Ái nữ KTS Ngô Viết Thụ chết oan do cách ly, phong tỏa!

Ái nữ KTS Ngô Viết Thụ chết oan do cách ly, phong tỏa!

Bài bình luận của Gió Bấc
2021-07-28

Ái nữ KTS Ngô Viết Thụ chết oan do cách ly, phong tỏa!

Hình minh hoạ. Khu vực cách ly y tế ở TPHCM tháng 7/2021

 HCDC

Ái nữ của KTS Ngô Viết Thụ- Khôi nguyên La Mã, tác giả Dinh Độc Lập và nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng của Việt Nam-, đã qua đời tại nhà riêng sau nhiều giờ kêu cứu mà không được cho đi bệnh viện. Chuyện ngành y tế quá tải, do chiến lược sai lầm dốc sức tìm diệt cách ly, phong tỏa F0 dẫn tới người bệnh thông thường sẽ bị chết oan đã được các nhà khoa học trong ngoài nước kêu gào cảnh báo ngay từ tháng 6.

Chiều 27-7, dư luận dậy sóng trước thông tin trên Facebook của ông Đoàn Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ Tịch UBND quận 1, TP. HCM, nghỉ việc đi lái xe cấp cứu người bị nạn. Đó là hai thư ngỏ gởi anh Nguyễn Văn Nên, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

Kêu cứu từ sáng đến chiều vẫn bị “phong tỏa”

Thư đầu tiên đăng lúc 15 giờ 30 phút chiều 27-7-2021. Nội dung chính là: “Tôi đang đứng chờ hàng giờ đồng hồ ở trước số nhà 22 Trương Định, phường 6, quận 3 để chở một người phụ nữ 54 tuổi đi bệnh viện cấp cứu do sốt và khó thở, khả năng không qua khỏi ( nghi đã nhiễm COVID).

Tôi cần các lực lượng chức năng có mặt tại đây để xét nghiệm nhanh và đồng ý về pháp lý cho tôi chở họ đi bệnh viện.

Gia đình đã gọi y tế phường từ sáng đến giờ không ai đến….”

Thư thứ hai đăng lúc 16 giờ 12 phút chiều nay 27-7-2021. Nội dung chính như sau:

“Đúng như tôi dự đoán.

Cô ấy vừa đã qua đời.

….Người phụ nữ 54 tuổi vừa qua đời là em ruột của kiến trúc sư tài năng Ngô Viết Nam Sơn, người đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển đô thị của thành phố ta.

Một điều tôi rất trăn trở là các cơ quan của phường, quận không một ai xuống xét nghiệm và đưa họ đi bệnh viện từ lúc sáng nay mặc dù họ đã kêu gào trong điện thoại trước mặt tôi.

Đây là một gia đình rất trí thức và hiền lành, những gì họ nói với tôi, tôi tin là chính xác.

Rất mong anh chỉ đạo gấp.

Trân trọng cảm ơn anh!” (1)

Vài giờ sau đó báo Tuổi Trẻ đăng phản bác của Bí thư Quận ủy quận 3 – Phạm Thành Kiên cho rằng “thông tin trên Facebook ông Đoàn Ngọc Hải gây hiểu nhầm có người mất liên quan dịch bệnh và địa phương không đưa đi cấp cứu.”

Ông Bí thư Quận ủy, phân trần “bà Châu mất do viêm phổi, hoàn toàn không liên quan đến dịch bệnh COVID-19”.

Ông Đoàn Ngọc Hải và xe cứu thương chở bệnh nhân trong mùa dịch COVID-19 ở TPHCM. Hình: FB Đoàn Ngọc Hải

Ông Đoàn Ngọc Hải và xe cứu thương chở bệnh nhân trong mùa dịch COVID-19 ở TPHCM. Hình: FB Đoàn Ngọc Hải

Về việc cho rằng địa phương nhận được cuộc gọi kêu cứu từ gia đình mà không đến đưa đi bệnh viện cấp cứu thì ông Bí thư cho rằng “gia đình có cuộc gọi đến phường (phường Võ Thị Sáu – PV) vào lúc 15h36 và lực lượng y tế phường có mặt tại nhà người quá cố lúc 15h45….Còn gia đình gọi đi những nơi nào trước thời điểm gọi cho phường thì địa phương không biết”

Tuổi Trẻ Online xác nhận “gia đình bà Châu cho hay bà bị mệt từ sáng 27-7, gia đình đã gọi đến trung tâm cấp cứu, nhiều bệnh viện, y tế phường và quận nhưng nơi thì không bắt máy, có một số nơi hứa đến nhưng không đến.

Đến trưa thì người nhà mới gọi nhờ ông Hải (ông Hải có xe chở bệnh nhân cấp cứu làm từ thiện – PV), nhưng theo gia đình, vì người bệnh không có xét nghiệm âm tính COVID-19 nên không đưa đi bệnh viện cấp cứu được” (2)

Với y học thời nay, viêm phổi không phải là loại nan y, cấp tính. Bà Châu hoàn toàn có thể được cứu sống nếu được điều trị kịp thời. Thông tin của ông Hải và báo Tuổi Trẻ trùng khớp nhau cho thấy gia đình bà Châu đã kêu cứu vô vọng từ sáng đến chiều và không được đưa đi điều trị.

Qua nội dung nói đi nói lại giữa các bên cho thấy, ông Bí thư quận 3 chỉ phản bác điều mà ông Hải không hề nói là “bà Châu mất do liên quan đến dịch bệnh COVID-19”. Ngược lại, thư cầu cứu của ông Hải đã bộc lộ thảm họa đáng về chiến lược chống dịch sai lầm của Nhà nước Việt Nam: phong tỏa, cách ly máy móc tràn lan vô tội vạ dẫn tới hệ quả càng chống số người bị nhiễm càng tăng, ngành y tế bị quá tải và người bệnh thông thường bị chết oan do không được điều trị.

Trườn hợp tử vong của bà Châu đã bộc lộ hai khuyết nhược nghiêm trọng, phi nhân và phi khoa học trong chiến lược này đó là phong tỏa như ngục tù và giấy thông hành âm tính.

Chết vì bị bị “y tế giăng dây” – nỗi ám ảnh của người dân

Một quan niệm hết sức khắc nghiệt và sai lầm của y tế Việt Nam là xem tất cả những người dương tính với COVID -19 là bệnh nhân và đưa đi cách ly, đồng thời địa bàn khu vực nơi người ấy sinh sống, làm việc sẽ bị giăng dây phong tỏa không loại trừ các cơ sở y tế. Điển hình là thông tin báo chí ngày 1-7: ”thành phố đã có 459 ca F0 được phát hiện khi đến khám, chữa bệnh ở 55/130 bệnh viện. …Thời gian qua, nhiều bệnh viện tại thành phố phải phong tỏa: Bệnh viên quận Tân Phú, Bệnh viện Nam Sài Gòn, Bệnh viện Bệnh nhiệt Đới, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn…” (3)

Ở địa bàn dân cư số điểm bị phong tỏa tăng lên vùn vụt. Ngày 27-7 báo chí đưa tin “Trong vòng một tuần qua, các điểm phong tỏa liên quan dịch COVID-19 trên địa bàn TP HCM đã tăng thêm 541 điểm, từ 3.057 điểm lên 3.598 điểm.” (3a)

Việc tiếp tế cứu trợ cho các điểm phong tỏa hầu như chỉ có trên lý thuyết, trên TV. Thực tế, người dân trong khu vực phong tỏa gần như bị giam giữ. Phong tỏa thành nỗi ám ảnh đáng sợ đến mức người dân đã truyền nhau câu thơ trào phúng xót xa.

“Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy.

Y tế phường không đến để giăng dây!”

hcdchcmcity2021june14.jpeg

Một khu phong toả vì dịch bệnh COVID-19 ở TPHCM vào tháng 7/2021. Hình: HCDC

Một thực tế trái khoáy, vô nhân đạo là muốn ra khỏi khu phong tỏa dù là đi cấp cứu (như trường hợp của bà Châu) thì phải có giấy chứng nhận xét nghiệm âm tính với COVID. Người đang bệnh, đang bị phong tỏa thì làm sao có được giấy này? Cách làm này không khác gì xử tử con người mà không cần bản án.

Tình trạng bệnh tật thông thường phải chịu chết trong khu phong tỏa như bà Châu không phải là cá biệt nhưng hầu hết bị bưng bít thông tin. Sở dĩ Bí thư quận 3 phải lên tiếng trả lời, được đăng lên báo do thông tin phát ra từ Facebook đình đám của ông Đoàn Ngọc Hải có đến gần 369.000 người theo dõi. Hơn thế nữa, gia thế bà Châu cũng quá đình đám, thân phụ là cố KTS Ngô Viết Thụ, em bà là KTS tài năng Ngô Viết Nam Sơn cũng rất nổi tiếng trên thế giới và đang có nhiều quan hệ, tương tác với nhà nước Việt Nam.

Điển hình là ngày 6-7, một cái chết tương tự như bà Châu là vợ của một nhà báo, được nhà báo Trương Hiệu, báo Kinh Tế Đô Thị viết trên Facebook: “Anh Thanh là phóng viên báo Nhân Đạo. Khu nhà anh ở trong quận 4, TP.HCM bị phong tỏa. Khi vợ anh sốt, ho, tức ngực thì gia đình báo cán bộ y tế phường, quận nhưng không ai xuống vì khu vực đang phong tỏa không cho ai vào, ra.

Hôm qua khi vợ anh yếu hẳn thì lực lượng y tế xuống chở đi bệnh viện, nhưng không cứu kịp. Khám nghiệm tử thi, thông báo vợ anh không bị mắc COVID-19”. (4)

Không nhận bệnh nhân vì quá tải

Báo Tuổi trẻ đã đưa thông tin đáng chú ý là“gia đình đã gọi đến trung tâm cấp cứu, nhiều bệnh viện, y tế phường và quận nhưng nơi thì không bắt máy, có một số nơi hứa đến nhưng không đến”

Cái chết thương tâm của bà Châu còn bộc lộ hậu quả tai hại thứ hai mà nhiều bác sĩ trong và ngoài nước đã cảnh báo là tình trạng bệnh viện quá tải, ngành y tế bị tổn thương kiệt sức do các quyết sách chống dịch sai lầm là phong tỏa bệnh viện tràn lan và cách ly quá nhiều F0, F1 dồn nguồn nhân lực y tế cả giường bệnh lẫn nhân lực cho những người bệnh mà không có bệnh.

Ngày 17-7 Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu y khoa Garvan) đã kiến nghị chống dịch phải theo ba mục tiêu

“bảo toàn hệ thống y tế;

  • tối thiểu hóa số ca nhập viện và ICU và giảm nguy cơ tử vong;
  • giúp cho người dân tự quản lý nguy cơ.”(5)

Trong nước, các bác sĩ Trương Hữu Khanh, Phan Xuân Trung, Phạm Ngọc Thắng, … cũng nhiều lần đề xuất, kiến nghị tương tự. Điều lo ngại nhất chính là hệ thống bệnh viện việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng vốn đã quá tải nay phải tổn thất vì phong tỏa lại căng sức cho những công việc chống dịch vô bổ như chăm sóc người F0 không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ, xét nghiệm truy vế F0…

YouTube player

Bệnh viện đã quá tải không thể tiếp nhận bệnh nhân đã xảy ra, chính ông Nguyễn Thành Phong đã chứng kiến và kể lại “Tối 14.7, khoảng gần 8h, tôi nhận được đề nghị của Chủ tịch UBND quận 7 nhờ giúp vì một ca F0 đang rất nguy cấp mà gọi không có bệnh viện nào tiếp nhận. Sau đó, tôi phải gọi cho anh Bỉnh (Giám đốc Sở Y tế TPHCM – PV) là giải quyết xong”.

Trong đô thị là trung tâm kinh tế, khoa học lớn nhất nước, chủ tịch Quận không thể đưa bệnh nhân nhập viện phải cầu cứu đến chủ tịch Thành Phố giúp đỡ, tình hình nghiêm trọng đến mức nào.

Rất tiếc, trong cơn say tìm diệt F0 và sự ngạo nghễ TP. HCM sẽ có bệnh viện 50.000 giường ông Phong không thấy hoặc không chịu thừa nhận sự quá tải ấy mà cho rằng “quy trình thực hiện điều trị cho F0 còn rất lúng túng và bất cập”. (6)

Ông Nên đã thấy, liệu có thể thay đổi kịp trước khi quá muộn?

Thông tin báo chí và mạng xã hội cho thấy trong số các lãnh đạo hiện nay, ông Nguyễn Văn Nên, Bí thư Thành ủy TP.HCM ít ồn ào khoa trương và có thái độ cầu thị lắng nghe. Ông đã có cuộc gặp mặt các chuyên gia để nghe ý kiến. Sau cuộc gặp TP.HCM có nước chuyển biến cho F1 cách ly tại nhà và dự kiến sẽ cho thì điểm F0 không triệu chứng cách ly tại nhà, tại địa phương.

