CÔ VỢ XINH ĐẸP VÀ NGƯỜI THỢ MỎ

CÔ VỢ XINH ĐẸP VÀ NGƯỜI THỢ MỎ

Thật là một câu chuyện đáng đọc… mắt tôi đã nhòe đi khi đọc đến những dòng cuối cùng..

Cô ấy 30 tuổi, người xinh đẹp, nước da trắng, thân hình nhỏ gọn, nhưng số mệnh cô không được tốt, trước tiên là sinh hạ một cô con gái đần độn, sau đó nữa thì, năm cô 29 tuổi, chồng cô mất. Về sau, cô đã quyết định tái giá, cô gả cho một người đàn ông lớn hơn cô 15 tuổi.

Cô không chịu nổi khổ, huống hồ còn phải dẫn theo cô con gái đần độn. Điều quan trọng là, ông ấy là một người thợ mỏ, thu nhập bao nhiêu thì không nói, chỉ là nếu như xảy ra tai nạn, thông thường nạn nhân sẽ được bồi thường bảy, tám trăm triệu.

Cô đã nghèo khổ đến sợ rồi, nếu không, tại sao xinh đẹp như vậy lại muốn gả cho một người có chút tật ở chân cơ chứ. Ông ấy vừa già vừa khó coi, miệng méo mắt lệch…

Ông ấy cũng biết rằng bản thân mình không xứng, nhưng vẫn cảm thấy giống như có được báu vật vậy…

Số tiền ông kiếm được, toàn bộ đều đưa hết cho cô, nhưng mỗi tháng cũng chỉ khoảng 3 triệu, trừ đi các khoản chi dùng cho cơm ăn áo mặc thì cũng chẳng còn lại bao nhiêu.

Cô thật sự không can tâm, cô con gái ngốc của cô sau này còn phải dùng đến tiền nữa, bản thân không muốn sống với ông cả đời như vậy. Khai thác khoáng sản, đâu đâu cũng dễ xảy ra tai nạn như vậy, tại sao ông ấy lại không gặp phải nhỉ?

Điều cô nghĩ đến chính là vài trăm triệu đó, nếu như ông ấy chết rồi, cô sẽ ôm tiền bỏ đi. Đây là một suy nghĩ ác độc, nhưng lại là điều chân thật nhất…

Cô mua quần áo phấn son tô điểm cho chính mình, liếc mắt đưa tình với người hàng xóm…

Có người nói cho ông hay rằng: “Hãy nhìn vợ ông kìa, lấy tiền của ông chưng diện rồi gian díu với người đàn ông khác!”.

Ông chỉ cười: “Cô ấy ở nhà cô đơn buồn chán, ăn diện một chút thì có sao đâu”. Thật ra, trái tim ông đang đau nhói, ông không muốn thấy cô phóng đãng như vậy.

Cô nói muốn ăn quýt, ông liền đi ra tận thị trấn mua, nhưng lúc đi không có nói với cô trước. Cũng ngay lúc đó, tại hầm mỏ xảy ra tai nạn, suy nghĩ đầu tiên của cô chính là, lần này tốt rồi, tiền đã đến tay rồi!

Bao nhiêu thi thể được khiêng ra, cô nhìn xem từng người từng người một, nhưng không có nhìn thấy ông, trong lòng không khỏi thất vọng cùng cực.

Bỗng nhiên quay đầu lại, cô nhìn thấy ông ấy tay ôm theo giỏ quýt đi đến trước mặt cô, ngây thơ giống như một đứa trẻ.

Ông nói: “Cho em này. Anh đi ra thị trấn mua quýt cho em, vậy nên đã thay ca với người khác!”.

Cô khóc òa lên, không phải xúc động vì thấy ông bình an, mà là bởi hy vọng tan vỡ.

Ông khuyên rằng: “Anh không sao, em đừng sợ”. Ông tưởng rằng cô đang sợ hãi lo lắng cho mình.

Khi ăn trái quýt, trong lòng cô cảm thấy bản thân mình không ra gì….

Một thời gian sau, ông len lén chạy lên núi trồng cây, mỗi tháng trồng được khoảng bốn năm chục cây. Có người hỏi ông trồng cây để làm gì? Ông cười trả lời rằng: “Trồng cho hai mẹ con họ, sau này khi tôi chết rồi, thì số cây này cũng đã lớn, có thể nuôi sống hai mẹ con họ”.

Lời này đã đồn đến tai cô, trong lòng cô không khỏi chua xót, suýt chút nữa là rơi nước mắt.

Về sau, cô bị nhiễm phong hàn, ông ấy đã không quản ngày đêm chăm sóc cho cô. Nửa đêm tỉnh dậy, phát hiện người chồng đang ôm chân của mình. Cô hỏi: “Anh ôm chân em làm gì vậy?”.

Ông nói: “Chỉ cần em tỉnh dậy, anh sẽ biết được, nếu như em phải đi vệ sinh sẽ có người dìu em”.

Lần này cô thật sự đã khóc, nghẹn ngào nói: “Anh đúng là ngốc mà”.

Sau khi bệnh khỏi rồi, cô khuyên ông rằng: “Anh đừng có đi làm ở khu mỏ nữa được không? Chỗ đó lúc nào cũng có tai nạn rình rập, hôm trước lại chết mấy người nữa, em thật sự rất sợ”.

Lần này cô thật lòng, bởi vì cô đã nghĩ thông suốt rồi, con người là quan trọng nhất, người không còn nữa, thì cái gì cũng đều không có nữa.

Sau đó, cô nghiêm túc hẳn, không có đi đây đi đó nữa, cũng không còn trang điểm quyến rũ nữa. Cô mở một tiệm tạp hóa nhỏ, hàng ngày đứng tựa cửa chờ ông trở về.

Không lâu sau đó, ông đột nhiên cảm thấy lồng ngực đau nhói, mới làm việc được một lúc, mồ hôi đã đầm đìa, thế là ông lén uống thuốc giảm đau, mỗi lần uống là năm sáu viên, nhưng vùng ngực vẫn cứ đau.

Ông lén đi ra thị trấn khám thử. Bác sĩ nói, ung thư gan thời kỳ cuối, nhiều nhất chỉ sống được hơn ba tháng nữa, muốn ăn gì thì hãy cứ ăn, đừng có làm khổ bản thân mình.

Đi ra chợ, ông đã tiêu xài hết toàn bộ số tiền mang theo, ông đã mua rất nhiều đồ, quần áo mới cho cô, áo khoác hoa cho con gái, son phấn nước hoa, nhưng lại không có mua một món gì cho bản thân mình.

Buổi sáng hôm sau, ông nói ông tính đến khu mỏ làm việc.

Cô nói: “Đừng đi, chỗ đó rất nguy hiểm, dễ xảy ra chuyện, đừng có đi, dứt khoát đừng có đi!”.

Ông cười hì hì, cuối cùng vẫn đi. Ông nói với ông chủ rằng: “Hãy sắp xếp cho tôi phần công việc khó nhất, có mệt tôi cũng không sợ”. Ông chủ đương nhiên đồng ý, bèn cử ông xuống hầm mỏ sâu nhất. Khi cơn đau kéo đến, ở trong bóng tối ông thầm gọi tên cô.

Đi làm được ngày thứ ba, dưới hầm bắt đầu ngập nước, ông vốn dĩ là có cơ hội chạy thoát được, nhưng ông nghĩ, có được tiền rồi, cô và con gái cả đời cũng không cần phải lo nghĩ nhiều nữa. Thế là, ông không có chạy, cũng không kêu cứu.

