httpv://www.youtube.com/watch?v=YxwcQKTk6gQ

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=YxwcQKTk6gQ
Xin mời nghe tâm tình: Công Cha Nghĩa Mẹ
“Ai trong thế gian đếm được tình cha đong đầy
Ai nhìn núi đồi mà nhận biết công sức của mẹ”
Kính,
Phạm Trung
httpv://www.youtube.com/watch?v=zxPf3v8gJmA
KARAOKE: Công Cha Nghĩa Mẹ – Thảo Ngọc/Phạm Trung (Song & Lyrics)





Người Việt tài năng.
Đây là đại Tá Không Quân, Tiến sĩ về Khoa học Không gian Nguyễn Xuân Vinh, ông cũng là nhà văn với bút danh Toàn Phong.
Ông là Tư lệnh của Quân chủng Không quân Việt Nam Cộng Hòa (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Ông là người đầu tiên được cấp bằng Tiến sĩ về Khoa học Không gian tại Đại học Colorado Hoa Kỳ.
Ở cái thời mà đại đa số người dân Việt còn đi xe đạp, thì bằng các lý thuyết toán học, những nghiên cứu của GS. Vinh, đã vạch đường bay cho phi thuyền Apollo lên mặt trăng. Và bằng nghiên cứu của ông, NASA thu hồi phi thuyền về trái đất thành công.
Vinh lại còn là một nhà văn có tài thực sự , quyển sách “Đời Phi Công” ông viết dưới bút hiệu Toàn Phong đã được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.
Năm nay ông 91 tuổi và định cư ở Mỹ.
TỪ VÔ THẦN TRỞ LẠI ĐẠO CÔNG GIÁO: JOHN VON NEUMANN, CHA ĐẺ CỦA NGÀNH KHOA HỌC MÁY TÍNH
Nếu bạn học các ngành công nghệ thông tin, khoa học máy tính, toán học, kinh tế, cơ khí, kỹ thuật nhiệt, vật lý lượng tử…chắc sẽ không xa lạ gì với cái tên John von Neumann, một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất mọi thời đại, ông được những nhà khoa học đương thời xem là thông minh hơn cả Albert Einstein. Ở VN, ĐHQG TP.HCM đã thành lập Trung tâm nghiên cứu John Von Neumann (thuộc quản lý của trường ĐHKHTN) để vinh danh ông.
John von Neumann (1903-1957), người gốc Do Thái sinh ở Hungary và di cư đến Hoa Kỳ năm 1933, ông được xem là người khổng lồ tri thức trong thế kỷ 20. Ông thông thạo nhiều lĩnh vực và đã đóng góp to lớn vào vật lý lượng tử, giải tích hàm, lý thuyết tập hợp, kinh tế, khoa học máy tính, giải tích số, động lực học chất lưu, thống kê và nhiều lĩnh vực toán học khác.
John von Neumann cũng là nhà tiên phong của máy tính kỹ thuật số hiện đại và áp dụng của lý thuyết toán tử vào cơ học lượng tử (đại số Von Neumann), người sáng lập ra lý thuyết trò chơi có tác động to lớn đến lý thuyết kinh tế học và mô hình cellular automata trong cấu trúc dữ liệu. Von Neumann cũng khám phá ra những bước quan trọng trong vật lý hạt nhân liên quan đến phản ứng nhiệt hạch.
Von Neumann cũng đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của máy tính kỹ thuật số. (Ngày nay, hầu hết các máy tính lập trình hiện đại đều dựa trên “kiến trúc von Neumann”.)
Ông cũng có những đóng góp quan trọng về lý thuyết tập hợp và logic, cấu trúc rẽ nhánh trong toán học. Nhiều bước phát triển vĩ đại của thế kỷ 20 mang đậm dấu ấn thiên tài của ông.
Tốc độ suy nghĩ và trí tuệ của von Neumann được xem là huyền thoại và là chủ đề của rất nhiều giai thoại về ông. Một số nhà toán học và vật lý học vĩ đại biết rõ về ông (bao gồm cả Hans Bethe, Edward Teller và Eugene Wigner) đã nói trong sự kinh ngạc về trí tuệ siêu phàm, suy nghĩ nhanh nhạy và sắc bén nhất của John von Neumann còn hơn cả Albert Einstein.
Nhà khoa học Eugene Wigner, từng đoạt giải Nobel Vật lý, phát biểu rằng :
“Tôi đã được biết đến rất nhiều người thông minh tuyệt vời trong đời mình. Tôi biết Planck, von Laue và Heisenberg. Paul Dirac là một người anh trong ngành luật; Leo Szilard và Edward Teller là hai trong số những người bạn thân nhất của tôi; và Albert Einstein là một người bạn tốt. Nhưng không ai trong số họ có trí tuệ nhanh nhạy và sắc bén như Jansci [John] von Neumann. Tôi thường đưa ra nhận xét này khi có sự hiện diện giữa những người đó và không ai tranh luận điều này với tôi.”
Von Neumann sinh ra là người Do Thái, ông chấp nhận theo đạo Công giáo vào năm 1930 chỉ để cưới vợ, mặc dù ông không thực hành đức tin và một số đồng nghiệp nghĩ ông là người không tin Chúa. Do đó, họ thật sự ngạc nhiên khi Von Neumann, khi đang nằm trên giường bệnh, đã tìm đến linh mục dòng Benedicto là cha Anselm Strittmatter, người mà ông đã xưng tội và lãnh nhận các bí tích cuối cùng trong Giáo hội Công giáo.
Mặt khác, việc ông có đức tin được thể hiện qua việc ông từng tâm sự với mẹ mình :“Có lẽ phải có Chúa hiện hữu. Vì nhiều vấn đề (trong khoa học) dễ dàng lý giải hơn nếu có Chúa hơn là không có.”
Và chắc chắn điều quan trọng là khi phải đối diện với sự chết thì ông đã trông cậy vào lòng thương xót của Chúa, đã hướng niềm tin về đạo Công Giáo và đón nhận các bí tích của Giáo hội.

Bao dung cho người khác để cuộc sống nhẹ nhàng an lạc
Sống trên đời này, xin bạn hãy dùng tấm lòng bao dung, sự tha thứ của mình đối với mọi người xung quanh, nhất là kẻ thù của mình. Đôi khi, hãy thầm cảm ơn kẻ thù của bạn vì chính người đó cho biết đâu là giá trị đích thực, cái gì tốt đẹp và cần phải trân trọng nó.
