Chuyện của những người giàu “mới”, Việt Nam hôm nay
Chuyện của những người giàu “mới”, Việt Nam hôm nay
Bởi AdminTD
12-11-2021
Hồi tháng 11/2021, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, Tổng giám đốc VietJet Air, bỗng nổi như cồn, về chuyện móc túi tặng cho một phân viện của Đại học Oxford 155 triệu bảng Anh. Chuyện của bà đã tạo ra nhiều hiệu ứng rất thú vị trong xã hội Việt Nam.
Dễ thấy nhất là nhiều cây viết phục vụ cho các chính sách nhà nước, hay mơn trớn giới nhà giàu xã hội chủ nghĩa, lập tức lên giọng bảo vệ cho sự kiện này. Một trong các ngôn luận nổi cộm là kiểu phê phán thói xấu người Việt, rằng không hiểu sao đám đông vẫn hay “ghét” người giàu vô cớ, ganh tị hoặc không công bằng với người làm ra của cải hôm nay. Dĩ nhiên, đọc là hiểu những ngôn từ đó nhằm bênh vực, che chắn cho một lớp đại gia hôm nay – trong đó có không ít người bỗng vụt lên giàu có như huyền thoại, không có lời giải. Loại huyền thoại dễ bắt gặp của một tầng lớp “thắng cuộc” sau 1975. Nói nôm na là không khác mấy chuyện Alibaba một ngày chợt nhìn thấy cửa hang châu báu rồi nghiễm nhiên trở thành ông chủ, bà chủ.
Thật ra, không ai tự dưng dòm ngó gì bà Thảo hay giới nhà giàu cả. Chuyện bà bỏ một số tiền khổng lồ để nâng đỡ cho việc xây dựng chất xám của nước Anh, và cả cho giá trị cá nhân mình – là quyền và chọn lựa riêng. Bất chấp những lời đồn thổi về nguồn gốc của số tiền ấy, trong khi giới kinh doanh bàn tán rằng vào tháng trước, VietJet của bà khai lỗ và kêu khó với nhà nước là hãng bay này đang “thiếu hụt khoảng 10,000 tỉ đồng để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh”.
Không thể phủ nhận rằng hôm nay Việt Nam có rất nhiều người giàu có. Đã qua các thời Việt kiều từ mọi phương trời về quê, xòe ra nắm ngoại tệ khiến ai cũng xanh mắt. Giờ thì thế hệ mới từ trong nước bay ra ngoại quốc mua cả một siêu thị, mua năm ba căn hộ một lúc bằng tiền mặt là chuyện bình thường. Dân làm lụng đầu tắt mặt tối, đóng thuế sôi mồ hôi cho chính phủ tư bản ngẩn người hỏi nhau “vì sao họ nhiều tiền vậy? Họ làm cách làm mà giàu vậy?”.
Việt Nam là một quốc gia chứa nhiều bí ẩn mang màu sắc dị thường. Từ chuyện những bà mẹ, vợ của những người bị đẩy vào trại học tập cải tạo làm sao để nuôi lớn những đứa con nheo nhóc của mình, làm sao có thể giữ gia đình tồn tại được ở miền Nam sau năm 1975, trong thời kỳ dò xét và khắc nghiệt ngăn sông cấm chợ qua từng ngày; cho đến một ngày lại đột nhiên thấy lớp nhà giàu “mới” nổi lên ở khắp nơi, cất giọng huyênh hoang dạy dỗ trên cả truyền hình, báo chí. Những người giàu nhất được xuýt xoa mô tả và đôi khi khoác thêm chiếc áo yêu nước – nhưng không chắc có mấy ai trong số đó có một hồi ký chân thật về đời và cách làm giàu của mình.
Và khi những người giàu “mới” xuất hiện nhiều hơn, họ không kiềm chế nổi sự xa hoa hay sự thèm muốn chứng minh đẳng cấp nhất định của mình, thì cũng sản sinh ra một lớp người ve vuốt và bảo vệ cho giai cấp ấy. Hơn 30 năm trước, ở miền Bắc cũng như miền Nam, khi được hô là “nhà giàu” thì không ít người tái mặt. Giờ thì khác, hợp thức hóa đời sống giàu có là một nhu cầu bức thiết trong đời sống chính trị của giai cấp cách mạng vô sản cầm quyền.
Ở nhiều khu định cư của người Việt Nam trên thế giới, người ta vẫn hay giật mình chứng kiến sự xuất hiện của lớp người mới ấy, còn có thêm con cái, tài sản dịch chuyển… “Toàn là người bên Việt Nam mới qua”, lưu dân người Việt vẫn nói khẽ với nhau. Nhưng điều lạ, đó không là người Việt mà chúng ta thấy mỗi ngày trên các trang báo, truyền hình từ trong nước: Những người cơ cực không thể ngẩng đầu, những người bị bỏ tù vì lên tiếng trước những điều trái khoáy, hay gần nhất, là những đoàn người tháo chạy về quê giữa đại dịch trong niềm tuyệt vọng.
Thỉnh thoảng, ở giữa cuộc trà nước vỉa hè cũng có những cuộc tranh luận về nguồn gốc của người Việt giàu có thượng lưu của đất nước hôm nay. Dĩ nhiên, có những người cả đời gầy dựng và tạo nên của cải đáng tự hào, làm nên những giá trị có thật. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp khác, mà sự bùng phát phồn thịnh của họ – hay gia đình họ – có thể làm chung quanh ngỡ ngàng. Trên báo chí, thỉnh thoảng có người tự tiết lộ, giải thích rằng họ đã qua một thời gian dài buôn chổi đót hay làm men giá đỗ, trồng cây cảnh… nhưng nói gì thì nói, tầng lớp đó tạo ra sự hào nhoáng nhất định về một Việt Nam, và cũng tạo ra những hố thẳm về sự cách biệt giai tầng của cả Việt Nam.
Không chỉ người Việt nhìn nhau và thắc mắc. Nhìn vào Trung Quốc, nhiều người nước ngoài cũng tò mò khôn xiết. Trên tờ Financial Review, với bài viết có tên “Người giàu Trung Quốc: Họ lấy tiền ở đâu ra vậy?” (China’s rich: where do they get their money?), nhà báo nữ Sul-Lin Tan đặt một câu hỏi thảng thốt về quê hương của mình, nơi có một mô hình phát triển và cộng đồng “khá giả” bất ngờ mà cô nhìn thấy. Một trong những biểu hiện của cộng đồng khá giả đó là họ luôn mang căn bệnh cố phô ra hình ảnh giai cấp của họ. Nếu để ý, bạn cũng thấy người Việt Nam lâu nay cũng có một tầng lớp thích giới thiệu mình như vậy với đủ các chiều đạo đức giả lẫn biểu lộ trơ trẽn. Sâu thẳm trong việc trình bày sự giàu có của mình, có không ít những vị đại gia muốn được chính danh trong đời sống, chứ không cần e dè che đậy như nhiều năm trước. Dường như thời đã tới rồi.
Tháng Sáu năm nay, trên tờ SCMP, trong bài Indonesia targets its crazy rich Asians with 35 per cent income tax in bid to heal coronavirus-hit economy”, tác giả cho biết rằng, chính phủ Indonesia đang dò tìm để xem những “kẻ giàu điên cuồng” – giàu không giải thích được là như thế nào để đánh thuế thu nhập lên 35%. Nghe tin không khỏi mỉm cười: Indonesia, đất nước căm ghét Cộng sản đến tận xương tủy, nhưng hành động không khác gì lý thuyết tinh thần cộng sản cao quý đã mất ở Châu Á. Indonesia gọi những kẻ đó là giàu điên cuồng (crazy rich). Loại giàu mà ở nước Mỹ vào thập niên 1950-1960 chỉ có bọn băng đảng, buôn lậu và tham nhũng cấu kết với chính quyền mới có thể tạo được cơ ngơi.
