trái) tại Đan Viện Thánh Giuse. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Ông kể: “Hai gia đình đã giúp tôi từ trước đến nay, lại thêm một lần nữa thể hiện tấm lòng của họ. Họ mua một căn nhà ở thành phố Vitorville, rồi cho chúng tôi ở 14 tháng, trong thời gian xây dựng đan viện. Mỗi ngày, 7 giờ sáng chúng tôi ra khỏi nhà đến ‘sa mạc’ làm việc đến 7 giờ tối.”

Họ mướn hai xe máy ủi, nhờ người lái, cùng nhau san đất, chặt cây, dọn dẹp mọi thứ để miếng đất thật quang đãng, sạch đẹp trước khi bắt tay vào xây dựng.

“Chúng tôi làm tất cả mọi việc có thể làm. Việc không làm được, tìm cách nhờ người giúp. Việc ngoài tầm tay thì mới đành chịu bỏ tiền đi mướn. Thứ nhất, chúng tôi không có tiền; thứ hai, nếu có tiền, chúng tôi vẫn phải tiết kiệm để xây đan viện sau này.”

Tháng Mười, năm 2007, nhờ sự giúp đỡ của một số giáo dân Nam California, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh tổ chức được một buổi tiệc gây quỹ. Công việc của ông, được cộng đồng công giáo vùng Orange County biết đến, nhờ đó cũng có thêm phần hỗ trợ đáng quý.

Năm 2008, ông mượn được $250,000 không phải trả tiền lời, mua hai căn mobile home, mỗi căn rộng 1,700 sqft. Một nhà là nơi các đan sĩ ở, một nhà dành cho khách đến tĩnh tâm.

Ngày 22 Tháng Ba, năm 2009, Đan Viện tổ chức lễ mừng Bổn Mạng Thánh Giuse, được Giám Mục Mai Thanh Lương làm chủ tế. Hai tuần trước, các đan sĩ đã chuẩn bị mọi thứ tươm tất, đắp đất, trồng cỏ, làm khán đài,… chuẩn bị cho ngày lễ trọng đầu tiên.

Linh Mục Phạm sĩ Hanh kể: “Hai giờ sáng ngày 22, trời bỗng nổi gió. Lạnh không thể tưởng. Rồi có mưa đá. Gió giật sập cả khán đài làm lễ. Tôi lo lắng vô cùng, nên ra chỗ tượng Thánh Giuse cầu nguyện. Lúc đó còn bức tượng nhỏ, chứ không lớn như bây giờ. Tôi nói với ngài rằng tại sao cả tuần nay trời đẹp, mà sao hôm nay lại như thế này? Rồi tôi thấy cuộc đời Thánh Giuse, như những thước phim chiếu trong đầu. Tôi như được soi sáng từ cuộc đời khổ hạnh của ngài, và hiểu rằng không có gì đạt được một cách dễ dàng cả. Tôi nói với ngài là nếu như đó là ý Chúa và ý Thánh Giuse, con chỉ xin một điều duy nhất là giữ cho tất cả những ai lên đây được bình an. Còn con thì Chúa muốn làm gì thì làm.”

Bản vẽ thiết kế hội trường tĩnh tâm tại Đan Viện Thánh Giuse. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Dự tính khai mạc lễ lúc 10 giờ, nhưng 12 giờ trưa, trời mới bớt gió, buổi lễ mới được bắt đầu. Vẫn chưa hết khó khăn, khi Giám Mục Mai Thanh Lương đọc xong bài đọc thứ nhất, thì gió lại bắt đầu thổi mạnh. Những cột cây chống bạt bị nhổ lên, những tấm bạt bay như diều đứt dây, khiến mọi người phải chạy vào nhà trốn gió.

“Chúng tôi tiếp tục làm lễ trong phòng khách của một căn nhà, sau buổi lễ mới đi tìm giáo dân tản mát các phòng để cảm tạ họ,” Linh Mục Hanh tiếp tục câu chuyện.

“Đức Cha Mai Thanh Lương đặt tên cho buổi lễ có một không hai này là ‘Thánh Lễ Di Cư.’ Khi nói lời cảm tạ các cha, tôi chia sẻ suy nghĩ như thế này: ‘Con không biết đây có phải là dấu chỉ mà Chúa qua Thánh Giuse muốn mình phải xây nhà thờ ở dây không?’ Ngay sau Thánh Lễ, rất nhiều người gọi điện thoại, gởi thư về đề nghị chúng tôi quyên tiền xây nhà thờ.”

Theo Linh Mục Phạm Sĩ Hanh, việc xây nhà thờ không nằm trong kế hoạch của ông lúc đó, nhưng vì qua sự việc xảy ra trong Thánh Lễ, giáo dân ủng hộ “dấu chỉ của Chúa” nên ông nghĩ đó chính là thời điểm thuận lợi nhất thực hiện “ngôi nhà thờ Chúa” này.

“Tháng Mười, năm 2009, chúng tôi chính thức tổ chức quyên tiền xây nhà thờ. Cuối năm 2011 bắt đầu xây, và đến năm 2013 thì xong.”

Tiếp tục “chặng đàng Thánh Giá,” xây nhà cho người tĩnh tâm

Ngôi nhà thờ được xây dựng bằng sự cộng hưởng niềm tin của những đan sĩ và mọi người, bằng tình yêu thương, vì họ tin vào “dấu chỉ của Chúa.”

Nhớ lại những ngày khó khăn, Linh Mục Phạm Sĩ Hanh cho biết: “Đó là công trình chung của mọi người. Từ việc mua đất, cho đến những công trình đã được xây dựng ở vùng đất sa mạc này, nếu tôi có ‘7 đầu, 14 tay’ cũng không chẳng làm nổi. Tôi cực thật, nhưng qua đó tôi thấy mình được Chúa chọn để thực hiện công trình của ngài. Thành quả như thế vượt quá sức tưởng tượng của chúng tôi.”

“Giờ tôi đang quyên tiền xây hội trường để có chỗ cho người đến tĩnh tâm.”

Mô hình tổng thể Đan Viện Thánh Guise khi hoàn thành. (Hình: saintjosephmonasteryca.org)

Ông chia sẻ suy nghĩ nhẹ nhàng về công trình có trị giá xây dựng khoảng $4 triệu như thế. Bởi đó là việc phải làm, nếu không muốn nói đó là công trình chính để Đan Viện Thánh Giuse thực hiện nhiệm vụ của mình.

“Cái mobile home chỉ tiếp được một lúc 15 người thôi. Từ năm 2013 đến nay, mỗi năm chúng tôi tiếp đón 2,700 đến 3,500 người đến lễ giữa sa mạc này, trong khi sức chứa của nhà thờ theo quy định, chỉ được 100 người. Chính vì vậy chúng tôi phải xây hội trường, để đáp ứng nhu cầu tĩnh tâm của rất nhiều người.”

Theo thiết kế, công trình rộng 24,000 sqft., trong đó 13,000 sqft được dùng làm hội trường, phần còn lại là phòng ở, bếp, nhà vệ sinh, có khả năng tiếp đón cả ngàn người một lúc.

“Nếu tính theo giá bình thường, công trình này phải dự trù tới $9 triệu, nhưng theo dự định ban đầu của chúng tôi thì chỉ tốn khoảng $4 triệu mà thôi.”

Vẫn theo Linh Mục Hanh, sở dĩ ông tiết giảm được hơn một nửa giá trị xây dựng vì nhờ nhiều yếu tố: Người kiến trúc sư từng thiết kế không công nhà thờ nay tiếp tục giúp thiết kế hội trường trên tinh thần tự nguyện, các kỹ sư xây dựng cũng nhận đóng góp công sức, nhiều người có tay nghề tới giúp không lương, một số chủ cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng sẵn sàng bán giá vốn… và “sự đóng góp quý báu đó không thể quy ra tiền được.”

Hiện công trình đang thực hiện xong phần móng, do tình hình đại dịch COVID-19, nên công việc xây dựng chậm lại.

Linh Mục Hanh cho biết thêm, kinh phí vẫn còn thiếu khoảng 30%.

“Cái khó của chúng tôi là không có nguồn thu thường xuyên như các giáo xứ khác. Điều vui mừng là các giáo dân đến đây cầu nguyện hay tĩnh tâm, dù không có bổn phận đóng góp nhưng họ vẫn gởi tiền về. Chính điều này, tôi xem đây là công trình của bề trên, Chúa an bài cho chúng tôi. Và chắc chắn, nó sẽ tạo được rất nhiều lợi ích tâm linh cho mọi người, không chỉ là người Công Giáo.”

Tìm hiểu thêm về Đan Viện Thánh Giuse: http://www.saintjosephmonasteryca.org/ [kn]

KIÊN NHẪN CHỊU ĐỰNG KHIÊM NHƯỜNG CẦN HỌC TỪ CHÚA GIÊSU NHÂN LÀNH

KIÊN NHẪN CHỊU ĐỰNG KHIÊM NHƯỜNG CẦN HỌC TỪ CHÚA GIÊSU NHÂN LÀNH

Tuyết Mai

Thỉnh thoảng chúng ta có cảm tưởng rằng sự chịu đựng của mình đã quá mức, quá sức thì mình sẽ chọn giải pháp và quyết định như thế nào để đối phó cách khôn ngoan, cách ổn thỏa cho mọi tình huống đây?. Nếu không khôn ngoan, khôn khéo thì chắc hẳn sẽ có xẩy ra chiến tranh ngay. Và bảo đảm liền sau đó sẽ cho chúng ta cả đôi bên một cái kết không hay, không đẹp đẽ tí nào cả đâu.

**

Bạn bè thì cũng chẳng còn là bạn bè gì nữa tuy dù chơi với nhau suốt từ nhỏ và sẽ trở thành thù địch của nhau một cách rất đáng tiếc. Gia đình giữa vợ chồng và con cái cũng sẽ để lại vết thẹo thật sâu hoắm và thật chậm lành trong trái tim của mọi người có liên hệ. Trong công xưởng hay trong công ty đối với xếp trên thì bảo đảm chúng ta nên đi tìm nơi khác mà xin việc, còn không thể thì phải nhờ người đi cửa hậu dùm, cộng lời xin lỗi cho phải phép hay phải lạy lục nếu cần.

