Thánh tử đạo Việt Nam Giuse Marchand Du

“Sau khi quân lính cắt 1 dao đầu tiên trên trán cha, cha đã kêu thét thất thanh lên vì đau đớn, và đến nhát dao thứ 7 thì cha tắt thở.

Sau đó xác của cha quân lính đem về băm nát ra rồi thả trôi sông. “

Đó là lời kể của những người tín hữu sống gần ngôi mộ của vị Thánh tử đạo Việt Nam Giuse Marchand Du cũng là nơi pháp trường chỗ cha bị xử bá đao 30.11.1835 tại Huế vì giữ đạo Chúa.

Cái chết của Cha Marchand nêu cao mẫu gương hết lòng vì giáo dân, và là nạn nhân để các tướng giặc trút lên ngài mọi tội phản nghịch lại quốc gia. Song từ quan cho đến dân đều xác nhận ngài phải chết vì không chịu bỏ đạo, mặc dù hình khổ bá đao dành cho những người phản nghịch.

Cha Giuse Marchand sinh ngày 17-8-1803 tại làng Passavant, tỉnh Doubs, nước Pháp. Cha mẹ ngài làm nghề nông, giầu lòng đạo đức. Ban đầu cậu Marchand đã ước muốn làm linh mục, hay bắt chước cha xứ đọc kinh, dâng hương và khuyên giảng. Năm 18 tuổi, 1821, cậu Marchand vào trường Orsans để học sửa soạn làm linh mục và tháng 11-1823 vào Ðại Chủng Viện Besancon. Bạn học làm chứng rằng Thầy Marchand chỉ ước ao gần gũi thân mật với Chúa và các Thiên Thần, còn ngoài ra rất mực khiêm nhường, hơi nóng tính một chút nhưng rất chân thành. Cậu tập hãm mình, mặc áo nhặm và ban đêm ngồi ghế để ngủ.

Sau khi chịu chức Phó Tế, Thầy Marchand muốn vào chủng viện truyền giáo, nhưng cha sở cố sức ngăn cản: “Thầy nên ở lại quê nhà lo liệu cho kẻ có tội và cứng lòng tin trở lại cùng Chúa trước đaõ”.

Thầy Marchand trả lời: “Nếu phải lo cho những người mất đức tin trong nước Pháp trước đã thì sẽ chẳng bao giờ có thể đi làm tông đồ giảng đạo. Có ai ăn ở như thiên thần đâu. Hơn nữa Ðức Thánh Cha đã dậy nhiều người phải đi xa để giảng đạo, thì không có lẽ chối vì muốn giảng đạo cho người xứ sở mà thôi?”

Tháng 11-1828, Thầy Phó Tế Marchand từ giã làng mạc lên chủng viện truyền giáo Paris học tập công việc tông đồ mới. Sau 5 tháng, thầy được chịu chức linh mục và sai đi truyền giáo ở viễn đông. Ngày 24-4-1829 Cha Marchand rời Paris và đến Macao 19-10-1829. Sau cùng vào đầu tháng 3-1830 Cha Marchand tới miền Nam được đức cha cho ở nhà trường Lái Thiêu để học tiếng Việt và lấy tên là Du.

Trước tiên Cha Du sang làm việc với người Việt ở Nam Vang, nhưng không hợp thủy thổ, đức cha chỉ cho người về dậy học ở trường Lái Thiêu và thăm các họ đạo chung quanh. Trong thời kỳ cấm cách các thừa sai ở nhiều dễ bị lộ, đức cha muốn cho Cha Du về Pháp để dậy trường truyền giáo, song cha yêu thích làm việc truyền giáo hơn dù có phải chết cũng cam. Ðức Cha Taberd giao cho ngài coi bổn đạo ở Bình Thuận. Cha Du viết về nhà như sau: “Ðịa sở của con hơn 7.000 bổn đạo, chia làm 25 họ nhỏ cách xa nhau nhiều lắm. Ðể làm hết bổn phận sẽ không còn giờ nào rảnh. Từ 5 giờ sáng cho tới 9 giờ tối không được nghỉ một chút nào. Chính vì con muốn sang đây để làm những việc này nên con rất hài lòng. Chỉ có một điều là con không thể có mặt nhiều nơi một lúc để có thể giúp cho bổn đạo. Phần lớn thời giờ con phải đi ghe nên cũng khó gặp được các bổn đạo hay lương dân để dẫn đưa họ về đạo thật….”

Ngày 6-1-1833 Vua Minh Mệnh ra lệnh bắt đạo toàn diện, các cha phải trốn chạy, nguyên địa phận Ðàng Trong có hơn 300 nhà thờ, 18 nhà dòng phải tháo gỡ. Số giáo dân địa phận Ðàng Trong là 60.000 người do Ðức Cha Taberd cai quản với 9 thừa sai và 17 cha Việt Nam. Ðức cha đang ở Biên Hòa được lệnh quan đã cùng với các cha khác trốn đi. Chỉ có Cha Delamotte trốn ở xứ Quảng, Cha Brigol ở Bình Thuận và Cha Marchand ở Vĩnh Long. Ba cha khác đã bị bắt là Cha Jaccard, Gagelin và Odorico. Cha Du lưu lạc hết Cái Nhum đến Cái Mơn, Bãi San, Rạch Rập. Quan đầu tỉnh Vĩnh Long biết có cụ đạo Tây trốn thì bắt một thầy bói tên là Oai Cú chỉ chỗ. Quan bắt được Cha Ðiền tra hỏi thì cha cứ một mực nhận là Cha Tây nhưng quan không tin.

Trong thời gian chạy trốn có nhiều lần ngài nói tiên tri như ngày nào có loạn, người nào sắp làm quan…. Dân chúng rất tin ngài. Ngày 5-3-1833 cha tới Mặc Bắc. Nhưng lý trưởng ở đây không chịu chứa, cha phải vào rừng để lẩn trốn. Ban đêm lên nhà ngủ, ban ngày chạy trốn, cứ thế trải qua cho đến khi giặc Lê Văn Khôi nổi loạn tháng 7-1833 bắt giáo dân tìm cho bằng được cố Tây về Sài Gòn. Trong thời gian này cha viết thư cho Cha Regéreau ở Nam Vang: “Bây giờ chỉ có mình tôi ở giữa con chiên. Tôi quyết chí bảo bọc họ dầu có phải chết. Có mình tôi là thừa sai ở giữa đàn chiên Chúa giao phó lẽ nào tôi cũng trốn chạy đi, để con chiên bị bách hại một mình. Ước chi tôi có thể đi khắp bốn phương trời mà làm cho đức tin họ thêm kiên cường”.

Các ông trùm định tâm đem ghe chở cha sang Xiêm để quan khỏi bắt được mà làm khốn cả làng. Thấy họ, cha chỉ mặt nói: “Kìa quân dữ đến bắt cha, đuổi nó đi”. Các ông trùm sợ hãi khóc lóc xin tha lỗi. Khi về họ nói với nhau: “Quái! Tính thầm với nhau sao mà cố biết được”. Từ cuối tháng 7, quân của Lê Văn Khôi đã kiểm soát toàn Nam Kỳ nên giáo dân được tự do đến gặp cha. Cha Du lăn xả vào việc giúp đỡ phần hồn cho giáo dân chịu thiếu thốn vì cơn bắt đạo. Giặc Khôi muốn có cha Tây trong thành để việc chiến tranh vững chắc, nên bắt cha sở họ chợ Quán là Cha Phước cùng với quan bộ Hộ mang về Mặc Bắc để bắt Cha Du. Hôm ấy cha đang ở nhà Tham Học, quân của Lê Văn Khôi ập đến mời cha về Gia Ðịnh. Cha nói: “Tôi đi giảng đạo mà thôi, việc chiến tranh tôi không biết chi. Nếu Chúa sai tôi đi đánh giặc thì một mình tôi một tỉnh tôi cũng không sợ”. Quan Ðội Miêng thưa: “Tướng Khôi chia Công Giáo làm ba vệ và tin tưởng người tâm phúc, nếu cha không về ông ta sẽ giận mà chém đầu hết những người có đạo, ở trong thành bây giờ có đạo đông lắm”.

Sau cùng cha chiều theo họ mà đi. Cha về ở họ Chợ Quán với Cha Phước. Quân của Lê Văn Khôi có đến nhờ viết thư sang Xiêm hay cầu cứu người Anh, cha đều từ chối hết. Khi có tin quân triều đình bao vây, cha xin giáo dân chở về Mặc Bắc, song họ nói mọi ngả đều bị vây không có cách nào đi khỏi. Quân của Lê Văn Khôi lại bắt Cha Du lên voi mà đem vào thành Phiên An (Gia Ðịnh). Ngài chỉ khóc mà nói: “Xưa quân dữ bắt Chúa Giêsu, nay nó cũng bắt cha”.

Ngày 24-9-1834, cha viết từ đồn Sài Gòn một lá thư gửi Ðức Cha Taberd nói đến tình cảnh bị bắt buộc ở chung với 4.000 lính Bình Thuận làm phản triều đình. Cha đã từ chối không vẽ mẫu cờ Constantinô để đạo thánh không bị mang tiếng vì quân phản nghịch. Cha khuyên đức cha ở nguyên bên Xiêm, để một mình cha lao đao chịu trận, gánh đỡ mọi sự khốn khó của cơn bắt đạo và giặc giã. Ngày 8-9-1835 tức là sau hai năm vây hãm, triều đình hạ được thành Phiên An bắt được 1940 người, trong đó chỉ có 64 người lính Công Giáo. Tất cả đã bị phân thây chôn ở Chí Hòa gọi là mả ngụy. Cha Du và 4 người bị ghép tội phản nghịch nên bị đóng cũi chờ lệnh.

Các tướng triều đình đóng quân ở Thổ Sơn cho điệu Cha Du đến tra hỏi: “Cha đã tới bao lâu, làm những gì, tại sao lại có mặt ở trong đồn giặc?” – “Tôi ở trong nước đã lâu để rao giảng đạo Thiên Chúa. Ban đầu tôi ở miền dưới song họ đem tôi về Chợ Quán và bắt tôi vào trong thành”. – “Cha có làm gì giúp giặc không?” – “Tôi chỉ giảng đạo và biết có việc giảng đạo mà thôi”. – “Ông có vợ con không, giảng đạo là làm gì?” – “Là đọc kinh, làm lễ và dậy dỗ bổn đạo”. – “Ông có biết làm thuốc mê dụ dỗ bọn ngụy cho nó theo không?” – “Tôi chỉ biết có một việc giảng đạo mà thôi”.

Tại Gia Ðịnh, cha bị tra hỏi ba lần mà cha đều chỉ thưa có vậy. Ngày 15-10, quân lính và tù binh về tới kinh đô trong tiếng reo hò chiến thắng. Các tù nhân bị nhốt trong cũi, xếp một hàng dài ở trại Võ Lâm. Ngày hôm sau các quan tòa tam pháp tra hỏi Cha Du: – “Ngươi có phải là Phú Hoài Nhân (tên vua đặt cho Ðức Cha Taberd) không?”

– “Không”.

– “Ông ấy bây giờ ở đâu?”

– “Tôi không biết”.

– “Ngươi có biết ông ấy không?”

– “Tôi biết lắm nhưng đã lâu không gặp”.

– “Ngươi ở trong nước được bao lâu?”

– “Năm năm”.

– “Ngươi ở những đâu?”

– “Trước hết tôi ở Lái Thiêu, sau này tôi ở nay đây mai đó trong nhà nhiều người mà nay họ chết cả rồi”.

– “Ngươi có giúp Khôi làm giặc không?”

– “Không, ông Khôi cho quân đi bắt tôi đem về Sài Gòn. Việc chiến tranh tôi không biết gì, chỉ làm một việc là cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ”.

– “Có phải ngươi viết thơ xin quân Xiêm và giáo dân Ðồng Nai đến giúp ngụy nữa không?”

– “Ông Khôi có bắt tôi viết thơ song tôi không chịu, và nói cho ông ta rằng đạo cấm làm chuyện chính trị. Tôi cũng nói thà chịu chết chứ không làm như thế được. Dù vậy ông Khôi còn đem mấy thơ đến bắt tôi ký tên vào nhưng tôi đã lấy mà đốt đi trước mặt ông Khôi”.

Lần tra khảo này Cha Marchand không bị đánh đập. Ngày hôm sau nữa quan lại hỏi các tướng nghịch. Những người này sợ tội nên đã đổ lỗi hoàn toàn cho Khôi đã chết và cho Cha Du. Họ bịa đặt ra là có đức cha xúi làm loạn để đưa An Hòa, là con của Ðông Cung (hoàng tử Cảnh) lên ngôi. Mấy tướng nghịch cũng đổ tội cho công chúa Kiên An là em của Minh Mệnh xúi dục khởi ngụy, và cho Thái Công Triều, trước theo giặc nhưng đã phản Khôi về hàng triều đình.

