Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!

Tặng cho những kẻ vô học, mọi da Vàng trong Cộng đồng Người Việt!!!

***

Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!

Lâm Bình Duy Nhiên

Ngày giáp Noël 2019, từ Paris, tôi vội vã chuẩn bị lái về lại Lausanne để kịp đón lễ Giáng sinh với gia đình. Tôi tạt vào Quận 13 để mua ít đồ ăn.

Tháng 12, thời tiết chỉ hơi se lạnh. Đứng xếp hàng dài cũng độ cả chục thước để mua vài ổ bánh mì thịt. Người đông lại gặp ngay giờ trưa nên khu phố chợ châu Á tấp nập hơn bao giờ hết.

Đang rầu rĩ vì cũng đợi khá lâu mà vẫn chưa thấy nhúc nhích bao nhiêu, bất chợt nghe một giọng phụ nữ hét lên:

– Coi chừng thằng mọi nó giả bộ giành chỗ đó!

Tôi giật mình, nhìn lên thì thấy một chàng thanh niên gốc Phi châu đang nhón chân nhìn vào trong tiệm, như thể đang tìm kiếm gì đó hoặc chỉ xem phía bên trong có đông người không. Anh ta mới đến, có lẽ nóng ruột nên mới chạy tuốt lên phía trên để nhòm ngó. Vẫn giọng nói của người phụ nữ ấy:

– Mấy thằng đen nó lưu manh lắm, không chịu xếp hàng lại muốn giành chỗ.

Tôi ngó lại phía sau, cách tôi hai người, là một chị chừng ngoài 50, vẫn đang chỉ trỏ về phía anh chàng kia, dẫu anh ta đã bỏ đi, không đợi nữa. Tôi nói với chị:

– Trời, thời buổi này mà còn đen với mọi gì nữa chị!

Chị ta khẽ lườm nguýt nhìn tôi, rồi buột miệng:

– Mọi thì nói mọi chứ sao?

Tôi lắc đầu, bỏ cuộc, không nói gì nữa nhưng tự dưng cảm thấy buồn và không vui. Nhiều người xếp hàng, Việt có, Tàu có, Miên có, Tây cũng có. Cái thành phố này, cái xứ sở này và cả châu Âu này đã trở nên đa văn hoá và đa chủng tộc tự bao giờ nhưng đâu đó vẫn còn những ánh mắt, những nhận xét kỳ thị như thế. Cái từ “mọi” nó có vẻ quá dễ dàng để người ta thốt nên lời!

Có lần, trong xe buýt tại Lausanne, ngồi phía sau, tôi thấy một bé gái, chừng 5, 6 tuổi, chạy ào về phía có chỗ trống. Lập tức, giọng người mẹ la lên:

– Tới đây con, không ngồi gần tụi Chà, tụi nó hôi lắm!

Con bé ngơ ngác, chắc không hiểu hết ý mẹ nó nói, nhưng cũng chạy về phía mẹ nó, một chị người Việt Nam.

“Tụi Chà”, chị ta ám chỉ những người Tamoul, đến từ Sri Lanka. Trong những năm 80 và 90, cuộc nội chiến tại Sri Lanka đã khiến cho hơn 40 ngàn người Hổ Tamoul xin tị nạn chính trị tại Thuỵ Sĩ. Người Tamoul đông và làm nhiều nghề tay chân nặng nhọc. Chỉ có họ, chứ hiếm người Ấn Độ hay Pakistan lập nghiệp tại đây.

Nhiều người Việt vẫn đánh đồng người Tamoul với người Ấn, tức người *“Chà Và”* và vẫn xem thường sắc dân *“ăn cà ri hôi rình” *và chỉ biết* “lau chùi cầu tiêu”* nhà hàng…

Cũng như không biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với *“bọn da đen”* ở trường vì “chúng nó ngu, dốt và lười lắm”. Còn “bọn Rệp” thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại… ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!

Có lần nọ đã lâu, khi tôi chưa tham gia sinh hoạt cộng đồng, có đi theo vài người bạn đến ăn cơm tối tại một nhà hàng Việt. Khi chúng tôi vào, bà chủ quán nhìn anh bạn của tôi và nói lớn:

– Dữ chưa, hôm nay dẫn thằng mọi nào tới vậy?

Tôi hiểu liền, nên nói:

– Chào cô.

Bà chủ quán đớ người, chỉ tôi hỏi:

– Ủa, da đen biết nói tiếng Việt hả?

Anh bạn tôi vội vàng giải thích. Cô chủ quán buột miệng xin lỗi và cố giải thích vì nhìn thấy tôi “đen giống tụi da đen quá”!

Dường như cứ là người Việt là cần phải cố tình kỳ thị và phân biệt chủng tộc cho bằng được, cho giống người ta, giống người da trắng thượng đẳng. Người Việt thì phải chia ngôi, chia thứ cho ra lẽ: Bọn da trắng trước, mà phải là da trắng kiểu Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc…, chứ kiểu Nam Tư cũ, Bồ Đào Nha thì cũng chẳng ra gì. Sau đó đến Nhật, Đại Hàn.

Người Việt hẳn nhiên phải hơn hẳn các sắc dân còn lại: Đen, Rệp, Chệch, Chà, Thổ,… Đó là điều rõ ràng, không thể tranh cãi. Người mình thông minh hơn, cần cù hơn, lương thiện hơn. Tóm lại, cái gì cũng nhất cả, chỉ chịu sau mỗi bọn da trắng và da vàng kia thôi.

Cho nên, từ nhỏ, khi xem phim, con nít đã cứ tha hồ *“Bọn mọi da đen”* hay “Mọi da đỏ” này nọ. Từ “thổ dân” thì chẳng mấy ai sử dụng. Thời xưa cổ hủ, cố chấp thì “Me Tây”, “Me Mỹ”, rồi “Chệch”, rồi “Chà”. Thế nhưng ngày nay, khi biên giới giữa các quốc gia đang dần dần bị xoá bỏ, khi con người có nhu cầu sinh sống, làm việc hay lập nghiệp khắp nơi trên thế giới thì nhiều người Việt vẫn còn mang nặng tư tưởng kỳ thị các sắc dân da màu khác.

Trong những cuộc tranh luận mỗi khi có bầu cử tại Thuỵ Sĩ hay Pháp, không hiếm người Việt hồ hởi cho rằng phải bỏ phiếu cho các đảng cực hữu để họ tống cổ bọn “Mọi” và “Rệp” về nước của họ! Họ cố tình không muốn hiểu đó là những người có quốc tịch thậm chí sinh ra và trưởng thành tại đây từ 2 hay 3 thế hệ…. và họ cũng quên rằng, chính họ cũng là người tỵ nạn hay di dân đến định cư nơi đây, có khác gì “bọn đen hay chà và”? Chính ọ cũng bị các sắc dân khác, đặc biệt là bọn da Trắng thượng đẳng cũng muốn tống cố đám da Vàng mũi tẹt về nước đó thôi!

Cứ như thể chỉ có người Việt là xứng đáng được có quốc tịch và là những công dân gương mẫu.

Nếu như trong tiếng Pháp có từ *“négro”* bị xem như là một sự xúc phạm, kỳ thị người da đen. thì người Việt cũng có từ *“mọi”*. Tuy nhiên, tại Pháp hay Thuỵ Sĩ, những ai buộc miệng nói lên từ này đều bị lên án và có thậm chí có thể bị phạt thì người Việt mình vẫn còn *“vô tư”* chế giễu hay kỳ thị người da đen một cách thoải mái, không ngại bị phạt gì cả. Trong nước cũng thế, bên ngoài cũng vậy, cứ tha hồ *“mọi” này, “mọi” kia *bằng tiếng Việt với nhau, rồi cười ầm cả nhà khoái chí vì tự cho mình thượng đẳng hơn kẻ khác.

Thế cho nên mới có chuyện ông cựu Tổng thống Mỹ Obama bị nhiều người Việt, không chỉ riêng bên Mỹ, mà cả tại Việt Nam, buông lời miệt thị nặng nề. Dĩ nhiên, chê bai hay phản biện lại những thành tựu hay những hậu quả của ông ta đã để lại cho nước Mỹ vượt quá khả năng hiểu biết nên họ chỉ nhắm vào cái dễ nhất, cái bắt mắt nhất: màu da đen của ông ta.

Không quá khó để tìm thấy những lời chửi rủa đậm tính chất kỳ thị sắc tộc đối với vợ chồng ông. Nào *“mọi”*, nào *“man rợ”*, nào *“rừng rú”* hay *“đười ươi”.* Thậm chí nhiều kẻ vẫn không ngượng khi rêu rao những lập luận bệnh hoạn của các nhóm cực đoan da trắng khi cho rằng máu của ông Obama không phải là máu tinh khiết thuần trắng và siêu việt!

Họ phấn khởi truyền cho nhau tấm ảnh ông Obama gác chân lên bàn làm việc khi trao đổi với các cộng sự và cho rằng đó là “Chó Nhảy Bàn Độc” nhằm hạ uy tín ông ta cũng như chứng minh rằng “mọi” thì vẫn là “mọi” dẫu có làm Tổng thống đi chăng nữa.

Tuy nhiên, họ cố tình quên rằng, nhiều vị Tổng thống da trắng khác cũng có tác phong như thế khi làm việc. Có lẽ, họ sẽ biện minh rằng đó mới chính là cái uy, cái dũng của một vị tổng thống một cường quốc!

Khó có thể hình dung những lời chửi rủa mang tính chất kỳ thị chủng tộc tồi bại như thế lại có thể tồn tại và không bị trừng phạt ngay tại Mỹ hay nhiều nước phương Tây. Tiếc thay, đó lại là sự thật.

Tiếng Việt là ngôn ngữ của một thiểu số và nó chỉ tồn tại quanh quẩn giữa những người Việt với nhau. Họ tha hồ chửi rủa, tha hồ miệt thị những sắc dân khác bằng tiếng Việt. Không ai hiểu, không ai lên án, không ai tố cáo họ. Nhưng qua đó, có một sự thật khác khiến chúng ta không thể chối bỏ, đó là người Việt chúng ta, dẫu ở đâu đi chăng nữa, vẫn chỉ là một sắc dân không hội nhập với người bản xứ. Cứ đóng cửa chơi với nhau, chửi bới nhau, kỳ thị nhau, đố ai biết được!

Ông Tedros Adhanom, Tổng Giám đốc WHO, bị nhiều chỉ trích, chê bai vì cách quản lý, điều hành kém cỏi trong vụ đại dịch Corinavirus, là điều hiển nhiên. Ông ta và WHO đã quá lệ thuộc vào Trung cộng nên bị dư luận nguyền rủa. Nhưng thay vì phản biện một cách khoa học thì nhiều người Việt không ngừng ngại mắng mỏ *“thằng mọi này” hay “thằng mọi kia” bao giờ từ chức? Cứ như thể là da màu, nhất là da đen thì không thể nào nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Cụ Phan Châu Trinh từng viết: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy”.

Thật vậy, cực đoan bài ngoại và ỷ ngoại. “Bài” tất cả những gì mà ta cho rằng yếu kém, hạ đẳng, rừng rú, man di, mọi rợ. “Ỷ” lại những gì ta cho là siêu việt, thượng đẳng và tiến bộ. Hai đặc tính ấy đã trở thành một phần máu mủ tạo nên cá tính con người mình. Khi đã ở hai thái cực của sự cực đoan thì hệ quả tiếp theo là tính tự tôn và tự ti.

Chỉ có thế mới khiến người Việt luôn ở trong trạng thái sợ bị so sánh, nhòm ngó và bằng mọi giá phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng mình còn “hơn cả khối người” trong thiên hạ. Cái tâm lý thà bị “da trắng” đè đầu, cưỡi cổ còn hơn bị “da màu” vượt mặt khiến người Việt trở nên kỳ thị các sắc dân khác hơn bao giờ hết.