Sơ kết chỉ thị 16 của TP HCM ông cũng có lời cầu thị hiếm thấy trong các quan chức cộng sản là “Mong người dân lượng thứ cho những lúng túng của TP.HCM”.

Ngày 27-7, bác sĩ Võ Xuân Sơn có viết trên Facebook cá nhân status: “THÔNG BÁO VỀ ĐỀ XUẤT CỦA TÔI” có đoạn sau

“Khuya hôm qua, một số bạn nhắn cho tôi, rằng Bí thư Nên đã đọc đề xuất của tôi. Một bạn còn cho biết cụ thể, thư ký của Bí thứ Nên có nói, những đề xuất của tôi thuộc nhóm 1 (tập trung giảm tử vong) một số đã làm, một số đã chỉ đạo, còn nhóm 2 (bảo đảm an sinh cho người dân) thì một số đã làm, một số chưa làm được vì còn vướng thủ tục.

Sáng nay, Bí thư Nên đã trực tiếp gọi điện cho tôi. Ông cám ơn tôi đã gởi đề xuất. Ông cho biết đã đọc các đề xuất của tôi, đã chuyển cho các bộ phận chức năng nghiên cứu, và khi có kết quả ông sẽ trả lời lại cho tôi. Ông cũng đề nghị tôi, nếu có thêm đề nghị gì thì có thể nhắn tin qua điện thoại hoặc gởi email trực tiếp cho ông.” (7)

Những thông tin này là tín hiệu đáng mừng, không thể chống dịch chủ quan duy ý chí như đã từng cải tạo công thương, cải tạo nông nghiệp đi lên XHCN nghĩa trước đây.

Nhưng điều đáng lo là cấp trên ông Nên, những địa phương khác trong cả nước vẫn đang trong cơn say thành tích truy tìm F0, F1, thẳng tay cách ly, phong tỏa, ngăn sông cấm chợ. Mỗi cán bộ, mỗi anh dân phòng là một sứ quân. Không chỉ bánh mì mà tiền, sửa, gạo, … đều có thể bị xem là hàng không cần thiết.

Thảm họa vẫn lơ lửng trên đầu người dân Việt. Thảm họa không phải do COVID-19 mà từ cách chống COVID của chính quyền.

_________________

https://www.facebook.com/doanngochai.2020

https://tuoitre.vn/quan-3-len-tieng-ve-thong-tin-tren-facebook-doan-ngoc-hai-20210727195516225.htm

https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/55-benh-vien-co-ca-f0-so-y-te-tp-hcm-ra-yeu-cau-khan-751857.html

3a-vn/súc-khoe/tp-hcm-hiên-co-3598-diêm-phong-toa-liên-quan-covid-19-tang-541-diêm-20210727075941492. htm

4-https://www.facebook.com/hieu.truong.370

5=https://www.facebook.com/t.nguyen.2016/posts/1279722975808350

6-https://laodong.vn/y-te/tphcm-con-noi-ap-dung-nguyen-tac-cung-nhac-gay-buc-xuc-trong-xa-hoi-930896.ldo

7-https://www.facebook.com/xuanson.vo.5

CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH BỞI TRỜI

CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH BỞI TRỜI

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Tôi có dịp hành hương sang Ai Cập, đi qua sa mạc mênh mông, lên đỉnh núi Sinai cao vời vợi và đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái.”

Tại sao phải mất 40 năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái?  Bài đọc 1 hôm nay nêu lý do.  Dân Do thái than vãn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê.  Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,3). 

Dân Do thái đã buông ra những lời trách móc nặng nề ông Môsê và ông Aharon.  Nhiều lần dân đã trách móc, xỉa xói và tỏ thái độ vô ơn bạc nghĩa đối với ông Môsê, vị đại ân nhân của họ: “Bên Ai Cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? … Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai Cập! Thà làm nô lệ Ai Cập còn hơn chết trong sa mạc!” (Xh 14,11-12); “(Thà) chúng tôi chết … trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê … (còn hơn là) vào sa mạc này, để … phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,2-3); “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì?  Có phải là để cho (chúng) tôi, con cái (chúng) tôi, và súc vật của (chúng) tôi bị chết khát hay không?” (Xh 17,3); “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập … Chúng tôi đã chán ngấy (manna) thứ đồ ăn vô vị này (rồi)” (Ds 21,5); “Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai Cập, hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong!  Sao Đức Chúa lại đem chúng tôi vào đất này để chúng tôi ngã gục dưới lưỡi gươm, để vợ con chúng tôi bị giặc bắt?  Chúng tôi trở về Ai Cập có tốt hơn không?” (Ds 14,2-4).  

Hành trình sa mạc với nhiều thử thách là dịp thanh luyện dân tuyển chọn khỏi nỗi nhớ “thịt béo, củ hành, củ tỏi Ai Cập.”  Suốt 40 năm, họ được thử thách, tinh luyện để vào đất hứa.  Đó là thời gian giáo dục để trở thành một dân tộc, một cuộc giáo dục từ từ, dạy họ tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa bằng cách thi thố những phép lạ, dạy họ tín nhiệm vào sự quan phòng của Thiên Chúa bằng cách ban manna, chim cút và nước vọt ra từ tảng đá.  Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người trong sa mạc là một sự hiện diện đầy yêu thương.  Môsê vị lãnh đạo là khuôn mặt nổi bật nhất suốt chặng đường gian truân này.

  1. Môsê, người của Thiên Chúa luôn sống liên đới với dân

 Môsê nhà lãnh đạo đã dành cả đời lo cho dân.  Ông đã trải qua biết bao đau khổ, sợ hãi và lo lắng để chăm sóc cho dân.  Nhưng dân lại trách móc, than phiền và mắng nhiếc ông.  Dân đối xử tệ bạc với Môsê.  Họ xem ông như chính là thủ phạm gây ra những đau khổ và bất hạnh cho họ và gia đình họ vậy.  Thật bất công!  

Vậy mà cả đời Môsê vẫn một mực yêu thương liên đới với dân, sống chết với dân trong lời táo bạo với Chúa mà thấm đượm lòng thương dân: “Tôi không muốn một mình sống hạnh phúc bên cạnh Chúa, nếu ở đó tôi không có Dân của tôi!”

Từ ngày được Thiên Chúa gọi để lãnh đạo Dân Chúa (Xh 3,10), Môsê dần dần thấu hiểu và thâm tín rằng: vị tư tế ở giữa dân Chúa không những phải sống hoàn toàn liên đới với Thiên Chúa, mà còn phải hoàn toàn liên đới với dân Chúa.

Môsê luôn là người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa và là vị lãnh đạo quảng đại, đầy lòng xót thương, liên đới với dân cho dù dân ‘cứng cổ’, tội lỗi, bất trung.

  1. Môsê, người của Thiên Chúa

Là tư tế, Môsê tường trình mọi việc của dân chúng ‘lên Thiên Chúa’ (Xh 18,19).  Ông đàm đạo và nhận chỉ thị của Thiên Chúa trong Trướng tao phùng (Xh 33,9); ông thể hiện vai trò trung gian của vị tư tế, môi giới giữa Thiên Chúa và dân, nối kết hai bên bằng máu giao ước (Xh 24,6-8); ông còn chọn Aharon và con cái Aharon để sung vào chức tư tế (Xh 28,1), cũng như thay mặt Thiên Chúa để tác thánh họ (Xh 29,1-46).  Chính việc tiếp xúc thường xuyên với ‘lãnh vực thánh’ đã dần dần khiến ông đi sâu về phía Thiên Chúa, đến độ Kinh Thánh đã không ngần ngại gọi ông là ‘người của Thiên Chúa’ (Tl 33,1; Yôs 14,6).

Môsê có những lúc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, được chan hoà sự hiện diện của Người, mặt ông đã rạng sáng lên, dọi chiếu lại vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà không một người phàm nào có thể nhìn thẳng được: “Aharon và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông” (Xh 34,30).  Khi ông vào Trướng tao phùng đàm đạo với Thiên Chúa, toàn dân phủ phục (Xh 33,7-11).  Ở đó, Thiên Chúa nói chuyện với ông như nói chuyện với một người bạn thân ‘diện đối diện’ (Xh 33,11).  Ông thật sự trở nên con người mà Thiên Chúa ‘biết’ đích danh và không ngần ngại đồng hành với ông (Xh 33,12-17).  Môsê táo bạo thỉnh cầu được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa (Xh 33,18-23).  Thiên Chúa đã nhượng bộ cho ông nhìn thấy Người…  Nhưng từ phía sau lưng: “… Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và Ngươi sẽ nhìn thấy phía sau Ta, nhưng Nhan Ta, người ta sẽ không nhìn thấy được” (Xh 33,23).

  1. Môsê, người liên đới với dân Chúa

Môsê được sống bên cạnh, thân mật với Thiên Chúa, và tâm trí ông luôn hướng về dân Chúa: “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, vì đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9).  Từ ngữ ‘chúng tôi’ ở đây thật cảm động!  Môsê đã không đặt mình trên dân, cũng không ở ngoài dân; nhưng hoàn toàn liên đới đến đồng hoá với dân, ngay cả nhận lãnh trách nhiệm về tội lỗi của dân.

Môsê bị phạt vì chính tội của dân, vì ông muốn liên đới với tội của dân: “Giavê đã phẫn nộ với cả ta nữa vì cớ các ngươi, mà rằng: cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không vào!” (Tl 1,37).  Hình phạt này đối với Môsê thật nặng nề và đau khổ.  Môsê đã phải nằm xuống trên núi Nêbô, tại vùng đất Môab.  Môsê chia sẻ hoàn toàn số phận của dân và dường như ông còn muốn ôm vào lòng cả thế hệ xuất Ai cập, thế hệ mà ông đã lãnh đạo, đã cầm tay đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa tại Sinai, đã yêu thương cũng như đã chịu đựng…  Thế hệ đó đã nằm xuống trong sa mạc.  Môsê vì thế cũng ‘không muốn’ vào Hứa Địa một mình khi vắng bóng dân!

Môsê đã đau khổ cùng dân và cho dân!  Môsê đã chết với dân và cho dân!  Khuôn mặt và đời sống của Môsê đã in đậm nét trong lịch sử dân Chúa.

Môsê luôn luôn bênh đỡ, cầu bầu cho dân trước mặt Thiên Chúa: “Phải! Dân này đã phạm một tội rất lớn… Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng; bằng không, xin Người hãy xoá tôi đi khỏi sách Người đã viết…” (Xh 32,30-32).

Lòng yêu thương, tình liên đới, thái độ bầu chữa, bênh vực dân của Môsê xuyên suốt trong quá trình ông lãnh đạo dân.  Môsê gắn bó cả cuộc đời và mạng sống mình với dân tộc Israel.

  1. Môsê là hình bóng của Đức Giêsu Kitô

 Môsê là vị cứu tinh, là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân.  Môsê là ngôn sứ nói với dân về Đấng Cứu Độ một lời danh tiếng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.  Đó là: Đức Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe lời vị ấy” (Tl 18,15).  Sau này, Têphanô vị tử đạo đầu tiên đã nhắc lại lời tiên tri đó (Cv 7,37); thánh Phêrô đã thấy thực hiện nơi Đức Kitô (Cv 3,22).  Chính Môsê đã làm chứng về “Vị Tiên Tri” đó (Lc 24,27; Ga 5,46).

Là trung gian làm nhịp cầu giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel, Môsê tiên báo Đức Kitô, Đấng trung gian cho một Giao Ước mới hoàn hảo hơn.  Dọc dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức.  Giao ước thứ nhất với Môsê trên núi Sinai.  Giao ước thứ hai với Đức Kitô trên núi bát phúc và được bảo chứng trên Núi Sọ.  Đây là Giao Ước Mới và là Giao Ước Vĩnh Cửu.

Đức Kitô, là Môsê mới đã hoàn thành tất cả những điều đã được ghi chép trong Lề Luật: “Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi Ta còn ở với các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật của Môsê và các tiên tri cùng Thánh Vịnh” (Lc 24,44).

Môsê đã đưa dân Israel nô lệ ở Ai Cập, xuyên qua sa mạc về Đất Hứa.  Đó là hình bóng và là tiên báo Chúa Cứu Thế, Đấng là Đường, là Ánh Sáng đưa Israel mới đi qua cuộc đời trần thế mà tiến về Đất Hứa, là thành Giêrusalem trên trời.