Sau khi hay tin, cô đầu tóc cũng không chải mà chạy đến nơi, dùng tay gắng sức đào bới ngoài cửa mỏ, hai tay đều đã chảy máu. Nhìn thấy thi thể của ông, cô gọi tên của ông, khóc lóc kêu gào thảm thiết rằng: “Em không muốn! Em không muốn! Anh đừng bỏ em, đừng bỏ em, làm ơn đừng bỏ lại em mà!”.

Từ trong túi áo của ông rơi ra một mẩu giấy chẩn đoán của bệnh viện, lúc này cô mới hiểu rằng, người đàn ông này đã dùng sinh mệnh của mình để yêu thương cô một lần cuối cùng.

SƯU TẦM

NGẪM:

Phụ nữ cần được yêu thương, vậy nên tình thương của người chồng mới là niềm ao ước lớn nhất của người phụ nữ.

Tiền bạc, địa vị…

Chung quy điều mà người phụ nữ muốn nhất chẳng qua chỉ là tình yêu và sự che chở của người đàn ông.

Người đàn ông cần được thấu hiểu, vậy nên sự thấu hiểu của người vợ mới là niềm an ủi lớn nhất của người đàn ông.

Vẻ đẹp, khao khát …

Điều mà người đàn ông mong muốn sau cùng chỉ là sự dịu dàng và bầu bạn quan tâm của người phụ nữ.

Chaunguyenthi st

May be an image of sky, nature and mountain

NGƯỜI THẦY CHÂN CHÍNH 

NGƯỜI THẦY CHÂN CHÍNH 

Một chàng trai nhận ra thầy giáo dạy tiểu học của mình trên đường.
 Anh lại gần ông giáo già và hỏi:
– Thầy có nhận ra em không? Em là học sinh của thầy đây. 
– Ừ, thầy nhớ là dạy em hồi lớp ba. Bây giờ em làm gì rồi? 
– Em cũng đi dạy học. Chính thầy có ảnh hưởng sâu sắc đến em, nên em cũng muốn đi dạy những em nhỏ. 
– Vậy sao? Cho phép tôi tò mò một chút, ảnh hưởng của tôi thể hiện ở việc nào? 
– Thầy thực sự không nhớ gì sao? Thầy cho phép em nhắc lại chuyện cũ nhé. 
Có lần, một bạn học đến lớp đeo một chiếc đồng hồ rất đẹp được bố mẹ tặng. 
Bạn ấy tháo ra và đặt nó vào ngăn bàn. 
Em luôn mơ ước có một chiếc đồng hồ như thế. Em đã không kiềm chế được lòng tham và quyết định lấy chiếc đồng hồ đó từ ngăn bàn của bạn ấy. 
Một lúc sau, bạn ấy đến chỗ thầy, vừa khóc và vừa than bị mất đồ. 
Thầy nhìn khắp cả lớp một lượt rồi nói: “Ai đã lấy chiếc đồng hồ của bạn, xin hãy mang trả cho bạn ấy”.

Em rất xấu hổ, nhưng em không muốn bỏ chiếc đồng hồ ra, do vậy em đã không nhận lỗi. 
Thầy đi ra đóng cửa lớp lại và ra lệnh cho tất cả học sinh nam đứng dọc bờ tường. Thầy báo trước: “Thầy sẽ khám túi tất cả các em với một điều kiện: tất cả phải nhắm mắt lại”. 
Chúng em nghe lời thầy, và em cảm thấy, đó chính là khoảnh khắc đáng xấu hổ nhất trong thời thơ ấu của mình. 
ắ
Thầy đi từ đứa này đến đứa khác, sờ từ túi quần này sang túi quần khác. 
Khi rút chiếc đồng hồ ra khỏi túi quần của em, thầy vẫn tiếp tục đi đến đứa học trò cuối cùng. 
Sau đó, thầy nói: “Các em, tất cả đã xong. Các em có thể mở mắt ra và đi về bàn của mình”. 
Thầy đưa trả lại chiếc đồng hồ cho bạn ấy và không bao giờ nói một lời về sự việc đó. 

Ngày hôm đó, như vậy là thầy đã cứu vãn danh dự và tâm hồn em. 
Thầy đã không tố giác em là kẻ cắp, kẻ lừa dối, là đứa vô tích sự.
Thầy cũng không cần nói chuyện với em về sự việc đó. Mãi sau này, em mới hiểu tại sao. 

Bởi vì, thầy là người thầy chân chính, nên thầy không muốn làm hoen ố phẩm cách một đứa trẻ chưa trưởng thành. Bởi vậy, em đã trở thành thầy giáo như thầy. 

Cả hai cùng im lặng, bồi hồi nhớ lại chuyện xưa. Sau đó, thầy giáo trẻ hỏi:
– Chẳng lẽ hôm nay nhìn thấy em, thầy không nhớ đến chuyện này? 
Ông giáo già trả lời:

– Vấn đề là, khi thầy soát túi quần các Em thầy cũng NHẮM MT!

From: KimBằng Nguyễn

Từ bò đỏ đến bò túc cầu

Từ bò đỏ đến bò túc cầu

Bởi AdminTD

Đỗ Ngà

17-6-2021

Khi mà não con người không biết phân biệt phải trái, không biết thế nào là chừng mực, không xác định điều gì nên nói và gì không nên nói, thì thành phần này chỉ được sử dụng như là một thứ công cụ cho kẻ xấu. Với loại người này, chỉ cần xây dựng thần tượng cho họ thì suỵt đâu thì chúng bổ nhào vào đấy mà tấn công, mà cắn xé.

Dư luận viên thuộc vào thành phần như thế. Không thể nói dư luận viên là thành phần thất học, thậm chí chúng còn là kẻ có trình độ đại học nữa là khác. Thế mới thấy giáo dục XHCN nó tai hại như thế nào.

Đã là sản phẩm của nền giáo dục thì tất nhiên sẽ chiếm số đông trong xã hội. Đảng Cộng sản đang sử dụng hàng vạn dư luận viên để suỵt cho chúng cắn càn những người chỉ trích chế độ, tưởng như đó số lượng rất lớn, nhưng không, đó chỉ mới là một số lượng nhỏ mà chính quyền CS đã tuyển dụng từ một xã hội với đầy rẫy thành phần như thế.

Dư luận viên được xã hội “tặng” cho danh xưng rất đúng, đó là từ “Bò đỏ”. Từ “Bò đỏ” có 2 phần, phần “bò” và phần “đỏ”. Phần “bò” chính là cái nền, đó là thành phần không biết phân biệt phải trái, không biết thế nào là chừng mực, không xác định điều gì nên và không nên làm. Còn phần “Đỏ” chính là đối tượng bò sùng bái. Từ “đỏ” là ám chỉ bò ấy sùng bái ĐCS. Như vậy thành phần “bò đỏ” được xây dựng trên nền “bò” rất phong phú của xã hội Việt Nam. Nếu xây dựng cho nó thần tượng gì thì nó sẽ biến thành loại bò đó.

Ở Việt Nam, Vingroup cũng xây dựng nên lực lượng “Bò Vin” dựa trên nền tảng “bò” như thế. Bò đỏ hay Bò vin chỉ khác nhau về thần tượng, đỏ có thần tượng là ĐCS còn Vin có thần tượng là Vingroup. Ở Việt Nam, chỉ cần dùng truyền thông xây dựng cho họ một thần tượng thì thần tượng đó sẽ có một lượng bò ủng hộ. Chúng rất hung hăng và không có khả năng phân biệt phải trái. Nói chung là nguồn bò ở xã hội này rất đông.

