httpv://www.youtube.com/watch?v=Odge5nQuXkw
Thánh Ca Cầu Cho Cha Mẹ Hay Nhất 2021 – Tuyệt Đỉnh Thánh Ca Cảm Động Nghe Rơi Nước Mắt 2021
httpv://www.youtube.com/watch?v=Hq4J5h8Zpow

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=Odge5nQuXkw
httpv://www.youtube.com/watch?v=Hq4J5h8Zpow
“…Xin Sẽ Được” – Nguoiviettudo
“…Ngày 22 tháng mười hai năm 1976 tôi bước chân ra khỏi nhà tù Pleiku. Tôi bị bắt ở Kontum cách đó khoảng bảy tháng. Từ Saigon đi xe đò lên cái tỉnh tận cùng biên giới ở phía Tây, chưa kịp nằm nóng lưng công an đã đến thăm hỏi, còng tay tống vào tù một tháng trời chờ xe đưa về trại giam tỉnh Pleiku. Hồi đó thời sinh viên khờ khạo, chưa bao giờ rời nơi sinh ra và lớn lên ở Saigon, chuyến đi Kontum là một mạo hiểm lớn. Vì quá nhiều lần toan tính vượt biên bằng tàu thất bại tôi quyết định thử thời vận lần nữa bằng đường bộ. Đâu có biết rằng những ngày vừa sau 30/4/ 75 VC chăng lưới tình báo nhân dân ở khắp mọi hang cùng ngõ hẻm, ngơ ngơ ngáo ngáo như tôi khi đến một địa phương xa lạ chắc chắn sẽ lọt ngay vào tầm ngắm của an ninh.
Lục soát ba-lô tôi đem theo, bọn chúng thấy một cuộn dây đi rừng và tai hại hơn nữa, một viên đạn colt 45 nằm lẫn lộn trong mớ quần áo, bèn đẩy tôi vào ngay biệt giam. May cho tôi ngoại trừ tang vật hiện trường chúng không tìm được gì khác. Tôi vẫn còn giữ tấm thẻ sinh viên đại học Khoa Học Saigon và thẻ căn cước nên chúng không biết khép tôi vào tội gì . Sau này tôi mới biết với VC , tội tình nghi nặng hơn bất cứ tội nào khác. Ăn cắp ăn trộm còn có án về, tình nghi thì “mút chỉ cà tha” . Ba năm là chuyện nhỏ, có người đã phải “ học tập“ trên chục năm trời ngày trở về ba má vợ con nhìn không ra.
Khoảng một tháng sau khi tạm giam ở Kontum, CA chuyển tôi về Pleiku. Địa ngục trần gian bắt đầu hiện ra trước mặt tôi. Chỉ có ba phòng sức chứa khoảng 150 người , nay bị dồn nhét hơn ba trăm . Một biệt giam gồm khoảng trên mười hộc (dành cho 10 người) chất đến ba chục mạng. Lần đầu tiên ở tù tôi chỉ muốn tự tử. Chung quanh tôi đa số là Fulro cắc-kè-bông với vết thẹo ghẻ lở phủ kín người. Cấp bậc nhỏ nhất là thằng Giu Se Mới, khoảng 20 tuổi đại úy Fulro. Tôi nằm chung hộc với nó và thẳng Y Nguoun, thiếu tá, bị bắt vì chỉ huy một đại đội tấn công đồn Công An quân số khoảng mười bốn mạng. Đánh đấm thế nào mà thiếu tá Y Nguoun bị bắt sống , lính lác chạy tán loạn, đồn CA thì vẫn còn nguyên.
Đó là lần đầu tiên tôi biết con rận. Sáng sớm thức dậy nhìn thấy một giọt máu nhỏ bằng đầu kim đi chuyển trên cánh tay, tôi kinh ngạc không biết là cái gì. Giu Se Mới chụp ngay lấy bỏ vào miệng cắn cái cóc . Nó còn khuyến khích tôi “ thử đi, ngọt lắm “. Ông nội tôi cũng không dám thử.
Mỗi ngày, chúng tôi được múc nước vào rửa ráy buồng giam một lần, ai có nhiệm vụ trực hôm đó đuoc hưởng thêm phần cơm cháy. Một thằng giết người (dân tộc Kinh) đang chờ ngày ra tòa vẫn dành giựt nhiệm vụ này với Thượng để có thêm cơm ăn. Ỷ mình Việt Nam chính cống nó ăn hiếp bọn Thượng khờ khạo (hay giả khờ qua ải). Thùng đựng nước là một thùng đạn lớn dùng chứa đủ thứ từ rác rưởi, ỉa đái, khạc nhổ. Sáng sớm hai thằng khiêng đổ ra đống rác rồi súc sơ sài bằng nước giếng, sau đó múc nước cũng từ giếng vào tắm rửa. Có lần tôi còn thấy rõ cục đàm của thằng nào nổi lều bều trên mặt. Không ăn nhằm gì hết với tù biệt giam vì cắc-kè-bông không sợ lở, chỉ việc vớt bỏ rồi thoải mái mà xối lên người, kỳ cọ với xà bông cục. Dân Thượng địa phương có thăm nuôi, sáu thằng Việt Nam chúng tôi đói khát muôn năm.
Đó là lý do tại sao sạch sẽ tắm rửa như vậy mà anh Fulro nào cũng thành cắc-kè bông. Thăm nuôi nghèo nàn, thiếu dinh dưỡng lại không ánh nắng mặt trời (biệt giam bị cấm ra khỏi khu vực buồng tối), vệ sinh tệ hại, không bị ghẻ đầy người mới là chuyện lạ.
Cuối cùng tôi chuyển đến phòng ngoài. Ra rồi tôi lại nhớ thời gian nằm “ hộc “. Dù sao thỉnh thoảng cũng được chia cho vài hơi thuốc rê quấn giấy bọc lương khô Trung Cộng. Hút cháy cổ mà vẫn ngon, hoặc chí ít cũng nếm được mẩu bánh đậu xanh (lương khô Tàu) lớn bằng đầu ngón tay cái.
Tôi biết ơn Giu Se Mới đã “bố thí“ vì trong biệt giam hai phong lương khô cộng với sáu điếu thuốc rê đổi được áo jacket lính Dù mặc rất ấm với khí hậu miền núi. “ Thấy cái mặt mày khờ, tao tội nghiệp”. Không có sự tội nghiệp của đại úy Giu Se Mới suốt đời tôi cũng chẳng biết hương vị “ ration C “ Tàu nó như thế nào..
Nhất y nhất quởn từ ngày bước lên chiếc xe đò định mệnh vốn liếng đi theo tôi cho tới ngày rời khỏi nhà tù chỉ bấy nhiêu để chống chọi cái rét khủng khiếp mùa đông .
Tôi bắt đầu có ghẻ, ghẻ mọc khắp nơi trên người bất kể chỗ kín hay hở. Ghẻ và đói là hai kẻ thù khủng khiếp hành hạ những thằng tù ngày cũng như đêm. Ghẻ và đói lại tàn ác hơn với những thằng tù “xa xứ“ quê quán ở tận Saigon như tôi. Tù Saigon đông lắm, nhưng đường xá xa xôi nhất là vào những ngày mới bị VC chiếm đóng miền Nam, phương tiện giao thông nghèo nàn, chẳng thằng nào có thăm nuôi. Bao nhiêu quần áo mang theo đã đổi lấy lương khô, thuốc rê, còn lại thì đem ra quấn hết vào người. Tù khổ nhưng rận rệp lại mừng vì càng ngày càng mập mạp , chỗ trú ẩn ấm cúng sau mấy lớp quần áo.
Buổi sáng tù được ra tắm nắng mỗi thằng tự mài lấy cho mình một cây kim từ những miếng sắt vụn kiếm được. Có hai lợi ích khi sở hữu một cây kim: để may lại bộ đồ rách (chỉ là những sợi nilon rút ra từ bao tải) và để bắt con ghẻ. Nhiều thằng tù không ngồi được vì đít đầy ghẻ mủ, chổng mông cho một thằng khác chà sát xịt máu rồi rửa bằng nước muối. Đó là cách trị ghẻ duy nhất tù nghĩ ra được.
(Sau 30/4/75, ở tù là chuyện dĩ nhiên đối với tất cả những ai sinh ra và sống dưới chế độ VNCH. Con nít ba tuổi còn phải đi tù với mẹ, nhiều bà lặc lè cái bụng cũng ngồi vài tháng vì tội vượt biên hoặc buôn bán lặt vặt. Hề là người miền Nam (không theo VC) thì phải “ học tập cải tạo “, đó là quy luật. )
Một đêm lúc còn trong hộc, bỗng dưng tôi thức dậy vào khoảng ba giờ sáng, chắc tại mấy con rận rệp cắn ngứa ngáy quá chịu không nổi. Thình lình tôi nghe văng vẳng từ xa vọng lại tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông boong boong vọng vào tai rồi thấm dần đến quả tim từ lâu đã quên bẵng. Tôi nằm trong này hơn hai tháng rồi, chưa biết bao giờ mới được cho ra phòng ngoài chứ đừng nói gì đến được tha. Bao nhiêu ký ức hiện trong đầu tôi, những ngày còn ở ngoài đời.
Tôi là người Công Giáo, theo kiểu ông bà cha mẹ có đạo thì đương nhiên tôi cũng có đạo. Từ lúc lớn khôn tôi chẳng ý thức gì về vấn đề tôn giáo, nhưng phải đi lễ mỗi Chúa Nhật là một cực hình (tôi thà rong chơi với bạn bè trong mấy quán cà phê ). Sinh viên năm thứ ba ĐHKH Saigon tôi thích những nơi có nhạc TCS, lơ mơ điếu thuốc quấn Bồ Đà . Hồi nhỏ ba má tôi vẫn buộc chúng tôi phải đi lễ chung với gia đình, nhưng khi bước vào đại học, ông bà để chúng tôi tự do. Tôi trịch thượng so sánh những linh mục với những con quạ đen .