Đức Kitô là Môsê mới của Dân Chúa.  Tác giả thư Do thái quả quyết: “Trong mọi sự, Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương, vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2,17).  Chính Người đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên Vị Thượng Tế tuyệt đối trung tín với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa (Dt 5,5-6), đồng thời Người cũng đã thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người, đầy lòng xót thương đối với mọi người (Dt 5, 9) qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của mình làm lễ tế để kéo tình thương tha thứ của Thiên Chúa cho dân Chúa (Dt 5,8).  Để đền tội cho dân và đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đức Giêsu Nazaret đã dùng chính máu mình để thiết lập Giao Ước Mới, một lần nữa nối kết Thiên Chúa với con người (Mc 14,24; Mt 26,28; Lc 22,20; 1C 11,25; cf Xh 24,8) và dùng cái chết tự nguyện đau thương trên thập giá, bị liệt vào hàng tội nhân (Mc 15,22-37; Mt 27,39-50; Lc 23,33-46; Yn 19,17-30; Rm 8,3; cf Tl 34,5-6) để đáp lại lời thách đố của Môsê?  Từ đó, qua Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, chắc hẳn Môsê sẽ được chứng kiến và nghe lại lời này: “Tôi muốn sống hạnh phúc bên cạnh Đức Chúa, và ở đó có cả dân của tôi nữa!” (x. Môsê, vị lãnh đạo của Dân Chúa: trung tín và liên đới, ĐGM Giuse Võ Đức Minh, WHĐ).

  1. Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống đem lại sự sống đời đời

 Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu “đã lánh mặt đi lên núi một mình”. “Chiều đến,” các môn đệ xuống thuyền đi sang “bên kia Biển hồ;” còn Chúa Giêsu lát sau đó “đi trên mặt biển” mà đến với các ông.  Hôm sau, đám đông cũng xuống thuyền vượt qua Biển hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người.  Dân chúng sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc “vượt qua” khác, sâu xa hơn nhiều.  Đó là cuộc vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là Bánh Trường Sinh.

Chúa Giêsu biết dân chúng đi tìm mình chỉ vì đã được ăn bánh no nê.  Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự.  Chúa Giêsu muốn họ tìm đến lương thực trường tồn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.”  Chúa Giêsu nhắc cho họ, không phải Môsê đã cho họ manna, mà là Thiên Chúa.  Người bảo họ manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, manna chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa.  Bánh của Thiên Chúa chính là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người, không chỉ sự no đủ về phương diện thể lý mà còn là sự sống đời đời: “Chính tôi là Bánh Hằng Sống.  Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ.”

“Chính Tôi là Bánh Hằng Sống.”  Khẳng định long trọng của Chúa Giêsu không một chút mông lung, mơ hồ.  Một ý tưởng, một lý tưởng hay một lý thuyết thì có thể mơ hồ, nhưng một con người có danh xưng cụ thể thì không.  Bánh sự sống, lương thực đem lại sự sống và là sự sống vĩnh cửu, bất hoại, chính là bản thân Chúa Giêsu.  Và để đón lấy một con người, một Đấng làm sự sống và lẽ sống cho mình, thì “công việc” phải làm là “đến với” và “tin vào” Người.

Liên tiếp trong 4 tuần lễ kể từ Chúa nhật hôm nay, phụng vụ Lời Chúa đọc lại gần như toàn bộ chương 6 Phúc âm Thánh Gioan về Bánh Hằng Sống.  Đây là cơ hội để khám phá ý nghĩa của Mầu Nhiệm Thánh Thể.  Mỗi Chúa Nhật một khía cạnh khác nhau. Tuần 1: Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời; Tuần 2: Bánh Ban Sự Sống; Tuần 3: Tấm Bánh Thánh Thể, và Tuần 4: Tấm Bánh Lời Chúa.

Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời, không phải là đã “rớt xuống” như mana trong sa mạc.  Người là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát.  Lời của Chúa Giêsu, sứ vụ của Chúa Giêsu, cuộc sống của Chúa Giêsu đều là bánh nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng.  Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống.  Chúa Giêsu chính là Môsê mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn khôn ngoan cho nhân loại.  Chỉ có Chúa Giêsu mới làm thỏa mãn cơn đói đời đời.  Người được Thiên Chúa đóng ấn, là chân lý của Thiên Chúa nhập thể.

Để được sống trường sinh, Thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Bài đọc 2).

Sự công chính và thánh thiện chủ yếu là chết đi con người cũ để sống yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương.  Không ai có thể đến với Thiên Chúa Hằng Sống để được sống trường sinh mà không qua Con Đường Giêsu, vì đây là Con Đường Thật, Con Đường dẫn đến Sự Sống.

“Đến với” và “tin vào”, khao khát và no thoả.  Đó là hành trình của tình yêu, một hành trình vô giới hạn, không cùng, là sự cất cánh của tình yêu càng lên cao, càng lên cao mãi trong huyền nhiệm Thiên Chúa.

Mỗi lần rước lấy Thánh Thể, Tấm Bánh Bởi Trời, chúng ta phải cảm nghiệm được Chúa Giêsu như tâm điểm luôn thu hút chúng ta đến với Người và đến với nhau, làm cho tất cả nên một, một tấm bánh duy nhất: Bánh của tình thương.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trận bịnh dịch virus corona (Covid 19) đã xảy ra hơn một năm nay, đến ngày hôm nay 05 tháng 05 năm 2021 đã lắng dịu. Số người bị bịnh và số người chết đã giảm xuống rõ rệt. Chừng nào tình trạng lây lan virus này chấm dứt hẳn, chưa biết?

**Cũng do không thể vào nhà thờ được nên lớp Tân Tòng mới tổ chức học trên Zoom, nhờ đó con trai tôi là Phùng A. Quốc, mới chịu học đạo, (học qua Zoom) và đã làm lễ rửa tội (thanh tẩy) vào đêm lễ Vọng Phục Sinh ngày 02 tháng 04 năm 2021 vừa qua.

**Vì lý do không thể rời khỏi nhà được trong cuối tháng 03 và đầu tháng 04 -2020 nên thầy Bạch và vợ chồng thầy Hưng (Lan) đã thành lập Zoom để đọc kinh mân côi và kinh lòng thương xót Chúa. Như vậy anh chị em gặp nhau trong Zoom hàng ngày 3 lần 8 giờ sáng, 3 giờ trưa và 9 giờ tối.

Đứa cháu nội Jayden, cũng như bao nhiêu người khác, phải ở trong nhà, nên cũng tham gia đọc kinh do thầy Hưng, cô Lan, tổ chức đọc kinh mỗi tối và do thói quen đó mà Jayden vẫn đều đặn đọc kinh mỗi tối cho đến ngày hôm nay.

Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Khi chúng ta thiệt thòi cái gì, Chúa sẽ đền bù cái khác cho chúng ta.

Những thử thách, những sự hy sinh, chịu đựng, những khó khăn, đau khổ, sau khi qua đi rồi, thông thường chúng ta được đền bù điều gì đó, cái gì đó tốt hơn.

** Nếu tôi không ở tù khổ sai gần 8 năm trong các trại cải tạo lao động của cộng sản, đã chịu đựng đói khổ triền miên, đã chịu nhiều đau khổ từ tinh thần đến vật chất từ trại Long Thành, Thủ Đức, Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh… Nếu ở tù dưới ba năm, tôi sẽ không được xếp vào diện HO, được đi cả gia đình (6 người) sang Mỹ định cư.

Ngày hôm nay các con tôi đều có gia đình riêng, có công ăn việc làm ổn định. Nếu không có đi tù cộng sản, tôi và các con tôi chắc cũng còn ở lại Việt Nam, đâu có hưởng được đời sống tự do, cuộc sống tiện nghi, ổn định, bình an. Riêng tôi không còn sợ cộng sản quấy nhiểu, theo dõi, hay bắt tôi bỏ tù lần nữa, tập trung cải tạo lần nữa.

Tạ ơn trời để cho tôi đã chịu đựng được những khó khăn, đau khổ gần 8 năm trong các trại cải tạo khắc nghiệt ở miền Bắc Việt Nam.

(Bỏ đỡ đầu của Phùng Quốc (2 người bên trái) cùng với gia đình  chụp hình kỹ niệm với Cha Chánh Xứ)

 

 

 

 

 

Phùng Quốc đã rửa tội trong mùa dịch Virus Corona

Phùng Văn Phụng

Ngày 05/05/2021

NHÀ VÔ ĐỊCH THẾ GIỚI VỚI LỜI CẦU NGUYỆN

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

NHÀ VÔ ĐỊCH THẾ GIỚI VỚI LỜI CẦU NGUYỆN

Nhiều cảm xúc đan xen khi cô Hidilyn Díaz bước lên bục nhận huy chương vàng Olympic lịch sử vì là lần đầu Philippines đạt được danh hiệu cao quý này.

Vận động viên 30 tuổi cất cao bài quốc ca xen lẫn nước mắt hạnh phúc trên khuôn mặt. Cô không chỉ phá kỷ lục cá nhân của chính mình khi nâng tổng cộng 224 kg qua đầu (97 kg trong cử giật và 127 kg trong hai lần đẩy), mà cô còn phá kỷ lục thế giới ở hạng cân 55 kg cử tạ dành cho Nữ.

Lễ trao giải tại Tokyo hôm thứ Hai vừa qua còn đặc biệt hơn khi cô giơ huy chương lên để giới thiệu trước đám đông. Nhưng đó không phải là huy chương vàng lấp lánh mà cô vừa chiến thắng, mà là một huy chương Đức Mẹ cổ đeo trên cổ.

Nhà tân vô địch thế giới bày tỏ sự ngạc nhiên khi nói rằng mình cũng không thể tin được là có thể nâng được mức tạ như thế:

“Tôi không thể nghĩ tại sao mình có thể nâng được trọng lượng đó. Tôi tin Chúa làm và nhờ lời cầu nguyện của mọi người dành cho tôi. Tôi biết ơn tất cả những người đã cầu nguyện và làm tuần cửu nhật cho tôi”.

Tấm huy chương vàng mà Diaz dành được là nỗ lực phi thường của cô. Tuy nhiên cô rất khiêm tốn khi nói lời cám ơn tất cả những người đã ủng hộ cô và cầu nguyện cho cô trên con đường tiến đến chức vô địch. Cô chia sẻ thêm về sức mạnh của lời cầu nguyện như sau:

“Những người bạn của tôi đã làm tuần cửu nhật trong chín ngày để cầu nguyện cho tôi trước khi bước vào thi đấu, và chính tôi cũng làm một tuần cửu nhật để cầu nguyện cho mình. Đó là dấu chỉ cho niềm tin vào Mẹ Maria và Chúa Giêsu Kitô ”.

Những lời cầu nguyện cô và những lời cầu nguyện của tất cả gia đình, bạn bè và những người đồng hành với cô đã được nhậm lời. Philippines đã tham dự giải thi đấu Thế vận hội từ 97 năm qua, nhưng đây là huy chương vàng đầu tiên mà Diaz mang về cho đất nước cô.

Gx. Cần Giờ – DCCT

Dịch bệnh dưới góc nhìn của Kinh Thánh

Dịch bệnh dưới góc nhìn của Kinh Thánh

Những ngày này chúng ta hồi hộp với đại dịch virus corona. Số người tử vong và mắc bệnh tăng lên từng giờ. Đó chưa đến mức thảm họa, nhưng chắc chắn là bầu không khí u ám phủ đầy Trung Quốc, những nước lân cận và cả thế giới. Dĩ nhiên trước con virus này, ai cũng hy vọng các nhà khoa học sớm tìm ra phương thuốc chữa trị!

Trong lịch sử lúc nào cũng có bệnh tật. Thi thoảng nhân loại phải đương đầu với đại dịch cướp đi sinh mạng của vô số nạn nhân (HIV/AIDS, Đậu mùa, Sởi, Lao, Sốt rét, SARS, Ebola, v.v…). Trong Kinh Thánh, chúng ta cũng có thể đọc được những trình thuật nói về những lần đại dịch bệnh xẩy ra. Qua đó, chúng ta được nhiều bài học từ những lần đại dịch này.

  1. Thiên Chúa ở đâu trong các tai ương?

Vào thời cổ đại, người ta chứng kiến hằng loạt tai ương dân Ai Cập phải gánh chịu. Số là vua Pharaô một mực không để cho dân Ít-ra-en xuất hành trở về quê hương. Sau khi Môsê là người lãnh đạo dân, không thể thuyết phục Pharaô, Đức Chúa cho nước biến thành máu[1], nạn ếch nhái đánh phạt toàn thể lãnh thổ Ai Cập; nạn ruồi, muỗi, nhặng hoành hành. Từng đó tai ương vẫn chưa lay động lòng cứng cỏi của Pharaô. Thiên Chúa tiếp tục phái ông Môsê đến nói với Pharaô: “Hãy thả dân Ta ra, để chúng thờ phượng Ta” (Xh 9,1). Ông vẫn cố chấp. Hệ quả tiếp theo là ôn dịch xảy ra giết chết mọi xúc vật của người Ai Cập. Ngoài ra, khắp vùng phải chịu nạn châu chấu, cảnh tối tăm.