Chưa có nước nào như Việt Nam, khi cổ vũ bóng đá thì trên khán đài có mang theo hình lãnh tụ, mặc dù nhân vật Hồ Chí Minh chỉ là một người làm chính trị không liên quan gì đến bóng đá. Đã là “bò” thì không phân biệt phải trái, không phân biệt được những gì nên và không nên, nên mới có chuyện nực cười như vậy.

Với người biết suy nghĩ, ắt phải cảm thấy rất nhục nhã vì đất nước Việt Nam xuất hiện “bò” khắp nơi, trong khi đó cả thế giới không thấy ai làm chuyện “ngu như bò” như thế thì Việt Nam đầy rẫy. Khán đài sân vận động có đội tuyển Việt Nam thi đấu nhan nhản bò. Thành phần mang ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh cổ vũ bóng đá là loại “bò lai”, nó vừa là “bò túc cầu” vừa là “bò Hồ”.

Sau trận cầu giữa UAE và Việt Nam hôm tối ngày 15/6 thì ngay sau đó facebook của trọng tài người Iraq Ali Sabah Al-Qaisi bị các Cổ động viên Việt Nam tấn công dữ dội với những lời lẽ vô văn hóa. Cổ động viên thì nước nào cũng có, còn loại cổ động viên “đầu bò” như Việt Nam thì chắc không nước nào nhiều như Việt Nam. Loại cổ động viên tấn công trọng tài như thế chính là loại “Bò túc cầu”, chắc là trong đó không ít là loại bò lai, nó lai giữa “bò túc cầu” và “bò đỏ”.

Hãy để ý, trên khán đài sân vận động mà cổ động viên hát nhạc ca tụng lãnh tụ (Như có Bác hồ trong ngày vui đại thắng… chẳng hạn), hay đem ảnh lãnh tụ cổ vũ thì thừa biết đất nước đó nguồn “bò” nhiều vô số kể. Vì vậy việc cả đàn kéo nhau húc trọng tài trên không gian mạng thì cũng chẳng có gì ngạc nhiên.

Nói thật, nhìn thấy hình ảnh lãnh tụ trên khán đài sân vận động bóng đá thì tôi cảm thấy nhục hơn là tự hào. Nhục vì cũng là một đất nước như bao đất khác nhưng sao Việt Nam lại sinh ra nhiều “bò” đến thế? Vậy bao giờ đất nước này mới văn minh được đây? Nghĩ mà chán!

Đến một lúc nào đó…

 May be an image of body of water and nature

Chau Nguyen Thi

Đến một lúc nào đó…

* Con người ta hình như đến một lúc nào đó sẽ ngộ ra rằng cuộc đời thật ra chẳng có gì quan trọng. Cuối cùng rồi như nhau cả. Bạn có thể có một cuộc đời sung sướng, hạnh phúc hay bạn đã phải lầm than, nghèo túng, khổ đau. Cuối con đường có khác gì nhau đâu. Lúc xuôi tay, quân vương hay kẻ cơ hàn đều là sự giã biệt. Có thể có kẻ sẽ có tiền hô hậu ủng, kèn trống vang trời. Có người bó trong chiếc chiếc chiếu rách đi giữa mưa rơi. Nhưng cả hai đều chẳng còn biết gì, tất cả đều đang làm cho người sống. Đến một tuổi nào đó, người ta sẽ nghiệm thấy rằng cuộc đời chỉ là con số không to tướng. Sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất hút. Mọi thứ danh vọng chỉ là trò hư ảo. Mọi thứ của cải làm ra cũng chỉ là thứ phù phiếm có rồi mất. Mọi thứ hoan lạc hay khổ ải cũng chỉ là gia vị của cuộc đời. Sinh ra thì phải sống, phải chiến đấu để tồn tại, phải khát vọng để vươn lên. Thế rồi, khi tuổi già đã tới, những bi kịch của tàn phai tác động đến mỗi người, sẽ thấy hoá ra mình đã bỏ cả tuổi thanh xuân để chạy theo toàn những thứ ảo vọng. Tranh dành nhau cái danh, lấn lướt nhau đoạt lợi. Được danh lợi rồi lại tham vọng nhiều hơn, lớn hơn. Cuối cùng cũng chỉ là một cuộc chơi, để rồi trắng tay lúc trở về cát bụi.

* Đến một thời điểm nào đó của cuộc sống, nhìn lại đoạn đường ta đã đi, ta phát hiện ta chỉ để lại lắm điều lầm lỗi. Lầm lỗi với cha mẹ, với những người thân yêu. Lầm lỗi với bạn bè, với xã hội. Lầm lỗi với những người ta đã gặp, những người đã đi qua đời ta. Tất cả đều do cái tôi quá lớn của mỗi người. Không biết quên mình mà chỉ sống cho mình. Do vậy, những suy nghĩ và hành động ích kỷ cứ mãi quẩn quanh để đưa đến lỗi lầm.

 *Sống đến tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng tự thắng được mình mới là điều quan trọng. Tuổi trẻ háo thắng chỉ chăm chăm thắng người, hơn người. Cảm thấy tự mãn và sung sướng trong thắng lợi. Có biết đâu rằng cái thắng lợi mình có là cái thất bại và đớn đau cho người khác. Đâu có biết rằng chính cái thắng lợi ấy là chiếc bẫy tiếp theo của cuộc đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, tự thắng chính mình là điều khó nhất. Làm được điều đó là ta đã có thể tự hào.

 *Đến một lúc nào đó, người ta mới hiểu được rằng lắng nghe mới là điều cần thiết. Biết lắng nghe là biết thu thập cả thế giới cho riêng mình. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái phân minh. Biết lắng nghe thì mới có sẻ chia. Muốn lắng nghe thì phải học im lặng. Con người ta chỉ mất vài năm để học nói, nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng để lắng nghe. Không chỉ lắng nghe ngôn ngữ của con người, ta phải tập lắng nghe tiếng của thiên nhiên, tiếng của cỏ cây, giun dế, của gió, của nắng, của mưa bão. Tiếng sóng vỗ, tiếng chim kêu đều mang lại cho ta những cảm xúc của cuộc đời. Thiếu chúng nó, cuộc đời chỉ là khoảng trống vô vị.

* Tới một tuổi nào đó, con người nên đến với thế nhân bằng những nụ cười. Hãy cười với nhau bằng tâm hồn mở tất cả các cửa, với tấm lòng thân thiện. Hãy chào nhau dù chỉ gặp một lần vì biết đâu ngày mai không còn cơ hội để gặp, không còn dịp để gởi nhau nụ cười. Sinh tử là ranh giới mỏng manh. Đời vốn vô thường. Già sẽ đưa đến tật bệnh, bệnh làm cho người ta héo úa, đau đớn khó chịu. Nếu lạc quan và trang bị nụ cười với mọi người, nỗi đau sẽ giảm đi, héo úa sẽ bớt đi, nụ cười chính là son phấn trang điểm cho tuổi già.

* Đến một tuổi nào đó, con người sẽ hiểu được rằng điều cơ bản của con người là sự cô đơn. Con người sinh ra một mình và mất đi cũng chỉ một mình. Không ai sống thay ta và cũng chẳng ai chết thay ta. Gia đình, chồng vợ, con cái, bạn bè đều là người thân đấy, nhưng mỗi người có một cuộc sống, mỗi người có mỗi số phận và định mệnh riêng. Do vậy, mỗi người phải tự quyết định đời mình, không chờ đợi một ai có thể thay mình. Trong hành trình sống, con người là một thực thể cô độc, không ai hoán đổi được. Tới tuổi già chính là lúc gặm nhấm nỗi cô đơn nhiều nhất.