Ngày 17-10, quan cho đòi Cha Du đến công đường có bày sẵn các hình cụ và bắt nhận lời như bọn tướng nghịch đã khai. Cha Du cực lực chối bỏ. Cha bị tra tấn thật dã man: hai đứa kềm hai bên, một đứa khác vén quần lên cao để lộ hai bắp vế, một tên khác lấy kìm nung đỏ kẹp vào đùi bên trái. Mọi người nghe tiếng kêu xèo xèo và mùi khét phải quay mặt ra phía ngoài. Lý hình giữ nguyên kẹp cho đến khi nguội hẳn. Cha Du thét lên và ngất xỉu. Cách chừng nửa giờ sau quan lại hỏi nữa và bị kẹp đùi bên phải, thảm cảnh man rợ tái diễn làm Cha Du ngã xuống đất lần thứ hai. Cha vẫn một mực không chịu nhận tội làm giặc mà các quan ép buộc. Quan nói: “Thôi, tên này lớn gan lắm, để thủng thẳng bữa khác sẽ hay. Hãy đem về cũi giam lại”.

Cha còn bị tra hỏi nhiều lần khác song không bị kìm kẹp. Ðứa con lên 7 tuổi của Khôi cũng bị tra hỏi, nó cứ thật mà khai là Cha Du không có can dự gì vào chiến tranh, cũng chẳng làm những điều ông Khôi ép buộc. Không ép buộc được Cha Du nhận tội, các quan bắt cha phải bỏ đạo. Quan nói: “Ngươi chối hoài là không làm gì theo giặc thì thôi, nhưng ngươi không thể chối đã đến đây giảng đạo mặc dù ngươi biết có lệnh vua cấm. Tội này cũng đáng hình khổ nặng lắm. Nhưng nếu ngươi đành lòng bỏ đạo bước qua thập giá thì ta tha cho mọi hình phạt”.

– “Quan lớn rộng lượng như thế thì xin cám ơn, nhưng xuất giáo thì không bao giờ. Tôi thà chịu mọi hình phạt quái gở chứ chẳng thà chối Chúa như vậy”.

Các quan mặc sức chế nhạo và vu khống cho đạo như là làm thuốc mê, gian dâm với đàn bà…. Cha cực lực chối cãi: “Cái việc ấy chỉ là do những người ghét đạo bày đặt ra. Nếu đạo có như vậy thì còn ai dám theo?”

Các quan làm tờ trình như sau: “Năm Minh Mệnh thứ 15, tháng 9, ngày 13, chúng tôi, các quan tòa tam pháp theo lệnh hoàng thượng như sau. Tháng 5, năm vừa qua, chúng tôi xét xử vụ khởi loạn của Khôi ở thành Phiên An, trong số đồng phạm có linh mục Âu Châu tên là Du, cũng gọi là Marchand, đã theo tầu Trung Hoa đến nước năm Minh Mệnh thứ 12 tại cửa Cần Giờ, và trốn tránh tại Vĩnh Long và Biên Hòa để lén lút giảng đạo Gia Tô. Từ đó theo Khôi khởi loạn, liên lạc với kẻ thù của chúng ta là nước Xiêm và tập họp người Công Giáo trong thành…, đã bị bắt và dẫn giải về kinh đô giao cho chúng tôi xét xử. Sau đó chúng tôi đã mở cuộc thẩm vấn và thấy các câu trả lời của tội nhân vi phạm luật lệ quốc gia một cách trầm trọng. Chính tội nhân đã nhận tội lỗi. Vì thế tên đạo trưởng Âu Châu Du hay Marchand có hai tội không những không chịu đạp ảnh mà thực sự có dính líu đến nghịch tặc. Chúng tôi luận phải xử bá đao và phải bêu đầu. Sau khi nhận được lệnh vua, chúng tôi sai hai quan Lang Trung và Chủ cùng với 40 lính thuộc trấn phủ dẫn tù nhân Âu Châu Marchand đến nơi gọi là Trương Ðông, làng Dương Xuân, huyện Hương Toà để hành quyết và chặt đầu bêu như đã chỉ thị”.

Thừa Sai Delamotte và Marette thuật lại vụ hành quyết với nhiều chi tiết hơn: Cha Marchand bị giam tại trại Võ Lâm một tháng rưỡi chờ ngày Vua Minh Mệnh ra lệnh hành hình. Sáng 30-11, lễ Thánh Anrê, 7 phát súng đại bác đánh thức kinh thành Huế dậy đi chứng kiến vụ hành quyết có một không hai trong lịch sử. Các quan đến trại giam dẫn Cha Du, ba tên tướng nghịch và con của Khôi đến cửa Ngọ Môn cho Minh Mệnh thấy mặt. Lính túm ngực tội nhân mà dẫn đi như cách thức dẫn giải một tên phản nghịch, nhấn đầu xuống đất để lạy vua 5 lần. Minh Mệnh nhìn mặt rồi ném quạt xuống đất ra hiệu đem đi mà giết. Cha Du được dẫn đến đại sảnh nơi đô sát viện. Họ cởi áo cha, chỉ để lại một miếng khố nhỏ và một tấm vải ở cổ viết tên: “Ma-Sang danh Du”. Sau đó các tội nhân bị cột vào cây thập giá do 4 người lính khiêng đi đến nơi hành quyết. Tới tòa tam pháp, lính đem Cha Du vào trong trước mặt quan lớn. Hai tên lính ôm chặt hai ống chân kéo thẳng ra, 5 tên khác mỗi đứa một cái kìm nung đỏ kẹp vào 5 chỗ ở chân bên trái. Vì đau đớn quá Cha Du kêu lên: “Ôi cha ơi!” Quan sai lính đứng đàng sau 5 tên lý hình để thúc dục lý hình không được thương hại mà nới tay. Sau khi rút kìm ra, quan hỏi: “Vì lý do gì bên đạo móc mắt người chết?” – “Không bao giờ tôi thấy như vậy”.

Năm tên lý hình lại được lệnh mang kìm nóng kẹp vào chân phải. Mùi thịt cháy khét lẹt làm nhiều người bủn rủn chân tay. Kìm nguội rồi quan lại hỏi: “Tại sao nam nữ trước khi kết hôn đến trước mặt linh mục làm gì?”

– “Họ đến trước mặt linh mục để xin công nhận và toàn thể giáo dân chứng giám, đồng thời xin Thiên Chúa chúc lành”.

Năm mũi kìm nóng lại thi nhau đốt cháy da thịt của vị anh hùng tử đạo. Khi mùi khét và khói ngưng bốc lên, quan lại hỏi: “Trong nhà thờ các linh mục cho bổn đạo ăn thứ bánh quái gở gì mà họ trung thành đến nỗi chết?”

Cha Du phải gượng gạo trong hơi thở yếu ớt trả lời: “Không phải là bánh thường nhưng là Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng tôi, trở nên lương thực nuôi hồn…”

Những lời tra hỏi về đạo này làm chứng rằng Cha Du chịu hành hạ dữ tợn như thế là vì đạo mà thôi. Quan sợ cha chết chưa kịp thọ án nên ngưng tra khảo, và cho các tù nhân ăn uống. Cha Du không ăn gì, chỉ để hết tâm hồn cầu nguyện xin ơn chịu đau khổ cho đến cùng.

Sau khi các tù nhân ăn xong họ bị trói trở lại vào thập tự, miệng phải ngậm đá sỏi và khóa lại bằng tre để khi chịu đau kêu không ra tiếng. Khoảng chừng 100 lính theo lý hình ra pháp trường ở họ Thợ Ðúc. Tại đây có sẵn 5 cọc, lý hình cởi trói Cha Du khỏi thập giá và buộc vào cọc thứ hai, hai bên có hai lý hình, một người cầm kẹp, một người cầm đao, hai tên khác đứng gần để đếm miếng thịt lắt ra và ghi vào sổ. Sau hồi trống lệnh, lý hình xẻo trán Cha Du để che trước mắt, sau đó lấy kẹp mà lôi hai vú ném xuống đất. Lần lượt lý hình kẹp lôi thịt ở hai bên hông mà cắt vất xuống đất. Lúc ấy Cha Du không còn sức nữa, gục đầu xuống và linh hồn về với Chúa. Thấy cha đã chết, tên cầm đao túm tóc kéo đầu lên và chém đứt cổ, bỏ đầu vào thúng vôi. Lý hình xô xác cha xuống đất và tiếp tục cắt thân thể ra từng trăm mảnh, hết bổ dọc đến bổ ngang như một khúc cây. Vì Cha Du khắc khổ, chịu hành hạ nhiều nên không còn máu chảy ra. Khi xong xuôi tất cả, lý hình gom các miếng thịt vụn lại vào mấy thúng, rồi đem giao cho quan để vất xuống sông, còn đầu bỏ vào thùng đem đi khắp nơi trên toàn lãnh thổ. Ðầu Cha Du tới Hà Nội ngày 2-1-1836. Ði đến đâu người ta đều nghe một hơi lạnh ớn xương sống. Sau cùng đầu Cha Du được đưa về Huế bỏ vào cối xay nát và ném xuống biển. Không ai giữ được một di tích nào của vị thánh này.

Gx. Cần Giờ, DCCT           

Bão số 9: Tất cả người sống ven biển cần được sơ tán; nhà cấp 4 có thể bị đánh sập

 Bão số 9 đã đạt cường độ cực đại vào chiều tối nay (27/10) đạt cấp 14, giật cấp 17. Ngoài gió giật, sóng biển sẽ cao từ 7-10m tùy nơi, nước biển sẽ dâng thêm 1m, gây sức càn quét rất lớn. SƠ TÁN là điều đang được chuyên gia khí tượng khuyến cáo hàng đầu, đối với tất cả người sống ven biển và người sống ở nơi không an toàn, chậm nhất trước 21h tối nay.

TS Nguyễn Ngọc Huy, Cố vấn cấp cao về biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiên tai của tổ chức Oxfam tại Việt Nam nhận định bão số 9 sẽ là một trong những cơn bão lớn nhất sẽ vào Việt Nam.

“Đối với lụt, chúng ta có thể chờ 1-2 ngày trên mái nhà để đợi cứu trợ, đợi được giải cứu. Nhưng với bão thì không. Với bão lớn như này, chúng ta không có cơ hội để đợi 1-2 ngày, thậm chí trong 1-2 tiếng cũng không thể gọi được cứu hộ. Do vậy, chủ động sơ tán trước khi bão đến nếu nhà mình không phải là nơi trú tránh an toàn.”

Đối với các nhà ven biển ở vùng ven bờ, chính quyền nên áp dụng hình thức sơ tán hết, vì sóng biển sẽ cao từ 7-10m tùy nơi, nước biển sẽ dâng thêm 1m, đó là một sức càn quét rất lớn.” – ông Huy cảnh báo.

#trithucVN #trithuc

CUỘC ĐỜI ĐAU THƯƠNG CỦA LOÀI CHIM YẾN

  
Image may contain: text

 Chuyện tuổi Trung Niên

  CUỘC ĐỜI ĐAU THƯƠNG CỦA LOÀI CHIM YẾN

Có 1 lần lâu lắm rồi tôi có gặp người bạn nói ngày xưa ở VN trước năm 75 có lần ông trúng thầu để lấy tổ yến…

Sau lần đó ông giải nghệ luôn vì thấy ác độc quá…Ông nói tội lắm cô ơi…đôi khi phải vứt trứng yến hay chim non xuống biển để lấy tổ…Chim mẹ bay về quanh quẩn nơi tổ yến đã mất kêu thảm thiết lắm…Nghe ông nói mà tôi ứa nước mắt thương cho chim mẹ…

CHUYỆN CỦA CHIM YẾN

Câu chuyện ray rức lòng người.Xé gió biển, đôi cánh nhỏ dang rộng hết cỡ, lượn lên mất hút trên không trung rồi bất thần lao xuống hết tốc lực. Chẳng có gì ngăn cản nổi, Yến mẹ lao đầu vào vách đá dựng đứng. Để lại trên vách núi vệt máu tươi uất nghẹn và tiếng kêu khản đặc xé lòng của chim trống…Cảnh tượng đó lặp đi lặp lại trong những ngày vào mùa, mùa mà một loài hân hoan trên sự chết chóc đau thương của một loài khác. Mùa khai thác Tổ Yến.Yến, sống trung thành – chết thuỷ chung. Một đôi Yến khi đã sống cùng nhau là trọn đời trọn kiếp. Khi đã xây tổ ở đâu là vĩnh viễn không dời đi nữa. Tập tính đó giết hại Yến. Người vẫn thầm ngưỡng mộ và tự hỏi: Trong hàng ngàn chim Yến bay rợp biển kia mà vì sao các cặp đôi không bao giờ nhầm lẫn, không đời nào lang chạ? Hàng vạn tổ Yến ken đặc trên vách đá đó mà Yến luôn về đúng nhà của mình. Không bao giờ chiếm tổ chim khác? Rồi người lợi dụng triệt để đặc tính này để dụ Yến, nuôi Yến, lấy tổ Yến và vô tâm nhìn xác Yến…Nếu không may gặp một thợ hái tổ không chuyên hay thiếu kinh nghiệm. Không chừa lại một phần tổ, hoặc lấy đúng chiếc tổ của Yến sắp sinh. Chim mẹ trở về trong tình trạng mất tổ, không chịu nỗi đau đớn vì cơn chuyển dạ. Yến sẽ quẩn và chọn cách gieo mình vào vách núi, chính nơi đã xây mái ấm để quyên sinh.

Đa số chim Yến trống sau đó bay lượn điên cuồng, kêu gào thảm thiết rồi lao thẳng vào đúng chỗ vợ chết. Nên các vệt máu khô buồn in lại trên vách đá lạnh lẽo thường là vệt đôi bên nhau, thậm chí là chồng lên nhau. Nếu không tự tử, chim Yến trống sẽ sống cô độc suốt quảng đời còn lại.