Tai họa sau cùng là các con trai đầu lòng Ai Cập đều bị sát hại. Tất cả vì lòng chai dạ đá của nhà vua mà thần dân của ông phải chịu biết bao tai họa. Những tai họa, dịch bệnh vẫn thường xảy ra. Thiên Chúa không tạo ra những tai ương đó! Kinh Thánh vận dụng các yếu tố thiên nhiên để diễn tả rằng: “tất cả ở trong quyền năng của Thiên Chúa.”

Rời Ai Cập, dân Chúa phải lang thang trong sa mạc 40 năm. Nơi đây, chính dân Chúa cũng nhiều lần cứng lòng tin, chối bỏ Thiên Chúa. Họ đòi  trở lại Ai Cập, vì trong sa mạc quá hà khắc và tương lai mịt mù. Thiên Chúa đã cho rắn độc đến sát hại nhiều người. Chính Đức Chúa lại cho họ phương thuốc chữa trị khi bị rắn cắn (x. Ds 21,4-9).

Cũng trong thời gian này, người dân Ít-ra-en phải đối diện với nhiều dịch bệnh[2]. Một trong những cơn đại dịch bệnh mà nó kéo dài cho tới thời đại chúng ta: bệnh phong (x. Ds 12, 10-15 và Đnl 24,8-9). Dĩ nhiên thời đó không có thuốc chữa. Họ cũng chẳng biết đó là con vi khuẩn Mycobacterium leprae (Hansen) tấn công. Tất cả bệnh nhân phong đều phải cách ly tuyệt đối và họ chết dần chết mòn với căn bệnh này.

Dù trong thời nào đi nữa, bệnh dịch luôn là nỗi ám ảnh cho con người. Khi lâm bệnh, con người cảm nghiệm được: Thế nào là sự bất lực, giới hạn và đau khổ của kiếp người! Bệnh tật khiến con người ý thức về cái chết nhiều hơn. Trong nỗi đau đớn đó, nhiều người gào thét lên: “Thiên Chúa ở đâu trong khi con phải chịu căn bệnh này?”

Vâng, Thiên Chúa vẫn có đó, Ngài hiểu được những gì con người phải gánh chịu. Thời Cựu Ước và Tân Ước, người Do Thái nhìn nhận bệnh tật trong tương quan với Thiên Chúa. Khi bệnh dịch xuất hiện, họ than thở với Chúa (x. Tv 38) và xin Ngài cứu chữa. Thực vậy, khi họ trở về nẻo chính đường ngay, Thiên Chúa sẽ ra tay quyền lực để cứu họ. Thiên Chúa không vắng bóng khi dịch bệnh hoành hành.

Vả lại, bệnh tật có khi trở thành con đường hoán cải. Và Thiên Chúa có tha thứ thì bệnh nhân mới được lành (x. Tv 32,5; 107,20; Mc 2,5-12). Nghe có vẻ ngồ ngộ trong thời đại của chúng ta! Tuy vậy, đó là quan niệm rất xa xưa trong dân Do Thái. Không có khoa học, y khoa tân thời, dân Ít-ra-en tin rằng bệnh tật liên quan cách huyền nhiệm với tội lỗi và sự dữ. Do đó, càng trung thành giữ luật Chúa, họ càng tránh xa được dịch bệnh, tật nguyền. Họ tin chính Thiên Chúa ban cho họ sự sống, “vì Ta là Chúa, là Lương Y của ngươi.” (Xh 15,26).

  1. Thời Tân Ước với những căn bệnh

Cần lưu ý rằng Cựu Ước cũng như Tân Ước đều khởi đi từ cái nhìn đức tin: Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành và là chủ tể muôn loài muôn vật và lịch sử. Thiên Chúa có thể dùng mọi biến cố, kể cả dịch bệnh để dạy dỗ con người. Thiên Chúa luôn cứu con người khỏi dịch bệnh, khi họ kêu cầu, thống hối.

Trước khổ đau của nhân loại, Đấng Cứu Độ đã xuất hiện: Đức Giêsu Kitô. Ngài không giấu giếm sứ mạng của mình nơi trần gian là: loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. (x. Lc 2,18-19). Chỗ khác, Tin Mừng ghi lại sứ mạng của Đức Giêsu: “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” (Mt 11,2-6). Sứ mạng ấy vẫn tiếp diễn trong năm 2020 này, và cho đến muôn đời.

Có thể nói lời rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu thường đi đôi với những phép lạ. Vì Đức Kitô cảm thương người bệnh tật và chữa lành nhiều kẻ yếu đau (x. Mt 7,24), nên Ngài chữa lành họ với quyền năng và lòng thương xót[3]. Từ những ai bị quỷ ám, câm điếc, bại liệt, kinh phong, cho đến những người đã chết, Chúa Giêsu đã đoái thương họ. Đó là dấu chỉ tỏ tường Thiên Chúa viếng thăm dân người (Lc 7,16) và Nước Trời đã gần kề.

Đừng quên chính Đức Giêsu cũng mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta. (x. Mt 8,17; Is 53,4). Nhờ đó, con người được giải thoát khỏi tội lỗi, bệnh tật và cái chết.

Sau khi phục sinh, chính Đức Giêsu sai phái các môn đệ, các tông đồ đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.” (Mc 6,12-13). Thuở Giáo Hội sơ khai, người ta đã chứng kiến nhiều phép lạ xảy ra[4]. Suốt dòng lịch sử Giáo Hội, phép lạ chữa lành bệnh tật cũng không thiếu. Nhất là những ai có dịp đến những nơi hành hương (Lộ Đức, Fatima hoặc Đức Mẹ La Vang, v.v…) có thể thấy biết bao dấu tích, câu chuyện và lời tạ ơn về sự chữa lành của Thiên Chúa.

Đó là quyền năng và sự lạ lùng của Thiên Chúa. Ngài có tự do để chữa cho người này khỏi bệnh, người kia gặp thầy gặp thuốc. Chắc chắn thân phận con người không thể thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tử. Tuy nhiên, khi chúng ta gặp phải bệnh dịch, “Thiên Chúa muốn cứu chữa chúng ta cả xác lẫn hồn, Người mời gọi ta tin nơi Người và nhận ra rằng Nước Chúa đang đến.” (Youcat 241).

Trong dịch bệnh, Thiên Chúa không bỏ con người. Chính Thiên Chúa mời gọi con người nên tin tưởng vào quyền năng Chúa. Dĩ nhiên không ai muốn dịch bệnh, nhưng nó vẫn thường xảy ra.

  1. Lời kết

Chắc luôn còn đó những thắc mắc liên quan đến dịch bệnh xảy ra trong đời thường. Trong bản văn Kinh Thánh cũng thế. Một mặt, chúng ta thấy Thiên Chúa có vẻ “trừng phạt” dân (nhất là trong Cựu Ước), vì dân chống lại Thiên Chúa, họ không tin vào Ngài nữa. Mặt khác, khi dịch bệnh bào mòn sức khỏe con người, dân mới nhận ra lỗi lầm của mình, mà trở về với Thiên Chúa. Kết quả là họ được chữa lành và tiếp tục dấn thân.

Chúng ta đang sống trong thời đại của kỹ thuật khoa học, của những phát minh vĩ đại về y khoa. Mọi bệnh tật đều có nguyên nhân. Các nhà khoa học tin rằng mình có thể tìm ra phương pháp chữa trị. Nhiều người hoàn toàn không tin vào những chuyện “vớ vẩn”: van xin Thiên Chúa ra tay chữa lành. Với họ, tôn giáo và khoa học, hay y khoa hoàn toàn tách biệt! Tiếc rằng các nhà khoa học luôn bị thách đố bởi nhiều dịch bệnh mới. Nó như con quái vật, chặt đầu này nó mọc ra đầu khác, ngày càng hung dữ hơn. Vi trùng và virus luôn có những biến tướng. Nhiều thứ vi trùng, virus đã kháng thuốc, phải tìm thuốc mới. Khoa học vẫn không toàn năng!

Là người tín hữu, chúng ta có cái nhìn khang khác mỗi khi dịch bệnh xảy ra. Người quá khích cho đó là quả báo của những người tàn ác, chống lại Thiên Chúa. Người đạo đức cho rằng đó là dấu chỉ để mời gọi họ trở về với Thiên Chúa. Không ít người van xin Thiên Chúa soi sáng cho các nhà nghiên cứu tìm ra phương thuốc chữa trị. Trên hết, chúng ta tin rằng dù có khổ đau, bệnh tật, Thiên Chúa không bỏ con người. Ngài hằng ở với và đồng cam cộng khổ với con người. Từ đó, chúng ta được cứu độ và giải thoát.

Trước dịch virus corona, Đức Giáo Hoàng Phanxicô rơi lệ cầu nguyện cho các nạn nhân. Ngài nói thêm:

“Tôi mong ước gần gũi và cầu nguyện cho những bệnh nhân gây bởi virus đang lan rộng khắp Trung Quốc. Xin Thiên Chúa đón nhận những người đã qua đời trong bình an của Ngài, an ủi gia đình của họ và nâng đỡ sự dấn thân lớn của cộng đồng Trung Hoa.”

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[1] Tác giả Kinh Thánh mượn yếu tố tự nhiên để làm nổi bật uy quyền toàn năng của Thiên Chúa.
[2] Xem sách Lêvi chương 13: mụn, lác, đốm; ung nhọt; phỏng; chốc; mày đay; sói đầu.
[3] Chữa người phong hủi (Mc 1, 40-42); Người chữa lành hai người mù (Mt 20, 29-34; Mc 10, 46-52); Người làm cho người câm nói được (Lc 11, 14); chữa người phụ nữ băng huyết (Mt 9, 20-22; Mc 5, 25-34); và Người làm cho một bé gái sống lại (Mt 9, 18. 23-25; Mc 5, 35-42).
[4] Xem thêm: https://thsedessapientiae.net/cac-phep-la-trong-sach-cong-vu-tong-do/

Những phương pháp TỰ CHỮA TẠI NHÀ (VIRUS VŨ HÁN)

Lm Bs Antôn Phạm Hữu Tâm

VIRUS VŨ HÁN đang bùng phát ở VN và Thái Lan: phòng ngừa và chữa trị TẠI NHÀ.

Bài 2: Những phương pháp TỰ CHỮA TẠI NHÀ

Cho đến hôm nay, chưa có phương pháp chữa trị chính xác cho Covid-19 vì còn quá mới, y khoa chưa đủ thời gian thử nghiệm chắc chắn. Tuy nhiên, một số thuốc được chấp thuận sử dụng “emergency use” như Remdisivir (IV antiviral), Baricitinib ( kinase inhibitor), convalescent plasma. Tôi không thêm chi tiết mất giờ các bạn, vì những thuốc này chỉ được sử dụng bởi các bác sĩ chuyên môn, và khá hiếm trong môi trường VN và Thái.

  1. Thuốc có thể mua tự do và tự sử dụng.

Ba triệu chứng chính của Covid-19 là nóng sốt, ho và khó thở. Ngoài ra, nhiều người cũng bị mất vị giác, khứu giác, nhưng không có thuốc gì giúp, chỉ đợi thời gian phục hồi.

  1. Chữa Nóng Sốt

– Acetaminophen (Tylenol, Panadol) là tốt nhất. Ibuprofen cũng được, nhưng có vài quan tâm về an toàn với Covid.

– Uống nhiều nước (nước lã hoặc nước trái cây, tránh soda hoặc nhiều đường có thể làm khát thêm) vì nóng sốt làm cơ thể mất nước.

– Nghĩ ngơi.

  1. Chữa Ho.

– Hút nước ngụm nhỏ (small sips), nhiều lần trong ngày làm cổ họng ẩm và dể chịu.

– Uống nước ấm (warm beverages): làm ấm khí quản và tan đàm.

– Một muổng mật ong (honey) trong trà nóng.

– Xông hơi (có thể thêm dược thảo, dầu nóng): làm ấm và mở rộng khí quản (dễ thở), loãng đàm, giảm đau cổ họng.

– Súc cổ họng với nước muối (gargle salt water): giảm đau và sạch cổ họng.

– Ngậm kẹo ho (cough drops, lozenges): làm ẩm cổ dể chịu.

– Uống Thuốc Ho (Robitussin, Mucinex, dextromethorphan, menthol…)

  1. Chữa Khó Thở.

– Hít vào thở ra chậm, hơi dài

– Giảm sợ hải / relaxation / meditation

  1. Vitamins tăng sức đề kháng cho cơ thể.

– Vitamin C: giúp kháng cự vi trùng, vi khuẩn, là một loại kháng viêm tự nhiên.

– Vitamin D: tăng kháng thể, là một trong những vitamins quan trọng.

– Vitamin A: giúp chống nhiễm trùng, đặc biệt về phổi.

– Zinc: hiệu quả hơn nếu uống trong vòng 24-giờ sau khi nhiễm bệnh.

– Selenium: là một loại antioxidant, giúp cơ thể kháng cự vi trùng và ung thư.