Có 3 kiểu người nên tha thứ nhất trong cuộc đời mỗi người. Làm được như vậy, nhân sinh mới hết khổ đau, sầu não, tâm can mỗi người mới thực sự thanh thản để tạo ra phước nghiệp, lưu đời con cháu.
Thứ nhất, bản thân mỗi người
Chúng ta khó tìm ra người nào sinh ra trong đời lại hoàn hảo, không có khuyết điểm hay sai lầm nào. Cũng chẳng thể tìm được con người chỉ có thành công mà không trải qua thất bại, chỉ vui tươi cả ngày mà không có phút giây sầu muộn. Đời là bể khổ thật đấy, nhưng chính cái suy nghĩ tiêu cực, bi quan khiến nỗi khổ của mỗi người thêm nặng nề chồng chất. Vậy hà cớ chi cứ phải lưu giữ những sai lầm của bản thân mà không học cách khoan dung, tha thứ. Tha thứ cũng là cách đơn giản để buông bỏ mọi phiền muộn, để tâm được thanh tịnh, làm nhiều điều hay lẽ phải, tích phúc tích tức cho bản thân và cả những người xung quanh.
Thứ hai, kẻ thù của mỗi người
Dù bạn tài năng kiệt xuất, hay chỉ an phận thủ thường cũng khó thoát khỏi ánh mắt soi mói, đố kị của người xung quanh, nói nặng hơn chính là kẻ thù. Bởi khi người ta đã sinh lòng đố kị, dù là chuyện nhỏ nhặt cũng tìm mọi cách để soi xét, bới lông tìm vết. Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, bạn không muốn gây hấn, tạo hiềm khích nhưng người ta lại thích gây chuyện thị phi, vùi dập, thậm chí là vu cáo, hãm hại bạn. Lúc này, nếu bản thân bạn hẹp hòi, tìm cách “trả đùa” kẻ thù thì cũng chẳng khác chúng là bao, thậm chí còn phải lao tâm khổ tứ, tâm tưởng bất an, chẳng thể vui sống và cảm nhận những điều tốt đẹp. Vậy nên, sống trên đời này, xin bạn hãy dùng tấm lòng bao dung, sự tha thứ của mình đối với mọi người xung quanh, nhất là kẻ thù của mình. Đôi khi, hãy thầm cảm ơn kẻ thù của bạn vì chính người đó cho biết đâu là giá trị đích thực, cái gì tốt đẹp và cần phải trân trọng nó.
Thứ ba, bạn bè của mỗi người
Bạn thân thiết đôi khi cũng gây ra không ít tổn thương cho nhau, bởi đã là người ai cũng có hai mặt thiện và ác cùng song hành tồn tại. Dù đó là sự tổn thương vô tình hay hữu ý đi nữa, đều khiến tinh thần bạn bị tổn thương. Trong lúc đau khổ, tuyệt vọng, chúng ta lại chẳng thể suy nghĩ thông suốt được, rồi chìm đắm trong những điều bi quan, tiêu cực. Cho nên, bạn cần học cách tha thứ cho bạn bè của mình. Thay vì nghĩ tới tổn thương nhất thời, bạn có thể hoài niệm về mối quan hệ tốt đẹp, những gì họ từng giúp đỡ và mang lại niềm vui cho bạn.
Hoa Tâm
From: TU-PHUNG
TRUYỆN NGẮN TIỂU TỬ…
Mùa Thu Cuộc Tình
Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị : một trái cà tô-mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị ! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị ! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh-kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy.
Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết ” làm ” một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…
Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là ” đi chợ Tàu ” chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương : những khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen !), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ…
Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. “Chắc lá đã rụng đầy”, ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur.
Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa ! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa ! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu…
Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết : “Anh thừơng nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai ? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo-nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh ! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trứơc mắt để hứơng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hứơng về đâu hả em ? Anh bỗng ứa nứơc mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả ?” Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật ngừơi, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…
Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nứơc mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những ngừơi giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình.
Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than : “Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy !”. Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay ngừơi lại để nhìn sâu vào mắt : “Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa ? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao ?”. Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến “cái ngày không còn có nhau” đó.
Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác ! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, Nhà Nước đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng “văn phạm Nhà Nước”.
Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến ! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được nhập cảnh gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt…
Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu ! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa ! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…
Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một ! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ ?
Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ-rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy !
“Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc ! Vậy rồi thôi ! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết !”. Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số ! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ “Thôi ! Đừng nghĩ tới nữa” Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…
Khi đi qua trước phòng gác-dang, có tiếng gọi :
– Ông Georges ! Ông Georges !
Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác-dang bước ra trao cho ông một điện tín, nói :
– Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.
Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa : “Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai”. Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe : “Đúng rồi ! Bả được xuất cảnh rồi !”.
Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng :
– Có sao không ? Có chuyện gì không ? Ông Georges ?
Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh :
– Cám ơn bà ! Cám ơn bà nhiều ! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng ! Quá tốt bụng ! Cám ơn ! Cám ơn !
Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh ! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng “Nhưng mà… Nhưng mà…” trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang. Nữa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói vói xuống :
– Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi ! Cám ơn ! Cám ơn nhiều !
Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hưu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi !
Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi ! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà ! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu “Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai” Đọc là hiểu ngay ! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa ! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong. Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy ! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi ! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng.
Tội nghiệp ! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức ! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là “thằng Năm trúng số độc đắc” hoặc “đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy”. Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương…
Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá !
Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mười năm… lâu lắm chớ ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá ! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không ! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra.
Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp-phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó ! Coi vậy mà cũng nặng ớn ! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À ! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó “sáng” ra mới được.
Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À ! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy ! Mà thiệt ! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì ! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn “nét” lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi ? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt ! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…
…Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói ! Tuy vậy, cũng phải “bỏ bụng” một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô-mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho “lấy có” và ăn cũng cho “lấy có”. Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu “hai đứa gặp nhau” (Tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng !),ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi “hai đứa hẹn hò” (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không ?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó. Chao ôi ! Đẹp quá ! Dễ thương quá ! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…
-oOo-
Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi.
Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột.
Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh:
– Georges ! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nỗi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ !
Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu.
Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật ! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa :
– Ông chờ đón bạn à ?
Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời :
– Không ! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.
Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết ! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…
Lại nghĩ đến bà Năm. Bả điệu” lắm ! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà ! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó dàng trời ! Người ta nói bả có “gout”. Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái “gout” để vào đâu cho nó nổi !
Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu “Gái không con mà nom cũng mòn con mắt”, nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn !
Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục “điệu” như thường ! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có “tác phong cách mạng” thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng “Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi”, bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn : “Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được”…
Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngã văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài ! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France.
Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ : “Ông Năm !” Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi : “Ông Năm…”
Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt : khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi ! Là vợ tôi đây mà !
Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng : “Mai !” Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp ! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng “Ông Năm” như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt !
Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn : “Sao vầy nè ?”. Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết : “Sao vầy nè… Trời ?”. Tiếng “Trời” nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng : nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà “tụi nó” chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy !
Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói :
– Thôi mình về đi em !
Tiếng “em” thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng “em” mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy ! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa : to tròn như mắt đầm, trồng đen lay láy.
Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu :
– Để em xách !
Tiếng “em cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm…
Ông vói tay cầm lấy quai túi :
– Để anh xách cho.
Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải :
– Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.
Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra “tụi nó” đày đọa bả đến nước đó ! Bả tội gì ? Tội gì ? Tội vượt biên ? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa ? Vậy tội gì ? Ông Năm nghiến cái căm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra : “Quân khốn nạn !”
-oOo-
Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói :
– Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không ?
Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo :
– Gì không nổi ? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.
Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy ! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy ! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này ! Tội nghiệp !
Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được !
Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh :
– Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.
Bà Năm dịu dàng :
– Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…
Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng “hai đứa” nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi : bây giờ “hai đứa” vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết : họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.
Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi :
– Cây thánh giá này đây ?
Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu : cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng…
Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá.
Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh :
– Để em soạn đồ ra.
Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy ! Ông thấy thương vợ vô cùng.
Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn : vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ…
Vừa làm bà vừa nói :
– Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.
Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm :
– Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.
Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây ? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.
Có tiếng bà Năm nói :
– Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.
Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tìm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi ! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa !
Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sửa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răng, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi ! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt !
Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp ! Mười năm xa quê hương…
Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo :
– Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp-phê đó.
Bà Năm nghi ngờ :
– Anh mà làm bếp cái nỗi gì ? Mua ở tiệm thì có.
Ông Năm cười sảng khoái :
– Em lầm rồi ! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi ! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe !
Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng.
Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cáng gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc.
Ông vui vẻ :
– Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em ?
Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng :
– Súp ngon chớ ! Anh học nấu ở đâu vậy ?
Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật :
– Hùm… Không nói đâu ! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết !
Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…
Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra để mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước ! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất.
Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa ! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa ! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ : “Mình !”. Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng “mình” nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều.
Tiếng “mình” mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng “mình” gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng “mình” cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng “mình” ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng “mình” gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm xóc lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, run lên như đang cơn sốt, thân xác gầy còm của vợ. Và tai ông còn nghe những tiếng “mình” đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…
Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ?
-oOo-
Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì…
…Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm, lâu nay, bây giờ bà mới cho biết : hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. “Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy ! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa ?”. Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật ! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho “nhân dân”. Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất !
Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mưòi năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…
Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.
Mùa thu đó lá rụng thật nhiều…



‘Fan cứng’ Trump chuẩn bị vũ khí, ‘phân loại’ dân cử và nhà báo, khi tấn công vào Quốc Hội
WASHINGTON, DC (NV) – Những người ủng hộ Tổng Thống Donald Trump mang theo lượng vũ khí “đáng báo động” và cả danh sách các dân cử, nhà báo được phân hạng “tốt” và “xấu,” khi tấn công vào tòa nhà Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng trong lúc các nhà lập pháp xác nhận ông Joe Biden thắng cuộc bầu cử tổng thống, theo báo mạng The Hill loan tin hôm Thứ Bảy, 16 Tháng Giêng.
Hồ sơ nộp tại Tòa Liên Bang Địa Hạt DC cho biết nhiều phần tử nổi loạn tại Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng dường như đã chuẩn bị những phương án bạo lực khi cảnh sát sát tịch thu một số lượng vũ khí đạn dược và những phương tiện khác báo hiệu tình trạng tệ hại hơn những gì đã diễn ra.
Trong khi điều tra về vụ đặt bom ống tại trụ sở hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ gần trụ sở Quốc Hội, cảnh sát khám phá một chiếc xe chứa nhiều vũ khí cùng đạn dược.
Trên chiếc xe vận tải thuộc quyền sở hữu của ông Lonnie Longman, đậu gần nơi phát hiện ra bom ống, cảnh sát tìm thấy năm khẩu súng, một cái nỏ, bom khói, và súng điện cùng với hàng trăm viên đạn.
Chưa hết, trong xe có cả một danh sách các vị dân cử và nhà báo được phân hạng “tốt” và “xấu.”
Khi bị cảnh sát bắt giữ, ông Longman còn có thêm hai khẩu súng trong người.
“Nghi can đem một lượng vũ khí đến khu vực trụ sở Quốc Hội và di chuyển trong khu vực này với vũ khí trong người. Số lượng súng và hung khí có vẻ như để cung cấp cho những người khác,” hồ sơ truy tố viết.
Một nghi can khác tên Cleveland Meredith, cư dân Colorado, bị bắt tại một khách sạn trong khu vực DC nhờ có người thông báo với nhà chức trách việc người này lên tiếng đòi giết Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi.
FBI tịch thu một cây súng lục, một khẩu súng trường thuộc loại tấn công và hàng trăm viên đạn trong xe của Meredith.
Chưa hết trên chiếc điện thoại di động mà nghi can Meredith dùng để nói việc giết bà Pelosi, có những tin nhắc nói về các vũ khí và đạn dược mà nghi can đem theo, “tiến về DC với cả tấn đạn 5.56 loại xuyên qua áo giáp.”
Đây mới chỉ là vài trường hợp trong tổng số hơn 70 cáo trạng được các biện lý nộp lên tòa sau hơn một tuần xảy ra nổi loạn.
Các viên chức cho biết những tang vật bị tịch thu cho thấy đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.
Vụ nổi loạn có vẻ được tổ chức từ trước và có kế hoạch và mục tiêu rõ ràng, không phải đơn thuần chỉ là một sự bùng phát.
