‘Đời không như là mơ’ của Đỗ Thị Thúy Phượng (VOA)

‘Đời không như là mơ’ của Đỗ Thị Thúy Phượng

13/03/2019

Đỗ Thị Thuý Phượng - Haven Shepherd. (Hình: Từ trang Facebook của Haven Shepherd)

Đỗ Thị Thuý Phượng – Haven Shepherd. (Hình: Từ trang Facebook của Haven Shepherd)

Người ta bảo ‘đời không như là mơ’ và điều này đúng với bé Đỗ Thị Thuý Phượng vào một ngày hè định mệnh hồi năm 2004 tại tỉnh Quảng Nam. Khi đó em mới 14 tháng tuổi và bị cha mẹ đặt vào giữa hai người cùng bọc thuốc nổ. Cả hai chọn đem em theo sang thế giới bên kia trong cuộc tự sát tập thể. Sức công phá của thuốc nổ khiến cha mẹ của Phượng chết ngay lập tức còn em bị bắn ra xa gần chục mét nhưng may mắn thoát chết. Tuy vậy hai chân em bị dập nát tới mức người ta phải cắt bỏ từ đầu gối trở xuống để tránh nhiễm trùng.

Câu chuyện của Phượng đã được báo chí quốc tế đăng tải từ vài năm trở lại đây vì nay em đã là công dân Mỹ với tên Haven Shepherd và đang cố gắng để được chọn đại diện cho Hoa Kỳ tham gia Paralympic 2020 tại Tokyo, Nhật Bản ở môn bơi lội. Phượng may mắn được một gia đình Hoa Kỳ nhận làm con nuôi ít lâu sau khi sự cố xảy ra hồi năm 2004 mà lý do được cho là cha em ngoại tình trong khi đã có gia đình và cả hai người thấy bế tắc nên đã đưa em đi cùng tự tử.

Haven vừa tròn 16 tuổi hôm 10/3 và quà tặng của gia đình cho cô là một chiếc xe hơi màu vàng. Ngay ngày hôm sau cô đã thi đỗ bằng lái xe và giờ đã có thể tự lái xe tới bể bơi mà không cần cha mẹ đưa đón.

Lần gần đây nhất mà Haven xuất hiện trên báo chí quốc tế là trong tường thuật đặc biệt và kỳ công của BBC với tựa ‘Cô gái đáng ra đã chết’. Đồng nghiệp cũ của tôi ở BBC, Georgina Pearce, đã kể lại hành trình tới Việt Nam để đưa Phượng về Hoa Kỳ, ban đầu là cho một gia đình khác. Nhưng cuối cùng gia đình đó không thể cáng đáng được cô con gái nhỏ của chính họ cộng thêm với bé Phượng nên đã giao lại bé cho gia đình bà Shelly và ông Rob Shepherd tại thị trấn nhỏ với chỉ vài ngàn dân ở Tiểu bang Missouri. Hai ông bà khi đó đã có sáu người con và có công ty gia đình chuyên nghề lát sàn nhà.

Haven nói với Georgina rằng ngày cô về với gia đình hiện tại, ngày 19/11/2004, là “ngày được con”.

“Đó là ngày mình được đưa về gia đình mình.”

Còn mẹ cô, Shelly Shepherd, không giấu được xúc động khi nói: “Khi con bước qua cửa, gia đình tôi đã trọn vẹn.” Bà cũng nói các con bà đều ủng hộ quyết định nhận Haven làm con nuôi.

“Tôi nghĩ vì gia đình chúng tôi đông con nên tôi luôn chú trọng dạy các con rằng tình yêu luôn nhân lên chứ không bao giờ mất đi cả. Thế nên khi có thêm một đứa trẻ là có thêm nhiều tình yêu để chia sẻ với nhau,” bà nói trong phỏng vấn với BBC.

Cả hai ông bà Shepherd yêu mến Phượng ngay từ khi gặp mặt ở Quảng Nam và thấy rất buồn lòng khi phải chia tay với em khi về tới Hoa Kỳ. Hiển nhiên họ vô cùng mãn nguyện khi được đón em về sau đó ít lâu.

Tình yêu của gia đình đã góp phần khiến Haven hoàn toàn tự tin về bản thân và thậm chí đã trở thành tấm gương cho nhiều người. Cô đã tới nhiều trường học để nói chuyện về hành trình vốn đã khiến cô trở thành vận động viên bơi đoạt huy chương vàng cả ở Hoa Kỳ và quốc tế.

Trong một thông điệp trên Facebook của cô hồi đầu năm nay, Haven viết:

“Hoàn cảnh… dù tôi chưa gặp bất kỳ ai có hoàn cảnh điên khùng giống hệt tôi, sự thực là ai trong chúng ta cũng có hoàn cảnh cần vượt qua. Mặt khác, tất cả chúng ta đều có lựa chọn nên coi các hoàn cảnh đó ra sao. Khi tôi nói chuyện với các bạn trẻ tôi hy vọng tôi có thể khuyến khích các em qua câu chuyện của tôi (và khiếu hài hước kỳ quặc của tôi 😂) để tìm cách biến hoàn cảnh tiêu cực thành sức mạnh. Tôi chọn [sống] vui mỗi ngày.”

Sau đó ít lâu cô đưa lên bức ảnh chụp cùng các em học sinh tiểu học và nói cô muốn các em hiểu rằng “khác biệt là điều hay”.

Để chuẩn bị cho cuộc tuyển chọn đại diện của Hoa Kỳ tham gia Paralympic vào năm sau, Haven tập xàtập tạtập thể lực nói chung và dĩ nhiên trên hết là tập bơi vài cây số mỗi ngày.

Nếu cô được chọn tới Paralympic Tokyo 2020, đó sẽ là điều kỳ diệu tiếp theo sau một chuỗi những điều diệu kỳ đã đến với cô cho tới nay.

Hồi năm 2004, đó là lần may mắn sống sót, rồi may mắn gặp được người bác sỹ vốn cũng may mắn thoát chết khi còn nhỏ và giúp cô hồi phục sau vụ nổ như lời cô thuật lại:

“Bạn có tin vào điều diệu kỳ không? Có hai bằng chứng sống về sự diệu kỳ trong tấm ảnh này. Người đàn ông này đóng vai trò chính trong việc giúp tôi có tương lai[.] Peter Hoa Stone đáng ra đã có mặt trên chiếc máy bay bị đâm cùng các trẻ mồ côi toan di tản khỏi đất nước đang bị chiến tranh tàn phá hồi năm 1975 nhưng đã lỡ chuyến bay vì có hẹn với bác sỹ. Sau đó ông được một gia đình Úc nhận làm con nuôi và giờ đã trở về Việt Nam giúp trẻ khuyết tật ở quê hương thứ nhất.”

Điều diệu kỳ thứ ba là được về với gia đình tràn đầy tình yêu hiện nay trong cùng năm xảy ra cơn ác mộng mà chính cha mẹ cô đem tới.

Điều diệu kỳ thứ tư mà cô kể là một người đàn ông khác mà cô gặp ở Hoa Kỳ:

“Khi tôi lên tám tuổi, tôi gặp anh chàng này và anh ấy thay đổi cuộc đời tôi. Anh thuyết phục tôi tham gia cuộc thi chạy đầu tiên trong đời và nói với tôi rằng anh “biết” tôi sẽ đoạt huy chương nếu chạy đua. (Điều mà đứa tôi khi tám tuổi không biết là tôi là đứa duy nhất ở tuổi tôi thuộc hạng đua đó 😜). Niềm tin đó đã đưa tôi vào guồng để trở thành vận động viên và tới với tổ chức Vận động viên Thử thách. Em yêu anh Travis Ricks.”