**

Do đó có phải cách khôn ngoan nhất trong mọi tình huống thì chúng ta nên chọn thái độ im lặng, chịu đựng, nhịn nhục và ráng dằn cơn giận xuống. Như Thiên Chúa luôn chọn thái độ chậm giận với tất cả con cái hư hỏng của Người. Kẻo không thì trái đất sẽ bị nổ tung thành những miếng vụn vì cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sẽ giáng trên đầu của chúng ta cách rất xứng đáng.

**

Vì nếu chúng ta tập được tánh chậm giận và chịu đựng thì lâu dần sự luyện tập ấy sẽ cho chúng ta một đức tánh nhẫn nại rất tốt và là gia tài rất quý báu để lại gương tốt lành cho con cháu sau này chúng được nhờ. Vì sự chậm giận và chịu đựng là đức tánh tuyệt vời của tất cả mọi người, cho những ai muốn trở nên Thánh trong cuộc đời này. Với tánh tình hiền lành, hòa nhã và khiêm nhường của cha mẹ nữa thì mọi thành phần trong gia đình chúng ta sẽ nên thánh và là điều Thiên Chúa rất hài lòng, rất đáng để được Thiên Chúa thưởng ban – Đó là hồng ân dồi dào mà chúng ta được lãnh nhận hằng ngày từ Thiên Chúa ban cho.

**

Ai cũng biết rằng nói thì dễ nhưng thực hành mới là điều rất khó để làm vì đã làm người thì ai mà không dễ nổi giận, không nóng tánh, không tự ái, không là cái rốn của vũ trụ … nhưng vì hiểu được Thánh Ý Chúa muốn nên chúng ta cố gắng bắt chước theo Chúa Giêsu là học chịu nhịn nhục, chịu đựng, chịu khổ để có thể vác Thánh Giá đời mình theo Chúa Kitô và sống làm gương cho những thế hệ tiếp nối sau này.

**

Chẳng phải làm con người trần gian mà tự nhiên có sẵn những đức tánh tốt đó nhất là sau nhiều năm lăn lộn với đời; nếu có chăng là vì nhiều người may mắn đã được học sẵn một số bài học tốt lành từ cha mẹ; luôn sống làm gương tốt lành cho chúng con cái, học bắt chước theo suốt thời gian con cái còn ở với cha mẹ. Còn lại chăng là các ngài tu sĩ nam nữ có được cơ hội để học hỏi, tham vấn, thời giờ đi tĩnh tâm và cầu nguyện nên đã thu thập được các đức hạnh từ các bậc thầy nơi các dòng tu hay các chủng viện. Mà Thầy cao cả nhất không ai khác hơn là gương sống động của Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa nhân lành của hết thảy chúng ta.

**

Chúng ta phải rất hãnh diện là người Công Giáo vì chỉ có ông Thầy Giêsu cùng là Chúa đã yêu thương nhân loại bằng cách chết cho tội lỗi của con người; Ngài đã chết trên Thập Giá cách rất thương tâm trong một thân xác không còn lành lặn. Mà từ trước đến nay trên thế giới không có ai khác ngoài Thầy Giêsu rất nhân lành đã luôn yêu thương con cái Ngài cách vô điều kiện như thế.

**

Chúng ta hãy vì một Thiên Chúa nhân lành nên đừng có chần chờ gì nữa mà không liền trở về, chạy đến ngồi xuống chân của Thầy Giêsu để chúng ta được học hỏi những bài học lạ lùng, thánh thiện và thực thi cho được Giới Răn mới từ Ngài ấy là chúng ta hãy yêu thương nhau … thì kẻ ấy kể như đã sống trọn lề luật của Thầy. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

27 tháng 10, 2020

LOẠI NHÀ NÀO CÁC CON MUỐN XÂY CHO TA?

LOẠI NHÀ NÀO CÁC CON MUỐN XÂY CHO TA?

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Điều gì đúng và điều gì không đúng?  Chúng ta đấu tranh rất nhiều về các vấn đề đạo đức, thường là với một biện minh cho mình.  Và đa số chúng ta rơi vào tình trạng tự cho mình là đúng mỗi khi tranh luận về tội.  Điều gì cấu thành tội và điều gì cấu thành tội trọng?  Các phái Kitô giáo và các trường phái tư tưởng khác nhau dựa trên nhiều loại lý luận Kinh Thánh và triết học để cố gắng giải quyết vấn đề này, thường là có các bất đồng gay gắt và tạo ra nhiều tức giận hơn là đồng thuận.

Phần nào đó là chuyện hẳn nhiên, vì các vấn đề đạo đức phải tính đến sự bí ẩn của tự do con người, các hạn chế vốn có trong tình huống ngẫu nhiên và số lượng các tình huống tồn tại khác nhau giữa người này với người kia.  Trong bất kỳ tình huống cụ thể nào cũng không dễ dàng phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, thậm chí còn khó hơn để phân biệt đâu là tội và đâu là không.

Dù không có ý định xúc phạm đến các tiếp cận các vấn đề đạo đức một cách kinh điển của các giáo hội và các nhà tư tưởng đạo đức của chúng ta, tôi nghĩ rằng có một cách tốt hơn để tiếp cận lành mạnh hơn, xét đến tự do, đến các giới hạn của con người và hoàn cảnh hiện sinh đặc biệt của từng cá nhân.  Cách tiếp cận không phải của riêng tôi, mà là cách tiếp cận được tiên tri Isaia đưa ra, ngài đưa ra câu hỏi này của Chúa cho chúng ta: Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào?  (Isaia 66, 1) Câu hỏi này là nền tảng cho tinh thần môn đệ và tất cả các lựa chọn đạo đức của chúng ta.

Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào?  Giáo dân có đức tin nói chung đã hiểu điều này theo nghĩa đen, và vì vậy từ thời cổ đại cho đến ngày nay, họ đã xây đền thờ, nhà thờ chính tòa, vương cung thánh đường, các đền thánh nguy nga tráng lệ để thể hiện đức tin của họ vào Chúa.  Điều đó thật tuyệt vời, nhưng lời mời mà tiên tri Isaia nói, trước hết và quan trọng nhất, là loại ngôi nhà mà chúng ta có ý định xây dựng bên trong lòng mình.  Làm thế nào để chúng ta giữ hình ảnh và sự giống Chúa trong cơ thể, trong trí tuệ, trong tình cảm, hành động của chúng ta?  Loại “nhà thờ” hay “thánh đường” nào trong con người chúng ta?  Đó là câu hỏi sâu hơn về lối sống đạo đức.

Vượt lên trình độ sơ đẳng, việc chúng ta có quyết định về mặt đạo đức không còn được hướng dẫn bởi câu hỏi đúng hay sai, điều này có tội hay không.  Thay vào đó, nó nên được hướng dẫn và thúc đẩy bởi một câu hỏi cao hơn: Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào?  Tôi muốn sống hết nhân tính và tư cách môn đệ của tôi ở mức độ nào?  Tôi muốn tự phục vụ bản thân nhiều hơn hay tôi muốn quảng đại hơn?  Tôi muốn hèn hạ hay cao quý?  Tôi muốn tự thương hại hay có tâm hồn cao thượng?  Tôi muốn thực hiện các cam kết của mình hoàn toàn trung thực hay tôi cảm thấy thoải mái khi phản bội người khác và chính tôi một cách ẩn giấu?  Tôi muốn nên thánh hay muốn tầm thường?

Ở mức độ trưởng thành trong tư cách môn đệ (và trong sự trưởng thành của con người), câu hỏi không còn đặt ra nữa, điều này có đúng không?  Đó không phải là câu hỏi của tình yêu.  Câu hỏi của tình yêu là, làm thế nào tôi có thể đi sâu hơn?  Tôi có thể sống tình yêu, sự thật, ánh sáng và lòng chung thủy ở mức độ nào?

Tôi xin đơn cử một ví dụ đơn giản dễ hiểu để minh họa điều này.  Chúng ta hãy xem vấn đề khiết tịnh tình dục: thủ dâm có sai và tội không?  Tôi đã từng nghe một giáo sư đạo đức có quan điểm về điều này, ông phản ánh sự thách thức của tiên tri Isaia.  Ở đây, trong một cách diễn đạt, ông đã đưa ra vấn đề: “Tôi không nghĩ việc ngữ cảnh hóa câu hỏi này, cũng như các văn bản thần học đạo đức cổ điển là hữu ích, khi nói rằng đó là một rối loạn nghiêm trọng và tội nghiêm trọng.  Tôi cũng không nghĩ sẽ hữu ích khi nói những gì nền văn hóa và phần lớn tâm lý học đương đại đang nói, rằng đó là sự thờ ơ về mặt đạo đức.  Tôi nghĩ, một cách hữu ích hơn để tiếp cận vấn đề này là không nhìn nó qua lăng kính của đúng hay sai, tội hay không.  Thay vào đó, hãy tự hỏi mình câu hỏi: tôi muốn sống ở mức độ nào?  Tôi muốn thực hiện đức khiết tịnh, lòng trung thành và sự trung thực của tôi ở mức độ nào?  Vào lúc nào trong cuộc đời, tôi muốn chấp nhận gánh thêm căng thẳng mà trong tư cách môn đệ và nhân tính của tôi đòi hỏi tôi?  Tôi muốn trở thành người như thế nào?  Tôi muốn trở thành người hoàn toàn minh bạch hay người có những thứ phải che giấu?  Tôi có muốn sống trong sự tiết độ hoàn toàn không?”  Tôi muốn là “đền thờ” nào?  Tôi có thể xây loại nhà nào cho Chúa?

Tôi tin đây là cách lý tưởng mà chúng ta nên có, trước các lựa chọn đạo đức trong cuộc đời.  Chắc chắn đây không phải là linh đạo dành cho những người có sự phát triển đạo đức quá kém hoặc bị suy giảm đến mức họ vẫn còn đấu tranh với các đòi hỏi căn bản nhất của Mười Điều Răn.  Những người như vậy cần trợ giúp khắc phục và điều trị và đó là một trách vụ khác (dù rất cần thiết).