Đó chắc chắn là tâm lý tự ti của không ít người Việt “bỗng dưng” bị một anh “da đen” lại còn *“Hồi giáo” (theo các thuyết âm mưu) làm Tổng thống Hoa Kỳ, cả hai nhiệm kỳ. Đối với họ, đó là một sự “xúc phạm” không thể nào chấp nhận.

Khổ nổi, nhiều người Việt, xem như thể họ có quyền kỳ thị và phân biệt chủng tộc với thế giới còn lại. Họ cho rằng đó là điều hiển nhiên, đó là qui luật tự nhiên. Họ không chịu hiểu rằng nhân loại đã phải tranh đấu nhiều vì công bằng và công lý cho mọi sắc tộc.

Từ Rosa Parks đến Martin Luther King hay Tommie Smith và John Carlos đến Nelson Mandela, nước Mỹ và thế giới tiến bộ đã biết sửa đổi những sai lầm. Họ trung thực và can đảm chấp nhận những lầm lỗi. Người Việt dường như vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hiểm và mức độ tàn bạo của sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại. Họ vẫn vô tình hay cố tình cổ suý cho chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dẫu suy cho cùng dân tộc Việt vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, vẫn chưa có đóng góp quan trọng nào cho nhân loại cả!

Sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc vẫn là một đề tài nhạy cảm. Khó có thể ngăn cấm hoàn toàn những suy nghĩ thầm kín của con người, nhất khi nó thuộc về bản năng. Ngày nay, những làn sóng bài ngoại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hô hào tính thượng đẳng của người da trắng đang dần dần trỗi dậy tại các quốc gia phương Tây. Tuy chỉ là thiểu số nhưng đó là những tín hiệu nguy hiểm cho sự rạn nứt, có thể xảy ra, của những xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc.

Chỉ có sự giáo dục nghiêm túc từ nhà trường đến gia đình mới giúp cho các thế hệ trẻ đồng cảm với những nỗi thống khổ của các sắc dân khác, từ đó xây dựng một xã hội nhân bản nơi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc phải bị tẩy chay là lên án. Đó chính là sự quan tâm tâm và mục tiêu hàng đầu của các chính phủ để tránh lập lại những sai lầm tai hại trong quá khứ.

Tiếc thay, dường như đó chưa bao giờ là ý tưởng và mục tiêu giáo dục chung của người Việt.

Và không biết đến bao giờ cái văn hoá khinh thường, miệt thị và phân biệt chủng tộc nơi người Việt mới thực sự bị xoá bỏ và lên án.

Bởi vì, chỉ khi ấy, dân tộc Việt mới thực sự hội nhập vào thế giới văn minh và nhân bản!

***

– Kỳ thị da màu….

– Ảnh trên từ trái: Tổng thống Ford và Nixon; ảnh dưới: Bush (con) và Carter đều gác chân lên bàn.

– – Một stt kỳ thị của một Facebooker người Việt với ông Obama gác chân lên bàn khi làm việc…

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẶC BIỆT, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẶC BIỆT, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẶC BIỆT

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Trong quyển sách mới Thức Tỉnh Hôm Nay (Waking Up to This Day), bà Paula D’Arcy đã chia sẻ câu chuyện sau: Bà quen một người đàn bà, bà này mất người con trai trong một tai nạn.  Vài năm sau, có người nói chuyện với bà, chia sẻ nỗi buồn khi bà không được nhìn đứa con khôn lớn, lập gia đình, không có cháu để ẵm.  Bà trả lời: “Tôi không nghĩ giới hạn ngang đó.  Câu trả lời là tôi không biết.  Tôi không biết cuộc sống con tôi sẽ như thế nào.  Giờ đây, tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng, và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó.  Tôi chẳng làm được gì trong việc này.  Nhưng tôi đã dự phần trong một thời điểm của hành trình tâm hồn nó.  Vì vậy, tôi biết ơn đến không nói nên lời.”

Câu chuyện này nhắc tôi nhớ một câu chuyện khác của một bà đã chia sẻ gần đây trong một cuộc tĩnh tâm.  Mẹ của bà là một phụ nữ thăng bằng vững vàng và có lòng tin ngoại hạng.  Câu tâm niệm bà sống cho chính bà trước, rồi sau này bà lặp đi lặp lại mãi cho các con là: chúng ta chỉ hạnh phúc khi chúng ta biết ơn về những gì chúng ta có, vì, và duy nhất chỉ vì vậy, đó là những gì đủ cho chúng ta.  Lời dạy mãi mãi của bà là: Như vậy là đủ!

Và bà sống điều này trọn vẹn cho đến giờ cuối đời: Bà nhập viện vì một căn bệnh chưa có thuốc trị, nhiễm trùng máu và rất ít hy vọng cứu chữa.  Khi sức khỏe bà ngày càng sa sút, gia đình túc trực bên giường bệnh của bà trong vòng mấy tuần.  Cuối cùng, bà đưa ra quyết định: Bà gọi cả nhà lại và bảo rằng, tất cả đã ở đây với bà và bỏ bê gia đình lâu quá rồi, bà cho biết đã liên hệ với khoa chăm sóc chờ chết trong bệnh viện và yêu cầu được chuyển đến đó, bà sẽ có thể chết trong ngày hôm đó.

Bà được chuyển đến khoa chăm sóc này, y tá báo cho cả nhà biết sẽ tiêm cho bà một liều thuốc mạnh để bà chìm sâu vào giấc ngủ và có thể bà sẽ không bao giờ tỉnh lại.  Lúc chuẩn bị chích, con gái bà, người kể câu chuyện này, ngồi cạnh giường bà, cầm tay bà, ôm chặt bà như đứa trẻ và nói: “Mẹ ơi, một lúc nữa thôi!  Chỉ một lúc nữa thôi!  Đừng ngay bây giờ!  Ở lại với chúng con một chút nữa thôi!”  Nhưng bà, với nghị lực lâu nay của bà, bà nói: “Đủ rồi, vậy là đủ rồi.”  Đó là những lời cuối cùng của bà với cô con gái và với cả gia đình.

Đó là các câu chuyện kiên quyết về những người đàn bà nghị lực, với đủ khôn ngoan và lòng tin để loại bớt các tình cảm ủy mị sai lầm dễ làm cho chúng ta tê liệt khi đứng trước mất mát.  Cả hai đều biết sẽ có lúc ra đi và cách thức ra đi đã không làm giảm đi, nhưng lại tăng thêm tình yêu.  Cả hai đều biết sự thật sâu xa của phục sinh: rằng đức tin không đòi hỏi chúng ta ướp xác chết, nhưng phó thác nó cho trần gian và cho Thiên Chúa, đấng ban sự sống và sự sống lại.  Cả hai đều biết bí mật sâu xa nhất của cuộc sống không bị tê liệt vì cái chết, nhưng để nó ra đi, chuyển tiến và thấm sâu hơn.  Và cả hai đều tôn trọng thích đáng các nhịp điệu sâu lắng của cuộc sống.

Tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó.  Điều này không thuộc về tôi…  Tôi biết ơn đến không nói nên lời vì được dự phần vào bí nhiệm đó.  Như những phụ nữ này, chúng ta sẽ tôn trọng người khác vô cùng nếu chúng ta biết chấp nhận hiện thực đó.  Tình cảm sai lầm thường kéo chúng ta theo các hướng khác.  Chúng ta khóc rất nhiều, vì chúng ta muốn cuộc đời người khác hướng về chúng ta.  Tôi có thể là cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, anh chị em, thầy dạy, bảo hộ hay người bảo vệ của ai đó, nhưng xét đến cùng, linh hồn người đó có sự riêng tư, tự do, ác tính và số mệnh cho riêng họ mà thôi.  Những người khác không vì tôi mà sống.  Hầu hết các giọt nước mắt chúng ta khóc là khóc cho mình, không phải cho người khác.

Đủ rồi!  Đây là những từ quan trọng mình phải có cho hành trang của mình.  Với Thomas Merton, nhận thức (“Đủ rồi!”) tạo nên phần bí mật khó lường của hạnh phúc.  Sau đây là những gì ông mô tả về cách thức tìm kiếm bình an trong cuộc đời của ông.  Trong nhật ký hàng ngày, có một hôm ông chia sẻ ngày hôm đó, ông đã tìm thấy bình an.  Tại sao?  Vì hôm nay đã đủ, sống như một người bình thường, với đói khát và ngủ nghỉ, lạnh lẽo và ấm áp, thức dậy và đi ngủ.  Đắp chăn rồi tung chăn, pha cà-phê rồi uống.  Xả đá tủ lạnh, đọc sách, suy ngẫm, làm việc, cầu nguyện.  Tôi sống như những tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất này cho đến giờ cuối của tôi.  Amen.  Không cần phải làm một khẳng định về cuộc sống của tôi, đặc biệt về những cái gì của tôi, dù chắc chắn nó không phải của ai khác.  Tôi phải tập quên dần dần các lập trình và tính toán.  Vào một ngày đó trong cuộc đời, ông có thể nói: “Đủ rồi!” Và nó là vậy.

Và chỉ duy nhất sự thừa nhận này mới có thể cắt bớt khối u bất mãn của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Bùi Giáng, Đại Lão Cái Bang

Bùi Giáng, Đại Lão Cái Bang

 

Vương Trùng Dương

(Đặc San Lâm Viên)

Lời Tác Giả: Bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) của tuần báo Tình Thương của nhà văn Lâm Tường Dũ (hiền thê của anh, bà con với Bùi Giáng) gợi ý tôi viết bài nầy để có món quà kỷ niệm người anh vào tuổi thất thập. Nhờ tài liệu của anh Bùi Như Hải lưu trữ hỗ trợ cho bài viết.

 Sau khi Bùi Giáng qua đời (tháng 10 năm 1998) có nhiều bài viết cũng tựa đề nầy vì hình ảnh và cuộc sống cá biệt của ông tựa như nhân vật trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung trong Võ Lâm Ngũ Bá đến Anh Hùng Xạ Điêu… Bang chủ Cái Bang đời thứ 18 xuất hiện trong chốn võ lâm. “Lão ăn mày” ăn mặc rách rưới, võ công thâm hậu, thích rượu, lúc say, lúc tỉnh, khi tĩnh lặng, khi ồn ào náo nhiệt giữa đám quần hùng. Con người như vậy nhưng hành hiệp đạo nghĩa, bệnh vực kẻ yếu, trừ ác gian tà.  

Ở Sài Gòn, khi chính quyền ban hành “Sắc Luật 007” để kiểm soát báo chí, Hội Chủ Báo, Hội Ký Giả Việt Nam, Hội Ký Giả Nam Việt và Hội Ái Hữu Ký Giả xuống đường ngày 10/10/1974 “Ký Giả Đi Ăn Mày” tại Sài Gòn. Lợi dụng thời cơ, phần từ năm vùng, phản kháng, a dua bị gậy phản đối chính quyền. Từ đó, hình ảnh “cái bang” trở thành quen thuộc.

 Nay, với tuyển tập về Quảng Nam, dù 25 năm trôi qua (1996-2021) nhưng với nhân vật Quảng Nam nổi tiếng trong nhiều lãnh vực thơ văn, dịch giả và triết học: Bùi Giáng. Con người bất hạnh trong cuộc sống nhưng sáng tác của ông là gia tài quý báu trong dòng sinh mệnh văn học của miền Nam Việt Nam 

 — VTrD

 “Mùa xuân hẹn thu về em trở lại

Bên đời đi còn giữ mãi hay không

Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại

Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng”

(Bùi Giáng)

Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)…

Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yêu cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng.

Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.