“Cơ quan điều tra liên bang sẽ truy theo tất cả các dấu vết từ việc chuyển tiền, thông tin liên lạc, dữ liệu định vị nhằm nhận diện các tổ chức chủ mưu điều khiển và ra lệnh,” Biện Lý Michael Sherwin cho biết.
Ngoài việc điều tra các tổ chức cực đoan ủng hộ ông Trump, các lãnh đạo Quốc Hội được nghe những báo cáo nghi vấn có sự tiếp tay từ những dân cử Cộng Hòa và viên chức an ninh tại điện Capitol.
Nhiều đoạn video ghi lại sự kiện một số người trong nhóm nổi loạn biết rõ ràng chi tiết về vị trí văn phòng của các nhà lập pháp, để hướng dẫn những người khác tấn công, cũng tạo thêm sự nghi ngờ có nội gián
Bà Mikie Sherrill, dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, một cựu phi công trực thăng Hải Quân Mỹ, đã cáo buộc một số dân biểu phía Cộng Hòa là trợ giúp thành phần ủng hộ ông Trump.
Bà Sherrill báo cáo có thấy một số đồng viện hướng dẫn các nhóm người đi “thám sát” trụ sở Quốc Hội vào hôm 5 Tháng Giêng, một ngày trước vụ bạo loạn xảy ra.
Khi được hỏi liệu sẽ có hành động gì đối với các dân biểu có thể bị cáo buộc là đã đưa người vào xem xét địa thế trước ngày xảy ra cuộc tấn công, Chủ Tịch Hạ Viện Pelosi tuyên bố: “Nếu quả thật có thành viên Quốc Hội bị xác nhận là đồng lõa với cuộc nổi loạn hoặc họ trợ giúp các hành vi phạm pháp, sẽ phải có các biện pháp vượt ra ngoài các biện pháp riêng của Quốc Hội, bao gồm cả việc truy tố.”
– Cảnh sát bảo vệ Quốc Hội bắt giữ một nghi can bên ngoài điện Capitol. (Hình: Joe Raedle/Getty Images)
– Những người nổi loạn ủng hộ Tổng Thống Trump trong trang phục “tác chiến” tràn vào bên trong điện Capitol. (Hình: Win McNamee/Getty Images)
– Bộ Quốc Phòng triển khai 25,000 lính Vệ Binh Quốc Gia bảo vệ thủ đô chuẩn bị lễ đăng quang Tổng Thống đắc cử Joe Biden. (Hình: Eric Thayer/Getty Images)
‘Fan’ Trump prepares weapons, ‘categorizes’ elected and journalists when attacking Congress
LỜI MỜI GỌI TRƯỞNG THÀNH – KHÓC CHO THÀNH GIÊRUSALEM
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Trưởng thành có nhiều mức độ khác nhau. Trưởng thành cơ bản được định nghĩa chính yếu là phải vượt qua tính ích kỷ bản năng mà chúng ta được sinh ra, để bây giờ động lực và hành động của chúng ta được định hình qua nhu cầu của người khác chứ không chỉ qua nhu cầu của chúng ta. Đó là mức tối thiểu cơ bản, mức tối thiểu để được trưởng thành. Sau mức độ này, còn có các mức độ và trình độ tùy theo mức độ động cơ và hành động của chúng ta là vị tha hay vị kỷ.
Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có các mức độ trưởng thành ngày càng sâu sắc hơn, dù đôi khi chúng ta có thể bỏ lỡ lời mời vì nó được thể hiện một cách tinh tế chứ không như lời mời đạo đức được truyền đạt một cách rõ ràng. Một lời mời tinh tế, nhưng rất sâu sắc để có được một mức độ trưởng thành cao hơn như việc Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem. Có gì bên trong hình ảnh này?
Và đây là hình ảnh và khung bối cảnh của nó. Chúa Giêsu vừa bị bác bỏ, cả về con người lẫn thông điệp của Ngài, và Ngài thấy rõ nỗi đau mà người dân sẽ gánh chịu do sự từ chối này. Phản ứng của ngài là gì? Ngài có phản ứng theo cách mà hầu hết chúng ta thường nghĩ: “Quỷ tha ma bắt! Tôi hy vọng bạn gánh đủ toàn bộ hậu quả của chính sự ngu ngốc này của bạn!” Không! Ngài khóc, giống như cha mẹ đối xử với đứa con ương ngạnh bằng tình yêu; ngài mong trong từng thớ thịt, có thể cứu con mình khỏi các hệ quả của các lựa chọn không tốt của nó. Ngài cảm nhận được vết thương của con cái hơn là vui vẻ nhìn nỗi đau của chúng.
Ở đây có một thách thức kép. Đầu tiên là vấn đề cá nhân: chúng ta vui mừng khi những người từ chối lời khuyên của chúng ta đau khổ vì sự sai trái của họ, hay chúng ta khóc trong lòng vì nỗi đau mà họ đã tự mang lại? Khi chúng ta thấy các hệ quả trong cuộc sống của những người có các chọn lựa không đúng, dù đó là do vô trách nhiệm, do lười biếng, do ma túy, tình dục, phá thai, do ý thức hệ, do thái độ chống tôn giáo, hoặc do ý xấu, chúng ta có vui mừng khi các lựa chọn bắt đầu cắn họ như rắn cắn (Này, đã làm thì ráng chịu!) hay chúng ta khóc vì họ, vì bất hạnh của họ?
Phải thừa nhận, thật khó để không vui khi thấy người từ chối lời khuyên của mình bị lãnh đủ với quyết định cứng đầu của họ. Đó là cách hoạt động tự nhiên của trái tim, vì thế sự đồng cảm có thể đòi hỏi một mức độ trưởng thành rất cao. Ví dụ, trong đại dịch Covid-19, các chuyên gia y tế (hầu như không có ngoại lệ) yêu cầu chúng ta mang khẩu trang để bảo vệ người khác và bảo vệ chính mình. Phản ứng tự phát khi chúng ta thấy ai coi thường cảnh báo này, chúng ta có nghĩ họ thông minh hơn bác sĩ, không mang khẩu trang và sau đó bị nhiễm vi-rút không? Chúng ta có vui thầm khi thấy họ phải gánh hậu quả việc họ làm hay chúng ta, một cách ẩn dụ, “khóc cho thành Giêrusalem” không?