“Tiền của họ từ đâu mà có?”, nhà báo Sul-Lin Tan nhận được lời đáp từ một nhà đầu tư Trung Quốc giấu tên, rằng “Tiền? Mọi thứ đến từ những người làm quần quật ngày đêm ở Trung Quốc”. Bộ phim Crazy Rich Asians phát hành năm 2018 là một lời giải thích nhỏ. Mặc dù bộ phim mượn bối cảnh ở Singapore chứ không phải Trung Quốc, nhưng câu chuyện thì đầy gợi ý. Rõ ràng có nhiều loại của cải ở châu Á, nhất là ở các nước độc tài cộng sản mà nhiều người ở phương Tây không thể nào hiểu được. “Tôi từng chứng kiến nhiều người phương Tây há hốc mồm, trong một buổi bán biệt thự đắt tiền hoặc một bữa tiệc châu Á ngập tràn Prada và trứng cá muối. Nhưng nên nhớ, phía sau những điều đó vẫn là vô số người nghèo của đất nước họ” – bà Sul-Lin Tan nói.
Trong một nhận định của Aidan Foster Carter, chuyên gia về xã hội học và nghiên cứu Bắc Hàn hiện đại vào năm 2013, ông mô tả rằng chế độ cộng sản này dựng nên một mô hình kiểu mẫu mà Trung Quốc lẫn các nước cộng sản khác đều âm thầm học theo. Đó là hình thái đảng toàn trị và chỉ có giai cấp khá giả ăn theo đảng, còn lại tất cả – là nhân dân cần lao. Đó là một bộ máy nô lệ kiểu mẫu nuôi sống và duy trì chế độ. Giả như một đại nạn tới, chính quyền Bắc Hàn kêu cứu, điều đó không có nghĩa họ yêu nhân dân mà thật ra chỉ là sợ mất hay hao hụt tần suất duy trì chế độ từ nhân dân – lực lượng nô lệ.
Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy sự ích kỷ và tự mãn của một giai cấp khá giả lộ diện ở các nước độc tài – cộng sản, thỉnh thoảng bộc lộ qua lời ủng hộ nhiệt thành các chính sách của nhà nước, hay tuyên bố vung vít về hiện trạng xã hội như một triết gia. Nhưng nhiều người trong số họ luôn thầm kín ôm ấp những khát vọng xây dựng những thành trì khác của cuộc đời bên ngoài quê hương mình như một loại bảo hiểm hưởng thụ bí mật.
Bạn hãy ngồi xuống, tự ngẫm nghĩ xem mình đã bắt gặp những điều này ở đâu trong đời mình?
Ngô Đình Diệm và tờ Thời Luận: Thuở hồng hoang của báo chí tự do Việt Nam
Ngô Đình Diệm và tờ Thời Luận: Thuở hồng hoang của báo chí tự do Việt Nam
Bởi AdminTD
Võ Văn Quản
12-11-2021
Câu chuyện về tờ báo độc lập và đối lập nổi tiếng một thời của Việt Nam Cộng hòa.
Người Việt Nam sinh sống vào giai đoạn 1957 – 1958 luôn nín thở chờ kỳ tiếp theo của báo Thời Luận. Họ không biết lần này Thời Luận sẽ chỉ trích chính quyền ông Ngô Đình Diệm điều gì. Và nhiều người đồn đoán không biết qua bao nhiêu kỳ xuất bản nữa, hai cây bút chủ lực của Thời Luận – Nghiêm Xuân Thiện và Phan Quang Đán – sẽ bị “đẩy ra Côn Đảo”.
Ngô Đình Diệm không ưa gì báo chí đối lập. Đó không phải điều gì mới lạ. Nhưng cách ông này ứng xử với giới báo chí cũng chưa từng được sử sách chính thống Việt Nam đương đại mô tả một cách hoàn toàn chính xác. Mối quan hệ giữa Ngô Đình Diệm và Thời Luận có thể xem là một trong những đối tượng nghiên cứu đáng giá để hiểu hơn về tự do báo chí của Việt Nam Cộng hòa giai đoạn này. Qua nghiên cứu có tên gọi “‘Renegades’: The Story of South Vietnam’s First National Opposition Newspaper 1955–1958” của Tiến sĩ Jason A. Picard, [1] hiện đang là giáo sư về lịch sử và văn hóa Việt Nam tại Vin University, chúng ta có thể tìm chút ít thông tin về vụ việc.
***
Chính quyền miền Nam Việt Nam sau năm 1954 giữ lại phần lớn các đạo luật thuộc địa thời Pháp đang có hiệu lực. Các đạo luật này bao gồm quy định về quản lý báo chí vốn bắt buộc tất cả các báo phải nộp lưu chiểu mỗi ấn bản cho cơ quan quản lý truyền thông trước khi được phát hành cho công chúng.
Tuy nhiên, điều này thay đổi hoàn toàn với Lệnh số 23/TTP vào ngày 19/2/1956. Theo đó, Ngô Đình Diệm bãi bỏ quy định tiền kiểm đối với phát ngôn của báo chí (khái niệm “prior restraint” đã được giới thiệu trên Luật Khoa trước đây). [2] Điều này được Nguyễn Việt Chước trong tác phẩm “Lược sử Báo chí Việt Nam” gọi là mốc đánh dấu thuở vàng son của báo chí Việt Nam Cộng hòa. [3]
Hiển nhiên, như đã nói, gia đình họ Ngô không thích báo chí độc lập. Không lâu sau, Sắc dụ 13 được ban hành, trao thẩm quyền cho phép chính quyền mới phạt tiền, đe dọa phạt tù và đóng cửa các tòa soạn “thân Cộng”, “chống chính quyền” hay “vu khống”.
Ông Nghiêm Xuân Thiện (thắt cà vạt), cây bút chủ lực của tờ Thời Luận. Ảnh: petruskyaus.net
Tuy nhiên, việc nới lỏng quy định liên quan đến tiền kiểm báo chí cũng được xem là một điểm nhấn tiến bộ mới của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Họ không kiểm soát hoàn toàn khâu quản lý nhân sự, sản xuất nội dung và định hướng báo chí như chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này mở ra nhiều cơ hội hơn cho thảo luận báo chí tự do, thậm chí là những chỉ trích cụ thể nhắm vào chính quyền Ngô Đình Diệm và cá nhân ông Diệm.
Ví dụ, năm 1957, khi Ngô Đình Diệm vừa từ Hoa Kỳ trở về nước sau một chuyến công du, Thời Luận tung bài viết “Quan niệm dân chủ và hành động dân chủ”.
Trong bài viết này, Phan Quang Đán và Nghiêm Xuân Thiện yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm cho biết rõ kế hoạch để xây dựng một xã hội dân chủ thực thụ vắng bóng cộng sản. Theo họ, chúng ta không thể chỉ nói về dân chủ mà không có một biện pháp thực tế nào để thực thi dân chủ.
Hai đồng tác giả khẳng định lời nói không có ý nghĩa gì nếu các biện pháp cải cách dân chủ không được thực thi. Bài viết cũng đưa ra một số phân tích như lý do người Việt Nam không quen với việc chỉ trích chính quyền, coi đó là tư duy “khinh quân”, và cho rằng chỉ trích hay phản đối người cầm quyền là quấy rối trị an hay có ý tranh cướp chính quyền.
Trong liên tiếp các bài viết như “Kêu gọi của khối dân chủ” và “Đối lập dân chủ: Không có đối lập là bất thành dân chủ”, Thời Luận chỉ ra và yêu cầu một không gian mở rộng hơn để thảo luận dân chủ và loại trừ truyền thống tư duy phong kiến quân – thần.
Trong một sự kiện nổi bật khác, Thời Luận ra mặt chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm liên quan đến chính sách “bài Hoa”.