*Tới một lúc nào đó, người ta hiểu được sống là để làm cho đủ bốn bổn phận đối với cuộc đời. Bổn phận với quá khứ là trả hiếu với mẹ cha. Bổn phận với tương lai là nuôi dạy con cái. Bổn phận với cuộc sống là giúp đỡ kẻ hoạn nạn, yêu thương mọi người và cuối cùng là bổn phận lấp đầy đời mình bằng tiêu pha, sinh hoạt hàng ngày. Con người làm ra tiền dù ít hay nhiều cũng chỉ quẩn quanh từng đó bổn phận. Có kẻ làm không đủ thì là thiếu trách nhiệm. Thế cho nên làm người là làm tròn bổn phận. Tới tuổi già, làm xong bổn phận ta có thể ung dung để hưởng những ngày còn lại trong sự thanh thản.

* Đến một lúc nào đó người ta sẽ có những nuối tiếc. Tiếc vì chưa làm được những điều muốn làm, chưa đến được những nơi muốn đến. Quỹ thời gian không còn, chuyến tàu sầm sập đến hoàng hôn. Chợt giật mình thời gian quá ngắn. Bởi thế nên muốn làm gì thì làm ngay, muốn đi đâu thì đừng lần lửa. Có ước muốn thì hãy thực hiện. Nếu tha thứ được thì nên tha thứ, nếu quên được thì nên quên. Sống tập quên cái cần quên cũng là một thứ thuốc chữa tâm hồn. Nhớ nhiều chỉ vác nặng. Sống mà mang nặng quá chỉ khổ thân.

 S.T.

THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN

 THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN

  TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thiên Chúa có hiện hữu không?  Nếu có, tại sao Ngài dửng dưng với nỗi thống khổ của con người?  Đó là câu hỏi nhiều người thường đặt ra, khi đối diện với đau khổ thử thách trong cuộc đời.  Không dễ đưa ra một câu trả lời cho câu hỏi trên.  Đau khổ là một thực tại gắn liền với cuộc sống con người.  Dù cao sang giàu có đến mấy, con người ta không tránh khỏi đau khổ.  Nếu thoát khỏi đau khổ do thiếu thốn vật chất, thì lại vướng vào đau khổ về tinh thần.  Lời Chúa hôm nay khẳng định với chúng ta: Thiên Chúa luôn hiện diện giữa con người và Ngài sẽ ra tay cứu giúp họ vào lúc Ngài muốn.

Chúng ta còn nhớ rõ buổi chiều ngày 27-3-2020, khi đại dịch Covid-19 đang lên đến đỉnh điểm tại châu Âu và châu Mỹ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự một buổi cầu nguyện chưa từng có trong lịch sử.  Tại quảng trường thánh Phêrô, trong thời tiết mưa và lạnh của Rôma, chỉ mình Đức Thánh Cha với mấy người phụ tá hiện diện.  Đức Thánh Cha đã cùng với cả thế giới Công giáo cầu nguyện cho đại dịch chấm dứt.  Một buổi cầu nguyện đầy cảm xúc.  Trong giờ cầu nguyện này, Bài Tin mừng theo Thánh Máccô được đọc lên để diễn tả bối cảnh thế giới.  Đức Giêsu ở trên thuyền với các môn đệ.  Bão ập đến.  Chúa đang ngủ.  Các môn đệ kinh hãi kêu với Chúa: chúng con chết mất!  Chúa Giêsu đã dẹp yên bão tố bằng một lời ra lệnh.  Biển trở lại an bình.  Diễn giải Lời Chúa, Đức Thánh Cha trấn an chúng ta: Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện với nhân loại đang gánh chịu đại họa do dịch bệnh.  Như Người ở trên cùng một chiếc thuyền với các môn đệ, nay Chúa cũng đang hiện diện giữa chúng ta.  Sau khi truyền lệnh cho sóng gió và biển yên lặng, Chúa quở trách các môn đệ: “Sao nhát thế! Anh em vẫn chưa có lòng tin sao?”  Từ bài Tin Mừng, Đức Thánh Cha mời gọi thế giới hãy tin tưởng vào Chúa, hãy liên đới với nhau trong lúc hoạn nạn và chắc chắn Chúa sẽ giải cứu chúng ta.

Trong truyền thống của một số nền văn hoá cổ xưa, biển là quyền lực của sự dữ.  Biển cũng như một quái vật, nuốt chửng vào lòng những nạn nhân bị đắm tàu thuyền hay đuối nước.  Qua mạc khải của Thánh Kinh, Thiên Chúa quyền năng thống trị biển.  Ngài ra lệnh cho chúng và chúng phải vâng phục.  Điều này được thể hiện trong Bài đọc thứ nhất trích sách ông Gióp: “Ta phán: ngươi chỉ tới đây thôi, chứ không được tiến xa hơn nữa.”  Thiên Chúa cũng điều khiển mọi thế lực hùng mạnh mà con người thường tôn thờ như các thần linh.  Thánh vịnh 106 được chọn làm Đáp ca trong thánh lễ cũng diễn tả ý tưởng này.  Nội dung Thánh vịnh làm cho ta liên tưởng tới câu chuyện ngôn sứ Giôna: ông đi tàu thuỷ sang một hướng khác để trốn khỏi lệnh truyền của Chúa sai ông đi Ninivê.  Bão tố đã nổi lên và biển chỉ yên lặng khi thuỷ thủ ném ông Giôna xuống biển.  Qua sự kiện này, quyền năng của Thiên Chúa thể hiện, khiến người ngoại tôn vinh và thờ lạy Ngài.

Đại dịch Covid-19 đã hoành hành thế giới từ 2 năm nay. Đại dịch ấy chắc chắn sẽ kết thúc, nhờ nỗ lực cố gắng của con người.  Người tín hữu chúng ta tin rằng Thiên Chúa tác động qua các nhà chuyên môn để nghiên cứu ra những loại thuốc phòng chống và chữa trị dịch bệnh.  Dịch bệnh sẽ hết, cuộc sống của chúng ta vẫn tiếp tục và như thế sóng gió bão táp vẫn vây bủa cuộc sống của chúng ta.  Thực vậy, đời sống con người được sánh ví như một cuộc vượt biển.  Trong cuộc vượt biển này, có biết bao sóng gió thử thách vây bọc chúng ta.  Có những lúc chúng ta cảm thấy như Chúa vắng bóng trong cuộc đời, giống như các môn đệ kêu van với Chúa: “Thày ơi, chúng ta chết mất, Thầy chẳng lo gì sao?”  Khi kêu lên những lời đó, các ông nghĩ rằng Chúa đang ngủ và bỏ rơi các ông.  Tuy vậy, vào lúc các ông đang gặp gian nguy, Chúa đã can thiệp.  Biển trở lại an bình, và niềm vui cũng trở lai với mọi người.

Thiên Chúa không dửng dưng trước nỗi thống khổ của con người.  Bằng chứng là Ngài đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và chịu khổ hình vì chúng ta.  Phó thác cậy trông nơi Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và mọi thử thách gian nan, đó là lời khuyên của Thánh Phaolô với giáo dân Côrinhtô.  Thánh Phaolô đã đạt tới sự viên mãn của Đức tin, khi khẳng định: “Từ đây, chúng tôi không còn biết một ai theo quan điểm loài người” (Bài đọc II).  Tin vào Chúa Giêsu là đoạn tuyệt với quá khứ, cũng là thay đổi quan niệm về Người, để nên giống Người trong suy nghĩ cũng như trong hành động hàng ngày. Đó là lý tưởng của đời sống Kitô hữu chúng ta.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Quốc gia không đọc sách (Phần 1)

Quốc gia không đọc sách (Phần 1)

Bởi  AdminTD

 Thái Hạo

15-6-2021

Không đọc sách là nói hơi quá, đúng hơn là “gần như không đọc sách”.