– Mật ong (raw honey): có khả năng antioxidant và kháng viêm. Có thể pha vào trà nóng hoặc nước chanh.

– Tỏi (garlic): tăng đề kháng, chống vi trùng.

– Probiotics

– Tất cả những loại vitamins kể trên không giết vi trùng, nhưng tăng sức đề kháng trong cơ thể. Từ đó, kháng thể sẽ tìm diệt vi trùng (tương tự như tăng nhiều lính tốt để tiêu diệt kẻ thù xâm nhập).

  1. Sự hổ trợ, tình yêu của gia đình và bạn bè cũng nâng đỡ tinh thần người bệnh. Sự vui vẻ, yêu đời cũng tăng sức đề kháng trong cơ thể.
  2. Niềm tin tôn giáo cũng giúp thêm sức mạnh cho cơ thể, gia tăng sức đề kháng, tạo niềm hy vọng giúp tinh thần vươn lên, chiến đấu mạnh mẻ hơn. Nghiên cứu cho thấy cầu nguyện cũng giúp cơ thể và tinh thần mạnh mẻ hơn, thêm sức chiến đấu.

Xin Thiên Chúa là Cha thương yêu, chữa lành bệnh Covid cho bạn. Xin Ngài tăng thêm niềm tin, tình yêu, hy vọng và ý nghĩa cuộc đời cho bạn. Xin Mẹ Maria luôn ôm ấp, xoa dịu sự đau đớn, lau khô những giọt mồ hôi, đắp chăn khi bạn co ro.

Trong tình yêu của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Tôi sẽ nhớ cầu nguyện cho bạn.

Lm Bs Antôn Phạm Hữu Tâm

VĨNH BIỆT EM CÔ GÁI VỚI NỤ CƯỜI TỎA NẮNG!

Nguyễn Xuân Diện

VĨNH BIỆT EM CÔ GÁI VỚI NỤ CƯỜI TỎA NẮNG!

Em một cô gái ở tâm dịch Sài Gòn đã “Không ngồi yên 1 chỗ, không ra đường là yêu nước”.

Em tham gia nhóm thiện nguyện bếp cơm Chân trời Việt, nấu cơm, chuyển quà đến các khu bị cách ly.

Không may Con Covid nó đã cướp em đi.

Hiện nay cha mẹ em cũng đang điều trị ở bệnh viện.

Cô gái có nụ cười tỏa sáng còn sống mãi trong tâm trí những người đã cùng em rong ruổi trên những con đường thiện nguyện.

Đi thanh thản – Em gái!

Bài thơ chép vội của một bạn gửi em:

Ôi, em là ai tôi chưa từng gặp.

Đọc tin này sao nghẹn đắng con tim.

Em ra đi khi thành phố im lìm.

Yên nghỉ nhé cô gái cười toả nắng.

Phố Sài gòn hôm nay sao vắng lặng.

Tiễn đưa em cô gái thiện tâm.

Vì đồng bào em đã dấn thân mình.

Không nề hà nơi hiểm nguy rình rập.

Vì đồng bào em đã không tiếc sức.

Nay em ngã rồi.

Yên nghỉ nhé em ơi!!!

Nguồn: Fb Đặng Như Quỳnh

https://www.facebook.com/9354249/posts/10125958680373334/…

5 Chữ “ĐỪNG” giúp bạn sống thanh thản.

 Le Tu Ngoc

5 Chữ “ĐỪNG” giúp bạn sống thanh thản.

Cái đừng thứ nhất: Có tiền đừng hà tiện

Tiền khi sinh chẳng mang theo đến, khi tử chẳng mang theo đi. Sức khỏe mới là thứ quan trọng hơn nhiều, có sức khỏe thì mới có tất cả.

Trong dân gian có câu nói: “Không sợ kiếm ít tiền, chỉ sợ chết sớm”. Có sức khỏe thì ngại gì không kiếm được tiền. Vì sức khỏe, khi nào cần chi tiêu thì hãy chi tiêu, có tiền đừng hà tiện quá.

Cái đừng thứ hai: Có phúc đừng chờ đợi

Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa. Nên tranh thủ thời gian hưởng thụ cuộc sống, đừng vì con cháu mà làm việc quá sức, làm cố quá là sát thủ nguy hiểm nhất của sức khỏe.

Cái đừng thứ ba: Có tình yêu đừng buông bỏ

Cuộc đời thật ngắn ngủi, tình yêu lại không dễ tìm kiếm, cho dù yêu hay được yêu đều là duyên phận, đều nên đón nhận, nếu ngày hôm nay bạn bỏ lỡ, chưa chắc đã có lần thứ hai cho bạn chọn.

Cái đừng thứ tư: Tức giận đừng để trong lòng

Trong cuộc đời, ai cũng có thể phải gặp những chuyện khó khăn hay không vừa ý, đừng nên vì thế mà “nộ khí xung thiên”. Tức giận là tồn tại khách quan, không nên giữ ở trong lòng, nín thở thì khí sẽ ứ tắc, khí ứ tắc thì sẽ sinh bệnh.

Gặp phải những sự việc khiến ta tức giận, hãy tìm người để khai thông nó, thổ lộ ra hết, như vậy sẽ gỡ bỏ nó nhanh hơn, nội tâm sẽ yên bình trở lại.

Bạn bè chính là công cụ “thông tức khí” tốt nhất, cũng là nguồn động viên, khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh tốt nhất cho bạn.

Cái đừng thứ năm: Có thù hận đừng ghi nhớ

Lòng dạ khoáng đạt, dùng thiện lương nhân ái để đối đãi, không để ý những chuyện nhỏ, gạt bỏ ân oán, cũng không để thù hận trong lòng. Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống.

S.T.

ảnh: một cây ô liu cổ thụ ở Puglia, Italy, được gọi là The Thinking Tree.

May be an image of outdoors and tree

KTS LỪNG DANH NGÔ VIẾT THỤ

Liên Trà

fb Tran Nam Anh

KTS LỪNG DANH NGÔ VIẾT THỤ

Nhân câu chuyện con gái ông mất ngày hôm qua, tin do ông Đoàn Ngọc Hải đưa, cùng đọc và biết về người tài trăm năm mới có được.

Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ trước khi rời Sài Gòn có căn dặn:

“Không được phát triển thành phố Sài Gòn về hướng Nam – Đông Nam. nếu muốn mở rộng Sài Gòn thì hãy mở rộng về hướng Tây – Tây Bắc. Vì hướng Nam – Đông Nam là nơi duy nhất thoát nước cho thành phố Sài Gòn.”

Các bộ óc “vĩ đại” đã cho phát triển Sài Gòn về hướng Nam – Đông Nam nên hệ lụy là vô phương cứu chữa về nạn ngập lụt cho thành phố Hồ Chí Minh hiện tại!

Vậy Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ Là Ai? Lời ông nói có đáng tin không?

Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã trở thành một cây cao bóng cả của giới kiến trúc sư Việt Nam với nhiều công trình nổi tiếng và đồ sộ để lại như:

  1. Dinh Độc Lập (nay là Hội trườngThống Nhất),
  2. Viện Hạt nhân Đà Lạt,
  3. Viện ĐH Huế,
  4. Đại chủng viện Đà Lạt,
  5. Chợ Đà Lạt,
  6. Thánh đường Kẻ Sặt thuộc điạ phận Biên Hòa …,
  7. Viện nguyên tử Đà Lạt (Nay thuộc viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam)
  8. Nhà thờ chính tòa Phủ Cam
  9. Nhà thờ Bảo Lộc
  10. Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn,
  11. Trường Đại học Y khoa Sài Gòn,…
  12. Khu công nghiệp An Hòa Nông Sơn,
  13. Nhà máy dệt Phong Phú,
  14. Khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962),
  15. Xây dựng mở rộng Khu Hội nghị Quốc tế tầng trên cùng của Khách sạn Majestic,
  16. Thương xá Tam Đa (Crystal Palace),
  17. Biệt thự góc Nguyễn Thị Minh Khai và Phạm Ngọc Thạch (trước là tư gia của ông bà Ưng Thi, nay là Tòa Lãnh Sự Trung Quốc),
  18. Chung cư Pháp góc đường Điện Biên Phủ và Trần Quốc Thảo,
  19. Tháp Tiêu Năng Khu cửa ngõ vào Trung tâm TP HCM từ đường Điện Biên Phủ,
  20. Trung tâm Innotech (1975),
  21. Quần thể Việt Nam Quốc Tự (chỉ xây dựng được khoảng 1/8 vì lý do thời cuộc),
  22. Quy hoạch Kiến trúc Khu Thánh địa La Vang (với điêu khắc của điêu khắc sư Nguyễn Văn Thế), và
  23. Câu lạc bộ Thủy Thủ Quảng Ninh.

như Nhà thờ chính tòa Vĩnh Long (1963),

  1. Trụ sở Hàng không Việt Nam (1972),

kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976),

  1. Bệnh viện Sông Bé 500 Giường (1985),
  2. Khách sạn Century Huế (1990),

…còn vô số các công trình, mà ngay cả các đồng nghiệp của ông cũng không thể nhớ hết…

Ngô Viết Thụ không chỉ đơn giản là một kiến trúc sư thiết kế những công trình để lại dấu ấn sâu sắc mà ông còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc,…Những công trình kiến trúc của ông là sự tổng hòa giữa nét đẹp Á Đông và nét cổ điển của kiến trúc phương Tây.

Ngoài ra ông còn sành sỏi các loại nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm và sáo, và là một nhà thơ có tài, để lại hàng trăm bài thơ và bài viết.

Khi còn là sinh viên kiến trúc Paris, ông Ngô Viết Thụ đã đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức.

Nhờ đó, năm 1955 ông được ưu tiên mời tham dự giải Khôi nguyên La Mã mà không phải thi vòng loại sơ tuyển, chỉ dự thi ở ba vòng trong. Đây là một cuộc thi danh giá nên phải ganh đua với hàng trăm thí sinh xuất sắc của Âu châu.

Cuối cùng, cuộc thi chỉ còn có 10 người vào chung kết. Đề thi cuối cùng là phác họa một ngôi thánh đường trên hòn đảo nhỏ vùng Địa Trung Hải.

Rồi ông nhận được kết quả đã đoạt giải với 28 phiếu thuận của hội đồng, trừ một phiếu nghịch.

Ngày hôm sau báo chí Pháp loan tin: Một người Việt Nam đoạt giải Khôi nguyên La Mã với số phiếu tuyệt đối 28/29.

Tại sao ông chỉ nhận được có 28 phiếu mà họ lại nói ông đạt phiếu tuyệt đối? Là do báo chí Pháp rất nhạy bén, họ điều tra biết được trong 29 thành viên ban giám khảo thì một vị có học trò ruột cùng tranh giải với ông Thụ nên đương nhiên ông này sẽ không bao giờ chấm cho ai khác ngoài học trò của mình. Lá phiếu bị thiếu của ông Thụ chính là do ông giám khảo kia không bỏ, thành ra báo chí Pháp vẫn cho rằng ông Thụ xem như đạt điểm tuyệt đối là vì vậy.

Sau khi ông đoạt giải Khôi nguyên La Mã và kết thúc thời gian sống, làm việc ở cung điện Medicis tại Rome theo học bổng của giải thưởng, rất nhiều văn phòng KTS danh tiếng ở Pháp, Ý và một số nước khác đã đánh tiếng mời ông về làm việc với mức lương hậu hĩnh. Tương lai rộng mở, ông có thể cùng vợ con định cư tại châu Âu để chung sống và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi.

Từ năm 1960, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ về Việt Nam Cộng Hòa làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông đã tổ chức triển lãm các dự án nghiên cứu của ông ở châu Âu tại Tòa Đô Chính Sài Gòn. Chính quyền và dư luận lúc ấy rất quan tâm đến dự án nối kết Sài Gòn với Chợ Lớn của ông bằng một khu trung tâm hành chính quốc gia mới. Rất tiếc là vì lý do thời cuộc và kinh phí eo hẹp, dự án này không thực hiện được.

Ông là thành viên Hội Kiến trúc Sư Pháp SADG (Société des Architectes Diplômés par le Gouvernement) Từ 1955. Thành viên Kiến trúc sư Đoàn Việt Nam từ năm 1958. Năm 1962, Ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) đồng lúc với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin.

Sau năm 1975, Ông là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam, và cũng là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư TP HCM các nhiệm kỳ I, II, III, và IV. Ông là thành viên tổ chuyên gia tư vấn kiến trúc cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thời gian đương nhiệm của ông Kiệt.

