Phi Châu Đến Thương về Nhớ

Phi Châu Đến Thương về Nhớ

(Hình ảnh của Ánh, Trâm và Frank)

Khi cô cháu rủ đi Phi Châu với nhóm bạn của cô, tôi rất ngại đường xa, hơn nữa Phi Châu rừng rú, ngà voi, sừng tê giác, vốn không phải là những thứ hấp dẫn hay gợi trí tò mò của tôi. Cháu rủ mãi, tôi nhận lời, xong lại hủy bỏ. Frank hơi thất vọng vì anh muốn đi lắm. Cô cháu tôi la oai oải trong phôn: “Cô không thích, nhưng chú thích thì cô phải cho chú đi.” Ừ, thì nể chồng, nể cháu, đi vậy.

Chao ôi là con đường dài… Từ Seattle bay 5 tiếng tới Atlanta, rồi đợi ở phi trường 3 tiếng, bay sang Johannesburg (Nam Phi) 14 tiếng qua vùng biển Atlantic (Đại Tây Dương) đến Johannesburglúc 6 giờ chiều, lấy khách sạn ở ngay phi trường ngủ qua đêm, sáng hôm sau 11 giờ gặp nhóm đi Tour chung đến từ Los Angeles, cùng bay tiếp gần hai tiếng nữa tới Cape Town. Tổng cộng mất gần hai ngày từ lúc ra khỏi nhà. Tôi ngao ngán máy bay lắm rồi, nói với Frank, khi quay về lại Seattle tôi sẽ walk home, chứ không lên máy bay nữa.

Bây giờ ngồi đây, viết những dòng chữ này, tôi nghĩ lại vẫn “ngán” những giờ ngồi trên máy bay lắm. Nhưng chuyến đi Phi Châu vừa qua thật sự đã cho tôi một đoạn thời gian “có giá trị” trong đời sống mình. Những điều nhìn thấy, cảm nhận được ở đất, ở rừng, ở thác, ở sông, ở con người của Phi Châu hoàn toàn khác hẳn ở những nơi khác trên thế giới như: Pháp, Ý, Na Uy, Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Tầu, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Cam Bốt, Mỹ, v.v mà tôi đã sống hay đã đi qua.

Người hướng dẫn Tour luôn luôn nhắc nhở du khách là không bao giờ được đi một mình, ban ngày luôn luôn phải đi thành nhóm, ban đêm dù có nhóm cũng phải đi taxi, không được đi bộ dù chỉ một, hai đoạn đường. Tỷ lệ thất nghiệp hiện tại ở thành phố này là 50%. Lợi tức của người có việc là US$2.00/ một ngày, nên không tránh được việc cướp giựt và nguy hiểm tính mạng, nhất là cho du khách. Tiếc thay cả nước sống nhờ vào du khách là chính. Người hướng dẫn cho biết: Cứ mỗi một du khách tới Phi Châu nuôi được năm người bản xứ trong một năm.

Tôi chỉ có thể kể ra những điểm chính trong rất nhiều sinh hoạt của chuyến thăm Nam Phi này. Chúng tôi được đi qua các nước:Zambabwe, Swaziland và South Africa. (Tổng số nước trên lục địa Châu Phi là 54 quốc gia được công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc.Chưa kể đến 9 lãnh thổ không có chủ quyền.Diện tích của toàn Phi Châu là: 30.521.332 cây số vuông. Dân Số chiếm 1/7 trên thế giới.)

Mặc dù thành phố, viện Bảo Tàng cũng hấp dẫn nhưng phong cảnh thiên nhiên, tìm xem các loài thú vật trong cánh rừng hoang dã Phi châu và thăm thác Victoria Fall là những điểm chính của Tour Du Lịch này.

Thiên Nhiên ở Phi Châu

Hãy nói đến những con vật nhỏ nhất trước tiên.

Những con Chim Cánh Cụt (Penguins Colonies) ởBoulder Beach nơi duy nhất loại chim baby Penguins này hiện diện. Con lớn nhất to chưa bằng một con vịt trung bình. Phần đông chỉ bằng con chim bồ câu. Chim tí teo đi xiêu vẹo như em bé mang cái tã nặng trông thật đáng yêu. Chúng nhào ra sóng chơi một lúc, chìm nghỉm, rồi lại trôi vào bờ, đào những lõm cát nông, nằm phơi nắng. Mỗi gia đình như tự chiếm lấy một chỗ cho riêng mình.

Chim Cánh Cụt-Penguins

Thiên nhiên Phi Châu cho ta rất nhiều kỳ bí, ngoài vẻ đẹp dọc theo bờ Biển Đại Tây Dương, chúng tôi được đi thuyền hai giờ trên hồ Saint Lucica, phía Bắc KwaZulu-Natal,hồ có diện tích 350 cây số vuông, ở Nam Phi.

Xem cá sấu và những con Hippo từng đàn trồi lên, hụp xuống trong nước hay nằm phơi nắng ấm trên bãi bùn và xa xa trong cánh rừng tiếp mặt nước, thỉnh thoảng gặp gia đình nhà voi đủng đỉnh đi qua đi lại.

Hà Mã – Hippo

Được đi bằng xe jeep vào rừng xem Thú Hoang (Game Drive) hai ngày, ở Kruger Park và Unfolozi Game Reserve.

Buổi sáng tinh mơ, trước khi mặt trời mọc, chúng tôi mặc quần áo thật ấm với mũ trùm kín đầu, sẵn sàng đứng trước của khách sạn chờ được đưa vào rừng. Ngồi trên những chiếc xe Jeep dài (3 hàng ghế) hai bên không có cửa, mỗi xe chở được mười du khách và tài xế. Máy ảnh sẵn trên tay, chúng tôi đi tìm gặp những con thú thức dậy sáng sớm đi kiếm mồi. Người tài xế lái xe cũng là người hướng dẫn Tour Trong Rừng, anh ta thông thạo từng nhánh cây, ngọn cỏ. Anh biết đón đầu thú vật, biết chụm tay lên miệng làm thành tiếng gọi Chúa Sơn Lâm.

Một con sư tử từ đâu bỗng xuất hiện, đàn trâu rừng hơn mười con đang đi rải rác vội chụm lại với nhau, đứng im bất động. Chúng nín thở, chờ cho con sư tử đi qua. Chúng sợ Chúa Sơn Lâm ngang với loài người sợ Bạo chúa.

Cả buổi sáng kéo dài tới trưa chúng tôi thích thú để cả tâm trí vào việc ngắm nhìn thú rừng tự do thong thả đi rất gần tầm mắt mình, từ sư tử, trâu rừng, hươu cao cổ, ngựa vằn, voi, chó rừng (với chân như chân nai, những cái đuôi trắng dựng lên như cỏ lau,trước đây mình chưa thấy bao giờ);những con tê giác (Rhino), heo rừng, khỉ, vượn… và nhất là chim rừng, với những bộ lông xanh biếc, hoặc đỏ rực.

Xe Jeep và Du Khách sửa soạn vào rừng.

Thú rừng muôn vẻ

Chúa Sơn Lâm

Chó Rừng

Tê Giác- Rhino

Hảo Vọng Giác và Núi Bàn

Trong buổi chiều đầu tiên ở Cape Town chúng tôi được đi xem Cape of Good Hope. Nhớ lại ngày nhỏ được học Địa Lý Thế Giới gọi làHảo Vọng Giác. Đây là một góc biển Đại Tây Dương. Hôm đó bầu trời xanh lam biếc, nước biển xanh ngọc bích, sóng trắng như tuyết lở từng khối. Đẹp đến nín thở vì sự hoàn hảo và hùng vĩ của hóa công. Trong tiếng gọi nhau ơi ới, nao nứcchụp hình của cả nhóm, tôi đứng xa xa một chút nghe tiếng sóng và chiêm ngắm biển trời, chỉ nghĩ đến biển và biển trong khỏanh khắc đó: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương. Tôi đã đứng mấp mé ở những Đại Dương nào? Có lẽ Thái Bình Dương là bờ biển thân yêu và nghĩ đến là đau xót nhất, nơi cả triệu người dân tôi bỏ xác trong lòng biển.

Hảo Vọng Giác

Chúng tôi được đi bằng xe cáp (Cable car) kéo lên đỉnh của Table Mountain để nhìn xuống biển, nơi đỉnh núi bằng phẳng như một chiếc bàn dài, nơi đón mời mình ngồi xuống dự bữa tiệc thiên nhiên, nơi thức ăn là mây, là gió là biển xanh với sóng bạc đầu. Muốn dùng bao nhiêu cũng được. Có thể Thượng Đế sẽ tính vào hóa đơn của tuổi đời, có thể không, nào ai biết được?

Theo tài liệu lưu truyền: António de Saldanha, gốc Bồ Đào Nha, người Âu Châu đầu tiên đến vùng biển này. Ông leo lên ngọn núi hùng vĩ ấy vào năm 1503 và đặt tên cho núi là Taboa do Cabo (tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là bàn của mũi đá). Mỏm núi, đứng xa nhìn ở một góc cạnh nào đó của biển từ chân núi hất lên thì lại thấy có hình dáng giống như đầu con sư tử, vị thuyền trưởng này có khắc vào đó một cây thập giá, cho đến nay nếu nhìn kỹ, vẫn có thể tìm ra dấu vết. Thật tuyệt! (*)

Trên đỉnh núi Bàn với bạn

Tú trên Đỉnh Núi Bàn 

Thác Victoria Fall.

Nằm giữa ranh giới của Zambabwe và Zambia, đã có lúc Victoria Fall được coi là một trong bảy kỳ quan của Thế Giới.

Chúng tôi đứng ở Zambabwe, phía bên này thác, mặc dù có áo mưa vẫn ướt sũng đầu tóc và hai chân. Không gì đẹp bằng đứng ngắm bức tường thác hùng vĩ bắn những tia nước như mưa trong ánh nắng, hắt sang bờ bên một chiếc cầu vồng bẩy sắc, trên thân thể du khách, trên mặt cỏ hay trong lùm cây. Cầu vồng ban ngày đã đẹp lắm rồi, nhưng có du khách nói, nếu bạn đi ngắm thác vào một đêm trăng tròn, bạn sẽ thấy một Cầu Vồng Trăng (Moonbows) một cầu vồng ánh sáng lung linh bóng trăng huyền ảo.(*)

Chiều ngang của thác 1708 mét được coi như một tấm màn bằng nước dài nhất thế giới. Thác buông xuống từ độ cao 90 đến 100 mét qua bờ xuống lòng thác (Zambezi Gorge) một lượng 550,000 thước khối nước mỗi phút.

Có người tới đây chụp cả trăm tấm hình vẫn chưa thỏa lòng. Dịch vụ trực thăng bay trên đỉnh thác nước cho du khách nhìn xuống cũng được cung cấp. Tôi thì xin hàng, không dám thử môn giải trí này.

Trắng Xóa Đất Trời 

Con Người Phi Châu.

Mặc dù tháng bảy Dương Lịch là mùa đông ở Phi Châu, buổi sáng tuy phải mặc áo ấm ra đường, nhưng đến trưa là bắt đầu nóng, trên xe bus của du khách luôn luôn mở máy lạnh. Những con đường ra ngoài thành phố, hai bên cát bụi đỏ au, thỉnh thoảng có người đàn bà địu con sau lưng, đội thúng trên đầu đứng bên đường chờ xe, có những thanh niên đi nhóm hai ba người, ăn mặc cũng tươm tất, đi như đi từ trong rừng ra, có một vài em bé đi đến trường hay đi học về, có em mặc đồng phục hẳn hoi (Được biết những đồng phục này được chuyển từ gia đình nọ, tới gia đình kia.) Màu sắc xanh đỏ trên y phục của họ tương phản với mặt đất, với hoang vu của núi rừng. Họ đi bộ xa giỏi lắm, đôi chân họ thanh mảnh và vững chắc. Nếu để ý sẽ thấy phần đông đàn ông gầy hơn đàn bà.

Quán Bên Đường

Học Trò Tới Trường 

Khu Langa Township ở Cape Town

Bạn không thể tự mình đến đây được, vì sẽ không an toàn. Du khách phải trả tiền riêng cho chuyến thăm viếng này, nhờ người địa phương hướng dẫn cho được an toàn.

Xe bus tới Trung Tâm Cộng Đồng. Nơi đây chúng tôi được hướng dẫn xem công việc thủ công như: làm đồ gốm, vẽ tranh, đẽo gỗ, đan, tết, những đồ dùng và những con thú bán cho du khách. Được xem và đánh trống cùng thổ dân. Mua một vài món vừa lưu niệm vừa giúp quỹ cho Trung Tâm.

Trung Tâm Cộng Đồng và Hình phòng vẽ

Được đi tới khu những ngôi nhà ổ chuột (Township), nơi con người vẫn ở trong những cái nhà, nếu gọi là nhà, thật ra là những cái Container cũ, bằng tôn hay gỗ,những cái hộp được quây bằng những tấm thiếc đã gỉ sét, có diện tích bằng khoảng hai mét vuông. Những cái thùng này kê sát nhau, chen chúc bên cạnh những con đường đất đỏ, những rãnh nước và những vòi nước rỉ rả chẩy. Những quầy hàng xếp lèo tèo vài mớ rau héo, trái cây rụng cuống và những mảng thịt tái ngắt để lẫn vào nhau. Bụi cát thản nhiên thổi trên mặt người và mặt hàng. Ở khu này có người giơ tay ra xin tiền nhưng bị người hướng dẫn nạt, và gạt đi.

