Belarus ép phi cơ dân dụng hạ cánh để bắt đối lập, Liên Âu và Mỹ phản ứng mạnh mẽ
Belarus ép phi cơ dân dụng hạ cánh để bắt đối lập, Liên Âu và Mỹ phản ứng mạnh mẽ
Tổng thống Belarus Loukachenko hôm qua 23/05/2021 bất ngờ ra lệnh cho chiến đấu cơ MiG-29 chặn chuyến bay FR4978 từ Athenes đến Vilnius của hãng hàng không Ryanai, buộc máy bay phải hạ cánh xuống phi trường thủ đô Minsk. Một nhà báo đối lập Belarus trong chuyến bay đã bị bắt giữ. Hành động bị coi là “không tặc” kể trên đã bị hầu hết các nước châu Âu cũng như là Mỹ lên án.
Viện cớ có chất nổ trên chuyến bay của hãng RyanAir nối liền Athens và Vilnius, một chiến đấu cơ của Không Quân Belarus đã bay lên buộc chiếc máy bay chở khách đổi hướng, để hạ cánh xuống phi trường Minsk.
Sau kiểm tra, trên phi cơ không có chất nổ, nhưng chính quyền Belarus đã bắt giữ một hành khách là ông Roman Protassevich, một nhân vật đối lập với chế độ Loukachenko. Nhà báo trẻ này là một trong những người sáng lập Nexta, một kênh tin tức độc lập trên mạng Telegram, vốn đã trở thành một trong những nguồn thông tin chính về các cuộc biểu tình đang diễn ra tại Belarus. 169 hành khách khác trên máy bay thì đã đến được Lítva muộn hơn một chút so với dự kiến.
Hành động chặn bắt máy bay hàng không dân dụng của chính quyền Belarus đã khiến nhiều nước châu Âu phẫn nộ. Ba Lan tố cáo một hành động khủng bố Nhà nước. Pháp gọi đó là một vụ “không tặc” không thể chấp nhận được, Về phần mình, Luân Đôn đã cảnh báo tổng thống Belarus rằng ông có nguy cơ phải gánh chịu những “hậu quả nghiêm trọng” sau hành động ngông cuồng này.
Bên kia bờ Đại Tây Dương, Hoa Kỳ cũng bày tỏ thái độ cực kỳ phẫn nộ. Theo ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken, chính quyền Loukachenko đã có một “hành động trơ trẽn và không thể chấp nhận được” khi dùng máy bay quân sự để buộc một chuyến bay dân sự đổi hướng và bắt giữ một nhà báo”. Ông Blinken đã lên tiếng yêu cầu mở một cuộc điều tra quốc tế, tương tự như tổng thư ký khối NATO .
Tối qua 24/05/2021, cả 27 nước Liên Hiệp Châu Âu đã quyết định trừng phạt mạnh mẽ và cô lập Belarus về hàng không.
Châu Âu lên án việc buộc đổi hướng chiếc máy bay của Ryanair và bắt giam nhà báo Roman Protassevitch cùng với bạn gái ông, đòi hỏi phải lập tức trả tự do cho họ.Hai mươi bảy quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu còn yêu cầu tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế làm sáng tỏ sự kiện được coi là « chưa từng có và không thể chấp nhận được ».
Các nhà lãnh đạo châu Âu cũng thỏa thuận về các biện pháp trừng phạt mới, nhắm vào những người có trách nhiệm trong việc làm đổi hướng chuyến bay, và những định chế tài trợ cho chế độ Belarus. Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu khi đến Bruxelles đã nói rõ như trên.
Bên cạnh đó, 27 nước còn thông qua nguyên tắc trừng phạt kinh tế – một hành động mạnh mẽ vốn không dự kiến lúc ban đầu. Liên Hiệp Châu Âu cũng đòi hỏi tất cả các hãng hàng không châu Âu tránh không phận Belarus. Theo Eurocontrol, mỗi tuần có gần 2.000 chuyến bay thương mại bay qua lãnh thổ Belarus. Và biện pháp cuối cùng được loan báo, là châu Âu sẽ đóng cửa không phận của mình đối với các phi cơ Belarus. »
Từ sau cuộc bầu cử tổng thống bị tố cáo gian lận, chính quyền Belarus đã bắt giam hàng ngàn nhà ly khai. Những khuôn mặt đối lập chính hoặc đang lưu vong, hoặc đã vào tù. Được Nga hậu thuẫn, chế độ Loukachenko sẵn sàng bóp chết đối lập.
TL – RFI.
Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”…
Tạp Ghi Huy Phương
Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”….
(Văn hóa của kẻ “thắng cuộc với văn hóa của người “thua cuộc”!!!)
Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn. Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.
Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.
Tôi hỏi anh:
– “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”
Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ:
– “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”
Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.
Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.
Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra. Cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.
Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội.
Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”
Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”
Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?
Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.
Tôi dẫn một vài ví dụ:
Giao tiếp:
– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.
– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.
Hàng quán:
– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.
– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!
Ca ve:
– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…
Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”
Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”
Nhà sách:
– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.
– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!
Trong quán ăn:
– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”
– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”
Bạn bè:
– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.
– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!
Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”
Sau 42 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “Singapore của bác” mà ở Hà… Paris… cũng lội!
Vô kỷ luật:
Sinh viên:
– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.
– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.
Giao thông:
– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.
– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.
Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội Paris và Sài Gòn Sing sẽ mãi mãi khác nhau vì chúng ngày càng gân hơn. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội Paris” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.
Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian. Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.
Chúng ta yêu Sài Gòn chính là yêu chính chúng ta, cái bóng của dĩ vãng. Muốn Sài Gòn không đổi thay, chính lòng mình phải không thay đổi.
Hình minh họa: – Một xã hội đè lên nhau để chụp giựt…

Con nhỏ không mắt
Con nhỏ không mắt
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Hai sinh viên Y khoa ở Zurich – thành phố lớn nhất của Thụy Sĩ – nhân dịp kỳ nghỉ Giáng sinh, đáp phi cơ từ Zurich đi Lisbon – thủ đô của Bồ Đào Nha -, rồi từ Lisbon đáp xe đò ngược lên Fatima. Hai sinh viên này, một Công Giáo, một Tin Lành, cả hai đều 20 tuổi. Anh sinh viên Tin Lành là con duy nhất của một gia đình khá giả ở Zurich. Anh muốn đến Fatima để tạ ơn Đức Mẹ, vì nhờ ơn Đức Mẹ anh qua khỏi một căn bệnh nguy hiểm, mà theo các bác sĩ, không hiểu nổi theo cách thức thông thường.
Chiều 24-12-1967, hai anh tới Lisbon và lúc 22giờ30 thì tới Fatima. Trời gió lạnh. Mưa lâm râm. Công trường trước Thánh đường vắng vẻ, mênh mông…. Trong nhà nguyện – nơi Đức Mẹ hiện ra 6 lần cách đây 50 năm – chỉ có vài chục người đang đọc kinh, cầu nguyện… Hai anh vào Nhà Nguyện được ít phút, còn đang mải mê ngắm nhìn tượng Đức Mẹ Nữ Vương Mân Côi, thì một phụ nữ trẻ bước vào, trên tay bồng đứa con nhỏ, đầu và nửa mặt trên bưng kín, nằm gọn trong bộ đồ ấm mùa đông. Bà đến trước tượng Đức Mẹ Nữ Vương Mân Côi, lộ vẻ đau khổ, lâm râm khấn cầu, nâng đứa con dâng cho Đức Mẹ, rồi hạ xuống, nước mắt chan hòa… Những người có mặt đều nhìn mẹ con bà với vẻ cảm thông, thương xót.
Một bà trong đám lại gần, hỏi đứa nhỏ bệnh tật, ốm yếu ra sao? Bà mẹ trẻ trào nước mắt, lật cái khăn bịt đầu đứa nhỏ ra: Trời ơi, một con nhỏ, mặt nhẵn thín, không có mắt, chỉ có mũi và miệng. Từ trán đến mũi, miệng và hai tai, là một làn da thịt nhẵn nhụi.
Bà mẹ đau khổ thều thào trong nước mắt: “Lạy Mẹ, xin Mẹ thương con, xin Mẹ thương con nhỏ tội nghiệp. Xin Mẹ hãy nhớ, khi xưa sinh hạ Chúa Hài Đồng, Mẹ sung sướng ẵm nhìn xiết đứa con vàng ngọc vào lòng. Còn con và con nhỏ này? Đau khổ biết bao, Mẹ ơi! Con gởi gấm nó cho Mẹ, Mẹ đừng nỡ để nó đui mù suốt đời”.