Nhưng đêm hôm đó, tôi bị “đánh thức“. Tiếng chuông vọng lại nhắc đến những Giáng Sinh gia đình thiếu vắng tôi trong lễ nửa đêm. Hình ảnh ba má tôi chăm chỉ dự lễ đều đặn nhất là sau ngày đại tang của đất nước. Ông bà cầu nguyện điều gì tôi không biết nhưng gương mặt già nua của cha mẹ giờ đây hiện rõ ràng trong tâm trí. Tôi bật khóc, tự nhiên tôi ngồi dậy, hai cái còng chữ u dưới chân rọt rẹt làm Giu Se Mới cằn nhằn “ngủ đi thằng Sài Gòn“. Tôi không ngủ được nữa, lần đầu tiên sau bao nhiêu lâu tôi mấp máy môi đọc một kinh Lạy cha ba kinh Kính Mừng một kinh Sáng Danh. Rồi tôi quyết định make a deal với Thiên Chúa. Tôi thưa như thế này:
– Lạy Chúa, bao lâu rồi con đã không dự lễ với ba má, Xin cho con được về trước Giáng Sinh năm nay, con muốn cùng ba má con dự thánh lễ Giáng Sinh . Nếu có thể xin hãy cho con điều đó. Nếu không xin hãy cất linh hồn con, con hết chịu nổi rồi. Sau Giáng Sinh nếu còn ở trong này con sẽ chẳng tha thiết điều gì nữa, cho con chết đi thì hơn.
Như đã nói, tội của tôi là tội “ tình nghi ” mà đối với VC “ tình nghi ” nặng hơn “ tình thiệt “. Tình thiệt còn có ngày về, tình nghi thì cứ “mút mùa Lệ Thủy”. Do đó cầu nguyện là một chuyện, cầu được ước thấy lại là chuyện khác. Tôi đinh ninh như thế và rồi tôi quên đi những gì mình đã thưa vào đêm thức dậy ba giờ sáng.
Ngày 22 tháng Mười Hai năm 1976. Đang lúc ra tắm nắng tù được lệnh trở vào phòng giam, thường là lệnh chuyến đi lao động những tù đã có án. Trước đó hai ngày ngày 20/12/1976 tôi chợt nhớ lại lời cầu xin của mình và lòng buồn rười rượi vì chắc chắn sẽ còn ở đây lâu. Thân thể tôi giờ như một bộ xương khô, cái đói chiếm trọn đầu óc. Đã có lần tôi suýt nhặt một trái ớt hiểm nằm giữa đống phân vì thèm. Tôi sắp chết rồi.
Đợt đầu được gọi ra để chuyển trại, cửa phòng giam mở khoảng mười lăm phút để tù có án tập trung . Sau đó lại đóng. Điều này hơi bất thường vì trước đây chưa từng . Hóa ra còn một đợt kêu tên nữa cho về. Tên tôi nằm hàng thứ ba mươi sáu.
Tôi đi như bay ra khỏi nhà giam, đầu óc tôi tê điếng chẳng còn cảm giác Điều tôi không ngờ đã đến. Tôi bước ngang Biệt Giam thấy mặt Giu Se Mới cười và nghe rõ tiếng nói của nó : “thằng Saigon về rồi! ”. Cảm ơn mày nha Giu Se Mới, tao sẽ nhớ mày và Y Nguoun
Hồi bị bắt tôi còn ít tiền, công an VC trả lại tôi đầy đủ (Điều này cũng đã làm tôi ngạc nhiên một thời gian, ít quá không đáng để lấy?). Tôi mua ngay một nải chuối, mấy cái bánh tét, tất cả những gì tôi thèm khát mà số tiền có thể mua được. Kết quả thấy ngay lập tức, tôi đứng dậy không nổi. Bao tử bị o ép thời gian dài nay căng ra quá độ làm tôi bị bội thực. Tôi ráng lết ra bến xe, trên người còn mặc bộ đồ tù trại phát. Ra đến đó tôi ngồi trên một băng ghế dài, ngẫm nghĩ cách đề về nhà. Tiền đã hết, làm thế nào đây? Cách duy nhất tôi có thể thực hiện lúc này là cầu nguyện. Tôi lại thưa:
– Lạy Chúa Chúa đã nghe lời con kêu xin , cho con được ra tù mà chỉ còn hai ngày nữa là đến Giáng Sinh, con lại không có tiền . Không lẽ Chúa bỏ con bơ vơ ở nơi này? Vậy thì cho con ra tù để làm gì?
Còn đang lẩm bẩm, tôi chợt nghe có tiếng nói
– Sao ngồi đây?.
Tôi ngước lên, trước mặt là một người đàn ông trung niên, ăn mặc như nông dân. Giọng miền Nam hơi phảng phất Trung Phần. Anh nhìn tôi có vẻ thông cảm (chắc tại bộ đồ tù)
Tôi thưa thiệt:
– Dạ tôi mới tù ra, nhà ở tận Saigon không biết làm sao đề về nhà
– Vậy hả, tôi tên Tường, mà nè sáng giờ ăn uống gì chưa?
Mặc dù ăn no đến bội thực, bao tử đang hành hạ nhưng cái đói ám ảnh khiến tôi buông vội (vì tưởng như mình vẫn đang rất đói ):
– Dạ chưa
– Vậy ngồi đây chờ chút tôi đi chút xíu quay lại.
Tôi bàng hoàng, kinh ngạc. Như thể Chúa đang ở trước mặt tôi, Ngài đang trò chuyện, đang nghe những lời kêu van thống thiết và gởi một thiên sứ đến giúp tôi . Anh là Thiên Sứ của Thiên Chúa hay người thường vậy anh Tường?
Anh trở lại với khúc bánh mì:
– Nè ăn đi, tôi đã sắp xếp một chỗ cho anh trên chiếc xe đò về Saigon rồi.
Tôi theo anh, anh dẫn tôi lên chiếc xe, nói gì đó với người tài xế, rồi ngoắc tay:
– Về nhà bình yên nghe
Tôi vẫn không biết anh có phải là Thiên Thần Bổn Mệnh của tôi, vì thời điểm đó, đâu có ai muốn rắc rối, dây dưa với người lạ nhất là một thằng tù còn mang trên người bộ quần áo . Càng co cụm, khép kín càng tốt. Ai biết ai… là ai!
Tôi lên xe ôm cái bụng cóc ọc ạch vì thức ăn nằm ủ trong đó. Cứ khoảng một cây số tôi lại xin người tài xế ngừng lại để đi cầu. Trên dưới đều không ra được làm tôi như người sắp chết. Bụng tôi căng cứng giống trái banh chờ lúc bùng nổ. Tôi lại lâm râm cầu nguyện. Những lời kinh phần nào làm đau đớn dịu xuống, nhưng hỗn tạp hàng chục loại thức ăn trong dạ dày khiến tôi chỉ muốn chết cho xong. Hành khách đi chung xe không ai dám nói chuyện với tôi, họ chỉ liếc mắt nhìn, người đầu tiên ngồi hàng cuối đứng dậy xuống, đi ngang qua ném cho tôi hai đòn bánh tét rồi đi thẳng. Người thứ hai, thứ ba giả bộ để rơi tờ giấy bạc, gói thuốc. Tôi cảm ơn họ những người xa lạ chỉ vì bộ đồ tù tôi mặc trên người sẵn sàng nhường nhịn chia sẻ chút vật thực rất nghèo nàn của họ. Những ngày đầu mất nước chẳng ai giàu có đủ để chia sẽ phần sở hữu của mình. Chắc họ đoán tôi là tù VC vừa được tha, mà đã là tù VC thì (ngoài hình sự ) tất cả đều là anh hùng . Cảm ơn họ, những người miền Nam giàu lòng vị tha
Tối hôm đó xe ngừng lại ở Qui Nhơn. Nhờ có tiền tôi thuê được cái ghế bố . Tôi muốn ngủ nhưng đau đớn quá đến bật khóc. Tôi lại ngồi dậy thầm thì cầu xin:
– Lạy Chúa, Chúa đã cho con ra tù, cho con có phương tiện về nhà không lẽ Chúa để con chết ở đây? Chúa biết là con cũng sắp chết rồi. Con thở không nổi nữa, đau quá Chúa ơi
Cầu nguyện một chặp, tôi mệt nằm xuống thiếp đi. Đoán chừng khoảng mười lăm phút sau, tôi ngồi bật dậy. Một con nôn thốc nôn tháo tống khứ hết mọi thức ăn đã nằm trong bao tử tôi hai ngày nay. Tôi tưởng sau đó tôi sẽ chết, thật lạ, hết cơn nôn tôi cảm thấy mình khỏe khoắn như chưa bao giờ khỏe như thế. Tối hôm đó tôi ngủ say như một đứa trẻ vừa no sữa
Xe đến ven thị xã Phan Thiết thì ngưng lại. Lệnh giới nghiêm không cho phép xe lưu thông qua thành phố sau nửa đêm. Đó là tôi đoán vậy, còn thật sự như thế nào tôi không biết. Đêm đó cũng như mọi người chúng tôi nằm lăn lóc ở hai bên vệ đường trong khách sạn “Ngàn Sao“ ( nhìn lên trời thấy sao không!)
Sáng ngày 24/12/1976 tôi về tới nhà. Con chó Lucky má tôi thừa hưởng từ người dì đã đi tản qua Canada để lại. Nó gốc quân khuyển thường được ăn đồ ngon cho tới khi về với má tôi và sống dưới chế độ VC. Tội nghiệp “ thằng nhỏ “ phải tập ăn mọi thứ má tôi có thể chia cho nó. Chơi láng hết từ khoai mì khoai lang, cám heo v..v . Hai “ đứa ” tụi tôi vẫn chơi thân với nhau trước ngày tôi đi tù.