Xưa, kẻ cùng đinh mạt vận mới phải ra nơi heo hút, leo trèo nguy hiểm tìm hái tổ Yến để mong đổi đời. Thường thì khi có chút vốn họ bỏ nghề và ăn năn sám hối. Họ không đời nào muốn con cái tiếp tục cái việc quá sức mạo hiểm, quá sức thất đức. Và đó là lý do không có “nghề lấy tổ Yến gia truyền” là vậy.

Nay, lòng tham con người vô cùng vô tận.

Tạo hoá không ban phát cho ai tất cả. Loài chim hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung đó lại có đôi chân cực ngắn và mềm yếu. Yến dường như không thể đậu trên mặt đất, Yến treo thân trên vách cheo leo lúc đêm về. Còn lại gần như bay suốt, liên tục từ 12-15 giờ mỗi ngày. Săn mồi và ăn trong khi đang bay, ngủ trong lúc bay, thậm chí là “làm chuyện vợ chồng” trên không luôn.

Bù lại, Mẹ Thiên Nhiên dạy Yến cách sinh tồn, mách bảo Yến sống trên cao, làm tổ nơi vách núi thẳng đứng, hẻo lánh và trơn trượt. Hòng tránh loài ăn thịt hiểm ác như rắn hay cú vọ. Có điều, ngay cả thiên nhiên cũng không biết được có loài ăn…tạp còn tàn độc hơn thú dữ. Loài có thể chinh phục bất cứ núi cao vực sâu hiểm trở nào hầu nhét cho đầy lòng tham tanh tưởi. Loài đã làm những cuộc tàn xác đẫm máu mang tên “Yến Sào”.

Yến chống chọi để tồn tại, tạo hoá không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỉ gọi đó là “Hồng Yến”…

Cuộc đời loài chim yến hiện nay thật quá thương tâm, vì lòng tham và sự tàn nhẫn của con người chưa từng giảm bớt…Hãy dừng lại việc nuôi yến, bán tổ yến cho đến tiêu thụ các sản phẩm từ chim yến.

Nhân nào quả đấy, nếu mình phá hoại nhà cửa của người ta, chia rẽ gia đình người ta, cướp đoạt cái mà chẳng phải thuộc về mình, ăn nuốt vật phẩm dựa trên máu, nước mắt và sinh mạng của chúng sanh thì tương lai gia đình mình, con cháu mình, và cá nhân mình chẳng lẽ không bị quả báo tương tự hay sao?

Vì vậy: Trước khi làm điều gì, hãy nghĩ đến hậu quả của nó.

(st.)

Coi Chừng Cộng Sản Trong Nhà

Coi Chừng Cộng Sản Trong Nhà

( TRONG ĐÓ CÓ GIA ĐINH CHÚNG TÔI …)
 
 … Có ngày phải dậm cẳng kêu trời, chỉ vì mình là người từng chạy trốn cộng sản mà ngày nay chính con cái của mình lại mang bọn cộng sản vào nhà…
 
Hiện nay có những điều trớ trêu xảy ra trong nhiều gia đình Việt Nam chống chộng tại hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Dù họ từng là nạn nhân của VC, nhưng phải bất lực nhìn con em của mình đi ủng hộ kẻ thù nước Mỹ, đang lúp bóng chiêu bài “bọn lưu manh” để “tranh đấu” cho người Mỹ da màu, nhưng thực chất là tiếp tay kẻ thù nước Mỹ để phá hoại nước Mỹ.
 
Hình ảnh này từng xảy ra tại Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước. Nhiều người trẻ thời đó đã nghe lời hứa hẹn hảo huyền của Hồ Chí Minh và đảng cướp của đương sự, nên suốt đời phải ân hận. Bọn VC đã chiêu dụ và gạt được nhiều trí thức miền Nam, thuộc những gia đình có thế giá thời bấy giờ. Điển hình là nữ Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát… Với chiêu bài “đánh Mỹ cứu nước” qua cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam”, chứ không riêng thành phần “bần cố nông” theo cộng sản để đấu tranh giai cấp, triệt hạ “địa chủ”. Tàn tệ hơn nữa là trường hợp Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, dù suốt đời ông bị VC trù dập thay vì ưu đãi, nhưng cuối đời ông cũng phải nghe lệnh của đảng VC, viết lời ca ngợi sự “ưu đãi” mà đảng CSVN dành cho ông.
 
HIẾU TRƯƠNG Blog: SÁU LÝ DO GIÚP CHẾ ĐỘ Cộng Sản TỒN TẠI
 
Bài viết này người viết xin được kể lại những câu chuyện hết sức ê chề, có thật 100% mà người viết đã được những người trong cuộc cho phép kể lại, nhưng không nêu tên và chính xác thành phố nơi họ cư ngụ.
 
Một ông bạn rất thân của tôi, người Mỹ, chúng tôi quen nhau trên ba mươi năm. Ông hiện đang sống tại Washington State, đã than phiền với tôi rằng: Con gái ông đã gia nhập đảng cộng sản Mỹ với thằng bạn trai của nó. Ông cho rằng đây là hành động hết sức ngu xuẩn, bởi nó đã nghe lời thầy cô của nó trong trường đại học, và ông đã bất lực với con ông. Ông tự trách là mình quá thờ ơ. Ông đâu ngờ rằng con mình là người Mỹ, sanh ra tại Mỹ, sống đời tự do tại một đất nước phồn thịnh, mà nó lại mê thuyết của “chủ nghĩa cộng sản”.
 
Một gia đình khác thuộc phe “chống cộng tới chiều” cũng hỏi tôi, là ông phải phải làm gì khi thằng con trai của ông ủng hộ đảng Dân Chủ một cách điên cuồng, cho dù ông bao nhiêu lần chứng minh cho cậu ta thấy những bằng chứng hùng hồn rằng, đảng Dân Chủ đã và đang thông đồng hay dung dưỡng cho những chính trị gia Mỹ, có hành động phản quốc khi cấu kết với Tàu cộng để hại nước Mỹ trong nhiều Thập Niên qua. Theo ông thì “hơi hám” của cậu con trai ông rất là gần với khuynh hướng cộng sản, dù nó không dùng hai chữ cộng sản.
 
Một nữ độc giả, chồng chị là người có lập trường chống cộng rõ ràng, có uy tín trong các sinh hoạt cộng đồng và đấu tranh tại tại California Hoa Kỳ. Sau khi chị đọc những bài viết và các chương trình video “Chúng Ta và Thời Cuộc” do tôi thực hiện trên Youtube Channel “TV21-HQB”, đã liên lạc với tôi và than phiền về chuyện hai đứa cháu gái, gọi chị bằng cô, hiện đang sống tại một tiểu bang được xem là thành trì của đảng Cộng Hòa. Thế mà hai cháu của chị rất mê bà Hillary Clinton, rất ngưỡng mộ ông lão Bernard Sanders với đường lối sao y bản chánh của cái gọi là “xã hội chủ nghĩa”, một thứ cộng sản trá hình. Hiện nay hai cô bạn trẻ đó cũng rất ra ngợi hành động của ông Joe Biden và bà Nancy Pelosy quỳ gối “đòi công lý” cho George Floyd. Hai cô này cho đó là hình ảnh khiêm tốn, yêu nước, yêu dân, nhất là “yêu người da màu” Joe Biden và bà Nancy Pelosy, và họ đã nhiều lần xuống đường biểu tình ủng hộ “bọn lưu manh”.
 
Một người đàn bà góa tại California, là hiền thê của ông bạn vong niên của tôi. Ông là người mà tôi xem như thể đàn anh về tuổi tác và kinh nghiệm đời. Lúc sinh tiền ông là một nhân sĩ có lòng yêu nước. Ông có nhiều nhiều bài viết và sách vở vạch trần tội ác VC, liên tục mấy thập niên… Bà gọi cho tôi và than phiền rằng “Lúc Nhà Tôi còn sống, ổng và tôi dạy con rất kỹ và thường xuyên cho các con biết về vấn đề tội ác và những thủ thuật thâm độc của VC. Chúng tôi nói rõ là do đâu khiến chúng tôi phải mang các con rời bỏ Việt Nam để lánh nạn VC… Tưởng đâu chúng nó hiểu, nhưng nào ngờ, sau khi Ông Nhà Tôi qua đời thì thằng con lớn của tôi lộ rõ lập trường ủng hộ “xã hội chủ nghĩa” tại Mỹ. Nó còn kéo thêm các em nó và vợ con nó xuống đường ủng hộ những cuộc bạo loạn của “bọn lưu manh” hiện nay, để phá hoại nền tự do và an ninh của nước Mỹ…”
 
Một ông bạn khác của tôi, người có niềm tin vào Thiên Chúa đã gọi than thở với tôi như thể là muốn khóc, chỉ vì ông bất lực với cậu con trai của ông. Ông nói rõ với tôi, cậu con trai ông rất rành tiếng Việt, tức là biết viết và có khả năng đọc báo Việt ngữ, dù cậu ta sanh tại Mỹ. Còn ông thì không trở ngại tiếng Mỹ, nên không thể có sự hiểu lầm hay “ngăn cách” về ngôn ngữ. Ông đã giải thích với con ông rằng, bản thân ông, Bố ruột và Ba vợ của ông từng bị VC giam cầm nhiều năm trong nhà tù VC sau ngày 30-4-75. Ông cho cậu con biết là ngày xưa tại Việt Nam, bọn VC từng mang chiêu bài “xã hội chủ nghĩa” và “đánh Mỹ cứu nước”, để chiêu dụ thanh niên hai miền Nam Bắc chạy theo cộng sản. Cuối cùng mọi người trở thành nạn nhân của bọn VC. Hiện nay kẻ thù nước Mỹ đang lợi dụng giới trẻ Mỹ qua chiêu bài tranh đấu cho người Mỹ da màu để phá hoại nước Mỹ, dẫn dắt thanh thiếu niên vào con đường phạm pháp, làm những điều có lợi cho kẻ thù nước Mỹ…. Kết quả con ông đã “từ ông” bằng cách dọn ra khỏi nhà với lý do là “bố tưởng con là con nít không biết gì hay sao? Cộng sản mà bố và ông nội, ông ngoại đề cập, là của Việt Nam, chứ không phải cộng sản hay xã hội chủ nghĩa tại Mỹ này. Bố đừng tưởng con bị nhồi sọ. Chính bố mới là người bị đảng Cộng Hòa nhồi sọ….”
 
Còn nhiều gia đình Việt Nam mà tôi quen thân đã than thở với tôi về lập trường chính trị của con em họ. Các phụ huynh này cho biết là họ rất “đau đớn”, bởi vì hoàn cảnh sinh nhai, không có nhiều giờ dành cho con cái, nên khi biết ra thì đã muộn. Vì khuôn khổ bài viết và vì tôi chưa được phép của họ, cho dù tôi không nêu đích danh họ, nhưng tôi không thể kể hết ra đây.
 
Thú thật, ngay cả con cái trong gia đình của chúng tôi cũng từng có thời gian bất đồng với vợ chồng tôi khi có những nhận xét về chủ trương và việc làm giữa đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tại Hoa Kỳ này. Các bạn trẻ thường nghe lời thầy cô của họ trong trường đại học, gồm những thành phần có khuynh hướng nghiên về phía tả hay tự do phóng khoáng, cho nên các bạn trẻ đã có những nhận xét xa rời thực thế. Điều này giống như thời điểm người Việt Nam chống thực dân Pháp, đã có không ít những thành phần trí thức hay thanh niên có lòng yêu nước đã mắc mưu cộng sản. Những người trẻ yêu nước đó đã “vai chen vai, cánh sát cánh” để góp phần hay tiếp tay VC áp đặt chủ nghĩa cộng sản để tàn phá đất nước. Khi những người yêu nước đó tỉnh ngộ thì đã muộn và cuối đời phải ôm tủi nhục xuống mồ, như tôi đã nêu ra ngay phần mở đầu bài viết này.
 
Tôi kể ra các trường hợp trên như một lời cảnh giác đồng bào Việt Nam chúng ta hãy lưu ý con cái của mình. Đừng xem thường việc này với lối chủ trương “không muốn nói chuyện chính trị” hay “không thích chuyện chính trị” mà có ngày phải dậm cẳng kêu trời, chỉ vì mình là người từng chạy trốn cộng sản mà ngày nay chính con cái của mình lại “mang bọn cộng sản vào nhà”.
 