Bà nấc lên. Rút xâu chuỗi ở túi. Lần hột. Các người có mặt nãy đến giờ đứng nghe chăm chỉ… Có bà lại còn xụt xùi, chùi nước mắt…
Rồi một bà đứng ra nói: “Thôi, xin tất cả các bà, chúng ta cùng nhau đọc một chuỗi kinh kính Đức Mẹ Nữ Vương Mân Côi, cầu cho mẹ con bà này ”.
Đọc kinh đến nửa mùa, quãng một giờ sáng (25-12-1967), con nhỏ dẫy dụa, rên rỉ, khóc. Bà mẹ lật tấm khăn bịt đầu, xem có chuyện chi mà nó khóc. Vừa lật tấm khăn lên, bà há miệng, ớ một tiếng lớn, đầy kinh ngạc… Mọi người bỏ cả đọc kinh, xúm lại quanh hai mẹ con, thì ớ kìa: ngay bên dưới trán con nhỏ, xuất hiện hai lỗ nhỏ xíu, rồi từ đó hai đường nứt nhỏ cứ lớn dần dần, lan ra phía bên tai, rồi hai con mắt hiện ra...
Con nhỏ ngỡ ngàng, nhìn má, nhìn mọi người… như một tạo vật vừa từ trời rớt xuống…Mọi người sửng sốt, reo hò, mừng rỡ, túm tít chung quanh hai mẹ con, cười cười, nói nói, hỏi han đủ truyện, quên cả ván kinh đang đọc giở…
Hai anh sinh viên được chứng kiến tận mắt chuyện lạ . Cảm xúc vô cùng. Sau khi về lại Zurich, cả hai anh nhất trí khước từ mọi sự, ngoại trừ việc học hỏi thêm về Chúa. Hai tháng sau, cả hai anh bỏ Đại học. Cả hai cùng đi Nam Mỹ, giúp việc truyền giáo trong một Nhà thương cùi. Anh sinh viên Tin Lành đã gia nhập Công Giáo… Vì lòng khiêm tốn, hai anh xin ẩn danh.
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
From: Bác sĩ Phùng Văn Hạnh
Mừng ngày sinh bác… Polpot
Từ Facebook Thuan Van Bui
1. Hôm nay, nhân loại nhớ đến như ngày sinh của đồ tể Saloth Sar (ních nêm Pol Pot, mấy tay lãnh tụ thì nhiều ních ảo, tên giả lắm). Pol Pot là tổng bí thư của Đảng Cộng sản Khmer Đỏ (nôm na là Đảng cộng sản Campuchia). Tổng Bí thư Pol Pot là người đề ra chính sách cộng sản lý tưởng. Với chính sách này, đồng chí Pol Pot đã lùa dân vào các trại tập trung, các trại cải tạo, công xã… và giết hại khoảng 1,7 triệu người Căm Bốt (1/3 dân). Dân chết chủ yếu vì đói ăn, bệnh tật, bị xử tử bằng cuốc thuổng gậy gộc, câu liêm, đập đầu. Một chi tiết rất quan trọng: đồng chí Pol Pot là người Căm Bốt gốc Trung Quốc.
2.Hôm nay cũng là ngày sinh (trên văn bản tuyên truyền) của Hồ Chí Minh. Theo các tài liệu chính thức được Pháp lưu trữ, ngày sinh của ông Hồ là 15/1/1894. Đây cũng là đau khổ của một con người, từ ngày tháng năm sinh, đến tên họ cha sinh mẹ đẻ mà còn phải chối bỏ, phải làm giả, dối trá. Khổ lắm chứ. 172.000 người đủ ăn, giàu có đã bị quy là địa chủ và bị bách hại bởi Cải Cách Ruộng Đất rung chuyển trời đất. Hàng vạn trí thức, văn nghệ sĩ, đã bị đày đọa, bách hại trong các vụ Nhân văn- Giai phẩm; Xét lại chống đảng. Hàng triệu người Việt cũng bỏ mạng trong cuộc nội chiến 1954-1975. Tất cả là dấu ấn là bóng dáng của đồ tể!
3. 19/5/1941: Ngày thành lập của Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Theo nhiều nguồn sử liệu độc lập,khi mới thành lập để có tiền hoạt động, Việt Minh chuyên tổ chức chặn đường cướp bóc, tống tiền hoặc giết người cướp của. Buôn thuốc phiện cũng có trong danh mục kiếm tiền của lực lượng này. Khoảng năm 1944, Việt Minh có xin Mỹ vũ khí, thuốc men, tiền bạc, xin Mỹ cử các chuyên gia sang huấn luyện cho Việt Minh. Mỹ đã chấp nhận hầu hết các xin xỏ của Việt Minh. (Cái này nên nhớ để chửi đứa nào nói phản động xin tiền ngoại bang, đế quốc Mỹ).
4. Thực đơn hôm nay của thằng cha già dân tộc bán mật ong, (ăn vậy để mừng sinh nhật, tưởng nhớ đến những công lao trời biển của đồng chí Pol Pot) gồm:
– Gà rán Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, pha nước 3 sôi 2 lạnh, rửa sạch gà, thả vào nồi rồi mới vặt lông. Để ráo, ướp xì dầu trong ngoài đầy đủ. Trước khi ăn, cho vào chảo mỡ ngập, rán vàng hết hai mặt, khi chặt ra trong xương gà còn hơi hồng hồng.
– Gà luộc Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, rửa gà, cho vào nước 3 sôi 2 lạnh. Vặt lông, để ráo, rắc muối gia vị lên con gà sau đó luộc đến độ sôi khoảng 80 độ thì bắc ra, để nguyên trong nồi 15 phút. Sau đó cho con gà đã luộc vào nồi nước thật lạnh, để 15 phút nữa. Khi chặt thịt bên trong vẫn còn nước hơi hồng hồng, như thế khi ăn thịt sẽ mềm và da gà vẫn giòn. Thái vát, bỏ xương, lấy nước dùng, pha thêm ít mì chính là ăn.
– Cá bống kho tộ: bống sông rửa sạch, lấy khăn thấm khô, ướp gia vị, rồi tưới nước màu (nước hàng) lên. Sau đó cho vào nồi đất, có nước dùng gà xâm xấp, đun sôi đến chín, rồi để nhỏ lửa, khoảng 60 độ, chờ cá săn lại là được.
– Ăn xong tráng miệng bằng một quả táo nướng. Đây là loại táo Trung Quốc, đem bổ đôi, bỏ ruột, nướng xém, phết một ít đường và bơ, cầm chiếc thìa nhỏ xúc ăn.
– Kèm theo đó là cafe sữa, nước sâm ngày đôi ba lần.
Xem thêm bữa ăn Bác Hồ: https://vtc.vn/nguoi-dau-bep-va-nhung-chuyen-thu-vi-ve-bua-an-cua-bac-ho-ar220540.html?fbclid=IwAR2gIZMcloNw-brkjSPRZceGYtclcDsriyYmvxntE8_kaHjP2uekNa1zPS8
49 người di cư bất hợp pháp được giải cứu ngoài khơi bờ biển Bỉ – đa số là người Việt Nam

Nhà chức trách Bỉ đã giải cứu 49 người gặp nạn. Chiếc thuyền với những người chủ yếu đến từ Việt Nam có lẽ đã khởi hành từ Pháp.
Các nhà chức trách Bỉ đã giải cứu 49 người di cư gặp nạn trên biển. Theo công tố viên Bruges, chiếc thuyền chở những người, hầu hết đến từ Việt Nam, đã gặp sự cố trong chuyến vượt biển đến Vương quốc Anh trên eo biển Manche. Do đó, con thuyền có khả năng đã bắt đầu ở Pháp, nhưng cuộc điều tra vẫn đang tiếp tục.
“Họ có sức khỏe tốt và một số có triệu chứng hạ thân nhiệt nhẹ“, tuyên bố cho biết. Cuộc gọi khẩn cấp được nhận ngay sau bảy giờ sáng. Tất cả các hành khách vẫn ở trên thuyền vào thời điểm giải cứu; nước đã tràn vào thuyền. Một máy bay trực thăng đã tham gia vào chiến dịch cứu hộ.
Cảnh sát Bỉ thường xuyên chặn bắt những người di cư bất hợp pháp trong khu vực cảng Zeebrugge trên Biển Bắc, họ thường trốn trong các xe tải để cố gắng vượt qua eo biển Manche.
Một nghị lực sống thật phi thường…
HAI VỢ CHỒNG MÙ. ÔNG ĐÃ 73. CÙNG CÓ 5 CON. ÔNG CHỈ ĐÁNH ĐÀN RONG ĐỂ SINH SỐNG SUỐT 45 NĂM QUA. CÁC CON ĐỀU KHÔN LỚN. NHỮNG MÃNH ĐỜI THẬT LẠ LÙNG, HIẾM CÓ, VẪN PHẤN ĐẤU SỐNG DÙ TRONG TÌNH TRẠNG KHÓ KHĂN, CUỘC ĐỜI BẤT HẠNH NGAY TỪ LÚC MỚI LỌT LÒNG !