Ngược Dòng Thời Gian

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tý. Ông Cửu Tý thỉnh thoảng bị bệnh “điên” và khi “điên” thì làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui. Ông Cửu Tý lấy người vợ kế Huỳnh Thị Kiền, sinh ra Bùi Giáng. Theo thứ tự trong gia đình, ông thứ sáu nên gọi là Sáu Giáng. Nhà thờ Tộc Bùi với gia phả ghi lại nơi đây và sau này có thêm ở Sài Gòn.

Năm 1933 bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý. Năm 1936 học ở trường làng Bảo An với thầy Lê Trí Viễn. Tiếp tục theo học tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó chuyển sang học trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành Chung (Văn bằng này thời đó gọi là Cao Đẳng Tiểu Học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet Primaires, người Việt thường gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme). Trong năm này, ông 19 tuổi, cưới vợ là bà Phạm Thị Ninh, gọi là Vãn Ninh, rất xinh, con ông bà Phán Trai ở Hội An.

Thời điểm nầy, tình hình biến động, ông đưa vợ về quê sinh sống, nhưng tai họa ập đến, vợ qua đời! Ông đau khổ, chán chường rời cố hương. Thiên tình sử của ông rất đặc biệt. Khi còn học ở trường Viên Minh, Hội An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học sau ông một lớp, nổi tiếng xinh đẹp, quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An. Năm 1945 gia đình bà Phạm Thị Ninh tản cư lên Trung Phước, ông đem vợ lên rồi mua một đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.

Theo nhà thơ Tường Linh, học trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một buổi sáng, trời mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một gốc cây, ngã xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông rất yêu thương, sau này ông thường gọi là “con mọi nhỏ”, bị bạo bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi hẳn việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi về phố thị rộn ràng.

Năm 1950 ông đỗ Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ Bình Trị Thiên) theo học đại học nhưng khi nghe Viện Trưởng đại học đọc diễn văn, ông bỏ ý định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương. Tháng 5 năm 1952, ông ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương cho hợp lệ.

Theo lời người bào đệ, cùng cha khác mẹ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic, Huntington Beach, California, Bùi Giáng “Có vợ vào lúc còn rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh”. Ông chung tình chung nghĩa với “mộng ban đầu”, suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi “hồn nguyên tiêu” bao nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào cõi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.

“Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc Gia. Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài Gòn, ghi danh vào đại học Văn Khoa. Cả lần này nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đã quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường trung học tư thục…” (Bùi Vịnh).

Với dòng tộc Bùi lúc đó nổi danh với bác sĩ Bùi Kiến Tín, trưởng nam của ông Bùi Biên (ông Cửu Thứ) và bà Phan Thị Yến. BS Tín tham gia vào nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ Trưởng Bộ Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập, ông không tham chính và phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung Tá, sau đó giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng Thống và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (1960). Bùi Giáng đã tham gia trong thời kỳ Việt Minh nhưng có lẽ “cái bóng” của người anh bà con nên chính quyền không theo dõi ông nhưng ông nhờ vả gì vào “cái bóng” để lập thân.

Ông có năng khiếu về ngoại ngữ, tinh tường về Anh, Ðức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học tiếng Ðức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết học Ðức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.

GS Vũ Ký, thầy dạy của ông, trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc” trong Giai phẩm Quảng Ðà 94 “Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Bùi Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Bùi Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa”.

“Với Tất Cả Bùi Giáng” của Trần Phong Giao, Bùi Giáng “Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông”.

Ðó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của “người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác thời điểm quan trọng trong giai đoạn trong 9 năm “kháng chiến” đã ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng chiến”, theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn…

Sau 3 năm “chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ “Nỗi Lòng Tô Vũ” của ông đã ghi “Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.

Không bao giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn”. Và hai câu thơ của ông: “Người điên mang một nỗi buồn. Chưa bao giờ biết cội nguồn từ đâu” để trả lời với tha nhân. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn Học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt trong văn giới. Từ tuổi thơ đến thời điểm “tam thập nhi lập” (1926-1956) trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nỗi đau tột cùng trong tình yêu. Vì vậy, trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông.

Tháng 5,1973, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “Số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng”, 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lạ và cả hai cùng hỏi và nói “Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ… Với ông, sáng tác chẳng có liên quan gì với tiểu sử, trong thơ đã chứa đựng đoạn đường trải qua.

Có nhiều tác phẩm đã đề cập đến ông, điển hình như Cao Thế Dung với Văn Học Hiện Ðại: Thi Ca & Thi Nhân; Năm Sắc Diện, Năm Ðịnh Mệnh của Du Tử Lê; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ; Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại của Trần Tuấn Kiệt…

Sau tháng Tư năm 1975, cái bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi giai thoại nói lên cái điên, cái tỉnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám… và một Bùi Giáng cuồng sĩ bất khuất.

Tác Phẩm

Gần hai thập niên ở Sài Gòn, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:

  • Sách Giáo Khoa, Luận Đề:
    • Bà Huyện Thanh Quan, 1956
    • Lục Vân Tiên, 1956
    • Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, 1956
    • Truyện Kiều & Truyện Phan Trần, 1957
    • Cung Oán Ngâm khúc, 1957
    • Nguyễn Công Trứ, 1957
    • Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958
    • Phan Bội Châu, 1958
    • Chu Mạnh Trinh, 1958
    • Tôn Thọ Tường & Phan Văn Trị, 1958…
  • Sách Dịch:
    • Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966
    • Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966
    • Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966
    • Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966
    • Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974
    • Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967
    • Ngộ Nhận của A. Camus,1967
    • Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968
    • Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968
    • Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968
    • Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969
    • Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969
    • Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969
    • Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973
    • Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…

Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung

  • Sáng Tác:
    • Thơ: Mưa Nguồn, 1962
    • Ngàn Thu Rớt Hột, 1962
    • Bài Ca Quần Ðảo, 1962
    • Lá Hoa Cồn, 1963 – Màu Hoa Trên Ngàn, 1963
    • Sa Mạc Trường Ca, 1969
    • Rong Rêu, 1970
    • Ðêm Ngóng Trăng, 1972…
  • Biên Khảo, Tạp Văn, Tùy Bút:
    • Tư Tưởng Hiện Ðại, 3 quyển, 1960 & 1962
    • Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại, 2 quyển, 1963
    • Sao Là Không Có Triết Học Heidegger, 1969
    • Ði Vào Cõi Thơ, 1969
    • Thi Ca Tư Tưởng, 1969
    • Sa Mạc Phát Tiết, 1969
    • Sương Bình Nguyên, 1969
    • Trăng Châu Thổ, 1969
    • Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969
    • Thúy Vân, Tam Hợp Ðạo Cô, 1969
    • Mùa Thu trong Thi Ca, 1970
    • Biển Ðông Xe Cát, 1970
    • Ngày Tháng Ngao Du, 1971
    • Ðường Ði Trong Rừng, 1972
    • Lời Cố Quận, 1972
    • Lễ Hội Tháng Ba, 1972
    • Con Ðường Ngã Ba, 1973…

Năm 1965 nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông. Năm 1969 ông “bắt đầu điên rực rỡ” nhưng được các nhà xuất bản in nhiều tác phẩm nhất. Sau đó, ông “lang thang du hành Lục Tỉnh”, trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc… cho thỏa ý nguyện. Thầy Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, rất thân với Bùi Giáng và lo ấn hành tác phẩm. Nói đến Bùi Giáng, con người nhập tâm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Có lần ông dạy Việt Văn, khi đề cập đến Thúy Kiều bán mình chuộc cha, ông khóc nức nở. Ngay trong tác phẩm viết về triết học, ông cũng dẫn chứng tư tưởng đó có trong thơ Kiều. Và, trong các tác phẩm Âu Châu qua bản dịch của ông cũng thấp thoáng “hồn Nguyễn Du”. Với những tác phẩm được ấn hành, tuy có nhiều tiền tác quyền nhưng ông “thú vui kẻ sĩ” không lưu giữ, “nướng” cho thú vui trong lối sống giang hồ bạt mạng trên đường phố…

Năm 1970, Bùi Giáng phải đưa vào chữa trị ở nhà thương điên Biên Hòa. Khi vào bệnh viện ông đối đáp với bác sĩ nên không biết đâu là “trí óc rối loạn”. Và trong năm đó, ông đã cho in Biển Đông Xe Cát và Mùa Thu Trong Thi Ca. Kế tiếp với những tác phẩm cho đến năm 1973… (Theo người bạn thâm niên Bùi Như Hải thì dòng họ anh có vài người bị bất thường “điên” nhưng chỉ khoảng thời gian nào đó thôi, và thường tái phát vào mùa hè, trời nóng bức).

Sau biến cố tang thương năm 1975, Bùi Giáng điên nặng. Cái điên vì thời cuộc của ông “hành khất Cái Bang” được ghi lại với nhiều giai thoại. Vừa điên vừa khôn trong “bức tranh vân cẩu” vừa thương ông vừa nể phục. Từ đó, Bùi Giáng sống lang thang bên lề xã hội!.

Người điên Bùi Giáng cũng bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Ðịnh. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mày tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn “cặn bả” của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Ðài “Cuộc sống của anh tại Sài Gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu mình trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định trong cơn điên… Ði lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được”. Thế nhưng “Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca – của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ”.

Hình ảnh ông già tuy mới năm mươi lúc đó, mặc quái dị, đủ màu sắc, đeo đủ thứ, tóc tai dài phủ ót, rối bù, mang kính cận thị nặng, cầm một cái gậy múa may quay cuồng trên đường…

Nơi nào ông xuất hiện, đám đông vây quanh, nhất là trẻ con bu quanh “diễn viên Cái Bang” náo nhiệt. Ông xuất thần với những câu thơ, được truyền tụng lại, thật hư không biết nhưng cái điên của ông mới bạo gan chửi chế độ như vậy. Từ đó “Cái Bang 9 túi” lang bạt suốt hai thập niên. Bất kể mưa nắng, màn trời chiếu đất, thân xác gầy còm… thế mà sống thọ qua tuổi thất thập.

“Có hôm gặp ông ngoài đường. Ông mặc quân phục chế độ cũ, lon lá huy chương đầy mình. Mọi người sợ hết hồn, vì thời gian ấy các sĩ quan chế độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo kẻ nào trốn cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân” (Nguyễn Thụy Long – Giữa Đêm Trường).

Ông cũng tự giải thích:

“Tôi điên là bởi tôi điên

Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau

Tôi điên từ trước đến sau…”

(Bùi Giáng, “Thơ Bùi Giáng, hải ngoại 1990”)

Sống chết với ông như lời tự nguyện:

“Hãy mang tôi tới giữa đời

Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo

Hãy mang tôi tới nắng chiều

Giết tôi chết giữa một chiều khe nương”

(Sa Mạc Trường Ca, 1969)

Tại hải ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:

  • Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.
  • Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 1994, Phạm Xuân Ðài thực hiện, gồm 106 bài thơ.
  • Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh bìa “Thiếu Nữ” do Bùi Giáng vẽ.

Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng đã cống hiến cho đời, cho nền Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy gò, bệnh tật, tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà tạo dựng “kho tàng quý báu” cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không thể hiểu được.

Ngôn Ngữ & Cuộc Sống

Gần gũi, tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến, cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.

Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương… Sự hình thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó… Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận”. 

Thế mà, chân dung, đời sống của nhà thơ “Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế… Ông ấy chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy… Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói”. Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang…

“Trần gian lắm kẻ không cơm áo

Mà con thờ thẩn cứ nhìn trăng.”

Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” (Uyên Thao – Thơ Việt Hiện Ðại).