Huỳnh Quốc Bình

From: Tu Phung

MỐI QUAN TÂM CỦA CÁC TỔNG THỐNG MỸ VÀ SỰ ẢO TƯỞNG CỦA CHÚNG TA

Image may contain: 6 people, suit

MỐI QUAN TÂM CỦA CÁC TỔNG THỐNG MỸ VÀ SỰ ẢO TƯỞNG CỦA CHÚNG TA

Đỗ Ngà

Hiện nay một chút phản ứng của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ – FED và chính phủ Hoa Kỳ đều làm cho thế giới lo lắng, điều đó ai cũng thấy. Vai trò đó của Mỹ hiện nay là không một quốc gia nào có được, tuy nhiên Nước Mỹ mất lợi thế đó nếu để Trung Cộng vươn lên thành cường quốc có nền kinh tế số một thế giới. Với dân số 1,44 tỷ dân – gấp 4 lần dân số nước Mỹ thì chỉ cần GDP của người dân Tàu bằng ¼ so với người Mỹ thì nền kinh tế Tàu sẽ bắt kịp Mỹ. Mốc đó rất gần với người Tàu, vì vậy từ bây giờ trở đi, Mỹ sẽ luôn chú ý vào việc đánh Tàu cho dù đó là đời tổng thống nào. Người ta thường nói chiến tranh thương mại và chiến tranh công nghệ với Tàu là do tổng thông Trump chủ xướng, nhưng thực chất đó chủ ý của tổ cố vấn Trump -những chuyên gia hàng đầu của nước Mỹ về kinh tế vào quan hệ quốc tế. Đằng sau mỗi tổng thống Mỹ luôn có những bộ óc giỏi để giúp đỡ tổng thống. Vậy nên ông nào lên là tổng thống thì cũng dùng những bộ óc đó nên mục đích của họ không khác, tất cả họ cũng chỉ vì nước Mỹ không vì một quốc gia nào khác.

Như đã nói, nước Tàu có đến 1,44 tỷ dân nó vẫn là miếng mồi ngon cho doanh nghiệp Mỹ. Chính vì vậy, Mỹ sẽ đánh Tàu nhưng đó chỉ “đánh vào sự trỗi dậy của Tàu” chứ không đánh cho Tàu sụp. Mà nói cho cùng lực của Mỹ chỉ đủ đánh vào “sự trỗi dậy” chứ không đủ để đánh cho Tàu sụp đổ hoàn toàn. Tàu sẽ không sụp, và chắc chắn Tàu sẽ tiếp tục bị đánh cho dù tổng thống của nước Mỹ là ai. Người Việt chúng ta cũng nên thực tế, sẽ không có chuyện tổng thống Trump đánh cho Tàu sụp để Việt Nam được nhờ, đó là suy nghĩ ngây thơ. Tư tưởng đó của nhiều người Việt có thể được ví như việc “ngồi chờ trăng rụng” (chờ sung rụng thì còn có thể há mồm đớp được chứ chờ trăng thì mãi mãi không đớp được gì), nó rất tai hại.

Sự trỗi dậy của Tàu làm cho cả Mỹ và Nhật đều khó chịu. Về kinh tế thì Mỹ và Nhật đã là bạn hàng lâu năm, về chính trị thì hai quốc gia này có hiệp ước quân sự và Mỹ được đóng quân ngay tại quần đảo Okinawa để trấn giữ Tàu Cộng. Thế mà Nhật cũng chưa yên tâm nên họ đề xuất liên minh quân sự 4 nước (Tứ Giác Kim Cương) để kìm chế Tàu Cộng. Và hiện nay, Mỹ và Nhật đang muốn lôi kéo thêm quốc gia có vị trí chiến lược để kìm chế sức mạnh Tàu Cộng, và Việt Nam là nước mà hai cường quốc này đang tìm cách ve vãn.

Như ta biết, Nhật Bản rất năng nổ trong vấn đề giúp đỡ Việt Nam ,mà trong đó viện trợ ODA là một minh chứng. Điều đó cho thấy Nhật muốn ve vãn Việt Nam thật sự. Được biết ở Đông Nam Á, Indonesia đông dân nhất với 274 triệu dân, Việt Nam thứ ba với100 triệu dân. Xét về nguồn lao động thì Indonesia chất lượng hơn và cũng dồi dào hơn, xét về quy mô thị trường thì Indonesia cũng lớn hơn, thế nhưng khi mới lên ghế thủ tướng ông Yoshihide Suga chọn dừng chân ở Việt Nam trước khi đến Indonesia? Mà trước đó khi mới lên làm thủ tướng ông Shinzo Abe cũng làm điều tương tự, tại sao vậy? Thực chất Việt Nam có vị trí địa chính trị tốt mà Nhật muốn lôi kéo để cô lập Tàu. Thế nhưng vì quyền lực đang trong tay CS nên cơ hội cho đất nước đã bị ĐCS phớt lờ. CS vẫn trung thành với chính sách 4 không điều đó cho thấy Tàu chi phối Bộ Chính Trị ĐCS Việt Nam rất mạnh mà Tàu thì lại không thể bị Mỹ đánh sụp.

Rõ ràng các đời thủ tướng Nhật luôn coi Việt Nam là đối tác chiến lược cần lôi kéo, vậy còn Mỹ thì sao? Xét các đời tổng thống Mỹ dù cho đó là Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, hay Donald Trump thì Mỹ vẫn cứ ve vãn Việt Nam và từng bước gỡ bỏ rào cản giữa hai nước. Nói thật, với tổng thống Mỹ thì họ chỉ thấy vị trí chiến lược của Việt Nam trong chính sách cô lập Tàu của họ là quan trọng chứ nhân quyền chẳng phải là thứ họ ưu tiên. Để lôi kéo Việt Nam ngã về mình thì Mỹ ve vãn CS chứ chả nhẽ họ ve vãn các nhà dân chủ? Các nhà dân chủ trong tay không có chút quyền lực thì chỉ là con số zero trên bàn cờ lớn của Mỹ mà thôi. Chính vì vậy mà cho dù tổng thống Mỹ là ai thì người ta cũng sẵn sàng gạt bỏ chuyện nhân quyền qua một bên để tiến gần hơn với Việt Cộng nếu Việt Cộng từ bỏ chính sách 4 không. Đấy là điều chúng ta nên hiểu chứ đừng kỳ vọng rằng Mỹ sẽ “cứu vớt” cho phong trào dân chủ. Đừng có mơ.

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đến gần, không biết người Mỹ có chiến nhau khốc liệt hay không nhưng người Việt chiến nhau không khoan nhượng. Đấy! Trí lực sức lực của người Việt chúng ta đang đổ vào chuyện vô ích trong khi đó Việt Cộng thì cứ ngày một củng cố mối quan hệ với Mỹ bất chấp tổng thống Mỹ là ai. Khi chúng ta lãng phí trí lực vào những chuyện vô bổ thì tất vấn đề khác bị bỏ phế. Phong trào dân chủ sẽ không đi đến đâu nếu người Việt chia rẽ vì những “ông Tây” bên Mỹ. Hãy nhìn người Thái, nếu họ lo chiến nhau vì Trump và Biden thì liệu họ có sức mạnh đông đảo xuống đường để đòi dân chủ không? Chính chúng ta nghĩ là theo dân chủ tiến bộ mà chúng ta cũng chưa học nổi những gì người Thái làm. Hy vọng người Việt chúng ta sớm nhận ra điều này mà thay đổi tư duy và hướng về một mối lo chung, đó là kết thúc CS để cho đất nước có cơ hội phát triển cùng văn minh tiến bộ.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://dantri.com.vn/…/nhat-ban-ho-tro-viet-nam-trang…

https://www.rfi.fr/vi/châu-á/20201021-thủ-tướng-nhật-suga-hứa-giúp-các-nước-đông-nam-á-tăng-cường-khả-năng-an-ninh-trên-biển

TÔI THẤY GÌ TRONG CƠN LŨ?

Image may contain: outdoor

TÔI THẤY GÌ TRONG CƠN LŨ?

Anh chị em tôi tại Miền Trung Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn lũ lịch sử. Tôi đã và đang thấy gì trong cơn lũ ấy?

Tôi thấy những dòng nước trắng xóa đang dần thay chân cho đất liền và các ngôi nhà. Nước lênh láng khắp nơi. Từ miền núi nước đổ dốc dữ dội, như muốn cuốn phăng tất cả những gì trên đường nó đi qua. Nơi đồng bằng nước dâng cao ngút không còn một chỗ đất khô ráo lộ ra.

Tôi thấy sinh mạng đồng bào tôi tại Miền Trung Việt Nam đang bấp bênh. Số người chết và mất tích đang dần tăng lên, kèm theo đó là những thiệt hại đáng kể về tài sản. Những người vợ khóc chồng, con cái khóc cha mẹ, anh chị em khóc cùng nhau trước sự ra đi của người thân yêu.

Tôi thấy những cánh tay với lên trên mái ngói khi đội cứu hộ đi qua, họ đang cầu cứu nhân viên cứu hộ. Những chiếc phao được ném vào trong căn nhà đầy nước, lần lượt người già đến trẻ con được kéo ra, đưa lên tàu cứu hộ và đưa về nơi an toàn. Tay chân họ run bần bật với khuôn mặt lo sợ khủng khiếp.

Tôi thấy những ánh mắt ngơ ngác của các em nhỏ. Các em nhớ trường lớp, nhớ bạn bè, nhớ con chữ. Trường cũng ngập nước, sách vở đã ướt hoặc bị cuốn trôi mất, đôi mắt thơ ngây nhìn theo sách vở đang trôi theo dòng nước xiết.

Tôi thấy những cụ già run lẩy bẩy vì lạnh và thiếu áo ấm. Thiếu chăm sóc y tế, đối mặt với bệnh tật trong hoàn cảnh lũ lụt thế này có thể cuốn trôi đời họ bất cứ lúc nào.

Tôi thấy những gói mì, bịch sữa và nhu yếu phẩm cần thiết được chuyền lên nơi bà con đang trú ẩn. Đau lòng khi nhận ra họ không có nước sôi để nấu mì, và họ phải ăn mì sống để cầm cự chờ lũ rút hoặc đợi đội cứu hộ tới sơ tán dến chỗ an toàn.

Tôi thấy những giọt nước mắt của anh chị em tôi lúc nhận ra đội cứu hộ hoặc đoàn tiếp tế lương thực đến gần. Họ khóc vì mấy ngày rồi họ chưa có gì bỏ bụng, kèm theo nỗi lo sợ vì không biết họ sẽ chết lúc nào.

Tôi thấy những con người có tấm lòng nhân ái đang đến với anh chị em tại Miền Trung, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, mong hỗ trợ bà con chút lương thực ít ỏi và trên hết cầu mong nước lũ mau rút để bà con sớm trở về cuộc sống ổn định.

Tôi thấy cả nước đang hướng lòng về Miền Trung thân yêu trong cơn lũ lụt này. Cả nước đang dùng mọi phương cách: gây quỹ, quyên góp quần áo, lương thực và những đoàn thiện nguyện bác ái… tất cả chỉ muốn chia san nỗi đau buồn và thiệt hại nặng nề này.

Tôi thấy không chỉ người trong nước, mà người Việt tại nước ngoài cũng như các nước bạn bè cũng đau đáu với nỗi đau của người Việt Nam. Họ cũng đóng góp để giúp đỡ anh chị em mình trước tình cảnh này.

Tôi thấy những Thánh Lễ, những buổi cầu nguyện, và nhiều hình thức tâm linh khác nhau đang được tổ chức, trong trang nghiêm và thành khẩn. Họ đang cầu nguyện cho đồng bào Miền Trung rất nhiều.

Tôi thấy những cánh tay nối dài trong hoàn cảnh nguy hiểm và cấp bách. Tính mạng đồng bào tôi được đặt lên trên hết, trên cả tiền bạc, kinh tế hay bất cứ điều gì khác. Hàng triệu trái tim chỉ mong đồng bào tôi mau chóng bình ổn cuộc sống.

Tôi cũng thấy chính mình xốn xang, từng khúc ruột như quặn thắt, giọt nước mắt nóng hổi rơi trên hai gò má. Tôi mong ước góp chút gì đó, vật chất hoặc tinh thần, cho anh chị em mình. Đồng thời, việc tôi có thể làm ngay bây giờ là lời kinh Mân Côi đơn sơ và ý nghĩa:

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Đức Chúa Trời ở cùng Bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giê-su Con lòng Bà gồm phúc lạ.

Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.”

Little Stream

dongten.net

 

Học giả Trung Cộng: “Chống Mỹ là công việc, đến Mỹ là cuộc sống”


 ĐCSTQ đang trong cơn hấp hối, xem ra thế cuộc không thể nào vãn hồi, nó ra lệnh cho các đảng viên còn đang nhậm chức giao nộp lại hộ chiếu với mưu đồ bắt cóc con tin để duy trì sự thống trị của nó.

Rốt cuộc vì sao ĐCSTQ lại sợ mọi người li khai đảng? Vì sao nó không để cho các đảng viên vượt tường lửa lên mạng? Vì sao nó không để cho các đảng viên tiếp xúc với tin tức ở hải ngoại? Thực ra, trong tâm của ĐCSTQ hiểu rõ hơn ai hết, nó tựa như chiếc lồng đèn giấy chỉ cần chọc tay là thủng, hoặc như châu chấu cuối thu chẳng còn nhảy nhót được mấy ngày nữa.

Chiếc kim đồng hồ lịch sử đã điểm đến thời khắc quan trọng chưa từng có trong tiền lệ, đó là ĐCSTQ sẽ biến mất trên vũ đài lịch sử. Mỗi một đảng viên cần phải biết nghĩ cho tương lai của chính mình, sớm ngày thoát ly khỏi thứ tổ chức này để sớm ngày được cứu rỗi.