Theo đó, với hai Sắc dụ 48 và 53 (lần lượt vào tháng Tám và tháng Chín năm 1956), chính quyền Việt Nam Cộng hòa kỳ vọng kiểm soát tầm ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa đối với hệ thống kinh tế nói chung. Ví dụ, Sắc dụ 53 là văn bản ghi nhận 11 nghề không cho phép Hoa Kiều tham gia, bao gồm cho vay – tín dụng hay buôn gạo.
Thời Luận cho rằng ngay cả khi cấm người Hoa, năng lực sẵn có của các cơ sở sản xuất người Việt cũng không thể thay thế các hội nhóm kinh doanh này. Việc loại trừ người Hoa khỏi nền tảng kinh tế Việt Nam cũng sẽ khiến Việt Nam Cộng hòa lệ thuộc hơn vào một nhóm ngoại quốc khác – Hoa Kỳ.
Các bài viết liên quan đến nguồn viện trợ Hoa Kỳ như “Viện trợ Mỹ”, “Viện trợ Mỹ chuyển hướng thế nào cho thêm hiệu quả”, “Nhân việc khởi công xa lộ Saigon – Biên Hòa: Bàn về Viện trợ Mỹ”, v.v. đều thách thức trực tiếp đến các chính sách mà ông Diệm đề ra.
Sau đó, họ còn ra mắt nhiều bài báo mạnh bạo hơn và ra mặt chống chính quyền hơn như bênh vực cho các can phạm trong vụ xung đột vũ trang giữa quân lực Việt Nam Cộng hòa và Bình Xuyên.
Đầu năm 1958, trước sinh nhật của Ngô Đình Diệm chỉ vài ngày, Thời Luận cho đăng nhiều bài viết chỉ trích Quốc hội mới của Việt Nam Cộng hòa là không phục vụ nhân dân, thay vào đó không khác gì con rối của chính quyền ông Diệm. Điều này dẫn đến việc bản thân vị tổng thống xuất hiện trên tờ Cách mạng Quốc gia (tờ báo chính thức duy nhất do chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý), cảnh báo rằng có quá nhiều thành phần đang cố tình kích động phá hoại sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản.
Tuy nhiên, trong suốt nhiều tháng sau đó, Thời Luận tiếp tục công kích mạnh mẽ hầu hết các cơ quan công quyền và chính sách của chính quyền ông Ngô.
Tính đến tháng Tư năm 1958, Thời Luận xuất bản được đúng 440 số báo, mỗi số bán được hàng chục vạn bản. Đó là con số mà báo chí thời nay cũng phải mơ ước.
***
Chính quyền Ngô Đình Diệm từ năm 1955 đến 1957 ít công kích trực tiếp báo chí và sử dụng hệ thống pháp luật hình sự như là công cụ chính yếu để chèn ép tự do báo chí.
Tuy nhiên, các công cụ khác không phải là không có. Điển hình nhất có thể kể đến việc phân phối giấy in và mực in.
Nói cho dễ hiểu, dù chưa đến mức chủ động can thiệp vào thị trường báo chí như chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền Việt Nam đương đại, chính quyền Ngô Đình Diệm có thể kiểm soát mức độ lan tỏa của một tờ báo bằng cách giới hạn số lượng ấn bản của nó. Như vậy, về mặt lý thuyết, họ không cấm báo chí tự do, nhưng báo chí tự do đến tay được bao nhiêu người thì lại là chuyện khác.
Một tờ báo được xem là quá khiêu khích, chống đối đường lối của chính quyền sẽ bị hạn chế quyền tiếp cận với mực in và giấy in. Tuy nhiên, trong trường hợp của Thời Luận, nhiều thông tin cho thấy tờ báo này tiếp cận với nguồn giấy và mực in chợ đen để sản xuất đủ nhu cầu của bạn đọc miền Nam Việt Nam.
Mặt khác, dù không đến mức cấm đoán báo chí thành lập, chính quyền Diệm tìm cách kìm hãm một phần các tờ đối lập bằng cách quyết định tờ nào được trở thành nhật báo, tờ nào là tuần san, và tờ nào là nguyệt san.
Trong trường hợp của Thời Luận, Bộ Thông tin của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhất quyết không cho phép tờ này được xuất bản hằng ngày. Tuy nhiên, việc cấm cản Thời Luận thì vẫn chưa được xem xét, và trong một khoảng thời gian đáng kể tờ này tiếp tục được tồn tại, phát triển và biến thành tờ báo lớn nhất miền Nam Việt Nam thời kỳ bấy giờ.
Hiển nhiên, chuyện gì đến cũng phải đến.
Việc một tờ báo phổ thông, lấy tiếng vang bằng việc công kích chính quyền và thành công vang dội về mặt doanh số lẫn số báo bán ra trong thời kỳ còn chưa bình ổn về mặt quân sự lẫn chính trị dẫn Thời Luận đến một kết quả đã được báo trước.
Tờ báo bị đóng cửa vào tháng Tư năm 1958.
Chủ bút Nghiêm Xuân Thiện bị bỏ tù 10 tháng với tội danh “sử dụng báo chí để phỉ báng chính quyền”.
Tuy nhiên, các ngòi bút chủ lực như Phan Quang Đán không gặp vấn đề gì với chính quyền Ngô Đình Diệm.
***
Tính đến tận năm 1960, sau khi ông Diệm trở nên bị cô lập và không tin tưởng hệ thống chính trị miền Nam Việt Nam vì cuộc đảo chính không thành cùng năm, có thể nói các chính sách quản lý của ông và hệ quả dành cho các ngòi bút chỉ trích trực tiếp chính quyền là không đáng kể.Nhìn vào tình hình báo chí Việt Nam hiện nay, với hàng trăm tờ báo nằm dưới quyền biên tập duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và con số án tù đến hàng chục năm dành cho các nhà báo độc lập (như vụ các nhà báo Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy Lê Hữu Minh Tuấn đều nhận trên 10 năm tù), có thể nói chính quyền ông Diệm vẫn còn non tay. [4]
_____
*Ghi chú:
- PICARD, J. A. (2015). “Renegades”: The Story of South Vietnam’s First National Opposition Newspaper, 1955–1958. Journal of Vietnamese Studies, 10(4), 1–29. https://www.jstor.org/stable/26377890
- Trung, N. Q. T. (2018, September 29). 4 án lệ định hình tự do báo chí tại Hoa Kỳ. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/2015/06/4-an-le-dinh-hinh-tu-do-bao-chi-tai-hoa-ky/
- Chước, N.V (1974). Lược sử Báo chí Việt Nam. Nhà xuất bản Nam Sơn. https://vietbooks.info/threads/luoc-su-bao-chi-viet-nam-nxb-nam-son-1974-nguyen-viet-chuoc-122-trang.42610
- Chính, Y. K. (2021, January 11). 37 năm tù cho ba nhà báo tự do. Luật Khoa Tạp Chí. Retrieved 2021, from https://www.luatkhoa.org/2021/01/37-nam-tu-cho-ba-nha-bao-tu-do
Trân Quý Bản Thân, Bởi Cuộc Đời Không Ai Nguyện Ý Làm Thay Bạn
GÓC SUY NGẪM…
Trân Quý Bản Thân, Bởi Cuộc Đời Không Ai Nguyện Ý Làm Thay Bạn
Con người sống trên đời rất nhiều thứ là không thể tự chủ. Ban đầu, ta đến thế giới này là vì không thể không đến; cuối cùng, ta rời khỏi thế giới này, cũng là không thể không đi. Bởi vậy, khoảnh khắc ta còn tồn tại ấy, nhất định phải chiếu cố đến bản thân mình.
Cuộc sống chưa bao giờ là dễ dàng với bất kỳ ai, nhưng dù ngọt bùi cay đắng, chúng ta đều phải sống sao cho tốt, sống trọn vẹn cuộc đời của mình. Lấy lòng người khác, chi bằng tự mình sống vui vẻ, có thể đem những vất vả khó nhọc biến thành ý thơ, đem thế giới bạc tình bạc nghĩa biến thành thân tình, đây mới là bản lĩnh.