Nhà giáo Vũ Ký, vị thầy của bộ ba Bùi Giáng, Tạ Ký, Nguyễn Thùy từ lúc ở cố hương đến khi cùng làm thấy giáo tại Sài Gòn, viết nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên khùng, lang bạt… một Bùi Giáng với tình yêu ảo tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lãng mạn với bóng hồng ở tuổi 60. Không hiểu vì cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô, một cô là ÐNLH (giáo viên trung học, người Huế) và một cô là HHTV, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. (Bùi Giáng, Tạ Ký và Nguyễn Thùy gặp nhau thì “Quảng Nam hay cãi” tuy bất đồng nhưng không bất hòa, rất chân tình, quý mên nhau). Thế rồi cô LH “Lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc tình tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên”. Ðó cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng hình ảnh Ðại Lão Cái Bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi còn đôi mươi, tâm tình với nhau.

Bùi Giáng sống trong cảnh khốn cùng của tuổi già mà ông tự chọn vì không muốn liên lụy với người thân muốn lo cho ông. Khi tuổi già sức yếu ông đành tá túc tại nhà người anh em chú bác (Bùi Võ) tại Bình Thạnh, người thân lo chu đáo cho ông nhưng không thích bị gò bó trong nhà trước khi qua đời sau khi bị đột quỵ (stroke), sau những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng). Thế nhưng, hơn hai thập niên ở trong nước đã có vài bài viết về ông với hình ảnh con người điên loạn, con người phản kháng sống bên lề cuộc đời! Những tác phẩm của ông bị chôn vùi theo thời gian trong cuộc sống tuổi già nhưng thơ văn của ông với người Việt hải ngoại vẫn giữ thế đứng trong nền Văn Học của đất nước. Văn Chương, Nghệ Thuật của ông như một cõi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm bút theo giáo điều chủ trương “hiện thực xã hội”!

Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông bất thường, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật bình dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.

Trước kia, Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn phòng ở đại học Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp đâu ngủ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau này, thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Ðịnh, căn phòng nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài Gòn, ông để đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lý, vỉa hè.

Với ông, tư tưởng triết học của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Whitman, Emily Dickinson… Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeare… Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất linh động, tài tình. Cuộc đời của ông điên, tỉnh, ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du. Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ “mê hồn trận thị phi”. Bùi Giáng tôn thờ Nguyễn Du và M. Heidegger như “thánh nhân tư tưởng”. Tác phẩm Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại dày hơn một nghìn trang là một công trình biên khảo triết học từ năm 1963, còn xa lạ với bộ môn nầy ở miền Nam VN. Đôi lần tôi hỏi anh Trần Văn Nam, sau khi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết Học Tây Phương, vừa đi dạy, tiếp tục với luận án cao học về Hiện Tượng Luận từ quan niệm của Husserl được thay đổi bởi M. Heidegger, anh nói bộ môn nầy rất nhức đầu nhưng cũng từ tác phẩm của Bùi Giáng nên anh chọn đề tài cho luận án.

Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ, viết như đã nhập tâm từ trước.

Với năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. Vì vậy, khi tìm hiểu M. Heidegger, ông học tiếng Ðức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm được chuyển ngữ (không nguyên bản) thì không còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn thi phẩm Ngàn Thu Rớt Hột của ông nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “hình ảnh cứt dê” bao năm ông gần gũi với nó trên núi rừng. Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, hình ảnh bóng bẩy đó được, hay thi phẩm “Lá Hoa Cồn”, ẩn ngữ bí hiểm.

“Bây giờ đành chịu chia xa

Em vào hang núi tôi ra hố ngàn

Gửi linh hồn lại nhân gian

Ôi người Hải Ngoại ôi nàng Phương Tây”.

(Bây Giờ Còn Lại – Lá Hoa Cồn, 1963)

Có lần Huy Tưởng, nhà thơ Tam Kỳ, Quảng Nam, gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm “rớt hột”, nghe nói ông có chăn bò ở quê đúng không? – Đúng! Đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.

Nguồn thơ của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương, ở núi rừng Trung Việt. Ðiều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. “Người tình trong thơ” Kim Novak, Kim Cương. Ngài ra với vài hình bóng các cô Kim… thấp thoáng:

“Ôi phương cảo! Ôi Kim Liên

Cảo thơm Kim Thúy diện tiền Kim Hoa!

Ôi Kim Ngọc! Ôi Kim Nga

Chắc gì mai hậu mà ra phụ lòng”.

(Ra Hoa)

“Tuy nhiên hồn mộng chan hòa

Ðầu tiên Kim Thúy, Kim Hoa thập thành

Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh

Ði về vô tận tập thành Kim Liên

Kim Nga, Kim Ngọc diện tiền

Ðầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy”.

(Cuối Ngày Em Ði)

Ông lang thang với thời gian quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế gian đảo điên nhưng đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối tình đầu đời đã hoài công tìm lại:

“Chắp tay tôi lạy ông trời

Tìm người yêu giúp giùm tôi một lần”

(Tìm Em)

Khi làm kẻ chăn dê và hình ảnh nơi cố hương được mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:

“Ðồi tăm tắp chạy về ôm chân núi.

San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.

Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối.

Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Vang vang lên đồi núi giọng be be”.

(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Và, trong khung cảnh đó, ông bày tỏ nỗi niềm cùng hình ảnh người yêu:

“Em nhớ hay không hồn hòa dại cỏ

Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya

Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ

Gió cây rung trút lá mộng tan lìa”

(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Ðế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn dê gần hai thập niên. Vì vậy, nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.

Hình ảnh người vợ, người tình ban đầu, yêu thương say đắm, đã vĩnh viễn ra đi để lại cho ông nỗi thống khổ với tình, với thủy chung hình bóng cũ:

“Em chết bên bờ lúa

Ðể lại trên đường mòn…

… Ðêm cuồng mưa khóc điên

Trăng cuồng khuya trốn gió…

… Anh đi về đô hội

Ngó phố thị mơ màng

Anh vùi thân trong tội lỗi

Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang”

(Bờ Lúa – Mưa Nguồn, 1962)

“Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng 

Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”.

(Người Xưa – Mưa Nguồn)

Chỉ có Bùi Giáng và duy nhất chỉ có ông mới gọi những “bóng hồng” bằng mẹ. Hiện hữu hay ở phương trời xa xôi. Ông ngông đến thế, bỡn cột hay lòng thành kính, huyễn hoặc với ngôn ngữ thi ca, cũng là hiện tượng.

Phùng Khánh và Phùng Thăng là hai dịch giả nổi tiếng qua vài tác phẩm văn học, Phùng Khánh là ni sư giữa thập niên 60. Ông ngưỡng vọng hai dịch giả này:

“Mẹ còn nhớ nữa con chăng

Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên

… Phùng Thăng mẹ chớ xui nên

Từng cơn điên dại khôn đền cho con”…

“Con thương Phùng Khánh vô ngần

Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên”…

Có lúc Bùi Giáng gọi là mẫu thân Phùng Khánh, có lúc gọi là Trí Hải ni cô. Cùng lúc với Marilyn Monroe, Kim Novak, Kim Cương nương tử… nên ông yêu điên cuồng, nguyện làm đệ tử của thần ái tình.

Nhưng có khi ông coi mình như vị vua với người tình:

“Trẫm ghé thăm em

Một bận này

Mai sau Trẫm sẽ

Nhớ hôm nay

Một lần Trẫm ghé

Thăm em thế

Suốt một bình sinh

Trẫm nhớ hoài”…

(Trẫm Ghé Thăm – Lá Hoa Cồn)

“Trẫm nhớ em như 

Nhớ một người 

Rất gần mà cũng 

Rất xa xôi”…

(Trẫm Nhớ Em – Lá Hoa Cồn)

Bất hạnh trong tình trường, ông rong ruổi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng trái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.

“Văn thơ cùng tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái ‘điên loạn, ngông khùng’ của Bùi Giáng, cũng sẽ được nhắc nhở hoài trong văn chương, văn học” (GS Vũ Ký). Phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng của ông, ông sáng tạo lúc tỉnh, ngao du lúc động để mãi mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối tượng khơi động, dòng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết tinh thành “thiên cổ lụy” ngất ngây, nồng nàn, say đắm hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân, ông phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tỉnh, khi điên… nhưng mọi người vẫn quý mến, thán phục tài năng của ông.

Với thi ca, nó nhập vào trái tim, tâm hồn, định mệnh ông khi điên, lúc tỉnh, khi hoan lạc, lúc khổ đau… Ý thơ, hồn thơ, chất thơ… của Bùi Giáng nếu đề cập không đơn giản qua bài viết, cũng vài trăm trang sách.

Một hình bóng, suốt cả cuộc đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát, ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù, áo quần tả tơi, kỳ quái trên đường phố… mà tự bản thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với “Ngày Tháng Ngao Du”…

Khi còn sống ở giai đoạn cuối đời, Bùi Giáng bị bỏ quên từ con người đến tác phẩm ở trong nước. Khi ông qua đời, nhiều người “làm văn tế ruồi” như Kim Cương với “nước mắt cá sấu” được báo chí tung hê. Tình đời là vậy! Bùi Giáng bỏ lại bao mối tình đơn phương cô độc để trở về với người vợ năm xưa nơi cố hương, vĩnh viễn bên nhau nơi cõi thiên thu.

Vương Trùng Dương

(1996 – viết thêm khi Bùi Giáng mất 1998)

Lần đầu tiên một cô gái Việt đạt danh hiệu ‘Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia’ Mỹ

Lần đầu tiên một cô gái Việt đạt danh hiệu ‘Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia’ Mỹ

May 21, 2021 

Trà Nhiên & V.Giang/Người Việt

SACRAMENTO, California (NV) – “Danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia là cách mà em kể câu chuyện chính mình, rằng người Việt không hẳn chỉ là người tị nạn mà chúng ta còn luôn ‘vươn lên’ tại đất nước này. Câu chuyện của chúng ta cũng đáng được kể.”

“Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia” Alexandra Huỳnh ví Việt Ngữ như những áng thơ. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)

Đó là tâm sự của Alexandra Huỳnh, cô gái gốc Việt đầu tiên được trao tặng danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia (National Youth Poet Laureate) năm 2021, với phóng viên nhật báo Người Việt vào chiều Thứ Sáu, 21 Tháng Năm.

Tổ chức văn học nghệ thuật và phát triển Urban Word, vốn thành lập chương trình nhà thơ trẻ quốc gia vào năm 2017, cùng với trung tâm Kennedy Center loan báo việc cô Alexandra Huỳnh được chọn để trao danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia năm nay. Trong vai trò này, cô sẽ viếng thăm học sinh các trường trung học và sẽ có các buổi hội thơ trên khắp nước Mỹ. Cô Alexandra từng nói rằng một trong những điều cô muốn thực hiện được là phổ biến các kinh nghiệm của chính mình đến những người khác.

Cô Alexandra, 18 tuổi, là người Mỹ gốc Việt, thế hệ thứ nhì, sống tại thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California. Cô cũng là tân sinh viên của đại học Stanford University.

Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại dành cho phóng viên nhật báo Người Việt, cô Alexandra Huỳnh nói rằng đối với cô thơ cũng là một khí cụ để giúp đối phó với các thách đố của đời sống.

“Em tự hào vì em có thể đại diện người Việt trẻ nhận được vinh dự này ở ‘đấu trường’ văn thơ Hoa Kỳ,” cô Alexandra nói.

Cô cũng cho biết thêm: “Tiếng Việt tự nó đã là ngôn ngữ giàu chất thơ.”

“Trong văn hóa Việt Nam, em cảm thấy thể như chúng ta đàm đạo thơ trong đời sống hằng ngày,” cô chia sẻ.