Đây là ông Nguyễn Văn Minh, 73 tuổi, ở huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, người đàn ông khiếm thị, suốt 45 năm qua, chỉ với cây đàn ghi ta, làm nghề hát rong đã nuôi cả đàn con 5 người khôn lớn (vợ ông cũng bị khiếm thị)
Một nghị lực sống thật phi thường, mọi người cùng cổ vũ cho ông nhé.
CHUYỆN… THỜI KỲ BAO CẤP!

CHUYỆN… THỜI KỲ BAO CẤP!
Đây là một cái đơn viết ngày 22/2/1986, để xin phép chính quyền Thanh Hoá cho vận chuyển cái tủ gỗ cũ đi Hà Nội. Người viết đơn này cũng là chủ nhân của cái tủ cũ cam đoan rằng đây là cái tủ cũ và cho anh trai.
Những người chưa sống qua thời bao cấp thấy đây là chuyện hết sức kỳ quái. Chỉ là cái tủ cũ thôi mà chứ có phải hàng quốc cấm đâu, sao phải làm đơn từ khổ thế! Nhưng nếu đặt vào không gian thời bao cấp thì chuyện này hết sức bình thường.
Suốt thời kỳ bao cấp, những người lãnh đạo đất nước dựng lên những rào cản, cấm sự tự do lưu thông phân phối. Nhà nước quản lý hàng hoá và phân phối theo kế hoạch, kể từ hạt lúa, mét vải, cái kim sợi chỉ, quyển sách vở học trò, chiếc xe đạp, điếu thuốc lá, cái bát ăn cơm, con gà con lợn… Ai tự vận chuyển, bán những thứ do mình sản xuất được hoặc mua đều vi phạm luật của nhà nước, bị tịch thu hàng và phạt nặng.
Thậm chí, người con bị bệnh, mẹ muốn đưa con đi đến bệnh viện chữa trị cũng phải làm đơn xin phép chính quyền.
Sau này Chính phủ bỏ tình trạng đó và gọi là “Đổi mới”.
Đó là lý do tại sao ông em cho ông anh cái tủ cũ phải viết đơn cam đoan là tủ cũ của mình “cho” chứ không phải “mua bán” là như vậy.
ST/ Tv THANH LƯƠNG chuyển đăng
Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!
Tặng cho những kẻ vô học, mọi da Vàng trong Cộng đồng Người Việt!!!
***
Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!
Lâm Bình Duy Nhiên
Ngày giáp Noël 2019, từ Paris, tôi vội vã chuẩn bị lái về lại Lausanne để kịp đón lễ Giáng sinh với gia đình. Tôi tạt vào Quận 13 để mua ít đồ ăn.
Tháng 12, thời tiết chỉ hơi se lạnh. Đứng xếp hàng dài cũng độ cả chục thước để mua vài ổ bánh mì thịt. Người đông lại gặp ngay giờ trưa nên khu phố chợ châu Á tấp nập hơn bao giờ hết.
Đang rầu rĩ vì cũng đợi khá lâu mà vẫn chưa thấy nhúc nhích bao nhiêu, bất chợt nghe một giọng phụ nữ hét lên:
– Coi chừng thằng mọi nó giả bộ giành chỗ đó!
Tôi giật mình, nhìn lên thì thấy một chàng thanh niên gốc Phi châu đang nhón chân nhìn vào trong tiệm, như thể đang tìm kiếm gì đó hoặc chỉ xem phía bên trong có đông người không. Anh ta mới đến, có lẽ nóng ruột nên mới chạy tuốt lên phía trên để nhòm ngó. Vẫn giọng nói của người phụ nữ ấy:
– Mấy thằng đen nó lưu manh lắm, không chịu xếp hàng lại muốn giành chỗ.
Tôi ngó lại phía sau, cách tôi hai người, là một chị chừng ngoài 50, vẫn đang chỉ trỏ về phía anh chàng kia, dẫu anh ta đã bỏ đi, không đợi nữa. Tôi nói với chị:
– Trời, thời buổi này mà còn đen với mọi gì nữa chị!
Chị ta khẽ lườm nguýt nhìn tôi, rồi buột miệng:
– Mọi thì nói mọi chứ sao?
Tôi lắc đầu, bỏ cuộc, không nói gì nữa nhưng tự dưng cảm thấy buồn và không vui. Nhiều người xếp hàng, Việt có, Tàu có, Miên có, Tây cũng có. Cái thành phố này, cái xứ sở này và cả châu Âu này đã trở nên đa văn hoá và đa chủng tộc tự bao giờ nhưng đâu đó vẫn còn những ánh mắt, những nhận xét kỳ thị như thế. Cái từ “mọi” nó có vẻ quá dễ dàng để người ta thốt nên lời!
Có lần, trong xe buýt tại Lausanne, ngồi phía sau, tôi thấy một bé gái, chừng 5, 6 tuổi, chạy ào về phía có chỗ trống. Lập tức, giọng người mẹ la lên:
– Tới đây con, không ngồi gần tụi Chà, tụi nó hôi lắm!
Con bé ngơ ngác, chắc không hiểu hết ý mẹ nó nói, nhưng cũng chạy về phía mẹ nó, một chị người Việt Nam.
“Tụi Chà”, chị ta ám chỉ những người Tamoul, đến từ Sri Lanka. Trong những năm 80 và 90, cuộc nội chiến tại Sri Lanka đã khiến cho hơn 40 ngàn người Hổ Tamoul xin tị nạn chính trị tại Thuỵ Sĩ. Người Tamoul đông và làm nhiều nghề tay chân nặng nhọc. Chỉ có họ, chứ hiếm người Ấn Độ hay Pakistan lập nghiệp tại đây.
Nhiều người Việt vẫn đánh đồng người Tamoul với người Ấn, tức người *“Chà Và”* và vẫn xem thường sắc dân *“ăn cà ri hôi rình” *và chỉ biết* “lau chùi cầu tiêu”* nhà hàng…
Cũng như không biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với *“bọn da đen”* ở trường vì “chúng nó ngu, dốt và lười lắm”. Còn “bọn Rệp” thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại… ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!
Có lần nọ đã lâu, khi tôi chưa tham gia sinh hoạt cộng đồng, có đi theo vài người bạn đến ăn cơm tối tại một nhà hàng Việt. Khi chúng tôi vào, bà chủ quán nhìn anh bạn của tôi và nói lớn:
– Dữ chưa, hôm nay dẫn thằng mọi nào tới vậy?
Tôi hiểu liền, nên nói:
– Chào cô.
Bà chủ quán đớ người, chỉ tôi hỏi:
– Ủa, da đen biết nói tiếng Việt hả?
Anh bạn tôi vội vàng giải thích. Cô chủ quán buột miệng xin lỗi và cố giải thích vì nhìn thấy tôi “đen giống tụi da đen quá”!
Dường như cứ là người Việt là cần phải cố tình kỳ thị và phân biệt chủng tộc cho bằng được, cho giống người ta, giống người da trắng thượng đẳng. Người Việt thì phải chia ngôi, chia thứ cho ra lẽ: Bọn da trắng trước, mà phải là da trắng kiểu Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc…, chứ kiểu Nam Tư cũ, Bồ Đào Nha thì cũng chẳng ra gì. Sau đó đến Nhật, Đại Hàn.
Người Việt hẳn nhiên phải hơn hẳn các sắc dân còn lại: Đen, Rệp, Chệch, Chà, Thổ,… Đó là điều rõ ràng, không thể tranh cãi. Người mình thông minh hơn, cần cù hơn, lương thiện hơn. Tóm lại, cái gì cũng nhất cả, chỉ chịu sau mỗi bọn da trắng và da vàng kia thôi.
Cho nên, từ nhỏ, khi xem phim, con nít đã cứ tha hồ *“Bọn mọi da đen”* hay “Mọi da đỏ” này nọ. Từ “thổ dân” thì chẳng mấy ai sử dụng. Thời xưa cổ hủ, cố chấp thì “Me Tây”, “Me Mỹ”, rồi “Chệch”, rồi “Chà”. Thế nhưng ngày nay, khi biên giới giữa các quốc gia đang dần dần bị xoá bỏ, khi con người có nhu cầu sinh sống, làm việc hay lập nghiệp khắp nơi trên thế giới thì nhiều người Việt vẫn còn mang nặng tư tưởng kỳ thị các sắc dân da màu khác.