Khu Dân Nghèo Sinh Sống -Township

Chúng tôi dừng lại nơi có những người đàn bà da đen vẽ mặt đang ngồi đốt những chiếc đầu cừu, móc chút thịt còn sót lại; có người đàn ông cầm chai rượu vừa đi chân thấp chân cao vừa ngã vào đống lửa, lồm cồm tự đứng dậy, rồi lại lăn quay xuống. Chẳng ai để ý nhìn, ngay cả những đứa trẻ đang ngồi gần đó cạnh mẹ. Chỉ có du khách chú ý thôi. Ruồi ở đâu về mở hội trên những chiếc đầu cừu không còn một hột máu. Rùng mình!

Nướng Đầu Cừu

Chúng tôi được đưa tới một trong những khu chung cư của nhà nước. Một căn nhà cho một hay hai gia đình, tùy theo mỗi gia đình có mấy người. Theo người hướng dẫn, chui qua những giây phơi quần áo dài từ đầu bãi rác to tới con đường ra ngoài khu chung cư, chúng tôi vào một căn nhà (được chọn cho du khách thăm) Đồ đạc, bếp núc sơ sài gần như không có gì, người đàn bà nét mặt thản nhiên (như đã quen khách như thế), không nói, không cười, đang đứng cạnh cái bếp giữa nhà. Một người đàn ông bước ra từ phía trong, rồi đi hẳn, khuất sau cánh cửa chính. Một đứa bé bên trong cái buồng ngủ duy nhất, ngước đôi mắt như hai viên ngọc đen, nó ra khỏi buồng, nhìn chiếc đĩa giấy để trên mặt cái bàn gỗ tạp giữa nhà ngoài, trên đĩa có ghi chữ Donation. Một con ruồi bay vào từ bên ngoài, đậu trên đó, thằng bé xua xua tay, đuổi con ruồi. Có một vài du khách đặt trên chiếc đĩa đó những tờ giấy bạc mỏng cho nhẹbớtđi những điều mình vừa thấy, kéo hồn mình trĩu nặng.

Cuối cùng, khi chúng tôi chụp hình, cũng xin được một nụ cười ngập ngừng của người đàn bà.

Giây phơi quần áo công cộng

Trường Học Ở Swaziland

Ở Swaziland chúng tôi cũng được đi thăm lớp học Mẫu Giáo Ezulwini cho trẻ mồ côi. Với tôi đây là nơi đáng nhớ nhất.

Xe bus của du khách vừa tới, các em từ một tuổi, còn cầm bình sữa đến các em lên 5, lên 6, được các cô giáo dắt ra tận nơi. Như đã quen với du khách mang dụng cụ học trò, quần áo, trái cây và kẹo tới,các em hân hoan, tươi cười, dạn dĩ chạy ào ra nắm tay du khách. Những bàn tay bé bỏng, đen như gỗ mun, đặt vào những bàn tay to lớn, xa lạ, khác màu da, không ngượng ngập. Những đôi mắt như ngọc đen sáng bóng, ngước nhìn khách tràn đầy hạnh phúc. Khách phương xa, kẻ trào lệ, kẻ khóc trong lòng.

Các em hát bằng thổ ngữ, bằng tiếng Anh, vừa hát vừa nhìn vào những túi kẹo trên tay khách. Hát xong các em được phát kẹo. Sau đó là màn du khách ôm ấp, chụp hình với các em,rồi trao sách tô màu, chì màu, tập, vở học trò, quần áo và nói chuyện với mấycô giáo.

Các em đẹp như những viên sỏi đen bóng, hai con mắt tròn đen, nụ cười rạng rỡ. Tôi nhìn các em tự hỏi, rồi tuổi thơ này cuối cùng sẽ ra sao? Tôi đã nhìn thấy các em lớn tuổi hơn, các thanh niên mười tám, đôi mươi đang làm tất cả những công việc ngoài kia để kiếm được hai Mỹ kim cho một ngày.

Tôi đã thấy ở những khu chợ trời, những thanh niên trẻ lắm, bầy những con thú bằng gỗ, bằng đá trên mặt đất bán cho du khách. Người mua ít hơn người bán. Những chàng thanh niên luôn luôn có đôi mắt rất buồn. Đôi mắt chứa cả một bầu trời đen như màu da đen của họ.

Không Mang Được Em Về Với Tôi

Như Những Viên Sỏi Đen

Máu và Kim Cương Phi Châu

Chúng tôi cũng được đi xem một tiệm bán Kim Cương ở Nam Phi, nhưng hầu như cả nhóm hơn hai mươi người cũng chỉ đi lướt qua từ cánh cửa vào tới cánh cửa đi ra. Những người du lịch ở tuổi ngoài sáu mươi hay có trẻ hơn cũng trên năm mươi, không ai nghĩ đến việc cần mua nữ trang nữa, nhất là khi du lịch. Người hướng dẫn thương mại cũng cho chúng tôi xem những tấm hình Mỏ Kim Cương, nhưng không ai đả động đến những phu đào mỏ. Họ có thể là một em bé Phi Châu ở tuổi lên 9, lên 10. Cũng không ai nói cho chúng ta biết rằng, món nữ trang chúng ta đang đeo trên cổ lấp lánh ánh sáng huyền ảo đó có nhuộm máu trẻ thơ. Đó là những viên kim cương máu (Blood diamonds). Con đường chuyển Kim Cương từ quốc gia này tới quốc gia khác, phần đông không ai biết xuất xứ từ hầm mỏ nào.(*)

Không phải chỉ có người Phi Châu mới là những nô lệ đào mỏ. Có những nô lệ của các nơi trên thế giới cũng được đưa tới đây làm phu đào mỏ này. Họ được những chủ nhân ông thu thập từ các nơi đến, và ở đây họ tự tạo ra một ngôn ngữ riêng để những phu mỏ hiểu nhau. (*)

Phu Đào Mỏ Kim Cương hay Vàng ở Phi Châu, em trong hình 11 tuổi.

(Hình trên net) 

Neilson Mandela

Phi châu nghèo và bị những người da trắng đến cai trị quá lâu, nên họ đã có những anh hùng đứng lên tranh đấu. Đó là Bishop Tutu và Neilson Mandela. Hai người anh hùng này đã cùng được trao giải Nobel Hòa Bình.

Chúng tôi được đi thăm hai ngôi nhà của Neilson Mandela. Một ngôi ở khu da đen trước khi ông làm cách mạng và bị tù. Một ngôi nhà ở khu da trắng giầu có sau khi ông làm Tổng Thống. Trước cửa ngôi nhà sau này, dân chúng làm những mảnh vườn nhỏ, trồng những cây cọ thấp. Nơi đó ai muốn viết những lời trò truyện, lời cám ơn cho ông thì viết lên một viên đá cuội đặt xuống chung quanh cây cọ.

Tú và Trâm ngồi trước nhà Mandela

Nam Phi còn biết bao nhiêu điều chưa nói hết trên những trang giấy hạn hẹp này.Tôi ra về trên chuyến bay dài, chập chùng mây, chập chùng biển.

Cái thân nhỏ bé bềnh bồng nhớ đến những căn nhà ở gần bãi biển giá năm, mười triệu, nhớ những khu phố của người giầu, phần lớn thuộc về người da trắng. Nhớ đến khu ổ chuột của người da đen, những cái thùng, cái hộp quây bằng thép gỉ được gọi là nhà, những đôi mắt đen nhánh ngây thơ của các em bé, đôi mắt buồn bã của những thanh niên ngoài chợ trời.

Nhớ đến những điều được nghe, được đọc, được nhìn về một Nam Phi Châu:

Những bệnh viện cho dân nghèo ở Nam Phi luôn luôn bị quá tải vì quá nhiều bệnh nhân so với khả năng. Cả nước có tới 5 triệu người đang sống với HIV/AIDS.

Nghĩa là mười người thì có hơn một người nhiễm bệnh (more than one in ten). Đã có 3 triệu người chết do truyền bệnh sang nhau, phần đông là người lớn nên bỏ con lại thành trẻ mồ côi và tuổi thọ trung bình của dân Phi Châu là dưới 50.

Tình trạng sức khỏe của dân Nam Phi rất kém so với các dân tộc da màu khác hay da trắng. Do đó tỷ lệ tử vong rất cao. Tỷ lệ tử vong càng cao theo tỷ lệ thất nghiệp và lạm dụng ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Có 14% Nam Phi da đen bị bệnh so với 2% da màu hoặcchỉ có 0,3 % da trắng và Ấn Độ.

Nam Phi là một trong số các nước trên thế giới, nơi có các bà mẹ và trẻ em tử vong tăng từ năm 1990 bởi HIV/AIDS, (trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 1/3.)

Trong suốt mười hai ngày chúng tôi ở Nam Phi Châu, người hầu hạ phục dịch hoàn toàn là người da đen. Chưa hề nhìn thấy một người da đen nào được ngồi vào bàn ăn có người da trắng đứng hầu. (không biết tôi có thể hy vọng được nhìn thấy cảnh ấy trong một thành phố khác ở Nam Phi?).

Ở đâu thì cũng vậy thôi, nơi nào cũng bất công, cũng phân biệt giữa giầu và nghèo. Nhưng tôi vừa thăm một dân tộc trải qua bao nhiêu thế kỷ vẫn chưa ra khỏi cánh rừng, và dưới một góc nhìn nào đó, vẫn là nô lệ, vẫn phải phục dịch người từ xa tới phần đất của tổ tiên mình.

Có ai đó nói: người Phi Châu với đầu óc đơn sơ chậm chạp họ không tự khai thác được gì ở thiên nhiên ngoài sinh sống với thú rừng. Có lẽ vì thế Thượng Đế đã cho họ những thác nước hùng vĩ, những cánh rừng âm u đầy thú; mỏ kim cương, mỏ vàng như những tặng phẩm, để quyến rũ những con người thông minh hơn, tàn ác hơn đến cai trị họ,và sau hết để quyến rũ du khách mang công việc đến cho họ. Những công việc làm bằng tay chân mà thôi.

Tôi nhắm mắt lại nhớ đến những khuôn mặt ngây thơ của các em bé trong trường Mẫu Giáo Mồ Côi. Tờ báo The Times phát hành ở Botswana- Phi Châu, ra ngày 11 tháng 7 úp trên mặt tôi.

Newborn baby left alone to fight for his life in cold hospital sluice room.

Đó là một em bé da đen. Khi mẹ sanh em (với 26 tuần 5 ngày) không có bác sĩ trong buồng sanh, em cân nặng dưới 1 kilo, y tá cho mẹ ôm em 15 phút, rồi mang em đi, nói là em không sống được. Họ quấn sơ sài trong một tấm chăn, để trong một phòng lạnh lẽo,căn phòng chỉ dùng để rửa thau, chậu của bệnh viện, không có ai săn sóc. Em chết sau khi ra đời được hai tuần. Ba em nói:

“Đứa con trai bé bỏng của tôi là đứa bé phấn đấu, nó muốn sống nhưng người ta đã giết nó.”

Được hỏi tại sao em bị bỏ không săn sóc, bệnh viện trả lời không được săn sóc vì em quá nhẹ kí, trước sau rồi cũng chết.

Ôi Phi Châu! Đến thương về nhớ.

Trần Mộng Tú.

From: TU-PHUNG

Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới?

Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới?

Hôm nay Thứ 4, mời bạn hãy chạy đến Thánh Cả Giu-se xin ngài cầu bầu cho những người đang trong giai đoạn cuối đời được ơn chết lành. Một ngày bình yên nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/01/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới? Vì Chúa Giêsu Kitô là Đấng duy nhất không những đã tỏ cho chúng ta biết bản tính thật của Thiên Chúa, mà còn tỏ ra lý tưởng đích thật của con người. (YouCat, số 60)

SUY NIỆM: – Chúa Giêsu còn hơn là một con người lý tưởng rất nhiều. Ngay cả những người khác thường thì bề ngoài cũng là tội nhân. Do đó, không ai có thể là gương mẫu tuyệt đối cho con người. Còn Chúa Giêsu không có tội lỗi. Thân phận loài người [chẳng] là gì [cả] và [cũng chẳng hiểu được] cái làm cho con người vô cùng đáng yêu theo đúng nghĩa của nó, ta chỉ thấy nơi Chúa Giêsu Kitô mà thôi. [Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời. Ngài là Đấng hoàn thiện. (Mt 5:48)] Người đã gặp mọi thử thách trừ tội lỗi (Dt 4,15), Chúa Giêsu con Thiên Chúa, là một người chính hiệu và có thật. Nơi Người, ta khám phá được Thiên Chúa đã muốn con người thế nào. (YouCat, số 60 t.t)

❦ “Ecce Homo”, Đây là người (Ga 19,5). Philatô dùng những lời đó để giới thiệu Chúa Giêsu đã bị tra tấn hành hạ và đội mũ gai, cho dân chúng.