***
Thời điểm bạn thật sự nằm trên giường bệnh, điều gì đối với bạn cũng không còn đáng sợ…
Lúc bạn nằm trên giường bệnh thì ai cũng sẽ đều sợ bạn.
– Bạn bè thân thích sợ bạn vay tiền;
– cha mẹ sợ bạn trị không hết bệnh;
– vợ/chồng thì sợ bị liên lụy;
– lãnh đạo sợ bạn không thể trở về công tác, nên tranh thủ thời gian tìm người thay thế;
– bác sĩ sợ bạn không chi trả nổi tiền viện phí, nên căn cứ tình trạng của bạn mà ngừng cấp thuốc.
Đến lúc đó, tính khí và ngạo khí của bạn hoàn toàn không thấy nữa.
Cho nên, nhất định phải biết chăm sóc bản thân cho tốt, cái gì cũng đều không phải của mình chỉ trừ cái thân thể này. Sức khỏe chính là điều tối quan trọng, vậy nên nhất định cần chiếu cố bản thân mình, yêu lấy mình. Đó là hiện thực cuộc sống và là bài học mà chúng ta phải khắc cốt ghi tâm.
***
Khi bạn mệt mỏi, sẽ có rất nhiều người nói với bạn “Mệt thì hãy nghỉ ngơi!”, nhưng…
Khi bạn bị bệnh, sẽ có rất nhiều người nói với bạn: “Mệt thì hãy nghỉ ngơi, bệnh thì hãy uống thuốc”. Thế nhưng, liệu có ai tự nguyện cho tiền để bạn mua thuốc; hay có ai vì bạn mà đi mua thuốc?
Khi bạn nói rằng điện thoại của mình nghe gọi không được, sẽ có rất nhiều người nói, sao bạn không đổi một chiếc điện thoại mới đi. Nhưng người có thể giúp bạn đổi một chiếc điện thoại mới có lẽ “tìm hoài không thấy”.
Khi bạn gặp khó khăn, sẽ có rất nhiều người nói với bạn đừng lo lắng, nhưng người thực sự đưa tay giúp bạn hỏi có được mấy người?
Đừng chỉ nghe lời nói mà hãy nhìn hành động. Thế giới này không thiếu những kẻ chỉ thích xem náo nhiệt. Nhất định bạn phải nỗ lực, nếu không nỗ lực thì sẽ chẳng ai giúp bạn được đâu.
Nhớ kỹ, có một số người bạn có thể mong chờ, nhưng không thể ỷ lại. Mọi thời khắc phải nhắc nhở chính mình kiên cường hơn nữa. Đường trơn khiến mình trượt ngã thì chính mình đứng dậy, mỗi người đều có con đường riêng, có mệt hay không chỉ có mình biết rõ.
Bạn nên hiểu rằng, có những thứ một khi đã ra đi là không thể quay trở lại, vậy nên cần học cách buông tay, không ai có thể đi cùng bạn mãi được. Con người luôn mong cầu mọi sự được viên mãn, nhưng kỳ thực, vũ trụ này vốn tàn khuyết bất toàn, cũng không có điều gì là trọn vẹn tuyệt đối.
Mặt trời vừa lên đỉnh lập tức ngả về Tây; trăng tròn rồi trăng lại khuyết.
Cho nên, có khuyết điểm mới là vĩnh cửu, không trọn vẹn mới gọi là nhân sinh.
Chịu cúi đầu, sẽ vĩnh viễn không va phải cửa, chịu nhượng bộ sẽ vĩnh viễn không lui bước.
Người có ước mong mới có cảm giác thỏa mãn, người quý tiếc hạnh phúc, mới có cảm giác hạnh phúc.
– Hiểu được trân quý bản thân, để những tháng ngày còn tồn tại trên đời không uổng phí. (Ảnh: Twitter)
Tuệ Tâm,
Nước Mắt Biển Đông
Nước Mắt Biển Đông
* Miếu Thờ 11 Thiếu Nữ Việt Nam Bị Hải Tặc Thái Lan Hãm Hại & Vứt Xác Xuống Biển Tha Sala – Đêm chôn vùi tội ác
Ngày hai mươi mốt tháng Chạp năm Kỷ Tỵ, xác mười một cô gái Việt Nam tuổi từ mười chín đến hai mươi ba, trôi dạt vào bờ biển Tha Sala, Thái Lan, trên người không một mảnh vải che thân.
Những người con gái Việt Nam, cổ bị trói chùm vào nhau, sau khi bị bọn hải tặc Thái Lan mất nhân tính hãm hiếp, bị đẩy xuống biển, và sau khi hơi thở còn thoi thóp sự sống, sau tột cùng của đau thương ô nhục, các cô đã bị kéo theo tàu hải tặc, thân thể chập chùng theo sóng nước từ đuôi tàu, cho đến một lúc, linh hồn buốt lạnh rời khỏi thân xác đau thương, bọn hải tặc man rợ chặt dây, để xác người nhận chìm trong đại dương loang màu máu.
Những ngày chuẩn bị vào Xuân Canh Ngọ (1990), một mẩu tin rất ngắn trên báo Úc loan tin người ta tìm thấy xác mười một cô gái Việt Nam chết trần truồng trên bờ biển Tha Sala. Người ta đoán tuổi các cô gái từ mười chín đến hai mươi ba, cổ bị dây thừng trói chùm vào nhau..
Tôi đã viết một bài tưởng niệm để người bạn thân Trung Chính đọc trên đài phát thanh SBS với lời mở đầu như trên. Giọng đọc dù rất lão luyện, nhưng chợt nghẹn ngào của Chính, đã gửi đi toàn nước Úc một thông điệp buồn, đúng chương trình phát thanh đặc biệt vào giờ khắc giao thừa.
Hôm nay tôi đang ngồi trên bờ biển Tha Sala để viết những dòng này. Bao nhiêu năm dài đã trôi qua..
Trên bờ biển, dưới một tán cây dương liễu lớn, có dáng một chiếc thuyền dài gần mười thước đã rã mục, chỉ còn trơ ba lớp ván đáy thuyền. Người ta kê miếng ván thuyền này trên các cột thấp, phía trên lợp mái tranh, hai đầu mũi thuyền có hai cái am nhỏ, một cái hướng vào bờ, một cái hướng ra biển.
Lúc tôi đến thì đúng lúc một bà lão người Thái đang cùng hai cậu nhỏ bưng đồ cúng gồm trái cây và xôi trắng phía trong bờ đi ra. Bà cụ sắp đồ cúng lên hai cái am, kê một cái bàn vuông nhỏ ngay phía mũi thuyền hướng biển, đặt mâm ngũ quả lên, thắp hương vái rồi đi vào.
Tôi không biết bà cúng ai vì bà không nói được, có lẽ miếng ván thuyền để trong chòi tranh là di tích một thuyền cá nào đó trôi vào bờ. Có lẽ có người chết trên thuyền nên người địa phương mới chưng thờ miếng ván một cách trang trọng dù mái che và cột chống tơi tả nhuộm một màu buồn bã và nghèo nàn.
Đột nhiên, tôi thấy rùng mình.
Bờ Tha Sala không phải là chốn nghỉ dưỡng. Người Thái chê bờ biển này vì có nhiều thuyền đánh cá, bờ cát sạch nhưng đáy biển là lớp bùn dày. Người nước ngoài qua đảo Ko Samui không xa lắm. Hai chục cái nhà sàn không một người khách nào khác đến thuê ở qua đêm. Con đường từ đường quốc lộ vào đây phải đi bộ trên hai cây số. Có lẽ những căn nhà sàn gỗ đỏ mái tôn dành cho người địa phương gần đâu đấy vì bên trong không có gì, ngoài một cái giường có treo mùng trắng và cái quạt bàn.