Nghe tiếng người Lucky từ trong nhà chạy ào ra sủa dữ dội. Tôi la khẽ “ Lucky, tao nè “ nghe tiếng tôi nó ư ử mừng rỡ, chân cào lên hàng rào đuôi vẫy dữ dội. Má tôi đang ăn cơm, nghe chó sủa vội chạy ra coi là ai, tay vẫn còn cầm chén. Vừa nhìn thấy tôi, má chết sững
– Trời ơi , ông ơi, thằng Bảy nó về rồi nè.
Ba tôi chạy ra, mếu máo. Má tôi mở cổng, ôm chầm lấy tôi, Lucky nhảy chồm lên người tôi, ba tôi cứ cầm tay tôi mà lắc. Sau này khi bình tĩnh tôi mới biết ba má tôi tưởng tôi đã chết rồi vì không có tin tức gì hết từ ngày tôi bỏ đi. Ba má biết tôi tìm cách vượt biên đường bộ. Thú dữ, Khờ Me Đỏ, VC chắc là tôi không tài nào đi lọt. Thậm chí má tôi đã xin lễ cầu hồn cho tôi. Tôi đâu có dám cho ba má tôi biết bị tù ở Pleiku sợ ông bà tuổi già sức yếu lại lo gồng gánh thăm nuôi. Cuối cùng tôi chịu hết nỗi đánh liều gởi lén thằng bạn được tha bức thư cầu cứu chỉ cách ngày tôi được tự do có một tuần lễ. May là thằng bạn chắc về tới nhà vui quá quên giao thư. Cảm ơn nó, nếu không tôi lại làm khổ ba má tôi lần nữa.
Tính ra VC giam tôi hơn sáu tháng . Sáu tháng với một thằng thư sinh như tôi, từ nhỏ tới lớn chỉ biết ăn bám vào cha mẹ là cả một khoảng thời gian khủng khiếp. Tôi biết được con rận hình dạng ra sao, con cái ghẻ nhớ như thế nào và làm cách nào bắt “quả tang hung thủ“ bằng đầu kim mài nhọn từ mảnh sắt vụn. Tôi biết sự dã man khi bệnh “ đói “ hành hạ , cảm giác “ sung sướng đến tê dại “ lúc áp chai thủy tinh nước nóng vào hai cái mông đầy ghẻ, hoặc khi thằng bạn “ghẻ “ chà bật máu mủ rồi chế nước muối lên. Gọi là bạn ghẻ vì chúng tôi sẽ luân phiên “ điều trị “ bệnh ghẻ cho nhau theo lối đó.
Tôi cũng phải cảm ơn VC. Nghe lạ quá ha? Nhưng đúng là nhờ VC, bao tử tôi giờ vô địch. Tôi có thể ăn bất cứ con gì miễn là nó nhúc nhích (tôi đã từng nếm “hương vị“ rận no máu khi cắn cái cóc trong miệng ). Bây giờ nhiều khi ăn thức ăn để lâu hoặc cơm thiu người khác sẽ bị ngộ độc thực phẩm, còn tôi hả ? “ vô tư “! Vi trùng sợ tôi chứ tôi đếch ngán bất cứ vi trùng nào. Sống sót tù VC tôi có thể sống sót mọi nơi, mọi hoàn cảnh vì tận cùng của sự khủng khiếp là Hỏa Ngục mà so với tù VC chắc còn thua một bậc.
Câu chuyện này hoàn toàn có thật mà bao nhiêu năm nay tôi muốn kể lại để VINH DANH và CÁM ƠN Thiên Chúa, những vì không biết cách viết, cộng thêm với sự lười biếng, lo toan cuộc sống tôi chưa làm được. Tin hay không tuỳ quý vị, nhưng ơn Thiên Chúa ban cho có thật, nhất là cộng thêm lời cầu bầu rất linh nghiệm của Mẹ Maria.
Còn đối với anh Tường tôi vẫn cầu nguyện cho anh (tôi rất muốn biết anh chỉ là một người giàu lòng nhân đạo tình cờ đi ngang qua hay anh thật sự là một Thiên Sứ được sai đến?)
Tôi xin lỗi, tôi quên phần kết luận: chỉ trong vòng có hai ngày, từ trưa 22/12/1976 với một cái bụng bội thực gần chết, với phương tiện giao thông nghèo nàn dưới sự điều hành của VC đi từ Pleiku (cách xa Saigon bao nhiêu cây số ? ) , tôi đã về tới nhà mình vào đúng trưa ngày 24/12/1976. Điều đó có nghĩa là đêm Giáng Sinh tôi đã được tham dự Thánh lễ nửa đêm với ba má mình như lời nguyện xin trong phòng biệt giam ở Pleiku…”
VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI
BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM
(Theo lời kể của một người bạn)
Nguoiviettudo
Mạng báo Công an nhân dân có bài viết, khẳng định Việt Nam là một nước dân chủ dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản mà không cần có đa nguyên, đa đảng.
Bài báo trên được đăng tải hôm 27 tháng 12, chỉ sau ngày kỷ niệm 30 năm sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết có một ngày.
Nội dung của bài báo tập trung vào việc phản bác các quan điểm cho rằng Việt Nam không có dân chủ bởi do đảng Cộng Sản độc quyền lãnh đạo.
Ngoài ra, bài viết cũng đưa ra lời biện hộ rằng ở Việt Nam thực tế tồn tại chế độ dân chủ, được gọi là “dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng Xã hội Chủ nghĩa”.
Trước lập luận trên của cơ quan ngôn luận của Bộ Công an, ông Nguyễn Văn Đài, người sáng lập Hội Anh em Dân chủ, một tổ chức đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, cho Đài Á châu Tự do biết quan điểm của ông:
“Bài báo này không chỉ nhân dịp kỉ niệm 30 năm Xô Viết sụp đổ mà còn ra cùng ngày mà họ tổ chức hội nghị công an toàn quốc, đây là một trong những hội nghị rất quan trọng.
Cho nên họ gửi một cái thông điệp rõ ràng, là các lực lượng công an, an ninh, cảnh sát ở Việt Nam phải bảo vệ bằng được chế độ độc đảng của đảng Cộng Sản Việt Nam, đồng thời thì họ cũng nói với người dân rằng là họ khẳng định sẽ bảo vệ cho cái chế độ độc đảng này.”
VỤ ÁN CHÁU BÉ 8 TUỔI BỊ ĐÁNH CHẾT VÀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN
– – – – –
Huỳnh Ngọc Chênh
Cháu bé bị hành hạ ác độc hơn một năm qua để rồi cuối cùng bị đánh chết mà không hề được ai cứu giúp ngay trong một gia đình khá giả thượng lưu có cha làm giám đốc một công ty và ông nội là bác sĩ phó giám đốc một bệnh viện lớn, nói lên nhiều vấn đề của xã hội ngày hôm nay.
Nhiều bài viết đã lên án về mặt đạo đức và pháp luật khá đầy đủ, thấy không cần phải nêu ra nữa. Ở đây tui muốn lưu ý đến khía cạnh phổ biến hiểu biết về nhân quyền cho toàn dân và giáo dục nhân quyền cho trẻ em.
Đã nhiều lần khi nói về nhân quyền, tui hay nhắc đến chuyện ngay cả trẻ em mẫu giáo của các nước châu Phi cũng đã được dạy về nhân quyền. Quyền cụ thể và đầu tiên mà các em được dạy là quyền không bị làm đau đớn và không làm đau đớn người khác. Nghĩa là em không được cấu, cắn bạn bè và ngược lại. Rồi từ đó nâng cao lên, không ai có quyền đụng chạm đến cơ thể của em gây ra đau đớn, kể cả bố mẹ.
Rồi người ta dạy cho các em biết khi bị người lớn đụng chạm đến cơ thể phải phản ứng ra sao, phải báo động đến ai, phải cầu cứu ai…
Cháu bé vừa bị đánh chết đã học lên đến lớp 3, nếu từ khi còn mẫu giáo đã được dạy dỗ những điều như trên thì ngay lần bị mẹ kế hành hạ đầu tiên đã biết cầu cứu đến mẹ ruột, đến ông bà nội, đến hàng xóm, đến thầy cô giáo…
Nhưng cháu đã không làm được điều này, để bị hành hạ liên tục, ngày càng nặng hơn suốt một năm rồi bị đánh chết trong lần bị hành hạ cuối cùng. Cháu không được dạy về quyền làm người và cách bảo vệ quyền làm người của mình.
Người mẹ kế cũng không được dạy về quyền làm người từ bé nên đã thản nhiên xâm phạm cơ thể của cháu bé mà không thấy sai. Pháp luật thì cô càng không am hiểu.
Người bố học hành cao, có địa vị trong xã hội, nhưng từ bé đã không được dạy về nhân quyền, lớn lên và làm việc trong một xã hội mà nghe nói đến hai chữ nhân quyền như nghe về điều gì huý kị ghê gớm lắm, nên không hiểu một điều rất cơ bản là không có quyền làm đau con mình và không cho ai được phép làm đau con mình.
Nhân quyền thì giấu đi, luật pháp thì bưng bít những điều tiến bộ mà thế giới buộc phải ghi vào, thảm cảnh vẫn tiếp tục xảy ra cho con người VN là điều không thể tránh khỏi.
Nhân quyền là nền tảng của pháp luật. Hiểu biết pháp luật là hiểu biết về nhân quyền. Có lẽ vì vậy mà pháp luật cũng bị bưng bít với người dân.
Đã có nhóm Hiến Pháp bị bắt đi tù hết cả nhóm chỉ vì có ý định phổ biến kiến thức luật cho người dân.
Đã có bạn tui là ứng cử viên quốc hội Lê Trọng Hùng bị bắt đi tù chỉ vì đã phát sách pháp luật cho người dân.