Có lẽ còn những điều diệu kỳ khác trong cuộc sống của cô mà cô chưa có dịp kể. Sau phóng sự của BBC, cô nhận được nhiều lời đề nghị phỏng vấn khác nhưng cô nói hiện cô đều từ chối vì muốn tập trung vào luyện tập. Chúc cô may mắn trong cuộc đua tới Tokyo vào năm sau và cũng chúc cô có cuộc hội ngộ ấm áp với người thân ở Việt Nam nếu cô trở lại trong những tháng tới đây như gia đình cô nói.

Cuộc Đời Có Những Điều, Cho Dù Con Người Có Muốn Cũng Đành Bất Lực…

GÓC SUY TƯ…

Cuộc Đời Có Những Điều, Cho Dù Con Người Có Muốn Cũng Đành Bất Lực….

Nếu bạn đang cảm thấy phiền não, cảm thấy mất niềm tin vào cuộc sống này, thì hy vọng rằng sau khi bạn biết được những điều “bất lực” trong cuộc sống này, bạn sẽ thấu hiểu được nhiều hơn, buông bỏ nhiều hơn để đạt được nhiều hơn.

  1. Người rời xa bạn

Con người đến với nhau vì duyên, ra đi cũng là duyên, không cần quá níu kéo, bởi có níu kéo cũng không giữ được.

Người rời xa bạn, đó là họ đã đánh mất bạn, không phải bạn đã đánh mất họ. Cũng có thể, rời xa là để gặp lại nhau tại một nơi nào đó tốt đẹp hơn.

  1. Thời gian trôi qua

Trong dòng chảy cuộc đời, thời gian cuốn trôi đi bao thị phi, phiền muộn, bao niềm vui nỗi buồn, cũng như cả tuổi thanh xuân. Thời gian một khi trôi qua là không thể nào trở lại, vậy nên, việc gì cần làm thì nên cố gắng nỗ lực, đời này, ít nhất là không hổ thẹn với chính mình.

  1. Thất bại

Thất bại tựa như một bức tường đổ sụp, nó đè lên thân bạn, khiến bạn không cách nào vùng vẫy, không thở được, khiến bạn mất đi niềm tin. Tuy nhiên, nếu bạn lặng lẽ chấp nhận nó, thì bạn sẽ không cách nào đứng dậy được nữa. Nếu bạn cố gắng đứng lên, bạn sẽ thấy mọi thứ không quá tồi tệ như mình vẫn nghĩ.

  1. Không thể lựa chọn xuất thân

Có người sinh ra đã là vua, có người sinh ra là quý tộc, nhưng rất nhiều người sinh ra đã là thường dân. Trên thế giới này, chúng ta có thể thay đổi được mọi thứ, nhưng không thể lựa chọn cho mình được nơi sinh ra, lựa chọn bậc sinh thành.

  1. Sự cô đơn không ai hiểu thấu

Con người, bất kể là đang vui vẻ hay ưu sầu, cao sang hay hèn mọn, đều có thể bắt gặp cảm giác cô đơn không sao hiểu thấu, nó quanh quẩn trong tâm hồn mỗi người, tựa như đang tìm kiếm ý nghĩa chân thực của đời người.

  1. Tình yêu vô vọng

Một loại độc dược rất ngọt ngào gọi là “ưu thích”, cái thích này không có giới hạn, đủ dạng đủ loại, nhưng rốt cuộc ưa thích vẫn là ưa thích, nó không phải là “yêu”.

  1. Lãng quên

Nhiều người trong chúng ta cho rằng cả đời sẽ không bao giờ quên đi sự tình, ngay cả những chuyện chúng ta cho rằng không thể quên, rốt cuộc vẫn sẽ bị lãng quên. Cuộc sống vì có kỷ niệm, nên mới có những phút giây hoài niệm. Hãy cứ để mọi chuyện thuận theo tự nhiên, vui với hiện tại là điều nên làm nhất.

  1. Quá khứ đã qua

Một giây vừa trôi qua đã trở thành quá khứ. Cuộc sống này, rất nhiều thứ sẽ mất đi, dù muốn hay không cũng nên chấp nhận. Điều duy nhất có thể đọng lại, đó là những ký ức không bị lãng quên.

  1. Người khác cười nhạo

Miệng là của người khác, tai là của bản thân mình, nói hay không đó là việc của họ, còn nghe hay không lại là chuyện riêng của mình, chúng ta phải học cách mỉm cười khi đối mặt với tất cả điều này.

  1. Không tránh khỏi cái chết

Cuộc sống là một quá trình, và cái chết là điều không thể tránh khỏi. Nếu như đã không tránh khỏi, vậy cứ thản nhiên đối mặt, xem nhẹ nó, chuyện gì đến sẽ đến, như vậy những phút giây tồn tại trên đời này mới có ý nghĩa, mới có thể an nhiên tự tại.

THA THỨ

THA THỨ.

Một thiền sinh hỏi: “Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, người yêu con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để hết oán hờn và thù ghét đây?”

Vị sư phụ đáp: “Con ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ.”

Vài hôm sau, người đệ tử trở lại: “Con đã học được tha thứ cho họ sư phụ ạ. Thật nhẹ cả người! Coi như xong!”

Sư phụ đáp: “Chưa xong, con về tịnh tâm, mở hết lòng ra thương yêu họ.”

Người đệ tử gải đầu: “Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương yêu họ thì… Thôi được, con sẽ làm”

Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn, khoe với sư phụ là đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình.

Sư phụ gật gù bảo: “Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy.”

Người đệ tử trở lại, lần nầy tin tưởng rằng mình đã học xong bài vở. Anh tuyên bố: “Con đã học được và ghi ơn hết mọi người đã cho con cơ hội học được sự tha thứ!”

Sư phụ cười: “Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ.”

  Chuyện “Hậu bầu cử Mỹ”

Lmdc Viet Nam

  Chuyện “Hậu bầu cử Mỹ”

Hôm nay chúng tôi mạnh miệng đề cập đến vấn đề nầy vì cũng như chúng tôi đã nói từ lúc đầu, đối với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, chúng tôi “neutre”- “trung lập”, không theo phe nào hết vì chúng tôi là những người VN đấu tranh cho đất nước VN sớm thoát khỏi tai ách độc tài Đảng trị CSVN. Chuyện bầu cử Mỹ chúng tôi chỉ nhìn theo đôi mắt “khách quan”.

Cho dù ông Trump đảng CH hay ông Biden đảng DC, có đắc cử, họ chỉ phục sự cho quê hương của họ và quyền lợi của Hoa Kỳ. Lịch sử đã chứng minh vì quá tin theo lời hứa của anh bạn đồng minh HK của mình, kết quả nguời Việt Tư Do đã phải bỏ nước ra đi tị nạn CS ở xứ người.

Đến hôm nay đã gần hơn 2 tháng sau khi cuộc bầu cử Hoa Kỳ đã chấm dứt, một số người Việt vẫn còn chưa lật trang và còn tranh chấp nói qua nói lại, hì hục lẫn nhau vì người ủng hộ ông Trump kẻ theo ông Biden không ai chịu thua ai.

Những người trong nước thì ‘miễn bàn’ , vì họ không được, hay không có quyền bàn luận hay phe bình về những cuộc bầu cử trong nước, nên nhân dịp bầu cử Hoa Kỳ, họ tha hồ đóng góp ý kiến thỏa mái mà không bị ghép tội ” vi phạm bí mật nhà nước” , đa số họ ủng hộ ông Trump.