Một bờ biển rất buồn. Một làng chài lạc lõng trên bản đồ vùng duyên hải phía nam của Thái Lan, thuộc tỉnh Nakhon Si Thammarat.
Tôi ra dấu xin bà cụ một ít nhang. Cụ sai một đứa nhỏ chạy vào trong cầm ra ba nén nhang.
Nếu như có một ai đó đang đốt nén hương dâng lên bàn thờ Tổ, xin thắp thêm nén hương lòng, cắm vào hư không cho thơm linh hồn của những người nằm xuống trên cuộc hải trình tuyệt vọng. Có ai đó đang đi lễ chùa đêm nay, hãy dừng lại, thả vào không gian tiếng thở dài, để sưởi ấm những hương hồn cô đơn lạnh lẽo. Có ai đó đang ngập ngừng trước cổng thánh đường, hãy xin Chúa ban phát tình yêu cũng như niềm đau khổ đồng đều cho hết thảy nhân loại..
Chính đã đọc những lời trên ở đất Úc yên bình hai mươi hai năm trước, hướng về những linh hồn thảm tử Việt Nam trôi vào bờ Tha Sala.
Hôm nay tôi đưa giọng trầm buồn của Chính vang trên bờ Tha Sala vắng lặng. Hôm nay tôi cắm một nén hương trên bờ biển Tha Sala vắng lạnh giữa trời mai nắng cháy.
Chợt nghẹn ngào. Mặt biển xa phẳng như mặt nước hồ. Sóng nhẹ không thành tiếng.
Một vị sư ở Việt Nam khi biết ý định, đã chỉ cho tôi cách tịnh thủy và cầu nguyện.
Tôi ngồi sau nén hương, hướng ra biển. Những tàng dừa biển mọc sát đất xào xạc trong gió. Lá bàng vàng võ rơi rụng trên những vỏ sò đá cuội trắng..
Tôi cám ơn bà cụ đã cho tôi nén hương làm từ vùng đất của những tên cướp biển. Nhưng những người Thái mà tôi gặp hết sức hiền lành và tốt bụng. Mấy ngày qua tôi ở nhờ gia đình một bà bác sĩ trong khu vực dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa bên trong khuôn viên nhà thương Maharat ở trung tâm tỉnh Nakhon Si Thammarat. Bà chỉ cho tôi đến bờ Tha Sala, chỉ cách trung tâm thành phố vài chục cây số. Nhưng khi tôi hỏi cách qua đảo Koh Kra thì bà chịu. Bà cũng không biết có một hòn đảo có tên như thế nằm trong ranh giới tỉnh nhà.
Koh Kra, người Thái đọc là Cỏ Cả (Koh là đảo). Năm 1981, các nhà văn Nhật Tiến, Dương Phục, và Vũ Thanh Thủy đã viết một bản tường trình từ trại tị nạn Songkhla miền cực nam nước Thái về thảm trạng kinh hoàng của thuyền nhân trên đảo này. Bản tường trình hải tặc trong Vịnh Thái Lan của họ đã dóng lên tiếng kêu đau đớn, tiếng chuông hy vọng và tuyệt vọng nhất của thời đại chúng tôi.
Mười một cô gái chết thảm nơi đây thuộc thế hệ chúng tôi.
Họ sinh ra trong thời chiến, chết trong thời hậu chiến trên biển người và đất lạ.
Buổi trưa, mắt nửa nhắm nửa mở, tôi ngồi trên ghế dựa nhìn ra biển vắng. Căn nhà sàn tôi ở nằm sát mép nước, tận trong cùng của khuôn viên, chỉ cách cái chòi thờ miếng ván thuyền độ 20 thước.
Chợt thấy hai cô gái phục sức theo kiểu Hồi Giáo, khăn trùm kín đầu, đi dạo trên bờ biển. Một cô trùm khăn trắng, một cô khăn đỏ rực. Họ nắm tay nhau đứng nói chuyện trước chòi thờ ván thuyền.
Những người con gái Việt Nam đã chết trần truồng trên bờ biển này. Những người con gái đạo Hồi kín đáo từ đầu đến chân đứng nhởn nhơ trên bờ biển này.
Chờ gần chiều khi biển chỉ còn một màu vàng đỏ, tôi đi lần xuống nước, tính lấy toàn cảnh từ biển trông vào bờ. Nhưng khi ngẩng đầu lên thì giật nảy mình. Ngay nóc chòi thờ chiếc ván thuyền, có di ảnh mờ mờ của một cô gái. Có lẽ do nắng gió từ biển khơi lâu ngày nên hình hài trên ảnh đã mờ, nhưng trông kỹ vẫn thấy đúng là ảnh một cô gái. Cả thân hình cô được bao phủ bởi một thân cây già, các tán cây mọc sau cô xòe những lá cây như hoa trắng trùm lên mái tóc dài thả xuống hai vai, cô quỳ hai gối trên một chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, miệng mỉm cười, đôi mắt đen to nhìn thẳng ra biển.
Tôi rùng mình trong thoáng giây. Tôi đã quan sát hai cái am nhỏ hồi sáng. Không có tượng Phật. Thì ra họ thờ cô gái này.
Tôi chụp nhanh một tấm thì đúng lúc, trời đổ mưa lắc rắc, mây từ đâu kéo đến đen cả bầu trời. Rồi những hạt mưa to trút xuống cả biển khơi, rơi đồm độp trên mái lá mái tôn và bãi cát. Một tia chớp sáng lóe bầu trời. Gió nổi mạnh trong khi ngoài biển xa bầu trời vẫn vàng ươm ánh chiều tím mịn.
Tôi chạy vội vào căn nhà bán thức ăn. Lúc này không có gì hơn là một lon bia Thái. Một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi mang bia ra, tiện thể ngồi xuống bên cạnh để hỏi chuyện.
Tôi hỏi tại sao có cái chòi thờ chiếc chuyền đã rã mục, lại có hai cái am. Có phải thờ cô gái có di ảnh hướng ra biển không.
Ông ta là con trai độc nhất của bà cụ hồi sáng. Ông trầm ngâm, nói tới đâu tôi lạnh mình tới đấy.
Ông kể rằng cách đây mười bảy năm, gia đình từ đảo Samui qua đây lập nghiệp. Khi đào cát để lập chòi thì thấy xác một chiếc thuyền vùi sâu trong cát. Ông nói trước đây có một số thuyền Việt Nam qua đây, nhưng không chắc có phải là thuyền của người Việt hay không.
Cả nhà khi đào thấy chiếc thuyền cũng không chú ý, chỉ để trơ ra đấy. Thế rồi một hôm, có một vị sư kêu mẹ ông đến, bảo rằng hãy thờ chiếc thuyền ấy.
Vị sư nói ông nằm mộng thấy một cô gái hình vóc như thế này thế kia, đến nhờ ông nói lại với gia đình là những người đi trên thuyền, trong đó có cô, đã chết thảm, nên xin được thờ phụng. Vị sư kêu người vẽ lại chân dung cô gái như ông thấy, rồi bảo bà cụ hãy thờ cô gái này nơi chỗ xác thuyền tìm thấy.
Bà cụ là người mộ đạo nên làm theo. Cả mười bảy năm nay, mỗi ngày bà cụ đều cúng hai mâm như thế cả.
Tôi xúc động nói với người đàn ông, dù gia đình ông không chắc người chết trên thuyền kia là ai, nhưng tôi chắc là những thuyền nhân Việt Nam, vì mười bảy năm trước thuyền đã mục, nghĩa là chiếc thuyền đã vùi trong cát lâu lắm, có lẽ từ khoảng thời kỳ mà thuyền nhân Việt ồ ạt ra đi.