Và cũng có lẽ vì vậy mà tui nhiều lần muốn gởi sách bộ luật hình sự và luật tố tụng hình sự vào trại giam cho vợ tui là Nguyễn Thuý Hạnh nghiên cứu am hiểu luật cũng bị ngăn cấm.
FB Huỳnh Ngọc Chênh
December 25, 2021
Thiện Lê/Người Việt
LOS ANGELES, California (NV) – Tổ chức thiện nguyện Trái Tim Yêu Thương tặng hàng ngàn phần ăn và đồ cần thiết cho người vô gia cư ở Los Angeles vào sáng Thứ Năm, 23 Tháng Mười Hai, nhân dịp mùa Giáng Sinh.
Các thiện nguyện viên phát thức ăn chay. (Hình: Thiện Lê/) Người Việt
Khoảng 1,500 phần ăn chay tặng cho người vô gia cư là do các sư tăng ni và Phật tử chùa Phật Tổ ở Long Beach nấu từ sáng sớm.
Từ khoảng 3 đến 4 giờ sáng, khu vực sân sau của chùa dựng nhiều mái che và thắp đèn sáng để nấu ăn. Tuy không quá đông người, nhưng mọi người trong chùa cùng các thành viên của nhóm Trái Tim Yêu Thương rất hăng hái làm việc.
Không khí nhộn nhịp trong nhà bếp ngoài trời của chùa Phật Tổ. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)
Ông Phạm Khanh, đại diện nhóm Trái Tim Yêu Thương, nói với phóng viên Người Việt: “Hôm nay chúng tôi nấu tổng cộng 1,500 phần ăn chay và tặng thêm cho người vô gia cư ở Los Angeles tổng cộng 2,000 mền, túi ngủ, và áo lạnh.”
Ông Khanh nói Trái Tim Yêu Thương sẽ tặng thức ăn và các món đồ cần thiết tại sự kiện Giáng Sinh của tổ chức thiện nguyện và nhà tạm trú Los Angeles Mission. Đây là năm thứ ba Trái Tim Yêu Thương giúp đỡ người vô gia cư ở Los Angeles.
Một thành viên khác chia sẻ: “Chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc vì giúp đỡ được người vô gia cư trong mùa Đông giá lạnh. Đâu phải ai cũng được quây quần với gia đình trong mùa lễ như chúng ta. Mình may mắn hơn người ta thì phải chia sẻ cái may mắn đó để ai cũng được vui trong ngày lễ.”
Đại Đức Thích Thường Tịnh, trụ trì chùa Phật Tổ ở Long Beach, xào mì. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)
Một Phật tử của chùa Phật Tổ tiếp lời: “Đức Phật dạy con người phải biết từ, bi, hỷ, xả nên tôi cảm thấy việc làm của mình và nhiều đồng hương khác tại đây rất quan trọng. Chúng ta phải giúp những người gặp hoạn nạn, khó khăn, nhất là trong những ngày mưa gió như vậy. Có thể không giúp được những người đó bao nhiêu, nhưng tôi nghĩ họ sẽ hiểu được tấm lòng thành của mình trong những ngày lễ này. Người Việt Nam có đức tính giúp đỡ người khác, nên những hoạt động thiện nguyện như vậy rất đáng coi trọng và rất đáng để các thế hệ con cháu noi gương.”
Trong nhà bếp ngoài trời, người “chỉ huy” các hoạt động bếp núc là Đại Đức Thích Thường Tịnh, trụ trì chùa Phật Tổ. Ông cho biết các món ăn chay tặng cho người vô gia cư gồm có cơm chiên, mì, miến xào, và chả giò.
Vị sư trụ trì còn chia sẻ chùa Phật Tổ đang xây một nhà bếp đàng hoàng vì nấu ngoài trời nhiều năm rồi, cần có sự thay đổi.
Người vô gia cư đứng chờ dưới mưa bên ngoài nhà tạm trú Los Angeles Mission để nhận thực phẩm. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)
Đến khoảng 6 giờ sáng, trời mưa rào làm một số người lo ngại, nhưng không làm các hoạt động trong nhà bếp chậm lại. Tiếng dao cắt rau củ vẫn “lạch cạch,” và tiếng xào nấu vẫn “xèo xèo,” không bị tiếng mưa át đi. Ai cũng hối hả làm việc, và thậm chí có vài người làm từ khoảng 1 giờ sáng.
Vì làm việc từ sớm, nên đến gần 8 giờ sáng là các thiện nguyện viên nấu xong 1,500 phần ăn và chất hết lên xe để chở đến nhà tạm trú Los Angeles Mission. Nhà tạm trú này được thành lập từ năm 1936, và là một trong những tổ chức thiện nguyện lâu năm nhất ở California.
Các thiện nguyện viên của Trái Tim Yêu Thương có mặt tại Los Angeles Mission vào khoảng 9 giờ sáng. Vì trời mưa, nhà tạm trú này phải dựng lều để các nhóm thiện nguyện chuẩn bị phát quà Giáng Sinh cho người vô gia cư, mỗi nhóm có một bàn riêng.
Nhóm Trái Tim Yêu Thương mang các phần ăn vào nhà tạm trú Los Angeles Mission. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)
Nhà tạm trú Los Angeles Mission nằm gần khu Skid Row, nơi có đông người vô gia cư nhất của thành phố Los Angeles, và có nhiều người đứng chờ bên ngoài để được nhận quà Giáng Sinh.
Một số người cho biết họ rất cảm kích vì năm nào nhà tạm trú này và các nhóm thiện nguyện cũng cho họ một bữa ăn nóng hổi và những món quà có ý nghĩa.
Bên trong phòng chờ của các thiện nguyện viên, ông Troy Vaughn, tổng giám đốc Los Angeles Mission, phát biểu: “Tôi xin chân thành cám ơn các thiện nguyện viên và các tổ chức thiện nguyện có mặt hôm nay cũng như mọi năm. Quý vị giúp tạo ra một môi trường tích cực bằng sự giúp đỡ những con người gặp khó khăn, không có chỗ để ngủ. Chúng ta phải cho cộng đồng thấy họ được thương yêu. Xin Chúa ban phước cho quý vị, và lần nữa chân thành cám ơn sự đóng góp của quý vị.”
Sau gần hai tiếng chuẩn bị, Los Angeles Mission bắt đầu mở cửa cho người vô gia cư vào nhận quà Giáng Sinh và các phần ăn vào lúc 11 giờ sáng.
Tuy bên ngoài trời mưa lạnh lẽo, nhưng không khí bên trong lều vô cùng ấm cúng. Các thiện nguyện viên hướng dẫn người vô gia cư rất tận tình, và còn cho người đẩy xe lăn cho những người khuyết tật.
Các thiện nguyện viên phát mền, áo lạnh, và túi ngủ cho người vô gia cư. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)
Các thiện nguyện viên đưa người vô gia cư đến từng bàn của họ. Một số nhóm tặng giày dép, đồ chơi, và nhóm Trái Tim Yêu Thương tặng những thứ cần thiết cho mùa lạnh là áo khoác, mền, và túi ngủ.
Nhiều người vô gia cư rất vui mừng vì nhận được những thứ giúp mình giữ ấm trong mùa Đông.
Một người nói: “Trời lạnh như vậy mà quý vị tặng chúng tôi mền với áo khoác như vậy thật đáng quý. Xin Chúa ban phước cho quý vị và chúc mọi người Giáng Sinh an lành.”
Trời vẫn tiếp tục mưa đến chiều, nhưng không khí trong Los Angeles Missions vẫn ấm cúng, lại có những ca khúc Giáng Sinh vui tươi, làm ai cũng quên đi sự lạnh lẽo bên ngoài. [đ.d.]
—–
Liên lạc tác giả: le.thien@nguoi-viet.com
Mỗi lần Giáng Sinh về lại nhớ nhà thơ Hàn Mạc Tử với
Ave Maria
Như song lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng
Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể
Và Tổng thể Thiên thần quỳ lạy Mẹ
Tung hô câu đường hạ ngapi châu sa,
Hương xông lên lời ca ngợi sum vầy
Trí miêu duệ của muôn vì rất thánh
MARIA!linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
…
Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ.
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua,
Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị
Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí
Và trong tay nắm một nạm hào quang…
(Hàn Mạc Tử)



httpv://www.youtube.com/watch?v=-eXddsv47XY
KIÊN NHẪN TRƯỚC ĐAU KHỔ THỬ THÁCH – Lm Phạm Tĩnh
Những bức ảnh từng khiến nhiều người khóc cạn nước mắt
Một bức ảnh đáng giá ngàn lời. Đôi khi, một bức tranh ẩn chứa cả ngàn giọt nước mắt, một trái tim tan nát, một tâm hồn vụn vỡ, hay là tiếng kêu cứu của những người không thể tự nói ra.
Máy ảnh đã cho phép con người ghi lại một số khoảnh khắc kỳ diệu nhất, ấm lòng… nhất, nhưng cũng có những khoảnh khắc tàn nhẫn nhất.
Bé gái Syria
Thông thường những đứa trẻ chạy trốn, giấu mặt hoặc mỉm cười khi nhìn thấy camera. Không một đứa trẻ nào được tiếp xúc với súng và càng ít trẻ ý thức được hậu quả của việc sử dụng súng.
Đó là lý do tại sao, khi bức ảnh một bé gái người Syria giơ tay sợ hãi khi nhìn thấy ống kính máy ảnh – vì nghĩ là một khẩu súng, được đăng tải, đã gây chấn động toàn xã hội. Nhiếp ảnh gia Osman Sağırlı đã chụp bức ảnh tại trại tị nạn Atmeh ở Syria. Đáng buồn thay, bé Hudea, 4 tuổi, không phải là đứa trẻ Syria duy nhất quen với sự tàn phá của súng đạn và sự khốc liệt của chiến tranh.