Trong những cuộc tranh luận mỗi khi có bầu cử tại Thuỵ Sĩ hay Pháp, không hiếm người Việt hồ hởi cho rằng phải bỏ phiếu cho các đảng cực hữu để họ tống cổ bọn “Mọi” và “Rệp” về nước của họ! Họ cố tình không muốn hiểu đó là những người có quốc tịch thậm chí sinh ra và trưởng thành tại đây từ 2 hay 3 thế hệ…. và họ cũng quên rằng, chính họ cũng là người tỵ nạn hay di dân đến định cư nơi đây, có khác gì “bọn đen hay chà và”? Chính ọ cũng bị các sắc dân khác, đặc biệt là bọn da Trắng thượng đẳng cũng muốn tống cố đám da Vàng mũi tẹt về nước đó thôi!
Cứ như thể chỉ có người Việt là xứng đáng được có quốc tịch và là những công dân gương mẫu.
Nếu như trong tiếng Pháp có từ *“négro”* bị xem như là một sự xúc phạm, kỳ thị người da đen. thì người Việt cũng có từ *“mọi”*. Tuy nhiên, tại Pháp hay Thuỵ Sĩ, những ai buộc miệng nói lên từ này đều bị lên án và có thậm chí có thể bị phạt thì người Việt mình vẫn còn *“vô tư”* chế giễu hay kỳ thị người da đen một cách thoải mái, không ngại bị phạt gì cả. Trong nước cũng thế, bên ngoài cũng vậy, cứ tha hồ *“mọi” này, “mọi” kia *bằng tiếng Việt với nhau, rồi cười ầm cả nhà khoái chí vì tự cho mình thượng đẳng hơn kẻ khác.
Thế cho nên mới có chuyện ông cựu Tổng thống Mỹ Obama bị nhiều người Việt, không chỉ riêng bên Mỹ, mà cả tại Việt Nam, buông lời miệt thị nặng nề. Dĩ nhiên, chê bai hay phản biện lại những thành tựu hay những hậu quả của ông ta đã để lại cho nước Mỹ vượt quá khả năng hiểu biết nên họ chỉ nhắm vào cái dễ nhất, cái bắt mắt nhất: màu da đen của ông ta.
Không quá khó để tìm thấy những lời chửi rủa đậm tính chất kỳ thị sắc tộc đối với vợ chồng ông. Nào *“mọi”*, nào *“man rợ”*, nào *“rừng rú”* hay *“đười ươi”.* Thậm chí nhiều kẻ vẫn không ngượng khi rêu rao những lập luận bệnh hoạn của các nhóm cực đoan da trắng khi cho rằng máu của ông Obama không phải là máu tinh khiết thuần trắng và siêu việt!
Họ phấn khởi truyền cho nhau tấm ảnh ông Obama gác chân lên bàn làm việc khi trao đổi với các cộng sự và cho rằng đó là “Chó Nhảy Bàn Độc” nhằm hạ uy tín ông ta cũng như chứng minh rằng “mọi” thì vẫn là “mọi” dẫu có làm Tổng thống đi chăng nữa.
Tuy nhiên, họ cố tình quên rằng, nhiều vị Tổng thống da trắng khác cũng có tác phong như thế khi làm việc. Có lẽ, họ sẽ biện minh rằng đó mới chính là cái uy, cái dũng của một vị tổng thống một cường quốc!
Khó có thể hình dung những lời chửi rủa mang tính chất kỳ thị chủng tộc tồi bại như thế lại có thể tồn tại và không bị trừng phạt ngay tại Mỹ hay nhiều nước phương Tây. Tiếc thay, đó lại là sự thật.
Tiếng Việt là ngôn ngữ của một thiểu số và nó chỉ tồn tại quanh quẩn giữa những người Việt với nhau. Họ tha hồ chửi rủa, tha hồ miệt thị những sắc dân khác bằng tiếng Việt. Không ai hiểu, không ai lên án, không ai tố cáo họ. Nhưng qua đó, có một sự thật khác khiến chúng ta không thể chối bỏ, đó là người Việt chúng ta, dẫu ở đâu đi chăng nữa, vẫn chỉ là một sắc dân không hội nhập với người bản xứ. Cứ đóng cửa chơi với nhau, chửi bới nhau, kỳ thị nhau, đố ai biết được!
Ông Tedros Adhanom, Tổng Giám đốc WHO, bị nhiều chỉ trích, chê bai vì cách quản lý, điều hành kém cỏi trong vụ đại dịch Corinavirus, là điều hiển nhiên. Ông ta và WHO đã quá lệ thuộc vào Trung cộng nên bị dư luận nguyền rủa. Nhưng thay vì phản biện một cách khoa học thì nhiều người Việt không ngừng ngại mắng mỏ *“thằng mọi này” hay “thằng mọi kia” bao giờ từ chức? Cứ như thể là da màu, nhất là da đen thì không thể nào nắm giữ những chức vụ quan trọng.
Cụ Phan Châu Trinh từng viết: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy”.
Thật vậy, cực đoan bài ngoại và ỷ ngoại. “Bài” tất cả những gì mà ta cho rằng yếu kém, hạ đẳng, rừng rú, man di, mọi rợ. “Ỷ” lại những gì ta cho là siêu việt, thượng đẳng và tiến bộ. Hai đặc tính ấy đã trở thành một phần máu mủ tạo nên cá tính con người mình. Khi đã ở hai thái cực của sự cực đoan thì hệ quả tiếp theo là tính tự tôn và tự ti.
Chỉ có thế mới khiến người Việt luôn ở trong trạng thái sợ bị so sánh, nhòm ngó và bằng mọi giá phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng mình còn “hơn cả khối người” trong thiên hạ. Cái tâm lý thà bị “da trắng” đè đầu, cưỡi cổ còn hơn bị “da màu” vượt mặt khiến người Việt trở nên kỳ thị các sắc dân khác hơn bao giờ hết.
Đó chắc chắn là tâm lý tự ti của không ít người Việt “bỗng dưng” bị một anh “da đen” lại còn *“Hồi giáo” (theo các thuyết âm mưu) làm Tổng thống Hoa Kỳ, cả hai nhiệm kỳ. Đối với họ, đó là một sự “xúc phạm” không thể nào chấp nhận.
Khổ nổi, nhiều người Việt, xem như thể họ có quyền kỳ thị và phân biệt chủng tộc với thế giới còn lại. Họ cho rằng đó là điều hiển nhiên, đó là qui luật tự nhiên. Họ không chịu hiểu rằng nhân loại đã phải tranh đấu nhiều vì công bằng và công lý cho mọi sắc tộc.
Từ Rosa Parks đến Martin Luther King hay Tommie Smith và John Carlos đến Nelson Mandela, nước Mỹ và thế giới tiến bộ đã biết sửa đổi những sai lầm. Họ trung thực và can đảm chấp nhận những lầm lỗi. Người Việt dường như vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hiểm và mức độ tàn bạo của sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại. Họ vẫn vô tình hay cố tình cổ suý cho chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dẫu suy cho cùng dân tộc Việt vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, vẫn chưa có đóng góp quan trọng nào cho nhân loại cả!
Sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc vẫn là một đề tài nhạy cảm. Khó có thể ngăn cấm hoàn toàn những suy nghĩ thầm kín của con người, nhất khi nó thuộc về bản năng. Ngày nay, những làn sóng bài ngoại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hô hào tính thượng đẳng của người da trắng đang dần dần trỗi dậy tại các quốc gia phương Tây. Tuy chỉ là thiểu số nhưng đó là những tín hiệu nguy hiểm cho sự rạn nứt, có thể xảy ra, của những xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc.
Chỉ có sự giáo dục nghiêm túc từ nhà trường đến gia đình mới giúp cho các thế hệ trẻ đồng cảm với những nỗi thống khổ của các sắc dân khác, từ đó xây dựng một xã hội nhân bản nơi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc phải bị tẩy chay là lên án. Đó chính là sự quan tâm tâm và mục tiêu hàng đầu của các chính phủ để tránh lập lại những sai lầm tai hại trong quá khứ.
Tiếc thay, dường như đó chưa bao giờ là ý tưởng và mục tiêu giáo dục chung của người Việt.
Và không biết đến bao giờ cái văn hoá khinh thường, miệt thị và phân biệt chủng tộc nơi người Việt mới thực sự bị xoá bỏ và lên án.
Bởi vì, chỉ khi ấy, dân tộc Việt mới thực sự hội nhập vào thế giới văn minh và nhân bản!
***
– Kỳ thị da màu….
– Ảnh trên từ trái: Tổng thống Ford và Nixon; ảnh dưới: Bush (con) và Carter đều gác chân lên bàn.