Cái lạ là luôn cả ở Hải ngoại, đến bây giờ, kết quả bầu cửa Mỹ đã ngã ngũ, lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ, và luôn cả các cơ quan hành pháp và tư pháp như Tối Cao Pháp viện Hoa Kỳ đã công nhân chiến thắng của ông Biden nhưng nhiều người VN ở Hải Ngoại cũng không chấp nhận kết quả đó, vẫn còn nói qua nói lại bảo là có gian lận bầu cử dù là không có những bằng chứng rõ ràng trước pháp luật….

Thật tình mà nói quý ACE sống ở các nước Tự Do & Dân Chủ như Hoa kỳ hay Pháp hoậc Canada…, nếu quý ACE không còn tin vào Tam quyền phân lập, nghĩa là hành pháp (chính phủ) , Quốc Hội (lưỡng viện ) Tư pháp (Toà án và Tối cao pháp viện) thì quý ACE tin vào cái gì ?

Dù không ghét bỏ gì ông Trump hay theo ông Biden, nhưng chả lẽ quý vị chỉ tin vào lời nói ông Trump ?.

Nếu lúc ông Trump (Đảng CH) cầm quyền mà quý ACE bảo có gian lận, thì lúc ông Trump không cầm quyền thì ACE tin vào cái gì ????

Hồi năm 2016, lúc đảng Dân Chủ cầm quyền dưới thời ông Obama, ông Trump đã thua bầu cử “phiếu phổ thông” nhưng lại được đắc cử Tổng Thống Mỹ vì thắng “phiếu đại cử trị”, nhiều người Mỹ trong đảng DC bất mãn không vừa lòng, nhưng không ai lên tiếng là có gian lận bầu cử ?

Hiến Pháp của Hoa Kỳ là thế, dân Hoa Kỳ luôn tôn trọng “Hiến Pháp”. Mong rằng người Việt dù có mang quốc tịch Hoa Kỳ hay không cũng theo đó mà làm gương.

Xin những người Việt yêu chuộng Tự Do & Dân Chủ, đừng vì kết quả cuộc bầu cử Tống thống Hoa Kỳ không theo ý muốn của mình, mà chúng ta tiếp tục chia rẽ nửa.

Bọn DVL VC chỉ chờ có thế để châm dầu cho chúng ta đấu đá lẫn nhau.

Nếu muốn trở lại nắm chính quyền, Đảng CH cũng như ông Trump chỉ có thể chinh phục được dân Mỹ dành lại đa số ghế trong Lưỡng viện trong kỳ bầu cử bán nhiệm kỳ QH năm 2022 và kỳ bầu cử Tổng Thống năm 2024, chứ nếu cứ tiếp tục đấu “võ mồm” gian lận bầu cử thì sẽ không đi đến đâu hết.

CÂY KIM MAY

 MỚI ĐÂY, XE VINFAST CỦA ÔNG PHẠM NHẬT VƯỢNG BỊ HÀNG LOẠT TRỤC TRẶC KỸ THUẬT, GÃY SƯỜN, HỎNG MÁY… TÔI XIN ĐĂNG LẠI BÀI VIẾT VỀ CÂY KIM MAY ĐỂ THẤY RẰNG VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI SẼ RẤT GIAN KHỔ. VÀ VIỆT NAM CHÚNG TA THẬM CHÍ LÀ CHƯA ĐỨNG Ở VẠCH XUẤT PHÁT VÀ CÒN LỚ NGỚ, CHƯA BIẾT XUẤT PHÁT NHƯ THẾ NÀO, NÓI CHI TỚI CHUYỆN PHÁT TRIỂN.

NHÀ NƯỚC TA “NGÂY THƠ” MỘT CÁCH ĐÁNG SỢ. VÀ RẤT DỄ BỊ LỪA.

***

CÂY KIM MAY

Tác giả: Đào Hiếu

Vào khoảng năm 1978, 1979 gì đó, khi còn làm phóng viên báo Tuổi Trẻ, tôi được (hay bị) đưa đi “vô sản hoá” tại nhà máy Sinco ở Sàigòn.

Nhà máy này vốn của chế độ cũ để lại, chuyên sản xuất máy may lấy hiệu là Sinco. Khi các “tồng chí” tiếp quản được ít lâu thì hết mẹ nó phụ tùng nên đếch hoạt động được.

Lúc tôi đến xin làm công nhân ở đó (có lẽ người ta định sau này “cơ cấu” tôi làm Tổng Bí thư nên cho tôi bắt chước đồng chí Nguyễn Văn Cừ đi vô sản hoá ở các mỏ than Hòn Gay năm nào!) thì thấy Giám đốc cùng mấy anh kỹ sư, thợ tiện, thợ phay, thợ nguội… đang ngồi bàn cách phục hồi hoạt động của nhà máy, để chế tạo cho được một cái máy may mang thương hiệu Việt Nam chính cống.

Các linh kiện của một chiếc máy may bàn đạp khá đơn giản nên không bàn tới. Mọi người đều tập trung nghiên cứu làm cái ổ thuyền, vì đó là bộ phận khó làm nhất.

Muốn làm cái ổ thuyền phải qua rất nhiều công đoạn: thiết kế bản vẽ, chọn nguyên liệu. Sau đó là thi công: những thợ phay, thợ tiện, thợ mài… giỏi nhất làm đi làm lại nhiều lần, rồi tới thợ nguội đo đạc chính xác từng “zem”, rồi đánh bóng, kiểm tra… rồi cho chạy thử.

Sau nhiều lần trục trặc, chiếc máy may nhãn hiệu Sinco do Việt Nam sản xuất cũng ra đời. Tuy nhiên hôm họp báo công bố sản phẩm, giám đốc nhà máy đã làm tôi ngạc nhiên khi nói:

“Thưa các đồng chí, chúng tôi có thể tự hào tuyên bố rằng chúng ta đã sản xuất được một chiếc máy may hoàn chỉnh, trừ… cây kim!”

Bỏ mẹ! Tôi nghĩ thầm, cái ổ thuyền khó như vậy mà còn làm được, sao cây kim lai chịu thua?!

Kể từ đó đến nay, cái sản phẩm đầy tâm huyết, đầy tim óc của tập thể giám đốc, kỹ sư, công nhân nhà máy Sinco, cái “niềm thự hào thương hiệu Việt Nam” kia biến mất tăm và nhà máy Sinco chắc cũng đã bị phù phép thành cái quỷ quái gì rồi.

Bốn mươi năm sau, tôi gặp một cô bé công nhân trên xe buýt, nó nói:

-Con làm trong một nhà máy của Nhật tại khu chế xuất Tân Thuận.

-Chế cái gì?

-Cái kim may

*

Thưa quý vị,

Như vậy là cho đến năm 2018 này. Sau 40 năm, Việt Nam chúng ta cũng chưa chế tạo được cái kim may. Và cái máy may Sinco (không có kim) mà Việt Nam chế tạo được chắc cũng đang nằm trong viện bảo tàng!

Không phải nòi giống ta đần độn. Không phải dân tộc ta lười biếng…

Vậy thì vì cái gì?

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế từng nói:

“Thế giới gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!”

Sao vậy?

Vì thực ra “các quan” không có khả năng lãnh đạo đất nước. Và vì chẳng biết làm cái cóc khô gì cả nên họ đã chọn công việc dễ nhất và hiệu quả nhất là tham nhũng.