Diện mạo của cái đói
Nạn đói ở Hà Nam (Trung Quốc) kéo dài từ mùa hè năm 1942 đến mùa xuân năm 1943, cướp đi sinh mạng của 2-5 triệu người và khiến 4 triệu người đã phải tha phương cầu thực. Đó là hệ lụy tổng hợp của chiến tranh, hạn hán và dịch bệnh hoành hành trong khu vực.
Nhà báo Theodore White (Mỹ) đã tường thuật trực tiếp rằng nhiều người đang tự tử và các bậc cha mẹ phải bán con cái của họ với giá chưa đến 10 USD. Người ta đã chụp được bức ảnh một người đàn ông đói khát tuyệt vọng gặm vỏ cây bên ngoài đại sứ quán Anh.
Lòng dũng cảm và sự duyên dáng
Ngày 13/11/1985, núi lửa Nevado del Ruiz ở Colombia phun trào, xóa sổ thị trấn Armero, giết chết hơn 20.000 trong tổng dân số 29.000 người. Một trong những nạn nhân của bi kịch Armero là Omayra Sanchez, 13 tuổi, hai chân bị kẹt dưới bức tường gạch khi dòng bùn núi lửa tràn vào nhà. Không thể thực hiện một ca cắt cụt chi an toàn và giải thoát cho Omayra, các bác sĩ và lực lượng cứu hộ cho rằng, điều nhân đạo nhất là giữ cho cô bé bình tĩnh và để cô ấy chết dần.
Vài giờ trước khi cô qua đời, sau khi bị mắc kẹt trong 60 giờ, nhiếp ảnh gia Frank Fournier đã đến và chụp bức ảnh Omayra nổi tiếng hiện nay. Bức ảnh được vinh danh là Bức ảnh Báo chí Thế giới của năm và là lời nhắc nhở đầy ám ảnh về vụ phun trào núi lửa chết chóc thứ hai trong thế kỷ 20.
Một người cha bất lực
Thoạt đầu, bức ảnh trông giống như một người đàn ông thường xuyên ngồi trên hiên và nhìn vào thứ gì đó. Nhưng “cái gì đó” là những gì còn lại của con người: một bàn chân và một bàn tay. Trên thực tế, chúng thuộc về đứa con gái Boali 5 tuổi của người đàn ông này.
Cô bé bị đã bị các giám thị của Công ty Cao su Ấn Độ Anh-Bỉ giết chết. Người đàn ông không hoàn thành được chỉ tiêu cao su hàng ngày của mình; vợ của ông cũng bị giết. Dù ở thời đại và xã hội nào, hành động đó thể hiện sự man rợ ở dạng trần trụi nhất của nó.
Lòng biết ơn
Bức hình chụp cậu bé 12 tuổi người Brazil, Diego Frazão Torquato, đang chơi đàn vĩ cầm trong đám tang người thầy giáo của mình. Thầy Evandro Silva là người đã giúp Diego thoát khỏi cảnh nghèo đói và bạo lực. Ông bị giết trong một vụ cướp của mafia vào tháng 10/2009. Đáng buồn thay, Diego, người bị bệnh bạch cầu từ khi mới 4 tuổi, đã qua đời vào năm sau do biến chứng sau khi cắt bỏ ruột thừa.
Sự tàn ác của con người
Khi sự tàn ác, sự ngu dốt và lòng tham của con người không biết đến giới hạn thì đây là kết quả. Ảnh chụp ở đây là một trong những “điểm tham quan kỳ lạ” của vườn thú – một bé gái người Philippine bị trói tay vào một khúc gỗ. Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những “cuộc triển lãm” vô nhân đạo như vậy có thể được thấy ở Paris, Hamburg, Barcelona, London, Milan và New York. Bức tranh này đã được chụp hơn một thế kỷ về trước.
Vô gia cư
Chính sự đau khổ của trẻ thơ đã khơi dậy nỗi đau khổ và bản năng bảo vệ sâu sắc nhất trong chúng ta. Bức ảnh “Vô gia cư” của nhiếp ảnh gia Môi trường của CIWEM năm 2011 – Chan Kwok Hung, là một ví dụ hoàn hảo về điều đó. Tại Kathmandu – thủ đô của Nepal, ông đã chụp được bức ảnh hai đứa trẻ vô gia cư đang sống trên đường. Hàng ngày, hai anh em đến bãi phế liệu gần đó và tìm kiếm bất cứ thứ gì có giá trị để bán.
Tình yêu của một người anh
Những gì một cậu bé Nhật Bản thể hiện khi đưa người em trai đã khuất của mình đi hỏa táng không chỉ là tình yêu mà còn là sự dũng cảm và đĩnh đạc của một người đàn ông gấp mấy lần tuổi cậu. Nhiếp ảnh gia Joe O’Donnell có mặt tại hiện trường nơi hỏa táng những người thiệt mạng trong vụ đánh bom ở Nagasaki, ghi lại hình ảnh này và nói về những gì đã xảy ra sau khi họ đặt đứa trẻ đã chết từ vào đống lửa: “Cậu bé đứng đó không nhúc nhích, nhìn ngọn lửa. Cậu cắn môi dưới của mình mạnh đến nỗi nó ứa máu. Ngọn lửa cháy thấp dần như mặt trời lặn. Cậu bé quay lưng, lặng lẽ bước đi”.
Để tự chết
Bức ảnh chụp vào tháng 7/1913 của nhiếp ảnh gia người Pháp Albert Kahn cho thấy một phụ nữ trẻ người Mông Cổ đang cố gắng giải thoát mình khỏi một cái cũi gỗ. Vì bị cho là ngoại tình, cô bị giam cho đến chết vì đói. Những chiếc bát trước mặt cô ban đầu được đổ đầy nước và cô phải xin ăn. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng là cái chết, cho dù quá trình này có thể kéo dài. Phương pháp trừng phạt vô nhân đạo này đã được thực hiện ở Mông Cổ cho đến đầu thế kỷ 20.
Thứ bảy đẫm máu
Ngày 28/8/1937, nhiếp ảnh gia H. S. Wong đã chụp được bức ảnh một em bé đang khóc ngay sau khi Không quân Nhật Bản ném bom nhà ga xe lửa Thượng Hải. Đó là một cuộc tấn công vào dân thường, làm 1.500 người bị thiệt mạng. Ngay sau vụ đánh bom, một người đàn ông đang đi qua đống đổ nát và giải cứu các nạn nhân. Đứa trẻ trong bức ảnh là người đầu tiên anh cứu.
Thực tế của thời đại chúng ta
Tháng 3/1993, khi đang thực hiện một nhiệm vụ của Liên Hợp Quốc ở Châu Phi, nhiếp ảnh gia Kevin Carter đã chụp được một bức ảnh mang lại cho ông Giải thưởng Pulitzer. Trong khi chụp ảnh các nạn nhân đói khát, Carter tình cờ gặp một đứa trẻ mới biết đi đang lả đi, gục xuống đất vì đói. Nấp phía sau là một con kền kền đang chực chờ rình mồi đứa trẻ.
Carter đã chụp ảnh hiện trường và đuổi con kền kền đi. Sau khi chụp một số bức ảnh, Kevin ngồi dưới gốc cây và khóc. Bốn tháng sau, nhiếp ảnh gia Kevin tự sát. Một phần trong bức thư tuyệt mệnh của anh ta có viết: “Tôi bị ám ảnh bởi những ký ức sống động về những vụ giết chóc và xác chết và sự tức giận và đau đớn… của những đứa trẻ bị chết đói, hoặc bị thương…”.
“Bức ảnh đau lòng nhất”
Hầu hết mọi người đều quen thuộc với hình ảnh cậu bé Alan Kurdi 3 tuổi người Syria, bị trôi dạt vào một bãi biển ở Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ ngày 2/9/2015. Cậu bé chết đuối khi thoát khỏi cuộc chiến ở Syria cùng gia đình người Kurd. Trên hành trình băng qua biển Aegean để đến Hy Lạp, con thuyền quá đông đúc của họ bị lật. 12 người, trong đó có một số trẻ em, bị chết đuối. Bức ảnh được đăng tải trên các phương tiện truyền thông và được coi là “Bức ảnh Đau lòng nhất”, một lần nữa nhắc nhở thế giới về sự khủng khiếp và tuyệt vọng của chiến tranh.
From: Tu-Phung
Ăn Cướp & Ăn Cắp
Tưởng Năng Tiến
Tôi nghe nhiều người than phiền về một vị đồng hương (khó thương) của mình nên cũng đâm ra hơi sốt ruột, và xót ruột:
Người Buôn Gió: Hầu như cứ động đến Việt Kiều là có mặt Thọ Muối. Nhà văn Thọ Muối trước là cựu chiến binh giải phóng miền Nam, khi xuất ngũ về đói quá (tác phẩm Nhà Ba Hộ đoạt giải của Thọ Muối lột tả những tháng ngày đau khổ này) Thọ Muối đi xuất khẩu lao động sang Đông Đức. Thời thế nháo nhào Tây Đông hòa hợp, Thọ Muối thành Việt Kiều Đức nhưng lòng nhớ các em gái Việt Nam khôn nguôi.
Và hơn nữa là sự đam mê văn chương. Vì những thứ ấy chỉ ở Việt Nam mới đáp ứng nhu cầu của Thọ Muối. Nên Thọ năng đi về quan hệ với văn nghệ sĩ và các em út trong nước. Mà muốn đi về thì phải phát ngôn thế nào thì Thọ tất rõ. Thọ Muối từng giật míc đọc thơ đón tiếp Tổng Bí Thư Nông khi ngài có dịp sang Đức quá bộ thăm Kiều bào bên đó.”
Đỗ Trường: Tập kiểu sống như thế này, hèn và nhục lắm ông Nguyễn Văn Thọ ạ
Khánh Minh: “Thọ Muối là đồng chí đéo lào mà lịnh thế!”