Học giả Trung Cộng: "Chống Mỹ là công việc, đến Mỹ là cuộc sống"

M.TRITHUCVN.ORG

Học giả Trung Cộng: “Chống Mỹ là công việc, đến Mỹ là cuộc sống”

Việc USCIS ngừng cấp thẻ xanh và nhập tịch cho Đảng viên khiến người ta không khỏi nhớ đến câu chuyện của học giả “chống Mỹ”…

4 mất mát cần thản nhiên đối mặt ở tuổi trung niên

Sinh tử ly biệt

Con người cho dù là tuổi trẻ, sức khỏe mạnh mẽ đến thế nào đi nữa thì cũng đến thời điểm ra đi, cho dù là sống thọ đi nữa thì cuối cùng cũng phải quy về với cát bụi. Đây cũng là một mất mát, một nỗi khổ lớn lao của đời người. Cho nên, cho dù là ai đi nữa cũng đều phải học được cách đối mặt với cái chết. Thay vì lo lắng sợ hãi, cần học cách trân trọng và sử dụng chính xác từng giây phút mà mình đang có. Có như vậy thì sống bình thản mà chết cũng an nhiên.

Một người khi lâm vào ranh giới sinh tử mới hiểu được rằng trên thế gian này chẳng có gì là mãi mãi và không có gì đáng quý hơn sinh mệnh. Người ấy càng hiểu ra rằng hết thảy danh, lợi cũng chỉ như mây gió thoảng qua, hết thảy đều là vô thường.

Vậy nên khi vẫn còn hơi thở hãy đối đãi thật tốt với mọi người quanh mình. Như vậy dẫu đến giây phút chia xa thì người ấy cũng chẳng còn điều gì phải tiếc nuối, thở than. Nếu một người có thể gieo những hạt giống thiện lương và để lòng tốt ở lại thì khi mất đi dẫu bóng hình chẳng còn nhưng đức hạnh của người ấy vẫn luôn sống trong tâm trí người khác. Thông thường những người như vậy cũng là những người coi cái chết nhẹ nhàng, không sợ hãi trong tâm.

Lam Phương & Những cuộc tình vây quanh

Lam Phương & Những cuộc tình vây quanh

Văn nghệ sĩ lớp trước thường có những chuyện tình bên lề để tô điểm cho cuộc sống và làm nguồn cảm hứng sáng tạo. Điều này cũng dễ hiểu: Họ có tên tuổi, có hoàn cảnh gặp gỡ dễ dàng, có điều kiện giao tiếp rộng rãi và nhất là tự bản chất, người nghệ sĩ vốn rất nhạy bén trong rung cảm cho nên đôi khi khó cưỡng lại được sức quyến rũ của một bóng hồng.

Nói tổng quát thế thôi, chứ thật ra thì vẫn là do bản tính trời sinh, hay đúng hơn là định mệnh an bài ở mỗi cá nhân. Có người mang số đào hoa, cả một đời ngụp lặn trong bao nhiêu mối tình. Người khác thì lại sống khô khan lúc nào cũng thui thủi một mình. Chỉ có điều, đối với tôi, thì người mang số đào hoa chính là loại người trời bắt khổ chứ chẳng sung sướng gì, vui trong chốc lát rồi thường xuyên nặng trĩu ưu tư:

“Chém cha cái số hoa đào.
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!”

Cổ nhân đã than như thế thì chứng tỏ đào hoa không phải là điều đàn ông nên mơ ước!

“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn.”

Câu hát của Trúc Phương chắc chắn là một định luật không cần bàn cãi. Ca dao có câu:

“Ông trời sao nỡ bất công
Người hai ba vợ, người không vợ nào!”

Câu này, thoạt nghe ta cứ tưởng là tiếng than của người đàn ông không lấy được vợ! Nhưng thực ra đó là tiếng kêu thống thiết của người đàn ông đau khổ vì phải chịu đựng đến mấy bà vợ trong khi nhìn những chàng trai độc thân thảnh thơi rong chơi không chút vướng bận!

Nhưng đã tin là định mệnh an bài thì đành chịu. Chúng ta không hoan nghênh nhưng cũng chẳng nên trách người đa mang bởi đó hoàn toàn là số mệnh!

Dân gian thường cho rằng nghệ sĩ nói chung đều đa tình. Điều ấy không đúng. Trên thực tế, chẳng phải nghệ sĩ nào cũng giống nhau. Điển hình là Phạm Duy và Văn Cao, hai nhạc sĩ tài hoa vào bậc nhất Việt Nam, là bạn của nhau và cùng đặt chân vào con đường nghệ thuật một thời điểm với nhau. Trong khi Phạm Duy thì chằng chịt chuyện tình mà Văn Cao thì suốt đời cơm nhà quà vợ, không để ý đến bất cứ người đàn bà nào khác từ khi ông cưới cô Nghiêm Thúy Băng năm 1947, khi ông 24 tuổi, rồi cứ thế thủy chung bên nhau đến mãn đời.

Nhà văn Lê Văn Trương lấy khá nhiều vợ. Nhưng ông tha thiết nói với bà vợ cả:

– Trong tim anh chỉ có em thôi. Những người đàn bà khác anh chung sống, chẳng qua chỉ là tình văn nghệ, chứ lúc nào anh cũng chỉ yêu có mình em!

Câu nói huề vốn ấy chẳng biết có xoa dịu được chút nào những buồn phiền trong lòng bà vợ cả hay không, chỉ biết một điều là xã hội Việt Nam vốn không có cái nhìn quá khắt khe đối với lối sống phóng khoáng của nghệ sĩ. Nhà văn Hồ Trường An, người biết nhiều và viết nhiều về thế giới sân khấu, trong cuốn Theo Chân Những Tiếng Hát, khi nhắc lại chuyện tình tai tiếng của Phạm Duy năm 1955, đã đề nghị rằng:

“Chúng ta nên thông cảm! Họ là nghệ sĩ, họ sống bằng trái tim đam mê, cho nên đôi lúc họ sống lệch qua khuôn phép và lề thói!”

Tôi thấy cần thêm vào một câu là chúng ta phải cám ơn những bà vợ bao dung, biết duyên phận mình khi lấy chồng nghệ sĩ là phải rộng lượng mắt nhắm mắt mở, làm ngơ cho ông chồng bay bướm. Mà cũng nhờ vậy, chúng ta mới có bao nhiêu tác phẩm tuyệt vời để lại, những tác phẩm được tạo thành hoàn toàn do sự rung động của trái tim bên lề! Phạm Duy thú nhận trong Hồi Ký: “Tôi cần tình yêu để viết nhạc.” Và ông đã làm đúng như thế. Bằng những mối tình “ngoài luồng”, ông cho chúng ta một loạt tình ca thật đặc sắc như: Ngày Đó Chúng Mình, Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, Nghìn Trùng Xa Cách, Đường Em Đi, Cỏ Hồng, Nha Trang Ngày Về, Phượng Yêu…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng nổi tiếng hào hoa và cũng nhờ nguồn cảm hứng ở những bóng hồng đi qua đời ông mà ông viết Tà Áo Cưới, Tạ Tình, Ai Buồn Hơn Ai. Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm yêu cô gái đang mang bầu mà người bạn ông gửi ông nuôi trên Đà Lạt, nhờ vậy khi chia tay ông mới viết được ca khúc tuyệt tác là Gọi Người Yêu Dấu. Tương tự như thế, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có bài Một Đời Yêu Em và Người Yêu Của Lính viết riêng cho Hoàng Oanh, nhạc sĩ Thanh Sơn viết Đà Lạt Hoàng Hôn riêng cho Thanh Tuyền, nhạc sĩ Trúc Phương viết Hai Chuyến Tàu Đêm cho cô gái tên Thắm ông tình cờ gặp trên xe lửa, nhạc sĩ Trường Sa viết Rồi Mai Tôi Đưa Em để chia tay một người tình ngắn hạn.

Còn nhiều lắm, nhưng tôi không thể kể hết bởi đó không phải là nội dung chính của bài này.

Tôi đã có lần thưa với khán giả và độc giả: Tôi may mắn được làm việc chung với hầu hết các nhạc sĩ của Miền Nam, trong đó có nhạc sĩ Lam Phương là người gần gũi và thân quí nhất. Không thân sao được khi mà Thúy Nga đã thực hiện cho riêng ông đến 5 chương trình Paris By Night thu hình, chưa kể hàng loạt live shows trên khắp thế giới. Gần đây, trong nước cũng rầm rộ tổ chức những chương trình chủ đề Lam Phương. Những bản nhạc một thời bị nghiêm cấm gắt gao, bây giờ hầu như mỗi ca sĩ nổi tiếng quốc nội đều có trong tay một CD nhạc Lam Phương. Bầu show mời Lam Phương về, nhưng dĩ nhiên anh từ chối. Anh cười bảo:

– Chừng nào anh Ngạn về thì tôi về!

Chưa về Việt Nam, nhưng tháng 7/2016 tới đây, Thúy Nga sẽ đưa anh về làm 2 shows lớn ở Singapore. Ca sĩ đi show là chuyện bình thường. Nhạc sĩ đi show nhiều như anh Lam Phương là chuyện độc nhất vô nhị xưa nay chưa từng có. Lý do đơn giản là vì nhạc của anh được mến chuộng một cách rộng rãi và cá nhân anh là một huyền thoại mà ai cũng muốn gặp.

Tiểu sử và cuộc sống của nhạc sĩ Lam Phương thì mọi người đều đã biết. Hôm nay, tôi chỉ viết lại vài chuyện tình, và dĩ nhiên, cũng chỉ những chuyện tình có tác động trực tiếp tới sự nghiệp sáng tác của tác giả mà thôi. Tôi tin rằng, khi hiểu rõ xuất xứ của từng nhạc phẩm, chẳng những ca sĩ hát sẽ hay hơn mà thính giả cũng sẽ thưởng ngoạn một cách sâu sắc hơn vì cảm thông nỗi niềm với tác giả. Những chuyện tình này, tôi cũng đã từng đề cập đến trên sân khấu Paris By Night, nhưng thường chỉ lướt nhanh qua vì không đủ thì giờ. Hôm nay xin viết lại một lần, nhân nhạc sĩ Lam Phương bước vào tuổi 80, và từ nay chắc sẽ không phải nhắc đến nữa!

* Người con gái đầu tiên đi vào cuộc đời tình cảm của Lam Phương là nữ ca sĩ Bạch Yến, thua anh 5 tuổi. Bạch Yến cùng quê ở Miền Tây, 11 tuổi đoạt giải nhất Huy Chương Vàng giọng ca nhi đồng do Đài Phát Thanh Pháp Á tổ chức. Lớn lên, Bạch Yến hát cho phòng trà Hòa Bình, cùng thời điểm với Bích Chiêu, chị của Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lưu Bích. Thời ấy, Đệ Nhất Cộng Hòa cấm nhảy đầm, nên khách đến chỉ ngồi nghe và say mê tiếng hát Bạch Yến qua những nhạc phẩm ngoại quốc ăn khách nhất của thập niên 1950 và 60 như Bernadine, It’s Now Or Never, Calypso Italiano, The River of No Return, April Love v.v… Về phía nhạc Việt, Bạch Yến cũng hát nhiều như Bến Cũ, Đón Xuân, nhưng nổi bật nhất, trở thành dấu ấn của Bạch Yến, là bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương viết từ năm 1939.

Bạch Yến được mời qua Mỹ biểu diễn trên chương trình truyền hình Ed Sullivan.

Anh Lam Phương lúc ấy đã khá nổi đình nổi đám bởi anh có vóc dáng cao, khuôn mặt đẹp trai và đóng phim từ khi mới lớn. Cá nhân tôi, mười mấy tuổi, cũng đã từng say mê anh trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ Vũ Huân. Anh lại là tác giả một loạt ca khúc rất phổ biến. Ngay cả bản nhạc vui là Nắng Đẹp Miền Nam cũng bán ra ồ ạt sau khi Kim Hoàng hát trên các sân khấu và đài phát thanh. Từ một cậu bé xác xơ ở Rạch Giá, lang thang lên Sàigòn vừa đi học vừa đi làm, Lam Phương mau chóng làm giàu sau khi sáng tác bài Kiếp Nghèo! Cái thế của anh lúc ấy mạnh lắm, quen cô nào cũng dễ dàng. Bạch Yến có thể nói là tình yêu buổi đầu rất trong sáng của anh.

Năm 1961, Bạch Yến 19 tuổi, sang Pháp để học hỏi thêm về ca nhạc. Bốn năm sau, cô được Ed Sullivan mời sang Mỹ. Show Ed Sullivan lúc ấy cực kỳ ăn khách, giới thiệu tất cả những ban nhạc và ca sĩ hàng đầu của Mỹ, Anh và thế giới, có show thu hút đến 35 triệu người xem. Bạch Yến lên hát show này và rồi được mời nán lại đi lưu diễn khắp Mỹ châu thêm 10 năm nữa, bên cạnh những nghệ sĩ lừng danh của Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone v.v… Có thể nói, Bạch Yến là ca sĩ Việt Nam duy nhất hiện diện bên cạnh những nghệ sĩ quốc tế trong hơn một thập niên. Ai đã xem phim Green Berets do tài tử John Wayne đóng vai chính, chắc hẳn vẫn còn nhớ tiếng hát Bạch Yến trong cuốn phim chiến tranh đó.

Ở lại Việt Nam, anh Lam Phương tuy có nhớ Bạch Yến nhưng chắc rồi ngày tháng trôi qua cũng làm phôi phai hình ảnh cô gái Miền Nam xinh xắn ấy.