Một thống kê trên báo tuổi trẻ công bố năm 2019 cho biết, trung bình mỗi người Việt Nam chỉ đọc 0.8 quyển sách/năm, nghĩa là chưa tới 1 quyển. Đó là tính tất cả, cả sách giáo khoa, giáo trình.

Trên báo Pháp luật cung cấp một thông tin khác: Một cuộc khảo sát cho thấy 98% số người được hỏi không đọc sách tuần qua; 80% không đọc sách trong một năm qua; 70% cho biết chỉ học chứ không đọc. “Học chứ không đọc sách”, đây có lẽ là điều kỳ lạ nhất mà một cư dân ở vùng lãnh thổ khác có thể nghe thấy về xứ sở của ta.

Thực tế là người dân gần như không đọc sách. Nhưng, học sinh cũng không đọc; đáng sợ hơn, giáo viên cũng không mấy ai đọc sách. Trên báo Thanh Niên có bài “Sinh viên “quên” đọc sách”. Nghĩa là người Việt gần như không đọc sách! Quốc gia không đọc sách, chúng ta đang đứng trước nguy cơ vĩnh viễn bị bỏ lại phía sau về mọi mặt.

Facebook không thể thay cho sách. Vĩnh viễn không bao giờ thay được. Tuy nhiên, ngày nay người trưởng thành gần như không ai không dùng Facebook, mà dùng để đọc lại cũng chiếm một tỉ lệ quá nhỏ trong tổng số 60 triệu tài khoản đang hoạt động (đó là chưa nói tới việc “đọc cái gì”).

Có một điều chắc chắn, rằng không có cách gì có thể chấn hưng được dân tộc nếu tình trạng đọc sách như hiện tại vẫn còn duy trì, thậm chí có nguy cơ đi xuống (theo báo Tuổi trẻ, năm 2018 là 1.2 quyển/năm, đến 2019 trong một bài báo khác là 0.8 quyển/năm). Một tình trạng “sa mạc hóa” tinh thần đang hiện hình; chúng ta có thể phải chứng kiến một thời kỳ hoang dã mới ngay trong thế kỷ 21 này khi ngày càng xa lạ với văn minh nhân loại và các trải nghiệm tế vi mà chỉ có sách mới có thể chuyển tải được.

Tình trạng này trước hết là lỗi (tội) của bộ Giáo dục; nhưng lớn hơn là thuộc về cách quản trị và điều hành quốc gia của những cái “trên bộ”. Không tạo ra một động cơ đọc sách bằng cách kiến tạo những thang bậc giá trị chân chính để sách trở thành một nhu cầu tự nhiên. Khi mà xã hội chỉ còn biết chạy theo tiền và dùng đồng tiền làm thước đo cho tất cả thì sách trở nên vô duyên và thừa thải.

Hãy hình dung, một ông hiệu trưởng suốt hàng chục năm không hề đọc một cuốn sách, lúc ấy chúng ta sẽ hiểu cái thảm trạng của một trường học “được” lãnh đạo bởi những vị như thế. Mà bây giờ đa số “lãnh đạo” giáo dục gần như không đọc sách, họ đã quên từ lâu rồi. Nó là cơn ác mộng của giáo dục và của xã hội nói chung.

Các quan lại càng không đọc sách. Sách là thứ xa xỉ bậc nhất. Nghĩa là, đất nước đang được lãnh đạo bởi những người không đọc sách. Và nó sẽ đi về đâu thì chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán được.

Thông Não

 
May be an image of 2 people and text that says 'Zing.vn'

 Thông Não

Tại sao nước Mỹ có thể xây dựng được một xã hội kiểu như thế này? Người Mỹ thực sự không có áp lực sinh tồn, không có mối lo đằng sau sao? Họ có thể thực sự truy cầu hạnh phúc chân chính sao?

Hãy cùng xem qua những điểm dưới đây:

  1. Tiêu Thụ

Bạn mua 1 đôi giày, đi được 2 tuần và cảm thấy không hợp với chân, bạn có thể đến của hàng trả lại. Nhân viên bán hàng sẽ đưa ra cho bạn 3 sự lựa chọn: Một là đổi đôi mới, hai là dùng số tiền đó mua một sản phẩm khác, ba là trả hàng, nhận lại tiền. Cơ chế này rõ ràng phải được xây dựng trên một nền tảng văn minh nhất định.

Khi trình độ ứng xử văn minh và ý thức của người ta không đạt tới được một mức độ nhất định thì không xứng đáng được hưởng cơ chế đó. Để duy trì bất kỳ chế độ xã hội tốt đẹp nào thì điều cốt yếu chính là dựa vào tự giác chứ không phải pháp luật.

  1. Quyền lực và trách nhiệm

Nếu bị đánh ở nơi công cộng, hung thủ lại trốn thoát biệt tăm, bạn có thể yêu cầu chính phủ bồi thường. Sao có thể xảy ra chuyện đó? Rõ ràng chuyện xảy ra chẳng liên quan gì đến chính phủ cả. Nhưng các luật sư Mỹ sẽ giải thích cho chúng ta rằng: “Chính phủ phải chịu trách nhiệm bởi vì có tội phạm làm hại bạn. Bạn bị thương phải đi khám bệnh, bị tổn thất về tinh thần và thể chất không đi làm được. Tất cả những điều này chính phủ phải chịu trách nhiệm”.

Nhiều người nước ngoài có thể thấy rằng đó là một suy nghĩ ngược đời. Lỗi chẳng phải ở chính phủ. Chẳng phải chính phủ vẫn luôn trấn áp, bài trừ tội phạm đó sao? Như vậy chẳng phải đã là quá đủ hay sao? Nhưng người Mỹ nghĩ khác. Họ truy cứu trách nhiệm của chính phủ ở một tầng sâu hơn. Công dân không được bảo vệ tốt, kẻ phạm tội lại trốn thoát, đó là lỗi ở chính phủ.

Có một nhà văn Trung Quốc ở Mỹ vì xích mích mà ra tay đánh người ta, tự cho là mình có lý. Anh ta sẵn sàng chấp nhận chịu phạt để đánh người nhưng không thể ngờ rằng một cú đấm của mình lại nghiêm trọng đến vậy. Anh phải mất một số tiền rất lớn thuê luật sư mới có thể đạt được thỏa thuận bồi thường với người bị hại, còn bị phạt tù 1 ngày, 100 giờ lao động công ích tại địa phương và 2000 đô la.

Anh ta bao biện rằng: “Việc đánh người tôi thừa nhận nhưng tôi muốn xác nhận là tôi đánh người ta là việc quang minh chính đại, là có lý, nói cách khác là người ta đáng bị đánh”.

Luật sư cho anh biết: “Anh hoàn toàn không hiểu pháp luật Mỹ. Người ta có đáng bị đánh hay không thì lại là chuyện khác, không liên quan đến vụ án này. Quan tòa vụ kiện này chỉ muốn biết anh có đánh người hay không thôi. Nếu người ta nợ tiền anh hoặc lừa đảo anh, làm cho anh bị tổn thương về thân thể, tinh thần, thì anh có thể khởi kiện người ta. Đó lại là vụ một kiện khác”.