❦ Chúa đã trở nên người như ta để có thể làm cho ta giống như Người. (Thánh Atanasiô cả, 295-393, giáo phụ)

LẮNG NGHE: Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của mọi tạo vật vì nhờ Người mà mọi vật được tạo thành… tất cả đều được tạo dựng bởi Người và cho Người. (Cl 1:15-16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thật “không thể tuyệt vời hơn”, Chúa đã ban con Chính Con Một Người là mẫu gương đích thực của Tình Yêu Thiên Chúa. Xin cho con biết yêu đúng nghĩa như Chúa Giêsu đã yêu con.

THỰC HÀNH: Kiểm tra lại thái độ của bạn đối với Thầy Giêsu. Thái độ và cách cư xử hằng ngày của bạn có giống như Sư Phụ của mình tí nào không nhỉ?

From: Đỗ Dzũng

Phạm Đoan Trang được trao giải thưởng nhân quyền quốc tế Martin Ennals

Phạm Đoan Trang được trao giải thưởng nhân quyền quốc tế Martin Ennals

Bởi  AdminTD

 Luật Khoa

19-1-2022

Nhà báo vừa bị chính quyền kết án nay lại được quốc tế tôn vinh.

Ngày 19/1/2022, từ Geneva, Thụy Sĩ, ban tổ chức Giải thưởng Martin Ennals dành cho Nhà hoạt động Nhân quyền đã xướng tên Phạm Đoan Trang – nhà báo, nhà hoạt động người Việt Nam vừa bị chính quyền kết án chín năm tù hồi tháng trước.

Phạm Đoan Trang được vinh danh vì các nỗ lực từ những năm 2000 trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin của người dân. Ban tổ chức giải thưởng đặc biệt nhắc đến những sáng kiến truyền thông độc lập của cô, bao gồm Luật Khoa tạp chí và Nhà xuất bản Tự Do. Theo họ, trong một quốc gia chuyên chế như Việt Nam, những tổ chức độc lập này đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người khác cùng lên tiếng vì nhân quyền, và chúng cũng là lý do khiến Đoan Trang trở thành mục tiêu truy đuổi của chính quyền.

Nhà báo Phạm Đoan Trang đã liên tục bị quấy nhiễu trong suốt thời gian hoạt động. Cô bị đánh nhiều lần, dẫn đến những chấn thương lâu dài. Đoan Trang bị bắt vào ngày 7/10/2020, bị giam giữ biệt lập suốt hơn một năm, sau đó bị kết án chín năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. [1] Bản án này bị các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia lên án mạnh mẽ. [2] Hiện tại, Đoan Trang bị giam tại Hà Nội. Cô vẫn không được phép gặp gia đình và không được điều trị y tế trong khi sức khỏe ngày càng giảm sút.

Phạm Đoan Trang bị giải đi sau phiên tòa ngày 14/12/2021. Ảnh: Lê Kiên/ TTXVN

Thay mặt Phạm Đoan Trang phát biểu tại buổi họp báo công bố giải thưởng chiều nay, ông Trịnh Hữu Long, người đồng sáng lập, tổng biên tập Luật Khoa tạp chí nói rằng giải thưởng này khẳng định những việc làm của người cộng sự của mình là đúng đắn.

“Giải thưởng Martin Ennals mà Đoan Trang được nhận hôm nay gửi đi thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng đến chính quyền chuyên chế của Việt Nam, và quan trọng hơn là đến người dân Việt Nam, rằng những gì Trang đã làm là đúng đắn, và cộng đồng quốc tế đứng về phía cô ấy”, Trịnh Hữu Long nói.

“Câu chuyện của Phạm Đoan Trang chính là minh họa cho tình hình nhân quyền tại Việt Nam”, ông nhấn mạnh.

Giải thưởng Martin Ennals được tổ chức hàng năm nhằm ghi nhận nỗ lực của các nhà hoạt động nhân quyền trên thế giới và vận động cho việc bảo vệ họ. Giải thưởng này được thành lập từ năm 1992, đặt tên theo Martin Ennals, nhà hoạt động nhân quyền người Anh từng là Tổng thư ký của Tổ chức Ân xá Quốc tế từ năm 1968 đến năm 1980. Hội đồng chấm giải là một ủy ban độc lập bao gồm đại diện của mười tổ chức nhân quyền uy tín trên thế giới.

Tiến sĩ Daouda Diallo (trái) và Abdul-Hadi Al-Khawaja – hai nhà hoạt động nhân quyền cùng được vinh danh trong giải thưởng Martin Ennals năm 2022. Ảnh: iBurkina.com, Bahrain Center for Human Rights

Cùng nhận giải thưởng năm 2022 với Phạm Đoan Trang là hai nhà lãnh đạo phong trào nhân quyền khác: Tiến sĩ Daouda Diallo đến từ Burkina Faso (một quốc gia ở khu vực Tây Phi) và ông Abdul-Hadi Al-Khawaja đến từ Bahrain (một đảo quốc theo chế độ quân chủ thuộc Vịnh Ba Tư). Cả ba người này đều hoạt động tích cực trong việc thu thập bằng chứng và tư liệu hóa các vụ việc vi phạm nhân quyền.

Theo ban tổ chức, Phạm Đoan Trang, Abdul-Hadi Al-Khawaja và Tiến sĩ Daouda Diallo được nhận giải vì họ đã can đảm đấu tranh bảo vệ các giá trị nhân quyền với chủ trương phi bạo lực, bất chấp rủi ro đến tính mạng. Họ đã lãnh đạo và truyền cảm hứng cho nhiều người, và đều đang ở trong tình trạng cần được bảo vệ khẩn cấp.

Ở Bahrain, ông Al-Khawaja bị kết án chung thân và đã phải ngồi tù đến năm thứ mười, còn Tiến sĩ Diallo thì là mục tiêu của rất nhiều lời đe dọa trong bối cảnh xung đột vũ trang tại Burkina Faso.

Lễ trao giải thưởng dự kiến được tổ chức vào ngày 2/6/2022 tại Geneva, Thụy Sĩ. Mỗi người được giải sẽ nhận số tiền thưởng từ 20.000-30.000 Francs Thụy Sĩ (tương đương khoảng 500–750 triệu đồng). Mạng lưới của giải thưởng Martin Ennals cũng sẽ tổ chức nhiều hoạt động quảng bá và vận động ở tầm quốc tế cho những nhà hoạt động nhân quyền được vinh danh.

_____

*Ghi chú:

  1. Luật Khoa tạp chí (2021, December 14). Tường thuật trực tiếp: Đoan Trang lĩnh 9 năm tù giam. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/2021/12/live-phien-toa-so-tham-vu-an-pham-doan-trang/
  2. BBC News Tiếng Việt. (2021, December 17). Việt Nam kết án nhà hoạt động: LHQ và ngoại giao bốn nước G7 bất bi`nh  https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-59670124

CHỊ DẬU THOÁI VỐN!

CHỊ DẬU THOÁI VỐN!

Nghe tiếng chó sủa, Nghị Quế nhìn ra thấy chị Dậu tay cắp rổ Chó con, tay đẩy cổng bước vào.

Nghị vội bước ra sân, quát:

– Mày đến đây làm gì, hả con mụ Dậu kia?

Chị Dậu khép nép để rổ Chó xuống đất, lí nhí:

– Dạ bẩm ông! Nhà con hết gạo nên con đem mấy con chó này đến đây xin thoái vốn ạ!

– Thoái vốn là sao?

– Dạ, ông đưa tiền cho con rồi lấy mấy con chó này ạ.

– Đệch bố! Mày đến đây bán chó thì nói bán chó mẹ nó đi! Bày đặt thoái vốn với thu hồi vốn!

– Ậy, ậy… dạ, con sợ nói bán thì chính quyền nhân dân họ bắt bỏ tù đấy ạ.

– Mày láo! Bán chó thì chính quyền nào bắt bỏ tù?

– Dạ, con thấy ở thiên đường này chỉ có người mua là không bị gì, còn người bán đều bị xử tù hết đấy ông ơi!

Nghị Quế nổi giận chỉ tay vào mặt chị Dậu quát:

– Con Dậu kia! Mày vu khống chính quyền nhân dân chúng tao à?

… Mua bán phi pháp đều phạm tội đồng lõa như nhau, tại sao chính quyền của ông chỉ bắt người bán mà tha cho người mua, hử …?…

– Dạ con thấy chính quyền ông chỉ bắt người bán dâm, bán ma túy, bán bằng đại học…. chớ có bắt mấy người mua mấy thứ ấy đâu? Có khi chính quyền còn đưa họ vào diện bí mật quốc gia, chứ chưa ai được biết danh tính mấy ngài mua dâm ngàn đô, mua bằng đại học… hết ạ. Bởi, con sợ vậy nên mới nói thoái vốn thay vì bán chó!

Nghị Quế lúng túng vì câu hỏi của chị Dậu nhưng vẫn lên giọng:

– Chính quyền của ông là chính quyền chuyên chính! Bán thì nói bán, việc quái gì phải sợ thằng Tây nào!

– Dạ, chính quyền ông chuyên chính thế sao bán rừng ông hô chuyển đổi mục đích sử dụng? Bán cảng biển, bán đất ông hô chuyển quyền sử dụng? Bán công ty bia SG, bán tập đoàn sữa Vinamilk… ông hô thoái vốn? Bán hãng xưởng, bán xe công… ông gọi thanh lý ??

Nghị Quế mặt đỏ gay đập bàn thét lớn:

– Á, Á…. Mày đến đây bán chó hay chất vấn ông hả con Dậu kia? Lính lệ đâu, lôi cổ nó ra nọc…….

(Sưu tầm…bậy…)

 Thân mến

TQĐ

   From: Truong Le

LẮNG NGHE LINH HỒN CỦA CHÚNG TA

LẮNG NGHE LINH HỒN CỦA CHÚNG TA

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong thời Thế chiến Thứ hai, khi Phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp, một nhóm thần học gia Dòng Tên đã phản đối việc chiếm đóng bằng cách xuất bản một tờ báo ngầm, Tập sách Chứng từ Kitô (Cahiers du Temoignage Chretien), với dòng mở đầu bất hủ trên số báo đầu tiên: “Nước Pháp, cẩn thận đừng để mất linh hồn mình.”  Chuyện đó làm cho tôi nhớ lại một câu của linh mục Hans Kolvenbach, cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Tên.  Nói về toàn cầu hóa, cha cho rằng một trong những điều cha sợ nhất về toàn cầu hóa, chính là sự toàn cầu hóa sự tầm thường.  Một cảnh báo quá đúng!

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tầm thường hóa linh hồn trong nền văn hóa.  Bây giờ không còn mấy chuyện siêu nhiên nữa, nghĩa là còn ít chuyện liên quan đến linh hồn.  Những chuyện từng mang ý nghĩa thâm sâu, bây giờ lại liên quan đến những thứ bình thường hơn.  Như tình dục chẳng hạn.  Nền văn hóa này (trừ một vài giáo hội lẻ loi đứng ngoài xu thế) ngày càng tin rằng tình dục phải không liên quan đến linh hồn, trừ khi chúng ta muốn nó như thế và cho nó một ý nghĩa như thế.  Ví dụ gần đây, trong một tranh luận, tôi nghe có người giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng về luân lý trong việc một giáo sư ngủ với sinh viên của mình bằng lập luận: có gì khác nhau giữa chuyện này với chuyện một giáo sư chơi quần vợt với sinh viên của mình chứ?  Vậy quan điểm của người đó là gì?  Tình dục không cần phải đặc biệt trừ khi chúng ta muốn nó đặc biệt.  Có gì khiến làm tình khác với một trận quần vợt?

Chỉ có những người ngây thơ đến độ nguy hiểm mới không thấy sự khác biệt quá lớn về mặt linh hồn ở đây.  Một trận quần vợt không chạm đến chiều sâu của linh hồn.  Nhưng tình dục thì có, và nó là như thế không chỉ bởi một số giáo hội nói như thế.  Chúng ta thấy rõ chuyện này khi nó bị xâm phạm.  Freud từng nói, chúng ta hiểu rõ nhất cái gì đó khi nó vỡ.  Ông nói đúng, và trong chuyện này, không gì thể hiện rõ hơn tác hại của bạo lực và lạm dụng tình dục lên người khác.  Khi tình dục sai trái, thì có sự xâm phạm linh hồn quá lớn so với một trận quần vợt.  Thậm chí nếu các giáo hội không khẳng định như vậy, thì tình dục vẫn là chuyện của linh hồn.  Bởi vì nó liên kết với linh hồn theo những cách mà trận quần vợt không thể làm được.  Mỉa mai thay, khi nền văn hóa này đang tầm thường hóa quan điểm truyền thống của xã hội về tình dục vốn xem nó liên quan đến linh hồn, thì những chuyên gia chữa trị tổn thương về tình dục lại thấy rõ hơn bao giờ hết sự khác biệt không thể so sánh nổi về mặt linh hồn, giữa chuyện bị lạm dụng tình dục với một trận quần vợt.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ đang tầm thường hóa chuyện của linh hồn, mà còn chật vật trong việc lắng nghe linh hồn.  Một điều đáng chú ý là thời nay, lời cảnh báo này không phải đến từ các giáo hội cho bằng đến từ các triết gia theo thuyết bất khả tri, và những nhà phân tích tâm lý theo trường phái Jung.  Ví dụ như, nét chủ đạo trong những bài viết của James Hillman, triết gia theo thuyết bất khả tri về linh hồn, nói rằng nhiệm vụ của cuộc sống là sống trong cảm xúc sâu đậm của linh hồn và chúng ta chỉ có thể sống được khi lắng nghe linh hồn của mình.  Và ông thừa nhận, có rất nhiều thứ đang lâm nguy.  Trong quyển sách Tự tử và Linh hồn (Suicide and the Soul), ông cho rằng đôi khi trong chuyện tự tử, linh hồn không thể kêu thấu ai, nên cuối cùng đã giết đi thân xác.