Thể hiện cảm xúc qua những vần thơ là cách cô thi sĩ trẻ Alexandra Huỳnh bộc lộ bản thân. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)

Nhà thơ trẻ bộc bạch rằng, cô đã bắt đầu viết lời các bài hát từ khi 7 tuổi, và thực sự ưa thích làm thơ khi vào trung học, nhất là sau khi đã đọc thơ trước công chúng và cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa khi được trình bày.

Ông Aaron Brown, thầy giáo và là cố vấn hội nhà thơ ở trường trung học của cô Alexandra, cho biết một số bài thơ của cô đã làm ông xúc động.

“Thơ của Alexandra không ‘khuôn mẫu’ cũng chẳng ‘xa hoa,’ mà nó đậm khí chất khi được tác giả thể hiện với phong thái bình tĩnh và an nhiên,” ông Brown kể lại.

“Cô bé này có một khả năng độc đáo là chạm đến các ‘sợi dây’ cảm xúc của con người và kết nối chúng lại để tạo thành sự thấu hiểu lay động tâm can,” ông Keith Carmona, giáo viên dạy văn của Alexandra, cho biết.

Cô cũng tiết lộ rằng ông ngoại cô cũng là một nhà thơ.

“Cách nay hai năm, khi em thắng giải nhì trong cuộc thi thơ đầu tiên em tham gia ở trường Mira Loma High School, lúc đó mẹ kể rằng ông ngoại chính là thi sĩ Duy Năng,” cô cười nói.

Cô tự hào vì mình có thể ‘kế thừa’ tố chất thơ văn của ông ngoại, rằng “cứ như thể thơ đã chảy  trong máu vậy,” Alexandra cho biết.

Thơ là cách cô tân sinh viên chuyển hóa cảm xúc của mình. Bao “hỉ, nộ, ái, ố” đều được cô bày tỏ qua những vần thơ.

“Làm thơ là cách em chấp nhận thực tại (reality) và cũng là cách thể hiện một thực tại khác (fantasy) cho bản thân,” cô Alexandra giải thích.

Cô Alexandra Huỳnh (phải) trong lần biểu diễn tại cuộc thi thơ “Sacramento Area Youth Speaks” năm 2019. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)

Cô được chọn trong bốn nhà thơ vào chung kết, đại diện cho bốn khu vực, để được trao danh hiệu vốn đã lần đầu tiên được trao cho nhà thơ Amanda Gorman. Gorman được cả thế giới biết đến hồi Tháng Giêng năm nay, sau khi đọc bài thơ của cô tại buổi tuyên thệ nhậm chức của Tổng Thống Joe Biden, và trở thành niềm khích lệ cho cô Alexandra.

Cô Alexandra nói sự kiện cô Gorman được đón nhận nhiệt thành đã thay đổi điều cô nghĩ về những gì một nhà thơ có thể đạt được, giúp cô có những ước mơ lớn hơn.

Cô tốt nghiệp trung học hồi năm ngoái và tạm nghỉ một năm trước khi vào trường đại học khóa mùa Thu tới đây.

Cô Alexandra dự định theo học ngành kỹ sư để học thêm về “sustainability,” hướng đến môi trường xanh, sạch, và tiết kiệm tối đa các tài nguyên.

Những lúc “xa rời” thơ văn thì cô Alexandra thích nướng bánh và làm thiện nguyện. Cô là thành viên của The Farmlink Project, một tổ chức bất vụ lợi cung cấp thực phẩm cho người nghèo từ các nông trại.

Cô cũng đam mê làm thí nghiệm khoa học và hiện là nghiên cứu viên của trường đại học UC Davis.

Thêm vào đó, Alexandra nêu tên Ocean Vương và Diana Khôi Nguyễn là hai nhà thơ trong số những người cô ngưỡng mộ, và cũng bày tỏ hy vọng là sẽ có tác phẩm để được ấn hành và rồi chuyển dịch sang Việt Ngữ, “ngôn ngữ mẹ đẻ” của cô. [qd]

—–

Liên lạc tác giả: nguyen.nhien@nguoi-viet.com

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

May 21, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Chánh Án Liên Bang Roy Lamberth, địa hạt Washington, DC, hôm Thứ Sáu, 21 Tháng Năm, ra lệnh khám nghiệm thẩm định tâm thần cho ông Jacob Chansley, biệt danh “Thầy mo QAnon,” người đội nón có hai sừng thú tham gia cuộc bạo loạn tại Quốc Hội, theo Reuters.

Trước đó, Luật Sư Albert Watkins, đại diện cho “Thầy mo QAnon,” viết đơn xin tòa trả tự do với lập luận rằng thân chủ, hiện đang bị giam vì tham gia bạo loạn tại Quốc Hội ngày 6 Tháng Giêng, và những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.”

Luật sư đại diện xin tòa trả tự do cho “Thầy mo Qanon” (giữa) vì thân chủ cùng những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.” (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

“Đây là những người có não bị tổn thương,” vị luật sư viết trong đơn gửi tòa (link: https://storage.courtlistener.com/recap/gov.uscourts.dcd.225845/gov.uscourts.dcd.225845.12.0_6.pdf).

Luật Sư Watkins cho rằng những người tham gia bạo loạn rất “đáng thương. Họ không phải là thành phần xấu xa,” theo nhật báo Washington Post.

“Họ hành động như vậy” vì bị “tuyên truyền” tẩy não, cách chưa từng thấy, kể từ thời Adolf Hitler, lãnh tụ Phát Xít Đức, ông Watkins lý giải.

Đây là nỗ lực mới nhất nhằm cứu thân chủ khỏi trại giam của Luật Sư Watkins sau nhiều đơn xin với những lý do như “Thầy mo” đến Quốc Hội theo lời tuyên truyền kích động của cựu Tổng Thống Donald Trump.

Ông Watkins cũng gửi thư kêu gọi cựu tổng thống ân xá cho thân chủ trước khi mãn nhiệm, tuy nhiên ông trách cứ nhà tỷ phú đã “phản bội” lòng tin của người ủng hộ khi tên của “Thầy mo” không nằm trong danh sách ân xá.

Ông Chansley được cả thế giới chú ý với hình ảnh một người cởi trần, mũ lông thú có hai sừng, cầm một ngọn giáo dài 6 foot có gắn lá cờ Mỹ đứng bên trong tòa nhà Quốc Hội hú vang và sau đó ngồi vào chiếc ghế chủ tịch Thượng Viện của cựu Phó Tổng Thống Mike Pence vào ngày 6 Tháng Giêng.

“Thầy mo” Chansley hiện đang bị truy tố với các cáo buộc: Xâm phạm trái phép vào khu vực cấm, đánh cắp tài sản công, dùng bạo lực xâm nhập và có hành vi mất trật tự tại tòa nhà Quốc Hội. (MPL) [qd]

Nhớ kỹ 7 điều giúp bạn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Nhớ kỹ 7 điều giúp bạn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Minh Nguyệt 

Nhớ kỹ 7 điều này giúp bạn còn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Hồng trần vần vũ như gió thổi mây bay, phút bình yên thì ít mà phiền muộn lại quá nhiều. Lòng người phải đeo biết bao nhiêu tảng đá, gỡ xuống một thì lại đèo bòng thêm hai. Hỏi đâu là chốn thanh bình trong tâm tưởng?…  

Dưới đây là những câu nói được nhiều người truyền nhau, câu nào cũng đầy hàm nghĩa và đạo lý. Nếu thường lưu giữ chúng trong tâm, bạn sẽ có thể điều tiết cảm xúc và giữ được tâm thái vui vẻ hơn cả uống nghìn thang thuốc bổ.

  1. Lòng người

Lương thiện không phải là mềm yếu, khoan dung không phải là nhu nhược. Những người tốt tính cũng có khi nổi giận, những người nông nổi cũng biết điểm dừng. Do vậy, không thể đùa cợt với lòng người, tình cảm không thể đối đãi một cách qua quýt, duyên phận không thể coi là điều tùy tiện. Hãy dùng trái tim để đáp lại một trái tim, yêu thương một cách công bằng, đối đãi bằng tấm chân tình, như vậy lòng người mới chân thành.

  1. Tùy duyên 

Nhân sinh như mộng, khi thăng khi trầm, như vầng trăng kia khi mờ, khi tỏ, khi khuyết khi tròn, có chi đáng để tranh giành? Tình yêu khi mặn nồng, khi nhạt nhòa, tự đã có hương vị của nhân duyên cuộc sống. Nhịp sống khi vội vàng, lúc khoan thai chỉ cần giữ tâm bất động. Tình cảm khi sâu đậm lúc nhạt nhòa, nhưng bước qua nhau hãy nhoẻn miệng cười.

Đời người vì để tâm mà đau khổ, vì hoài nghi mà tổn thương, nếu biết coi nhẹ sẽ vui vẻ, hạnh phúc. Chúng ta đều là khách qua đường trên cõi đời này, chỉ dừng chân tá túc vài ngày nơi quán trọ trần gian, rồi lại vội vã rảo bước rời đi. Vậy nên tất cả mọi chuyện cứ để tùy duyên, mặc cho con tạo xoay vần!

  1. Lòng bao dung

Con người sống phải biết khoan dung, không cần mọi việc đều phải giành phần thắng về mình. Cãi thắng người nhà thì tình thân sẽ mất, cãi thắng vợ chồng thì tình cảm nhạt nhòa, cãi thắng bè bạn thì tình nghĩa chẳng còn. Điều bạn thắng được là thể diện, điều bạn bị thua là tình nghĩa, người bị thương lại là chính bản thân mình. Đen hay trắng, đúng hay sai đã có thời gian làm chứng. Buông bỏ kiến giải cá nhân, làm một người bao dung thì điều bạn thắng được lại là cả một kiếp người.

  1. Giàu nghèo

Người biết đủ thường vui, dẫu sống trên mặt đất mà như ở nơi thiên đường. Kẻ tham cầu vật chất, dục vọng thì dẫu ở thiên đường cũng như thân trong địa ngục. Trong kiếp người, tâm hồn giàu có thì con người cũng trở nên giàu có. Dẫu cuộc sống vật chất thanh bần, nhưng tâm hồn họ lại tràn đầy nhựa sống. Biết đủ mà vẫn có thể cho đi mới là sự giàu có thực sự. Ngược lại kẻ ham muốn hưởng thụ vật chất thì nghèo. Bởi lẽ dẫu có nhiều hơn nữa thì lòng tham vẫn là hố sâu không đáy, nên nghèo vẫn lại hoàn nghèo.

  1. Buông bỏ

Chuyện lớn hôm nay tới ngày mai đã trở thành chuyện nhỏ. Chuyện lớn của năm nay tới mai sau sẽ trở thành chuyện cổ. Đại sự của đời này tới kiếp sau lại trở thành truyền thuyết, nhiều nhất thì ta cũng chỉ là một nhân vật trong câu chuyện đó mà thôi. Khi gặp phải những chuyện không thuận lợi trong cuộc sống, công việc xin hãy hét to lên rằng: “Hôm nay sẽ qua đi, ngày mai sẽ tới, một ngày mới lại bắt đầu”.

Khi đắc ý phải biết coi nhẹ, khi phật lòng phải biết nghĩ thoáng. Đời người có rất nhiều thứ cần phải buông bỏ. Khi cần buông thì phải buông, khi cần giữ thì hãy giữ, thêm một chút bao dung, thêm một chút rộng lượng. Xua xua tay, nhoẻn miệng cười, thì mọi chuyện không vui cũng sẽ trở thành dĩ vãng.

  1. Họa phúc

Dẫu tích đức không ai thấy nhưng hành thiện đã tự có trời biết. Con người hành thiện, phúc tuy chưa đến, họa đã tránh xa. Con người hành ác, họa tuy chưa đến, phúc đã lánh xa. Người hành thiện như cỏ giữa vườn xuân, nhìn hút tầm mắt, ngày thêm sinh trưởng tốt tươi. Kẻ hành ác như đá mài dao, không nhìn thấy tổn hại trước mắt nhưng tai họa đã bén duyên.