Và một điểm nữa, sự lựa chọn luân lý này đến với chúng ta, cũng như tất cả các lời mời từ Chúa, như một lời mời, chứ không như một mối đe dọa.  Chính qua tình yêu chứ không qua đe dọa mà Chúa mời gọi chúng ta vào đời sống và làm môn đệ, Ngài luôn nhẹ nhàng hỏi chúng ta: loại nhà nào con muốn xây cho Ta?

Rev. Ron Rolheiser, OMI

on-my-knees-in-prayer-rick-wolfryd.jpg

CHUYỆN TÂM LINH KHÓ LÝ GIẢI

CHUYỆN TÂM LINH KHÓ LÝ GIẢI

Seniors,

Trước khi đọc “Chuyện tâm linh khó lý giải”, tôi kể quý seniors nghe câu chuyện người chết có linh hồn không?

Sau tháng 4 năm 1975, tôi trình diện đi học tập cải tạo. Trại tù đầu tiên là ở khu gia binh Long Giao, Long Khánh. 

Ở đây chừng hai tháng thì có một người bạn tù nằm chết ở ngoài sân, lúc bấy giờ chưa có khoá phòng để nhốt tù. Nửa đêm anh đi tiểu và nằm chết ở tư thế co ro nằm nghiêng, hai chân co lên ngực và hai tay nhét vào giữa hai đầu gối. Đặc biệt đôi dép lại để ở trên đầu. Vào thời điểm này các trại tù do bộ đội VC quản lý, trại trưởng nghi ngờ anh em trong tù sát hại lẫn nhau, phải chờ Bác Sĩ từ Sài Gòn lên khám nghiệm tử thi mới cho chôn. Anh chết từ lúc nửa đêm đến 5 giờ chiều mới đưọc chôn nên cơ thể anh cứng đơ. Trưởng trại cho một cái hòm gỗ, khi bỏ xác anh vào nằm ngửa thì không đậy nắp được vì hai đầu gối nhô lên, bỏ nằm ngang xác anh không lọt vô hòm. Trại tù không nhang, không đèn, không rượu để bóp cho thân thể mềm lại. Loay hoay mãi có một anh bạn tù, cấp bậc Đại úy là con rể của Tướng Lê Minh Đảo, anh là người có đạo Công Giáo đứng ra van vái:

– Anh sống khôn thác thiêng, phò hộ cho chúng tôi đưa thân xác anh đi cho được thanh thản, nhẹ nhàng.

Vái xong anh đến kéo tay chân người bạn tù xấu số, tay chân nó mềm nhũn ra như người còn sống. 

Mấy tên vệ binh mang súng đứng chung quanh ngạc nhiên, thảng thốt:

– Sao nạ thế nhỉ.

Hồn của anh bạn có lẽ lẩn quất đâu đó, anh nghe, anh thấy chúng tôi, nhưng chúng tôi chẳng thấy được anh.

Kính mời Quý Seniors xem tiếp câu “Chuyện tâm linh khó lý giải” của Nguyễn Quang Phúc

Thân mến,

Đồng

   CHUYỆN TÂM LINH KHÓ LÝ GIẢI

 Nguyễn Quang Phúc

 Cách nay 15 năm vì thất bại trong công việc, tôi phải quay lại nghề cũ: Sửa đồng hồ tại 18 Lê Công Kiều quận 1 để mưu sinh.

Vào một buổi chiều tối có người đàn ông lại bán cái bình bằng đồng. Bình vuông vức, cao hơn gang tay chạm trổ rất tinh xảo nhìn bắt mắt. Tôi quyết định mua cái bình giá vài trăm ngàn (khoản 5 phân vàng thời điểm đó) với ý định sáng mai sẽ bán lại kiếm lời.

Qua hôm sau tôi đem bình đi bán. Anh Bảo Tâm (tiệm 20 Nguyễn Thái Bình) trả tôi có lời nhưng tôi chưa bán vì hy vọng sẽ bán được giá cao hơn.

Một lát sau tôi lấy bình ra mời anh Sơn đầu bạc (chủ tiệm đồ cổ 5 Lê Công Kiều). Sau một lúc xem xét anh Sơn bảo:

– Đây là cái hũ cốt mày xem liệu mà bán đi.

Tôi ngạc nhiên trả lời:

– Đừng giỡn đại ca, nếu thật thì anh chứng minh đi 

Anh Sơn chỉ tay vào góc bình rồi lặng lẽ quay đi. Tôi lấy kính nghề đeo vào và bàng hoàng khi thấy ở góc bình có hàng chữ rất mờ do đã có ai đó cố tình bôi:

Dương Văn Út sanh 1963 ngày mất….. hưởng dương……

Tôi chết lặng vội cất cái bình vào tủ miệng lâm râm vái: Anh Út ở tạm đây đi để từ từ tôi tính (dù tôi chưa biết tính thế nào).

– Đem vào chùa thì tôi không có tiền.

– Đem bán thì vật này không phải để bán.

– Lén vứt đi thì lý trí muốn làm nhưng lương tâm không cho phép.

– Đem về nhà ư? Tôi không dám và không muốn việc đó.

Tôi như người mất hồn làm việc không nổi, ăn không ngon ngủ không yên hai ba ngày. Mặt không có nổi nụ cười trong lòng buồn và rối rắm.

Vợ tôi nhận ra sự khác lạ của chồng nên gặng hỏi mãi. Cuối cùng tôi cũng kể cho vợ nghe sự việc, hai vợ chồng ngao ngán nhìn nhau vì không có số tiền nhỏ để giải quyết việc nhỏ.

Thời gian đó vợ tôi bán mướn quần áo ở chợ An Đông sạp 214. Sáng ra đi làm vợ tôi kể cho chị em tiểu thương câu chuyện của tôi và cô Thủy chủ sạp 214 ra tay giúp đỡ.

Thủy điện thoại cho tôi:

– Anh Phúc, em đã nghe sự việc của anh. Giờ thì anh hãy đem hũ cốt đến tịnh xá Ngọc Vân (ngay chân cầu vượt Suối Tiên hướng đi về cầu Sài Gòn) gửi mọi chi phí em lo hết.

Nghe như người chết đuối vớ được phao. Ngay chiều hôm đó tôi cùng vợ sắm một ít hương hoa và đem hũ cốt đi gửi.

Xong việc trên đường về trong lòng rất sảng khoái vì dù mất một số tiền nhưng tự an ủi là mình đã làm được một việc tốt.

Quay lại cuộc sống hàng ngày tôi dần quên việc đó cho đến 6 tháng sau vào một buổi sáng.

Tôi có cuộc điện thoại trên mà hình hiển thị số nước ngoài gọi đến. Đầu bên kia là giọng nữ Việt

– Chào anh, anh có phải là anh Phúc sửa đồng hồ không?

– Ok Phúc đây. Chị gọi tôi có việc gì vậy?

– Dạ tôi nghe anh có mua được hũ cốt. Không biết anh có biết tên người trong   hũ cốt không?

Tim tôi bắt đầu loạn nhịp nhưng vẫn trấn tĩnh:

– Dương Văn Út ngày sanh…. ngày mất…… hưởng dương…. và tôi hỏi lại chị ta:

– Vì sao chị có số ĐT của tôi và làm sao chị biết tôi mua hũ cốt

Người phụ nữ đó bỗng nấc lên vừa khóc vừa nói:

– Dạ tôi là chị ruột của thằng Út đây. Gia đình tôi định cư ở CANADA từ lâu không may em tôi vắn số. Tôi đã hỏa táng và gởi cốt về VN theo ý nguyện của em. Tôi gởi vào chùa ở Gò Vấp (ngay ngôi chùa bị lùm xùm về tro, cốt) không hiểu sao lại thất lạc hũ cốt. Tôi đã cố tìm kiếm, đăng báo rất nhiều lần nhưng không tìm được. Nay tôi tìm được anh đúng là người mua hũ cốt chắc là em tôi linh thiêng mách bảo.

Tôi rất là ngạc nhiên và sợ, tay chân đã ra mồ hôi nhưng vẫn bình tĩnh nói với chị ta:

– Hũ cốt của ông Út tôi đã gởi vào chùa chị hãy nhờ người thân tới liên hệ nhưng làm sao chị biết tôi mua nhầm hũ cốt.

Chị ta chậm rãi kể (thì ra sự việc như vầy).

Khi vợ tôi kể chuyện hũ cốt cho cô Thủy thì câu chuyện lan truyền ra nên nhiều tiểu thương ở chợ An Đông biết

Tình cờ có một chị tiểu thương du lịch CANADA rồi gặp chị ông Út trong siêu thị.

Hai bà Tám VN gặp nhau trên đất khách họ nói với nhau đủ việc trên đời. Vô tình chị ông Út than thở về việc thất lạc hũ cốt ở VN.

Nghe thế chị tiểu thương bảo: Ở An Đông tôi có nghe việc người ta mua nhầm hũ cốt để tôi gọi về VN xin số cho chị rồi chị hỏi thăm thử xem sao? Biết đâu may thầy, phước chủ……

Từ nửa vòng trái đất chỉ một cuộc ĐT chị ta đã tìm được hũ cốt của em mình sau 2 năm thất lạc.

Từ một người thợ sửa đồng hồ ở lề đường (lại đang thiếu nợ) 3 năm sau tôi đã trở thành chủ tiệm đồ cổ khá lớn ở Lê Công Kiều quận 1.

Mỗi lần cô Thủy chủ sạp 214 gặp tôi đều nói:

– Từ khi anh Phúc mua hũ cốt đến nay em thấy anh làm ăn rất khá. Thay đổi từng tháng đó anh, có lẽ ông Út phù hộ anh đó.

Tôi cười và bảo với Thủy:

– Chuyện tâm linh thì khó lý giải nhưng khi anh mua hũ cốt gởi vào chùa thì ở LCK và chợ An Đông nhiều người biết. Họ mến việc làm của mình nên họ giúp đỡ làm ăn. Trong cuộc sống mà nhiều người giúp thì công việc thuận lợi hơn.

Qua câu chuyện này tôi xin nhắn gởi tới những bạn đang khó khăn hoặc chưa thành công:

– Hãy cố gắng hết sức và luôn sống đúng lương tâm, đạo đức. Trời không phụ người tốt.