Tâm lý chiều sâu cũng có những cái nhìn tương tự và cho rằng sự hiện diện của một số triệu chứng nhất định như trầm cảm, lo âu quá độ, rối loạn mặc cảm tội lỗi và nhu cầu cần tự chữa cho mình thường là tiếng kêu của linh hồn muốn được lắng nghe.  Tiến sĩ tâm lý theo trường phái Jung, James Hollis, cho rằng đôi khi chúng ta có những ác mộng là bởi linh hồn đang giận dữ với chúng ta, ông còn nói rằng, khi thấy những triệu chứng đó, chúng ta cần tự hỏi: “Linh hồn muốn gì nơi tôi?”

Thật sự, linh hồn muốn gì nơi chúng ta?  Linh hồn muốn nhiều thứ, dù về bản chất quy về ba điều này: được bảo vệ, được tôn kính, và được lắng nghe.

Trước hết, linh hồn cần được bảo vệ khỏi sự xâm phạm và tầm thường hóa.  Những gì nằm ở nơi thâm sâu nhất của chúng ta, ở trọng tâm linh hồn chúng ta, là điều mà Thomas Merton từng mô tả là điểm trinh nguyên.  Tất cả những gì thiêng liêng nhất, dịu dàng nhất, chân thật nhất và yếu đuối nhất nơi chúng ta trú ở đó, và dù linh hồn chúng ta liên tục xin bảo vệ, nhưng linh hồn không thể tự bảo vệ chính mình.  Linh hồn cần chúng ta bảo vệ điểm trinh nguyên đó.

Thứ hai, linh hồn cần được tôn kính, cần chúng ta tôn trọng sự thiêng liêng của nó và nhìn nhận chiều sâu của nó.  Linh hồn cứu rỗi là “bụi gai đang cháy” mà chúng ta cần cởi giày khi đến gần.  Đánh mất sự tôn kính đó chính là tầm thường hóa chiều sâu của chính mình.

Cuối cùng, linh hồn cần được lắng nghe.  Tiếng kêu, sự kháng cự của linh hồn và những giấc mơ mà linh hồn cho chúng ta trong giấc ngủ, là những điều mà chúng ta phải lắng nghe.  Hơn nữa, linh hồn cần được lắng nghe không chỉ trong những lúc hăng hái mà còn trong những lúc nặng nề, buồn sầu, giận dữ.  Cũng thế, chúng ta cần phải lắng nghe cả yêu cầu được bảo vệ của linh hồn và thách thức của linh hồn muốn chúng ta mạo hiểm.

Linh hồn là điều quý báu xứng đáng để chúng ta bảo vệ.  Linh hồn là tiếng nói thâm sâu nhất trong chúng ta, nói lên những gì quan trọng nhất và đánh động nhất trong đời chúng ta, và chúng ta cần luôn mãi để ý đến lời cảnh báo này: cẩn thận đừng để mất linh hồn mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

Trong hơn 2000 năm, người Do Thái ly biệt quê hương và tản mạn đi khắp mọi khu vực của trái đất.

Mãi đến năm 1947, khi chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, người Do Thái mới trở về đất nước của mình.

Nhưng mà, là một dân tộc dù phải lang bạt hơn 2000 năm, nhưng Do Thái lại là dân tộc “độc nhất vô nhị” không có người ăn mày.

Người Do Thái cho rằng: Giáo viên vĩ đại hơn cả quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên.

Dựa vào học tập, tri thức và sách, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.

Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế.

Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.

Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”.

Talmud cho rằng:

“Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục.”

Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.

“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”.

Như thế nào là tri thức?

Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật.

Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.

Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì?

Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.

Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét.

Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ!

Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!

Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới.

Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.

Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là:

– “Hôm nay con làm bài thế nào?”

Còn người Do Thái sẽ hỏi con:

– “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không?

– “Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”

Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.

Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng và mở.

Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái. Talmud là kinh thánh chuẩn.

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6 công nguyên, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm.

Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.

Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái là dân tộc thành công nhất về giáo dục.

Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy.

Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.

Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách.

Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.

Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ.

Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.

Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17.7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.

Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới không có ăn mày.

Hãy dạy con cái làm người trước khi dạy chúng cách kiếm tiền.

Gia Nguyễn chia sẻ từ Quý Mão

Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người?

Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người?

Chuẩn bị mở cửa để Cọp vào nhà chưa? Chúc bạn một ngày an lành trong Chúa và Mẹ yêu nhé.

Cha Vuong

Thứ 3: 18/01/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người? Thiên Chúa dựng nên tất cả là vì con người, con người là “tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ” (Gaudium et Spes 24,3), Người dựng nên họ để họ được hạnh phúc nếu họ nhận biết, yêu mến, phục vụ Thiên Chúa, sống trong niềm biết ơn Đấng dựng nên mình. (YouCat, số 59)

SUY NIỆM: Lòng biết ơn là ghi nhớ về tình yêu của Thiên Chúa. Người biết ơn thì tự nguyện quay về với người ban ơn và đi vào trong hiệp thông mới và sâu sắc hơn với người ban ơn. Thiên Chúa muốn ta ghi nhớ tình yêu của Người, và ngay bây giờ ta sống đời ta trong hiệp thông với Thiên Chúa, mãi mãi (YouCat, số 59 t.t)

❦ Nếu lời kinh duy nhất của đời bạn cốt tại thưa rằng: “Con xin cám ơn Chúa” chắc như thế là đủ rồi. (Maître Eckhart)

❦ Việc cám ơn được nâng đỡ bởi đức tin có thể đi sâu vào cả những gì là nặng nhọc đau buồn và chừng nào được như vậy thì mọi sự có thể biến đổi. (Romano Guardini)

❦ Lòng biết ơn là ký ức của tâm hồn. (Thánh nữ Mary Euphrasia Pelletier)

❦ Chúa Giêsu không đòi hỏi chúng ta những hành động lớn lao, nhưng chỉ đơn giản là phó thác và biết ơn. (Thánh nữ Têrêsa Lisieux)

LẮNG NGHE: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. (Cl 1:15-16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh Chúa, có xác có hồn, xin cho con luôn biết yêu mến và trung thành tuân giữ luật Chúa là con đường đưa đến hạnh phúc thật.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Cám Ơn

From: Đỗ Dzũng

Trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành

 Van Pham

On Cố Tri Tân – Đọc để thấy chính sách, đường lối của Việt cộng đến nay cũng không khác gì trước 1975 tại Miền Nam VN. Hiện nay tình cảnh các Cộng đồng NVTD NSW & VIC cũng y hệt cảnh đấu tranh, xuống đường 1965-1966 và Tổng nổi dậy Tất Mậu Thân 1968.

Và cũng kỷ niệm 52 năm tắm máu kinh hoàng tại Cố Đô Huế…

***

LÊ VĂN HẢO, THÍCH ĐÔN HẬU, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN & NGUYỄN ĐẮC XUÂN – 5 NHÂN VẬT CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC LỊCH SỬ & TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ TỘI ÁC CHIẾN TRANH & TỘI ÁC DIỆT CHỦNG”

(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành)

Khoảng 6 giờ sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, sương mù tan dần, trời trở lạnh và thấp, Huế bật khóc trong nghẹn ngào tủi hận, khi nhìn về phía Kỳ Đài Phú Văn Lâu lá quốc kỳ VNCH không còn nữa, thay vào đó là một lá cờ gồm 3 phần: xanh, đỏ, xanh ở giữa nền đỏ có ngôi sao vàng. Đó chính là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Phần đông đồng bào Huế cứ ngỡ đó là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng không phải vậy. Cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ có hai phần: xanh và đỏ, giữa có ngôi sao vàng.

Lá cờ treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu trong suốt 24 ngày gây chết chóc đau thương tột cùng cho đồng bào Huế là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Người Huế sau hai mươi sáu ngày ngập trong đau thương, trong kinh hoàng bởi ngọn cờ “xanh, đỏ, xanh và ngôi sao vàng chính giữa” họ đã hỏi nhau:

a- Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

b- Khai sinh ra lúc nào? Mục đích gì?

c- Tại sao phục vụ dưới ngọn cờ này toàn là cán binh Việt cộng và đám nằm vùng?

d- Tại sao những những kẻ đã từng tham gia trong vụ phản loạn của Thích Trí Quang và Đôn Hậu vào 6/1966 đào thoát lên mật khu theo Việt cộng nay đều có mặt trong tổ chức này?

e- Tại sao lại giết hại đồng bào Huế nhiều như vậy?

Lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

Theo tài liệu giải mật:

– Tháng 5 năm 1967 Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Bộ Chính trị Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam để đánh giá tình hình, dự thảo chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

– Tháng 6 năm 1967 Bộ Chính Trị lại được triệu tập lần thứ 2 để bàn bạc kỹ lưỡng hơn dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

– Tháng 10 năm 1967 Bộ Chính Trị triệu tập phiên họp lần thứ 3 từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1967, trong năm ngày, thay mặt Quân Ủy Trung ương Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo kế hoạch Đông-Xuân-Hè 1967-1968:

Thực hiện một cuộc đột kích chiến lược bất ngờ và mãnh liệt nhất, bằng cả hai lực lượng vũ trang và chính trị, tức là “Tổng Công Kich-Tổng Nổi Dậy”. Và Bộ chính trị quyết định thời gian mở cuộc “tổng tấn công và tổng nổi dậy” là vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

– Ngày 28 tháng 12 năm 1967 Bộ chính trị triệu tập phiên họp đặc biệt dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung Ương đảng, chính thức thông qua kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy.

– Tháng 1 năm 1968 Ban chấp hành Trung Ương đảng họp lần thứ 14 tại Hà Nội thông qua nghị quyết tháng 12/1967 của Bộ Chính trị, quyết định: “Tổng Công Kích và Tổng Khởi Nghĩa” tại miền Nam Việt Nam.

Riêng về lực lượng để tổng khởi nghĩa đó là kết hợp quần chúng nông thôn và đô thị thành một lực lượng to lớn để tổng nổi dậy. Do đó Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình ra đời.

Đây là lực lượng chủ lực và nòng cốt cho kế hoạch Tổng Khởi Nghĩa của Hồ chí Minh và của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam tại Huế.

Vào ngày 21 tháng 1 năm 1968, Bộ Chính trị đã gởi một mật điện cho Phạm Hùng Trung Ương Cục Miền Nam, Võ Chí Công Khu Ủy Khu 5 và Tướng Trần Văn Quang, Khu Ủy Trị Thiên quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập một mặt trận chính trị thứ hai sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấy tên là:

“Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình” nhằm phân hóa địch đến mức cao nhất, tranh thủ và tập hợp thêm những lực lượng những cá nhân chống Mỹ và Thiệu-Kỳ. Tranh thủ các tầng lớp trung gian ở đô thị, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi ở nước ngoài.

Riêng tại Cố Đô Huế Thiếu Tướng VC Trần Văn Quang Khu Ủy Trị Thiên giao cho Chính Ủy Lê Chưởng, sau này là Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, thi hành lệnh của Bộ Chính Trị thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình tại Huế.

Lê Chưởng phối hợp cùng Hoàng Kim Loan, và Hoàng Lanh, hai cán bộ Thành Ủy Huế, chịu trách nhiệm phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy”, gấp rút thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình trước thời điểm tấn công Huế để kịp thời trình diễn với đồng bào quốc nội cũng như tuyên truyền với quốc tế rằng: Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là một lực lượng tự phát của dân chúng miền Nam, được kết hợp bởi mọi thành phần yêu nước trong quần chúng và tôn giáo. Họ vùng lên “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” giành lại chính quyền trong tay Ngụy Quân, Ngụy Quyền, bè lũ tay sai, và Đế quốc Mỹ xâm lược ác ôn. Ngoài ra lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình còn có nhiệm vụ:

“Lùng, diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ‘Ngụy’, các thành phần làm tay sai cho tình báo CIA.”

Những thành phần nòng cốt được tuyển chọn đặt vào những chức vụ chủ chốt và quan trọng trong tổ chức Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ tại Huế gồm:

Chủ Tịch: Lê Văn Hảo.

Giáo Sư Nhân Chủng Học Trường Đại Học Huế. Lê Văn Hảo sinh quán tại Huế. Du học tại Pháp. Về nước vào năm 1965. Giáo sư của Đại học Sài Gòn và Đại học Huế về môn nhân chủng học.

Lê Văn Hảo hoạt động trong Tổ Trí Vận của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Ngô Kha, Hoàng Văn Giàu, và Tôn Thất Hanh. Y tham gia phong trào nổi loạn vào năm 1966 của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu tại Miền Trung-Huế.

Vụ phản loạn của Thích Trí Quang thất bại, Lê Văn Hảo bị lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi bắt giữ. Chúng tôi đang thẩm vấn y để truy lùng bắt đám trí vận nội thành thì ông Trưởng Ty Đoàn Công Lập ký giấy trả tự do cho y. Tôi trực tiếp phản đối chuyện này với ông Đoàn Công Lập, nhưng vô hiệu. Ông là Trưởng Ty, là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Ông ta có toàn quyền, đủ tư cách pháp lý pháp nhân, bắt ai, thả ai là quyền của ông ta. Và ông ta đã sử dụng quyền này để thả tù nhân Cộng sản ra, tôi biết làm sao hơn?