Bỗng dưng Bạch Yến trở về, làm sống dậy mối cảm xúc tưởng đã chết hẳn trong lòng người nhạc sĩ đa cảm. Nghe tin Bạch Yến trở về sau hơn 10 năm xa cách, Lam Phương xao xuyến viết bài Chờ Người rất đặc sắc. Tôi nhớ khoảng năm 1973, ngồi ở quán café tại Mỹ Tho, tôi giật mình nghe Elvis Phương trình bày ca khúc này mà lúc đầu tôi không ngờ là của Lam Phương, bởi giai điệu của nó lách thoát hẳn ra khỏi dòng nhạc quen thuộc của anh, nhất là một bài buồn viết theo hợp âm trưởng (major) là chuyện ít có:

“Chờ em, chờ đến bao giờ
Mấy thu thuyền đã xa bờ.

Mười năm trời chẳng thương mình
Để anh thành kẻ bạc tình
Cầu xin cho mây về vui với gió
Dù có qua bao đắng cay
Muôn đời anh vẫn chờ em.”

Bạch Yến về nhưng không ở lại. Cô trình diễn một vài shows lớn tại Sàigòn rồi lại đi. Tôi nhớ lúc ấy tôi vừa được biệt phái về Sàigòn dạy học sau mấy năm ở lính, tôi hăm hở đi coi show Bạch Yến và mua băng về nghe vì rất thích những bản nhạc ngoại quốc cô hát, cộng với lối trình diễn đầy đam mê của Bạch Yến trên sân khấu. Những ca khúc mà thế hệ tôi ai cũng biết như La Vie En Rose, Malaguena, Ne me quitte pas (If You Go Away)… Cùng thời gian ấy, tôi cũng được nghe Chờ Người của Lam Phương nhưng không hề biết Lam Phương viết bài này cho Bạch Yến!

Nỗi xót xa khi chia tay lần thứ hai này thúc đẩy Lam Phương viết thêm một loạt tình khúc lời ca rất não nề như: Tình Bơ Vơ, Thu Sầu, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Tiễn Người Đi, Tình Chết Theo Mùa Đông. Bài nào cũng thống thiết bi ai:

“Về làm chi, rồi em lặng lẽ ra đi
Gom góp yêu thương quê nhà
Dâng hết cho người tình xa!

(Tình Bơ Vơ)

Hoặc:

“Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu
Nhịp cầu Ô Thước tìm đến mai sau…

(Thu Sầu)

Hoặc:

“Rồi đây chốn xa xăm biết người nhớ tôi những gì!”
(Tiễn Người Đi)

Hồi thập niên 1970, nghe những bài này, tôi đâu có hiểu tại sao tác giả lại viết toàn những lời chia ly như vậy! Mãi 20 năm sau, gặp Lam Phương lần đầu tiên năm 1993 ở Paris, tôi mới được anh giải thích là những lời ấy anh nói với Bạch Yến khi Bạch Yến giã từ Sàigòn quay lại Mỹ. Tôi cười bảo anh:

– Như thế thì anh và tôi và tất cả thính giả đều phải cám ơn Bạch Yến đã bỏ anh đi lần thứ hai, anh mới có những nhạc phẩm này. Giá như Bạch Yến ở lại, chưa chắc anh đã giải quyết được gì!

Chắc là vậy! Anh Lam Phương cũng đồng ý ngay với tôi. Mộng không thành thì mộng mới đẹp. Con cá bắt hụt bao giờ cũng là con cá lớn! Bởi vì lúc Bạch Yến từ Mỹ trở về sau hơn 10 năm xa cách, thì Lam Phương đã lập gia đình với kịch sĩ Túy Hồng rồi. Vậy còn níu chân Bạch Yến ở lại làm gì nữa! Thôi thì cứ giữ mối quan hệ trong sáng từ thuở nhỏ, chẳng đẹp hơn hay sao! Anh đã từng hãnh diện viết cho duyên vợ chồng của anh với Túy Hồng bài Ngày Hạnh Phúc chan hòa tình yêu:

“Từ khi sánh vai nên đôi bạn hiền
Đêm về nghe con khóc vui triền miê
n…”

(Ngày Hạnh Phúc)

Bài hát này đã trở thành ca khúc tiêu biểu được hát trong bất cứ đám cưới nào ở Việt Nam. Đó cũng là một thành công lớn mà chính Lam Phương không ngờ tới.

Nhắc đến Bạch Yến, tôi nhớ có lần tôi được mời làm MC cho show Lam Phương ở San Jose, cách đây hơn 10 năm. Hôm ấy có Bạch Yến từ Paris qua. Chị lên sân khấu không hát mà chỉ kể chuyện cũ về anh Lam Phương. Chị nói rất khéo, rất duyên và nhất là không hề cho khán giả biết Lam Phương đã từng say mê mình và viết bao nhiêu bản nhạc cho mình. Chị chỉ nhận là người quen của Lam Phương từ thuở mới lớn mà thôi! Tôi rất nể Bạch Yến ở điểm đó, khác hẳn với nhiều bà, nhiều cô cứ tự nhận là người yêu của Trịnh Công Sơn. Tôi đã gặp ít nhất ba bà cùng nói với tôi một câu:

– Trịnh Công Sơn viết bài Biển Nhớ để tiễn tôi đi xa!

* Bóng hồng thứ hai xâm chiếm trái tim Lam Phương và cũng nhờ đó, Lam Phương để lại cho chúng ta nhiều bài hát xuất sắc, đó là nữ ca sĩ Minh Hiếu.

Ca sĩ Minh Hiếu.

Theo nhà văn Hồ Trường An thì Minh Hiếu có khuôn mặt đẹp tựa như nữ tài tử Elizabeth Taylor. Giọng cô trầm và lạ, nghe rất quyến rũ. Thời ấy, buổi đại nhạc hội nào mà có Thái Thanh, Minh Hiếu, Thanh Thúy, Duy Khánh, Hùng Cường và Nhật Trường thì có thể bảo đảm bầu show hốt bạc. Tài tử Nguyễn Long say mê Thanh Thúy, nhưng Thanh Thúy hờ hững không đáp lại. Nguyễn Long viết truyện phim “Thúy Đã Đi Rồi” và nhờ Minh Hiếu đóng vai chính tức là vai Thúy. Phim không thành công lắm vì Nguyễn Long chưa có kinh nghiệm về kịch bản lại kiêm luôn đạo diễn. Từ đó, Minh Hiếu không đóng phim nữa.

Một buổi trình diễn văn nghệ ở Nha Trang, Lam Phương rủ Minh Hiếu ra bãi biển sau buổi hát. Lam Phương lưu lại kỷ niệm buổi gặp gỡ lãng mạn ấy bằng bài Biển Tình:

“Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa
Bọt tràn theo từng làn gió đưa
Vầng trăng sáng với tình yêu chúng ta
Vượt ngàn hải lý cũng không xa…”

Mỗi lần nghe bài này, tôi đều nhớ đến “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy. Hai cuộc tình cũng diễn ra ở một bãi biển và cùng được ghi lại bằng ca khúc. Nhưng lời ca của Lam Phương rất thơ mộng trong khi lời ca của Phạm Duy nặng hẳn về trần tục:

“Lớp sóng mơn man thịt mềm da ngát hương…”
(Nha Trang Ngày Về)

Điều này thì chính nhạc sĩ Phạm Duy nêu lên trong Hồi Ký của ông. Trong Nha Trang Ngày Về, ông viết rõ:

“Bờ biển sâu hai đứa tôi gần nhau…”

Ngược lại, trong Biển Tình cũng hai đứa gần nhau, nhưng nhạc sĩ Lam Phương và người tình chỉ “nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa” chứ không nhắc gì đến da thịt cả!

Bài thứ hai Lam Phương viết tặng cho Minh Hiếu là một bài rất hay lồng trong hoàn cảnh thời chiến, đó là Biết Đến Bao Giờ:

“Đời là vạn ngày sầu, biết tìm vui chốn nào
Đôi ta quen bao lâu, nhưng tình đã có gì đâu

Từ khi anh là lính chiến, ít về thăm ghé nhà em…”

Lam Phương tuy không phải là lính tác chiến, nhưng từ ngày mới lớn đi quân dịch cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975, anh đều ở trong quân đội. Từ Ban Văn Nghệ Bảo An, đổi thành Hoa Tình Thương và sau cùng là Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Vì công tác liên tục nên quả thật anh cũng khó khăn lắm mới có dịp ghé thăm người tình. Anh viết Biết Đến Bao Giờ là viết cho anh, cho Minh Hiếu, nhưng cũng là viết cho cả triệu người lính Miền Nam lúc bấy giờ.

Cao điểm nhất của Lam Phương để ghi dấu chuyện tình với Minh Hiếu là bài Em Là Tất Cả:

“Em ơi suốt đêm thao thức vì em.
Vì lời giã từ lúc anh ra về…”

Bài này quá phổ biến, quá nhiều ca sĩ hát, nhất là trong các đĩa karaoke. Nó nổi tiếng đến độ nhiều người tự động đổi tên nó thành: “Thao Thức Vì Em”! Tôi nhớ có lần đi show, tôi hỏi cô ca sĩ sắp ra sân khấu:

– Cháu hát bài gì để chú giới thiệu?

– Thưa chú bài Thao Thức Vì Em của Lam Phương.

Tôi ngạc nhiên bảo:

– Theo chú biết thì Lam Phương không có bài nào tên là Thao Thức Vì Em

Mà quả thật, trên nhiều đĩa karaoke và thậm chí trên bản nhạc in lại, người ta thản nhiên ghi tựa là Thao Thức Vì Em! Hễ có dịp, tôi đều đính chính lại để tôn trọng tác giả, bởi tác giả đã đặt tên bài hát đó là Em Là Tất Cả.

* Người đẹp thứ ba mà Lam Phương gặp gỡ và say đắm là ca sĩ Hạnh Dung trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Cô không nổi tiếng lắm bởi cô là nhân viên dân chính do Biệt Đoàn tuyển dụng và chỉ hát cho lính nghe. Tuy vậy, chuyện tình Lam Phương – Hạnh Dung cũng để lại cho chúng ta những tình khúc rất đặc sắc mà giờ này vẫn được tán thưởng nồng nhiệt như buổi ban đầu Lam Phương mới sáng tác. Chẳng hạn như bài Bọt Biển ghi dấu kỷ niệm hai người hẹn hò bên bờ đại dương, hoặc bài Giọt Lệ Sầu, Lam Phương viết khi thấy tình yêu bế tắc. Bế tắc có nghĩa là sẽ chẳng đi đến đâu, cho nên ngay từ buổi đầu gặp gỡ, Lam Phương đã không giấu được niềm lo âu qua các tác phẩm anh viết tặng Hạnh Dung:

“Nhè nhẹ đôi chân lại gần đây em
Tựa vào vai anh nghe sóng xô trên biển xanh
Nhè nhẹ đôi tay nâng lấy mộng lành
Vì tình đôi ta tha thiết nhưng quá mong manh!”
(Bọt Biển)

Đã biết là tình quá mong manh nhưng hai người vẫn lao vào! Thậm chí có lúc anh đã phải chán nản sáng tác bài Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi:

“Thôi là hết em đi đường em
Tình duyên mình có bấy nhiêu thôi…”

Bài này thật ra anh viết để tự nhắc nhở hay đúng ra là thúc giục mình nên chấm dứt mối quan hệ éo le ấy, chứ lúc anh viết thì hai người vẫn chưa chia tay nhau.

Quyết định chấm dứt cuộc tình nhưng có những lúc anh thấy mình khó cưỡng lại được trái tim yếu mềm của mình nên anh phải cầu xin ơn trên giúp anh chịu đựng. Đó là lý do anh viết bài Lạy Trời Con Được Bình Yên:

“Lạy trời con được bình yên
Tình yêu đó giết con trong ưu phiền

Ôi! Mấy đêm nay, tôi cố quên người
Lại càng yêu thêm!”

Một lần, Lam Phương theo Biệt Đoàn ra công tác ngoài Côn Đảo, trình diễn cho các đơn vị quân đội ngoài ấy. Đêm cuối cùng mọi người gặp nhau họp mặt liên hoan để tiễn chân các cô ca sĩ sáng mai về Sàigòn trước. Lam Phương tạm biệt Hạnh Dung vì anh phải tạm nán lại Côn Đảo vài hôm nữa. Anh viết bài Phút Cuối rất cảm động:

“Chỉ còn gần em một giây phút thôi
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi
Người theo cánh chim về vui với đời
Để lòng thương nhớ cho kiếp đơn côi!”

Đáng nói nhất là một lần Lam Phương đi công tác trên Đà Lạt. Anh đi một mình không có Hạnh Dung. Anh ray rứt nhớ người yêu bởi Hạnh Dung và anh đã từng hẹn hò nhiều lần tại thành phố sương mù này. Ngồi trong căn nhà trọ lưng chừng đồi nhìn xuống khu phố đìu hiu ngày chủ nhật, anh tha thiết nhớ Hạnh Dung và viết ngay bài Thành Phố Buồn, ca khúc mà tôi vẫn giới thiệu là đã mang lại nguồn lợi tức khổng lồ cho tác giả. Anh bán được hơn 12 triệu, có lẽ là con số kỷ lục trong rừng nhạc tại Miền Nam. Không biết anh có chia cho Hạnh Dung vài triệu hay không, bởi chính Hạnh Dung là nguồn cảm hứng cho bài hát này!