– – Một stt kỳ thị của một Facebooker người Việt với ông Obama gác chân lên bàn khi làm việc…
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẶC BIỆT, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẶC BIỆT, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Trong quyển sách mới Thức Tỉnh Hôm Nay (Waking Up to This Day), bà Paula D’Arcy đã chia sẻ câu chuyện sau: Bà quen một người đàn bà, bà này mất người con trai trong một tai nạn. Vài năm sau, có người nói chuyện với bà, chia sẻ nỗi buồn khi bà không được nhìn đứa con khôn lớn, lập gia đình, không có cháu để ẵm. Bà trả lời: “Tôi không nghĩ giới hạn ngang đó. Câu trả lời là tôi không biết. Tôi không biết cuộc sống con tôi sẽ như thế nào. Giờ đây, tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng, và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó. Tôi chẳng làm được gì trong việc này. Nhưng tôi đã dự phần trong một thời điểm của hành trình tâm hồn nó. Vì vậy, tôi biết ơn đến không nói nên lời.”
Câu chuyện này nhắc tôi nhớ một câu chuyện khác của một bà đã chia sẻ gần đây trong một cuộc tĩnh tâm. Mẹ của bà là một phụ nữ thăng bằng vững vàng và có lòng tin ngoại hạng. Câu tâm niệm bà sống cho chính bà trước, rồi sau này bà lặp đi lặp lại mãi cho các con là: chúng ta chỉ hạnh phúc khi chúng ta biết ơn về những gì chúng ta có, vì, và duy nhất chỉ vì vậy, đó là những gì đủ cho chúng ta. Lời dạy mãi mãi của bà là: Như vậy là đủ!
Và bà sống điều này trọn vẹn cho đến giờ cuối đời: Bà nhập viện vì một căn bệnh chưa có thuốc trị, nhiễm trùng máu và rất ít hy vọng cứu chữa. Khi sức khỏe bà ngày càng sa sút, gia đình túc trực bên giường bệnh của bà trong vòng mấy tuần. Cuối cùng, bà đưa ra quyết định: Bà gọi cả nhà lại và bảo rằng, tất cả đã ở đây với bà và bỏ bê gia đình lâu quá rồi, bà cho biết đã liên hệ với khoa chăm sóc chờ chết trong bệnh viện và yêu cầu được chuyển đến đó, bà sẽ có thể chết trong ngày hôm đó.
Bà được chuyển đến khoa chăm sóc này, y tá báo cho cả nhà biết sẽ tiêm cho bà một liều thuốc mạnh để bà chìm sâu vào giấc ngủ và có thể bà sẽ không bao giờ tỉnh lại. Lúc chuẩn bị chích, con gái bà, người kể câu chuyện này, ngồi cạnh giường bà, cầm tay bà, ôm chặt bà như đứa trẻ và nói: “Mẹ ơi, một lúc nữa thôi! Chỉ một lúc nữa thôi! Đừng ngay bây giờ! Ở lại với chúng con một chút nữa thôi!” Nhưng bà, với nghị lực lâu nay của bà, bà nói: “Đủ rồi, vậy là đủ rồi.” Đó là những lời cuối cùng của bà với cô con gái và với cả gia đình.
Đó là các câu chuyện kiên quyết về những người đàn bà nghị lực, với đủ khôn ngoan và lòng tin để loại bớt các tình cảm ủy mị sai lầm dễ làm cho chúng ta tê liệt khi đứng trước mất mát. Cả hai đều biết sẽ có lúc ra đi và cách thức ra đi đã không làm giảm đi, nhưng lại tăng thêm tình yêu. Cả hai đều biết sự thật sâu xa của phục sinh: rằng đức tin không đòi hỏi chúng ta ướp xác chết, nhưng phó thác nó cho trần gian và cho Thiên Chúa, đấng ban sự sống và sự sống lại. Cả hai đều biết bí mật sâu xa nhất của cuộc sống không bị tê liệt vì cái chết, nhưng để nó ra đi, chuyển tiến và thấm sâu hơn. Và cả hai đều tôn trọng thích đáng các nhịp điệu sâu lắng của cuộc sống.
Tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó. Điều này không thuộc về tôi… Tôi biết ơn đến không nói nên lời vì được dự phần vào bí nhiệm đó. Như những phụ nữ này, chúng ta sẽ tôn trọng người khác vô cùng nếu chúng ta biết chấp nhận hiện thực đó. Tình cảm sai lầm thường kéo chúng ta theo các hướng khác. Chúng ta khóc rất nhiều, vì chúng ta muốn cuộc đời người khác hướng về chúng ta. Tôi có thể là cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, anh chị em, thầy dạy, bảo hộ hay người bảo vệ của ai đó, nhưng xét đến cùng, linh hồn người đó có sự riêng tư, tự do, ác tính và số mệnh cho riêng họ mà thôi. Những người khác không vì tôi mà sống. Hầu hết các giọt nước mắt chúng ta khóc là khóc cho mình, không phải cho người khác.
Đủ rồi! Đây là những từ quan trọng mình phải có cho hành trang của mình. Với Thomas Merton, nhận thức (“Đủ rồi!”) tạo nên phần bí mật khó lường của hạnh phúc. Sau đây là những gì ông mô tả về cách thức tìm kiếm bình an trong cuộc đời của ông. Trong nhật ký hàng ngày, có một hôm ông chia sẻ ngày hôm đó, ông đã tìm thấy bình an. Tại sao? Vì hôm nay đã đủ, sống như một người bình thường, với đói khát và ngủ nghỉ, lạnh lẽo và ấm áp, thức dậy và đi ngủ. Đắp chăn rồi tung chăn, pha cà-phê rồi uống. Xả đá tủ lạnh, đọc sách, suy ngẫm, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như những tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất này cho đến giờ cuối của tôi. Amen. Không cần phải làm một khẳng định về cuộc sống của tôi, đặc biệt về những cái gì của tôi, dù chắc chắn nó không phải của ai khác. Tôi phải tập quên dần dần các lập trình và tính toán. Vào một ngày đó trong cuộc đời, ông có thể nói: “Đủ rồi!” Và nó là vậy.
Và chỉ duy nhất sự thừa nhận này mới có thể cắt bớt khối u bất mãn của chúng ta.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Langthangchieutim
Bùi Giáng, Đại Lão Cái Bang
Vương Trùng Dương
Lời Tác Giả: Bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) của tuần báo Tình Thương của nhà văn Lâm Tường Dũ (hiền thê của anh, bà con với Bùi Giáng) gợi ý tôi viết bài nầy để có món quà kỷ niệm người anh vào tuổi thất thập. Nhờ tài liệu của anh Bùi Như Hải lưu trữ hỗ trợ cho bài viết.
Sau khi Bùi Giáng qua đời (tháng 10 năm 1998) có nhiều bài viết cũng tựa đề nầy vì hình ảnh và cuộc sống cá biệt của ông tựa như nhân vật trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung trong Võ Lâm Ngũ Bá đến Anh Hùng Xạ Điêu… Bang chủ Cái Bang đời thứ 18 xuất hiện trong chốn võ lâm. “Lão ăn mày” ăn mặc rách rưới, võ công thâm hậu, thích rượu, lúc say, lúc tỉnh, khi tĩnh lặng, khi ồn ào náo nhiệt giữa đám quần hùng. Con người như vậy nhưng hành hiệp đạo nghĩa, bệnh vực kẻ yếu, trừ ác gian tà.
Ở Sài Gòn, khi chính quyền ban hành “Sắc Luật 007” để kiểm soát báo chí, Hội Chủ Báo, Hội Ký Giả Việt Nam, Hội Ký Giả Nam Việt và Hội Ái Hữu Ký Giả xuống đường ngày 10/10/1974 “Ký Giả Đi Ăn Mày” tại Sài Gòn. Lợi dụng thời cơ, phần từ năm vùng, phản kháng, a dua bị gậy phản đối chính quyền. Từ đó, hình ảnh “cái bang” trở thành quen thuộc.
Nay, với tuyển tập về Quảng Nam, dù 25 năm trôi qua (1996-2021) nhưng với nhân vật Quảng Nam nổi tiếng trong nhiều lãnh vực thơ văn, dịch giả và triết học: Bùi Giáng. Con người bất hạnh trong cuộc sống nhưng sáng tác của ông là gia tài quý báu trong dòng sinh mệnh văn học của miền Nam Việt Nam
— VTrD
“Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi còn giữ mãi hay không
Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng”
(Bùi Giáng)

Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)…
Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yêu cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng.
Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.
Ngược Dòng Thời Gian
Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tý. Ông Cửu Tý thỉnh thoảng bị bệnh “điên” và khi “điên” thì làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui. Ông Cửu Tý lấy người vợ kế Huỳnh Thị Kiền, sinh ra Bùi Giáng. Theo thứ tự trong gia đình, ông thứ sáu nên gọi là Sáu Giáng. Nhà thờ Tộc Bùi với gia phả ghi lại nơi đây và sau này có thêm ở Sài Gòn.