Ngoài thách thức đưa ra cho mỗi chúng ta để tiến tới một mức độ trưởng thành cao hơn, hình ảnh này còn chứa đựng một thách thức mục vụ quan trọng đối với Giáo hội: trong tư cách Giáo hội, làm thế nào chúng ta thấy một thế giới thế tục hóa đã khước từ nhiều niềm tin và giá trị của chúng ta? Khi chúng ta thấy các hệ quả thế giới đang phải trả cho điều này, chúng ta vui mừng hay thông cảm? Chúng ta có thấy thế giới thế tục với tất cả những vấn đề mà nó đang tự gây ra do từ chối một số giá trị Tin Mừng như một đối thủ (người mà chúng ta cần bảo vệ cho chính chúng ta) hay như đứa con đau khổ của mình? Nếu bạn là cha mẹ hoặc ông bà đang đau khổ vì đứa con hay đứa cháu chướng khí, bạn sẽ có thể hiểu ý nghĩa của “khóc cho Giêrusalem.”
Hơn nữa, cuộc đấu tranh để “khóc” cho thế giới thế tục (hoặc với bất cứ ai từ chối các giá trị chúng ta bảo vệ) còn bị làm trầm trọng hơn vì một động lực khác chiến đấu chống lại sự cảm thông. Trong chúng ta có một khuynh hướng cảm xúc và tâm lý sai lệch hoạt động theo cách này. Bất cứ khi nào chúng ta bị tổn thương nặng nề, chúng ta cần phải đổ lỗi cho ai đó, cần phải tức giận chống ai đó và cần phải đả kích ai đó. Và bạn biết ai là người chúng ta luôn chọn để đổ lỗi không? Một người mà chúng ta cảm thấy đủ an toàn để làm tổn thương vì chúng ta biết họ đủ trưởng thành để không trả đũa lại!
Có rất nhiều chỉ trích Giáo hội ngày nay. Đúng, có rất nhiều lý do chính đáng để chỉ trích. Do các thiếu sót của Giáo hội, một phần của sự thù địch này là chính đáng; nhưng một số sự thù địch thường vượt ra ngoài những gì được chứng minh. Cùng với sự tức giận chính đáng, đôi khi cũng có rất nhiều tức giận vô cớ, tự nguyện. Phản ứng của chúng ta trước những tức giận vô cớ và lời buộc tội không công bằng đó là gì? Chúng ta có phản ứng bằng trả đũa không? “Anh vượt giới hạn rồi, đi chỗ khác mà nổi giận!” Hay là, như Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta đáp lại tức giận và buộc tội bất công bằng nước mắt cảm thông, và lời cầu nguyện rằng một thế giới đang giận dữ với chúng ta sẽ được tha thứ cho các lựa chọn không đúng của họ không?
Triết gia Soren Kierkegaard đã viết câu nổi tiếng: Chúa Giêsu muốn có đồ đệ, Ngài không muốn có người ngưỡng mộ Ngài! Lời khôn ngoan. Trong phản ứng của Chúa Giêsu trước sự từ chối mình, khi Ngài khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta thấy sự tinh tế trong mức độ trưởng thành con người. Và chúng ta được kêu gọi trưởng thành trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách cộng đồng giáo hội. Chúng ta cũng thấy đây là trái tim rộng lớn cảm nhận được nỗi đau của người khác, ngay cả nỗi đau của người từ chối mình.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Langthangchieutim
Bởi AdminTD
Đinh Phương
16-1-2021
Chỉ cách đây vài ngày, hôm 11.01 tôi có đăng một bài với tựa đề “Bầu cử Tổng thống Mỹ” và đưa ra một số trang tin “fake news” tiếng Việt điển hình, nhằm cảnh báo mọi người thân quen.
Những trang tin này luôn đưa ra những thông tin xào nấu, thật thật giả giả, kèm theo những bình luận lừa đảo, tạo ra sự hoang mang, gây nghi ngờ và hỗn loạn trong cộng đồng. Một trong những trang đó là “The Epoch Times Tiếng Việt” trên youtube, còn gọi là “Khung Trời Mới”.
Hôm 11.01 họ đã làm clip video quy chụp Đức Giáo Hoàng ở Vatican liên quan đến tình dục và ấu dâm, buôn bán ma tuý, lũng đoạn tài chính v.v… Sau khoảng 1 ngày thì họ đã rút clip này xuống. Xin coi lại tại đây.
Phải nói rằng kênh YouTube “The Epoch Times Tiếng Việt” là một trang trông có vẻ rất bề thế và có quy mô của một tổ chức hẳn hoi. Những clips tung lên được dàn dựng với đội ngũ chuyên nghiệp, phát thanh viên là những “cô cậu” có năng khiếu và khả năng, được đào tạo qua trường lớp, ăn nói và bộ dáng rất lưu loát bài bản.
Nhưng họ lại là kênh đầu tàu chuyên phát tán “fake news”, giả-thật lẫn lộn, song song là những bình luận định hướng thiếu trung thực, mang tính chất gian lận, gây nghi hoặc, rối loạn cộng đồng. Điển hình là clip vu khống Đức Giáo Hoàng Vatican như đã trình bày ở trên.
Hầu như các “fake news” trên mạng phát xuất đầu tiên từ trang này, được các “yêu tinh bàn phím” cóp nhặt về và phổ biến lại. Hiện nay họ đang tung tin rằng đương kim Tổng thống Trump đang điều binh lực về Washington để chuẩn bị “cướp chính quyền” trong ngày nhậm chức của tân TT Biden, sắp diễn ra trong ngày 20.1.2021.
Ngày 13.1, do có phản ảnh, như họ nói, “The Epoch Times Tiếng Việt” này đã đưa lên một clips trên YouTube để nói lời xin lỗi, xem ra có vẻ rất… chân thành: https://youtu.be/bV6rSz8XrX4
Nói chung, trước khi ai đó post bài, họ phải dàn dựng, viết, cắt gọt, pha trộn những hình ảnh rồi lập trình, thâu âm kèm theo, rồi hoàn thành, rồi mới post lên được. “The Epoch Times Tiếng Việt” cũng không có ngoại lệ.