Sài Gòn 10-2020

From: TU-PHUNG

Thư để lại của người lãnh đạo tập đoàn Samsung lớn mạnh nhất HQ -Lee Kun-hee

Image may contain: 1 person, sitting, suit and indoor

Hôm qua ngày 25/10/2020, Hàn Quốc vừa chia tay một người lãnh đạo tập đoàn Samsung lớn mạnh nhất HQ -Lee Kun-hee. Trước khi mất ông đã viết tâm Thư để lại:

– Gửi những người còn khỏe mạnh đang đọc thư của tôi-

Ngay cả khi bạn không bị ốm, bạn có thể đi kiểm tra sức khỏe hàng năm, uống nhiều nước ngay cả khi bạn không khát, học cách rũ bỏ mọi điều phiền muộn. Cuộc sống cho đi không có gì là xấu, vì vậy hãy cứ cho đi…

Nếu bạn có tiền và quyền lực, đừng tự hào, tôi biết rằng tôi hài lòng với những điều nhỏ nhặt, ngay cả khi chúng tôi không giàu, chỉ cần tôi biết cách nghỉ ngơi thì sẽ không mệt mỏi. Dù bận rộn đến đâu hãy vận động và tập thể dục trở lại.

Biên lai chứng minh giá trị của bộ quần áo trị giá 3.000 won, một chiếc ô tô trị giá 30 triệu won, hay một căn nhà trị giá 500 triệu won. Nhưng, Bạn có biết điều gì chứng minh giá trị của một người không? Đó là một cơ thể khỏe mạnh! Đừng gõ số tiền chi tiêu cho sức khỏe của bạn bằng máy tính. Số tiền bạn có khi bạn khỏe mạnh được gọi là tài sản. Số tiền bạn nắm giữ sau khi ốm chỉ là di sản.

Có rất nhiều tài xế trên thế giới lái xe giúp bạn, Sẽ có ai đó trên thế giới này sẽ kiếm tiền cho bạn! Nhưng không ai có thể chịu tổn thương thay cho thân thể của bạn. Nếu bạn đánh mất thứ gì đó, bạn có thể tìm lại hoặc mua nó, Chỉ có một sinh mệnh vĩnh viễn không lấy lại được!

Việc theo đuổi sự giàu có vô hạn đã khiến tôi chỉ còn là một ông già tham lam. Khi tôi chết, biệt thự sang trọng của tôi sẽ dành cho người khác không phải tôi. Khi tôi chết, chìa khóa chiếc xe sang trọng của tôi sẽ rơi vào tay ai đó. Tiền bạc, quyền lực và chức vụ lúc đó chỉ còn là rác.

Tôi, người đã giành chiến thắng chói sáng trong hiệp một, Hiệp hai không thể vượt qua cơn bạo bệnh và kết thúc với thất bại. Tuy nhiên, tôi cảm thấy niềm vui ấm áp khi có thể gửi bức thư này cho bạn. Những người đang bận rộn sống trên thế giới ngoài. Hãy biết yêu và chăm sóc cho bản thân, bất lực của tôi bây giờ chỉ biết cầu chúc cho bạn may mắn.

S.T.

Danh hiệu ‘cháu ngoan bác Hồ’: công cụ để nhồi sọ trẻ ở Việt Nam!

 

Đại hội cháu ngoan các Hồ toàn quốc lần thứ IX, năm 2020 vừa được diễn ra ở Hà Nội hôm 25 tháng 10 năm 2020, mà theo truyền thông nhà nước Việt Nam là một đại hội được tổ chức long trọng với quy mô lớn, nhằm tuyên dương thành tích của các em học sinh được mệnh danh là ‘cháu ngoan các Hồ’ (CNBH) xuất sắc giai đoạn 2015 – 2020.

Trong khi kinh tế Việt Nam vẫn còn khó khăn vì ảnh hưởng của dịch COVID-19, còn người dân miền Trung thì đối diện muôn vàn khó khăn do thiên tai, thì vì sao lại tổ chức đại hội với quy mô rầm rộ như vậy?

Bạn trẻ Đăng Quang nói với Đài Á Châu Tự Do hôm 27 tháng 10 năm 2020:

“Họ tuyên truyền về ‘cháu ngoan các Hồ’ một cách rầm rộ thì nghiêng về chính trị hơn là giáo dục, và đối với em là không cần thiết. Dù nhân vật HCM gây hai luồng ý kiến trái chiều, nhưng em dừng lại ở nhân vật lịch sử, những gì đã qua thì nên tôn trọng, nhưng chúng ta cũng không cần thiết (tôn thờ) đến mức quá là như vậy. Bởi vì những lứa tuổi nhỏ như lớp 1 hay cấp tiểu học, thì các em chưa tự tìm hiểu được một cách khách quan ông HCM là như thế nào? Mà nhà trường đã áp đặt có danh hiệu ‘Cháu ngoan Bác Hồ’ mới là con ngoan trong gia đình… Để đạt được danh hiệu CNBH thì họ đặt ra rất nhiều tiêu chuẩn, ví dụ ai nói xấu đảng, xấu bác thì phải phản bác lại là không đúng…”

Theo Đăng Quang, như vậy sẽ tạo ra cho trẻ nhỏ một tư duy không phản biện, không sáng tạo, không có tự do suy nghĩ, và theo Quang là không nên.

‘Cháu ngoan Bác Hồ” là một danh hiệu do Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh tặng cho các em học sinh có thành tích học tập và được đánh giá có đạo đức tốt. Tuy nhiên, học sinh đó phải là thành viên của Đội Thiếu niên mới được xét đề được nhận danh hiệu này.

Một học sinh lớp 10 ở Sài Gòn nói với Đài Á Châu Tự Do hôm 27/10:

“Con cũng có được CNBH trước đây, nhưng năm ngoái thì không được… CNBH là tính từ lớp 1 cho đến lớn luôn, CNBH là tính hạnh kiểm của mình nguyên một năm, năm đó mình có đánh nhau không, có đi học trễ không, chuyên cần các kiểu… Còn học lực thì học sinh khá trở lên mới được CNBH. Bbây giờ học sinh chỉ quan tâm học khá giỏi hay trung bình yếu, chứ cũng không quan tâm cái đó cho lắm.”

Cũng như các nước Xã hội Chủ nghĩa khác, việc thần tượng lãnh tụ ở Việt Nam là một điều ai cũng biết. Ngay từ lớp một hay mẫu giáo đã được học 5 điều bác Hồ giạy, phấn đấu làm cháu ngoan bác Hồ, coi bác Hồ giống như một vị thần thánh rất tốt… Theo chính quyền Việt Nam, có lẽ việc thần tượng hóa ông Hồ giúp rất nhiều cho việc duy trì chế độ hiện nay.

Để tìm hiểu thực tế, Đài Á Châu Tự Do hôm 27/10 liên lạc một giáo viên tiểu học, không muốn nên tên vì lý do an ninh, ở thành phố Hồ Chí Minh, và được Cô cho biết:

“Danh hiệu CNBH vẫn còn, căn cứ dựa vào việc tham gia tốt các phong trào của đoàn đội tổ chức, và cũng dựa vào năng lực học tập, hai cái đó xét để thành CNBH. Bây giờ cấp một vẫn hưởng ứng CNBH, năm nào tụi chị cũng phải xét CNBH… Chị thấy các em có giấy khen thì các em cũng thích thú.”

Chị Nguyễn Lai, một phụ huynh ở Nha Trang, khi trao đổi với Đài Á Châu Tự Do qua tin nhắn hôm 27 tháng 10 năm 2020, cho biết giá trị về học hành ngày xưa dựa trên nền tảng Triết lý giáo dục: Nhân Bản, Dân Tộc, Khai Phóng, lấy con người làm gốc, tinh thần dân tộc và giáo dục tri thức với tinh thần sáng tạo… Tuy nhiên với giáo dục tại Việt Nam sau 1975, Chị nhận xét:

“Sau 1975, nền giáo dục theo phong trào thành tích giả dối và những danh hiệu ảo như: ‘Cháu ngoan bác Hồ’. Khi mục tiêu giáo dục sau 1975 hoàn toàn đánh mất đi tính Nhân bản – Lễ nghiã. Khi học sinh đánh nhau lột đồ trước cổng trường… Thì danh hiệu ‘Cháu ngoan bác Hồ’ chỉ là danh hiệu ảo.

Học sinh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đất nước nhưng thực tại thì đạo đức của học sinh ngày càng suy thoái trong đó góp phần không nhỏ từ nhà trường, thầy cô. Mục đích giáo dục không hướng thiện, để đạt thành tích bằng những danh hiệu ảo chỉ gây cho học sinh ngày càng mất đi tính thật thà, nhân ái… Chính vì vậy tôi phản đối danh hiệu ‘Cháu ngoan bác Hồ’ và nên bỏ luôn danh hiệu này trong các trường học.”

Với tư cách phụ huynh, vị giáo viên tiểu học không muốn nên tên ở thành phố Hồ Chí Minh cho biết, cô thấy chuyện cháu ngoan bác Hồ cũng hơi nặng về mặt chính trị. Chị nói tiếp:

“Nhưng con của Chị đi học thì chị cũng cho tham gia hết các phong trào. Vì phong trào không chỉ quan tâm về chính trị, mà còn phong trào ví dụ như em ủng hộ miền Trung lũ lụt, tức là các em phải biết chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn hơn.”

Khi trao đổi với Đài Á Châu Tự Do hôm 27/10 liên quan việc này, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã tự giải thể cho rằng, chuyện ‘cháu ngoan bác Hồ’đã không còn phù hợp từ rất lâu rồi, nhưng nó lại rất cần cho chế độ Việt Nam hiện nay, cho sự độc quyền của đảng cộng sản. Tuy rằng theo ông, với xã hội và người dân, chuyện ‘cháu ngoan bác Hồ’ không còn có ý nghĩa gì cả, nhưng trong sự nhồi sọ về mặt tư tưởng, thì đảng cộng sản vẫn bám lấy cộng cụ đấy và theo ông nó vẫn có tác dụng. Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói tiếp:

“Ai mà bảo vì nó không hợp thời nữa, nên chả có tác dụng gì, thì hoàn toàn lầm to… Những chuyện danh hiệu, tiêu chuẩn,thi đua… hoàn toàn là những chuyện thực tế nó không ăn nhập gì với cuộc sống, nhưng về mặt tâm lý, về mặt nghệ thuật nhồi sọ, nó làm hằn sâu vào đầu óc của người dân, của trẻ em và nó có tác động tai hại rất lâu dài, chứ không phải như mình nghĩ đấy là chuyện vớ vẩn, cho nên không cần để ý…”

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, những chuyện như ông vừa nói, là những chuyện cần vạch ra tường tận, để tìm hiểu những lý do vì sao đảng cộng sản Việt Nam vẫn cứ bám vào. Theo ông, chính quyền Việt Nam bám vào như thế, hẳn phải có lý do của họ.