“Thành phố buồn nhớ không em
Nơi chúng mình tìm chút êm đềm

Quỳ bên em trong góc giáo đường
Tiếng kinh cầu dệt mộng yêu đương
Chúa thương tình, sẽ cho mình, mãi mãi gần nhau”.

Ba dòng nhạc Lam Phương viết cho ba người tình đều hay như nhau, nhưng lời ca thể hiện rõ ba hướng khác nhau: Nhạc viết cho Bạch Yến thì đau xót nuối tiếc, viết cho Minh Hiếu thì nồng nàn nhớ nhung, viết cho Hạnh Dung thì lo âu mệt mỏi vì viễn ảnh tương lai tăm tối. Tâm trạng của Lam Phương khi ở bên cạnh Hạnh Dung thật giống với ý thơ của Thanh Tâm Tuyền:

“Ôm em trong tay
Nhớ em ngày sắp tới!”

Mà Lam Phương lo âu là phải! Khi mất Miền Nam, Lam Phương quyết định ra đi vào phút chót. Thật ra thì ngày 28 tháng 4, Hạnh Dung đã rủ anh đi. Nhưng anh gạt nước mắt khước từ. Sáng 30 tháng 4, thấy cả thành phố nhốn nháo, anh mới cùng Túy Hồng và các con vội vã lên tàu Trường Xuân. Đặt chân đến Mỹ, Lam Phương rơi lệ viết bài Chuyện Buồn Ngày Xuân để tự trách mình đã bỏ rơi người tình Hạnh Dung, mặc dù việc này cả anh và Hạnh Dung đều đã đoán trước. Khi chỉ mới tạm biệt nhau ở Côn Đảo, anh đã viết trong bài Phút Cuối một câu tiên tri:

“Biết em sẽ buồn vì mình chẳng có ngày mai!”

Nghe nhạc tình Lam Phương, có lúc tôi đã tự hỏi: “Lam Phương thật sự có đắm đuối trong tình yêu như anh diễn tả qua các nhạc phẩm của anh hay không? Theo tôi đoán thì không! Đó chỉ là cách bày tỏ cảm xúc đôi khi quá mãnh liệt, bằng lời ca quá bi lụy khiến người nghe có cảm tưởng lúc nào Lam Phương cũng “khóc thầm” vì yêu mà chưa chắc anh đã thật sự nhỏ nước mắt vì tình! Khi chúng ta nghe Chuyện Tình Buồn do Phạm Duy phổ thơ cho Duy Quang hát, có những câu ray rứt:

“Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn!”

Chúng ta hình dung ngay tác giả bài thơ ấy ắt phải đau đớn phờ phạc lắm khi nghe tin người yêu đi lấy chồng! Nhưng chưa hẳn! Hồi còn ở tuổi thanh niên, tôi có quen một ông thi sĩ làm bài thơ rất não nề trong ngày người yêu lên xe hoa. Bài thơ gửi đăng báo làm tôi mủi lòng đến rơi lệ! Tôi xót xa chạy lại thăm để an ủi thì thấy ông đang mặc quần đùi ngồi nhậu ngoài sân, miệng cười oang oang, rõ ràng chẳng nhớ nhung gì người tình vừa sang ngang. Cho nên, cái rung động của người nghệ sĩ đôi khi chỉ chợt đến chợt đi, chứ chưa chắc đã sâu thẳm như thiên hạ lầm tưởng.

Trường hợp nhạc sĩ Lam Phương, tôi biết chắc một điều là anh rất dễ xúc động, nhưng không hẳn anh đã lụy tình như những lời ca anh viết. Nguồn cảm hứng sáng tác thường đến với anh quá nhanh, quá dễ, dù nguồn cảm hứng ấy chỉ là một giai nhân lướt qua cuộc sống của anh trong khoảnh khắc! Có lẽ nghệ sĩ khác người thường ở điểm đó. Đây nhé: Anh quen một cô nữ sinh ở Sàigòn, anh viết ngay bài Xin Thời Gian Qua Mau:

“Buồn nào hơn đêm nay
Buồn nào hơn đêm nay
Khi ngoài kia bão tố đầy trời!”

Sau này, sang Paris, anh chỉ nghe nói nữ ca sĩ Họa Mi chia tay chồng nhưng anh chưa hề gặp Họa Mi. Thế mà anh cũng xúc cảm viết bài Em Đi Rồi thật sướt mướt!

Rồi cũng ở Paris, người ta đặt anh viết nhạc cho cuốn phim kể chuyện một cô gái ở Miền Nam đi theo Mặt Trận Giải Phóng, về sau quá hối hận vì biết mình lầm đường một thời gian dài. Câu chuyện rất đơn giản mà Lam Phương sáng tác được bài Cho Em Quên Tuổi Ngọc vào hàng tuyệt tác. Chưa hết, cũng ở Paris, anh đang chung sống với bạn gái, thì tình cờ một hôm người bạn anh dẫn về một cô bạn gái khác. Anh giật mình thấy cô bạn kia xinh đẹp quá, rồi ngay sau đó anh đẩy trí tưởng tượng đi xa y như anh vừa gặp tiếng sét ái tình! Nhờ vậy, anh mới viết được bài Tình Đẹp Như Mơ thật hay:

“Tình yêu từ đâu mà tình yêu vội vã chiếm tim ta?
Chỉ một lần qua mà đêm đêm hình bóng mãi bên ta!”

Như thế thì đủ thấy sự nhạy bén trong trái tim Lam Phương lúc nào cũng sẵn sàng rung động, sẵn sàng nhỏ máu. Anh chưa bị mổ tim là may lắm rồi!

Nếu lùi lại xa hơn, năm 19 tuổi, Lam Phương đi quân dịch (bây giờ trong nước gọi là đi nghĩa vụ quân sự). Đêm mãn khóa, anh viết bài Tình Anh Lính Chiến có những câu tràn ngập tình cảm như sau:

“Mai nếu đời ngăn chia ngàn lối
Đừng quên nhé những ngày bên nhau
Nói gì cạn niềm vui rồi ngày mai ta lên đườn
g”.

Những lời gắn bó như thế, ai cũng tưởng là anh viết cho người tình, hóa ra chỉ là mấy ông bạn cùng dự khóa huấn luyện ở Quang Trung! Như thế thì đủ thấy thấy trái tim Lam Phương dễ rung động tới mức nào! Đó cũng là cái tài trời ban cho anh để anh biến những cảm xúc trong tim, dù rất nhỏ, thành những nốt nhạc có sức làm say đắm lòng người.

* Người đàn bà thứ tư cho Lam Phương một khúc rẽ triệt để, một bước ngoặt lớn lao trong sự nghiệp sáng tác, chính là vợ anh, kịch sĩ Túy Hồng. Tôi cứ nhắc anh là phải cám ơn chị Túy Hồng vì nhờ sự hắt hủi của Túy Hồng anh mới viết được một ca khúc hay nhất hải ngoại, đó là bài Lầm:

“Anh đã lầm đưa em sang đây
Để đêm trường nghe tiếng thở dài!…”

Rồi từ bài Lầm ấy, anh mới giã từ nước Mỹ, trắng tay ra đi lần thứ hai. Có thể xác quyết rằng, đây là giai đoạn đau khổ nhất trong cuộc đời Lam Phương. Đau khổ vì đang từ một người có thừa tiền tài danh vọng trong nước, anh sang Mỹ bắt đầu lại bằng những nghề lao động chân tay thấp kém nhất. Thế mà chuyện gia đình lại đổ vỡ, làm như số mệnh muốn trả thù anh, đem cái khổ tinh thần nhồi thêm vào cái đau vật chất đang vây chặt lấy anh. Anh bi quan đến độ toan tìm cái chết:

“Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Anh tủi thân đến nỗi viết bài Say trong đó có câu:

“Ta biết ta đã già…”

Mất miền Nam anh 38 tuổi. Sang Mỹ, mất gia đình, anh 40 mà phải than già thì cay đắng quá!

Kịch sĩ Túy Hồng.

Túy Hồng tên thật là Trương Ánh Tuyết, là kịch sĩ nổi tiếng của truyền hình và truyền thanh Sàigòn. Từ thuở còn là học sinh trung học, Túy Hồng đã bắt đầu bước lên sân khấu thoại kịch (kịch nói) của ban Dân Nam. Vì trong đoàn có Kim Cương, nên Túy Hồng luôn luôn chỉ được giao vai thứ nhì, dù rằng khán giả và báo giới ngày ấy rất chú ý đến Túy Hồng sau lần xuất hiện trong vở Áo Người Trinh Nữ từng làm khán giả đổ nhiều nước mắt. Mãi đến sau Tết Mậu Thân 1968, Túy Hồng mới tách khỏi đoàn Kim Cương để thành lập ban kịch Sống. Trong mỗi vở kịch, Túy Hồng đều cố đưa vào một bài hát của chồng là Lam Phương, do chính Túy Hồng hát, chẳng hạn: Đèn Khuya, Kiếp Nghèo, Thu Sầu, Tiễn Người Đi, Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi. Túy Hồng không phải ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng giọng hát thuộc loại hay, lại có lối diễn tả của một kịch sĩ nên bài nào cô trình bày trên sân khấu kịch Sống cũng đều gây tiếng vang ngay. Bản Phút Cuối khi vừa sáng tác, Lam Phương giao cho Túy Hồng thu đĩa chung với Diên An, bán chạy như tôm tươi. Túy Hồng hát bài này với cả trái tim rung động vì không hề biết bài này chồng mình viết cho người khác!

Tất nhiên, những chuyện tình bên lề của Lam Phương, Túy Hồng đều biết cả, anh không thể giấu hết được. Trực giác nhạy bén của người phụ nữ là vũ khí tự vệ trời ban cho, nên khó có ông chồng nào ngoại tình mà che mắt được vợ! Túy Hồng buồn lắm, nhưng xã hội Việt Nam không đặt nặng vấn đề này. Đàn ông, mà lại là nhạc sĩ nổi tiếng, có đèo bòng thêm một vài bóng dáng khác thì cũng chỉ là vui chơi qua đường mà thôi! Túy Hồng chôn giấu nỗi sầu cho tới khi ra hải ngoại. Ra hải ngoại tức là bước vào một thế giới mới. Mọi thứ giá trị vừa bị đảo lộn hết. Cộng đồng người Việt nhỏ bé đang thành hình là một xã hội mất quân bình vì đàn ông quá dư khiến phụ nữ trở thành “hàng khan hiếm”! Có những cô nhan sắc rất èo uột, giá còn ở Việt Nam thì khó có thể lấy được chồng, giờ sang Mỹ tự động được nâng cấp, kẻ đưa người đón tấp nập! Huống chi Túy Hồng vừa nổi tiếng vừa xinh đẹp! Bao nhiêu săn đón chung quanh làm Túy Hồng xiêu lòng. Hình ảnh người chồng nhạc sĩ mới hôm nào ở Sàigòn lớn lao quá, vĩ đại quá, giờ này đi quét dọn, làm thợ hàn, thợ mộc! Huống chi có thể Túy Hồng đã nuôi sẵn mối hận trong lòng, cay đắng nhịn nhục bao nhiêu năm qua, bây giờ mới có cơ hội vùng lên! Sự thay đổi rõ ràng ở Túy Hồng làm Lam Phương đành phải ngậm ngùi ra đi!

Khăn gói qua Paris lại còn vất vả hơn nhiều. Cái nghèo, cái khổ và nhất là cái lạnh của Mùa Đông Paris làm anh vô cùng điêu đứng. Ngày còn ở Việt Nam, nghe Paris là kinh đô ánh sáng, là phương trời mơ mộng mà Nguyên Sa mô tả:

“Hôm nay tôi đi Paris đang vào thu
Dòng sông Seine đang mặc áo sương mù
Đang nhìn tôi mà khoe nước biếc
Khoe lá vàng lộng lẫy lối đi xưa!”

Chao ơi! Đẹp biết bao! Nhưng thực tế thì Paris thiếu rất nhiều phương tiện cho người nghèo, chứ không như bên Mỹ. Lam Phương qua Paris năm 1980, cộng đồng người Việt còn rất thưa thớt và đang ngơ ngác vừa nhớ nhà vừa cố gắng hội nhập. Không ai giúp đỡ được anh. Trung tâm Thúy Nga tuy cũng mới dựng lại bảng hiệu ở quận 13 nhưng còn nghèo xác xơ. Ông Tô Văn Lai đi học sửa xe và cùng con gái đứng bơm xăng thì làm gì có việc cho Lam Phương làm!

Sau này, khi Lam Phương kể lại với tôi, tôi hỏi:

– Hồi anh 17 tuổi, sống trong xóm lao động ở Tân Định, anh sáng tác được bài Kiếp Nghèo thật hay, rồi nhờ bài ấy mà anh hết nghèo! Khi sang Paris, anh còn nghèo hơn lúc ở Tân Định, sao anh không viết thêm một bài Kiếp Nghèo nữa?

Anh cười buồn bảo tôi:

– Ở Tân Định tôi nghèo nên mới viết được bài Kiếp Nghèo. Nhưng sang Paris, nếu viết thêm một bài nữa, thì phải đặt tên là Kiếp Mạt mới chính xác!