*

Bây giờ tới chuyện “sản xuất ô-tô hiện đại” xem ra cũng chỉ là lắp ráp theo dây chuyền công nghệ và linh kiện của nước ngoài.

Chuyện đó cũng chẳng mới mẻ gì vì Toyota. Huyndai, Fiat, Samsung, Sony… đã và đang làm.

Tôi ủng hộ anh bạn Mì Gói và cầu chúc anh thành công. Nhưng tôi muốn anh hiểu rằng đừng khoác lác. Đừng nổ. Vì nó rất kỳ!

Con đuòng còn dài lắm, chúng ta còn phải học hỏi nhiều, nhiều, nhiều, nhiều lắm.

Rất mong chúng ta đừng quên câu chuyên về nhà máy Sinco.

Họ đã cố gắng hết sức để làm cho được cái ổ thuyền vậy mà còn cái kim may cho đến giờ vẫn chưa làm được, thì cái ô-tô Vinfast của anh thực chất nó là con cái nhà ai?

ĐÀO HIẾU.

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

*** 

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc.

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.

Nguyễn Công Trứ.

Buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc.

Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà.

Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người.

Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng Sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây.

Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ:

“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.

Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.

Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”.

Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình.

Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi nầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”

Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình.

Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm.

Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền của xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

– “Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!” Ông cụ trả lời qua loa:

– “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.”

Ông Tư nói to:

– “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?”

Ông cụ thở dài:

– “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì?”

Ông Tư cười lớn:

– “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho”

Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích.

Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời.

Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan.

Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy giá thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan.

Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói: “Thà tự sướng hơn là tự khổ”

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc.

Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau./.

Tràm Cà Mau

ĐỨC TIN, HOÀI NGHI, ĐÊM TỐI, VÀ TRƯỞNG THÀNH

ĐỨC TIN, HOÀI NGHI, ĐÊM TỐI, VÀ TRƯỞNG THÀNH

 Rev. Ron Rolheiser, OMI – J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Trong một quyển sách nói về cầu nguyện chiêm niệm, Thomas Keating chia sẻ với chúng ta một chuyện mà cha nhiều lần nhắc đến khi linh hướng.  Người ta chạy đến với cha, chia sẻ rằng họ từng có một ý thức ấm áp và chắc chắn về Thiên Chúa trong cuộc đời mình, nhưng lại than với cha là hiện nay tất cả những ấm áp và xác quyết đó đã biến mất, và khiến cho họ phải đấu tranh với niềm tin, đấu tranh để cầu nguyện được như xưa.  Họ cảm nhận một cảm thức mất mát sâu sắc và lúc nào vấn đề của họ cũng là: Có chuyện gì với con thế này?”  Câu trả lời của cha Keating là: “Chúa có chuyện với con đó.”

Về căn bản, câu trả lời của Cha là: Dù bạn đau đớn, vẫn có một sự gì đó rất đúng với bạn.  Bạn đã qua thời tân tòng, đã qua các giai đoạn học đạo ban đầu cần có, và bây giờ bạn đang đi vào một đức tin, không phải bớt đi, nhưng là sâu sắc hơn.  Hơn nữa, sự sụt giảm lửa mến đó đưa bạn đến một sự trưởng thành chín chắn sâu đậm hơn.  Vậy nên, những gì bạn hỏi đúng ra là thế này: “Tôi từng khá chắc chắn về lòng đạo của mình, và cũng chắc chắn là nó có phần nào kiêu căng và phán xét.  Tôi cảm thấy tôi hiểu được Thiên Chúa và đạo, và tôi nhìn vào thế giới với đôi chút khinh thị.  Rồi đức tin tôi đi xuống, và cả những tin chắc của tôi nữa, giờ đây tôi thấy mình bớt chắc chắn về bản thân đi nhiều, biết khiêm nhượng, cảm thông và bớt phán xét đi nhiều.  Chuyện gì thế này?”

Hỏi như thế, thì cũng là câu trả lời.  Rõ ràng người đó đang tiến tới, chứ không phải thụt lùi.

Mất mát cũng là một bước.  Christina Crawford đã viết những dòng này, mô tả hành trình đau đớn của cô qua bóng tối để đến với sự chín chắn sâu đậm hơn. Để được cứu, trước hết, chúng ta phải nhận ra rằng, chúng ta đã lầm đường lạc lối, và thường thì cuộc sống chúng ta bị hụt hẫng để chúng ta nhận ra được điều này.”  Đôi khi, không có thuốc nào chữa chứng kiêu căng và tự phụ cho bằng một sự mất mát đầy đau đớn những xác quyết của mình về các ý niệm bản thân về Thiên Chúa, đức tin, và lòng đạo.

Thánh Gioan Thánh Giá đã nhận định rằng một đức tin lòng đạo sâu sắc bắt đầu khi chúng ta nỗ lực để hiểu, nhưng là bằng không hiểu hơn là hiểu.  Nhưng đây có thể là một cảm nghiệm rất bối rối và đau đớn, khiến nảy sinh cảm giác: Chuyện gì thế này?

Một động năng đầy hiếu kỳ và nghịch lý nằm ở đàng sau câu tự vấn này.  Chúng ta có khuynh hướng nhầm lẫn đức tin với năng lực của chúng ta trong việc vẽ lên một khái niệm về Thiên Chúa và hình dung sự hiện hữu của Ngài.  Hơn nữa, chúng ta nghĩ đức tin của mình mạnh nhất vào những lúc chúng ta có những cảm giác xúc động trước những tưởng tượng của chúng ta về Thiên Chúa.  Đức tin của chúng ta cảm thấy mạnh mẽ nhất khi được nâng đỡ và thổi bùng nhờ những cảm giác sốt mến đó.

Các ngòi bút thiêng liêng sẽ cho chúng ta biết rằng giai đoạn thiết tha này là một giai đoạn tốt trong đức tin, nhưng là một giai đoạn ban đầu, một cảm nghiệm chung khi chúng ta còn là những người mới theo đạo.  Cảm nghiệm thế này nâng đỡ đức tin.  Trong các giai đoạn đầu của cuộc lữ hành lòng đạo, thường có những hình dung và cảm giác mạnh mẽ đầy xúc động về Thiên Chúa.  Ở giai đoạn này, mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng tương tự như mối quan hệ của cặp vợ chồng trong tuần trăng mật.

Trong tuần trăng mật, bạn có những cảm xúc mạnh mẽ và một sự chắc chắn nhất định về tình yêu của mình, nhưng rồi bạn sẽ về nhà.  Tuần trăng mật là một giai đoạn ban đầu, một món quà giá trị, nhưng là sự sẽ tan biến đi sau khi làm đủ phần của mình.  Một tuần trăng mật không phải là cả cuộc hôn nhân, dù người ta thường nhầm lẫn như thế.  Với đức tin cũng vậy, các hình dung tưởng tượng mạnh mẽ về Thiên Chúa không phải là đức tin, dù người ta thường nhầm lẫn như thế.

Các hình ảnh tưởng tượng và cảm xúc mạnh mẽ về Thiên Chúa, đến cuối cùng, chỉ là những hình dung.  Tuyệt vời, nhưng hình tượng thì vẫn là hình tượng.  Một hình ảnh không phải là thực tế.  Một hình tượng có thể đẹp và hữu ích giúp chúng ta hướng theo đường đúng đắn, nhưng khi nhầm lẫn hình tượng này với thực tế, thì nó trở thành một ngẫu tượng.