Danh hiệu ‘cháu ngoan bác Hồ’: công cụ để nhồi sọ trẻ ở Việt Nam!
RFA.ORG

Danh hiệu ‘cháu ngoan bác Hồ’: công cụ để nhồi sọ trẻ ở Việt Nam!

Đại hội cháu ngoan bác Hồ toàn quốc diễn ra ở thủ đô Hà Nội vào khi miền Trung đang chuẩn bị đón một cơn bão mới khi lũ lụt vừa rút… Nhân dịp này Trung Khang tìm hiểu ý kiến xoay quanh danh hiệu ‘cháu ngoan bác Hồ’ ở Việt Nam b…..

Thánh tử đạo Việt Nam Giuse Marchand Du

“Sau khi quân lính cắt 1 dao đầu tiên trên trán cha, cha đã kêu thét thất thanh lên vì đau đớn, và đến nhát dao thứ 7 thì cha tắt thở.

Sau đó xác của cha quân lính đem về băm nát ra rồi thả trôi sông. “

Đó là lời kể của những người tín hữu sống gần ngôi mộ của vị Thánh tử đạo Việt Nam Giuse Marchand Du cũng là nơi pháp trường chỗ cha bị xử bá đao 30.11.1835 tại Huế vì giữ đạo Chúa.

Cái chết của Cha Marchand nêu cao mẫu gương hết lòng vì giáo dân, và là nạn nhân để các tướng giặc trút lên ngài mọi tội phản nghịch lại quốc gia. Song từ quan cho đến dân đều xác nhận ngài phải chết vì không chịu bỏ đạo, mặc dù hình khổ bá đao dành cho những người phản nghịch.

Cha Giuse Marchand sinh ngày 17-8-1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs, nước Pháp. Cha mẹ ngài làm nghề nông, giầu lòng đạo đức. Ban đầu cậu Marchand đã ước muốn làm linh mục, hay bắt chước cha xứ đọc kinh, dâng hương và khuyên giảng. Năm 18 tuổi, 1821, cậu Marchand vào trường Orsans để học sửa soạn làm linh mục và tháng 11-1823 vào Ðại Chủng Viện Besancon. Bạn học làm chứng rằng Thầy Marchand chỉ ước ao gần gũi thân mật với Chúa và các Thiên Thần, còn ngoài ra rất mực khiêm nhường, hơi nóng tính một chút nhưng rất chân thành. Cậu tập hãm mình, mặc áo nhặm và ban đêm ngồi ghế để ngủ.

Sau khi chịu chức Phó Tế, Thầy Marchand muốn vào chủng viện truyền giáo, nhưng cha sở cố sức ngăn cản: “Thầy nên ở lại quê nhà lo liệu cho kẻ có tội và cứng lòng tin trở lại cùng Chúa trước đaõ”.

Thầy Marchand trả lời: “Nếu phải lo cho những người mất đức tin trong nước Pháp trước đã thì sẽ chẳng bao giờ có thể đi làm tông đồ giảng đạo. Có ai ăn ở như thiên thần đâu. Hơn nữa Ðức Thánh Cha đã dậy nhiều người phải đi xa để giảng đạo, thì không có lẽ chối vì muốn giảng đạo cho người xứ sở mà thôi?”

Tháng 11-1828, Thầy Phó Tế Marchand từ giã làng mạc lên chủng viện truyền giáo Paris học tập công việc tông đồ mới. Sau 5 tháng, thầy được chịu chức linh mục và sai đi truyền giáo ở viễn đông. Ngày 24-4-1829 Cha Marchand rời Paris và đến Macao 19-10-1829. Sau cùng vào đầu tháng 3-1830 Cha Marchand tới miền Nam được đức cha cho ở nhà trường Lái Thiêu để học tiếng Việt và lấy tên là Du.

Trước tiên Cha Du sang làm việc với người Việt ở Nam Vang, nhưng không hợp thủy thổ, đức cha chỉ cho người về dậy học ở trường Lái Thiêu và thăm các họ đạo chung quanh. Trong thời kỳ cấm cách các thừa sai ở nhiều dễ bị lộ, đức cha muốn cho Cha Du về Pháp để dậy trường truyền giáo, song cha yêu thích làm việc truyền giáo hơn dù có phải chết cũng cam. Ðức Cha Taberd giao cho ngài coi bổn đạo ở Bình Thuận. Cha Du viết về nhà như sau: “Ðịa sở của con hơn 7.000 bổn đạo, chia làm 25 họ nhỏ cách xa nhau nhiều lắm. Ðể làm hết bổn phận sẽ không còn giờ nào rảnh. Từ 5 giờ sáng cho tới 9 giờ tối không được nghỉ một chút nào. Chính vì con muốn sang đây để làm những việc này nên con rất hài lòng. Chỉ có một điều là con không thể có mặt nhiều nơi một lúc để có thể giúp cho bổn đạo. Phần lớn thời giờ con phải đi ghe nên cũng khó gặp được các bổn đạo hay lương dân để dẫn đưa họ về đạo thật….”

Ngày 6-1-1833 Vua Minh Mệnh ra lệnh bắt đạo toàn diện, các cha phải trốn chạy, nguyên địa phận Ðàng Trong có hơn 300 nhà thờ, 18 nhà dòng phải tháo gỡ. Số giáo dân địa phận Ðàng Trong là 60.000 người do Ðức Cha Taberd cai quản với 9 thừa sai và 17 cha Việt Nam. Ðức cha đang ở Biên Hòa được lệnh quan đã cùng với các cha khác trốn đi. Chỉ có Cha Delamotte trốn ở xứ Quảng, Cha Brigol ở Bình Thuận và Cha Marchand ở Vĩnh Long. Ba cha khác đã bị bắt là Cha Jaccard, Gagelin và Odorico. Cha Du lưu lạc hết Cái Nhum đến Cái Mơn, Bãi San, Rạch Rập. Quan đầu tỉnh Vĩnh Long biết có cụ đạo Tây trốn thì bắt một thầy bói tên là Oai Cú chỉ chỗ. Quan bắt được Cha Ðiền tra hỏi thì cha cứ một mực nhận là Cha Tây nhưng quan không tin.

Trong thời gian chạy trốn có nhiều lần ngài nói tiên tri như ngày nào có loạn, người nào sắp làm quan…. Dân chúng rất tin ngài. Ngày 5-3-1833 cha tới Mặc Bắc. Nhưng lý trưởng ở đây không chịu chứa, cha phải vào rừng để lẩn trốn. Ban đêm lên nhà ngủ, ban ngày chạy trốn, cứ thế trải qua cho đến khi giặc Lê Văn Khôi nổi loạn tháng 7-1833 bắt giáo dân tìm cho bằng được cố Tây về Sài Gòn. Trong thời gian này cha viết thư cho Cha Regéreau ở Nam Vang: “Bây giờ chỉ có mình tôi ở giữa con chiên. Tôi quyết chí bảo bọc họ dầu có phải chết. Có mình tôi là thừa sai ở giữa đàn chiên Chúa giao phó lẽ nào tôi cũng trốn chạy đi, để con chiên bị bách hại một mình. Ước chi tôi có thể đi khắp bốn phương trời mà làm cho đức tin họ thêm kiên cường”.

Các ông trùm định tâm đem ghe chở cha sang Xiêm để quan khỏi bắt được mà làm khốn cả làng. Thấy họ, cha chỉ mặt nói: “Kìa quân dữ đến bắt cha, đuổi nó đi”. Các ông trùm sợ hãi khóc lóc xin tha lỗi. Khi về họ nói với nhau: “Quái! Tính thầm với nhau sao mà cố biết được”. Từ cuối tháng 7, quân của Lê Văn Khôi đã kiểm soát toàn Nam Kỳ nên giáo dân được tự do đến gặp cha. Cha Du lăn xả vào việc giúp đỡ phần hồn cho giáo dân chịu thiếu thốn vì cơn bắt đạo. Giặc Khôi muốn có cha Tây trong thành để việc chiến tranh vững chắc, nên bắt cha sở họ chợ Quán là Cha Phước cùng với quan bộ Hộ mang về Mặc Bắc để bắt Cha Du. Hôm ấy cha đang ở nhà Tham Học, quân của Lê Văn Khôi ập đến mời cha về Gia Ðịnh. Cha nói: “Tôi đi giảng đạo mà thôi, việc chiến tranh tôi không biết chi. Nếu Chúa sai tôi đi đánh giặc thì một mình tôi một tỉnh tôi cũng không sợ”. Quan Ðội Miêng thưa: “Tướng Khôi chia Công Giáo làm ba vệ và tin tưởng người tâm phúc, nếu cha không về ông ta sẽ giận mà chém đầu hết những người có đạo, ở trong thành bây giờ có đạo đông lắm”.

Sau cùng cha chiều theo họ mà đi. Cha về ở họ Chợ Quán với Cha Phước. Quân của Lê Văn Khôi có đến nhờ viết thư sang Xiêm hay cầu cứu người Anh, cha đều từ chối hết. Khi có tin quân triều đình bao vây, cha xin giáo dân chở về Mặc Bắc, song họ nói mọi ngả đều bị vây không có cách nào đi khỏi. Quân của Lê Văn Khôi lại bắt Cha Du lên voi mà đem vào thành Phiên An (Gia Ðịnh). Ngài chỉ khóc mà nói: “Xưa quân dữ bắt Chúa Giêsu, nay nó cũng bắt cha”.