Người đàn ông lặng thinh, ngẫm nghĩ. Rồi ông vào trong nhà mời bà cụ ra. Bà bảo khi bà lập chỗ thờ thuyền cùng di ảnh cô gái, người trong làng cá này đều bảo bà điên. Nhưng bà không màng, bà bảo bà tin có Phật, nhất là vị sư không bao giờ đặt chuyện như thế.
Trời đã sụp tối, tiếng sóng biển rì rào. Tôi về lại căn nhà sàn của mình, phải đi ngang lại chiếc chòi thờ thuyền. Bất chợt, dù cả đời không sợ ma vì biết ma chê mình, người tôi lạnh xương sống.
Nhìn quanh không một bóng người. Tiếng song vỗ rì rào, tiếng chó tru trong đêm rờn rợn.
Nhưng rồi tôi cũng đứng lại hồi lâu trước di ảnh cô gái trong bóng tối nhá nhem. Có lẽ từ một tiếng gọi nào đấy đã đưa chân tôi lưu lạc chốn này để thấy lại một thảm cảnh hiển bày.
Tha Sala, em ơi, đêm nay sóng cuồng điên ngoài biển, miếng ván thuyền rã mục trên bờ vắng.
Mưa đã ngưng nhưng cát vẫn ướt.
Tôi vào nhà lấy cái máy đem ra để cạnh cái chòi thờ, mở lại giọng đọc của Chính. Trong đêm vắng, giọng của người bạn tôi như tiếng kinh cầu chiêu niệm những oan hồn lẩn khuất đâu đây. Tiếng của anh chậm buồn như sóng biển ngoài kia đang thổn thức.
Đêm nay, đêm oai linh, đêm hồn thiêng sông núi, đêm của tổ tiên nghìn năm sống lại, đêm của những bước chân phiêu lãng trở về bên đốm lửa quê nhà..
Đêm đào huyệt chôn vùi tội ác và ích kỷ. Đêm của những tấm lòng nở hoa nhân ái.
Xin hãy bàn giao hiện tại tối tăm và phù phiếm, cho ngày mai rạng rỡ bài đồng ca thơm ngát tình người. Để mùa xuân được trải đều khắp chốn.
Để thiện tâm nở đầy trên lòng bàn tay, thúc giục những bước chân trần tiến về những cuộc hải trình tuyệt vọng, cho mùa xuân chia đều trên mỗi một sinh mệnh của đồng bào.
Tha Sala, tôi thắp nén hương này, nói vào hư không bài văn tế không thành tiếng.
(Saigon trong tôi/ Lê Đại Lãng – Tha Sala)
TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI
TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI
TGM Giuse Vũ Văn Thiên
Sống trên đời, ai cũng mong có một tương lai tốt lành. Tương lai mà người tín hữu kỳ vọng không giống như mọi người không có đức tin mong đợi. Bởi lẽ, theo quan niệm trần gian, tương lai là những kỳ vọng thành đạt trong sự nghiệp hay học vấn, hoặc giàu có sung sướng về vật chất. Người Kitô hữu cũng cố gắng để có được một điều kiện sống hạnh phúc phong lưu. Tuy vậy, tương lai và hạnh phúc vĩnh cửu của họ là Nước Trời. Giữa cuộc sống này phủ đầy bóng tối, nhiều thử thách gian nan và dối gian lừa lọc, nhưng những tối tăm gian khổ ấy cũng có lúc kết thúc. Vương quốc mà chúng ta chờ đợi, đó là hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài. Hướng về tương lai vĩnh cửu, đó là mối ưu tiên hàng đầu của người tin Chúa.
Với lối hành văn theo thể loại được gọi là “Khải huyền”, tác giả sách Đanien đã diễn tả lúc tận cùng của thời gian, chúng ta vẫn gọi là ngày tận thế. Lúc ấy, Thiên Chúa sẽ can thiệp và làm cho những người đã chết được sống lại. Sự can thiệp của Tổng lãnh Thiên Thần Micae như một cuộc tổng điều tra dân số. Những ai được ghi trong “Sổ hằng sống” sẽ được hưởng hạnh phúc ngàn thu, những ai không có tên trong đó sẽ phải trầm luân muôn kiếp.
Giống như tác giả sách Đanien, thánh sử Mác-cô đã sử dụng lối văn Khải huyền để diễn tả ngày cánh chung. Vào thời đó, các thiên thể tinh tú sẽ mất hết khả năng chiếu sáng và sẽ rơi xuống đất. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú được các dân xung quanh thờ như những vị thần. Vào thời Thiên Chúa xuất hiện, các vị thần ấy sẽ bị đánh bại.
Có thể những tiên báo trên đây bị người thời nay coi là chuyện tầm phào. Người ta nói rằng, từ xưa đến nay, rất nhiều lần có lời đồn thổi về ngày tận thế, nhưng rốt cuộc thì ngày tận thế không đến. Lời Chúa muốn cảnh tỉnh chúng ta khi quả quyết: thế gian này chẳng thể tồn tại mãi. Sẽ có ngày cuộc đời này kết thúc, dù chúng ta không biết khi nào và như thế nào. Những hình ảnh được nêu trong sách Đanien, và Tin mừng Thánh Mác-cô chỉ là những biểu tượng để giúp cho các độc giả cách chúng ta mấy ngàn năm dễ hiểu.
Nếu người ta có thể phủ nhận ngày tận thế, thì không ai có thể phủ nhận sự chết. Dù sang hay hèn, dù văn minh hay lạc hậu, ai cũng phải đến ngày kết thúc cuộc đời. Biết bao lần chúng ta đã chia tay những người thân, qua đó chúng ta càng cảm nhận sự mỏng giòn của thân phận con người. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: giờ chết là tận thế đối với cá nhân mỗi người. Lúc đó họ sẽ phải trả lời Chúa về những việc mình đã làm khi còn sống trên dương gian. Chúa dựng nên con người có hồn và xác. Thân xác có thể bị mục nát trong lòng đất, nhưng linh hồn bất tử. Mỗi người phải mang trách nhiệm về những gì mình đã làm. Thời gian, sức khoẻ, gia đình, bạn bè, nghề nghiệp và những ưu đãi khác đều là những “vốn” Chúa ban để sinh lợi. Trên trần gian, có người tốt kẻ xấu, lúc tận thế, cũng có người hưởng vinh quang, kẻ bị trầm luân muôn kiếp. Ngôn sứ Đanien đã nhìn thấy “những người thông minh sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ khuyên dạy sự công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời.” Niềm tin vào đời sau chính là tôn vinh phẩm giá con người. Niềm tin này cũng khích lệ chúng ta, như một lời hứa hẹn rằng, nếu chúng ta sống tốt ở đời này thì sẽ được hưởng vinh quang bất diệt đời sau.
Tin vào đời sau, đó không phải là sự ru ngủ như có người thiếu thành kiến với Giáo Hội đã suy diễn. Chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta: ai tin vào Người thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai tin vào Người sẽ được sống muôn đời. Tác giả thư Hípri nói với chúng ta: nếu chúng ta có hy vọng được hưởng sự sống đời đời là nhờ hy tế của Đức Giêsu dâng trên thập giá. Người là Thượng tế, đã dâng chính máu mình để chuộc tội cho nhân loại. Những ai tin vào Người sẽ được tha thứ tội lỗi và được hưởng hạnh phúc vô biên.
Vào lúc năm cùng tháng tận, mỗi chúng ta hãy suy nghĩ về lúc kết thúc của cuộc đời. Hai chữ “tận thế” gợi cho chúng ta nỗi sợ hãi và bi quan chán nản, nhưng hai chữ “tương lai” lại giúp chúng ta bừng lên niềm hy vọng. Người vô thần cho rằng mỗi ngày sống là đang tiến dần tới nấm mộ; người tin Chúa lại cho rằng mỗi ngày sống là một nấc thang đưa họ đến với Đấng Tối cao. Quả vậy, khi đối diện với sự chết, người Kitô hữu nhìn nhận, đó là cuộc gặp gỡ với Chúa. Đó cũng là sự biến đổi từ thân phận phải chết sang cuộc sống đời đời.