Vì lý do này, mà các ngòi bút thiêng liêng bảo chúng ta rằng, đến những thời điểm nhất định trong hành trình thiêng liêng của chúng ta, Thiên Chúa “lấy đi” sự tin chắc, tước mất của chúng ta những nồng ấm, những cảm giác trong đức tin.  Thiên Chúa làm thế chính là để chúng ta không thể biến các hình dung thành ngẫu tượng, để chúng ta không thể biến cảm nghiệm về đức tin thành mục đích cho chính đức tin, trong khi đức tin chính là một cuộc gặp gỡ hiện thực và nhân thể Thiên Chúa.

Các nhà thần nghiệm như Gioan Thánh Giá đã gọi cảm nghiệm tưởng như mất đức tin này là “đêm tối của linh hồn.”  Điều này mô tả cảm nghiệm khi chúng ta từng cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa một cách ấm áp và chắc chắn, nhưng bây giờ chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa không hiện hữu, và chúng ta bị rơi vào hoài nghi.  Đây là những gì Chúa Giêsu đã cảm nghiệm trên thập giá, và cũng là những gì Mẹ Teresa viết trong nhật ký của mình.

Và dù đêm tối tâm hồn đó có gây nhiều hoang mang, nhưng nó cũng có thể làm cho chúng ta trưởng thành.  Nó có thể giúp chúng ta ra khỏi sự kiêu căng, phán xét, ra khỏi tình trạng tân tòng, để trở nên những con người khiêm nhượng, cảm thông, sống trong một đám mây vô định, hiểu bằng cách không hiểu, hơn là hiểu, lạc lối nhưng được ơn ích trong một bóng đêm mà chúng ta không thể vận dụng hay điều khiển, để đến cuối cùng chúng ta được đẩy mạnh vào đức tin, đức cậy và đức mến đích thực.

Rev. Ron Rolheiser, OMI – J.B. Thái Hòa chuyển dịch

From: Langthangchieutim

8 GIÁ TRỊ CỦA NỤ CƯỜI

8 GIÁ TRỊ CỦA NỤ CƯỜI
1- Một nụ cười chẳng mất vốn, mà lợi thật nhiều.

2- Một nụ cười không làm nghèo người phát nó nhưng làm giàu người nhận nó.

3- Một nụ cười chỉ nở trong khoảnh khắc, nhưng có khi làm ta nhớ cả suốt đời.

4- Kẻ phú quý tới bực nào mà không có nó thì cũng vẫn còn nghèo, còn kẻ nghèo hèn tới đâu, mà sắn có nó thì vẫn còn cái vốn vô tận.

5- Nụ cười gây hạnh phúc trong gia đình, nó là nguồn gốc những hảo ý trong thương nghiệp và là dấu hiệu của tình bạn bè.

6- Nó bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu, và là thuốc màu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu.

7- Nụ cười không thể mua được, không thể xin như khất thực được, không mượn được cũng ko thể đánh cắp được. Vì ta khư khư giữ nó thì nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta dùng nó một cách hào phóng thì nó giá trị vô cùng.

8- Cho nên khi bạn gặp một người mệt nhọc, không còn sức tươi cười với bạn được, thì bạn hãy mỉm cười với người đó đi. Vì người nào không còn lấy một nụ cười để tặng kẻ khác, người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết..

(Sưu tầm)

Thân mến

TQĐ

From: TU- PHUNG

Nguyễn Thụy Đan, một khuôn mặt độc đáo của văn chương hải ngoại

Nguyễn Thụy Đan, một khuôn mặt độc đáo của văn chương hải ngoại

Mar 10, 2021 

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Thư Quán Bản Thảo số 91 có chủ đề “Đầu Xuân Lộc Mới,” mượn mùa Xuân “để giới thiệu một lộc quý hiếm trong sinh hoạt văn học ngoài nước: Việt Thạch Nguyễn Thụy Đan,” theo nhà văn Trần Hoài Thư, chủ nhiệm kiêm chủ bút của tạp chí này.

“Nho sinh” Nguyễn Thụy Đan – Daniel Nguyễn – bên những cuốn sách sưu tầm được từ những năm mới 17, 18 tuổi. (Hình: Daniel Nguyễn cung cấp)

“Lộc quý hiếm” Nguyễn Thụy Đan là ai?

Trả lời cho câu hỏi này, Thư Quán Bản Thảo dành phần đầu tiên trong ba phần, “Viết Về Nguyễn Thụy Đan,” qua đó, các tác giả Tô Thẩm Huy, Nguyễn Văn Sâm, Thiên Đồng, Trần Đông Đức, Nguyễn Thị Mai Quyên và Hạt Cát lần lượt dựng nên chân dung sống động của cây bút này qua nhiều dáng nét khác nhau.

Về tiểu sử, theo nhà biên khảo Tô Thẩm Huy, Nguyễn Thụy Đan chào đời ở Sacramento, tiểu bang California, năm 1994. Năm 13 tuổi anh theo cha mẹ về thăm Việt Nam, đi khắp ba miền Bắc Trung Nam. Đến Hà Nội mua được một quyển tự điển chữ Nôm và bắt đầu tự học, làm quen với cổ ngữ từ đấy.

Năm 16 tuổi, anh theo chân dòng Đức Bà Truyền Giáo về Việt Nam dạy tiếng Anh ở Củ Chi, đồng thời nhân dịp ấy học thêm chữ quốc ngữ. Khi trở về Mỹ, anh bắt đầu tìm hiểu về niêm luật thi ca, tìm đọc những tác phẩm cổ điển Trung Hoa như Hán Thư, Đường Thi, Tống Từ, Tứ Thư, Đạo Đức Kinh, vân vân.

Xong trung học, anh theo học đại học Houston về Âm Nhạc và Văn Chương Anh. Trong thời gian này, anh tiếp tục đọc các tác phẩm cổ như đồng thời sáng tác nhiều bài “từ” bằng chữ Hán, tất cả về sau gộp chung lại thành “Chướng Vân Tập.”

Sau khi tốt nghiệp đại học năm 2016, anh dọn về California, nghiên cứu thêm về Thần Học Công Giáo và Chính Thống Giáo. Ngoài ra cũng nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng Tống Nho, và đặc biệt nghiên cứu về một danh nho Việt Nam dưới thời Tự Đức là Nguyễn Đức Đạt.

Năm 2018, anh được học bổng của Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm về Hà Nội khoảng ba tháng, nghiên cứu thêm tại Viện Hán Nôm. Năm 2019 trở về Mỹ, nhân dịp Đại Học Columbia ở New York bắt đầu thành lập ngành Việt Nam Học, anh được nhận vào học chương trình tiến sĩ khoa Ngôn Ngữ và Văn Hóa Đông Á, đặc biệt nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam thời trung đại và cận đại.

Đánh giá về khả năng, nhà văn Nguyễn Văn Sâm nhận xét: “Đó là một khuôn mặt lạ của học giới, của người Mỹ gốc Việt trên nước Mỹ. Rồi em sẽ giải quyết được nhiều vấn đề còn tồn đọng trong văn chương Việt Nam và Trung Hoa. Chắc chắn như vậy.”

Một cây bút khác, Thiên Đồng, đi xa hơn, cho rằng: “Giữa thế giới non trẻ vô tư của thế hệ trẻ em được sinh ra và lớn lên trên đất Hoa Kỳ, đa số không còn nói được tiếng Việt thì bỗng xuất hiện đâu ra một cậu trẻ Nguyễn Thụy Đan với vốn liếng văn hóa Việt Nam thuộc tầng thông kim bác cổ như người xưa sống lại. Nguyễn Thụy Đan là hiện tượng kỳ lạ đến gần như chưa có tiền lệ trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.”