Năm 1933 bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý. Năm 1936 học ở trường làng Bảo An với thầy Lê Trí Viễn. Tiếp tục theo học tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó chuyển sang học trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành Chung (Văn bằng này thời đó gọi là Cao Đẳng Tiểu Học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet Primaires, người Việt thường gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme). Trong năm này, ông 19 tuổi, cưới vợ là bà Phạm Thị Ninh, gọi là Vãn Ninh, rất xinh, con ông bà Phán Trai ở Hội An.
Thời điểm nầy, tình hình biến động, ông đưa vợ về quê sinh sống, nhưng tai họa ập đến, vợ qua đời! Ông đau khổ, chán chường rời cố hương. Thiên tình sử của ông rất đặc biệt. Khi còn học ở trường Viên Minh, Hội An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học sau ông một lớp, nổi tiếng xinh đẹp, quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An. Năm 1945 gia đình bà Phạm Thị Ninh tản cư lên Trung Phước, ông đem vợ lên rồi mua một đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.
Theo nhà thơ Tường Linh, học trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một buổi sáng, trời mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một gốc cây, ngã xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông rất yêu thương, sau này ông thường gọi là “con mọi nhỏ”, bị bạo bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi hẳn việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi về phố thị rộn ràng.
Năm 1950 ông đỗ Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ Bình Trị Thiên) theo học đại học nhưng khi nghe Viện Trưởng đại học đọc diễn văn, ông bỏ ý định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương. Tháng 5 năm 1952, ông ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương cho hợp lệ.
Theo lời người bào đệ, cùng cha khác mẹ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic, Huntington Beach, California, Bùi Giáng “Có vợ vào lúc còn rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh”. Ông chung tình chung nghĩa với “mộng ban đầu”, suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi “hồn nguyên tiêu” bao nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào cõi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.
“Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc Gia. Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài Gòn, ghi danh vào đại học Văn Khoa. Cả lần này nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đã quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường trung học tư thục…” (Bùi Vịnh).
Với dòng tộc Bùi lúc đó nổi danh với bác sĩ Bùi Kiến Tín, trưởng nam của ông Bùi Biên (ông Cửu Thứ) và bà Phan Thị Yến. BS Tín tham gia vào nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ Trưởng Bộ Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập, ông không tham chính và phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung Tá, sau đó giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng Thống và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (1960). Bùi Giáng đã tham gia trong thời kỳ Việt Minh nhưng có lẽ “cái bóng” của người anh bà con nên chính quyền không theo dõi ông nhưng ông nhờ vả gì vào “cái bóng” để lập thân.
Ông có năng khiếu về ngoại ngữ, tinh tường về Anh, Ðức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học tiếng Ðức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết học Ðức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.
GS Vũ Ký, thầy dạy của ông, trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc” trong Giai phẩm Quảng Ðà 94 “Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Bùi Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Bùi Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa”.
“Với Tất Cả Bùi Giáng” của Trần Phong Giao, Bùi Giáng “Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông”.
Ðó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của “người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác thời điểm quan trọng trong giai đoạn trong 9 năm “kháng chiến” đã ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng chiến”, theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn…
Sau 3 năm “chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ “Nỗi Lòng Tô Vũ” của ông đã ghi “Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.
Không bao giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn”. Và hai câu thơ của ông: “Người điên mang một nỗi buồn. Chưa bao giờ biết cội nguồn từ đâu” để trả lời với tha nhân. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn Học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt trong văn giới. Từ tuổi thơ đến thời điểm “tam thập nhi lập” (1926-1956) trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nỗi đau tột cùng trong tình yêu. Vì vậy, trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông.
Tháng 5,1973, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “Số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng”, 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lạ và cả hai cùng hỏi và nói “Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ… Với ông, sáng tác chẳng có liên quan gì với tiểu sử, trong thơ đã chứa đựng đoạn đường trải qua.
Có nhiều tác phẩm đã đề cập đến ông, điển hình như Cao Thế Dung với Văn Học Hiện Ðại: Thi Ca & Thi Nhân; Năm Sắc Diện, Năm Ðịnh Mệnh của Du Tử Lê; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ; Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại của Trần Tuấn Kiệt…
Sau tháng Tư năm 1975, cái bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi giai thoại nói lên cái điên, cái tỉnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám… và một Bùi Giáng cuồng sĩ bất khuất.
Tác Phẩm
Gần hai thập niên ở Sài Gòn, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:
- Sách Giáo Khoa, Luận Đề:
- Bà Huyện Thanh Quan, 1956
- Lục Vân Tiên, 1956
- Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, 1956
- Truyện Kiều & Truyện Phan Trần, 1957
- Cung Oán Ngâm khúc, 1957
- Nguyễn Công Trứ, 1957
- Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958
- Phan Bội Châu, 1958
- Chu Mạnh Trinh, 1958
- Tôn Thọ Tường & Phan Văn Trị, 1958…
- Sách Dịch:
- Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966
- Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966
- Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966
- Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966
- Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974
- Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967
- Ngộ Nhận của A. Camus,1967
- Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968
- Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968
- Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968
- Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969
- Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969
- Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969
- Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973
- Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…
Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung
- Sáng Tác:
- Thơ: Mưa Nguồn, 1962
- Ngàn Thu Rớt Hột, 1962
- Bài Ca Quần Ðảo, 1962
- Lá Hoa Cồn, 1963 – Màu Hoa Trên Ngàn, 1963
- Sa Mạc Trường Ca, 1969
- Rong Rêu, 1970
- Ðêm Ngóng Trăng, 1972…
- Biên Khảo, Tạp Văn, Tùy Bút:
- Tư Tưởng Hiện Ðại, 3 quyển, 1960 & 1962
- Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại, 2 quyển, 1963
- Sao Là Không Có Triết Học Heidegger, 1969
- Ði Vào Cõi Thơ, 1969
- Thi Ca Tư Tưởng, 1969
- Sa Mạc Phát Tiết, 1969
- Sương Bình Nguyên, 1969
- Trăng Châu Thổ, 1969
- Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969
- Thúy Vân, Tam Hợp Ðạo Cô, 1969
- Mùa Thu trong Thi Ca, 1970
- Biển Ðông Xe Cát, 1970
- Ngày Tháng Ngao Du, 1971
- Ðường Ði Trong Rừng, 1972
- Lời Cố Quận, 1972
- Lễ Hội Tháng Ba, 1972
- Con Ðường Ngã Ba, 1973…
Năm 1965 nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông. Năm 1969 ông “bắt đầu điên rực rỡ” nhưng được các nhà xuất bản in nhiều tác phẩm nhất. Sau đó, ông “lang thang du hành Lục Tỉnh”, trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc… cho thỏa ý nguyện. Thầy Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, rất thân với Bùi Giáng và lo ấn hành tác phẩm. Nói đến Bùi Giáng, con người nhập tâm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Có lần ông dạy Việt Văn, khi đề cập đến Thúy Kiều bán mình chuộc cha, ông khóc nức nở. Ngay trong tác phẩm viết về triết học, ông cũng dẫn chứng tư tưởng đó có trong thơ Kiều. Và, trong các tác phẩm Âu Châu qua bản dịch của ông cũng thấp thoáng “hồn Nguyễn Du”. Với những tác phẩm được ấn hành, tuy có nhiều tiền tác quyền nhưng ông “thú vui kẻ sĩ” không lưu giữ, “nướng” cho thú vui trong lối sống giang hồ bạt mạng trên đường phố…
Năm 1970, Bùi Giáng phải đưa vào chữa trị ở nhà thương điên Biên Hòa. Khi vào bệnh viện ông đối đáp với bác sĩ nên không biết đâu là “trí óc rối loạn”. Và trong năm đó, ông đã cho in Biển Đông Xe Cát và Mùa Thu Trong Thi Ca. Kế tiếp với những tác phẩm cho đến năm 1973… (Theo người bạn thâm niên Bùi Như Hải thì dòng họ anh có vài người bị bất thường “điên” nhưng chỉ khoảng thời gian nào đó thôi, và thường tái phát vào mùa hè, trời nóng bức).
Sau biến cố tang thương năm 1975, Bùi Giáng điên nặng. Cái điên vì thời cuộc của ông “hành khất Cái Bang” được ghi lại với nhiều giai thoại. Vừa điên vừa khôn trong “bức tranh vân cẩu” vừa thương ông vừa nể phục. Từ đó, Bùi Giáng sống lang thang bên lề xã hội!.
Người điên Bùi Giáng cũng bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Ðịnh. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mày tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn “cặn bả” của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Ðài “Cuộc sống của anh tại Sài Gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu mình trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định trong cơn điên… Ði lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được”. Thế nhưng “Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca – của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ”.