Phúc họa không có lối vào mà đều tại tâm con người. Sự đáng sợ của việc hành ác không nằm ở việc bị người khác phát hiện mà là lương tâm mình tự biết. Niềm vui của người hành thiện không phải ở những lời tán dương mà bắt nguồn từ sự bình yên trong tâm hồn.

  1. Cảm ơn

Hãy cảm ơn những người đã làm tổn thương mình, vì họ đã tôi luyện trái tim và ý chí của bạn. Cảm ơn những người đã lừa dối mình bởi vì họ tăng trưởng thêm kiến thức cho bạn. Cảm ơn những người đã đánh đập mình vì họ đã giúp bạn tiêu giảm tội nghiệp. Cảm ơn những người đã bỏ rơi mình vì họ đã dạy bạn cần phải tự lập tự cường. Cảm ơn những người đã quật ngã mình vì họ đã tôi luyện thêm năng lực cho bạn. Cảm ơn những người đã trách mắng mình vì họ giúp bạn tăng thêm định lực và trí huệ… Sống giữa thế gian này lòng biết ơn sẽ khiến cuộc sống thi vị, độc đáo hơn.

Ấy chính là:

Trăm năm trong cõi mộng

Rét đến chẳng biết đông

Thế sự như mây gió

Chẳng giữ lại trong lòng

Minh Nguyệt biên dịch

From: Truong Le

Chuyện chỉ có ở Việt Nam cộng sản

Chuyện chỉ có ở Việt Nam cộng sản.

Trịnh Đình Thi, Trưởng phòng Tư Pháp 1 huyện thuộc tỉnh Hưng Yên tốt nghiệp Đại Học trước khi tốt nghiêp Trung Học… 6 năm.

Hình trên: Bằng Tốt Nghiệp Đại Học (Cử Nhân Luật) 20/04/1999 của Trịnh Đình Thi.

Hình dưới: Bằng Tốt Nghiệp Trung Học Phổ Thông 01/09/2005 của Trịnh Đình Thi.

Người Già Người Của Trăm Năm

 

 CHÚNG TA CÙNG SUY TƯ…

Người Già Người Của Trăm Năm

Bùi Tiểu Quyên

Người già của chúng ta cứ nhớ mãi chuyện hồi nảo hồi nào, họ như nhân chứng trầm tích của ký ức. Vậy mà, những chuyện mới xảy ra tức thì có khi họ lại quên. Ðến một lúc nào đó trong trăm năm này, chúng ta cũng giống như thế!

Mỗi lần tôi về nhà, bén chuyện là má tôi nói chuyện… trên phim. Nhưng lần về sau đó, hỏi lại chắc chắn má không nhớ gì cả. Ðến cả – bộ phim xem triền miên ngày này qua tháng nọ – vậy nhưng hỏi đến đâu là bà quên đến đó. Xem là để vui lúc ấy thôi.

Vậy mà chuyện từ mấy mươi năm về trước, khi má mới năm tuổi mà cậu ba trước khi mất nói muốn uống nước gì, mặc đồ như thế nào và giọng hiền từ ra sao, má nhớ hết. Chuyện lúc má 17 tuổi được ba đến nhà coi mắt, rồi bà ngoại hồi còn sống thích món ăn gì… Phần ký ức đó mới như in, còn năm tháng cứ trôi như một màn sương mù. Buổi hừng đông đi bộ ra chợ sáng, đường dài hơn 3km mà má kể chuyện xưa không dứt.

Tôi cảm nhận được niềm vui trong những thanh âm hào hứng của bà, như chỉ cần được ai đó lắng nghe những câu chuyện cũ – ký ức có lúc khó khăn chồng chất, khổ sở trăm bề – sẽ trở thành quà cho hiện tại. Tôi chợt nhận ra rằng, trong năm tháng của tuổi trẻ mình, hành trình của tôi với biết bao chân trời mới, nhưng đâu được bao lần trở về để ngồi cùng má nghe trọn những ký ức buồn vui?

Có bao nhiêu người trong chúng ta sắp xếp được những khoảng thời gian cố định để nghe người già kể chuyện?

Hôm qua, chúng tôi – những người của thế hệ này trò chuyện với nhau, bảo rằng sau này già sẽ vào viện dưỡng lão để có bầu có bạn. Nói vui là vậy, nhưng cũng vì thấy người già bây giờ cô đơn lắm. Cái cô đơn thăm thẳm như thể họ đang sống đây, nhưng tâm tư ở miền xa lắc nào. Như ba tôi, trước khi mất ông bảo mơ thấy xóm ngoại, thấy những người quen biết ngày xưa đến tìm gọi ba theo cùng.

Hình như, chỉ có phần đời cũ mới neo lại trong lòng, mới khiến cho người già cảm thấy hạnh phúc, mới là không gian họ thuộc về. Tôi đã trò chuyện với nhiều người già trong thành phố, thế nào rồi cũng dẫn về câu nói mở đầu hồi ức, rằng “hồi đó…”. Tôi nhớ hoài đôi mắt sáng bừng của người bảo vệ già – từng là thuyền trưởng, ông hào hứng kể về quãng đời trai trẻ chinh phục đại dương. Tôi nhớ người cựu chiến binh mỗi lần cao hứng lại vang vang bài hát và những chuyện đường rừng…

Những câu chuyện của người già cứ ôm trọn trăm năm – như những kho báu vô tận trong lớp lớp người người của mong manh vĩnh hằng.

Bạn tôi vừa về quê một tuần, mà tin từ làng trên xóm dưới trong khoảng ngắn thời gian ấy đã có năm cụ già qua đời. “Thôi thì cũng xem như là mãn nguyện, các cụ đều sống thọ trên dưới tuổi 80…” – bạn bùi ngùi sau mỗi lần đi viếng. Tôi không định nghĩa được khái niệm “mãn nguyện” trong cuộc đời một người già, chỉ biết rằng họ rất ít khi để con cháu biết những nỗi niềm trong lòng.

Như bà ngoại tôi, cho đến ngày cuối cùng vẫn không một lời trách móc, dù năm tháng cuối đời, đứa con trai duy nhất nuôi bà không bằng cách của yêu thương. Như dì tôi, dù con cái có lỗi lầm gì vẫn lặng lẽ bao dung, ngày nhắm mắt vẫn chỉ mong cháu con an vui, hạnh phúc. Như má tôi hay muôn triệu người mẹ, người bà trên cuộc đời này nữa. Nước mắt chỉ chảy xuôi…

Hôm trước, tôi thắt lòng ngồi nhìn một người già khóc. Ðó là lần bà nấu cháo gà bắt xe buýt đi thăm cháu nội đang ốm, nhưng con trai không cho vào nhà. Trời mưa lất phất chân cầu, người con trai ra đón mẹ, quay đầu xe chở thẳng về nhà bà ở ngoại ô. Lý do là ngày xưa cưới dâu bà phản đối, nên “giờ thăm làm gì…”.

Tôi không biết khi làm điều đó với mẹ già, người con trai ấy có nhớ mình đã được sinh ra, nuôi lớn, chăm bẵm yêu thương như thế nào. Cuộc đời của anh nếu không phải là mẹ cho, mẹ vất vả cưu mang lo lắng từng chút một thì bây giờ ra sao? Nước mắt người già không cạn đâu – dù cho cuộc đời của họ đã khóc nhiều như thể bây giờ “hết nước mắt” như người già thường nói.

Chỉ có những khúc sông là cạn, như lòng người…

Người già là của trăm năm. Sống một cuộc đời can trường rồi họ sẽ trở về tâm hồn mong manh như trẻ nhỏ. Dễ buồn dễ giận dễ tổn thương dễ khóc. Và cũng cần được quan tâm, dỗ dành.

Trường học hay trường đời của chúng ta đều không có môn đức nghiệp dạy cách làm cho người già được an vui, hạnh phúc. Chỉ có trái tim mỗi người phải tự biết tìm cách học lấy và thực tập cho chính mình. Phải học từng ngày, cho trăm năm…

Quỷ Ám

Quỷ Ám

Tưởng Năng Tiến

 Nhà báo Chu Vĩnh Hải vừa gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không có gì “thú vị” nhưng khá bất ngờ :

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

‘Thật khó để ngờ rằng Vladimir Lenin đã cố gắng phấn đấu trao tặng hạnh phúc và sự phồn vinh cho toàn thể mọi người, hoặc chí ít là cho lực lượng mà ông gọi là giai cấp vô sản. Tuy nhiên, giờ đây chúng tôi hiểu rằng để xây dựng cái gọi là hạnh phúc đó, ông coi việc đổ máu, sử dụng bạo lực và tiêu diệt tự do là hành động hoàn toàn hợp pháp’, tác giả Volkogonov kết luận.”

Kết luận như trên e có phần hơi hời hợt. Từ Việt Nam, nhà báo Nguyễn Thông có nhận định thấu đáo hơn: “Với người cộng sản, nhất là những ông trùm như Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông… thì cách mạng phải sắt máu, quyết liệt, một mất một còn, đổ máu hy sinh. Đã cách mạng là phải đánh nhau, giết chóc.”

Dù Hồ Chí Minh chưa đạt tầm mức quốc tế, so với những nhân vật thượng dẫn (và số nạn nhân của Bác cũng còn hơi ít ỏi) nhưng xét về bản chất thì sự dã man và tàn độc của Người – đối với đám dân Việt – cũng chả kém cạnh chi ai.

“Trong những điều khoản của Hiệp định Genève 1954 không nói đến lực lượng tập kết là thiếu nhi, học sinh, nhưng với tầm nhìn chiến lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn một số con em cán bộ, gia đình chính sách… đưa ra miền Bắc.” (“Bác Hồ Ươm Mầm ‘Hạt Giống Đỏ” Cho Cách Mạng Miền Nam.” Vietnamnet 12 May 2020).

Sau khi “nướng” gần sạch đám  trẻ con này, Bác và Đảng liền kiếm ngay “mớ” khác – vẫn theo như nguyên văn lời của tác giả Vũ Thị Kim Yến :

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định tiếp tục đưa con em cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đào tạo. Hàng chục nghìn con em từ 9-10 tuổi và đồng bào miền Nam đã lội bộ vượt Trường Sơn đầy máu lửa ra Bắc, ngược đường với các đoàn quân của miền Bắc nườm nượp chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.”

Nhà báo Việt Hoài Tuổi Trẻ Online cho biết thêm chi tiết :

Từ 1954-1974, đã có ba đợt đưa các em ra Bắc với qui mô lớn: 1954-1955: đưa ra theo con đường tập kết, chủ yếu bằng tàu biển; 1960-1964: đưa ra qua đường công khai đi Campuchia, từ Campuchia bay về Hà Nội; 1968-1972: đi bằng đường giao liên vượt Trường Sơn. Suốt 21 năm cho đến ngày đất nước thống nhất, gần 30.000 học sinh miền Nam – những núm ruột của miền Nam đau thương, ngoan cường, bất khuất – đã được những nếp nhà, vòng tay của các bà mẹ, người cha, các thầy cô giáo miền Bắc nâng niu đùm bọc.”

 Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh!

Tình cảm của Người dành cho giới phụ nữ Việt Nam cũng bao la và đậm đà không kém :

“Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở.

Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm. Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác v.v… là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng…

Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.

Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954. (Võ Phiến.“Bắt Trẻ Đồng Xanh.” Tạp Chí Bách Khoa Oct. 1968).

Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng –  đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.

Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện. Phương tiện ở đây không chỉ là sinh mạng của hằng triệu thanh niên trai trá́ng mà còn là những vành khăn tang trên đầu góa phụ, và vô số những mảnh đời thơ ấu (bị thẳng tay cướp đoạt) của đám nhi đồng nước Việt.

Dù vậy, số nạn nhân của chiến tranh giải phóng (tại Việt Nam) vẫn không đáng kể – nếu so với cuộc Cách Mạng Tháng Mười. Sự dị biệt cần phải nêu ra ở đây là chính phạm ở Nga đã bị nhận diện nhưng kẻ thủ ác ở nước ta thì vẫn ở trong tình trạng tại đào.

Hôm 21 tháng 4 năm 2020, BBC cho hay: “Nhiều quốc gia từng thuộc Liên bang Xô Viết đã tháo bỏ tượng Lenin khỏi các nơi công cộng.” Cũng trên diễn đàn này, một nghị sĩ Nga, bà Natalya Poklonskaya nhắc lại lời kêu gọi … đã đến lúc cần đưa thi hài Lenin khỏi Quảng Trường Đỏ.

Cũng cùng thời điểm này, vào năm 2020, giới truyền thông VN vẫn đồng loạt đưa tin :

Bao giờ mà những tội đồ của một dân tộc vẫn còn được sùng kính (cho dù là sự sùng kính giả tạo chăng nữa) thì đất nước khó mà tránh cảnh lầm than!

Tưởng Năng Tiến
5/2021

LẠI NHỚ NGUYỄN CHÍ THIỆN

LẠI NHỚ NGUYỄN CHÍ THIỆN

Nguyễn Chí Thiện ở tù cùng với tôi tại trại Phong Quang, Lào Cai.

Tính về mức độ tàn bạo, theo sự đánh giá của những người tù thâm niên, nó chỉ đứng sau trại Quyết Tiến, hoặc còn gọi nôm na là trại Cổng Trời, ở Hà Giang.

Tôi ra tù trước Nguyễn Chí Thiện vài tháng, hoặc nửa năm chi đó. Người ta thả tôi với điều kiện ngặt nghèo – phải được một cơ quan, xí nghiệp nhận vào làm việc. Người nhà, bè bạn chạy xất bất xang bang, cuối cùng rồi cũng gặp được một ông giám đốc dám làm cái việc không ai muốn làm.

Tôi được ký hợp đồng tạm tuyển, tạm tuyển thôi, làm công nhân bốc vác ở Công ty cung ứng vật liệu xây dựng Hà Sơn Bình. Nó là cái tỉnh mới, gồm Hà Đông, Sơn Tây và Hoà Bình, theo sáng kiến của ông tổng bí thư anh minh được ca ngợi là ngọn đèn 200 bougies soi đường cách mạng. Thời ông này người vào tù đông nhất. Các trại mới mọc nhanh như nấm.

Ông giám đốc tốt bụng chẳng những không bắt tôi làm công việc bốc vác, giữ tôi ở văn phòng, mà còn cho phép tôi không phải ở nhà tập thể của công ty ở thị xã Hà Đông, hết ngày thì về nhà mình ở Hà Nội.

Nguyễn Chí Thiện được thả về nguyên quán Hải Phòng, ở đấy anh còn bà chị.

Chẳng khác gì tôi, anh không thể kiếm được việc làm. Trước khi đi tù lần thứ nhất, anh làm nghề dạy học. Sau lần đi tù thứ hai vì tội làm thơ phản động, anh thất nghiệp trăm phần trăm. Trở về nghề cũ, nghề duy nhất anh biết thì chắc chắn không được rồi. Làm thầy giáo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa nếu lý lịch không sáng như gương thì cũng phải là người không một lần vướng vòng lao lý, thậm chí không bị cái gọi là “cơ quan chức năng” cho vào sổ đen. Các cơ quan, xí nghiệp nhà nước chỉ cần lướt qua lý lịch hai lần tù của anh là xua anh như xua tà. Anh sống vắt mũi bỏ miệng, lúc đói lúc no.

Thỉnh thoảng, chẳng có việc gì để làm, anh lên Hà Nội thăm tôi và bạn tù cũ: Trình Hàng Vải, Vĩnh Đại Uý, Văn Thợ Mộc, Dũng Con…, hi vọng anh em mách bảo cách nào kiếm sống.

Trình Hàng Vải hiến kế đi buôn – cất đũa xe đạp ở Hà Nội về bán ở Hải Phòng. Thiện đi được vài chuyến trót lọt, cũng kiếm được chút đỉnh. Cái may khốn thay lại không dài – vào một ngày đông rét cắt ruột anh đụng thuế vụ. ThấyThiện mặt gày quắt, áo bông lại to xù, người nhà nước đè ra khám. Tất tật các bó đũa xe đạp quấn quanh người bị tịch thu. Thế là mất cả chì lẫn chài.

Tôi may mắn hơn Thiện.

Đang lúc không biết cách nào kiếm sống thì rất bất ngờ, tôi gặp lại ông bạn cũ, trước kia là giảng viên khóa 6 trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Tình đồng ngũ khiến anh tự tìm tôi để giúp đỡ. Lê Sĩ Thiện là con dao pha, việc gì đến tay anh cũng tìm ra cách làm bằng được. Trước khi về hưu, anh là phó giám đốc nhà máy điện Lào Cai. Mặt hàng đầu tiên chúng tôi sản xuất là bột nở thực phẩm. Chúng tôi gặp thời – trước kia bột nở phải nhập của Tàu, nay hai nước lủng củng, không có hàng về, cái quẩy giờ chỉ to bằng ngón tay. Các bà bán cháo quẩy ào ào mua hàng của chúng tôi. Nhờ có bột nở nội hoá này cái quẩy lại phồng to như cán búa.

Thấy bột nở chạy, Nguyễn Chí Thiện muốn lấy một ít về Phòng bán thử. Nhưng ngay cả tiền trả hàng mẫu anh cũng không có.

Với bạn tù, tôi không tiếc. Nhưng việc này phải được Lê Sĩ Thiện bằng lòng.

Chúng tôi khởi đầu bằng hai bàn tay trắng. Gõ mọi cửa có thể gõ mới vay được năm chục bạc, bằng lương kỹ sư một tháng. Được cái việc sản xuất không cần nhiều thiết bị lôi thôi, làm ra nhanh, chẳng mấy chốc chúng tôi đã có những đồng lãi đầu tiên. Tuy vậy, mới bắt tay vào sản xuất, tiền thu chưa được bao nhiêu. Bán chịu trong những ngày ấy không khó, nhưng nó mang lại sự xúi quẩy, người ta tin như thế.

Lê Sĩ Thiện không quen Nguyễn Chí Thiện, hai người mới chỉ gặp nhau vài lần ở nhà tôi. Tôi e anh không bằng lòng. Nhưng tôi lầm. Lê Sĩ Thiện biết chúng tôi thân nhau, rất có thể trong thâm tâm anh có cảm tình với những người bị bỏ tù vì tội chống chế độ.

Anh gãi đầu, rồi quyết:

– Để cậu ấy lấy. Bán được rồi, trả sau có sao.

Vào thời gian ấy chẳng ai trong chúng tôi, những bạn tù của Nguyễn Chí Thiện coi anh là nhà thơ, mặc dầu không ít thì nhiều chúng tôi đều được anh thì thầm đọc cho nghe thơ anh trong những buổi tối của đời tù đằng đẵng. Anh cũng thật thà thú nhận:

Thơ của tôi không phải là thơ.

Mà là tiếng cuộc đời nức nở.

Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở.

Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ.

Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ.

Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ.

Nhưng cũng có những vần thơ của anh tôi nghe một lần mà nhớ mãi:

Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Rồi cúi đầu thương nhớ cố hương.

Còn tôi – ngẩng đầu nhìn nhện chăng tơ vướng,

Rồi cúi đầu nhặt hạt cơm vương.

Từ hai câu: Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương của thi hào Lý Bạch mà bật ra sự liên tưởng so sánh vừa hồn nhiên vừa đau đớn ấy, hồn thơ trong Nguyễn Chí Thiện đã thức giấc. Nó đặc biệt gợi nhớ cái xà lim cấm cố ai từng qua thì không thể nào quên.

Nhưng khi nghe những vần thơ khác:

Đảng như hòn đá tảng

Đè lên vận mạng quê hương.

Muốn sống trong hòa hợp yêu thương,

Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống.

Thì Lê Sĩ Thiện hết hồn: “Bị bỏ tù còn là nhẹ. Còn sống là may.

Lê Sĩ Thiện chưa từng ở tù, anh chỉ có thể đoán, chứ không thể biết tâm trạng người tù. Con người sống trong cái xã hội được gọi là xã hội chủ nghĩa, với cái sợ được chương trình hoá, được định hình trong vô thức, anh chăm chú nghe, giật mình khi nghe, rồi ngẩn người, không thốt được lời nào.

– Tâm hồn người này thật trong sáng – Lê Sĩ Thiện nói riêng với tôi – Rất thật thà. Anh ta rồi còn gặp nhiều nguy hiểm.

Nhờ buôn bột nở, Nguyễn Chí Thiện nhanh chóng trang trải được nợ nần, thậm chí còn dư chút đỉnh giúp họ hàng ở quê, giúp các bạn tù còn loay hoay tìm kế sinh nhai. Ấy là sau này Thiện tâm sự tôi mới biết.

Thiện sòng phẳng. Bán được nhiều rồi, tích được lãi làm vốn rồi, anh lấy hàng lần nào thanh toán ngay lần ấy, không dây dưa.

Một lần, anh dồn tất cả tiền có được để mua một lượng hàng lớn theo yêu cầu của người đặt hàng.

Hoá ra ở miền Nam bấy giờ rất thiếu bột nở cho cao su để làm dép xốp Thái Lan. Lái buôn từ miền Nam ra, nghe nói Hải Phòng có thứ đó, mua về, thấy tuy chất còn kém, nhưng dùng được, liền đặt hàng, bảo Thiện có bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Thiện tính sẽ lãi to, ai ngờ thất bại nặng. Tất cả số bột nở anh mang về đều bị thuế vụ tịch thu.

Vụ ấy tôi hoàn toàn không biết. Chỉ thấy Thiện vắng mặt lâu, không thấy lên lấy hàng.

Đùng một cái, Trình Hàng Vải hớt hải báo: “Thiện bị bắt lại rồi!”

Anh bàn với tôi và các bạn góp tiền đưa cho bà chị Thiện đi tiếp tế. Chúng tôi, tất nhiên không được thò mặt ra trong việc này. Thì ra thời gian Thiện vắng bóng là lúc anh âm thầm chép lại toàn bộ thơ làm trong tù để rồi đột nhập đại sứ quán Anh, nhờ họ chuyển ra nước ngoài. Tập thơ đầu tiên của Thiện có tựa đề “Hoa Địa Ngục”. Chi tiết vụ này thế nào mọi người đều đã biết.

Mãi sau tôi mới được nghe kể chuyện gì đã xảy ra trong chuyến lấy hàng lần chót của Thiện mang về Hải Phòng.

Một người bạn của Thiện, cựu đại uý Bảo chính đoàn, nay đạp xích-lô, một buổi tối vắng khách mới rẽ vào thăm Thiện. Đẩy cánh cửa không bao giờ khoá vào nhà, anh thấy nhà tối om. Bật lửa lên soi thì thấy Thiện nằm co trên giường. Sờ soạng tìm công tắc, bật điện Vẫn tối om.

– Điện đóm sao thế này? Đèn đâu? – anh hỏi.

Thiện ngỏng đầu lên:

– Bán rồi!

– Bán rồi là thế nào?

– Bán rồi là bán rồi, chứ còn là thế nào.