Không những nghiên cứu và sáng tác, Nguyễn Thụy Đan còn mở lớp dạy chữ Hán trên mạng. Một trong những người theo học, cô Nguyễn Thị Mai Quyên viết: “Học cổ văn vốn không đơn giản, lại học qua mạng, nên càng khó khăn hơn. (…) Đáng nói hơn, họ, có người trước khi đến với lớp học mới biết võ vẽ qua đôi chữ. Có kẻ thì ngoài niềm yêu thích, hoàn toàn chưa có một kiến thức nào về chữ Hán cổ hay Hán Ngữ hiện đại chưa chưa nói đến cổ văn. Vậy mà trải qua 11 tuần học, bài hôm ấy (tức tuần thứ mười hai) chúng tôi đã cùng nhau trích đọc những đoạn văn của Hàn Phi Tử, Trang Tử…”

Phần thứ hai, “Viết Về Tác Phẩm Đầu Tay: Chướng Vân Tập” với sự góp mặt của Nguyễn Văn Sâm, Dương Nguyên Khang và Tô Thẩm Huy. “Chướng Vân Tập” là một tập gồm có 30 bài “từ” (1) do Nguyễn Thụy Đan sáng tác. Đó là “ba mươi tiếng than tuy khác điệu nhưng cùng tâm trạng, tựa như người buồn có thể thở dài, vuốt trán, nhăn mặt, miệng mếu, bứt tóc…,” theo Nguyễn Văn Sâm.

Còn theo Dương Nguyên Khang thì: “Nó là tiếng kêu của một nỗi sầu không cầm lại được, là tiếng trống mở màn của những dòng thơ hữu thanh, nhưng cũng là tiếng chuông chấm dứt của những nỗi buồn vô thanh chất chứa trong khuôn lòng chật hẹp.”

Phần thứ ba, dài nhất, “Thơ Văn Của Nguyễn Thụy Đan,” giới thiệu nhiều bài viết và trích đoạn từ các tác phẩm biên khảo, tiểu luận, dịch thuật và các sáng tác văn, thơ của Nguyễn Thụy Đan. Các bài viết này có cả chữ Hán, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa.

 Về tiểu luận, xin giới thiệu một trích đoạn tiêu biểu trong bài “Mạn Đàm Về Quốc Học,” qua đó, Nguyễn Thụy Đan bày tỏ thẳng thắn quan điểm của mình về việc học: “Những năm gần đây, khi biết tôi sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, từ bé đến lớn lại sống xa cộng đồng kiều bào, không ít người lấy làm kinh ngạc mà thắc mắc về lai lịch và quá trình học vấn của tôi. Cả đời tôi chưa từng lên lớp học tiếng Việt hay Hán văn theo chương trình chính quy của trường ốc. Người khác nghe vậy lấy làm lạ, nhưng đối với tôi lại thấy hết sức bình thường và cũng không có bất kỳ lý do nào để mặc cảm hay tiếc nuối đã không có dịp học Hán Nôm theo cái gọi là ‘chính quy.’ Vì, theo tôi, cứ lấy Nho gia làm ví dụ, vốn trong Luận Ngữ 論語 đã có xu hướng phản chính quy, tự tìm con đường cho riêng mình. (…) Kẻ học Nho chân chính, chẳng trông mong gì nơi nhà nước, nơi hệ thống giáo dục, thậm chí cũng không trông chờ gì nơi người thầy. (…) Nói theo lời Nguyễn Đức Đạt (1824-1887), danh nho đời Tự Đức, mở đầu Nam Sơn tùng thoại, “Học vấn chi đạo, sư sư bất như sư thư” (Đạo học vấn, học hỏi từ thầy chẳng bằng học hỏi từ sách). Cho nên, đúng nghĩa sự học, chỉ có thể tự học – những người sư hữu là những người đồng hành cùng mình, giúp chỉ đường cho mình, giúp góp vui cho mình bớt cô độc trên đường đi, nhưng còn tiếp bước hay không, đi đúng đường hay không, sự ấy ở tại mình mà thôi.”

Một quan điểm nghe lạ tai, nhưng suy đi ngẫm lại, theo tôi, là hoàn toàn chính xác.

Bìa Thư Quán Bản Thảo 91. (Hình: Trần Doãn Nho)

Về sáng tác, Nguyễn Thụy Đan sử dụng nhiều thể loại khác nhau: tản văn, tản mạn, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, hát nói… Thư Quán Bản Thảo cho biết, Nguyễn Thụy Đan sở trường về “Hát Nói,” một thể thơ thịnh hành ở nước ta vào thế kỷ XIX. Xin trích một bài tiêu biểu, “Vĩnh Phúc Đêm Mưa”: 

“Đêm thu mưa gió đầy giời
Mộng tàn gối lạnh đâu người trong mơ
Đèn khuya khi tỏ lại mờ
Hắt hiu bao nỗi sầu xưa hận rày 

Thê phong khổ vũ (2)
Chốn buồng không mất ngủ lại đêm nay
Đốt tương tư thắp đĩa dầu đầy
Trải mưa gió niềm tây dường dập tắt 

Ngã thị nhân gian trù trướng khách
Tri quân hà sự lệ tung hoành (3) 

Bạn giai nhân khó gặp đã đành
Biết nhau mới tiếc duyên lành dang dở
Quân tín phủ: Trường đoạn thiên nha tòng thử khứ
Nợ đa tình ôm giữ kín từ đây 

Gìn vàng giữ ngọc cho hay.”

Nguyễn Thụy Đan cũng làm thơ “Song Thất Lục Bát.” Bài sau đây có tựa đề là “Tọa Vong”:

“bờ tuyệt vọng tôi làm tượng đá
tháng năm trường đại hạ xuân thu
trên vai trải mấy dãi dầu
sau lưng ký ức một màu bạc phơ
tượng gục mình như xưa tôi đã
gục bên em trắng xõa chiều mưa
bàng hoàng từng trận gió đưa
lạnh tràn vang bóng thuở xưa làm người
miền quạnh vắng tuổi trời hóa thạch
tượng ngồi im quên sạch hôm qua
cỏ cây tươi héo quanh ta
tôi làm tượng đá ngự tòa phù sinh” 

Nguyễn Thụy Đan cũng đã từng được đề cập trên nhật báo Người Việt cách đây bảy năm qua một bài phỏng vấn do phóng viên Thiên An thực hiện: “‘Lạc Lõng’ Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt.” (4) Trả lời cho câu hỏi: “Tại sao em lại thích học chữ Hán-Nôm?,” Nguyễn Thụy Đan nói: “Không học Hán-Nôm, không thể hiểu sâu về đất nước và con người Việt Nam. Sống ở hải ngoại mà không muốn bị mất gốc, ắt phải hiểu biết văn hóa quê cha đất tổ.”

Được hỏi: “Em sử dụng chữ Hán-Nôm vào việc gì?,” Đan cho biết: “Em học chữ Hán cốt để đọc sách người xưa. Văn liệu nước ta từ đầu thế kỷ XX về trước phần lớn viết bằng văn Hán hoặc văn Nôm. Không biết Hán-Nôm, ắt phải dựa vào bản dịch hoặc bản phiên âm của người khác mà đọc. Song, sách vở vẫn có nhiều loại. Đọc sách thánh hiền để học đạo làm người. Đọc sách sử để biết thêm về văn hóa, lịch sử người Việt. Đọc văn thơ để tiêu sầu khiển muộn… Sau này em quen vài người ngoại quốc cũng quan tâm văn chương và lịch sử nước Việt nên em mới bắt đầu dịch văn liệu Hán-Nôm sang tiếng Anh. Có khi em viết thơ từ, gọi là cái thú tao nhã vậy.” [qd] 

Chú thích:

(1) “Từ” là một thể thơ gắn chặt với âm nhạc, dựa vào nhạc mà đặt lời, lời lẽ hoa lệ.