Cứu cánh biện minh cho phương tiện là châm ngôn sống của nhiều người, chứ chả riêng chi ông Thọ. Nịnh bợ, nói nào ngay, cũng chỉ là một trong hằng trăm cách ứng xử ở đời thôi. Trong cái bối cảnh xã hội mà “không có nhân cách người ta vẫn sống, thậm chí còn sống béo tốt hơn” (theo như lời của một vị sĩ phu xứ Việt) thì xu phụ – nghĩ cho cùng – cũng không có gì là trật lắm!
Tôi chỉ có hơi phiền lòng chút đỉnh khi nghe nhà văn Nguyễn Văn Thọ lại vừa lớn tiếng đòi “lên án gia đình” em V.T.T.M, một nữ sinh mồ côi cha, quê ở Sầm Sơn – Thanh Hoá. Em bị bắt giữ và làm nhục chỉ vì ăn cắp một cái váy trị giá 160 ngàn đồng tiền Việt, vào hôm 3 tháng 12 năm 2021:
“Xưa người ta thường nói Đứa dại hở L thằng khôn xấu hổ hay Chó gầy hổ mắt người nuôi. Cha mẹ những kẻ ăn cắp phải nên biết xấu hổ và tôi thấy báo chí không nên khai thác 1 mặt về phía tâm lí cha mẹ trong trường hợp này, dường như gia đình và cô gái kia không đáng lên án sao?”
May mà còn có những người người cầm bút khác, với cái tầm và cái tâm bao dung hơn thế:
– Thùy Dương: Trong vụ việc nói trên, chủ shop quần áo đã có những hành vi mang tính nhục mạ, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nữ sinh 16 tuổi. Việc chụp ảnh em M. bị hành hung để tung lên mạng xã hội, phát tán cho nhiều người cùng xem, đã làm cho mức độ xâm phạm danh dự, nhân phẩm của nữ sinh này trầm trọng thêm.
Thái Hạo: Chúng ta tỉnh táo tới mức không thể chấp nhận việc có nhiều người động lòng thương gia đình một cô bé nghèo khổ ăn cắp, chúng ta sáng suốt nhân danh đủ thứ lý lẽ để đòi trừng trị, chúng ta cao giọng dạy dỗ huấn thị. Ngày xưa, khi phát hiện một đứa trẻ đang leo cây hái trộm ổi, ông chủ nhà sẽ im lặng không lên tiếng, giả vờ như không biết vì sợ nó té ngã; ngày xưa, khi một đứa trẻ ăn trộm trái cây trong vườn ông thầy đồ, ông sẽ nói “cháu đừng hái trái xanh”, rồi đến trưa thì tự tay mang sang nhà cho một rổ… Thời tôi vẫn còn lác đác thấy thế, thời cha mẹ ông bà tôi thì nhiều hơn.
Những chuyện “ngày xưa” thượng dẫn khiến tôi nhớ đến một câu chuyện khác, chưa xa xưa gì lắm, đọc được trên trang Trí Thức VN:
Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ. Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.
– Tại sao cậu ăn cắp sách?
Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ: Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An.
– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!
Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát. Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:
– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…
Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện. Thấy cô thâu ngân nói thế, ông bảo cô ta:
– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…
Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.
Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:
– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…
Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:
– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…
Thái độ của người khách lạ và ông chủ hiệu sách Khai Trí khiến tôi nhớ đến tựa một cuốn sách (It Takes A Village) của Hillary Rodham Clinton, xuất bản lần đầu vào năm 1997. Đề tựa này dường như được lấy cảm hứng từ một câu ngạn ngữ cổ xưa – “It takes a village to raise a child” Một đứa bé cần được cả làng chăm sóc – của dân Châu Phi.
Cái thời mà phần lớn nhân loại sống theo từng làng mạc nay đã qua rồi. Bây giờ ở Việt Nam nếp sống được tổ chức chặt chẽ hơn nhiều. Ngoài sự “quan tâm” thường xuyên của Nhà Nước và Đảng cầm quyền, tất cả mọi người dân (bất kể nam phụ lão ấu) còn được Mặt Trận Tổ Quốc “chăm sóc” tới nơi tới chốn nữa cơ?
Liệu chính quyền địa phương (với đủ thứ hội hè, đoàn thể, ban ngành) có chút trách nhiệm gì không về hành vi đáng tiếc vừa qua của một công dân vị thành niên?
Tôi chưa được đặt chân đến Thanh Hoá lần nào nên cũng tò mò muốn biết xem cuộc sống nơi em V.T.T.M sinh trưởng ra sao? Lần dò qua báo chí nước nhà, và đọc được những mẩu tin sau:
Nếu “khối tài sản” của ông Bí Thư Thành Ủy Thanh Hóa đừng quá “khổng lồ” (và nếu quí vị quan chức ở địa phương này chịu “cắt xén” hay “ăn chận” mỏng hơn chút xíu) liệu em V.T.T.M sẽ có thể sắm một cái váy để mặc, thay vì trộm cắp hay không?
Có thể cũng không, vì chả có gì hoàn toàn bảo đảm là một cá nhân có thể hành xử cách này, thay vì cách khác. Tuy thế, tôi vẫn tin rằng nếu nhà văn Nguyễn Văn Thọ cũng “đứng về phe nước mắt” như vô số người cầm viết khác (thay cho cái thói “thượng đội hạ đạp” cố hữu) thì chắc chắn ông sẽ tránh được rất nhiều điều tiếng hay búa rìu dư luận.
Tưởng Năng Tiến
12/2021
Những thánh gia Na-da-rét thời đại mới
(Suy niệm Lễ Thánh gia)
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Hằng năm vào dịp lễ Thánh gia là ngày bổn mạng của giáo xứ, sau khi lễ xong, các gia đình trong giáo xứ tập trung đông đảo chung quanh hang đá cầu nguyện với thánh gia thất và mỗi gia đình cử ra một vị đại diện tuần tự tiến lên hàng đôi đến trước bộ tượng ba đấng, dâng lên Chúa Giê-su, Đức Mẹ và thánh Giu-se những bông hoa thắm tươi để tỏ lòng tôn kính mến yêu.
Thế mà hôm qua, chỉ còn ba ngày nữa là đến lễ Thánh gia, lợi dụng bóng tối, có kẻ bất lương đến đập vỡ ba bức tượng thánh Giu-se, Mẹ Maria và Chúa hài đồng có tầm cao như người thật, đặt trong hang đá lớn nằm bên hông nhà thờ, khiến mọi người trong xứ đạo rất đau lòng và bối rối.
Biết tính sao đây, khi lễ Thánh gia đã gần kề? Tìm đâu ra bộ tượng ba đấng mới thế vào bộ tượng bị phá tan? Nghi lễ dâng hoa cho ba đấng vào mỗi dịp lễ Thánh gia là một nghi lễ truyền thống đã được thực hiện xuyên suốt từ hơn trăm năm qua, lẽ nào năm nay không tổ chức được? Ngoài ra, ngày lễ Thánh gia đã cận kề nên cũng không thể đặt một bộ tượng khác thay thế.
Trước tình thế đó, Cha xứ có một sáng kiến táo bạo: Ngài cho mời đôi vợ chồng mới sinh đứa con trai đầu lòng được chừng tháng tuổi và mới được rửa tội mấy ngày trước, mặc y phục truyền thống thật chỉnh tề, đóng vai Đức Mẹ, thánh Giu-se và Chúa Giê-su thay cho bộ tượng hang đá bằng thạch cao đã hư hại. Ngài sắp xếp cho cặp vợ chồng quỳ bên trong hang đá, chầu hai bên đứa con thơ và kêu mời đại diện các gia đình trong giáo xứ dâng hoa cho ba vị nầy trong tư cách là hình ảnh của thánh gia Na-da-rét.
Sáng kiến nầy đã làm cho một số người trong họ đạo cảm thấy bị sốc. Họ cho rằng làm như vậy là quá đề cao gia đình người tín hữu và xúc phạm đến ba đấng thánh.
Cha Sở diễn giảng cho họ như sau:
Khi đề nghị gia đình anh chị Năm đóng vai Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giê-su thế chỗ cho bộ tượng ba đấng bằng thạch cao bị hư, chúng ta không hề xúc phạm đến ba đấng thánh, nhưng xem gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh rất trung thực và cao quý của thánh gia Na-da-rét.
Tại sao tôi nói như vậy?
Thứ nhất, bộ tượng ba đấng mà ta kính viếng xưa nay là hình ảnh của Thánh Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giê-su do tay người phàm tạo nên bằng thạch cao, không có sự sống; trong khi gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh của ba Ngôi Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa tạo dựng nên, có linh hồn, có lương tri, có sự sống.
Thứ hai, nhờ lãnh nhận bí tích Thánh tẩy, anh chị Năm cũng như mỗi người chúng ta được trở thành chi thể của Chúa Giê-su (GLHTCG số 1267). Thánh Phao-lô cũng xác nhận điều nầy: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao?” (I Cor 6,15).
Thứ ba, nhờ rước lấy Mình thánh Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, anh chị Năm được trở nên cùng chung máu thịt với Ngài, được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa (2 Pr 1, 4).
Ngoài ra, Chúa Giê-su và Hội thánh thường dạy chúng ta rằng “Thiên Chúa đồng hóa với con người”, con người là hiện thân của Thiên Chúa.
Thứ tư, Hội Thánh công giáo xưa nay vẫn nhìn nhận gia đình của ki-tô hữu là gia đình thánh nên Giáo hội quen gọi đó là những hội thánh tại gia, tức là thánh gia.
Như vậy, không có một bức tượng nào do tay người phàm làm ra dù bằng thạch cao, bằng gỗ, bằng đá hay bằng kim loại quý… xứng đáng được chọn làm hình ảnh của Chúa Giê-su, của Mẹ Maria, của thánh Giu-se cho bằng chính mỗi Ki-tô hữu chúng ta.
Sau khi hiểu được những điều cha xứ giải thích, mọi người vui vẻ dâng những đoá hoa thật đẹp thật tươi cho anh chị Năm được cử đóng vai thánh gia Na-da-rét.