  1. Quyền lợi của trẻ em và người già

Một bà mẹ bận rộn việc nhà, nhất thời sơ suất chẳng may làm con ngã xuống bể bơi và đứa bé qua đời. Đúng lúc đang đau đớn khôn nguôi thì bà mẹ nọ nhận được trát từ toà án vì tội “lơ là chức trách”, không làm hết trách nhiệm của người giám hộ. Bà sẽ phải đối mặt với một bản án hình sự.

Nhiều người có thể cho rằng việc này rõ ràng là không thấu tình đạt lý. Vừa mới chịu nỗi đau mất con, bà mẹ lại còn vì thế mà phải ngồi tù. Trên đời làm gì có chuyện hoang đường như vậy?

Lý do của quan tòa rất đơn giản. Bà mẹ không làm hết chức trách nên một sinh mạng bị mất đi ngoài ý muốn. Đây là điều pháp luật không cho phép. Một khi bà mẹ này bị xử tù, tác dụng răn đe của pháp luật sẽ khiến hàng ngàn hàng vạn bà mẹ khác phải tận tâm làm hết trách nhiệm trong việc bảo vệ con cái.

Người Mỹ quan niệm:

“Khi bạn sinh ra một đứa con, trước tiên, đứa bé đó thuộc về chính nó. Nó có vô số quyền lợi ngay từ khi sinh ra, sống trong xã hội này. Bất kể nó có ý thức hay không, bất kể có lớn lên thành người hay không, thì xã hội này vẫn có tầng tầng lớp lớp luật pháp để bảo vệ nó”.

Bảo vệ quyền lợi trẻ em, bảo đảm sức khỏe người già, quyền lợi của người yếu thế thực sự là công việc chủ yếu, là nhiệm vụ quan trọng của chính phủ Mỹ. Cha mẹ một người bạn của tôi sau khi làm thủ tục định cư vĩnh viễn ở Mỹ giờ đây được nhà nước thanh toán toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, ngay cả thuốc men cũng được gửi tận nhà. Thậm chí lắp cặp kính lão, máy trợ thính cũng được chính phủ bỏ tiền ra mua cho họ. Hơn nữa họ còn có thể đến các trung tâm hoạt động người cao tuổi, được hưởng chế độ đãi ngộ và bảo vệ đặc biệt dành cho người già.

Một hôm, sau khi kiểm tra chỗ ở của ông bà, người phụ trách trung tâm người cao tuổi đã yêu cầu bạn tôi cần phải cải tiến 3 chỗ. Bên giường các cụ phải lắp điện thoại có thể với tay đến được. Phòng ngủ phải có đèn ngủ thấp và bên bồn tắm phải có tay vịn an toàn bằng kim loại.

Khi bạn tôi trả lời đã biết rồi, người phụ trách trung tâm nói:

“Chỉ biết thôi không được, anh phải nói cho chúng tôi biết khi nào anh sửa lỗi xong. Tôi phải đến kiểm tra lại”.

Có người cho đây là việc nhỏ nhưng trên đời thực không có việc nào lớn hơn so với việc nhỏ này. Đó chính là “coi công việc thực sự là công việc, coi con người thực sự là con người”.

  1. Phục vụ người dân

Nhà báo là vua không ngôi. Ý nói nếu không có bài báo của các hãng truyền thông vạch trần cái xấu thì chính quyền lợi dụng chức quyền làm điều ám muội sẽ chuyên chế, tham nhũng. Nhưng nhiều chính quyền thường lấy việc chống tội phạm để yêu cầu bảo mật nên tha hồ lợi dụng chức quyền làm điều ám muội.

Ở Mỹ, chỉ cần bỏ ra 10 đô la mua bộ thu radio vô tuyến, bạn có thể nhận được tất cả thông tin của cảnh sát.

“Hả? Vậy thì cảnh sát chẳng còn bí mật gì nữa à?”, một người bạn mới đến Mỹ không tài nào hiểu được.

“Họ cần bí mật gì cơ chứ? Họ phục vụ chúng ta”, có người trả lời:

“Thế thì chẳng phải loạn sao?”.

“Có gì mà loạn? Nếu công việc của cảnh sát chỉ riêng cảnh sát biết, người cũng đã bắt rồi, việc cũng đã xử lý xong rồi, lúc đó mới thông báo cho các nhà báo chúng ta thì thế mới là loạn. Lúc đó, ai biết việc đó là thật hay giả?”.

Chỉ một câu đơn giản rõ ràng: “Họ phục vụ chúng ta” đã đánh tan tất cả những cái cớ lợi dụng chức quyền làm điều mờ ám của những người thực thi quyền lực. Trấn áp tội phạm, bảo vệ xã hội là trách nhiệm của chính quyền. Làm thế nào bắt tội phạm trước con mắt theo dõi của mọi người, làm thế nào ngăn chặn mở rộng quyền lực, phòng chống lợi dụng chức quyền làm điều ám muội là vấn đề kỹ thuật mà các cơ quan quyền lực chính phủ phải tự giải quyết. Chính phủ phục vụ nhân dân là vấn đề nguyên tắc.

  1. Sự quyết định của các tầng lớp dưới

Nước Mỹ là xã hội được xây dựng theo hướng từ trên xuống. “Có sự ủng hộ của người dân, anh có thể làm lãnh đạo thành phố. Có sự ủng hộ của cử tri bang, anh mới được làm thống đốc bang hoặc nghị sĩ. Có sự ủng hộ của cử tri toàn quốc, anh mới có thể làm Tổng thống”. Đây là khác biệt lớn nhất giữa xã hội Mỹ và xã hội Trung Quốc. Cơ chế này của Mỹ làm cho người dân sống thẳng thắn mạnh mẽ. Thái độ của quan chức vì dân phục vụ cũng không cần phải học tập, giáo dục, bởi vì bản thân cử tri đã là sợi dây sinh mạng của quan chức.

Điều đó có lúc làm người ta không thể tưởng tượng nổi. Thành phố Hillsborough, San Francisco không làm đèn đường, không mở cửa hàng, cửa hiệu. Việc này ngay cả thống đốc và Tổng thống cũng không thể can thiệp gì được. Cư dân ở thành phố này căn cứ vào đặc điểm địa lý đặc thù, nhu cầu cuộc sống của mình mà đã tự thông qua những điều ấy.

Năm 2006, Schwarzenegger, thống đốc bang California không đồng ý đặc xá miễn tội tử hình cho người da đen Williams bất chấp sự thỉnh nguyện của các đoàn thể quần chúng, thậm chí là can thiệp của Tổng thống. Cuối cùng bản án vẫn được thực thi. Do đó, ở Mỹ, các cấp chính quyền chỉ chịu trách nhiệm với cử tri theo khung của hiến pháp. Thống đốc không có quyền miễn nhiệm thị trưởng. Ngay cả Tổng thống cũng không có quyền miễn nhiệm thống đốc.

  1. Tam quyền phân lập

Mỹ là quốc gia có ba cấp lập pháp: quốc gia, bang, thành phố (địa hạt), mỗi cấp ban hành luật pháp, quyền và trách nhiệm riêng của mình. Pháp luật quốc gia lấy nhân quyền làm nguyên tắc, quản lý các phương châm đối nội đối ngoại, các chính sách lớn. Luật pháp bang lấy nhân tính làm cơ sở, giải quyết các tranh chấp dân sự, hình sự. Luật pháp thành phố (địa hạt) tôn trọng tình hình thực tế dân tình, giữ gìn bản sắc truyền thống.