(2) Gió buốt mưa sầu (Nguyễn Thụy Đan)

(3) Ta là khách buồn bã trong cõi nhân gian/Cớ sao quen biết người lại khiến nước mắt chảy ròng rã (Nguyễn Thụy Đan)

(4) Người Việt, 15 Tháng Tám, 2014: www.nguoi-viet.com/little-saigon/Lac-long-cau-nho-sinh-nguoi-My-goc-Viet-1433/

BỊ DÍ ĐẾN TÌNH THẾ KHÓ VÀ SỰ ĐỔI CHÁC KHỐN NẠN

Đỗ Ngà

Nguyên nhân lệnh cấm chiến sĩ Gạc Ma nổ súng:

BỊ DÍ ĐẾN TÌNH THẾ KHÓ VÀ SỰ ĐỔI CHÁC KHỐN NẠN

Đỗ Ngà

ĐCS Việt Nam vốn chọn Liên Xô làm chỗ dựa chứ không phải chọn Trung Cộng, điều đó dẫn tới thái độ cứng với Trung Cộng và họ đã có một lần mạnh mẽ đối đầu với Trung Cộng năm 1979. Tuy nhiên chỗ dựa số một ấy đã bị lung lay khi mà Năm 1985 Gorbachev lên làm Tổng Bí Thư. Khi đó Liên Xô lo cải tổ kinh tế và cởi mở chính trị để vực đậy sự kiệt quệ kinh tế do thể chế cũ gây ra và cũng do nhiều năm mải mê chạy đua vũ trang với Mỹ và đến hồi đuối sức. Điều đó kéo theo sự bảo trợ về mặt quân sự của Liên Xô với các nước Đông Âu khác không còn như trước nữa.

Chế độ độc lài toàn trị của CS nó như một gọng cùm kìm chế sự trỗi dậy của người dân, nếu nhả gọng cùm ấy ra thì sức dân bật dậy. Và năm 1988, phong trào biểu tình nổi lên mạnh hơn ở Ba lan rồi lan sang các nước khác. Ở Việt Nam, thì tập đoàn chính trị Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng – Lê Đức Anh ắt nhìn thấy viễn cảnh đó. Liên Xô đã nhả dần gọng kìm bảo trợ ở các nước gần gũi Liên Xô thì không lí gì họ hết mình với Hà Nội. Như vậy là chỗ dựa lớn nhất của Hà Nội có nguy cơ không còn.

Chuyển chỗ dựa là nhu cầu cấp bách mà Nguyễn Văn Linh và 3 người còn lại phải tìm kiếm. Lịch sử ĐCS từ năm 1945 đến thời điểm đó cho thấy, chưa bao giờ ĐCS dám đứng độc lập. Khổ nỗi chỗ dựa thay thế Liên Xô chỉ có thể là ĐCS Tàu, mà Tàu lúc đó đang còn thù địch với với ĐCS Việt Nam nên việc làm hòa giải rất khó. Biết cái mà Tàu tham nhất là chủ quyền nên ĐCS đã chọn món hàng này để nhử Trung Cộng.

Để được thuần phục thì trước tiên phải biết tỏ thái độ thiện chí. Từ năm 1987 thì tình hình cho thấy, nội tình các nước CS Đông Âu đang xảy ra mâu thuẫn khó giải quyết và đến năm 1988 là biểu tình xảy ra rất nghiêm trọng ở Ba Lan. Trong khi đó người đứng đầu ĐCS Liên Xô đang có chiều hướng “tự diễn biến” nên bỏ rơi hàng loạt các chính quyền CS đàn em. Điều đó cũng có nghĩa là thành trì mà ĐCS Việt Nam tựa sắp mất, dù Liên Xô có sụp đổ hay không thì Gorbachev vẫn không muốn làm thế tựa lưng cho ai hết. Đó là tình hình chung.

Trong lúc chỗ dựa vững chắc sắp mất mà tình hình Biển Đông khá căng thẳng, sau khi lấy trọn Hoàng Sa năm 1974 thì bây giờ Trung Cộng đang cho cướp đảo ở Trường Sa. Đây là mối nuy cho đất nước, tuy nhiên nhóm Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng – Lê Đức Anh lại nhìn thấy cơ hội cho đảng. Thay vì dựa vào sức dân thì ĐCS lại không chọn vì sợ mất đảng, vậy nên nhóm này mới đi tới quyết định quy phục kẻ thù để mua lấy sự an toàn cho đảng.

Ai cũng biết cái mà Trung Cộng thèm thuồng nhất là chủ quyền Việt Nam. Ngoài món hàng này thì không có món hàng nào đáng giá để Bắc Kinh chấp nhận đổi lấy “tình hữu nghị” cả. Và kết quả là có một lệnh từ trung ương ban xuống cấm chiến sĩ đang giữ đảo Gạc Ma nổ súng, đó là thái độ chịu nhường để đổi lấy sự chú ý của Bắc Kinh. Và cũng từ thái độ đó, cộng thêm hàng loạt động thái mưa móc của nhóm bộ tứ Linh – Mười – Đồng – Anh thì đến năm 1990, Linh – Mười – Đồng được Bắc Kinh chấp thuận và sắp xếp cuộc gặp cấp cao chính thức tại Thành Đô.

Sau hội nghị Thành Đô thì Việt Nam ngày một lệ thuộc hơn vào Bắc Kinh. Và phía Bắc Kinh cũng hiểu rằng, khi đẩy Hà Nội ở vào thế khó xử thì phía Hà Nội sẵn sàng đổi giang sơn lấy “hòa bình”. Đó là lý do tại sao hiện nay Trung Cộng lại dùng “chiến thuật vùng xám” để ứng xử với Việt Nam. Chiến thuật này là, vùng đất nào của Việt Nam thì Bắc Kinh biến nó thành vùng tranh chấp, vùng đang tranh chấp thì biến nó thành hiển nhiên của Bắc Kinh. Qua thời gian, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau để ép Hà Nội vào thế khó để nhượng bộ thì Bắc Kinh cứ lấn tới. Và cứ như thế Trung Cộng gặm dần chủ quyền Việt Nam nhờ biết khai thác nhược điểm “thà mất chủ quyền chứ không bao giờ để mất đảng” của ĐCS.

Với bản chất như vậy, nếu có hàng ngàn chiến sĩ giữ đảo thì Hà Nội cũng thí mạng luôn chứ đừng nói chi 64 chiến sĩ giữ Gạc Ma?! Tuy ĐCS luôn hô hào những cái chết đó là “anh dũng hy sinh” nhưng thực chất những sinh mạng đó cùng với chủ quyền biển đảo là những món hàng rẻ rúng để đảng đổi lấy “tình hữu nghị” có giá trị to lớn hơn đảng mà thôi. Đó thực sự là nỗi đau quặn thắt mà dân tộc này đã gặp phải.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.youtube.com/watch?v=gjQ22CbxtHI

NHỮNG MẨU CHUYỆN RẤT NGẮN

 Kimtrong Lam Lương Văn Can 75.

NHỮNG MẨU CHUYỆN RẤT NGẮN

Quà sinh nhật

Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người.