Rồi qua những năm sau, nhiều người trong giáo xứ đều thấy thật là thích hợp và đầy ý nghĩa khi chọn một gia đình công giáo trong họ đạo đóng vai thánh gia Na-da-rét thay vì dùng bộ tượng thạch cao, nên cộng đồng giáo xứ thoả thuận với nhau rằng: đôi vợ chồng nào mới sinh con trai và được rửa tội sớm nhất trong tháng 12 dương lịch thì sẽ được chọn đóng vai thánh Giu-se, Đức Mẹ và Chúa Giê-su để cho giáo dân thăm viếng. Và cũng từ lúc đó, thay vì dâng hoa cho ba Đấng như trước đây, người ta dâng cho em bé trong vai Giê-su những hộp sữa; dâng cho người mẹ trong vai Maria những cuộn chỉ, những chiếc kim, chiếc kéo; dâng cho người cha trong vai Giu-se những dụng cụ làm việc nho nhỏ như những chiếc kìm, chiếc búa, cái đục, cái bào…
Từ sự kiện nầy, các gia đình tín hữu trong xứ đạo đều ý thức mình là những thánh gia Na-da-rét thời mới. Các đôi vợ chồng trong các gia đình luôn trân trọng và yêu quý nhau như Mẹ Maria và thánh Giu-se; Cha mẹ biết chăm lo giáo dục con cái như Mẹ Maria và thánh Giu-se đã làm cho Chúa Giê-su; Con cái luôn vâng phục và thảo hiếu với mẹ cha như Chúa Giê-su đối với thánh Giu-se và Đức Mẹ.
Từ đó, niềm vui, hạnh phúc và đời sống thánh thiện chan hoà trong các gia đình.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
@ Muốn đọc thêm bài suy niệm cũ hơn, kính mời vào website: https://nguonvui.net
From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn
Đêm Giáng Sinh nổi dậy ở trại Suối Máu
LTS: Dưới đây là hồi ký của một sĩ quan VNCH trong thời gian đi tù cải tạo, về một lần đón Giáng sinh khó quên trong đời ông. Những gì ghi lại cho thấy sự khác biệt vô cùng lớn lao giữa người miền Nam có tín ngưỡng và bộ đội Bắc Việt vô thần, vào những ngày VNCH sụp đổ. Nhưng dù sao, đêm Noel cũng đã diễn ra, trong vòng vây thù hận.
Thấm thoát lại một mùa Giáng Sinh đến với nhân loại, và đó là Lễ Giáng Sinh lần thứ tư trong lao tù của chúng tôi. Theo quy định của trại từ “bò xanh” đến “bò vàng”, chúng cấm chỉ tuyệt đối mọi lễ nghi tôn giáo, nhưng anh em có đạo vẫn tuỳ theo hoàn cảnh tổ chức lễ Noel trong tù.
Hôm nay, mọi sinh hoạt trong trại trong ngày vẫn bình thường. Từ buổi chiều một số anh đã bắt tay thực hiện một hang đá dã chiến đơn giản bằng giấy vỏ bao ciment bôi nhọ nhồi đen với những nếp nhún khi sắp xếp xen kẽ, chồng chất lên nhau trông không khác gì hang đá thật ngoài đời. Hang đá khá lớn, cao khoảng hơn một mét rưỡi, dựa vô chính giữa vách nhà 15. Cho đến sẩm tối thì công tác thiết trí hang đá hoàn tất. Một bóng đèn điện tròn duy nhất treo trên phần cao chính giữa bên trong nhà 15 được kéo giây luồn ra ngoài, được đặt vào trong hang đá.
Tôi là người ngoại đạo, nhưng tôi rất thích đi nhà thờ và dự Lễ Noel với các bạn thuở còn là học trò. Khi thì đi lễ nhà thờ Tây Ninh với cô bạn học Tuyết Mai, khi thì đi dự Lễ Noel với các bạn Chiến, Thành, Lưỡng, Diên, Mùi ở nhà thờ của Cha Dụ trên trại định cư Tầm Long, Trảng Lớn, Tây Ninh. Vì thế, tôi ở nhà 17 nhưng cứ lẩn quẩn bên cạnh các anh làm hang đá và thầm phục các anh tài hoa, khéo tay đã sáng tạo ra một hang đá thật đẹp và thanh thoát dù chỉ bằng một ít giấy vỏ bao ciment.
Công tác thiết trí hang đá với các mẫu tượng nhỏ của Chúa Hài Đồng, Ba Vua, Máng Cỏ đặt bên trong xong thì trời cũng đã tối. Các anh em không có đạo thì sinh hoạt bình thường, đi dạo bộ hay ở trong nhà. Các anh em có đạo bắt đầu mang ghế cá nhân đến nơi hành lễ. Vì hang đá lập chính giữa bên vách nhà 15 nên các anh em xếp ghế ngồi hai bên đường đi giữa nhà 15 và nhà 16, mặt hướng thẳng ra cổng trại, xuyên suốt qua các nhà 9 và 10 dãy 2 và nhà 3 và 4 dãy 1.Buổi Lễ bắt đầu khoảng 10 giờ đêm với ước chừng trên 50 anh em tham dự. Tôi đứng ngay sau lưng các anh, nhưng ở phía khoảng trống giữa hai nhà 15 và nhà 16 xem các anh làm lễ và nghe các anh đọc kinh.
Thình lình, từ hướng sau nhà 13 bên trái ào đến toán “bò vàng” đi tuần, theo như thông lệ, tên Trung uý Quỳnh Trưởng K1 đi đầu, theo sau là một tiểu đội 10 tên “bò vàng”, súng CKC cầm tay có gắn lưỡi lê ập tới. Rất nhanh, toán “bò vàng” đi vào nơi anh em đang làm lễ. Tên Quỳnh la lên: “Ai cho các anh tụ họp làm lễ. Giải tán! Giải tán! Giải tán ngay!” Rất nhanh, anh em chưa kịp ra khỏi con đường giữa hai nhà thì toán “bò vàng” đi tuần đã rút thật nhanh qua hai nhà 9 -10 và 3 – 4 ra ngoài trại mà không có điều gì xảy ra.
Một số nhỏ vài anh trở vô nhà của mình, phần còn lại, các anh tiếp tục cuộc lễ đang dở dang. Không ngờ, khoảng nửa giờ sau, tên Quỳnh lại dẫn toán “bò vàng” đi tuần trở vào lần thứ nhì. Đi như chạy, bọn chúng ập vô nơi anh em đang làm lễ. Tên Quỳnh la lên: “Tại sao không giải tán? Tại sao không giải tán? Bắt lấy nó!” Các anh giạt ra hai bên tiến về phía trước, bọn vệ binh xô đẩy, nổ súng và chụp một vài anh lôi đi. Ngay khi tiếng súng nổ, tôi nghe có tiếng thét: “Giết nó!” cùng tiếng chân chạy sầm sập đàng sau lưng. Tôi liên tưởng đến đổ máu. Nói thì lâu nhưng diễn biến thì chỉ trong tích tắc, một số anh em bên K5 đã vượt qua hàng rào kẽm gai để qua bên này với chúng tôi.
Nhưng cũng rất nhanh, toán “bò vàng” bắt theo mấy anh đã ra tới cổng trại rồi khóa chặt cổng lại. Ngay sau đó, được biết có ba anh đã bị bọn chúng bắt ra ngoài trại là các anh Rĩnh, Hoàng và Bé. Một số anh em vô nhà chuẩn bị đi ngủ, nhưng các anh trong Ban Hành Động quyết định biểu tình bất bạo động trong trại để đòi bọn “bò vàng” phải trả anh bị chúng bắt vô trại. Một lệnh được đưa ra ngay lập tức và được thực hiện ngay là một toán các anh đi từng nhà yêu cầu tất cả các anh em ở trong nhà còn thức hay ngủ, dù bịnh cũng phải ra sân chơi bóng chuyền tập họp. Khi cuộc tập họp đã đầy đủ, toàn thể 18 nhà bỏ trống, Ban Hành Động bắt loa tay yêu cầu trả ba anh em bị bắt vào trại.
Phía ngoài trại, bọn “bò vàng” dùng loa trả lời: “Nhà cầm quyền trại yêu cầu các anh em giải tán. Ai về nhà nấy. Ngày mai trại sẽ thả các anh bị bắt.” Anh đại diện nói vọng ra trả lời : “Chúng tôi chỉ giải tán khi ba anh em chúng tôi được trả vô trại.” Lời qua tiếng lại không bên nào chịu bên nào. Ba lần bọn chúng yêu cầu chúng tôi giải tán, ba lần chúng tôi yêu cầu thả anh em chúng tôi bị bắt trở vô trại. Lúc đó vào khoảng 11 giờ đêm Giáng Sinh.
Tình hình căng thẳng lên, phía ngoài trại cách một mặt đường là khu đóng quân và nhà làm việc của bọn “bò vàng”. Bọn chúng la hét, rồi nhảy xuống giao thông hào và hố chiến đấu cá nhân dọc theo bên đường. Tiếng súng lên đạn nghe rõ mồn một. Các loại súng chĩa thẳng vô chúng tôi trong trại. Có tiếng di chuyển ầm ì của chiến xa từ xa vọng lại và các đơn vị địa phương và cơ động được điều động tới. Chúng tôi không nao núng, chờ đợi những diễn tiến xảy đến, kể cả có thể phải chịu cuộc tắm máu của bọn cuồng sát đêm nay.