TGM Giuse Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
Tại sao gia đình tôi hòa thuận?
Tại sao gia đình tôi hòa thuận?
Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:
– Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.
Ngược lại ba thường hỏi:
– Con gái, tuy con còn bé nhưng con có thấy ba chịu đựng mẹ giỏi như thế nào không ? Ba phải làm sao đây?
Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.
Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ba mẹ quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:
– Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta sẽ phải chia hai.
Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi? Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện thường nói lời an ủi, thương hại và cũng làm nó thêm bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi biết rồi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.
Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy Cha và Kính Mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn.
Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi – có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, sau khi đọc kinh, ba má tôi đã xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.
Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi từ đó khá hẳn. Gia đình tôi càng ngày càng hòa thuận.
Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm gia đình bốn người chúng tôi vừa chụp ở tiệm.
Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều bài kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.
nguồn trên mạng
From:TU-PHUNG
Đại học Fulbright huỷ sự kiện giới thiệu sách của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam
VOA Tiếng Việt
Đại học Fulbright Việt Nam lặng lẽ huỷ bỏ sự kiện bàn luận với cựu Đại sứ Mỹ Ted Osius về cuốn hồi ký mới ra mắt của ông trong lúc báo chí trong nước không được phép viết về cuốn sách được cho là có thể “gây rắc rối” cho một số quan chức chính phủ.
Sự kiện trực tuyến được Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) dự kiến tổ chức vào ngày 4/11 nhưng trường đã huỷ bỏ buổi bàn luận được lên kế hoạch là mở đầu cho một chuỗi các buổi trò chuyện với nhiều diễn giả được mời.
Chia sẻ thông tin về sự kiện này hôm 30/10 trên trang Facebook cá nhân, Tiến sỹ Vũ Minh Hoàng, hiện đang giảng dạy tại FUV, viết rằng “rất hân hạnh được cùng Đại sứ Ted Osius bàn luận về cuốn sách mới của ông!” nhưng phần thông tin về buổi trò chuyện này đã không còn truy cập được nữa.
Trả lời yêu cầu bình luận của VOA qua email, FUV cho biết lý do huỷ buổi nói chuyện với cựu ĐS Osius, người từng là phó chủ tịch của đại học này sau khi từ chức đại sứ vào cuối năm 2017, là “vì một số lí do kĩ thuật không lường trước.” Trường cho biết họ đã thông báo gửi diễn giả và những người đăng ký tham dự sự kiện cũng như “cân nhắc thời điểm phù hợp trong tương lai.”
Tuy nhiên không có bất cứ một thông báo công khai nào của FUV trên trang web cũng như trang Facebook chính thức của trường về việc huỷ bỏ này. Thông báo trên trang web của trường mặc dù vẫn hiện ra khi tìm kiếm trên Google nhưng đường link sẽ dẫn tới trang chủ của FUV.
TS Hoàng nói với VOA rằng ông lấy làm “tiếc” vì buổi trò chuyện với ĐS Osius bị huỷ bỏ nhưng cho biết FUV “có rất nhiều sự kiện và vì nhiều lý do không phải sự kiện nào cũng chạy được.” Trong khi đó, nói với BBC, ĐS Osius cho biết ông “thất vọng về sự việc” và cho rằng “có vẻ như ai đó không thích nội dung cuốn sách.”
Cuốn sách bằng tiếng Anh mới ra mắt của ĐS Osius, “Nothing is Impossible: America’s Reconciliation with Vietnam” (Không gì là không thể: Quá trình hoà giải của Mỹ với Việt Nam) là những câu chuyện hậu trường về các nỗ lực xây dựng lòng tin và hoà giải giữa hai cựu thù Mỹ và Việt Nam.
Tuy nhiên, theo một phóng viên trong nước, các báo ở Việt Nam “bị cấm” đưa tin về cuốn sách này. Phóng viên muốn ẩn danh này cho biết rằng chỉ đạo được đưa ra từ ban tuyên giáo Trung ương, nơi đưa ra quan điểm và đường lối tuyên truyền của Đảng cho báo chí.
Tương tự, một tổng biên tập ở Việt Nam nói với Nhật báo Người Việt rằng các báo trong nước được lệnh “không khai thác sách của cựu ĐS Osius” vì dù có “nhiều điểm tích cực như hoà giải Việt-Mỹ” nhưng còn có “một số điểm chưa phù hợp.”
Một trong những câu chuyện được kể trong cuốn sách mới của ĐS Osius, người có nhiệm kỳ đại sứ ở Hà Nội từ 2014-2017, là những gì xảy ra sau cánh gà của cuộc gặp tại Nhà Trắng hồi tháng 5/2017 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Trước khi diễn ra cuộc gặp có sự tham dự của phóng viên và nhà báo, ông Trump đã không biết mình sẽ gặp ai và trêu đùa về tên của ông Phúc với một từ có nghĩa thô tục trong tiếng Anh.
Trả lời phỏng vấn VOA ngay khi cuốn sách có mặt trên các kệ sách ở Mỹ hôm 15/10, ĐS Osius, người có gần 30 làm ngoại giao ở Việt Nam, nói rằng “có thể có một số phần trong cuốn sách gây rắc rối cho một số người nào đó trong chính phủ.” Tuy nhiên ông cho rằng “các quan chức chính phủ, những người có thể không thích một số phần trong cuốn sách,” sẽ hiểu được rằng ông viết nó “từ tình yêu của mình với đất nước.” Ông cho biết ông đã “nói ra sự thật một cách đầy đủ nhất có thể” với khả năng và kiến thức tốt nhất của ông.
Ngoài ông Phúc, các lãnh đạo Đảng Cộng sản như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và nhiều quan chức cấp cao khác trong chính phủ Việt Nam được nhắc đến trong cuốn hồi ký này. Tuy nhiên, ĐS Osius cho rằng ông “không thấy sự nhạy cảm lớn nào từ phía chính phủ Việt Nam” đối với việc ông nói ra sự thật, và rằng ông “không giương cú đấm nhắm vào ai” và “không nhắm vào nhân quyền.”
Cựu ĐS Osius từng có buổi thuyết giảng với các sinh viên cao học tại FUV vào cuối tháng 9 vừa qua, trong đó ông kể lại một nội dung của cuốn sách mới và trả lời các câu hỏi từ sinh viên về “phong cách lãnh đạo thích ứng, chấp nhận rủi ro, vấn đề Trung Quốc và thương mại.”
FUV, thành lập năm 2016 với phần lớn vốn nước ngoài, được xây dựng theo mô hình dựa trên nền tảng truyền thống giáo dục đại học của Mỹ về tranh luận cởi mở, nghiên cứu về phân tích phản biện, nhưng đồng thời vẫn dựa trên những di sản và truyền thống văn hoá phong phú của Việt Nam.
Một trong những mục tiêu của FUV là “minh bạch và công bằng”, theo Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID nơi tài trợ cho trường gần 12 triệu USD từ năm 2017. Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, FUV được kỳ vọng như là một nền tảng tuyệt hảo cho việc phát triển vốn nhân lực mạnh mẽ trong khu vực.
ĐS Osius, người được trao huân chương hữu nghị của Chủ tịch nước Việt Nam vào năm 2018, cho biết rằng ông sẽ ra mắt cuốn sách bằng tiếng Việt vào năm tới và hy vọng không có sự kiểm duyệt nào từ chính quyền đối với phiên bản này.
(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link bit.ly/VOATiengViet1 hoặc bit.ly/VOATiengViet2 để vượt tường lửa)
Đại học Fulbright huỷ sự kiện giới thiệu sách của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam
Chúng ta cùng nhau dâng lời cầu nguyện cho các linh hồn.
Nguyễn Hoàng Diễm
Chúng ta cùng nhau dâng lời cầu nguyện, cầu nguyện cho các linh hồn.