(1967 chúng tôi tình nghi ông Đoàn Công Lập làm nội tuyến. Sau Mậu Thân Đoàn Công Lập bị bắt. 1972 điệp viên VC Hoàng Kim Loan xác nhận y là cán bộ điều khiển Đoàn Công Lập. Sẽ nói rõ trong phần sau).

Gần cuối tháng 12/1967 trước trận đánh Mậu Thân, Hoàng Kim Loan đã chuyển Lê Văn Hảo lên mật khu học tập và nhận chỉ thị thi hành kế hoạch Mậu Thân để “tổng nổi dậy”, đồng thời nhận chức Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Theo màn kịch cướp chính quyền này của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Văn Hảo được đề cử kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Nhân Cách Mạng thành phố Huế kể từ sáng Mùng 2 Tết Mậu Thân.

Phó Chủ Tịch: Thích Đôn Hậu, Chánh đại diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.

Thích Đôn Hậu là cơ sở Tôn Giáo Vận được tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan tổ chức hoạt động cho Cộng sản từ trước 1963.

(Xin đọc phần sau: “Sự thật về Thích Đôn Hậu”).

Tổng Thư Ký: Giáo Sư Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nguyên quán tại làng Bích Khê, Huyện Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị. Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, là hậu duệ của Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng, đời Vua Tự Đức.

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Giáo sư Việt Văn trường Quốc Học, hoạt động trong tổ chức trí thức vận của Khu Ủy 5, và sau đó trực thuộc cơ quan Thành ủy Huế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường tham dự hầu hết các vụ rối loạn tại Miền Trung. Với danh nghĩa là thành phần trí thức, y hoạt động kết hợp với tổ chức Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng Thành phố Huế.

Từ cuộc tranh đấu của Phật Giáo Ấn Quang vào năm 1963, do hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí Quang và Đôn Hậu cầm đầu, đến vụ khởi loạn tại Miền Trung vào năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường đều có mặt bên cạnh Trí Quang và Đôn Hậu, theo chỉ thị của Khu Ủy Khu 5 và tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan. Cũng như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những thành phần tin cậy, là cánh tay mặt của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu trong lực lượng học sinh, sinh viên và trí thức, lực lượng chủ lực của Đôn Hậu và Trí Quang trong các cuộc tranh đấu lên đường xuống đường gây rối loạn tại miền trung, Huế.

Sau cuộc đảo chánh phản loạn 1963 lật đổ nền đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và hai bào đệ là ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn bị thảm sát, thì tại Huế hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí Quang và Đôn Hậu là hai tay quyền lực nhất nước, và chùa Từ Đàm mới thực là Dinh Độc Lập. Đám Việt cộng mặc lớp áo trí thức, sinh viên thuộc Đại Học Huế là những công thần của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, đã trở thành những kiêu binh nắm quyền sinh sát chính trị.

Kết quả lực lượng an ninh tình báo VNCH đã bị tên Việt cộng Trí Quang và Cục Tình Báo Chiến Lược Bắc Việt đánh tơi tả. Vì thế đám Việt cộng nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường mặc sức tung hoành chẳng ai dám đụng tới. Điển hình là từ 1964 tại Đại học Huế có hai tờ báo của Việt cộng ngang nhiên hoạt động. 4

Tờ báo thứ nhất của nhóm trí thức thiên tả tại Đại Học Huế đó là tờ “Lập Trường” do Giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chủ trương của nhóm Lập Trường là chống lại tất cả các nội các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Sáu nội các chính phủ sau chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều bị dán nhãn là “Chính quyền Diệm mà không Diệm”. Chiêu bài này cũng còn được sử dụng tiếp tục và dài dài sau đó, ngay cả đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Thậm chí bọn Cộng sản nằm vùng và tay sai còn sử dụng chiêu bài này ngay tại hải ngoại hiện nay).

Ngoài ra Giáo sư tiến sĩ Cao Huy Thuần bút hiệu là Ba Cao mở mục “Chén Thuốc Đắng” để thường xuyên tuyên truyền vu khống bôi xấu tấn công các cấp lãnh đạo và chính quyền Miền Nam Việt Nam là ác quỷ đàn áp dân chúng sinh viên học sinh.

Tờ báo thứ hai xuất phát từ Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế với tên gọi là “Sinh Viên Huế” thực chất là của “Lực Lượng Học sinh, Sinh viên Giải Phóng Thành phố Huế”, và Hoàng Phủ Ngọc Tường, người của Khu ủy Khu 5, giữ chức Tổng Thư Ký Tòa Soạn. Ban biên tập “Sinh Viên Huế” gồm nhiều “sinh viên” hoạt động cho cơ quan Thành Ủy Huế. Đặc biệt có Phan Duy Nhân, sinh viên Đại học Luật Khoa Huế, với bút hiệu Thiết Sử. Phan Duy Nhân là một tên Việt cộng nằm vùng loại rất nguy hiểm. Mọi cuộc lên đường xuống đường của Trí Quang và Đôn Hậu, Phan Duy Nhân đều tham gia tổ chức. Lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi đã bắt và giam y tại Côn Sơn 1968-1975.

Trước đây khi chúng tôi bắt những tên Việt cộng giả dạng “đối lập” tổ chức những đám biểu tình phủ màu sắc áo cà sa nhân danh tôn giáo,  nhân danh sinh viên học sinh thì liền bị quy chụp là Cảnh Sát Quốc Gia và bè lũ Mỹ Ngụy ác ôn đàn áp sinh viên học sinh, đàn áp đối lập đàn áp tôn giáo!

Sự thật ở đâu?

Sau tháng 4/1975, những “đối lập” này hiện nguyên hình là Việt cộng nằm vùng! Chính chúng trá hình là lãnh tụ đối lập để phá nát chính quyền VNCH. Nếu chúng tự xưng là MTGPMN hoặc là Việt cộng thì có ai nghe chúng? Quả thật bảo vệ lý tưởng quốc gia tại mặt trận là điều khó, nhưng bắt giam Việt cộng nằm vùng ở hậu phương là một mặt trận lại càng khó hơn. Các anh chị em CSQG luôn phải chịu đựng bị chụp mũ, bị bôi nhọ thóa mạ, thậm chí có thể bị trù dập bởi những người cùng chung chiến tuyến.

Thí dụ, sau tháng 4 năm 1975 cựu “sinh viên đối lập” thực chất là nội tuyến Phan Duy Nhân có tên mới là Nguyễn Chính, chức vụ Trưởng Ban Tôn Giáo trong Mặt Trận Tổ Quốc, ngạch trật tương đương với cấp thứ trưởng trong chính phủ Cộng sản Việt Nam! Thích Đôn Hậu sau 1975 là Đại Biểu Quốc Hội nhiều khóa, Thích Như Ý và Thích Thiện Siêu sau 1975 cũng là Đại Biểu Quốc Hội, thành viên Mặt Trận Tổ Quốc. Trước đây khi lực lượng CSQG đến chùa Trà Am bắt hắn thì bị Phật tử biểu tình rầm rộ buộc thả hắn ra, còn cá nhân tôi thì suýt bị Thiếu Tướng Trần Thanh Phong bắt và cách chức.

Song song với công tác tờ báo Sinh Viên Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tham gia trong nhóm sinh viên chủ chốt của phong trào tranh đấu phản loạn miền trung của Trí Quang, Đôn Hậu. Nhóm sinh viên này gồm có: Nguyễn Hữu Ngô, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Quang Long, Ngô Kha, Lê Văn Sâm (Sinh viên Luật Khoa, không phải là Lê văn Sâm sinh viên Văn Khoa).

Vào khoảng đầu tháng 9/1964 thì nhóm sinh viên nằm vùng này thành lập quán café “Quán Bạn” ở đường Đào Duy Từ. Chủ quán là sinh viên Lê Văn Sâm, nữ văn sĩ Túy Hồng phụ trách giao tế.

Khi ông Tướng Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến Chương Vũng Tàu”, thì tại Huế do chỉ thị của Khu ủy Khu 5 và tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang, Hoàng Phủ Ngọc Tường thành lập Lực Lượng Giáo Chức Tranh Đấu Huế. Y làm chủ tịch lực lượng này. Đồng thời y cho ra đời tờ báo “Báo Dân”. Tất cả thành phần trong “Quán Bạn” là những cây viết chủ lực của tờ Báo Dân.

Vào đầu năm 1966 theo chỉ thị của Khu ủy Khu 5, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan cho ra mắt tại Huế tờ báo “Việt Nam Việt Nam” công khai chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chống chiến tranh xâm lược Mỹ, nhằm hỗ trợ tích cực và mạnh mẽ cho hai tên cán bộ Việt cộng Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu đang phát động cuộc phản loạn của bọn chúng tại miền trung, nhằm thực hiện mưu đồ cắt miền trung từ đèo Hải Vân ra đến Tỉnh Quảng Trị, biến vùng này thành vùng trái độn.

Điều đáng lưu ý là nhóm chủ biên các tờ báo này toàn là những cơ sở nằm vùng của Khu Ủy Khu 5, của ban Trí Vận Thành ủy Huế, gọi chung là cán bộ của phong trào đô thị. Bọn chúng gồm có:

Lê Văn Hảo: Giáo sư Đại Học Huế. Lê văn Hảo cầm đầu nhóm chủ biên và để bảo mật. Lê Văn Hảo đã dùng phòng riêng của y để in báo.

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nguyễn Khắc Túy tức Nguyễn Đắc Xuân

Hoàng Phủ Ngọc Phan

Lê Thanh Xuân

Hà Trung Tiến tức Hoàng Hữu Pha

Lê Tử Thành tức Trường Thành

Nguyễn Kim Sơn tức Lê Trường Sơn

Trần Hoàng Phong tức Trần Quang Long.

Nguyễn Thị Tố Liên: Xướng ngôn viên đài phát thanh Cứu Nguy Phật Giáo thuộc lực lượng phản loạn 6/1966 của tên Việt cộng nằm vùng Thích Trí Quang.

Đinh Cường: Họa sĩ, bí danh Các Hồng.

Số báo “Việt Nam Việt Nam” mang số 1 phát hành đúng vào thời gian cao điểm cuộc phản loạn của Trí Quang và Đôn Hậu vào 1966. Cũng phải nói đến giáo sư Bửu và Thái Ngọc San là 2 tay liên lạc đem báo từ Huế vào Sài Gòn, Quy Nhơn.

Tờ “Việt Nam Việt Nam” số thứ 2 đang sửa soạn phát hành thì toàn bộ bọn chúng bị lực lượng CSĐB của chúng tôi bổ vây truy bắt. Khu Ủy Khu 5 liền chỉ thị cho cơ quan Trí Vận thành ủy Huế gấp rút đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và một số khác chạy trốn. Điệp viên Hoàng Kim Loan cấp tốc gởi giao liên đến đưa bọn này lên mật khu.

Còn nhớ đêm cuối cùng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan ăn cơm tối tại nhà Trịnh Công Sơn sau đó giao liên là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm và tài xế là Lê Cảnh Đạm, Tổng Thư Ký trường Đại Học Y Khoa Huế, dùng xe hơi của Bà Tuần Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến, một cơ sở trí vận của Thành Ủy Huế. Y thị cũng là người tình của Thích Đôn Hậu.

Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm đến nhà Trịnh Công Sơn chở Tường, Phan lên Chùa Linh Mụ của Thích Đôn Hậu, sau đó chúng đi qua ngả Long Hồ, Ngọc Hồ, vuợt nguồn hữu lên mật khu tại vùng sau lưng núi Kim Phụng hay thường gọi là núi Chuối thuộc quận Nam Hòa, đó là nơi cơ quan Tỉnh Ủy Thừa Thiên Việt cộng trú đóng.

Năm 2009, khi tôi công bố chi tiết này trong bài viết về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng thì Hoàng Phủ Ngọc Phan lập tức chối tội của hắn và đồng bọn trong một số các bài viết bằng cách cho rằng chi tiết anh em Hoàng Phủ trốn trong nhà Trịnh Công Sơn là không đúng, rằng anh em chúng trốn ở nhà ông Nguyễn Kim Sơn nào đó hiện nay đang ở Đức? Nhưng đã quá trễ, chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết trong hồi ký của hắn kể lại việc Trịnh Cộng Sơn đã che giấu Phan và Tường trong nhà trong lúc tìm đường chạy trốn khỏi lực lượng CSĐB chúng tôi.

Trước trận “Tổng Công Kích, Tổng Nổi Dậy” Mậu Thân 1968 tại Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường được lệnh của khu Ủy Khu 5 giữ chức Tổng Thư Ký của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, đồng thời trong thời gian cộng quân chiếm Huế, y được giao nhiệm vụ và chức vụ Chủ Tịch Tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu, Gia Hội thuộc Quận II, hay dùng đúng theo danh từ của bọn chúng là Tòa Án Nhân Dân tại “Mặt Trận Cánh Bắc”.