Hình ảnh ông già tuy mới năm mươi lúc đó, mặc quái dị, đủ màu sắc, đeo đủ thứ, tóc tai dài phủ ót, rối bù, mang kính cận thị nặng, cầm một cái gậy múa may quay cuồng trên đường…
Nơi nào ông xuất hiện, đám đông vây quanh, nhất là trẻ con bu quanh “diễn viên Cái Bang” náo nhiệt. Ông xuất thần với những câu thơ, được truyền tụng lại, thật hư không biết nhưng cái điên của ông mới bạo gan chửi chế độ như vậy. Từ đó “Cái Bang 9 túi” lang bạt suốt hai thập niên. Bất kể mưa nắng, màn trời chiếu đất, thân xác gầy còm… thế mà sống thọ qua tuổi thất thập.
“Có hôm gặp ông ngoài đường. Ông mặc quân phục chế độ cũ, lon lá huy chương đầy mình. Mọi người sợ hết hồn, vì thời gian ấy các sĩ quan chế độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo kẻ nào trốn cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân” (Nguyễn Thụy Long – Giữa Đêm Trường).
Ông cũng tự giải thích:
“Tôi điên là bởi tôi điên
Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau
Tôi điên từ trước đến sau…”
(Bùi Giáng, “Thơ Bùi Giáng, hải ngoại 1990”)
Sống chết với ông như lời tự nguyện:
“Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều khe nương”
(Sa Mạc Trường Ca, 1969)
Tại hải ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:
- Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.
- Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 1994, Phạm Xuân Ðài thực hiện, gồm 106 bài thơ.
- Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh bìa “Thiếu Nữ” do Bùi Giáng vẽ.
Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng đã cống hiến cho đời, cho nền Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy gò, bệnh tật, tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà tạo dựng “kho tàng quý báu” cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không thể hiểu được.
Ngôn Ngữ & Cuộc Sống
Gần gũi, tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến, cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.
Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương… Sự hình thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó… Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận”.
Thế mà, chân dung, đời sống của nhà thơ “Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế… Ông ấy chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy… Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói”. Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang…
“Trần gian lắm kẻ không cơm áo
Mà con thờ thẩn cứ nhìn trăng.”
Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” (Uyên Thao – Thơ Việt Hiện Ðại).
Nhà giáo Vũ Ký, vị thầy của bộ ba Bùi Giáng, Tạ Ký, Nguyễn Thùy từ lúc ở cố hương đến khi cùng làm thấy giáo tại Sài Gòn, viết nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên khùng, lang bạt… một Bùi Giáng với tình yêu ảo tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lãng mạn với bóng hồng ở tuổi 60. Không hiểu vì cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô, một cô là ÐNLH (giáo viên trung học, người Huế) và một cô là HHTV, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. (Bùi Giáng, Tạ Ký và Nguyễn Thùy gặp nhau thì “Quảng Nam hay cãi” tuy bất đồng nhưng không bất hòa, rất chân tình, quý mên nhau). Thế rồi cô LH “Lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc tình tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên”. Ðó cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng hình ảnh Ðại Lão Cái Bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi còn đôi mươi, tâm tình với nhau.
Bùi Giáng sống trong cảnh khốn cùng của tuổi già mà ông tự chọn vì không muốn liên lụy với người thân muốn lo cho ông. Khi tuổi già sức yếu ông đành tá túc tại nhà người anh em chú bác (Bùi Võ) tại Bình Thạnh, người thân lo chu đáo cho ông nhưng không thích bị gò bó trong nhà trước khi qua đời sau khi bị đột quỵ (stroke), sau những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng). Thế nhưng, hơn hai thập niên ở trong nước đã có vài bài viết về ông với hình ảnh con người điên loạn, con người phản kháng sống bên lề cuộc đời! Những tác phẩm của ông bị chôn vùi theo thời gian trong cuộc sống tuổi già nhưng thơ văn của ông với người Việt hải ngoại vẫn giữ thế đứng trong nền Văn Học của đất nước. Văn Chương, Nghệ Thuật của ông như một cõi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm bút theo giáo điều chủ trương “hiện thực xã hội”!
Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông bất thường, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật bình dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.
Trước kia, Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn phòng ở đại học Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp đâu ngủ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau này, thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Ðịnh, căn phòng nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài Gòn, ông để đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lý, vỉa hè.
Với ông, tư tưởng triết học của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Whitman, Emily Dickinson… Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeare… Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất linh động, tài tình. Cuộc đời của ông điên, tỉnh, ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du. Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ “mê hồn trận thị phi”. Bùi Giáng tôn thờ Nguyễn Du và M. Heidegger như “thánh nhân tư tưởng”. Tác phẩm Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại dày hơn một nghìn trang là một công trình biên khảo triết học từ năm 1963, còn xa lạ với bộ môn nầy ở miền Nam VN. Đôi lần tôi hỏi anh Trần Văn Nam, sau khi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết Học Tây Phương, vừa đi dạy, tiếp tục với luận án cao học về Hiện Tượng Luận từ quan niệm của Husserl được thay đổi bởi M. Heidegger, anh nói bộ môn nầy rất nhức đầu nhưng cũng từ tác phẩm của Bùi Giáng nên anh chọn đề tài cho luận án.
Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ, viết như đã nhập tâm từ trước.
Với năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. Vì vậy, khi tìm hiểu M. Heidegger, ông học tiếng Ðức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm được chuyển ngữ (không nguyên bản) thì không còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn thi phẩm Ngàn Thu Rớt Hột của ông nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “hình ảnh cứt dê” bao năm ông gần gũi với nó trên núi rừng. Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, hình ảnh bóng bẩy đó được, hay thi phẩm “Lá Hoa Cồn”, ẩn ngữ bí hiểm.
“Bây giờ đành chịu chia xa
Em vào hang núi tôi ra hố ngàn
Gửi linh hồn lại nhân gian
Ôi người Hải Ngoại ôi nàng Phương Tây”.
(Bây Giờ Còn Lại – Lá Hoa Cồn, 1963)
Có lần Huy Tưởng, nhà thơ Tam Kỳ, Quảng Nam, gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm “rớt hột”, nghe nói ông có chăn bò ở quê đúng không? – Đúng! Đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.
Nguồn thơ của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương, ở núi rừng Trung Việt. Ðiều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. “Người tình trong thơ” Kim Novak, Kim Cương. Ngài ra với vài hình bóng các cô Kim… thấp thoáng:
“Ôi phương cảo! Ôi Kim Liên
Cảo thơm Kim Thúy diện tiền Kim Hoa!
Ôi Kim Ngọc! Ôi Kim Nga
Chắc gì mai hậu mà ra phụ lòng”.
(Ra Hoa)
“Tuy nhiên hồn mộng chan hòa
Ðầu tiên Kim Thúy, Kim Hoa thập thành
Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh
Ði về vô tận tập thành Kim Liên
Kim Nga, Kim Ngọc diện tiền
Ðầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy”.
(Cuối Ngày Em Ði)
Ông lang thang với thời gian quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế gian đảo điên nhưng đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối tình đầu đời đã hoài công tìm lại:
“Chắp tay tôi lạy ông trời
Tìm người yêu giúp giùm tôi một lần”
(Tìm Em)
Khi làm kẻ chăn dê và hình ảnh nơi cố hương được mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:
“Ðồi tăm tắp chạy về ôm chân núi.
San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.
Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối.
Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Vang vang lên đồi núi giọng be be”.
(Nỗi Lòng Tô Vũ)
Và, trong khung cảnh đó, ông bày tỏ nỗi niềm cùng hình ảnh người yêu:
“Em nhớ hay không hồn hòa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ
Gió cây rung trút lá mộng tan lìa”
(Nỗi Lòng Tô Vũ)
Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Ðế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn dê gần hai thập niên. Vì vậy, nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.
Hình ảnh người vợ, người tình ban đầu, yêu thương say đắm, đã vĩnh viễn ra đi để lại cho ông nỗi thống khổ với tình, với thủy chung hình bóng cũ:
“Em chết bên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn…
… Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió…
… Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang”
(Bờ Lúa – Mưa Nguồn, 1962)
“Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng
Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”.
(Người Xưa – Mưa Nguồn)
Chỉ có Bùi Giáng và duy nhất chỉ có ông mới gọi những “bóng hồng” bằng mẹ. Hiện hữu hay ở phương trời xa xôi. Ông ngông đến thế, bỡn cột hay lòng thành kính, huyễn hoặc với ngôn ngữ thi ca, cũng là hiện tượng.
Phùng Khánh và Phùng Thăng là hai dịch giả nổi tiếng qua vài tác phẩm văn học, Phùng Khánh là ni sư giữa thập niên 60. Ông ngưỡng vọng hai dịch giả này:
“Mẹ còn nhớ nữa con chăng
Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên
… Phùng Thăng mẹ chớ xui nên
Từng cơn điên dại khôn đền cho con”…
“Con thương Phùng Khánh vô ngần
Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên”…
Có lúc Bùi Giáng gọi là mẫu thân Phùng Khánh, có lúc gọi là Trí Hải ni cô. Cùng lúc với Marilyn Monroe, Kim Novak, Kim Cương nương tử… nên ông yêu điên cuồng, nguyện làm đệ tử của thần ái tình.