Ông Ngô Viết Thụ rất giỏi nhưng phong cách sống rất giản dị. Năm 1993 ông được CQ thành phố Đà Lạt mời về thăm nhân kỷ niệm 100 năm hình thành, tôi chở ông bằng chiếc Honda cúp 80, xuống hồ ở Thung lũng Tình yêu với phong thái nhẹ nhàng, ông vẫn mặc bộ vest với chiếc quần tây màu xám nhạt, quần ống nhỏ thuộc model thập kỷ 60, ông không đồng ý việc CQ Tp DaLat nối thêm 1 phần khách sạn Mộng đẹp kéo dài để thành KS Hải Sơn ( bây giờ). Theo ông việc nối thêm một dãy công trình vào KS cũ của ông đã thiết kế trước đây làm che khuất tầm nhìn chợ DaLat hướng đi từ dốc Lê Đại Hành, nếu làm được thì ông đã làm từ trước ngày giải phóng rồi. Vì thế khi bố trí ông nghỉ tại KS Anh Đào phải hủy bỏ mà bố trí ông nghỉ ở khách sạn khác kẻo ông sẽ ngừa mắt khi nhìn đưa con tinh thần mình bị chắp vá làm mất vẻ đẹp mỹ quan công trình chợ DaLat vốn có ban đầu.

KIẾN TRÚC SƯ NGÔ VIẾT THỤ: MỘT NHÀ TRÍ THỨC TÀI NĂNG VÀ ĐỨC ĐỘ

*Khôi nguyên La Mã, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ sinh năm 1926 trong một gia đình nghèo ở Lang Xá, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Cha ông là Ngô Viết Quang, một giáo sư Trường Kỹ thuật Huế và là một nhà Nho học uyên thâm. Ông cũng là người thiết kế kiến trúc và trang trí cho một số công trình của dòng họ tại Huế. Lớn lên trong môi trường đó, Ngô Viết Thụ rất giỏi về Hán Nôm và cũng là một thợ tiện có tay nghề cao.

Hết trung học, ông thi đậu Cao đẳng kiến trúc Đà Lạt (một campus của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương) và khăn gói lên đường. Lạ đường lạ xá, ông thấy một thiếu nữ bên đường bèn hỏi thăm. Mà người đó chính là Võ Thị Cơ, mối nhân duyên tiền định sau này thành phu nhân của ông.

Sau này cha của Võ Thị Cơ muốn tìm một sinh viên thật giỏi và có đạo đức, để làm gia sư dạy kèm cho con cô con gái cùng mấy đứa em trong nhà. Và chàng sinh viên mà ông ưng ý lại chính là Ngô Viết Thụ.

Ngày đó, Ngô Viết Thụ nổi tiếng là một chàng sinh viên kiến trúc học giỏi và đẹp trai. Lúc đầu anh chỉ mới xem cô gái Võ Thị Cơ khi ấy như người em, cho nên dù quen và đi chơi với cô gái nào, cũng về kể lại hết cho cô nghe. Nhưng với thời gian, anh nhận ra cô là người có phẩm hạnh đáng quý hơn hết, vì vậy mà tình cảm giữa hai người dần dần nảy nở, phát triển và làm đám cưới vào năm 1948.

Đám cưới với chàng sinh viên nghèo được cha cô Cơ hết sức ủng hộ vì yêu quý người tài. Và vì nhà có điều kiện nên giúp con rể tiền bạc đi qua Pháp du học. Người vợ trẻ vì không muốn chồng áy náy vì phải nhờ vả nhà mình nên đã xin nghỉ học ở nhà phụ giúp cha mẹ buôn bán.

Kiến trúc sư Thụ cảm ân tình của vợ, không dám ham chơi như các bạn đồng học tại Paris, mà dành hết thời gian vào việc học mong có ngày thành tài. Sau này ông kể có nhiều buổi dạ vũ tại đại học xá, âm nhạc vang vọng, các bạn sinh viên cử các cô đầm lên gõ cửa phòng để trêu ghẹo người nhưng ông vẫn lặng lẽ ngồi trong phòng miệt mài vẽ các đồ án, bên cạnh tấm hình vợ bồng con gái đầu lòng.

Tại Pháp, Ngô Viết Thụ miệt mài học tập ở trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. Trong quá trình đó, ông xuất sắc đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức. Năm 1955, ông bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư xuất sắc D.P.L.G.

Cũng năm 1955, Học viện Hội họa và Điêu khắc tổ chức “Giải thưởng lớn Rôma” thường được gọi là giải “Khôi nguyên La Mã”. Đây là giải thường có truyền thống lâu đời từ năm 1663 ở Pháp dưới thời vua Louis XIV, dành cho những tài năng trẻ trong lĩnh vực âm nhạc, hội họa, điêu khắc và kiến trúc. Vì là giải thưởng rất danh giá và lâu đời nên cuộc thi quy tụ được hàng trăm thí sinh xuất sắc nhất châu Âu.

Ngô Viết Thụ được ưu tiên mời tham gia cuộc thi này. Vì trước đó ông đã đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức nên không cần tham gia vòng ngoài mà trực tiếp vào thi 3 vòng sau cùng. Ngô Viết Thụ đã xuất sắc vượt qua 2 vòng liền để lọt vào vòng chung kết với 10 thí sinh còn lại.

Để chuẩn bị cho bài thi của mình, Ngô Viết Thụ đã miệt mài vẽ kiến trúc công trình Ngôi thánh đường trên Địa Trung Hải. Đến lúc chỉ còn 1 tuần nữa là hết hạn thì ông mới nhận ra rằng mình đã mắc sai lầm khi chọn phương án thiết kế theo phong cách cổ điển. Ông quyết định bỏ hết phương án đã vẽ trong thời gian trước đó, để thay bằng một phương án hoàn toàn mới.

Ông đã tự thiết kế một thiết bị nhỏ giúp ông một mình vẽ nhanh một đồ án trên một diện tích giấy rộng trên 10 thước vuông mà chỉ mất chưa đầy 1 tuần. Đồ án tuyệt vời này đã giúp ông thành người Vệt Nam đoạt giải “khôi nguyên La Mã” với số phiếu 28/29. Cánh nhà báo lúc đó còn điều tra và giải thích rằng 1 phiếu nghịch mà Ngô Viết Thụ nhận được là do trong số 29 vị giám khảo có 1 vị có học trò cùng tranh tài, nên ông ta chỉ bỏ phiếu thuận duy nhất cho học trò của mình.

Khi kết quả được công bố, bạn bè của Ngô Viết Thụ, chủ yếu là người Pháp, đã sung sướng công kênh ông lên vai trên những con phố ở Paris trong niềm vui sướng vô hạn.Cho đến tận hôm nay, Ngô Viết Thụ là người châu Á duy nhất đoạt được giải thưởng “Khôi nguyên La Mã” này.

Năm 1955, ngay sau khi biết tin đoạt giải, Ngô Viết Thụ chạy ra bưu điện gửi hai điện tín về Huế cho cha mẹ và về Đà Lạt cho vợ con. Gia đình ông rất hãnh diện và nhận được nhiều lời khen tặng và chúc mừng của người thân, bạn bè và chính quyền thời đó.

Lúc này danh tiếng của Ngô Viết Thụ đã bay xa. Rất nhiều công ty ở Pháp, Ý và châu Âu mời ông về làm việc với mức thu nhập rất cao. Ông cũng hoàn toàn có thể cùng vợ và gia đình đến định cư ở châu Âu.Nhưng khi Giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Hội đến thăm cha của ông ở Huế và nhắn lời của lãnh đạo chính quyền Sài Gòn lúc đó muốn mời ông về Việt Nam giúp đất nước, cha của ông viết một bài thơ và nhờ Giáo sư Hội mang giúp sang cho con trai kèm theo hai trái xoài trong vườn nhà. Nhận thơ cha, Ngô Viết Thụ hiểu ý và họa lại bằng bài thơ Cá gáy hóa long, đại ý nói mình không quên nguồn gốc và sẽ về giúp đất nước…

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mời ông về nhận chức Bộ trưởng bộ Xây Dựng vào năm 1960, khi ông mới 34 tuổi. Bộ này vào thời ấy nắm luôn cả Xổ số Kiến thiết vốn đang hái ra tiền.Vốn không quen với việc làm quan, Ngô Viết Thụ rất băn khoăn và chia sẻ điều này với vợ. Vợ khuyên ông không nên nhận vì ông vốn là người giỏi nghệ thuật sáng tạo chứ không phải là chính khách.

Ông liền từ chối vị trí này, nhưng trước thịnh tình của Tổng thống, ông nhận làm cố vấn và sẽ mở “Văn phòng tư vấn kiến trúc và chỉnh trang lãnh thổ” cho phủ tổng thống. Từ đó Việt Nam Cộng Hòa không có Bộ Xây dựng, việc quy hoạch do ông Ngô Viết Thụ cùng văn phòng của ông nghiên cứu phát triển, rồi Tổng nha Kiến Thiết nghiên cứu thực hiện.

“Văn phòng tư vấn kiến trúc và chỉnh trang lãnh thổ” của Ngô Viết Thụ được mở tại 104 Nguyễn Du và số 8 Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Ông đã thiết kế nhiều công trình lớn như: Dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Nguyên tử Đà Lạt nay thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (1962-1965), Làng Đại học Thủ Đức (1962), Công trường Mê Linh (1961), cùng một số công trình lớn không nhưng không thể xây dựng do thời cuộc. Ngoài ra ông còn thiết kế hàng chục công trình cho các tỉnh thành khác.

Ngô Viết Thụ cũng là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F.A.I.A.) cùng thời với một số kiến trúc sư danh tiếng như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin.

Sau tháng 4/1975, Ngô Viết Thụ phải đi học tập cải tạo 1 năm. Cuộc sống đột nhiên lâm cảnh khốn khó, bà Lâm Thị Cơ phải tần tảo một mình vất vả nuôi con. Đến lúc Ngô Viết Thụ hết hạn cải tạo về nhà thì vợ ông đã rất yếu vì vất vả, bà ra đi năm 1977 trong sự thương tiếc vô hạn của ông cùng gia đình. Năm đó ông Thụ mới 51 tuổi. Bạn bè có giới thiệu cho ông nhiều người khác nhưng ông vẫn quyết ở vậy.

Trong những năm tháng này, ông thiết kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976), Bệnh viện Sông Bé 500 Giường (1985), Khách sạn Century Huế (1990), phác thảo chùa Trúc Lâm Đà Lạt (sau này do một nhóm KTS Lâm Đồng tiếp tục thực hiện phần khai triển chi tiết và thi công). Trên quy mô rộng hơn, ông cộng tác trong Quy hoạch Tổng Mặt Bằng của Hà Nội (đến năm 2000), và Quy hoạch Hải Phòng. Ông là thành viên ban giám khảo quốc tế trong cuộc thi thiết kế quy hoạch Nam Sài Gòn (1993).

Ngô Viết Thụ không chỉ là một kiến trúc sư, ông còn là một nghệ sỹ đa tài. Ông từng có các bức tranh nổi tiếng như Thần tốc, Hội chợ, Bến Thuyền, và bộ tranh Sơn hà cẩm tú. Bộ tranh này và được treo trong Dinh Độc Lập, gồm có 7 bức, mỗi bức dài 2 m và rộng 1 m. Ông tổ chức nhiều triển lãm cá nhân về quy hoạch, kiến trúc, điêu khắc, và hội họa, trong đó có triển lãm tại Tòa Đô chính (1960), tại Nhà Triển lãm Công viên Tao Đàn (1963) và tại Viện Kiến trúc Philippines ở Manila (1963), triển lãm lưu động tại Viện Smithsonian và một số thành phố khác tại châu Âu (hàn lâm viện Pháp tại Rome và Paris 1956, 1957, 1958) và tại Mỹ (1963).

Ông cũng là một nghệ sĩ điêu khắc (tác phẩm điêu khắc kim loại đặt trước toà đô chánh, nay không còn), và sành sỏi các loại nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm và sáo, và là một nhà thơ có tài, để lại hàng trăm bài thơ và bài viết.

Ông qua đời ngày 9 tháng 3 năm 2000 tại nhà riêng số 22 Trương Định, Quận 3, TP. HCM do tai biến mạch máu não. Ban tổ chức đám tang KTS Ngô Viết Thụ đã cho dừng linh cữu xe tang trước cổng Dinh Độc Lập để vong hồn ông được nhìn lại lần cuối tác phẩm ông đắc ý nhất trong số các tác phẩm kiến trúc mà ông đã thực hiện trong suốt cuộc đời.