Lạy Chúa, xin nhớ đến những người thân, tổ tiên, ông bà, anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại. Cùng linh hồn những người khi còn sống, chỉ mình Chúa biết họ đã tin tưởng nơi Ngài.
Chúng con nguyện xin cho những linh hồn tôi tớ Chúa mà nay chỉ còn biết nhờ vào lòng thương xót của Chúa.
Xin Chúa tha thứ mọi lỗi lầm thiếu xót, và ban cho hết thảy được hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa
Xin ban cho chúng con luôn giữ vững niềm tin, cậy trông vào Chúa. Để mai sau được chung hưởng hạnh phúc Nước Trời. Amen
Giêsu, Maria, Giuse con mến yêu. Xin thương cứu rỗi các linh hồn
Chúc anh chị em một đêm bình an, cùng một giấc ngủ ngon!
Vì Sao HÔN NHÂN Ngày Càng Nguội Lạnh – Cha Nguyễn Khắc Hy & Trọng lượng bên trong – Cha Phạm Quang Hồng
httpv://www.youtube.com/watch?v=_xvBNHkzXdM
Vì Sao HÔN NHÂN Ngày Càng Nguội Lạnh – Cha Nguyễn Khắc Hy
httpv://www.youtube.com/watch?v=EWRS1M19Eko
Trọng lượng bên trong – Cha Phạm Quang Hồng
LM Vinhsơn Nguyễn Thế Thủ: Giỗ 49 – 100 ngày bên Công giáo đúng sai?
httpv://www.youtube.com/watch?v=lES0hNS2Hjg
LM Vinhsơn Nguyễn Thế Thủ: Giỗ 49 – 100 ngày bên Công giáo đúng sai?
Bố Ơi Con Đã Hiểu Rồi…

Bố Ơi Con Đã Hiểu Rồi…
Mình không thích nói về cái nghèo, nhưng phải công nhận là khi còn nghèo đói, hầu như con cái nhà nào cũng ngoan ngoãn, biết nhường nhịn, đùm bọc lẫn nhau. Rất lạ.
Trẻ con bây giờ được ăn ngon, mặc đẹp. Vậy nhưng xem ra chúng rất ích kỷ, lười biếng, thậm chí vô cảm và hiếm khi nghe lời. Mình không vơ đũa cả nắm, nhưng dám chắc có nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh này.
Trong nhà, mình cố gắng làm gương để con cái noi theo, như dậy sớm, tập thể dục, gấp chăn gối gọn gàng, giúp vợ làm vài việc vặt như đổ rác, phơi quần áo, quét nhà, nhặt rau, và nhắc trẻ làm theo.
Làm gương mãi nhưng không đứa nào chịu học theo. Đứa đang nghỉ hè thì ngủ đến gần trưa. Đứa đi làm thì giờ làm là 8h30, gần 8h00 mới dậy. Nó ăn uống vội vàng rồi ra đi, không làm tý việc nhà nào. Những khi mình nhắc nhở, vốn rất chiều con nên vợ mình thường im lặng, thành ra con cái vẫn cứ nghĩ là chúng cứ như thế là đúng, còn mình thì xem ra…quá đáng (!).
Nhắc bao nhiêu cũng chẳng ăn thua. Khi kể lại chuyện thời còn bé mình phải chịu khó chịu khổ thế nào, tự lực cánh sinh ra sao để “giáo hóa” thì chúng nó “dẹp” ngay, bảo thời nay khác, thời xưa khác, bố kể để làm gì?.
Một hôm, sau một thời gian dài nói mãi không được, mình quyết định “phát xít” hơn, chuyển từ “khuyến khích” sang “bắt buộc”. Mình gọi đứa đã đi làm dậy sớm hơn và bảo, bố đã nhắc nhở con nhiều lần chuyện không dậy muộn quá, gấp chăn gối, quần áo gọn gàng rồi tập thể dục hoặc giúp mẹ vài việc vặt, nhưng con không nghe. Hôm nay nếu không thực hiện, bố không đồng ý cho con đi làm.
Trước sức ép, con bé gượng làm được vài bữa rồi đâu lại vào đó.
Tiếp theo, mình lại bảo vợ rằng con đã có lương, phải đóng tiền cơm cho mẹ, mỗi tháng một triệu. Vợ mình can, bảo nhà có thiếu gì lắm sao bắt con đóng tiền. Mình nói chỗ tiền đó thấm gì, chỉ là hình thức, nhưng để cho con hiểu được trách nhiệm.
Mấy hôm sau, khi đi tập thể dục về, thấy vợ mếu máo, con nó bảo bố “độc tài” quá, cứ đòi hỏi làm những thứ mà thanh niên bây giờ không đứa nào muốn làm (!), rồi lại còn bắt đóng tiền ăn, coi nó như…người ngoài. Nó thấy bị mất tự do (!), quá nên đã xách vali ra ngoài ở trọ với bạn bè rồi…
Mình bảo em cứ bình tĩnh. Những việc anh bảo nó làm đều muốn tốt cho nó thôi, không có bất cứ điều gì quá đáng cả. Mình không yêu cầu nó ra ngoài ở mà nó tự đi, thì cứ để nó đi, chắc chắn nó sẽ học được nhiểu điều bổ ích…
Hai tháng trôi qua. Thỉnh thoảng ngồi buồn, vợ lại càu nhàu, anh đúng là thô bạo quá, cả nhà đang vui, lại sinh chuyện để con bỏ đi, con nó còn dại, có làm sao lại khổ. Bị vợ than phiền nhiều, có lúc mình cũng tự hỏi hay là mình thô bạo thật?
Khi đứa lớn bỏ đi, vì được chiều từ nhỏ nên đứa bé và vợ mình bỗng dưng trở thành “một phe” riêng và mình trở nên lạc lõng. Có hôm vì quá lo lắng cho con và giận mình, vợ còn bắt ra nằm sofa cho bõ tức!
Thế rồi một hôm, mình vừa đi tập thể dục về thì thấy hai mẹ con đang thủ thỉ với nhau ở phòng trong. Bên cạnh là cái…vali to tướng. Mình đã đoán ra được sự việc, nhưng để giữ thể diện cho con, mình không nói gì.
Gần tới bữa cơm, biết không thể tránh được, con gái mới chạy ra xin lỗi mình, nước mắt ngắn, dài nói rằng con đã hiểu sai về những yêu cầu của bố, đó chỉ là những yêu cầu tối thiểu, làm được dễ dàng. Việc ở riêng không đơn giản chút nào. Khi ở nhà, con được phục vụ đầy đủ “một cách tự động” thì cứ nghĩ là chuyện thường.
Ra ở riêng không tự làm thì chẳng có cái gì hết. Không nấu, không có cơm ăn. Không giặt, hết quần áo mặc. Nước lọc không đun không có mà uống. Tất cả những việc đó con chưa được chuẩn bị để sẵn sàng…
Mình bảo thôi con không cần giải thích nhiều đâu. Con thử nói một câu ngắn gọn xem nào. Nó bảo, bây giờ con mới hiểu được câu mà bố nhắc nhở. Đó là “cho đến trước 18 tuổi thì con nghĩ là con khôn hơn bố, đến 25 tuổi thì con thấy bố cũng chỉ…khôn bằng con, và đến 30 tuổi con mới nhận ra rằng bố…khôn hơn con”.
Mình bảo câu này có phải của bố đâu, nhưng bố rất mừng vì con đã nhận ra được điều đó sớm hơn nhiều so với mong đợi.
Trong không khí trầm lắng của cả nhà, có lẽ mình là người vui nhất, một niềm vui khó tả!
Đang nằm sofa và mải nghĩ về những chuyện vừa xẩy ra thì có tiếng thì thào của vợ, đi ngủ thôi anh, muộn rồi. Hôm nay trời nóng, em…bật điều hòa nhé!
Lượm trên mang…