Thế cho nên, lời xin lỗi “về sự vô tình và sơ xuất“ của “The Eopch Times Tiếng Việt” đã có sẵn sự dối trá trong đó. Nó chỉ là một hình thức “chữa lửa khi đã tạo một đám cháy”.
Với tôi, một trang mạng với số lượt views khủng như thế, năng lực tầm cỡ như thế, phải nhìn trước được hậu quả của những thông tin mà mình đưa lên, phải biết thanh lọc tin gì là quan trọng, giả và thật, đồng thời cũng phải tự lãnh trách nhiệm với hành động của mình.
Thông tin về Đức Giáo Hoàng Vatican nêu trên không phải là tin đơn giản, hay như tin “ông Biden liên quan đến vụ ấu dâm” cũng vậy, nó liên quan đến mấy tỷ con người và một tôn giáo lớn của thế giới.
Mục đích của các bạn “The Epoch Times Tiếng Việt” là gì? Các bạn không phải người Công Giáo. Tin Lành thì không hành xử như thế này. Các bạn nói “Yêu Chúa“. Vậy các bạn là ai? Thuộc tà đạo nào?
Xin lỗi là không đủ! Nếu có lương tâm, nhận ra khả năng của mình còn yếu kém thì các bạn hãy ngưng ngay hoạt động, bởi còn rất nhiều điều các bạn đã từng đưa lên, đem đối chiếu với sự thật thì nhan nhản từ sai cho tới gian lận. Nó làm cho những người “yếu bóng vía” hoang mang, nó đem đến kết quả rất xấu cho xã hội.
Tự khóa kênh lại sẽ là hành động lương thiện nhất!
Riêng tôi, nếu các bạn vẫn tiếp tục hoạt động, thỉnh thoảng tôi sẽ vào thăm các bạn, khi cần ai đó làm trò cười cho đỡ tẻ.
Thế thôi, bạn bè thân quen và mọi người hãy cảnh giác.
TRUYỆN NGẮN – ALAN PHAN…
Con Người Có Số
Năm 1983, trong một dịp về thăm nhà ở California, tôi đang loay hoay sửa lại hệ thống tưới nước cho khu vườn trước nhà, áo quần mặt mày lem luốc như một anh lao công Mỹ chính hiệu; thì một người phụ nữ lạ mặt xuất hiện ngoài cổng, cao tiếng, “Ông Tổng; Ông Tổng”. Đã lâu lắm tôi mới nghe lại danh từ này.
Ngạc nhiên, tôi ra mở cửa mời khách vào nhà. Chị giải thích, “Con là nhân viên cắt thịt của nhà máy Dona Foods ở Biên Hòa ngày xưa. Chắc ông không nhớ?” Tôi lắc đầu. Nhà máy có hơn 3.000 nhân viên, ngoài các cán bộ trong ban quản lý, tôi thực sự không biết ai. Chị đưa ra tấm thẻ ID cũ của công ty, đã bạc màu, nhưng vẫn còn nhận rõ tên Dương Thị Gấm, với tấm hình đen trắng ngày xưa rất quê mùa, có cả tên và chức vụ của anh quản lý trong khu vực sản xuất.
Chị tiếp tục kể, “Sau khi chính quyền tiếp thu, con làm thêm bốn tháng rồi bị cho nghỉ vì nhà máy không đủ nguyên liệu để điều hành. Con lên thành phố làm ô sin cho một gia đình vừa ở ngoài Bắc vô. Sau một năm, ông chủ được thăng chức điều về Hà Nội. Vì con làm việc tốt, ông đem con đi luôn và con ở ngoài đó đến hai năm.
Trong thời gian làm thuê, có ông nhân viên ngoại giao người Đức cạnh nhà. Ông ta lớn tuổi, nhưng ngỏ ý muốn cưới con và đem về Đức khi mãn nhiệm. Muốn giúp gia đình nên con đồng ý, dù con chỉ mới 22 tuổi trong khi ông ta đã hơn 60. “Tôi nhìn chị kỹ hơn. Năm 1975, chị mới 19, thì năm nay, có lẽ chị chỉ mới 27, nhưng xem chị già và phong trần nhiều. Chị thuộc loại đàn bà xấu, dưới trung bình, lại thêm đôi chân bị khập khễnh. Có lẽ những bệnh tật, bất hạnh và mặc cảm đã làm chị già trước tuổi?”
“Con theo chồng về Đức được ba năm thì phải bỏ trốn, rồi ly hôn, vì ông này mỗi lần say rượu là đánh đập con tàn nhẫn. Con phải vào nhà thương cả chục lần mỗi năm. Không có tiền bạc hay của cải, làm bồi bàn khổ cực, nên con nghe lời rủ rê của bạn bè chạy qua Mỹ tìm đường sống. Con đến Los Angeles được 6 tháng nay.” Đại khái, chị đang làm nhân viên thoa bóp (masseuse) cho một tiệm trên San Bernadino. Thu nhập cũng tạm đủ sống, nhưng có cơ hội, người chủ muốn sang tiệm, nên chị tìm cách mua lại.
“Con dành dụm được hơn 12 ngàn đô la, nhưng còn thiếu năm ngàn nữa. Nghe tin ông Tổng ở đây, con hy vọng ông giúp cho con số tiền này để con có cơ hội vươn lên”.
Tôi đính chính với chị, tôi đã hết là ông Tổng, hiện nay chỉ là một nhân viên xoàng của một ngân hàng nhỏ ở Wall Street, sống đời trung lưu bình dị như hàng triệu người Mỹ khác. Nhưng may cho chị là hôm ấy, gần ngày Giáng Sinh, tôi thấy rộng lượng và nhất là vừa nhận được tấm chi phiếu khá lớn của ngân hàng cho tiền thưởng cuối năm. Tôi cho chị mượn năm ngàn và thực sự, không nghĩ rằng mình sẽ thấy lại số tiền này, như nhiều trường hợp vẫn luôn xảy ra với bà con bạn bè.
Nhưng chỉ sáu tháng sau, chị lại tìm đến nhà trả lại số tiền năm ngàn và còn muốn đưa thêm ba ngàn tiền lãi. Tôi không có nhà, vợ tôi chỉ nhận lại năm ngàn không lấy lãi và chúng tôi đều đồng ý là số tiến năm ngàn khứ hồi này quả là chuyện thần thoại của Hollywood. Chị còn khoe với vợ tôi là đã mua thêm một tiệm massage khác.