Thì ra sau vụ bị tịch thu tất cả số bột nở trên tàu, Thiện chẳng còn đồng nào trong túi. Về được đến nhà, bụng đói cật rét, trong nhà chẳng còn gì đáng giá ngoài cái bóng điện 15 watts. Bèn tháo ra mang đi đổi lấy một bơ gạo (bơ, tức là cái vỏ hộp sữa đặc, một thời được dân chúng coi là đơn vị đo lường) về nấu cháo.

Ăn cháo xong, đắp chăn ngủ.

Anh cựu đại uý đạp xích lô bảo Thiện:

– Cậu có khai với chúng nó là bột nở không đấy?

– Không.

– Cậu khai sao?

– Bảo: tôi không biết, người ta thuê tôi mang thì tôi mang.

Anh bạn thở phào:

– Thế thì có cơ cứu vãn. Chúng nó mà biết là bột nở thì xong phim. Chúng nó sẽ đem bán để chia nhau. Cậu nghe đây, tớ quen bọn ấy. Còn có cơ cứu vãn.

– Quen thế nào?

– Làm ăn ấy mà.

Thiện chồm dậy:

– Liệu lấy lại được không?

– Còn tùy tình hình. Mình sẽ hỏi chúng nó.

– Nhất rồi – Thiện reo lên – Có phải đấm mõm chúng nó không? Tớ không còn xu nào dính túi đâu đấy nhá.

Anh bạn gãi đầu:

– Không. Nhưng thế nào thì cũng phải đãi chúng nó một chầu.

– Tớ nói rồi – tớ không còn xu nào đâu.

– Để tớ lo. Sau, cậu trả lại tớ.

Anh cựu đại uý điều đình thế nào không biết. Một bữa thịt chó được anh tổ chức, không linh đình, nhưng thoả thuê. Đến lúc ấy Thiện mới biết bọn thuế vụ chẳng biết cái chúng thu là cái quái gì. Cứ thứ gì mà người mang không trình ra được hoá đơn là coi như hàng lậu, thu tất.

Thiện được trả lại tất cả số hàng bị thu.

Bữa ấy Thiện say khướt. Say đến nỗi không biết làm sao mình về được tới nhà. Anh không bao giờ uống rượu. Phần lớn thời gian đời anh trôi qua trong tù, nơi không thể có rượu, trừ những người trong toán tự giác. Những người này thỉnh thoảng cũng được một lần say sưa nhờ đổi những vật dụng tù mang theo người khi vào trại lấy rượu với dân bản lân cận.

Tôi hỏi Thiện chuyện này khi chúng tôi được sống cùng nhau trong một căn hộ tại Strasbourg, thành phố miền Bắc nước Pháp.

– Đó là lần đầu tiên tôi uống rượu, ông ạ – Thiện nói – Trước đó cũng có nhấp tí chút trong một đám giỗ, chẳng thấy ngon lành gì. Cay xè.

– Say thế làm sao về? – tôi hỏi.

– Ông này buồn cười, anh đại uý bạn tôi chở tôi về chứ. Anh ta có cả một cái xích lô cơ mà.

10.2016

Đấu tranh bất bạo lực và hòa giải vì công lý và hòa bình

Đấu tranh bất bạo lực và hòa giải vì công lý và hòa bình

Bởi  AdminTD

Ngô Văn Hiếu

21-5-2021

Tổng thống Biden nói chuyện với dân biểu Rashida Tlaib (bên trái – người Mỹ, gốc Palestine) và dân biểu Debbie Dingell ngày 18/5/2021. Nguồn: Doug Mills/NYT

Đấu tranh vì nhân quyền, công lý và bình đẳng từ trong lòng đồng đảng của mình đã bắt Tổng thống Biden phải đứng lại, lắng nghe, đối thoại, và ngỏ lời ngưỡng mộ bà dân biểu Rashida Tlaib (đảng Dân chủ, bang Michigan). Bà là người sanh tại Mỹ, có gốc Palestine ở Trung Đông.

Trong tám phút tổng thống Biden trò chuyện với dân biểu Rashida Tlaib, người Mỹ gốc Palestine duy nhất trong Quốc hội, ông Biden nói: “Tôi ngưỡng mộ sự thông minh của cô, tôi ngưỡng mộ niềm đam mê của cô và tôi ngưỡng mộ sự quan tâm của cô đối với rất nhiều người khác. Và cảm ơn cô, một người tranh đấu“.

Tổng thống Biden là một người vốn có lập trường mạnh mẽ ủng hộ Do Thái, nhất là quyền tự vệ của quốc gia Do Thái, ở Trung Đông. Ông và người Mỹ nói chung, ủng hộ chủ trương hai nước Do Thái và Ả Rập Palestine đồng sống chung, nhưng lập trường của bà Tlaib thì chủ trương một đất nước “Do Thái Palestine” tựa như kiểu Nam Phi, nghĩa là một nước cộng hòa dân chủ pháp trị, ai cũng bình đẳng, và được tôn trọng nhân quyền và dân quyền.

Thật ra, theo chủ trương nào cũng bất lợi cho Do Thái bởi vì ngoài sự mạnh mẽ trong việc điều hành và bảo vệ đất nước “của dân tộc Do Thái ở Trung Đông”, đặc biệt là vùng gọi là nước Israel (gồm Canaan, Tel Avi, Galilee, và Nazareth) cũng như sự hỗ trợ của Âu Mỹ, người Do Thái ở vùng từng được gọi là Levant (giữa sông Jordan và Địa Trung Hải) vẫn là thiểu số. Đó là chưa nói đến cả khối Ả Rập, Ai Cập, và Ba Tư (Iran) ở chung quanh.

Giả như vùng Levant này được thành lập và theo dân chủ như Nam Phi, thì dân Do Thái sẽ trở thành thiểu số như người Da Trắng ở Nam Phi. Còn chia ra làm 2 – 3 nước như hợp thức hóa hiện trạng là Israel, Gaza (Hamas), West Bank (Fatah), v.v… thì ngoài việc các nước thuộc dân Palestine này sẽ được công pháp quốc tế bảo vệ còn có sự bình đẳng của dân chúng ở Israel. Vấn đề là sự chia rẽ giữa Gaza và West Bank sẽ vừa làm lợi cũng như hại cho Do Thái.

Sau khi Do Thái hòa giải được với Ai Cập, họ còn hòa giải với Thổ, Ả Rập Saudi, Jordan, Qatar, v.v… ngoại trừ Iran và Syria cũng như chính người Palestine tại Do Thái, Tây Ngạn, và nhất là dải Gaza. Dân Palestine trong vùng Trung Đông và Iran xét ra là hai đối tác hiện nay Do Thái và Âu – Mỹ cần hòa giải nhất.

“Thần y” Võ Hoàng Yên, lỗi tại ai?

“Thần y” Võ Hoàng Yên, lỗi tại ai?

Bởi  AdminTD

Đoàn Bảo Châu

22-5-2021

Mấy năm trước tôi có stt về “hiện tượng Võ Hoàng Yên” và đã nhận được không ít gạch đá. Khi một đám đông đang trở nên cuồng tín thì tiếng nói thật của một vài cá nhân sẽ chìm nghỉm yếu ớt như đá ném ao bèo.

Tôi viết ở đây không chỉ để nói về Võ Hoàng Yên mà muốn cộng đồng hãy cảnh giác với tất cả những bậc thầy đang khoác những cái áo cao siêu, huyền bí trước công chúng. Một chỉ dấu có thể nhận thấy một người thầy có chân chính hay không là cách ông ta ứng xử với đồng tiền. Với người “đắc đạo” và có năng lực thì đồng tiền ít khi là mục đích.

Người dân thấp cổ bé họng bao giờ cũng là những người thiệt thòi nhất trong một xã hội đầy đạo đức giả, đầy những kẻ khoác trên mình một cái áo lộng lẫy hay nghiêm cẩn của cán bộ, thầy cúng, sư sãi.

Trước hết, hãy nói về sự phi lý trong phương pháp của Võ Hoàng Yên. Ai đã từng tìm hiểu về não bộ con người, về thần kinh học sẽ thấy ngay sự phi lý. Mỗi một chức năng nói, nghe, nhìn, điều khiển cơ bắp, phản xạ có điều kiện đều là một chuỗi liên hệ của mấy chục tỉ, thậm chí toàn bộ cả 90 tỉ tế bào nơ ron. Một người bị câm, điếc, liệt thì có nghĩa cả một mảng não, hay cả tỉ tế bào nơ ron đã chết, hay đường truyền tín hiệu giữa các nơ ron về một chức năng nào đấy đã bị hỏng, vậy tại sao mấy cái véo tai, vặn đầu, vặn cổ lại có sức mạnh thần thánh để là sống lại cả tỉ tế bào đã chết, cả mảng não đã hỏng như vậy?

Chỉ có mấy trường hợp là các diễn viên được sắp đặt cho những clip quảng cáo, hay ồ, à ngọng nghịu để tán thưởng sự hò reo của dám đông với hy vọng làm thế sẽ được thầy chữa trị và tiến triển trong tương lai, hay đơn giản là đau thấy ông bà ông vải khi bị tra tấn thì phải rên lên mà thôi.

Nhưng câu hỏi quan trọng cần đặt ra là tại sao lại có “hiện tượng Võ Hoàng Yên” và khi cả một cộng đồng bị lừa thì trách nhiệm thuộc về ai? Trách nhiệm này thuộc bộ y tế. Khi thấy một hiện tượng như vậy, các vị lãnh đạo ngành y tế phải lập ra một uỷ ban để xác minh tính chân thực của một phương pháp, chỉ khi được kiểm chứng, có giấy phép mới được hành nghề. Nhưng ở Việt Nam, một xã hội khi cán bộ thường làm việc thiếu trách nhiệm, thường chỉ làm việc gì mà có lợi trước mắt hay bị thúc giục bởi sức ép công luận thì mấy cái trò lừa đảo rẻ tiền sẽ có đất để “thăng hoa” thành “thần y”, thành những “cao nhân” rồi mặc sức ăn trên ngồi trốc trên những đồng tiền mà người nghèo chảy máu mắt mới có được.

Người dân luôn phải cảnh giác. Ra đường, lớ ngớ là mất tiền với công an giao thông, vào chốn công quyền là phải có phong bì, vào chùa là có sư sãi kiểu “Ba Vàng” phán bao kiếp trước có lỗi, giờ phải làm lễ để chuộc lại, dính với việc luật pháp là phải chạy chọt đến sức tàn lực kiệt rồi kết quả vẫn chẳng ra sao. Một xã hội luôn rao giảng “do dân, vì dân” nhưng thằng dân là những thằng muôn đời lầm than khốn khổ.

Võ Hoàng Yên chỉ là một cá nhân mọc lên bởi sự vô trách nhiệm của cơ quan chức năng, của lòng tin ngây thơ của những người dân ít học, bởi sự thờ ơ của đa phần người Việt “khôn ngoan”, của cả một hệ thống “báo chí” nửa vời, viết không cần biết tới sự thật cuối cùng là gì, chỉ cần có chương trình lên sóng, có bài in cho ngày mai, cho tuần sau là xong. Trong khi ấy thì tiếng nói của vài người có lương tri trên mạng xã hội thì nhợt nhạt và dễ bị chìm nghỉm bởi cả một đội ngũ DLV đông như quân Nguyên, một đội quân ngu dốt, mất dạy, thô bỉ, rồi cả một đội ngũ cuồng tín của những ông thánh sống sẵn sàng đánh đòn hội đồng những tiếng nói thẳng thắn, trung thực.

Đừng vội tin những gì mà cộng đồng ca ngợi. Hãy đặt lòng tin vào khoa học, hãy tư duy như những nhà khoa học. Cả tin, cuồng tín là việc cá nhân, nhưng việc tuyên truyền những điều giả dối vô tình hay cố ý thì đều là tội ác.