Ba cấp lập pháp không phải quan hệ trên dưới trực thuộc, mà mỗi cấp phụ trách chức trách riêng của mình, cũng như cá dưới nước phân tầng rõ ràng, tầng trên, giữa, dưới, cũng có ba loại thức ăn khác nhau, không can thiệp lẫn nhau. Nếu bất chợt có tranh chấp xung đột, thì trái lại pháp luật cấp thấp hơn sẽ có tác dụng quyết định.

Đạo lý này cũng không khó giải thích, càng là luật pháp thấp hơn một cấp thì càng gần với người dân, hợp với tình người. Mà pháp luật cấp cao do tính trừu tượng của nó đã mất đi tính khả thi. Theo chiều dọc thì ba cấp lập pháp, mỗi cấp nắm giữ chức phận của mình. Theo chiều ngang thì pháp luật bang, pháp luật thành phố (địa hạt) cũng có khác nhau.

Hệ thống ấy nếu vận hành ở một quốc gia khác có lẽ sẽ gây loạn không chừng. Nhưng người Mỹ ở tầm lớn thì khẳng định nhân quyền, ở tầm trung thì thừa nhận nhân tính, ở tầm thấp hơn thì tôn trọng nguyên tắc địa phương, đã đáp ứng được mối quan hệ trên mọi lĩnh vực, đã vận hành chế độ ba cấp lập pháp thành thục điêu luyện.

Một nhà văn Trung Quốc sau khi đến Mỹ đã cảm khái nói:

“Suốt 20 năm nay, càng đi sâu vào xã hội Mỹ, tôi không ngừng phát giác thấy một sự thực rằng: thiết kế chế độ xã hội ở đây hoàn toàn là để giải quyết các loại vấn đề có thể xảy ra của nhân dân. Cũng có thể nói rằng, trong xã hội này, bất kể anh có xảy ra chuyện gì, rất khó mà cảm thấy mình lâm vào bước đường cùng, luôn luôn có con đường đang chờ đợi bạn”.

Có lẽ điều đó chính là lý do giải thích vì sao bất kể là nhân tài hay kẻ bất tài, người khôn hay kẻ dại cũng đều muốn di cư sang Mỹ. Đây chính là quốc gia mà bạn không bao giờ bị cảm thấy bị rơi vào bước đường cùng.

Hải Sơn biên dịch

KHÔNG PHẢI CHỈ BÓNG ĐÁ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ MÀ CÒN CÓ CẢ TOÁN HỌC.

KHÔNG PHẢI CHỈ BÓNG ĐÁ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ MÀ CÒN CÓ CẢ TOÁN HỌC.

Nghệ thuật cai trị của bọn độc tài bao gồm những thủ pháp sau :

– Xây đắp một hình tượng lãnh tụ thật vĩ đại để toàn dân hướng ý niệm vào đó. Đây là nghệ thuật tập trung ý chí của đàn cừu vào một khuôn mẫu duy nhất, không để chúng nảy sinh những tư tưởng nổi loạn. Lãnh tụ với đạo đức bịa đặt theo kiểu “nói láo nghìn lần cũng thành chân lý” là “khuôn vàng thước ngọc” là một cách định hướng tư duy ,một cách tước bỏ tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, cả nước chỉ có mỗi một việc là “làm theo lời bác” để giết chết các tư duy sáng tạo.

– Bịa đặt ra kẻ thù xâm lược để toàn dân không coi đảng độc tài là kẻ thù .Pháp và Mỹ, VNCH là nạn nhân của trò lừa đảo này. Họ là những ân nhân mang đến độc lập, tự do dân chủ thật sự cho dân tộc Việt Nam nhưng lại bị Hồ Chí Minh biến thành kẻ thù xâm lược dù Pháp được lãnh đạo bởi liên minh dân chủ sau chiến tranh thế giới và Mỹ là đất nước của tự do mà HCM đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập.Và thực tế ngày nay đều cho thấy Mỹ là nơi mà cả loài người xếp hàng để xin được định cư.

– Sử dụng thành tích để làm ảo tưởng một dân tộc vốn sống thiên về cảm tính. Đó là màn bịa đặt ra các mẫu anh hùng không có thực như Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện… và thổi phồng thành tích để mị dân.

Trong các kỳ thi học sinh giỏi Toán quốc tế dù Mỹ chỉ đưa đến cuộc thi này các học sinh yêu thích môn toán,tự tìm kinh phí để đi thi và giải thưởng cũng trao cho rất nhiều người để khuyến khích. Nhưng CSVN lại nuôi gà chọi và đào tạo ra một đội ngũ học sinh tinh hoa nhất để tìm kiếm danh vọng đem về vinh quang trên lĩnh vực kinh tế. Lê Bá Khánh Trình hay Lê Tự Quốc Thắng cũng chỉ thi thố với các học sinh yêu toán của Mỹ và châu Âu và ban tổ chức chỉ trao giải đặc biệt cho những cách giải lạ thế là bộ máy tuyên truyền của đảng độc tài lập tức vào cuộc để tung hô.

Một người như Ngô Bảo Châu cũng lọt thỏm giữa hàng ngàn các cá nhân đoạt giải của đội ngũ trí thức nhập cư hàng năm vào nước Mỹ nhưng được chế độ CSVN tranh công đào tạo của Pháp để mời về rồi mua nhà, cấp đất dựng viện toán học mục đích cũng chỉ đánh bóng cho cái chế độ mục nát. Bởi lẻ trong hơn nửa thế kỷ cầm quyền chế độ này cũng chẳng tạo ra nổi một bằng sáng chế nào được thế giới công nhận, một phát minh khoa học kỷ thuật hay y học nào vào kho tàng tri thức của nhân loại.

Thể thao căn bản là phải xây nhà từ gốc đó là nền thể thao học đường. Một đất nước mà các trường học không có sân chơi bóng, không có các đội thể thao thì cho dù đất nước đó đoạt chức vô địch thế giới môn bóng đá hay huy chương vàng Olympic cũng vô ích.

Tại sao?

Vì mục đích của thể thao không phải là những tấm huy chương. Người ta tạo ra những tấm huy chương để khuyến khích nhân dân thế giới lao vào tập luyện thể thao nhằm đẩy lùi bệnh tật, giảm thiểu ngân sách cho y tế.

Huy chương Olympic của Mỹ có giá trị vì nó có đến 1/3 là từ thể thao học đường. Và bóng đá các nước dân chủ được xem trọng là vì nó có nền tảng từ cái móng là học sinh phổ thông. Trong khi đó bóng đá Việt lại xây từ nóc như lời huấn luyện viên người Áo.

Tức là nó mặc kệ mấy triệu học sinh bị béo phì thừa cân, chuyên đeo kính cận, tiểu đường vì sân bóng, sân chơi thể thao bị chính quyền cướp ,doanh nghiệp cướp hết đưa vào các quy hoạch đô thị. Chúng không cần dân khỏe mà chỉ cần tuyển lựa một số con gà có năng khiếu để nuôi riêng. Với chế độ chăm sóc riêng tất nhiên các con gà này sẽ có năng lực hơn những con gà bình thường trong nhất thời để tạo nên thành tích. Thế là chúng cho báo chí thổi phồng lên để dân tộc ấy quên đi thân phận đàn cừu bị cướp đất, bị xử án oan, bị bóc lột tham nhũng. Đáng ra họ phải xuống đường để thay đổi thể chế thì họ lại xuống đường để sùng bái các tên đao phủ đã đưa họ vào con đường diệt vong.