Bẵng đi năm năm, tôi không gặp lại chị và cũng không liên lạc gì. Tình cờ, tôi và bạn bè vào một quán ăn khá sang trọng ở Bolsa (quận Cam) và người chủ tiệm đứng đón tiếp chúng tôi là chị Gấm ngày nào. Chị huyên thuyên câu chuyện, “Làm massage có tiền nhưng nhức đầu với nhân viên, khách hàng và cơ quan công lực, nên con bán hết năm tiệm và quay ra kinh doanh nhà hàng. Ngoài tiệm này, con còn hai tiệm nữa ở khu phố Tàu và khu đại học UCLA.” Chị cũng khác hẳn lúc xưa. Áo quần thời trang bảnh bao, ăn nói lịch thiệp hơn, cư xử đúng như một bà chủ, và chiếc xe Mercedes đời mới đậu ngay cạnh cửa nói lên sự “thành công” của chị.
Sau bữa ăn miễn phí, tôi cũng không liên lạc gì với chị, vì công việc làm ăn của tôi lúc này đem tôi đi khắp thế giới, không mấy khi về lại California. Cho đến năm 1997, khi tôi đi dự một hội thảo và triển lãm về ngành ngân hàng ở Chicago, chị lại xuất hiện. Tôi đang nghiêm túc ngồi trên bàn làm phối hợp viên (moderator), còn chị thì tươi cười chào tôi trong bộ âu phục của một nhân viên cao cấp (executive), với một thẻ bài đeo trên người có tên rất Mỹ là Christina Spencer.
Trong bữa ăn chiều sau hội thảo, chị đưa tấm hình chồng chị và đứa con đã lên 3, rồi tiếp tục, “Trong khi kinh doanh, con đi học thêm vào buổi tối và cuối tuần, cuối cùng cũng lấy được mảnh bằng Cử nhân (Bachelor) về Tài chính (Finance). Sau đó con đi làm cho Wells Fargo (ngân hàng lớn ở California), gặp chồng con là Phó Giám Đốc R&D cho Xerox nên đời sống hai đứa cũng tốt đẹp. Chúng con đang sống ở Palo Alto (một khu giàu của Bắc California cạnh đại học Stanford)”.
Một nhân công nghèo hèn, thất học với một nhan sắc kém cỏi, lại gặp nhiều gian truân, chị đã lên tới đỉnh sung túc của một xã hội có sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa nhiều loại dân tứ xứ. Tôi nhìn lại chị thêm lần nữa, một biểu tượng đáng khâm phục cho ý chí cầu tiến và sự hy sinh vô bờ để đạt đến giấc mộng của mình.
Dĩ nhiên là chị không nói ra, nhưng tôi tin là trong cuộc hành trình 22 năm vừa qua của chị, đã không thiếu những tình huống hiểm nghèo, cay đắng và tuyệt vọng chị phải đối diện. Sức mạnh nội tại nào đã giúp chị vượt qua và bay cao mới thực sự là “cú đấm thép” mà cộng động chúng ta hay bàn luận.
Không thiếu những trường hợp như chị trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Rời quê hương với hai bàn tay trắng, thiếu sót mọi kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên xứ người, những người Việt như chị đã vượt lên mọi rào cản, trở ngại để dành cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời (a place in the sun).
Tôi muốn nói với các doanh nhân trẻ và nhỏ của Việt Nam, trong hay ngoài nước, là nếu những con người như chị Gấm đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được.
Điều thú vị nhất là lần ăn tối ở Chicago với chị Gấm, tôi bốc được một lời khuyên trong chiếc bánh may mắn (gọi là fortune cookies mà các nhà hàng Tàu ở Mỹ thường mời khách free. Bánh kèm bên trong một lời bói toán hay một câu nói của doanh nhân). Tôi còn giữ tờ giấy này, “Thua cuộc chỉ là một tình trạng tạm thời. Bỏ cuộc biến nó thành một sự kiện thường trực”. (Being defeated is often a temporary condition. Giving up is what makes it permanent Marlene vos Savant).
Chúng ta không tiên đoán về tương lai, chúng ta đang tạo dựng nó hàng ngày.

Thật là nhục nhã
Thạch Đạt Lang
Ngày thứ năm 14.01.2021, bộ quốc phòng Mỹ thông báo là tổng thống Donald Trump sẽ rời khỏi Tòa Bạch Ốc ngày 20.01.2021 và không có buổi Lễ Tiễn Đưa (Farewell Celebration For President). Lễ Tiễn Đưa là một vinh dự truyền thống của Mỹ có từ thời ông Ronald Reagan. Lễ này do quân đội tổ chức dành cho lãnh đạo quốc gia khi mãn nhiệm kỳ hoặc từ chức…
Trường hợp tổng thống Donald Trump ra đi không có buổi lễ này là một sự nhục nhã cho bản thân Trump nhưng không gây ngạc nhiên cho ai.
Căn cứ vào những hành động, phát ngôn của ông Trump trong 4 năm qua, từ việc chê bai cộng đồng tình báo Mỹ (1), nhục mạ quân đội, gọi những người lính TQLC Mỹ gục ngã trong thế chiến thứ nhất là bọn thua trận, đần độn (2) đến việc lôi kéo quân đội vào những âm mưu chính trị bẩn thỉu trong việc chụp hình trước nhà thờ đầu tháng 06.2020 (3) và gần đây nhất là kích động bạo lực, kêu gọi lật ngược kết quả bầu cử bằng cách tấn công Điện Capitol – Tòa Nhà Lập Pháp của nước Mỹ khi quốc hội đang chứng nhận kết quả bầu cử ngày 03.11.2020, cùng với 2 lần bị luận tội, bộ quốc phòng Mỹ quyết định hủy bỏ truyền thống danh dự này đối với ông Donald Trump.
Ngày thứ tư 13.01.2021, Tòa Bạch Ốc cho biết, phó tổng thống Mike Pence sẽ gửi bảng tổng kết, nhận xét về những kết quả trong chính sách đối ngoại lịch sử của nội các ông Donald Trump đến các quân nhân hải quân tại Trạm Hàng Không Hải Quân ở Lemoore, sau đó là sư đoàn 10 ở Fort Drum, New York. Hai viên chức cao cấp của bộ quốc phòng đã xác nhận với Defense One – một tờ báo của quân đội – sẽ không có buổi lễ tiễn đưa vinh dự truyền thống cho vị cựu tổng tư lệnh tối cao Donald Trump.