Rồi thì sương đêm bắt đầu thấm lạnh, trong không gian u tịch của trại tù K1 Suối Máu, Khu Tân Hiệp, Biên Hòa, một ai đó trong anh em chúng tôi, trong cảnh khốn cùng tù đày khởi sự hát lên bản nhạc Giáng Sinh quen thuộc “Đêm đông lạnh lẽo” của Hải Linh. Tiếng hát trầm ấm cất lên – “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Chúa sinh ra đời. Nằm trong hang đá nơi máng lừa.” Rồi thì một số anh em cùng hát theo “Trong hang Belem ánh sáng tỏa lan tưng bừng,” và rồi cả trại cất cao tiếng hát vang vang trong không gian bao la của khu vực Tân Hiệp, tiếng hát vang lên không trung “Nghe trên không trung tiếng hát Thiên Thần vang lừng. Đàn hát, xướng ca dư âm vang xa. Đây Chúa Thiên Tòa giáng sinh vì ta. Người hỡi hãy kíp bước tới đến xem nơi hang Belem ôi Chúa Giáng sinh khó khăn thấp hèn. Nửa đêm mừng Chúa Giáng sinh ra chốn dương trần. Người đem ơn phước xuống cho muôn dân lầm than. Nơi hang Belem Thiên Thần xướng ca. Thiên Chúa vinh danh chúng nhân an hòa? Tan giá đêm đông ấm thân con người. Nơi hang Belem huy hoàng ánh sao. Đưa lối Ba Vua phương Đông đến chào.”
Cứ thế chúng tôi không phân biệt lương, giáo, tiếp tục hát và như một chuyển động dây chuyền, phía sau chúng tôi anh em bên K5 ra sân cùng hát, bên K2 rồi K3 và K4 cũng hòa nhập với chúng tôi cất cao lời hát. Bấy giờ thì cả chúng tôi ở 5 K đều tụ họp ngoài sân trại và cùng đồng thanh hát bản Thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo” để “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình An dưới thế cho người thiện tâm.”
Trong đêm Giáng Sinh này, chúng tôi những chiến sĩ VNCH trong lao tù cộng sản ở Trại Suối Máu, Tân Hiệp, đã có dịp chứng tỏ sức mạnh của sự đoàn kết, chúng tôi không khiếp nhược trước bạo lực. Chúng tôi say sưa hát để biểu dương tình người, tình chiến hữu. Nếu Thiên Chúa xuống dương trần để đem ơn phước cho người lầm than thì tại sao những anh em chúng tôi chỉ vì biểu lộ đức tin mà bị đối xử thô bạo. Các anh có thể bị tra tấn, đánh đập bằng đòn thù; các anh sẽ bị nhốt vào connex, những container bằng sắt đêm lạnh tê người và ngày nóng cháy da. Có lẽ chưa có một ca đoàn nào có một ban hợp ca vĩ đại như ca đoàn liên K ở trại tù Suối Máu trong đêm Giáng sinh 1978 và đáng được đưa vào sách ghi kỷ lục Guinness.
Sương rơi ướt bờ vai, thấm lạnh thật sự. Chúng tôi vẫn hát chỉ một bản duy nhất “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Chúa sinh ra đời. Nằm trong hang đá nơi máng lừa.” Những điệp khúc vang lên êm đềm, tha thiết sưởi ấm lòng người xa nhà, xa người thân yêu trong một đêm Chúa Giáng sinh trong một tình cảnh vô vọng “Thiên Chúa vinh danh chúng nhân an hòa? Tan giá đêm đông ấm thân con người.”
Cứ như thế, thời giờ đã qua nửa đêm về sáng, bất ngờ ngoài trại có tiếng loa: “Nhà cầm quyền trại yêu cầu các anh em giải tán, ai về nhà nấy. Ba anh em sẽ được thả vào trại.” Chúng tôi ngừng hát. Quả nhiên, cổng trại có ánh đèn pin chiếu, cổng mở và ba anh Rĩnh, Hoàng và Bé bước vô trại. Chúng tôi vô cùng mừng rỡ cùng reo lên trong một thắng lợi ngoạn mục không ngờ. Liền sau đó, chúng tôi tản hàng trở về nhà ngủ. Anh em ở các K bạn cũng giải tán trong im lặng.
Thời gian trôi qua thật mau, Mới đó mà đã 30 mùa Giáng Sinh trôi qua kể từ đêm Giáng Sinh năm xưa ở trại tù Suối Máu. Mỗi khi mùa giáng Sinh về, trong tôi ký ức về một đêm Lễ Giáng Sinh tràn đầy nhân bản, tình chiến hữu lại tỏa sáng. Đây có lẽ là cuộc tranh đấu độc nhất trong lịch sử lao tù của cộng sản chỉ bằng đêm hát nhạc thánh ca ôn hòa nhưng đầy hào hùng và đem lại thành công tuyệt đẹp.
Dưới trời mưa tuyết đầy băng giá nơi vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, trong mùa Giáng Sinh này, tôi xin thắp một nén nhang tưởng niệm đến các bạn đã trở thành “người của cõi vĩnh hằng” như Bạn Vinh/QC/nhà16; Đỗ Văn Phố/LBPV/ PTT, Bùi Văn Thanh/KQ/nhà17. Để tặng các bạn ở trại tù Suối Máu, và đặc biệt các bạn lưu lạc bốn phương trời: Huỳnh Lê Phi Hùng/ ANTB/ BTLKQ/Saigon; Phạm Văn Đức/ANQĐ, Nguyễn Văn Phước/ANHQ/Paris. Đặng Ngọc Trung/ANQĐ, Hùng (tay trái) Cali; Đại Đức Tuyên Uý Đối/BĐQ, Dương Cự/QP, và các bạn Sĩ, Vinh, Mùi, Lợi?
Bùi Quốc Hùng
Tacoma-Washington,
Ghi lại nhân mùa Giáng Sinh 2008
From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen
Một người lính Bắc Việt ở nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Ảnh: Herver Gloaguen
Cứ khoảng tháng Tư là tôi lại nhìn thấy tấm hình này xuất hiện đâu đó trên mạng xã hội.
Một người đàn ông trong bộ quân phục bạc màu, đôi chân chai sạn đi dép lê cũ bằng nhựa, quỳ trên bậc thềm Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Tấm hình (được cho là) “một người lính Việt Cộng trong những ngày đầu tháng Năm 1975”.
Tạm gác qua một bên chuyện anh là ai, cái dáng người nhìn phía sau cũng thấy sự chân chất và nghèo khó, đơn độc và ngoan đạo, nổi bật trước những người quần áo chỉnh tề sạch sẽ ngồi trong nhà thờ, ánh sáng từ ngoài cho thấy những đốm sáng phía xa của bàn thờ nơi Chúa hiện diện.
Không biết vì sao anh không ở phía trong nhà thờ, nơi mà mọi người đều bình đẳng dù giàu hay nghèo, sang hay hèn, mà lại quỳ ở ngưỡng cửa ngôi nhà của Chúa? Điều gì ngăn cản anh bước vào đó?
Vì anh tình cờ nhìn thấy ngôi giáo đường trong giờ lễ sáng? Vì anh chỉ ghé qua được giây lát? Vì đã lâu anh không đến nhà thờ nên ngại ngần? Vì trang phục của anh không được chỉnh tề? Vì sao…?
Anh nghĩ gì giây phút đó? Anh gửi đến Chúa lời gì, ước mong gì? Anh nhớ gì, miền quê xa gác chuông nhà thờ vươn lên giữa những mái rơm rạ bình yên, tiếng chuông chiều lan xa giục ai đó trở về, ký ức quê nhà cùng gia đình đi lễ ngày chủ nhật, đêm giáng sinh đến nhà thờ với người bạn gái…?
Dẫu đây chỉ là một khoảnh khắc không thể nói được tất cả, nhưng mỗi khi nhìn tấm hình ấy tôi lại nghẹn ngào…
Khi người lính trẻ quỳ trước cửa nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, ở nơi nào đó chắc mẹ anh mừng lắm vì chiến tranh đã chấm dứt, bà đang trông ngóng ngày con trai trở về, bà sẽ được ôm mái đầu xanh kia như lúc còn thơ bé. Và người con trai trong chiếc áo lính bạc màu sẽ ôm bà trong vòng tay lành lặn. Ơn Chúa, con đã về với mẹ!
Tôi nhớ đến một tấm hình khác: những anh bộ đội trẻ ngồi nghỉ ngơi quanh đài phun nước trong Dinh Độc Lập, hồn nhiên thò tay chân xuống nước rửa ráy sau một chặng đường dài của ngày chiến tranh cuối cùng. Tấm hình cũng được nhiều người chia sẻ kèm những lời bình phẩm vẻ quê mùa không biết thế nào là văn minh thành phố.
Những anh bộ đội trẻ này có lỗi gì, khi lần đầu được nhìn thấy một đô thị lớn nhất ĐNA lúc đó? Họ, từ nhỏ chỉ ở nhà quê, bước chân đầu tiên ra khỏi lũy tre làng là đi bộ đội, vào rừng núi, chưa từng biết thế nào là cảnh quan, tiện nghi thành phố, ngay cả nhiều vị chỉ huy của họ cũng vậy…
Những tấm hình như vậy càng làm tôi thương họ hơn, những “người nhà quê” chất phác luôn bị cuốn nhanh vào vòng xoáy của các cuộc chiến tranh, những người chiếm số đông trong xã hội nhưng thời nào cũng phải chịu thiệt thòi về tất cả so với “người thành phố”. Mà có người thành phố nào không có một “nhà quê” thật sự hay trong tâm tưởng dù nhiều đời xa quê. “Quê hương nếu ai không nhớ…”
Tấm hình anh bộ đội từ một làng quê xứ đạo miền Bắc quỳ trong nhà thờ hay bức hình những anh lính trẻ hồn nhiên quê mùa giữa Dinh Độc Lập… đều làm tôi chạnh lòng… Từ những ngày bình yên đầu tiên sau mấy chục năm chiến tranh đến nay đã hơn bốn thập kỷ hòa bình rồi… vẫn còn đó sự ngăn cách giữa những người Việt Nam mà có khi chỉ qua một vài tấm hình như thế cũng bộc lộ ra, đau như một vết cứa sâu, sắc ngọt…
Nguyễn Thị Hậu
(Sài Gòn, tháng 5.2018)