Chị lặng lẽ đến bên má : “Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?” Chưa tan tiệc, Má về sớm, nói vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi : “Sao má chẳng ăn gì?”

Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và đĩa cá bống kho tiêu chị mang đến…

Con Nuôi

Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi.

Một cô bé nói :

– Mình biết tất cả về con nuôi đấy.

Một học sinh khác hỏi :

– Thế con nuôi là gì ?

Cô bé trả lời:

– Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng.

Khóc

Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.

Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con.

Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ. Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc.

Hỏi tại sao khóc, anh nói :

– “Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh”

Sầu Riêng

– Mẹ, sầu riêng rộ. Mẹ mua cho Nội một trái đi Mẹ. Nội nói cả chục năm rồi Nội chưa ăn múi nào hết.

– Bên đây sầu riêng mắc như vàng, của đâu mà cho Nội mày ăn cho đủ. Tao hầu Ba mày mệt rồi, thêm Nội mày nữa có nước đem chôn tao sớm.

Thằng Tí như bị hụt hẫng trước câu trả lời của Mẹ nó… Mùa sầu riêng năm sau, Nội nó mất. Hôm giỗ đầu, Mẹ nó mua một trái sầu riêng thật to để trên bàn thờ.

Mẹ nó nói với mọi người :

– Má chồng tôi hảo sầu riêng lắm. Mắc cách mấy tôi cũng ráng mua để cúng Má tôi.

Mọi người khen Mẹ nó là dâu thảo. Chỉ có thằng Tí biết. Nó lặng lẽ đến cạnh bàn thờ thì thầm :

– Xin Nội tha lỗi cho Mẹ con

Mùa Đá Bóng

Mùa bóng đá lần trước nhằm lúc má đang bịnh…

Nhà chỉ có cái tivi là vật đáng giá, ba đem cầm để thuốc thang cho má. Hễ tới giờ trực tiếp đá banh, ba lại vừa lo canh thuốc cho má, vừa lắng nghe tiếng bình luận câu được câu mất ở tivi hàng xóm !

Một năm sau, ba lại ra đi trước má !

Đến kỳ bóng đá lần này, tuy không hiểu thế nào là đá banh nhưng đêm nào cũng vậy, đến giờ má lại thức mở tivi và ngồi khóc một mình

Lời Con Trẻ

Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái nhỏ hỏi mẹ:

– Sao mẹ đuổi bố?

– Tại bố hư!

Để nó khỏi vặn vẹo hỏi lôi thôi, người mẹ mua cho cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em miếng bánh, bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc ré bắt đền. Người mẹ dỗ dành :

-Anh này hư quá ! Thôi con nín đi, bỏ qua cho anh một lần.

Đứa con phụng phịu:

– Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu!

Người mẹ nhìn xa xăm:

– Ừ, ra mẹ cũng hư!

Mẹ và con

Con lên ba, chơi bên nhà dì, bị xe đạp ngã, trúng đầu chảy máu. Mẹ đang nấu cơm, hốt hoảng bế con chạy ngay đến bệnh viện. Hú vía. Vết thương chỉ nhẹ bên ngoài thôi. Hoàn hồn, mẹ nhìn lại mình: chân không dép, quần ống cao ống thấp, áo loang lổ vết máu. Chả giống ai! Mẹ cười.

Con lớn, mẹ bỗng bị chứng nặng tai. Lần lữa mãi, mẹ mới nhờ con đưa đi khám bệnh. Bác sĩ bảo: Để quá lâu, hồi phục thính lực cũng khó. Nhìn mặt mẹ ngơ ngẩn, con khóc.

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?

Kimtrong Lam  Lương Văn Can 75.

NƯỚC MỸ SỐ MỘT VÌ “TOILET”?

Lợi tức đầu người (GDP) dân Na Uy đứng hạng 3 trên thế giới: 65,500 USD 1 năm, Mỹ hạng 7 = 50,000usd, nhưng vật giá ở Na Uy cao hơn Mỹ gần 3 lần, xăng giá 11usd /1 gallon, sale tax 25%, nhà hàng không cho free nước đá lạnh như Mỹ, khát phải mua 1 chai nước nhỏ giá 24 Krone = 4USD, suy ra nếu so sánh GDP Mỹ với vật giá Âu Châu thì GDP Mỹ phải cao hơn 150,000 USD!

Ngay giữa thành phố Oslo là công viên tên Vigelandsparken Sculpture Park có những bức tượng điêu khắc mỹ thuật, rộng 80 mẫu, hàng triệu du khách đến mỗi năm… nhưng chỉ có 1 nhà vệ sinh bên cạnh quán nước ngoài cổng, phải nhét đồng 10 Krones (1.75USD) để sử dụng, nhìn đoàn người xếp hàng rồng rắn bên ngoài chờ là… nhịn luôn!

Nước Mỹ số một…

Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

“Đi cho biết đó biết đây

Ở hoài một chỗ, biết ngày nào “khôn”.

Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc đi đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người”.

Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội (kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

Nhưng khi du lịch ra nước ngoài khác mới “thấm thía”

Cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ 1$ – 1.5$/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến”, ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới!

Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra: tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Đó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại cho sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự!

Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến”, “bí” quá bèn hỏi:

– Bà có chịu tốn 10 Euro để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?

– Nín hết nổi rồi, bây giờ không phải 10 Euro mà 20 Euro tôi cũng chịu luôn!

Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc” quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!

Ở một số nước châu Á như Trung quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang như… cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1- 2 miếng giấy vệ sinh nhỏ.

Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Đúng là XHCN, hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng. Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó.

Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la…, bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ, khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn.

Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi, bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, laptop, I pad, I phone…

Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất. Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều đi ra ngay luôn. Lần này chuyến bay chuyển ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với va li carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó, leo lên xe buýt chở vô phi trường.

Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu x-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng, mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có, chỉ thấy toàn người là người

Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được… Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi…).

Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính “ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ). Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi một ly nước nhỏ. Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn!

Ôi Air France! Một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I don’t expect anything from anyone.”

Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Đức là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối châu Âu.

Đúng là có đi ra ngoài mới thấy tiện nghi ở nước Mỹ là số một, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ. Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự.

Đúng là “sweet home”. Ôi! “My beautiful America”. Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thứ 2 của tôi: Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:

“Phải chờ đến xế chiều

Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao!”

Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Coastal của Đức vừa đi. Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi điện cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer Service” để xếp hàng đi khiếu nại..

Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2,5,8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:

– Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?

– Đi kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài…

– Nhưng chúng ở đâu?

Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên. Chắc là dân châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền?

Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe, chị là bác sĩ hưu trí ở Đức. Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:

– Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Đã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi…

Không ngờ chị phản ứng mạnh:

– Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia, còn đòi xin lỗi…“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”…

Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi. Thôi “một sự nhịn chín sự lành”, nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi!

Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu châu khá mạnh (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa).

Kiểu này qua các nước Trung Đông chắc bị “xơi tái” quá, nhưng tôi nhớ một lần cách đây 5, 6 năm dân Mỹ qua Ai cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!

Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan. Chị trả lời:

– Chắc tại chị ấy ở Đức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Đức, không muốn nước nào qua mặt, mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người Viết Nam! (Chị cười) Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét!

Tôi chán ngán:

– À thì ra vậy! Hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu”.

Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy:

“Đôi khi ta muốn thoát ly

Đi thật xa khỏi cuộc đời này

Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai” (Lê Hựu Hà)

Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường, cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!).

Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người, quyền tự do…) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng!

Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “Một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:

“Tình yêu là trái chín của mọi mùa

Nằm trong tầm với của mọi bàn tay” (Mẹ Theresa)

Phượng Vũ