Tại phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân này, y đã ra lệnh chôn sống 204 thường dân vô tội trong đó có xử bắn một số Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Xin nhắc lại, sau này khi các đài truyền thanh, truyền hình và báo chí quốc tế hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường, cụ thể trong: Loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer).

– Tại sao lại phải giết nhiều người như vậy?

Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời:

-“Giết bọn chúng thì cũng như giết những con rắn độc mà thôi”.

Và hãy nghe chính hắn trong đoạn phim năm 1982 thực hiện bởi một đài truyền hình London nói về lý do hắn giết người như sau “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”.

Muốn biết Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt tại trận địa Tết Mậu Thân Huế không và đã giết người thế nào, xin vào link phỏng vấn hắn ta dưới đây để thấy chính miệng hắn chứ không ai khác xác nhận hắn đã có mặt tại Huế, đã thù hận và giết quân cán chính VNCH và dân chúng thế nào. Nay khi chủ nghĩa Cộng sản bị cả thế giới lên án là tội ác của nhân loại thì hắn chối rằng lúc đó hắn đang ở trên rừng?! Rừng nào đây Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Đồng ý dối trá là một đặc tính chung của bọn Cộng sản và tay sai, có tên chối được vì bằng cớ đã bị mất, nhưng đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đã quá trễ, có thể nào hắn chối được những đoạn phim trong link này không?

https://openvault.wgbh.org/…/V_226B408F90EB4A4BA79758A8…

Nguyễn Đắc Xuân: Phụ trách lực lượng học sinh, sinh viên, trí thức, của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Kiêm chức vụ: Đoàn Trưởng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của thành phố Huế, tức Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Đây là lực lượng chủ lực trong vụ tàn sát đồng bào Huế.

Nguyễn Đắc Xuân là một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành Ủy Huế nằm vùng trong giới sinh viên đại học. Trước khi đào thoát lên mật khu vào tháng 7/1966, y là sinh viên năm thứ 2 Đại học Sư phạm ban Việt Hán. Trong suốt thời gian sôi động của cuộc Nổi Loạn Miền Trung do 2 tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo chỉ huy là Thích Đôn Hậu và Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân là tay chân tín cẩn của hai tên này.

Theo lệnh của Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân thành lập Đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử, gồm có 3 đại đội được cấp tốc huấn luyện quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Văn Thánh của Sư Đoàn I BB, đồng thời cũng được Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận Tư lệnh Sư Đoàn I/BB cho phép lấy vũ khí của sư đoàn trang bị cho 3 Đại Đội Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân. Thành tích của Nguyễn Đắc Xuân đối Với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu và với cơ quan Thành Ủy Việt cộng Huế là:

– Chiếm đài phát thanh của chính phủ tại Huế, đổi tên là đài phát thanh “Cứu Nguy Phật Giáo”.

– Đốt tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế vào ngày 29/5/1966.

– Kế tiếp đốt phòng Thông Tin Văn Hóa Hoa Kỳ.

– Chiếm ty CSQG/Thừa Thiên Huế, cướp kho súng, cướp máy móc truyền tin xe cộ của cảnh sát để trang bị cho đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y.

– Đốt nhà của Trung tá Phan Văn Khoa Tỉnh Thị Trưởng Thừa Thiên-Huế tại gần Cống Thủy Quan trên đường Cường Để, thuộc quận Thành Nội, vì Trung tá Tỉnh Thị Trưởng không theo phong trào nổi loạn của bọn chúng.

– Tổ chức các cuộc biểu tình gây hỗn loạn trong thành phố.

– Chỉ huy 3 Đại đội Sinh Viên Quyết Tử đi từng nhà một trong thành phố Huế bắt ép dân chúng tham gia phong trào phản loạn, ai khộng chịu theo thì bị vu khống là người của Thiệu Kỳ, liền bị bọn chúng hăm đọa, hoặc dùng bạo lực khống chế.

– Sau đó Nguyễn Đắc Xuân đưa lực lượng Sinh Viên Phật Tử Quyết tử này vào tăng cường cho Chùa Tinh Hội tại Đà Nẵng. Tại đây y và 3 đại đội Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y đã gây xáo trộn và chết chóc cho dân cư của thành Phố Đà Nẵng không ít.

Vô nghề nghiệp, tên sát nhân Nguyễn Đắc Xuân vào Đại Nội xem một số cổ vật của Hoàng Cung rồi về nhà viết về Triều Nguyễn, từ đó tự phong “Nhà Huế Học”, thực chất hắn rất giỏi về môn “Tắm Máu Mậu Thân Học”, “đồ tể học”.

Đang nghẹn ngào vì Đảng cho thành vật phế thải…?

Khi quân đội và cảnh sát chiếm lại thành phố Đà Nẵng trong tay bọn làm loạn, thì tại một nhà kho của Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng, Đại tá Cảnh Sát Trần Minh Công khi ấy là Trưởng Ty CSQG thị xã Đà Nẵng phát giác một số thây người đã sình thối trong nhà kho chùa. Chính đích thân ông và một số nhân viên cảnh sát của ông đã phải vác những xác chết đó đi chôn cất.

Nguyễn Đắc Xuân và lực lượng Quyết Tử đã gây thiệt hại sinh mệnh và kinh hoàng cho dân Huế và Đà Nẵng vào năm 1966, nay Tết Mậu Thân 1968 cũng chính tên đao thủ này cùng với Đội An Ninh và Bảo Vệ Khu phố của y, phục vụ cuồng nhiệt cho Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập mà Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, Thích Đôn Hậu phó Chủ Tịch, đã tắm máu dân Huế trong suốt 22 ngày, với 5327 người bị chúng giết và bắt dẫn đi mất tích 1200 người.

BẠO LỰC CÁCH MẠNG: 624 GIỜ DÂN HUẾ SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT, CUỘC TẮM MÁU RÙNG RỢN NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM: TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI HUẾ CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Sáu giờ sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968 khi lá cờ sắt máu của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình xuất hiện tại Kỳ Đài Phú Văn Lâu, khi mà 10 ngàn quân Cộng sản gồm chính quy, địa phương, công an, cơ sở nằm vùng đã tràn ngập thành phố Huế, bọn chúng bắt đầu thi hành chỉ thị của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, của Hồ chí Minh, của Lê Duẩn, phát động cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền tại Huế. Lực lượng quân sự vừa kể trên hỗ trợ cho lực lượng chính trị là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, với sự chỉ đạo của các cán bộ Cộng sản thuộc Quân Ủy Trị Thiên, Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế như:

– Lê Chưởng, chính ủy Khu Ủy Trị Thiên và mặt trận Huế.

– Hoàng Phương Thảo, cán bộ thành ủy

– Hoàng Lanh, cán bộ thành ủy

– Phan Nam tức Lương, cán bộ thành ủy

– Tống Hoàng Nguyên, trưởng ban An Ninh Quân Khu Trị Thiên

– Nguyễn Đình Bảy, tự Bảy Lanh trưởng ty Công An Thừa Thiên-Huế

– Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của thành Phố Huế.

Thực chất lực lượng này là đám cơ sở Việt cộng nằm vùng trong mọi giới học sinh, sinh viên, tiểu thương chợ Đông Ba, công chức, cảnh sát, quân nhân v.v. và cũng chính là đám bình mới rượu cũ tranh đấu nổi loạn vào năm 1966 của hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu.

Bọn này vào tháng 6, tháng 7/1966 một số đào thoát lên mật khu, số khác không bị lộ nằm ém lại, nay công khai lộ diện bắt bớ tàn sát dân lành vô tội.

Lực lượng này là đại lực lượng gây chết chóc đau thương nhất cho dân chúng Huế trong suốt 22 ngày. Đây là lực lượng sắt máu số 1, giết người trên căn bản thù hận Quốc-Cộng, bọn chúng say máu người còn hơn là quỷ dữ và luôn chủ trương giết lầm hơn bỏ sót, như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình đã phát biểu qua nhiều cuộc phỏng vấn của giới truyền thông Quốc Tế còn được lưu trữ hiện nay rằng:

“Giết bọn chúng cũng giống như giết những con rắn độc”.

Đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp qua đi, nhưng âm thanh lời nói này vẫn mãi mãi được ghi lại và phát đi trên toàn cầu qua hệ thống internet cho lịch sử, cho người dân Huế nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung phán xét.

Chỉ huy cuộc Tổng Nổi Dậy tại Huế là điệp viên Trung tá Cộng sản Hoàng Kim Loan, Thành ủy viên Thành Ủy Huế.

THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

1- Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên, thị xã Huế.

Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế, hay còn gọi là Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế đã được thành lập theo lệnh bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam trước Tết Mậu Thân, khoảng tháng 12 năm 1967. Thành phần nhân sự của tổ chức này gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị Xã Huế: Giáo sư nhân chủng học Lê Văn Hảo.

Quá khứ hoạt động tích cực cho Bác Đảng như thế, nhưng ê chề thay, sau 1975, nhân một chuyến được mời đi Pháp thuyết trình, Lê Văn Hảo lại đào thoát khỏi thiên đường Cộng sản mà trước đó y đã bỏ biết bao tâm huyết công sức, và dùng bao máu người dân Huế để xây dựng. Mặc dù tang chứng và nhân chứng còn rành rành ra đó, nhưng Lê Văn Hảo vẫn không ngượng miệng chối bỏ quá khứ tội lỗi đã hoạt động Cộng sản rất tích cực, đến nỗi đã được bọn chúng tin cậy giao cho một lần 2 chức vụ quan trọng trong Tết Mậu Thân 1968 đó là Chủ Tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành Phố Huế.

Có lẽ vì xấu hổ với tội lỗi làm Cộng sản cho nên kể từ khi trốn ở lại hải ngoại tại, y thường tiếp xúc với báo chí quốc tế và dối trá rằng:

“Tôi bị ép buộc phải nhận một lần 2 chức quan trọng bọn họ giao cho tôi trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế”

a- Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

b- Chủ tịch ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành phố Huế.

“Khi lực lượng quân sự tràn vào Huế thì trong suốt 26 ngày tôi vẫn ở trên núi xanh, không có mặt ở Huế v.v.”

Thưa ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, trên đời có ai mà “bị” ép buộc phải nhận chức vụ quan trọng bao giờ? Thói thường phải gọi là “được” nhận chức vụ “quan trọng” phải không? Nhất là đối với cách mạng, đây là một đặc ân được ban phát cho những kẻ có thành tích quan trọng, kèm theo là phải được sự tin tưởng rất cao của cấp trên, cớ sao ông lại nói ngược là “bị ép buộc”?

Cựu chủ tịch Ủy Ban Liên Minh, và cựu chủ tịch Ủy Ban Cách Mạng thành phố Huế, xin ông hãy đọc kỹ những dòng chữ dưới đây của người vừa là bạn thân thiết, và vừa là đồng chí của ông Lê Văn Hảo là Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Nhân đây tôi thấy cần nói một điều sòng phẳng về trường hợp anh Lê Văn Hảo. Trước khi thoát ly tham gia kháng chiến hồi Mậu Thân 1968, giáo sư lê văn Hảo dạy Đại Học văn Khoa Huế, là một trí thức yêu nuớc và tiến bộ có quan điểm chống Mỹ rõ ràng, được sinh viên cảm phục. Với tạp chí Việt Nam Việt Nam, dù không trực tiếp tham gia nội dung, nhưng sau khi dọc hết bản thảo, đã đồng ý đứng lên cầm đầu nhóm chủ biên và cho mượn phòng riêng để đảm bảo bí mật trong việc in báo. Còn sau này anh Hảo không kìm chế được những bức xúc cá nhân, đánh mất bản lĩnh của người trí thức chân chính đến nỗi phải phủ nhận đại nghĩa dân tộc mà mình đã lựa chọn, thì đó là điều đáng tiếc cho anh và hoàn toàn bất ngờ đối với tôi”. –(Trích Hoàng phủ Ngọc Tường tuyển tập 3 bút ký- Trang 158 và 159).

Những chi tiết Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ra ở trên hoàn toàn đúng với hồ sơ CSQG Thừa Thiên Huế về những gì Lê Văn Hảo đã làm, như vậy có thể chối tội được nữa không ông giáo sư nhân chủng học, tốt nghiệp tại Pháp, ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản? Thật quá đúng khi lời “Mao Chủ Tịch” vĩ đại của các ông nói về chính các ông: “Giá trị của đám trí thức còn thua giá trị một bãi phân!”

Bọn Cộng sản dùng ông vào hai chức vụ quan trọng trong Mậu Thân 1968 tại Huế để chém giết đồng bào vô tội, để lừa bịp quốc tế rằng “trí thức” Miền Nam tổng nổi dậy, xong việc rồi thì bọn chúng đưa ông về ngồi chơi “thời nước” tại Mặt Trận Tổ Quốc, ông bất mãn nên mới quay đầu lại vừa sủa vừa cắn bọn chúng, luôn thể để chối tội sát nhân của ông trước lịch sử, trước oan hồn của 5327 thường Huế vô tội đã bị quân đội nhân dân, bị ông, Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình mà ông là Chủ Tịch, lực lượng Công An của Đại tá Trưởng Ty Công An, đám An Ninh và Bảo Vệ Khu phố trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên-Huế mà ông làm chủ tịch đã sát hại họ.