Ngày 24-9-1834, cha viết từ đồn Sài Gòn một lá thư gửi Ðức Cha Taberd nói đến tình cảnh bị bắt buộc ở chung với 4.000 lính Bình Thuận làm phản triều đình. Cha đã từ chối không vẽ mẫu cờ Constantinô để đạo thánh không bị mang tiếng vì quân phản nghịch. Cha khuyên đức cha ở nguyên bên Xiêm, để một mình cha lao đao chịu trận, gánh đỡ mọi sự khốn khó của cơn bắt đạo và giặc giã. Ngày 8-9-1835 tức là sau hai năm vây hãm, triều đình hạ được thành Phiên An bắt được 1940 người, trong đó chỉ có 64 người lính Công Giáo. Tất cả đã bị phân thây chôn ở Chí Hòa gọi là mả ngụy. Cha Du và 4 người bị ghép tội phản nghịch nên bị đóng cũi chờ lệnh.

Các tướng triều đình đóng quân ở Thổ Sơn cho điệu Cha Du đến tra hỏi: “Cha đã tới bao lâu, làm những gì, tại sao lại có mặt ở trong đồn giặc?” – “Tôi ở trong nước đã lâu để rao giảng đạo Thiên Chúa. Ban đầu tôi ở miền dưới song họ đem tôi về Chợ Quán và bắt tôi vào trong thành”. – “Cha có làm gì giúp giặc không?” – “Tôi chỉ giảng đạo và biết có việc giảng đạo mà thôi”. – “Ông có vợ con không, giảng đạo là làm gì?” – “Là đọc kinh, làm lễ và dậy dỗ bổn đạo”. – “Ông có biết làm thuốc mê dụ dỗ bọn ngụy cho nó theo không?” – “Tôi chỉ biết có một việc giảng đạo mà thôi”.

Tại Gia Ðịnh, cha bị tra hỏi ba lần mà cha đều chỉ thưa có vậy. Ngày 15-10, quân lính và tù binh về tới kinh đô trong tiếng reo hò chiến thắng. Các tù nhân bị nhốt trong cũi, xếp một hàng dài ở trại Võ Lâm. Ngày hôm sau các quan tòa tam pháp tra hỏi Cha Du: – “Ngươi có phải là Phú Hoài Nhân (tên vua đặt cho Ðức Cha Taberd) không?”

– “Không”.

– “Ông ấy bây giờ ở đâu?”

– “Tôi không biết”.

– “Ngươi có biết ông ấy không?”

– “Tôi biết lắm nhưng đã lâu không gặp”.

– “Ngươi ở trong nước được bao lâu?”

– “Năm năm”.

– “Ngươi ở những đâu?”

– “Trước hết tôi ở Lái Thiêu, sau này tôi ở nay đây mai đó trong nhà nhiều người mà nay họ chết cả rồi”.

– “Ngươi có giúp Khôi làm giặc không?”

– “Không, ông Khôi cho quân đi bắt tôi đem về Sài Gòn. Việc chiến tranh tôi không biết gì, chỉ làm một việc là cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ”.

– “Có phải ngươi viết thơ xin quân Xiêm và giáo dân Ðồng Nai đến giúp ngụy nữa không?”

– “Ông Khôi có bắt tôi viết thơ song tôi không chịu, và nói cho ông ta rằng đạo cấm làm chuyện chính trị. Tôi cũng nói thà chịu chết chứ không làm như thế được. Dù vậy ông Khôi còn đem mấy thơ đến bắt tôi ký tên vào nhưng tôi đã lấy mà đốt đi trước mặt ông Khôi”.

Lần tra khảo này Cha Marchand không bị đánh đập. Ngày hôm sau nữa quan lại hỏi các tướng nghịch. Những người này sợ tội nên đã đổ lỗi hoàn toàn cho Khôi đã chết và cho Cha Du. Họ bịa đặt ra là có đức cha xúi làm loạn để đưa An Hòa, là con của Ðông Cung (hoàng tử Cảnh) lên ngôi. Mấy tướng nghịch cũng đổ tội cho công chúa Kiên An là em của Minh Mệnh xúi dục khởi ngụy, và cho Thái Công Triều, trước theo giặc nhưng đã phản Khôi về hàng triều đình.

Ngày 17-10, quan cho đòi Cha Du đến công đường có bày sẵn các hình cụ và bắt nhận lời như bọn tướng nghịch đã khai. Cha Du cực lực chối bỏ. Cha bị tra tấn thật dã man: hai đứa kềm hai bên, một đứa khác vén quần lên cao để lộ hai bắp vế, một tên khác lấy kìm nung đỏ kẹp vào đùi bên trái. Mọi người nghe tiếng kêu xèo xèo và mùi khét phải quay mặt ra phía ngoài. Lý hình giữ nguyên kẹp cho đến khi nguội hẳn. Cha Du thét lên và ngất xỉu. Cách chừng nửa giờ sau quan lại hỏi nữa và bị kẹp đùi bên phải, thảm cảnh man rợ tái diễn làm Cha Du ngã xuống đất lần thứ hai. Cha vẫn một mực không chịu nhận tội làm giặc mà các quan ép buộc. Quan nói: “Thôi, tên này lớn gan lắm, để thủng thẳng bữa khác sẽ hay. Hãy đem về cũi giam lại”.

Cha còn bị tra hỏi nhiều lần khác song không bị kìm kẹp. Ðứa con lên 7 tuổi của Khôi cũng bị tra hỏi, nó cứ thật mà khai là Cha Du không có can dự gì vào chiến tranh, cũng chẳng làm những điều ông Khôi ép buộc. Không ép buộc được Cha Du nhận tội, các quan bắt cha phải bỏ đạo. Quan nói: “Ngươi chối hoài là không làm gì theo giặc thì thôi, nhưng ngươi không thể chối đã đến đây giảng đạo mặc dù ngươi biết có lệnh vua cấm. Tội này cũng đáng hình khổ nặng lắm. Nhưng nếu ngươi đành lòng bỏ đạo bước qua thập giá thì ta tha cho mọi hình phạt”.

– “Quan lớn rộng lượng như thế thì xin cám ơn, nhưng xuất giáo thì không bao giờ. Tôi thà chịu mọi hình phạt quái gở chứ chẳng thà chối Chúa như vậy”.

Các quan mặc sức chế nhạo và vu khống cho đạo như là làm thuốc mê, gian dâm với đàn bà…. Cha cực lực chối cãi: “Cái việc ấy chỉ là do những người ghét đạo bày đặt ra. Nếu đạo có như vậy thì còn ai dám theo?”

Các quan làm tờ trình như sau: “Năm Minh Mệnh thứ 15, tháng 9, ngày 13, chúng tôi, các quan tòa tam pháp theo lệnh hoàng thượng như sau. Tháng 5, năm vừa qua, chúng tôi xét xử vụ khởi loạn của Khôi ở thành Phiên An, trong số đồng phạm có linh mục Âu Châu tên là Du, cũng gọi là Marchand, đã theo tầu Trung Hoa đến nước năm Minh Mệnh thứ 12 tại cửa Cần Giờ, và trốn tránh tại Vĩnh Long và Biên Hòa để lén lút giảng đạo Gia Tô. Từ đó theo Khôi khởi loạn, liên lạc với kẻ thù của chúng ta là nước Xiêm và tập họp người Công Giáo trong thành…, đã bị bắt và dẫn giải về kinh đô giao cho chúng tôi xét xử. Sau đó chúng tôi đã mở cuộc thẩm vấn và thấy các câu trả lời của tội nhân vi phạm luật lệ quốc gia một cách trầm trọng. Chính tội nhân đã nhận tội lỗi. Vì thế tên đạo trưởng Âu Châu Du hay Marchand có hai tội không những không chịu đạp ảnh mà thực sự có dính líu đến nghịch tặc. Chúng tôi luận phải xử bá đao và phải bêu đầu. Sau khi nhận được lệnh vua, chúng tôi sai hai quan Lang Trung và Chủ cùng với 40 lính thuộc trấn phủ dẫn tù nhân Âu Châu Marchand đến nơi gọi là Trương Ðông, làng Dương Xuân, huyện Hương Toà để hành quyết và chặt đầu bêu như đã chỉ thị”.

Thừa Sai Delamotte và Marette thuật lại vụ hành quyết với nhiều chi tiết hơn: Cha Marchand bị giam tại trại Võ Lâm một tháng rưỡi chờ ngày Vua Minh Mệnh ra lệnh hành hình. Sáng 30-11, lễ Thánh Anrê, 7 phát súng đại bác đánh thức kinh thành Huế dậy đi chứng kiến vụ hành quyết có một không hai trong lịch sử. Các quan đến trại giam dẫn Cha Du, ba tên tướng nghịch và con của Khôi đến cửa Ngọ Môn cho Minh Mệnh thấy mặt. Lính túm ngực tội nhân mà dẫn đi như cách thức dẫn giải một tên phản nghịch, nhấn đầu xuống đất để lạy vua 5 lần. Minh Mệnh nhìn mặt rồi ném quạt xuống đất ra hiệu đem đi mà giết. Cha Du được dẫn đến đại sảnh nơi đô sát viện. Họ cởi áo cha, chỉ để lại một miếng khố nhỏ và một tấm vải ở cổ viết tên: “Ma-Sang danh Du”. Sau đó các tội nhân bị cột vào cây thập giá do 4 người lính khiêng đi đến nơi hành quyết. Tới tòa tam pháp, lính đem Cha Du vào trong trước mặt quan lớn. Hai tên lính ôm chặt hai ống chân kéo thẳng ra, 5 tên khác mỗi đứa một cái kìm nung đỏ kẹp vào 5 chỗ ở chân bên trái. Vì đau đớn quá Cha Du kêu lên: “Ôi cha ơi!” Quan sai lính đứng đàng sau 5 tên lý hình để thúc dục lý hình không được thương hại mà nới tay. Sau khi rút kìm ra, quan hỏi: “Vì lý do gì bên đạo móc mắt người chết?” – “Không bao giờ tôi thấy như vậy”.

Năm tên lý hình lại được lệnh mang kìm nóng kẹp vào chân phải. Mùi thịt cháy khét lẹt làm nhiều người bủn rủn chân tay. Kìm nguội rồi quan lại hỏi: “Tại sao nam nữ trước khi kết hôn đến trước mặt linh mục làm gì?”