* Nhưng anh chưa kịp viết Kiếp Mạt thì cuộc đời anh lại thay đổi, lại gặp một khúc rẽ mới ở người đàn bà thứ 5. Rõ ràng là anh có số đào hoa! Đó là một giai nhân tên là Lê Thị Cẩm Hường mà tôi đã có lần nhắc đến trên Paris By Night. Lam Phương như ngọn cây thiếu nước suốt cả một mùa Hè, bây giờ mưa mới đổ xuống cho ngọn cây sống lại, nhất là Cẩm Hường từng nức tiếng về nhan sắc. Có tờ báo tả cô là “một hoa khôi đẹp mê hồn”! Lúc ấy, Lam Phương đã bước vào tuổi trung niên nên anh viết ngay bài Nửa Đời Yêu Em, rồi nối tiếp luôn một loạt tình ca chan hòa hạnh phúc như: Bài Tango Cho Em, Thiên Đường Ái Ân, Mùa Thu Yêu Đương, Chỉ Có Em… Lời ca của anh bây giờ vui tươi và thực tế lắm bởi anh vừa phục sinh sau những ngày dài mất hết niềm tin trong cuộc sống:

“Từ ngày có em về
Nhà mình ngập ánh trăng thề”

Hoặc:

“Đường vào Paris có lắm nụ hồng”

Anh nhắc đến những nụ hồng bởi đó là tên người tình mới (Hường) của anh. Nói chung, giai đoạn này nhạc Lam Phương chuyển sang một hướng mới, tìm lại được niềm tin yêu trong đời, bỏ lại sau lưng tất cả chuỗi ngày vất vưởng đã qua.

Hai người sống bên nhau được gần 10 năm rồi lại chia tay. Lam Phương mệt mỏi viết bài Tình Vẫn Chưa Yên trong đó có hai câu cuối:

“Lạy Chúa! Con yêu đời xót xa nhiều
Bao năm qua con mãi đi tìm mà tình vẫn chưa được yên”!

Ở Paris tình vẫn chưa yên cho nên Lam Phương thấy nhớ nước Mỹ. Anh bỏ đi từ 1980, mãi 15 năm sau mới quay lại, tức là 1995. Bốn năm sau, anh bị tai biến mạch máu não, phải ngồi xe lăn và từ đó u sầu nhìn quanh một mình, tính đến nay đã 17 năm!

Không tin số cũng không được! Lâu rồi, anh Lam Phương có kể với tôi rằng: Một hôm anh thả bộ trên bờ sông Seine, có bà thầy bói ngồi dưới tàn cây, mời anh ghé vào coi. Bà chuyên coi bằng trái cầu pha lê (crystal ball) là thứ rất thịnh hành ở Pháp. Anh không tin lắm nhưng vì tò mò, anh tạt vô cho bà xem. Bà nghiêm mặt hai ba lần bảo anh:
– Cuối đời ông sẽ sống cô đơn!
Câu nói ấy anh nghe qua rồi quên hẳn, cho đến khi bị nạn ngồi một chỗ, anh mới nhớ lại lời bà thầy bói. Nhưng cũng nhờ biết trước nên anh không bi quan, không tuyệt vọng vì biết đó là định mệnh đã an bài cho mình.

Tôi sang Paris rất nhiều lần, nhưng chưa thấy chị Cẩm Hường lần nào bởi khi tôi gặp anh Lam Phương năm 1993 thì anh đã chia tay Cẩm Hường rồi. Mãi đến mùa hè 2013, tôi mới nhìn thấy chị lần đầu khi tôi cùng nhạc sĩ Lam Phương được mời sang Paris làm show Tình Ca Lam Phương. Chúng tôi ở hotel Ibis trong khu Place Italie. Nghe tin anh Lam Phương về Paris, chị Cẩm Hường chạy lại thăm. Thấy tôi ở lobby, chị từ phòng anh chạy ra chào và cám ơn tôi đã nhắc đến chị trên sân khấu Paris By Night. Trước đó, chị cũng đã một lần viết thư cho tôi để cám ơn chuyện này.

Nghe chị giới thiệu tên, tôi giật mình nhìn chị, cố hình dung ra người phụ nữ đã từng đem bao nhiêu nụ hồng đến với anh Lam Phương, từng được gọi là “hoa khôi có sắc đẹp mê hồn”! Nhưng dĩ nhiên, tôi không thấy. Trước mặt tôi giờ đây chỉ là một người đàn bà vừa thấp vừa tròn trịa theo qui luật tàn nhẫn của thời gian mà ai cũng phải trải qua! Chính vì thế, cứ lâu lâu chúng ta lại nghe một ca sĩ gào lên một cách nuối tiếc:

“Ngày ấy đâu rồi! Ngày ấy đâu rồi…!”

Chị Cẩm Hường tái ngộ anh Lam Phương như thế cũng là đúng lúc, vì chỉ hơn một năm sau, tôi nghe tin chị qua đời tại Paris!

Để tổng kết bài này, tôi xin cám ơn tất cả những người tình một thời của nhạc sĩ Lam Phương. Những nguồn vui, những nỗi sầu, những hạnh phúc, những giận hờn mà họ đã mang lại cho Lam Phương, để anh kết thành hàng loạt nhạc phẩm đặc sắc lưu lại mãi mãi cho đời.

Ngày 21 tháng 5 tới đây, Quỹ Cộng Đồng Thời Báo sẽ đón nhạc sĩ Lam Phương trở lại Toronto một lần nữa, để chúng ta được nghe lại những bài tình ca tôi vừa lược kể, những bài tình ca mà chắc chắn có lúc Lam Phương đã phải viết bằng những dòng nước mắt.

Nhân dịp này, Quỹ Cộng Đồng Thời Báo cũng muốn cùng với khán thính giả yêu mến Lam Phương, chúc mừng ông vừa bước vào tuổi 80 mà người ta thường gọi là “bát tuần khánh thọ”. Chúng ta cầu chúc ông luôn mạnh khỏe vì biết đâu sau tuổi 80, ông sẽ lại gặp vài người đẹp, vài mối tình nở muộn để ông lại sáng tác thêm một loạt tình ca đặc sắc nữa!

Nguyễn Ngọc Ngạn

From: TU PHUNG 

BỨC THƯ ĐỂ LẠI

BỨC THƯ ĐỂ LẠI

– Luận vô thường,

Tôn Vận Tuyền (孫運璿, Sun Yun-Suan, 10/11/1913 – 15/2 /2006), một nhà kinh tế, một chính trị gia Đài Loan. Ông là Bộ trưởng Bộ Kinh tế từ năm 1969 đến 1978, sau đó được bầu làm Thủ tướng Đài Loan (Premier of the Republic of China) từ năm 1978 đến 1984. Ngày 24 tháng hai năm 1984 ông bị đột quỵ do xuất huyết não và sau khi phục hồi chỉ có thể ngồi trên xe lăn. Tháng 2 năm 2006, ông qua đời tại Đài Bắc, hưởng thọ 92 tuổi. Ngoài các trước tác về Kinh tế, Chính trị, tôi quan tâm đến một bức thư ông để lại cho các con của ông.

Một bức thư giản dị nhưng thật chân tình và sâu sắc. Tôi (GS Nguyễn lân Dũng – NV)xin phép được giới thiệu lại cùng các bạn bức thư này:

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU “.

Tôn Vận Tuyền đã để lại những lời căn dặn như sau: Các con thân mến,Viết những điều căn dặn này, cha dựa trên 3 nguyên tắc như sau :

1.Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.

  1. Cha là Cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!

3.Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, Nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.

Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời :

  1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đôi xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.

2.Không có người nào mà không thể thay thế hay tồn tại mãi với mình được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.

  1. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phi thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi! Cho nên, nếu ta càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm, thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.

4.Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Aí tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi luy vì thất tình.

5.Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khi trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có tấc sắt. Nên nhớ kỹ điều nầy!

  1. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nữa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình. Sau nầy các con có đi xe Bus công cộng hay đi Auto nhà, các con ăn soup vi cá hay ăn mi gói, đều là trách nhiệm của các con.
  2. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình. Mình đối xử người ta thế nào, không có nghiã là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế, nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.
  3. Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều nầy chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian nầy không có cái gì là miễn phí cả.
  4. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân trọng và hãy qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau, kiếp sau (nếu có), dù ta có thuơng hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.

H.P. (sưu tầm)

 From: TU PHUNG 

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THẤM ĐÒN

Đỗ Ngà

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THẤM ĐÒN

Đỗ Ngà

Năm nay Covid-19 hoành hành kinh tế suy sụp. Ở Việt Nam, người nhiễm Covid chết thì ít mà doanh nghiệp bị nhiễm căn bệnh này lớp ngỏm lớp thì ngáp ngáp cũng rất nhiều. Sức đề kháng doanh nghiệp Việt rất yếu, đến độ chính phủ bơm thuốc (tức những gói kích cầu) liên tục mà mà doanh nghiệp vẫn chưa thấy khỏe lại. Từ đầu năm đến nay, ngân hàng nhà nước bơm đến 3 liều thuốc. Tháng 3 ngân hàng nhà nước bơm gói 280 ngàn tỷ, tiếp theo đó là tháng 4 chính phủ bơm gói an sinh 62 ngàn tỷ, rồi tiếp theo ngân hàng nhà nước lại bơm thêm gói 16 ngàn tỷ giải cứu doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tiền bơm như thế, ấy vậy mà tình hình tăng trưởng tín dụng vẫn cứ giảm 33% so với năm ngoái. Vậy rõ ràng là cơ thể nền kinh tế Việt Nam không hấp thu hết thuốc điều trị.

Thực ra nền kinh tế Việt Nam đang không hấp thu thuốc cũng dễ hiểu. Covid làm cho sức tiêu thụ giảm vì thế mà thị trường bị co lại trong đó ngành du lịch là một ví dụ rõ nét nhất. Mà thị trường co lại thì nhu cầu vốn cho sản xuất của doanh nghiệp cũng giảm. Chính vì thế ngân hàng nhà nước có bơm tiền thì doanh nghiệp cũng không mặn mà lắm với việc vay tiền để đầu tư sản xuất. Mà dòng tiền kích cầu không chảy vào ngành sản xuất thì làm sao kích thích tăng trưởng được? Vì vậy mà gói kích cầu của ngân hàng nhà nước mới không có hiệu quả.

Nhà nước có 2 công cụ để vực dậy nền kinh tế, đó là chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước và chính sách tài khóa của chính phủ. Chính sách tiền tệ trong lúc khủng hoảng tất nhiên là… bơm tiền như đã nói. Còn riêng chính sách tài khóa của chính phủ thì tất nhiên là tăng chi tiêu. Nhờ tích lũy nguồn thu dồi dào từ năm 2019 mà năm nay chính phủ đã có 700 ngàn tỷ giải ngân để tăng chi tiêu kích cầu kinh tế trong tình hình dịch Covid. Thế nhưng năm nay nguồn thu giảm do đại dịch thì năm sau lấy đâu ra số tiền lớn cho chính phủ tăng chi tiêu để kích cầu cho năm 2021 đây? Hay là in tiền?

Được biết, hằng năm chính quyền CS Việt Nam đẩy 50 ngàn công nhân đi xuất khẩu lao động khắp nơi trên thế giới để kiếm ngoại tệ gởi về nuôi đảng. Chính nguồn lao động này đóng vai trò không nhỏ trong nguồn kiều hối hằng năm đang rót về Việt Nam. Năm ngoái lượng kiều hối là 16 tỷ đô, và năm nay các chuyên gia dự đoán nguồn kiều hối sẽ giảm 20%. Như vậy rõ rang Việt Nam đã mất một phần đáng kể do sụt giảm kiều hối. Thêm vào đó mới đây, chính phủ Nhật Bản đã chọn Nepal làm nguồn lao động nhập khẩu thay Việt Nam. Mà như ta biết, nguồn lao động đi Nhật luôn kiếm được nhiều tiền hơn so với việc xuất khẩu lao động đi một số nước khác ở vùng Châu Á.

Năm nay thiên tai tàn phá nhiều tỉnh miền trung. Sau bão lũ chính phủ phải chi ra một lượng tiền để sửa sang hạ tầng như cũ và những khoản chi khác chỉ để khắc phục những thiệt hại về nông nghiệp. Khoản chi này chỉ là sửa chữa nó không phải là những khoản chi kích thích tăng trưởng nhưng chính phi vin vào đó mà tính cho GDP năm nay. Dù có dự đoán tăng trưởng năm nay khoảng 2 đến 3% thì thực sự con số đó chỉ là con số ảo. Đó là tăng trưởng bẩn không có chất lượng nên không nói lên điều gì. Tuy có tăng trưởng dương nhưng thực sự nền kinh tế này đã thấm đòn rồi khó mà gượng dậy nhanh chóng được.

Nền kinh tế thấm đòn, doanh nghiệp sống dở chết dở, gói kích cầu kém hiệu quả, nguồn kiều hối bị giảm. Không biết CS có cách thần kỳ nào đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6% năm 2021? Có lẽ lúc đó họ dự tính chế số liệu chăng? Có thể lắm.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://plo.vn/…/giai-phap-dac-biet-de-hoi-sinh-du-lich…

https://forbesvietnam.com.vn/…/chinh-phu-tung-goi-kich…

https://tintaynguyen.com/chinh-phu-ban-hanh-nghi…/1168125/

https://vietnamfinance.vn/nam-nay-con-co-gan-700-nghin-ty…

http://thoibaotaichinhvietnam.vn/…/kieu-hoi-suy-giam-co…

(Xin phép mượn biếm họa của anh Vũ Tuân nha, biếm họa hay quá)

No photo description available.