Nhưng có khi ông coi mình như vị vua với người tình:
“Trẫm ghé thăm em
Một bận này
Mai sau Trẫm sẽ
Nhớ hôm nay
Một lần Trẫm ghé
Thăm em thế
Suốt một bình sinh
Trẫm nhớ hoài”…
(Trẫm Ghé Thăm – Lá Hoa Cồn)
“Trẫm nhớ em như
Nhớ một người
Rất gần mà cũng
Rất xa xôi”…
(Trẫm Nhớ Em – Lá Hoa Cồn)
Bất hạnh trong tình trường, ông rong ruổi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng trái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.
“Văn thơ cùng tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái ‘điên loạn, ngông khùng’ của Bùi Giáng, cũng sẽ được nhắc nhở hoài trong văn chương, văn học” (GS Vũ Ký). Phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng của ông, ông sáng tạo lúc tỉnh, ngao du lúc động để mãi mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối tượng khơi động, dòng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết tinh thành “thiên cổ lụy” ngất ngây, nồng nàn, say đắm hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân, ông phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tỉnh, khi điên… nhưng mọi người vẫn quý mến, thán phục tài năng của ông.
Với thi ca, nó nhập vào trái tim, tâm hồn, định mệnh ông khi điên, lúc tỉnh, khi hoan lạc, lúc khổ đau… Ý thơ, hồn thơ, chất thơ… của Bùi Giáng nếu đề cập không đơn giản qua bài viết, cũng vài trăm trang sách.
Một hình bóng, suốt cả cuộc đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát, ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù, áo quần tả tơi, kỳ quái trên đường phố… mà tự bản thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với “Ngày Tháng Ngao Du”…
Khi còn sống ở giai đoạn cuối đời, Bùi Giáng bị bỏ quên từ con người đến tác phẩm ở trong nước. Khi ông qua đời, nhiều người “làm văn tế ruồi” như Kim Cương với “nước mắt cá sấu” được báo chí tung hê. Tình đời là vậy! Bùi Giáng bỏ lại bao mối tình đơn phương cô độc để trở về với người vợ năm xưa nơi cố hương, vĩnh viễn bên nhau nơi cõi thiên thu.
Vương Trùng Dương
(1996 – viết thêm khi Bùi Giáng mất 1998)
Lần đầu tiên một cô gái Việt đạt danh hiệu ‘Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia’ Mỹ
Lần đầu tiên một cô gái Việt đạt danh hiệu ‘Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia’ Mỹ
May 21, 2021
Trà Nhiên & V.Giang/Người Việt
SACRAMENTO, California (NV) – “Danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia là cách mà em kể câu chuyện chính mình, rằng người Việt không hẳn chỉ là người tị nạn mà chúng ta còn luôn ‘vươn lên’ tại đất nước này. Câu chuyện của chúng ta cũng đáng được kể.”
“Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia” Alexandra Huỳnh ví Việt Ngữ như những áng thơ. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)
Đó là tâm sự của Alexandra Huỳnh, cô gái gốc Việt đầu tiên được trao tặng danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia (National Youth Poet Laureate) năm 2021, với phóng viên nhật báo Người Việt vào chiều Thứ Sáu, 21 Tháng Năm.
Tổ chức văn học nghệ thuật và phát triển Urban Word, vốn thành lập chương trình nhà thơ trẻ quốc gia vào năm 2017, cùng với trung tâm Kennedy Center loan báo việc cô Alexandra Huỳnh được chọn để trao danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia năm nay. Trong vai trò này, cô sẽ viếng thăm học sinh các trường trung học và sẽ có các buổi hội thơ trên khắp nước Mỹ. Cô Alexandra từng nói rằng một trong những điều cô muốn thực hiện được là phổ biến các kinh nghiệm của chính mình đến những người khác.
Cô Alexandra, 18 tuổi, là người Mỹ gốc Việt, thế hệ thứ nhì, sống tại thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California. Cô cũng là tân sinh viên của đại học Stanford University.
Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại dành cho phóng viên nhật báo Người Việt, cô Alexandra Huỳnh nói rằng đối với cô thơ cũng là một khí cụ để giúp đối phó với các thách đố của đời sống.
“Em tự hào vì em có thể đại diện người Việt trẻ nhận được vinh dự này ở ‘đấu trường’ văn thơ Hoa Kỳ,” cô Alexandra nói.
Cô cũng cho biết thêm: “Tiếng Việt tự nó đã là ngôn ngữ giàu chất thơ.”
“Trong văn hóa Việt Nam, em cảm thấy thể như chúng ta đàm đạo thơ trong đời sống hằng ngày,” cô chia sẻ.
Thể hiện cảm xúc qua những vần thơ là cách cô thi sĩ trẻ Alexandra Huỳnh bộc lộ bản thân. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)
Nhà thơ trẻ bộc bạch rằng, cô đã bắt đầu viết lời các bài hát từ khi 7 tuổi, và thực sự ưa thích làm thơ khi vào trung học, nhất là sau khi đã đọc thơ trước công chúng và cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa khi được trình bày.
Ông Aaron Brown, thầy giáo và là cố vấn hội nhà thơ ở trường trung học của cô Alexandra, cho biết một số bài thơ của cô đã làm ông xúc động.
“Thơ của Alexandra không ‘khuôn mẫu’ cũng chẳng ‘xa hoa,’ mà nó đậm khí chất khi được tác giả thể hiện với phong thái bình tĩnh và an nhiên,” ông Brown kể lại.
“Cô bé này có một khả năng độc đáo là chạm đến các ‘sợi dây’ cảm xúc của con người và kết nối chúng lại để tạo thành sự thấu hiểu lay động tâm can,” ông Keith Carmona, giáo viên dạy văn của Alexandra, cho biết.
Cô cũng tiết lộ rằng ông ngoại cô cũng là một nhà thơ.
“Cách nay hai năm, khi em thắng giải nhì trong cuộc thi thơ đầu tiên em tham gia ở trường Mira Loma High School, lúc đó mẹ kể rằng ông ngoại chính là thi sĩ Duy Năng,” cô cười nói.
Cô tự hào vì mình có thể ‘kế thừa’ tố chất thơ văn của ông ngoại, rằng “cứ như thể thơ đã chảy trong máu vậy,” Alexandra cho biết.
Thơ là cách cô tân sinh viên chuyển hóa cảm xúc của mình. Bao “hỉ, nộ, ái, ố” đều được cô bày tỏ qua những vần thơ.
“Làm thơ là cách em chấp nhận thực tại (reality) và cũng là cách thể hiện một thực tại khác (fantasy) cho bản thân,” cô Alexandra giải thích.
Cô Alexandra Huỳnh (phải) trong lần biểu diễn tại cuộc thi thơ “Sacramento Area Youth Speaks” năm 2019. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)
Cô được chọn trong bốn nhà thơ vào chung kết, đại diện cho bốn khu vực, để được trao danh hiệu vốn đã lần đầu tiên được trao cho nhà thơ Amanda Gorman. Gorman được cả thế giới biết đến hồi Tháng Giêng năm nay, sau khi đọc bài thơ của cô tại buổi tuyên thệ nhậm chức của Tổng Thống Joe Biden, và trở thành niềm khích lệ cho cô Alexandra.
Cô Alexandra nói sự kiện cô Gorman được đón nhận nhiệt thành đã thay đổi điều cô nghĩ về những gì một nhà thơ có thể đạt được, giúp cô có những ước mơ lớn hơn.
Cô tốt nghiệp trung học hồi năm ngoái và tạm nghỉ một năm trước khi vào trường đại học khóa mùa Thu tới đây.
Cô Alexandra dự định theo học ngành kỹ sư để học thêm về “sustainability,” hướng đến môi trường xanh, sạch, và tiết kiệm tối đa các tài nguyên.
Những lúc “xa rời” thơ văn thì cô Alexandra thích nướng bánh và làm thiện nguyện. Cô là thành viên của The Farmlink Project, một tổ chức bất vụ lợi cung cấp thực phẩm cho người nghèo từ các nông trại.
Cô cũng đam mê làm thí nghiệm khoa học và hiện là nghiên cứu viên của trường đại học UC Davis.
Thêm vào đó, Alexandra nêu tên Ocean Vương và Diana Khôi Nguyễn là hai nhà thơ trong số những người cô ngưỡng mộ, và cũng bày tỏ hy vọng là sẽ có tác phẩm để được ấn hành và rồi chuyển dịch sang Việt Ngữ, “ngôn ngữ mẹ đẻ” của cô. [qd]
—–
Liên lạc tác giả: nguyen.nhien@nguoi-viet.com