– “Họ đến trước mặt linh mục để xin công nhận và toàn thể giáo dân chứng giám, đồng thời xin Thiên Chúa chúc lành”.

Năm mũi kìm nóng lại thi nhau đốt cháy da thịt của vị anh hùng tử đạo. Khi mùi khét và khói ngưng bốc lên, quan lại hỏi: “Trong nhà thờ các linh mục cho bổn đạo ăn thứ bánh quái gở gì mà họ trung thành đến nỗi chết?”

Cha Du phải gượng gạo trong hơi thở yếu ớt trả lời: “Không phải là bánh thường nhưng là Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng tôi, trở nên lương thực nuôi hồn…”

Những lời tra hỏi về đạo này làm chứng rằng Cha Du chịu hành hạ dữ tợn như thế là vì đạo mà thôi. Quan sợ cha chết chưa kịp thọ án nên ngưng tra khảo, và cho các tù nhân ăn uống. Cha Du không ăn gì, chỉ để hết tâm hồn cầu nguyện xin ơn chịu đau khổ cho đến cùng.

Sau khi các tù nhân ăn xong họ bị trói trở lại vào thập tự, miệng phải ngậm đá sỏi và khóa lại bằng tre để khi chịu đau kêu không ra tiếng. Khoảng chừng 100 lính theo lý hình ra pháp trường ở họ Thợ Ðúc. Tại đây có sẵn 5 cọc, lý hình cởi trói Cha Du khỏi thập giá và buộc vào cọc thứ hai, hai bên có hai lý hình, một người cầm kẹp, một người cầm đao, hai tên khác đứng gần để đếm miếng thịt lắt ra và ghi vào sổ. Sau hồi trống lệnh, lý hình xẻo trán Cha Du để che trước mắt, sau đó lấy kẹp mà lôi hai vú ném xuống đất. Lần lượt lý hình kẹp lôi thịt ở hai bên hông mà cắt vất xuống đất. Lúc ấy Cha Du không còn sức nữa, gục đầu xuống và linh hồn về với Chúa. Thấy cha đã chết, tên cầm đao túm tóc kéo đầu lên và chém đứt cổ, bỏ đầu vào thúng vôi. Lý hình xô xác cha xuống đất và tiếp tục cắt thân thể ra từng trăm mảnh, hết bổ dọc đến bổ ngang như một khúc cây. Vì Cha Du khắc khổ, chịu hành hạ nhiều nên không còn máu chảy ra. Khi xong xuôi tất cả, lý hình gom các miếng thịt vụn lại vào mấy thúng, rồi đem giao cho quan để vất xuống sông, còn đầu bỏ vào thùng đem đi khắp nơi trên toàn lãnh thổ. Ðầu Cha Du tới Hà Nội ngày 2-1-1836. Ði đến đâu người ta đều nghe một hơi lạnh ớn xương sống. Sau cùng đầu Cha Du được đưa về Huế bỏ vào cối xay nát và ném xuống biển. Không ai giữ được một di tích nào của vị thánh này.

Gx. Cần Giờ, DCCT           

Bão số 9: Tất cả người sống ven biển cần được sơ tán; nhà cấp 4 có thể bị đánh sập

 Bão số 9 đã đạt cường độ cực đại vào chiều tối nay (27/10) đạt cấp 14, giật cấp 17. Ngoài gió giật, sóng biển sẽ cao từ 7-10m tùy nơi, nước biển sẽ dâng thêm 1m, gây sức càn quét rất lớn. SƠ TÁN là điều đang được chuyên gia khí tượng khuyến cáo hàng đầu, đối với tất cả người sống ven biển và người sống ở nơi không an toàn, chậm nhất trước 21h tối nay.

TS Nguyễn Ngọc Huy, Cố vấn cấp cao về biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiên tai của tổ chức Oxfam tại Việt Nam nhận định bão số 9 sẽ là một trong những cơn bão lớn nhất sẽ vào Việt Nam.

“Đối với lụt, chúng ta có thể chờ 1-2 ngày trên mái nhà để đợi cứu trợ, đợi được giải cứu. Nhưng với bão thì không. Với bão lớn như này, chúng ta không có cơ hội để đợi 1-2 ngày, thậm chí trong 1-2 tiếng cũng không thể gọi được cứu hộ. Do vậy, chủ động sơ tán trước khi bão đến nếu nhà mình không phải là nơi trú tránh an toàn.”

Đối với các nhà ven biển ở vùng ven bờ, chính quyền nên áp dụng hình thức sơ tán hết, vì sóng biển sẽ cao từ 7-10m tùy nơi, nước biển sẽ dâng thêm 1m, đó là một sức càn quét rất lớn.” – ông Huy cảnh báo.

#trithucVN #trithuc

CUỘC ĐỜI ĐAU THƯƠNG CỦA LOÀI CHIM YẾN

  
Image may contain: text

 Chuyện tuổi Trung Niên

  CUỘC ĐỜI ĐAU THƯƠNG CỦA LOÀI CHIM YẾN

Có 1 lần lâu lắm rồi tôi có gặp người bạn nói ngày xưa ở VN trước năm 75 có lần ông trúng thầu để lấy tổ yến…

Sau lần đó ông giải nghệ luôn vì thấy ác độc quá…Ông nói tội lắm cô ơi…đôi khi phải vứt trứng yến hay chim non xuống biển để lấy tổ…Chim mẹ bay về quanh quẩn nơi tổ yến đã mất kêu thảm thiết lắm…Nghe ông nói mà tôi ứa nước mắt thương cho chim mẹ…

CHUYỆN CỦA CHIM YẾN

Câu chuyện ray rức lòng người.Xé gió biển, đôi cánh nhỏ dang rộng hết cỡ, lượn lên mất hút trên không trung rồi bất thần lao xuống hết tốc lực. Chẳng có gì ngăn cản nổi, Yến mẹ lao đầu vào vách đá dựng đứng. Để lại trên vách núi vệt máu tươi uất nghẹn và tiếng kêu khản đặc xé lòng của chim trống…Cảnh tượng đó lặp đi lặp lại trong những ngày vào mùa, mùa mà một loài hân hoan trên sự chết chóc đau thương của một loài khác. Mùa khai thác Tổ Yến.Yến, sống trung thành – chết thuỷ chung. Một đôi Yến khi đã sống cùng nhau là trọn đời trọn kiếp. Khi đã xây tổ ở đâu là vĩnh viễn không dời đi nữa. Tập tính đó giết hại Yến. Người vẫn thầm ngưỡng mộ và tự hỏi: Trong hàng ngàn chim Yến bay rợp biển kia mà vì sao các cặp đôi không bao giờ nhầm lẫn, không đời nào lang chạ? Hàng vạn tổ Yến ken đặc trên vách đá đó mà Yến luôn về đúng nhà của mình. Không bao giờ chiếm tổ chim khác? Rồi người lợi dụng triệt để đặc tính này để dụ Yến, nuôi Yến, lấy tổ Yến và vô tâm nhìn xác Yến…Nếu không may gặp một thợ hái tổ không chuyên hay thiếu kinh nghiệm. Không chừa lại một phần tổ, hoặc lấy đúng chiếc tổ của Yến sắp sinh. Chim mẹ trở về trong tình trạng mất tổ, không chịu nỗi đau đớn vì cơn chuyển dạ. Yến sẽ quẩn và chọn cách gieo mình vào vách núi, chính nơi đã xây mái ấm để quyên sinh.

Đa số chim Yến trống sau đó bay lượn điên cuồng, kêu gào thảm thiết rồi lao thẳng vào đúng chỗ vợ chết. Nên các vệt máu khô buồn in lại trên vách đá lạnh lẽo thường là vệt đôi bên nhau, thậm chí là chồng lên nhau. Nếu không tự tử, chim Yến trống sẽ sống cô độc suốt quảng đời còn lại.

Xưa, kẻ cùng đinh mạt vận mới phải ra nơi heo hút, leo trèo nguy hiểm tìm hái tổ Yến để mong đổi đời. Thường thì khi có chút vốn họ bỏ nghề và ăn năn sám hối. Họ không đời nào muốn con cái tiếp tục cái việc quá sức mạo hiểm, quá sức thất đức. Và đó là lý do không có “nghề lấy tổ Yến gia truyền” là vậy.

Nay, lòng tham con người vô cùng vô tận.

Tạo hoá không ban phát cho ai tất cả. Loài chim hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung đó lại có đôi chân cực ngắn và mềm yếu. Yến dường như không thể đậu trên mặt đất, Yến treo thân trên vách cheo leo lúc đêm về. Còn lại gần như bay suốt, liên tục từ 12-15 giờ mỗi ngày. Săn mồi và ăn trong khi đang bay, ngủ trong lúc bay, thậm chí là “làm chuyện vợ chồng” trên không luôn.

Bù lại, Mẹ Thiên Nhiên dạy Yến cách sinh tồn, mách bảo Yến sống trên cao, làm tổ nơi vách núi thẳng đứng, hẻo lánh và trơn trượt. Hòng tránh loài ăn thịt hiểm ác như rắn hay cú vọ. Có điều, ngay cả thiên nhiên cũng không biết được có loài ăn…tạp còn tàn độc hơn thú dữ. Loài có thể chinh phục bất cứ núi cao vực sâu hiểm trở nào hầu nhét cho đầy lòng tham tanh tưởi. Loài đã làm những cuộc tàn xác đẫm máu mang tên “Yến Sào”.

Yến chống chọi để tồn tại, tạo hoá không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỉ gọi đó là “Hồng Yến”…

Cuộc đời loài chim yến hiện nay thật quá thương tâm, vì lòng tham và sự tàn nhẫn của con người chưa từng giảm bớt…Hãy dừng lại việc nuôi yến, bán tổ yến cho đến tiêu thụ các sản phẩm từ chim yến.

Nhân nào quả đấy, nếu mình phá hoại nhà cửa của người ta, chia rẽ gia đình người ta, cướp đoạt cái mà chẳng phải thuộc về mình, ăn nuốt vật phẩm dựa trên máu, nước mắt và sinh mạng của chúng sanh thì tương lai gia đình mình, con cháu mình, và cá nhân mình chẳng lẽ không bị quả báo tương tự hay sao?