Ông bà có tám người con nhưng chỉ có một người con theo nghề kiến trúc sư là KTS Ngô Viết Nam Sơn. Anh tốt nghiệp Tiến sĩ Quy hoạch và Kiến trúc tại Đại học Washington (Mỹ) và bằng Thạc sĩ Quy hoạch & Kiến trúc ở Đại học California tại Berkeley (UC Berkeley, Mỹ). Anh từng thành công với nhiều dự án lớn ở Mỹ như đại học Washington tại Seattle. Đại học California tại San Francisco; dự án quy hoạch khu nhà ở thương mại cao cấp Lachine ở Montreal (Canada); quy hoạch xây dựng Phố Đông và hai bờ sông Hoàng Phố (Thượng Hải – Trung Quốc); quy hoạch đô thị mới Filinvest (Philippines); Almaden Plaza, San Jose (Mỹ)…; thành viên nhóm thiết kế khu đô thị Nam Sài Gòn, quy hoạch khu đô thị Hà Nội Mới, quy hoạch lại Đà Nẵng, Phú Quốc…

KTS Ngô Viết Thụ thật là một trí thức lớn, tinh hoa của dân tộc. Người vô cùng tài ba, đức độ, sống trọn tình, vẹn nghĩa với gia đình, đất nước và được công nhận trên trường quốc tế. Chuyện về ông là câu chuyện về một con người tài năng, yêu nước, một gia đình tử tế trung hậu, chuộng nghĩa tình và không coi trọng bạc tiền. Những người như ông, tiếc thay giờ đây hiếm hoi vô cùng.

S.T.

Cô ơi.., cô có còn chút đồ ăn thừa buổi trưa không ạ?

Lien Huynh is with Bảo Linh.

Hà Thành, 15h ngày 28-7-2021.

Đang ngồi trong cửa hàng thì thấy một cậu trai tầm 17,18 tuổi thập thò ngó vào.

Cô ơi.., cô có còn chút đồ ăn thừa buổi trưa không ạ?

Có việc gì thế con?

Dạ, con đói quá, nếu có đồ ăn thừa cô cho con xin bát cơm.

Cô không có đồ thừa, nếu con đói thì cô nấu mì cho con ăn nhé.

Thằng bé quay đi quay lại ngó nghiêng rồi ấp úng: Cô ơi, cô có thể nấu cho con hai bát được không ạ? Còn còn một người anh nữa, chúng con đã hơn một tuần nay không có gì ăn.

Ngó ra ngoài không thấy ai, thằng bé chạy ngược lại gọi to: Anh ơi, có cái ăn rồi…

Lúc đó mới thấy một cậu thanh niên nhỏ xíu, đi loạng choạng vừa đi tới.

Mình bảo hai đứa: Đang giãn cách nên cô không mời con vào nhà được, lỡ công an họ tới thì phiền cả cô và con, hai anh em chịu khó ngồi ngoài chờ cô nấu mì cho nhé.

Thằng bé đến trước bảo: Cô ơi, con đói lắm cô có thể nấu cho hai anh em con ba gói mì được không ạ?

Được mà con, chờ cô nhé.

Mang cái bàn kính và bình nước ra cho hai đứa ngồi chờ, thằng bé em làm một hơi hết bình nước, lại mang bình nữa ra thì thằng anh cũng làm một hơi, như thể hai anh em nó vừa từ sa mạc trở về, vội vàng chạy vào nấu mì rồi mang ra cho hai anh em nó.

Trời ơi, hai đứa nó cảm ơn rối rít rồi ăn ngon lành, loáng cái nồi mì chỉ còn lại nước, mình bảo: Cô nấu mì bằng nước hầm thịt bò, các con húp hết nước cho đỡ phí.

Thằng bé ấp úng: Anh em con không dám húp nước, để lại xin cô thêm hai gói mì nữa bẻ vào, chúng con đói quá.

Trời ạ, muốn ăn thêm thì cứ bảo cô nấu thêm chứ sao phải làm vậy?

Lại chạy vào nấu thêm hai gói mì nữa mang ra, hai đứa ăn ngon lành.

Lúc này mới tranh thủ hỏi chuyện: Hai đứa ở đâu, làm gì, bao nhiêu tuổi?

Có vẻ lúc này hai đứa cũng tạm no và thoải mái hơn lúc mới đến, nói chuyện mới biết hai anh em quê ở Hà Trung- Thanh Hoá lên Hà Nội phụ hồ, thằng anh 21 tuổi, thằng em 15 tuổi, quãng 10 ngày trước hết việc nhưng chủ không thanh toán tiền, thì lại gặp đúng đợt giãn cách, không có tiền về quê nên hai anh em nhịn đói cả tuần, hôm nay đói quá, thằng anh thì đi có vẻ không vững nên đánh liều đi xin ăn.

Chúng cháu ăn xong đi bộ ra quốc lộ nếu gặp xe thì xin họ cho đi nhờ về quê.

May gặp cô cho chúng cháu ăn một bữa no, cháu không dám xin cô tiền, cô cho ăn là quý lắm rồi ạ, cô đừng đăng ảnh cháu lên mạng nhé.

Trước khi hai đứa đi, chỉ kịp dúi vào tay chúng nó thêm mấy gói mì và mấy cái khẩu trang và chai nước, dặn dò hai anh em nếu đêm đói thì nhờ ai nấu hoặc bẻ mì ra ăn tạm.

Đã hứa với hai anh em nó là không đưa lên fb, nhưng từ lúc chúng nó đi trong lòng mình ngập tràn nỗi bất an, liệu chúng nó có gặp xe để đi về quê được không, và nếu phải đi bộ về quê thì mấy gói mì có đủ cho anh em nó cầm hơi không? Biết thế lúc đó cứ dúi cho chúng nó ít tiền đi đường.

Và tự hỏi: Hôm qua thủ tướng Phạm Minh Chính vừa bảo không để ai phải ở lại phía sau, không để ai phải đói.

Hai cậu trai này là đồng hương của anh Chính đấy, và anh có biết có thể sắp tới sẽ có nhiều người lâm vào cảnh thiếu ăn như hai cậu trai này không?

Đất nước những ngày buồn thật buồn, vậy mà có kẻ vẫn leo lẻo:

Đất nước chưa bao giờ có vị thế như ngày hôm nay.

Fb Lien Huynh.

Tuổi già là hồng ân

Tuổi già là hồng ân

Mon, 26/07/2021

Tác giả:  Đinh Văn Tiến Hùng

 TUỔI GIÀ LÀ HỒNG ÂN

 Nhân Ngày Thế Giới lần thứ nhất dành cho Ông bà và Người cao niên, Đức Thánh Cha Phanxicô rộng ban Ơn Toàn xá cho quí ông bà, người cao niên và tất cả các tín hữu tham gia vào ngày này “với điều kiện sám hối và thực hành việc bác ái.”

Hôm thứ Sáu 23 tháng 7, một video đã được Bộ Giáo dân, Gia đình và Cuộc sống công bố trong đó có lời cầu nguyện chính thức cho Ngày Thế Giới Ông Bà Và Người Cao Niên vào ngày 25 tháng 7, với sự góp mặt của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, các ông bà từ khắp nơi trên thế giới và vị giám mục cao niên nhất còn sống, năm nay 101 tuổi, là Giám mục hiệu tòa của Trois-Rivières, Québec, Canada; đó là Đức Cha Laurent Noël

Thật là hoàn hảo và hân hoan vì chúng ta đã có :

= Tháng 5 ngày cho Mẹ : Mother’s Day

= Tháng 6 ngày cho Cha : Father’s Day

= Tháng 7 ngày cho Ông Bà & người cao niên: Grandparent & Older Person’s Day

= Tháng 9 ngày cho Ông Bà : Grandparent’s Day đã được TT Jimmy Carter ký thành luật năm 1978 và mừng vào Chúa nhật đầu tiên tháng 9 hàng năm.

( Nhưng ít được nói đến, thật là có lỗi với người sinh ra cha mẹ mình- Đừng quên ngày này tặng hoa biểu tượng Forget-me-not là hoa Lưu ly và bài hát chính A Song For Grandma And Grandpa )

Và ngày 14/12/1990, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận 1/10 hàng năm là ngày cho Người Cao Niên : International Day of Older Persons

*Tuổi già trong đạo Công giáo.

-Hồng Ân nối tiếp hồng ân,

Mỗi ngày Thiên Chúa muôn phần thương ta.

Hồng Ân nối tiếp hồng ân,

Mỗi ngày ta lại đến gần Chúa hơn,

Không phải đến bây giờ Giáo Hội và ĐGH Phanxicô mới nghĩ đến ông bà và những người cao tuổi.

Thật ra, nếu ta mở Kinh Thánh sẽ đọc được nhiều dòng nói đến người già, trong sách Huấn Ca- Thánh Vịnh- Khải Huyền… :

-Gốc rễ của khôn ngoan là kính sợ Chúa- Cành lá của khôn ngoan là cuộc đời trường thọ. ( Hc.1 : 20 )

–Người cao niên phán đoán, bậc kỳ lão chỉ bảo. Thật đẹp đẽ biết bao, sự khôn ngoan của các kỳ lão !

Tư tưởng ý kiến của các bậc danh nhân, thật đẹp đẽ chừng nào! ( Hc.25 : 4-6 )

-“Ai yêu mến cha mình thì đền bù tội lỗi.
Ai thảo kính mẹ mình thì như người thu được kho tàng.
Hỡi người làm con, hãy gánh lấy tuổi gìà cha ngươi,
chớ làm phiền lòng người khi người còn sống.
Trí khôn người suy giảm, con cũng hãy nể vì,
đừng nhục mạ người khi con đương sức trai tráng.

Của dâng cho cha sẽ không rơi vào quên lãng.
Của biếu cho mẹ sẽ đền bù tội lỗi
và xây dựng đức công chính.
vào ngày bĩ cực, công việc của con sẽ được nhớ đến,
như băng giá trời tối, tội con sẽ tan đi.
Người lộng ngôn, khinh cha, dể mẹ,
là xúa phạm đến Thượng đế – Đấng tác thành nên họ.

( Hc.3 :1- 6 )

–Khi còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý, nhưng khi về già, con sẽ dang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn. Và Tin Mừng khẳng định: Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ phải chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa (x.Ga 21, 15-19)

-Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục- Mạnh giỏi chừng là được tám mươi-Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó. Cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi ! ( Tv.89 : 10 )

-Già cỗi vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh tươi, để loan truyền rằng : Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công. ( Tv.92 : 13- 16 )

-Cả lúc già nua, da mồi tóc bạc, Lạy Chúa xin đừng bỏ rơi con, để con tường thuật quyền năng

Chúa. Các thế hệ này được rõ và dũng lực con Ngài cho thế hệ mai sau. ( Tv.71 : 18 )

-24 Kỳ lão biểu tượng triều đình Thiên Chúa. ( Kh.4 : 4 )

-Tuổi già là Hồng ân của Thiên Chúa, là Phúc lành Chúa ban ! ( St.10 : 10- 32 )

-Đầu bạc là một triều thiên vinh dự. ( Cn.16 : 31 )

Và 2 câu truyện tuổi già mà Chúa vẫn ban cho có con để nối tiếp dòng dõi :

+ Truyện bà Sa-ra vợ tổ phụ Abraham :

Trong những ngày ấy, Chúa hiện ra cùng Abraham dưới chòm cây ở Mambrê, đang lúc ông ngồi ở cửa lều giữa trưa nóng bức. Ông ngước mặt lên thấy ba người nam xuất hiện, đứng gần ông. Vừa trông thấy, từ cửa lều, ông chạy ra đón các vị ấy, rồi sấp mình lạy và thưa rằng: “Lạy Chúa, nếu con được đẹp lòng Chúa, xin đừng bỏ đi qua. Con xin lấy ít nước để các Ðấng rửa chân, và nghỉ mát. Con xin đem ít bánh mời các Ðấng dùng để lấy sức lại rồi sẽ đi: chính vì thế mà các Ðấng đã ghé vào nhà con”. Các Ðấng ấy nói: “Như ông đã ngỏ, xin cứ làm”.

Abraham liền vào lều và bảo Sara rằng: “Hãy mau mau trộn ba đấu bột làm bánh nướng”. Còn ông, ông chạy đến đàn bò bắt một con bê non hảo hạng, trao cho đầy tớ đem đi nấu. Ông lấy bơ sữa và thịt bê đã chín, dọn ra trước mặt các Ðấng. Chính ông đứng hầu các Ðấng dưới bóng cây.

Ăn xong, các Ðấng hỏi Abraham rằng: “Sara bạn ông đâu ?” Ông trả lời: “Kìa, bạn con ở trong lều”. Một Ðấng nói tiếp: “Ðộ này sang năm, khi Ta trở lại thăm ông, thì cả hai vẫn còn mạnh khoẻ, và Sara bạn ông sẽ được một con trai”. Sara đứng sau cửa lều nghe vậy thì bật cười, vì cả hai đã già nua tuổi tác: Sara đã qua thời kỳ sinh nở. Bà cười thầm rằng: “Tôi đã già, ông nhà tôi đã lão, nào tôi còn tìm lạc thú nữa sao!” Chúa phán cùng Abraham rằng: “Sao Sara lại cười mà rằng: “Nào tôi đã già mà còn sinh nở được sao ?” Ðối với Chúa, có gì khó đâu? Theo đúng kỳ hẹn, độ này sang năm, Ta sẽ trở lại thăm ông, cả hai vẫn còn khoẻ mạnh, và Sara sẽ được một con trai”. Sara chối mà rằng: “Con không có cười”, bởi vì bà khiếp sợ. Nhưng Chúa đáp lại: “Không đúng, bà có cười”.