Đó có lẽ là điều tốt đẹp nhất cho Donald Trump. Ngay từ khi nhậm chức, Trump đã có ý đồ sử dụng quân đội vào những mục đích chính trị của ông. Từ việc ký tặng những chữ MAGA cho những người lính đến những bài phát biểu mang nặng tính đảng phái ngay tại trung tâm Bộ Quốc Phòng (Pentagon). Những người lính Mỹ, không quân, hải quân, thủy quân lục chiến Mỹ…đã nghe nhiều đến độ chán ngấy những lời sỉ nhục quân đội Mỹ của Trump. Lần xuất hiện cuối cùng của Trump là trận đấu giao hữu tại trường đào tạo sĩ quan West Point giữa bộ binh và thủy quân lục chiến ngày 12.12.2020, trước đó Trump đã có chuyến viếng thăm ngắn ngủi tại căn cứ Fort Bragg trong chuyến đi vận động tranh cử vào tháng 10.2020.
Với tư cách là tổng tư lệnh quân đội, các tổng thống tiền nhiệm của Mỹ đã hành động như thế nào cho lần xuất hiện cuối cùng của mình trước quân đội? Lễ chia tay lần đầu tiên diễn ra năm 1989, do bộ quốc phòng và tham mưu trưởng liên quân tổ chức cho tổng thống Ronald Reagan. Ông Reagan đã biến buổi lễ chia tay tại Camp Springs, bang Maryland thành một lễ kỷ niệm với những quân nhân nam, nữ trẻ tuổi mà ông gặp mặt cũng như tuyên dương những thành quả mà nội các của ông đã đạt được, đặc biệt là chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh với Liên Xô và khối Đông Âu.
Bốn năm sau đó, tổng thống George H. W. Bush (ông Bush cha) được nói lời chia tay từ biệt của mình với quân đội tại Fort Myer, nhìn ra nghĩa trang Arlinton, bang Virginia. Cùng với những người lãnh đạo cuộc chiến Iraq – tướng Colin Powel, bộ trưởng quốc phòng Dick Chenney.
Tổng thống Bill Clinton trong dịp từ biệt của mình đã nói lên những lời cám ơn quân đội trên con đường xây dựng một Âu Châu tiến gần đến hòa bình hơn bao giờ hết, trở nên dân chủ, không còn bị chia cắt Đông-Tây. Cùng với sự hiện diện của Bill Cohen, bộ trưởng quốc phòng thuộc đảng Cộng Hòa, tướng Henry Shelton, ông Clinton nói: “- Nhờ các bạn, với sự liên minh của các nước trong NATO, chúng ta đã chấm dứt được sự thanh trừng sắc tộc ở Nam Tư cũ. Những người phải bỏ chạy tị nạn đã quay trở về nhà, tự do đã nở hoa từ những đổ vỡ ở các quốc gia nhỏ bé.
Cựu tổng thống George W Bush (ông Bush con) cũng như Barack H. Obama cũng có những vinh dự tương tự như thế, chỉ riêng ông Donald Trump thì không.
Trong 4 năm cầm quyền, ông Trump đã để lại cho nước Mỹ những hậu quả vô cùng tệ hại. Từ bức tường ở biên giới Mỹ-Mễ được Trump hô hào, moi móc ngân sách đầu này, đít nọ rốt cuộc chỉ là những đoạn chắp vá không mang lại tác dụng, kết quả nào, thương chiến với Tầu Cộng thì ai đổ ruột, ai gẫy tay, ai năn nỉ kẻ thù ngồi vào bàn đàm phán mọi người đều thấy, đến đại dịch Sars-CoviD 2 với gần 400.000 người chết, 24 triệu người lây nhiễm…Ông Trump chỉ có thành công duy nhất là giảm thuế từ 35% xuống 21%, tiết kiệm cho doanh nghiệp 15.000 tỉ $ thuế trong 10 năm.
Tuy nhiên, hành động kêu gọi, kích động người ủng hộ gây bạo loạn với mục đích xóa bỏ kết quả bầu cử, xé nát hiến pháp vào ngày 06.01.2021 mới là giọt nước làm tràn ly. Không còn ai muốn giao du, liên hệ gì với ông, kể cả những thành viên trong đảng Cộng Hòa, trong nội các, đối tác kinh doanh… ngoại trừ một số dân biểu, nghị sĩ đảng CH suy thoái đạo đức, cố đấm ăn xôi, sợ mất phiếu nơi số cử tri ủng hộ ông triệt để, còn bám theo ông với hi vọng giữ ghế trong kỳ bầu cử năm 2022.
Cựu đại tướng James Mattis, cựu bộ trưởng quốc phòng do ông Trump bổ nhiệm, sau 2 năm đã từ chức, có nhận xét về ông rằng: “ Ông Trump sẽ rời khỏi Tòa Bạch Ốc như một người vô tổ quốc”. (4) Thật đúng vậy! Chẳng những vô tổ quốc mà cũng không vinh dự.
Tuy vậy, dù sao đi nữa ông vẫn có một điều an ủi. Nếu biết tiếng Việt, ông sẽ rất vui mừng, hãnh diện và cảm thấy ấm lòng khi biết rằng có khoảng 80% dân số ở một nước cách xa Mỹ 12.000 cây số với khoảng 95 triệu dân vẫn tiếp tục ca ngợi, quý trọng ông, nhưng bao lâu nữa thì không ai biết, bởi đây là một dân tộc ăn xổi, ở thì, rất hoang tưởng, hơn 4.000 năm vẫn không chịu lớn.
**********
(3) https://www.wbur.org/onpoint/2020/06/05/protests-trump-chauvin-george-floyd-police
(4) https://www.foxnews.com/politics/james-mattis-statement-trump-capitol-protests(
— with Xuandai Hoang.

Ngày hôm nay, thứ sáu, 15-01-2021
Thế giới: có trên 94 triệu người bị bịnh virus corona
Và có trên 2 triệu người chết
Ở Hoa Kỳ: có trên 24 triệu người bị bịnh
Và có trên 400, 000 người chết vì virus corona