Vì vậy: Trước khi làm điều gì, hãy nghĩ đến hậu quả của nó.

(st.)

Coi Chừng Cộng Sản Trong Nhà

Coi Chừng Cộng Sản Trong Nhà

( TRONG ĐÓ CÓ GIA ĐINH CHÚNG TÔI …)
 
 … Có ngày phải dậm cẳng kêu trời, chỉ vì mình là người từng chạy trốn cộng sản mà ngày nay chính con cái của mình lại mang bọn cộng sản vào nhà…
 
Hiện nay có những điều trớ trêu xảy ra trong nhiều gia đình Việt Nam chống chộng tại hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Dù họ từng là nạn nhân của VC, nhưng phải bất lực nhìn con em của mình đi ủng hộ kẻ thù nước Mỹ, đang lúp bóng chiêu bài “bọn lưu manh” để “tranh đấu” cho người Mỹ da màu, nhưng thực chất là tiếp tay kẻ thù nước Mỹ để phá hoại nước Mỹ.
 
Hình ảnh này từng xảy ra tại Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước. Nhiều người trẻ thời đó đã nghe lời hứa hẹn hảo huyền của Hồ Chí Minh và đảng cướp của đương sự, nên suốt đời phải ân hận. Bọn VC đã chiêu dụ và gạt được nhiều trí thức miền Nam, thuộc những gia đình có thế giá thời bấy giờ. Điển hình là nữ Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát… Với chiêu bài “đánh Mỹ cứu nước” qua cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam”, chứ không riêng thành phần “bần cố nông” theo cộng sản để đấu tranh giai cấp, triệt hạ “địa chủ”. Tàn tệ hơn nữa là trường hợp Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, dù suốt đời ông bị VC trù dập thay vì ưu đãi, nhưng cuối đời ông cũng phải nghe lệnh của đảng VC, viết lời ca ngợi sự “ưu đãi” mà đảng CSVN dành cho ông.
 
HIẾU TRƯƠNG Blog: SÁU LÝ DO GIÚP CHẾ ĐỘ Cộng Sản TỒN TẠI
 
Bài viết này người viết xin được kể lại những câu chuyện hết sức ê chề, có thật 100% mà người viết đã được những người trong cuộc cho phép kể lại, nhưng không nêu tên và chính xác thành phố nơi họ cư ngụ.
 
Một ông bạn rất thân của tôi, người Mỹ, chúng tôi quen nhau trên ba mươi năm. Ông hiện đang sống tại Washington State, đã than phiền với tôi rằng: Con gái ông đã gia nhập đảng cộng sản Mỹ với thằng bạn trai của nó. Ông cho rằng đây là hành động hết sức ngu xuẩn, bởi nó đã nghe lời thầy cô của nó trong trường đại học, và ông đã bất lực với con ông. Ông tự trách là mình quá thờ ơ. Ông đâu ngờ rằng con mình là người Mỹ, sanh ra tại Mỹ, sống đời tự do tại một đất nước phồn thịnh, mà nó lại mê thuyết của “chủ nghĩa cộng sản”.
 
Một gia đình khác thuộc phe “chống cộng tới chiều” cũng hỏi tôi, là ông phải phải làm gì khi thằng con trai của ông ủng hộ đảng Dân Chủ một cách điên cuồng, cho dù ông bao nhiêu lần chứng minh cho cậu ta thấy những bằng chứng hùng hồn rằng, đảng Dân Chủ đã và đang thông đồng hay dung dưỡng cho những chính trị gia Mỹ, có hành động phản quốc khi cấu kết với Tàu cộng để hại nước Mỹ trong nhiều Thập Niên qua. Theo ông thì “hơi hám” của cậu con trai ông rất là gần với khuynh hướng cộng sản, dù nó không dùng hai chữ cộng sản.
 
Một nữ độc giả, chồng chị là người có lập trường chống cộng rõ ràng, có uy tín trong các sinh hoạt cộng đồng và đấu tranh tại tại California Hoa Kỳ. Sau khi chị đọc những bài viết và các chương trình video “Chúng Ta và Thời Cuộc” do tôi thực hiện trên Youtube Channel “TV21-HQB”, đã liên lạc với tôi và than phiền về chuyện hai đứa cháu gái, gọi chị bằng cô, hiện đang sống tại một tiểu bang được xem là thành trì của đảng Cộng Hòa. Thế mà hai cháu của chị rất mê bà Hillary Clinton, rất ngưỡng mộ ông lão Bernard Sanders với đường lối sao y bản chánh của cái gọi là “xã hội chủ nghĩa”, một thứ cộng sản trá hình. Hiện nay hai cô bạn trẻ đó cũng rất ra ngợi hành động của ông Joe Biden và bà Nancy Pelosy quỳ gối “đòi công lý” cho George Floyd. Hai cô này cho đó là hình ảnh khiêm tốn, yêu nước, yêu dân, nhất là “yêu người da màu” Joe Biden và bà Nancy Pelosy, và họ đã nhiều lần xuống đường biểu tình ủng hộ “bọn lưu manh”.
 
Một người đàn bà góa tại California, là hiền thê của ông bạn vong niên của tôi. Ông là người mà tôi xem như thể đàn anh về tuổi tác và kinh nghiệm đời. Lúc sinh tiền ông là một nhân sĩ có lòng yêu nước. Ông có nhiều nhiều bài viết và sách vở vạch trần tội ác VC, liên tục mấy thập niên… Bà gọi cho tôi và than phiền rằng “Lúc Nhà Tôi còn sống, ổng và tôi dạy con rất kỹ và thường xuyên cho các con biết về vấn đề tội ác và những thủ thuật thâm độc của VC. Chúng tôi nói rõ là do đâu khiến chúng tôi phải mang các con rời bỏ Việt Nam để lánh nạn VC… Tưởng đâu chúng nó hiểu, nhưng nào ngờ, sau khi Ông Nhà Tôi qua đời thì thằng con lớn của tôi lộ rõ lập trường ủng hộ “xã hội chủ nghĩa” tại Mỹ. Nó còn kéo thêm các em nó và vợ con nó xuống đường ủng hộ những cuộc bạo loạn của “bọn lưu manh” hiện nay, để phá hoại nền tự do và an ninh của nước Mỹ…”
 
Một ông bạn khác của tôi, người có niềm tin vào Thiên Chúa đã gọi than thở với tôi như thể là muốn khóc, chỉ vì ông bất lực với cậu con trai của ông. Ông nói rõ với tôi, cậu con trai ông rất rành tiếng Việt, tức là biết viết và có khả năng đọc báo Việt ngữ, dù cậu ta sanh tại Mỹ. Còn ông thì không trở ngại tiếng Mỹ, nên không thể có sự hiểu lầm hay “ngăn cách” về ngôn ngữ. Ông đã giải thích với con ông rằng, bản thân ông, Bố ruột và Ba vợ của ông từng bị VC giam cầm nhiều năm trong nhà tù VC sau ngày 30-4-75. Ông cho cậu con biết là ngày xưa tại Việt Nam, bọn VC từng mang chiêu bài “xã hội chủ nghĩa” và “đánh Mỹ cứu nước”, để chiêu dụ thanh niên hai miền Nam Bắc chạy theo cộng sản. Cuối cùng mọi người trở thành nạn nhân của bọn VC. Hiện nay kẻ thù nước Mỹ đang lợi dụng giới trẻ Mỹ qua chiêu bài tranh đấu cho người Mỹ da màu để phá hoại nước Mỹ, dẫn dắt thanh thiếu niên vào con đường phạm pháp, làm những điều có lợi cho kẻ thù nước Mỹ…. Kết quả con ông đã “từ ông” bằng cách dọn ra khỏi nhà với lý do là “bố tưởng con là con nít không biết gì hay sao? Cộng sản mà bố và ông nội, ông ngoại đề cập, là của Việt Nam, chứ không phải cộng sản hay xã hội chủ nghĩa tại Mỹ này. Bố đừng tưởng con bị nhồi sọ. Chính bố mới là người bị đảng Cộng Hòa nhồi sọ….”
 
Còn nhiều gia đình Việt Nam mà tôi quen thân đã than thở với tôi về lập trường chính trị của con em họ. Các phụ huynh này cho biết là họ rất “đau đớn”, bởi vì hoàn cảnh sinh nhai, không có nhiều giờ dành cho con cái, nên khi biết ra thì đã muộn. Vì khuôn khổ bài viết và vì tôi chưa được phép của họ, cho dù tôi không nêu đích danh họ, nhưng tôi không thể kể hết ra đây.
 
Thú thật, ngay cả con cái trong gia đình của chúng tôi cũng từng có thời gian bất đồng với vợ chồng tôi khi có những nhận xét về chủ trương và việc làm giữa đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tại Hoa Kỳ này. Các bạn trẻ thường nghe lời thầy cô của họ trong trường đại học, gồm những thành phần có khuynh hướng nghiên về phía tả hay tự do phóng khoáng, cho nên các bạn trẻ đã có những nhận xét xa rời thực thế. Điều này giống như thời điểm người Việt Nam chống thực dân Pháp, đã có không ít những thành phần trí thức hay thanh niên có lòng yêu nước đã mắc mưu cộng sản. Những người trẻ yêu nước đó đã “vai chen vai, cánh sát cánh” để góp phần hay tiếp tay VC áp đặt chủ nghĩa cộng sản để tàn phá đất nước. Khi những người yêu nước đó tỉnh ngộ thì đã muộn và cuối đời phải ôm tủi nhục xuống mồ, như tôi đã nêu ra ngay phần mở đầu bài viết này.
 
Tôi kể ra các trường hợp trên như một lời cảnh giác đồng bào Việt Nam chúng ta hãy lưu ý con cái của mình. Đừng xem thường việc này với lối chủ trương “không muốn nói chuyện chính trị” hay “không thích chuyện chính trị” mà có ngày phải dậm cẳng kêu trời, chỉ vì mình là người từng chạy trốn cộng sản mà ngày nay chính con cái của mình lại “mang bọn cộng sản vào nhà”.
 

Huỳnh Quốc Bình

From: Tu Phung