Đúng là một dân tộc mê muội. Bọn cướp thì luôn dùng mọi thủ đoạn ma giáo nhất để dụ dỗ ,lừa bịp dân tộc chậm phát triển này. Nhưng cái đáng nói là dân tộc ấy còn cả một đội ngũ trí thức.

Đầu óc họ để đâu, lương tâm họ để đâu ?

Họ phải chịu trách nhiệm với từng em bé vô gia cư,ăn xin ở bên đường .

Họ phải thấy xót xa khi nhìn những cái chết của các em bé bị ung thư khi tuổi đời còn rất nhỏ, những con người chết vì không có thể thao chỉ có những tấm huy chương sáo rỗng.

Đằng sau những đêm đi bão để tung hô những giá trị phù phiếm là những bệnh viện chật ních bệnh nhân vì quá tải,là những cái chết được đếm ngược từng ngày.

Tất cả cũng chỉ vì tất cả của dân tộc này đều được xây từ nóc.

Thói ghen ghét, đố kỵ của người Việt

 Van Pham is with Anh Chi

 Thói ghen ghét, đố kỵ của người Việt

Sự ghen ghét, đố kỵ hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và tức giận vì điều đó. Sự ghen ghét, đố kỵ thường không chỉ dừng lại trong suy nghĩ của con người, nó còn bộc lộ ra ngoài thông qua hành động, lời nói để giải tỏa ẩn ức mặc cảm tự ti.

Điều này làm cho con người càng trở nên thấp kém hơn chứ không mang lại suy nghĩ tích cực cần vươn lên để hoàn thiện bản thân.

Người ta ví người Việt như những con cua bị nhốt trong giỏ không đậy nắp nhưng không con nào thoát được vì mỗi khi có con nào vươn lên liền bị các con khác kéo xuống. Sự ghen ghét, đố kỵ làm cho chúng ta hại người hại mình và cùng chết mà không biết. Nó gây tổn thương, chia rẽ và không thể có được sự đoàn kết.

Thấy đứa bạn trong công ty làm việc giỏi được sếp yêu quý, cất nhắc, lương thưởng cao, ta không coi đó là động lực thúc đẩy bản thân học hành thêm để tiến bộ, ta luôn tìm cách gây hại cho nó phải bị kỷ luật thậm chí mất việc thì mới hả dạ.

Thấy nhà hàng xóm ăn nên làm ra, ta không vui mừng thay cho họ, không học hỏi sự siêng năng cần mẫn giỏi giang hay kinh nghiệm của họ, ta ghen ghét đố kỵ và nhìn họ bằng con mắt ác cảm và tưởng tượng ra đủ thứ xấu xa trong đầu để nhủ họ cũng thường thôi, sao mà giỏi hơn ta được, chẳng qua là vì làm ăn xấu xa bất chính nên mới mau giàu. Và rồi ta bịa đặt, nói xấu, vu khống, thậm chí quăng rác sang cổng nhà hoặc cho chó ỉa một bãi trước cổng nhà nó cho đỡ ghét.

Ai làm được một việc gì đó có ích nho nhỏ, được nhiều người khen ngợi, lập tức sẽ có một số khác cảm thấy không vui và ghen ghét, đố kỵ. Họ sẽ tìm cách chê bai, dè bỉu, thậm chí phá hoại để người khác thấy rằng người kia cũng thường thôi, thậm chí kém hơn họ, có gì đáng mà khen.

Hoạt động trong một nhóm mà ý kiến được nhiều người nghe hơn những người khác, làm nhiều việc tích cực được ngợi khen thì chẳng sớm cũng muộn liền bị cô lập và đẩy văng ra khỏi nhóm.

Con người trong xã hội mất niềm tin vào nhau, luôn nghi ngờ và đề phòng, cảnh giác, không còn dám nói thật, sống thật với nhau vì sợ bị ghen ghét đố kỵ, do đó cũng không dám giúp nhau bởi lo âu người ta sẽ giỏi hơn mình, mình sẽ lép vế hơn.

Trong một cộng đồng xã hội có nhiều người ghen ghét đố kỵ thì xã hội đó sẽ chậm tiến trong mọi lĩnh vực vì không có sự khuyến khích phát triển. Người tài thường bị vùi dập. Sự chia rẽ nghi ngờ và giả dối triệt tiêu mọi yếu tố cần thiết để gây dựng tình yêu thương gắn kết trong cộng đồng.

Cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài cũng không tránh khỏi thói “ghen ăn tức ở” gây ra sự mất đoàn kết. Chỉ trích cá nhân, moi móc đời tư để mạ lỵ, bêu xấu nhau, xâu xé nhau khá khốc liệt. Hoàn toàn không có tính đoàn kết để xây dựng, bảo bọc và giúp nhau. Có những chuyện rất buồn mới xảy ra gần đây. Nhưng khi trao đổi, tôi thấy ai cũng nhân danh sự tốt đẹp, trong sáng và gắn kết thành một cộng đồng vững mạnh & phát triển như nhiều sắc tộc khác. Nhưng thực tế chúng ta không thành một khối vững chắc, mà vẫn là những cá thể mong manh yếu đuối dễ bị bẻ gãy vì đã tự chặt đứt sợi dây cột chặt đám đông bằng sự ghen ghét, đố kỵ.

Bởi thế ca dao Việt có một số câu tiêu biểu như:

– Không phải cứ thân nhau là bạn

Ở đời còn rất nhiều đứa khốn nạn gắn nhãn bạn thân.

– Tiền rách thì vẫn còn giá trị

Nhân cách rách thì chỉ là đồ vứt đi!

– Trong các thể loại buôn bán… Thì bán đứng bạn bè là thứ kinh tởm nhất!

ĐỨC TIN LÀ MỘT SỰ TÍN THÁC

ĐỨC TIN LÀ MỘT SỰ TÍN THÁC

Có một gia đình nọ sống giữa đồng không mông quạnh. Vào đêm kia, nhà bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái vội vã chạy ra ngoài sân và đứng bất lực nhìn ngọn lửa thiêu rụi tổ ấm gia đình họ. Bỗng mọi người chợt nhận ra thiếu đứa con bé nhất. Thì ra cậu bé cũng chạy với mọi người, nhưng chưa ra tới cửa, thấy lửa cháy dữ quá, cậu sợ hãi chạy trở lên lầu. Trong lúc cả gia đình hốt hoảng không biết phải làm sao để cứu cậu bé năm tuổi, vì lửa cao ngút tứ phía, bỗng cửa sổ trên lầu mở toang và cậu bé kêu khóc inh ỏi. Cha cậu bé gọi lớn tên con, rồi nói:

– Con nhảy xuống đây? Cậu bé nhìn xuống dưới chỉ thấy khói mù và lửa, nhưng nghe tiếng cha kêu mình, liền trả lời:

– Ba ơi, con không trông thấy ba đâu hết!

Người cha trả lời giọng cương quyết:

– Cứ nhảy đi, có ba trông thấy con là đủ rồi?

Và cậu bé leo lên cửa sổ, rồi nhảy xuống, rơi vào vòng tay yêu thương vạm vỡ của cha mình cách an toàn.

Cuộc thử thách của lòng tin là thử thách của tình yêu thương tín thác, trông thấy đường thẳng mà Chúa đã vẽ qua những đường cong của biên cố trong cuộc sống. Lời Ngài kêu mới là một lệnh truyền, một lời hứa và đồng thời là tiếng nói đòi nơi người nghe thái độ vâng phục và tin tưởng.

ST.