+ Truyện bà Êlisabét vợ tư tế Dacaria :

Theo tường trình của Phúc Âm thánh Luca, Gioan Tẩy Giả – hay còn gọi là Gioan Baotixita, Gioan Tiền Hô, Gioan Tiền Sứ – sinh ra tại Herbon, vào cùng một năm Chúa cứu thế ra đời. Gioan là con của thầy tư tế Dacaria và bà Êlisabét, chị họ của Đức Maria. Hai ông bà đã lớn tuổi nhưng vẫn chưa có con. Cả hai không ngừng cầu khẩn xin Chúa ban cho một người con nối dõi tông đường. Nhận thấy lòng đạo đức của họ, Chúa dủ lòng thương sai sứ thần đến báo: “Dacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi. Elisabéth vợ ngươi sẽ sinh hạ cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ gọi tên con trẻ là Gioan..” (Lc 1,13)

Dacaria hoài nghi, vì thế Chúa để ông bị câm trong suốt hơn 9 tháng trời, cho đến ngày đặt tên cho Gioan. Gioan lớn lên và được giáo dục trong bầu không khí đạo đức. Đến năm thứ 5 đời hoàng đế Tibêriô, tức năm 28 sau công nguyên, có tiếng Thiên Chúa gọi Gioan trong hoang địa, tức vùng đồi núi Giuđê. Gioan sống khắc khổ: ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo lông lạc đà và ngang lưng thắt dây da. Cuộc đời Gioan thật gương mẫu.

Có lần Chúa Giêsu đã công khai nói với dân Do Thái: “Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”. (Mt 11,11)

-Ngoài ra trong 10 giới răn Chúa truyền : 3 giới răn đầu Thờ phượng Chúa- 7 giới răn sau là yêu người, đứng đầu là điều thứ 4 : Thảo kính cha mẹ.

-Trong nhiều Cáo phó ta thường thấy hàng chữ ‘ Vô cùng đau xót ‘ ta nên thay bằng ‘ Niềm hy vọng vào Chúa Phục sinh ‘ vì chết chỉ là đổi sang đời sống mới tốt đẹp hơn.

-Đúng như lời cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận khẳng định : ‘ Đó là giờ xinh đẹp nhất ! Giờ của Sự Sống chứ không phải Sự chết. Đó là lúc gặp gỡ Chúa, chúng ta sẽ trông thấy Người. Người đứng đó chờ đợi chúng ta và cùng với Người chúng ta cũng sẽ gặp Mẹ Maria. ‘

-Những Thánh Lễ kỷ niệm ngày Thành Hôn, những tiệc mừng Sinh Nhật của các cụ, là dịp để con cháu quây quần thật tươi vui cảm động, nhắc nhớ cho các cụ một dĩ vãng đẹp khó quên.

*Tuổi già trong đời sống qua Ca dao- Tục ngữ.

-Ta đừng tránh né người già,

Thương yêu giúp đỡ lòng ta an bình,

Ta đừng chỉ nghĩ cho mình,

Tuổi già cô quạnh cần tình yêu thương.

-Kính lão đắc thọ.

-Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.

-Gừng càng già càng cay,

-Yêu trẻ, trẻ đến nhà; yêu già, già để tuổi cho.

-Tuổi trẻ phải lo xa, tuổi già lo phòng hậu.

-Mẹ già đầu bạc như tơ,

Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.

-Đi đâu mà bỏ mẹ già,

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng ?

-Mẹ già ở chốn lều tranh,                                                                                                 

Sớm thăm tối viếng, mới đành dạ con.

-Mẹ già như chuối chín cây,

Sao anh dạo bắc, chơi tây chưa về ?

-Cầu cho cha được thanh nhàn,

Cầu cho mẹ được an khang tuổi già.

-Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già,

Chẳng lo liệu trước, ắt là lụy sau.

-Núi bao nhiêu tuổi núi già ?

Trải bao năm tháng vẫn là núi non.

-Đố ai đếm được vì sao,

Đố ai đếm được công lao mẹ già.

-Mẹ già như chuối ba hương,

Như xôi nếp mật, như đường mía lau,

Đường mía lau càng lâu càng ngát,

Xôi nếp mật ngào ngạt hương say.

-Tám mươi ngả gậy ra ngồi,

Hỏi rằng xuân có tái hồi hay không ?

Xuân rằng xuân chẳng tái hồi,

Bốn dài, hai ngắn mà lôi xuân vào.

…………………

*Những tiêu cực & bệnh tật của tuổi già cần được giúp đỡ.

Theo thời gian, hiện tượng lão hóa nơi người già càng thấy rõ hơn. Các giác quan suy giảm, nhiều bệnh phát sinh về hệ thống Thần kinh- Hô hấp- Tim mạch- Tiêu hóa- Xương khớp- Tiết niệu…

Cộng thêm những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người già vì : Không khí ô nhiễm- Thực phẩm không an toàn- Kỳ thị chủng tộc- Khác biệt ngôn ngữ và phong tục tập quán…

Những bệnh tật và yếu tố trên làm cho người già hay quên, cảm thấy cô đơn, bất lực trước nhiều việc không tự săn sóc cho mình, tính tình giống trẻ thơ hay giận dỗi, ngại tiếp xúc, ít khi đi ra ngoài xã giao.

Người cao tuổi nếu sức khỏe và tinh thần còn khả quan có thể tập Thiền- Yoga- Thể dục nhẹ như đi bộ- Viết văn thơ- Thú vui nghệ thuật như Hội họa- Âm nhạc- Chơi cây cảnh, cá hay chim và không hút thuốc.

Không nghiên cần sa hay bia rượu mạnh.

Riêng những cán sự y tế có nhiệm vụ săn sóc người già tại Viện Dưỡng Lão hay tư gia cần phải học qua những khóa chuyên môn để hiểu biết phương pháp và tính tình người cao tuổi mới đạt kết quả mong muốn trong việc làm.

*Kinh nguyện được đọc bằng những ngôn ngữ khác nhau với nội dung sau:
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa cho con được an ủi qua sự hiện diện của Chúa:
Ngay cả trong khi cô đơn lẻ loi, Chúa là hy vọng và là niềm tin tưởng của con;
Chúa là đá tảng và thành trì của con từ thời niên thiếu!
Con cảm tạ Chúa đã ban cho con một gia đình, và đã ban phúc cho con được sống lâu dài.
Con cảm tạ Chúa về những phút giây vui mừng và khó khăn, về những giấc mơ đã thành sự thật trong cuộc sống của con, và về những gì vẫn đang còn phía trước.
Con cảm ơn Chúa về thời gian này khi Chúa mời gọi con tiếp tục mang lại hoa trái.

Lạy Chúa xin ban thêm đức tin cho con; xin biến con thành khí cụ bình an của Chúa;
Xin dạy con đón nhận những người đau khổ hơn con; xin dạy con đừng bao giờ thôi ước mơ,
và dạy con tường thuật những điều kỳ diệu của Chúa cho các thế hệ trẻ.
Xin bảo vệ và hướng dẫn Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Giáo hội, để ánh sáng Tin Mừng có thể chiếu rọi đến tận cùng trái đất.
Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến canh tân thế giới, để cơn bão đại dịch được dịu êm,
để người nghèo được an ủi và chiến tranh chấm dứt.
Xin nâng đỡ con khi yếu đuối và giúp con sống tràn đầy mỗi giây phút Chúa ban cho con,
với xác tín rằng Chúa ở với con mọi ngày cho đến tận thế. Amen

Kết thúc bài viết về Tuổi già, xin mượn đôi dòng khuyên nhủ đời của văn sĩ Anderson là hãy ‘ Bằng lòng về chính mình ‘, để riêng tặng các đôi bạn già đang chung sống bên nhau biết nhẫn nhục quên mình và chân thành yêu thương, sẽ thấy hạnh phúc trong quãng đời còn lại.

 Bằng lòng về chính mình

Hans Christian Andersen, văn sĩ Ðan Mạch sống vào khoảng cuối thế kỷ 19, là tác giả của những câu chuyện dạy đời bất hủ. Ông có kể câu chuyện như sau:

Có một đôi vợ chồng già nọ sống bên nhau rất hạnh phúc. Thật ra người nắm giữ bí quyết hạnh phúc trong gia đình này chính là người vợ. Lúc nào bà cũng hài lòng về bất cứ hành động nào của người chồng. Một hôm, người vợ đề nghị với chồng là nên bán bớt một con bò. Thật ra tất cả tài sản của họ chỉ là đôi bò.

Người chồng tán thành ý kiến của vợ. Ngay từ sáng sớm, ông dắt bò ra chợ. Nhưng đường dài, mặt trời mỗi lúc một chói chang. Con bò già lại không thể bước nhanh. Do đó khi thấy một người nông dân khác cũng đang dắt heo ra chợ bán, người chồng mới có ý nghĩ đem đổi bò lấy con heo. May ra con heo có thể đi nhanh hơn không?

Ðổi được con heo và đi được một quãng đường, người chồng lại cảm thấy không thoải mái chút nào. Con heo cứ muốn đi theo hướng của nó. Vừa bực tức với con heo, ông lại thấy một người nhà quê khác cũng đang dắt dê ra tỉnh. Ông nghĩ rằng dê có thể là con vật ít cồng kềnh hơn con heo, cho nên ông mới nấn ná đến người chủ dê để đề nghị hoán đổị.

Ðổi được dê, người đàn ông như cảm thấy nhẹ nhõm trong người. Nhưng chỉ trong vài phút đồng hồ, ông mới khám được cái tính bất thường của loài dê. Nó chạy bên này, nhảy bên kia, nó đưa sừng húc khắp mọi nơi…. Giữa lúc ông ngán ngẩm với con dê, thì bỗng đâu một người nhà quê khác tiến lại gần ông với cả một đàn ngỗng. Con ngỗng dù sao cũng ít cồng kềnh hơn con dê. Nghĩ vậy cho nên ông mang con dê đến đổi lấy một chú ngỗng trắng. Ôm lấy chú ngỗng vào lòng, người đàn ông cảm thấy thoải mái hơn bao giờ hết. Ông tin chắc là mình sẽ đến chợ sớm hơn. Nhưng chưa đến chợ, thì ông lại thấy một người buôn gà. So sánh gà với ngỗng, dĩ nhiên gà phải nhẹ hơn… Tính toán mãi, cuối cùng, ông đã đem chú ngỗng đến đổi lấy một con gà.

Mặt trời mỗi lúc một lên cao. Cơn khát như muốn đốt cháy cổ họng ông. Bụng ông lại trống rỗng. Vừa thấy một quán ăn bên vệ đường, người đàn ông không còn cầm được cơn cám dỗ. Ông đành phải đem con gà bán đi với giá một đồng bạc. Một đồng này vừa đủ cho một bữa ăn trưa cộng với một ly biạ.

Những người đàn ông trong quán ăn biết chuyện mới tỏ ra ái ngại cho giây phút ông phải đối đầu với người vợ. Thế nhưng, con người luôn luôn được vợ hài lòng ấy vẫn tỏ ra bình thản. Ông tin tưởng rằng vợ ông sẽ không boa giờ trách móc ông. Một người đàn ông có máu cờ bạc, không tin ở thái độ của bà vợ ông, cho nên mới đề nghị đánh cá. Ôngta đưa ra hai mươi đồng và đi theo người đàn ông về đến nhà. Ôn núp một nơi kín đáo để theo dõi phản ứng của người vợ.

Quả thực, người đàn ông bắt đầu báo cáo lại cho vợ từng chi tiết của những cuộc trao đổi của ông. Cứ mỗi lần người đàn ông kể lại một cuộc đổi chác của mình, người vợ đều tỏ ra hài lòng. Khi người đàn ông kể đến chuyện ông bán con gà được một đồng và vào quán ăn trưa, người vợ mới mỉm cười thốt lên như sau: “Tạ ơn Chúa, cũng may là mình bán được con gà. Như vậy là mình có thể ngủ yên mà không sợ tiếng gà gáy phá giấc. Ðiều quan trọng đối với tôi là biết rằng mình thỏa mãn là được”.

Người chồng thắng được vụ cá cuộc. Ông được hai mươi đồng, số tiền còn lớn hơn cả giá bán con bò.

Hãy đón nhận từng giây phút hiện tại với hân hoan, cảm mến. Hãy làm công việc trong phút giây hiện tại như là công việc quan trọng nhất. Hãy đón tiếp người trước mặt như một người quan trọng nhất. Hãy chấp nhận mọi người với cảm thông và lạc quan. Hãy chấp nhận chính bản thân với sự bằng lòng, thoải mái: Đó là tất cả bí quyết của hạnh phúc mà chúng ta cần phải nắm lấy.

Kính chúc Quí vị Cao Niên luôn Hạnh phúc trong những tháng năm cuối đời bên con cháu!

ĐINH VĂN TIẾN HÙNG