Tóm lại, về vấn đề Lê Văn Hảo, chúng ta có thể nói rằng phải chăng vì bị thất sủng bị đá ra khỏi guồng máy quyền lực, cũng như những tên Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ v.v. ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Lê Văn Hảo mới vỡ mộng? Một giấc mộng đã được bọn Tội Đồ Miền Nam này xây trên xương máu người dân Miền Nam và người dân xứ Huế vô tội. Vì giấc mộng kinh tởm này mà những người như Lê Văn Hảo, đám đồ tể Việt cộng Huế và toàn bộ đám “Mặt trận giải phòng Miền Nam” đã phá nát Miền Nam cũng như phá nát chính danh dự bản thân chúng, cho lịch sử đời đời nguyền rủa bọn ngu dốt dã man này.

2- Phó Chủ Tịch: Bà Đào thị Xuân Yến, tức bà Tuần Chi, nguyên hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Đồng Khành Huế.

3- Đồng phó chủ tịch: Hoàng Phương Thảo: Thành ủy viên Thành ủy Huế.

a- Chính quyền Cách mạng Quận I (Quận Thành Nội)

Vào gần trưa ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, Hoàng Kim Loan thành ủy viên Thành Ủy Huế, người phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Huế cùng với một số cán bộ và cơ sở nằm vùng như Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm v.v. tổ chức cuộc mít-tinh có khoảng hơn một trăm người tham dự. Trong cuộc mít-tinh này bọn chúng đưa Nguyễn Hữu Vấn giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ra “bầu” làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I (Quận Thành Nội).

Tưởng cũng cần nói rõ Nguyễn Hữu Vấn là cơ sở trí vận của điệp viên Hoàng Kim Loan. Ngoài ra Nguyễn Hữu Vấn còn là cháu ruột của giáo sư âm nhạc Nguyễn Hữu Ba, một nhạc sĩ nổi tiếng tại đất Thần Kinh.

b- Chính quyền Cách mạng Quận II (Quận Tả Ngạn)

Cũng trong ngày mùng 2 Tết, Phan Luơng cán bộ thành ủy phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Quận II (Quận Tả Ngạn) đã đề cử Nguyễn Thiết bí danh Hoàng Dung lên giữ chức vụ chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng Quận II.

Nguyễn Thiết vượt tuyến vào Nam trong thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa, cùng thời điểm với Nguyễn văn Kim. Nguyễn Thiết sau đó là sinh viên của trường Đại học Luật Khoa Huế. Nguyễn Thiết đã len lỏi trong hàng ngũ Tổng Hội Sinh Viên và nằm trong ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế.

Cũng như Nguyễn văn Kim, y được Tình Báo Chiến Lược Hà Nội bố trí vượt tuyến vào Nam. Nguyễn Thiết hoạt động trong ban Trí Vận của thành ủy Huế, cùng với hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo v.v. tại Đại Học Huế.

Cũng cần nói rõ thêm về Nguyễn Văn Kim:

Nguyễn Văn Kim mà tôi đề cập ở đây chính là Dân Biểu Nguyễn Văn Kim của VNCH, là một trong những nhân vật cao cấp của đảng Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký. Cũng nhờ vào thế lực của Đại Việt Cách Mạng đương sự mới trúng cử dân biểu VNCH. Sau 1975 tại hải ngoại cũng đã có lần Nguyễn Văn Kim định đảo chánh lãnh tụ của mình để nắm quyền chủ động lèo lái đảng Đại Việt Cách Mạng.

Khi Phong trào kháng chiến của phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ra đời, Nguyễn văn Kim đã tham gia phong trào này và cũng nắm giữ một trong những vai trò quan trọng của phong trào. Cái chết của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh theo nhiều tin tức cho thấy Nguyễn Văn Kim cũng có phần trách nhiệm.

Theo hồ sơ văn khố của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, Nguyễn Văn Kim tên thật là Nguyễn Văn Tú, gốc người Nghệ An, vượt tuyến 1954 từ Nghệ An sang Lào. Tại Lào, y được tòa Đại Sứ VNCH nhận lãnh đem về Sài Gòn. Thời gian ở Sài Gòn y học tại trường Trung học Võ Trường Toản, sau đó Nguyễn văn Tú ra Huế học 2 năm cuối cùng của bậc trung học là đệ nhị và đệ nhất tại trường Quốc Học. Nguyễn Văn Tú là học trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sau này Nguyễn Văn Tú đổi tên là Nguyễn Văn Kim.

Tại Huế, Nguyễn Văn Kim vào đạo Công Giáo và được linh mục viện trưởng Viện Đại Học Huế Cao văn Luận nhận làm cha đỡ đầu. Trong suốt thời gian ở Huế, Nguyễn Văn Kim trú ngụ tại nhà thờ Cụ Phan Bội Châu, ở ngã ba Chùa Từ Đàm với ba người cháu nội của Cụ Phan, đó là Phan Thiện Cầu, Phan Thiện Tường, và Phan Thiện Cát là những người đồng hương của Nguyễn Văn Kim.

Điều đáng nói ở đây là trong hồ sơ văn khố của Ty Công An Thừa Thiên Huế thời Đệ I Cộng Hòa đã đặt y trong tình trạng theo dõi vì tình nghi y được cơ quan tình báo Bắc Việt bố trí cho vượt tuyến.

Vì lý do đó, từ 1967 cho đến trước 30/4/1975, CSĐB/BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế chúng tôi vẫn bám sát Nguyễn Văn Kim mỗi khi y ra Huế, vì chúng tôi vẫn nghi y hoạt động cho tình báo Cộng sản, mặc dầu hơi khó khăn khi theo dõi y vì khi đó y đã là dân Biểu VNCH và là một trong những lãnh tụ cao cấp của Đại Việt Cách Mạng, một thế lực chính trị rất mạnh từ sau tháng 6/1966 đến trước 30/4/1975 tại miền trung và nhất hạng là tại Huế.

Sau 1975 chúng tôi được biết em ruột của Nguyễn Văn Kim là một Đại tá thuộc Tổng Cục 2 Tình Báo Chiến Lược của Cộng sản đang sống tại Sài Gòn.

Tôi xin trích một đọan trong hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khi quý độc giả đọc xong xin tự kết luận về dân biểu VNCH Nguyễn văn Kim:

“Một đêm khuya, những ngày sắp diễn ra cuộc đàn áp của chính quyền trung ương Sài Gòn, Tú đến tuyệt tình cốc gặp tôi. Tú gốc Nghệ An, vượt tuyến sau 1954. Tôi tóm tắt câu chuyện giữa Tú và tôi đêm hôm ấy:

– Thầy có gia nhập một tổ chức yêu nước phải không?

– Dĩ nhiên là có.

– Tổ chức nào thầy cho con biết được không?

– Tổng Hội Sinh Viên Huế.

– Thế mà lâu nay con cứ nghĩ là thầy đang ở trong một tổ chức yêu nước có quyền lực nào đó. Con biết chính xác là tờ “Việt Nam Việt Nam” đang đặt thầy trong những nguy hiểm nghiêm trọng. Tổng Hội Sinh Viên làm sao bảo vệ cho thầy được, khi Thiệu Kỳ đưa quân ra Huế?

Bây giờ con thấy con phải lo cho thầy.

Tú thông báo kế hoạch: Tú sẽ trao cho tôi một chiếc áo dòng để ngụy trang lúc cuộc càn quét bắt đầu ở Huế. Tú sẽ đưa tôi đến ẩn náu một nhà thờ xa thành phố, và sau đó sẽ thoát thân vào Sài Gòn.

Còn sau này, qua tin tức hải ngoại, Tú hoặc là Kim, Nguyễn Văn Kim đang tham gia nhiều tổ chức chống cộng cực đoan…” – (Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 2. Trang 706-707)

Vài giai thoại gay cấn giữa ông dân biểu Nguyễn Văn Kim, linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu và tác giả cuốn sách này, Liên Thành, đã xảy ra, xin được đề cập kỹ hơn ở phần cuối sách, tại đây xin tóm tắt thế này: cá nhân tôi đã bắn phi tiễn trực xạ vào linh mục Trần Hữu Thanh và các ông thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, dân biểu Nguyễn Văn Kim để trấn áp cuộc biểu tình của phong trào chống tham nhũng tại Huế vào lúc Huế đang bị cộng quân áp sát chuẩn bị tấn công.

Khoảng gần cuối năm 1974, ông Nguyễn văn Kim đã hoạt động rất tích cực trong phong trào chống tham nhũng của Linh Mục Trần Hữu Thanh trong lúc quốc gia đang trong tình trạng hấp hối dầu sôi lửa bỏng. Thay vì giúp ổn định tình hình an ninh xã hội để hô hào quân dân cán chính cùng hiệp lực với chính quyền VNCH chung lòng chung sức tích cực chống cộng trước đã, thì dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh đã tích cực chống chính quyền quốc gia dưới chiêu bài bài trừ tham nhũng.

Trong một quốc gia, bộ não của quốc gia chính là chính quyền, đặc biệt là trong tình trạng đang có chiến tranh thì mọi công dân phải biết tự giới hạn sự đòi hỏi của mình, đặc biệt là các quyền tự do báo chí, tự do biểu tình. Ngay cả Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Harry Truman, đảng Cộng sản đã bị đặt ra ngoài vòng luật pháp, cũng như khi quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng, tổng thống Franklin Roosevelt đã đem tất cả dân Mỹ gốc Nhật vào trong một trại tập trung ở California để bảo đảm an ninh quốc gia, cho dù việc làm này hơi thất nhân tâm.

Do đó, là một công dân thực sự ái quốc, thì mỗi cá nhân phải biết tự chế và tự giới hạn mình. Những kẻ không biết tự chế là những kẻ ích kỷ hoặc là bọn chính trị cơ hội hoặc chính là Cộng sản trá hình. Chính quyền quốc gia VNCH cũng dù giỏi dù dở cũng chính là bộ não để chống lại Cộng sản. Hô hào dẹp bỏ chính quyền quốc gia trong tình thế chiến tranh như thế thì thật sự chẳng khác nào là một hành động phá hoại thông đồng với giặc.

Thử đặt lại vài vấn đề lịch sử trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đó, phải chăng đã có bàn tay của Cộng sản giựt dây chuyện chống tham nhũng này? Và kẻ đó là ai? Nên chăng việc dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh liên tục gây bất ổn chính trị và bất an trong lòng dân Miền Nam bằng các cuộc biểu tình và các bài báo trên trang nhất, các cuộc họp báo đình đám từ Sài Gòn ra Huế trong lúc Việt cộng đã áp sát?

Nên chăng việc biểu tình chống chính phủ tham nhũng thối nát trong lúc bọn phản chiến Mỹ trong quốc hội Hoa Kỳ đang lên kế hoạch cắt viện trợ cho Miền Nam? Nên chăng tất cả những hoạt động chính trị làm khủng hoảng chính phủ VNCH dùm cho Cộng sản Bắc Việt trong lúc Miền Nam đang thoi thóp?

Câu trả lời xin để lương tâm mỗi người tự vấn và trách nhiệm của từng cá nhân đã vô tình hay cố ý đánh phá chính quyền VNCH từ giai đoạn từ ngày chia đôi đất nước 1954 đến 1975.

Lịch sử sẽ đánh giá các ông linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, và một phần trách nhiệm nữa là Đại Việt Cách Mạng đảng về việc làm này.

Còn nhân vật Nguyễn Văn Kim, xin trích dẫn lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường để kết luận:

“Ra hải ngoại, Nguyễn Văn Kim tham gia vào các tổ chức chống cộng cực đoan”. Xin hỏi, để làm gì và ông ta đã làm những gì? Câu trả lời đã có!

Xin trở lại Nguyễn Thiết chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II:

– Nguyễn Thiết cũng là một trong những kẻ giết người tàn bạo không khác gì Nguyễn Đắc Xuân trong suốt 26 ngày cộng quân chiếm Huế. Những ngày cuối cùng trước khi bọn Cộng sản tháo chạy, Nguyễn Thiết đã bị pháo kích chết ngay tại tường thành gần cửa Đông Ba.

Về Phan Nam, cơ quan CSĐB/Thừa Thiên-Huế chúng tôi ghi nhận như sau: Phan Nam cán bộ thành ủy viên Thành Ủy Huế. Phan Nam phụ trách tổ Dân Vận và Trí Vận. Cũng giống như Hoàng Kim Loan y hoạt động bí mật trong thành phố Huế. Căn cứ lõm của y trong thành phố Huế là:

1- Nhà của một nhân viên tại nhà máy lọc nước Cồn Dã Viên ngay tại cầu Bạch Hổ.

2- Nhà của Ông Nguyễn văn Cán, quận trưởng Cảnh Sát, trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia Thị xã Huế.

3- Nhà của tên Tiếu, trưởng ban hồ sơ của Trung Tâm Thẩm Vấn thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế. Tên Tiếu này chính thức nuôi hai đứa con của vợ chồng Phan Nam.

4- Chính quyền Cách mạng Quận III (Quận Hữu Ngạn)

Bọn chúng không thể tập trung dân chúng cho dù số lượng chỉ một vài chục người tại khu vực Quận III để tổ chức mít-tinh biểu tình, lý do: địa thế Quận III đất rộng, dân cư không tập trung, bọn Cộng sản đi đến đâu thì dân chúng bỏ chạy đến đó. Vì thế Hoàng Lanh Thường Vụ thành ủy, Hoàng Kim Loan người chịu trách nhiệm phát động cuộc Tổng Nổi Dậy đành bó tay chưa có thể tổ chức được Chính Quyền Cách Mạng Quận III.

Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh quyết định giao quận III cho Đại tá Công An Nguyễn Đình Bảy chịu trách nhiệm.

5- Lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Như đã trình bày ở trên, hệ thống tổ chức của lực lượng chính trị do trung ương đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh vừa cho ra đời tại Huế là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, với 4 nhân vật chủ chốt là:

– Chủ tịch giáo sư: Lê Văn Hảo

– Phó chủ Tịch: Thích Đôn Hậu

– Tổng Thư ký: Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Phụ trách học sinh, sinh viên và thành phần trí thức: Nguyễn Đắc Xuân

Nguyễn Đắc Xuân là người chỉ huy toàn bộ hành động của lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Vùng hoạt động của lực lượng này bao gồm Quận I, Quận II, Quận III thị xã Huế và lực lượng này có khoảng 700 người.

Có đến tám mươi phần trăm đội viên là thành phần học sinh, sinh viên và những thành phần khác đã thoát ly lên mật khu khi cuộc làm loạn của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu vào mùa Xuân-Hè năm 1966 tại Huế bị thất bại. Nay sau 2 năm, bọn chúng xuống núi với súng AK-47, B40, dao găm mã tấu, sát hại dân lành vô tội. Hai mươi phần trăm còn lại là bọn nằm vùng và bọn chỉ điểm địa phương tại các Quận I, Quận II, Quận III trong thành phố Huế.

Phải nói rõ ràng minh bạch và chính xác rằng: Lực lượng An Ninh Bảo Vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy là một lực lượng tàn bạo nhúng tay vào máu đào của đồng bào Huế vô tội nhiều nhất, gây kinh hoàng tang tóc đau thương cho đồng bào Huế suốt 624 giờ bọn chúng chiếm Huế nhiều nhất.

6- Lực lượng “Nghĩa Binh Cảnh Sát”

Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát và giao cho Quận Trưởng CSQG/VNCH Nguyễn Văn Cán, nguyên Trưởng Ty CSQG thị xã Huế trong thời gian phản loạn 1966 do Trí Quang chỉ huy.

Lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát này quy tụ được một số nhỏ nhân viên của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế bị kẹt trong vùng địch phải ra trình diện với bọn chúng. Nguyễn Đắc Xuân giao cho Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn Văn Cán chỉ huy nhóm này. Mục đích của bọn chúng khi nặn ra lực lượng này chỉ là để tuyên truyền với quốc nội và quốc tế là lực lượng Công An Cảnh Sát Ngụy đã quay đầu về với Cách Mạng chống lại Ngụy Quyền Sài Gòn và Đế Quốc Mỹ xâm lược. Thế nhưng toi công cho bọn Việt cộng, chỉ một thời gian ngắn sau đó một số đoàn viên trong lực lượng này đã đào thoát về trình diện BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một số khác chưa kịp trốn đi liền bị bọn chúng dẫn đi chôn sống.

Riêng về phần tên phản bội Nguyễn Văn Cán, sau khi cộng quân tháo chạy vào ngày 26 tháng 2 âm lịch, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh CSQG/VNCH đến Huế ông ra lệnh tôi bắt giữ Nguyễn Văn Cán, và Đoàn Công Lập. Lúc đầu ông có ý định sau khi thẩm cung xong lập pháp trường cát tại Huế xử bắn Nguyễn Văn Cán để làm gương, nhưng sau đó vì nhiều Quận Trưởng CSQG trong Bộ Tư lệnh đứng ra bảo lãnh và xin Tướng Loan khoan hồng trong đó phải kể đến ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Lương đương nhiệm là giám Đốc Nha CSQG/Vùng I đứng ra xin với Chuẩn Tướng Loan.

Quận trưởng Võ Lương là người Tướng Loan rất nể vì khả năng, tư cách, và thâm niên công vụ trong ngành. Tướng Loan không còn ý định xử bắn Nguyễn văn Cán, nhưng ra lệnh tôi giao Nguyễn Văn Cán cho Trung tá Lê Tự Cường Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng thụ lý nội vụ để được vô tư hơn.

7- Lực Lượng Nghĩa Binh

Nguyễn Đắc Xuân giao việc tổ chức Nghĩa Binh cho Đại úy Nguyễn văn Lợi, một sĩ quan QLVNCH. Lực lượng này chỉ có tiếng mà không có miếng vì trên thực tế chẳng có quân nhân nào tham gia, chỉ có khoảng 10 tên lao công đào binh mà thôi, và chẳng có một hoạt động nào cả. Như đã nói ở phần trên mục đích của cộng quân khi tổ chức lực lượng Nghĩa Binh là bọn chúng chỉ nhắm vào vấn đề truyên truyền dối trá tại quốc nội cũng như quốc tế rằng: “Chính sách binh vận của bọn chúng đã thành công. Ngụy quân quay súng trở về với Cách Mạng.”

8- Tòa Án Nhân Dân tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968

Theo lời khai của Thành ủy viên Thành ủy Huế, Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972 tại Huế thì:

“Khi Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Tòa Án Nhân Dân tại mặt trận Huế, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, Hoàng Lanh Thường vụ Thành Ủy Huế và tôi (tức Hoàng Kim Loan) đã hội ý với nhau rất kỹ.

Lúc đầu cả ba chúng tôi nhất trí đưa Nguyễn Đắc Xuân làm chủ tịch Tòa Án Nhân Dân, nhưng sau đó Thường Vụ thành ủy Hoàng Lanh đổi ý, đề nghị đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện là Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là nhân tuyển tốt nhất, vì đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, những nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu-Kỳ, chống Mỹ. Vậy Tòa Án Nhân Dân giao cho Tổng Thư Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đại diện dân chúng Huế ngồi xử các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ, và của Đế quốc Mỹ xâm lược là thích hợp nhất”.

Ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968 tức ngày 1-2-1968, hãy nghe đài phát thanh Hà Nội phát đi bản tin như sau:

“Tại Cố Đô Huế dân chúng đã tổng nổi dậy thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp nhân sĩ, trí thức, sinh viên và tôn giáo lớn (Phật Giáo) yêu nước, nhằm đứng dậy chống đế quốc Mỹ xâm lược và đám tay sai bọn “Ngụy Quân Ngụy Quyền”.

Lực lượng này đã thành lập Chính Quyền Cách Mạng Tỉnh, Quận, thành lập đội An Ninh Khu Phố, lực lượng Nghĩa Binh, lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát, cũng như thành lập Tòa Án Nhân Dân”.

Đài phát thanh Hà Nội loan tin trên hơi muộn màng. Bởi vì Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình, cũng như Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế đã được đẻ ra trước tết Mậu Thân vào thời điểm tháng 12/1967 trong một kế hoạch đã được soạn thảo họp tới họp lui của Bác Đảng, và khi mà “ấu chúa” Lê Văn Hảo ở Huế đã được cân nhắc chọn lựa bởi đảng Cộng sản mãi tận Hà Nội, rồi được Hoàng Kim Loan đưa lên mật khu để được chăm sóc giáo dục, trước khi được sắc phong và nhận chỉ thị thi hành của cơ quan Khu Ủy Trị Thiên và Thành Ủy Huế. Do đó khi từ mật khu trở lại Huế thì y đã là “quan đầu tỉnh” với hai chức chủ tịch rồi!

Khi mở miệng chối tội làm Cộng sản trên đài RFA, tôi xin được hỏi ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, thử xét lại có ai được đặt trong các chức vụ lớn nhỏ của Cộng sản mà tay không hề được từ chi bộ đảng đến trung ương đảng duyệt xét? Huống hồ gì trong giai đoạn chiến tranh thì những con bài chủ lực bắt buộc phải là những kẻ tay chân thân tín đồng bọn với chúng. Còn chuyện chúng vắt chanh bỏ vỏ sau này lại là chuyện khác, không thể dùng chuyện chúng nó không xài ông nữa để chứng minh là ông không hoạt động Cộng sản. Ông Lê Văn Hảo có chối rằng ông đi chơi lang thang rồi bị Cộng sản bắt giữ rồi cho làm chủ tịch trên cả chục cái đài phát thanh hải ngoại thì cũng vô ích mà thôi!

Có biết bao nhiêu người dân đi lang thang đây đó sao chúng không bắt làm chủ tịch mà Cộng sản lại lựa bắt ông Tiến Sĩ, bạn bè với Hoàng Phủ Ngọc Tường tên Cộng sản sắt máu, về làm chủ tịch? Những hoạt động móc nối của đám Cộng sản tại Pháp với nhóm trí thức ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản không ai mà không biết ông thưa ông. Không ai bắt ông làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thị Xã, cũng chẳng ai ép ông làm chủ tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, mà phải nói là đây là một vinh dự Bác Đảng đã ban cho ông mà ông đã từng rất hãnh diện, thưa ông Tiến Sĩ Nhân Chủng Học Lê Văn Hảo!

Tóm lại Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, các đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát, Nghĩa Binh Quân Nhân v.v. mà Việt cộng trình làng trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế có hai mục đích rõ rệt:

1- Dùng những lực lượng này để lôi cuốn quần chúng Huế tham gia vào cuộc tổng nổi dậy, một hình thức như năm 1966 khi bọn Cộng sản kết hợp với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu gây ra vụ Phản Loạn Miền Trung. Bọn chúng thành lập Chiến Đoàn Quân Nhân Phật Tử Nguyễn Đại Thức, Lực Lượng Cảnh Sát Phật Tử, Lực Lượng Sinh Viên Học Sinh Phật Tử Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân v.v. và v.v.

Nay mùa xuân Mậu Thân 1968 khi Hà Nội xua mười ngàn quân tấn công chiếm Huế, Hồ Chí Minh và Chính Trị Bộ đảng Cộng sản Việt Nam lại bổn cũ soạn lại, khai sinh một mặt trận chính trị mới, đó là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và các tổ chức Nghĩa Binh, Nghĩa Binh Cảnh Sát, đội An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố. Thật là bình mới rượu cũ, bình mới chỉ là cái tên mới còn rượu cũ không ai khác hơn chính là bọn Việt cộng Nằm Vùng năm xưa, cũng tuyên truyền là dân chúng “tự ý nổi dậy”. Kịch bản muôn đời của Cộng sản vẫn vậy!

2- Đánh lừa dư luận quốc nội và quốc tế rằng tại Huế có “Tổng Nổi Dậy”, rằng dân chúng Huế đã tự phát thành lập các lực lượng rất “quần chúng” để nổi dậy. Từ dân chúng đến quân đội, cảnh sát, trí thức sinh viên, Phật Giáo, đồng loạt đứng lên chống chính phủ VNCH, chống trung ương Sài Gòn, chống đế quốc Mỹ xâm lược!

Thế nhưng, Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam và tên Hồ Chí Minh đã ước tính hết sức sai lầm.

Đúng ra chúng đã hoang tưởng nên chuốc lấy thảm bại nặng nề trong màn kịch này. Dân chúng Miền Nam cũng như chính phủ quốc tế biết rõ trò hề của Cộng sản Bắc Việt: toàn bộ các lực lượng này nọ chỉ là sự đội lốt trá hình láo lừa của bọn Cộng sản Hà Nội và bọn Việt cộng nằm vùng. Huế trong Tết Mậu Thân 1968 chẳng hề có cuộc tổng nổi dậy nào của quần chúng nhân dân mà chỉ có sự giết người man rợ của cán binh Bắc Việt và đám đồ tể nằm trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Lực lượng Quân đội Nhân Dân, Quân Giải phóng của Hồ chí Minh đến vùng nào, chiếm vùng nào, thì dân Huế kinh hãi bỏ trốn khỏi vùng đó bằng mọi giá. Viết đến đây thì tôi bỗng nhớ lại lời nói của phó chủ tịch Thích Đôn Hậu nói với dân biểu Nguyễn Lý Tưởng rằng “Quân Đội Giải Phóng Miền Nam đi đến đâu cũng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai!”

Đúng, bọn Việt cộng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai nào cả mà chỉ làm rơi rụng thây người xuống các hố chôn tập thể trong khắp thành phố, thôn làng, núi đồi Thừa Thiên-Huế!

Thất bại chua cay vì không phát động được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cho lệnh Tướng VC Trần văn Quang Tư lệnh mặt trận Trị Thiên và Lê Chưởng, Chính Ủy quân khu Trị Thiên áp dụng biện pháp “Bạo Lực Cách Mạng” hay “Bạo Lực Đỏ” để răn đe và trừng trị dân chúng Huế.

Trách nhiệm thi hành Bạo Lực Cách Mạng được giao phó cho 3 tổ chức: lực lượng an ninh Khu Ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, Lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, và quan trọng hơn cả là lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân.

Sau này, theo lời tường trình của hầu hết thân nhân nạn nhân bị Việt cộng sát hại, thì hầu như có đến 80% những nạn nhân bị bắn tại chỗ, hoặc bị bắt đi, đều do Nguyễn Đắc Xuân và những tên đồ tể trong lực lượng của Nguyễn Đắc Xuân thực hiện.

Điều nguy hiểm và kinh hoàng nhất của dân Huế trong 22 ngày Việt cộng tàn sát đồng bào Huế chính là lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, vì các thành viên trong lực lượng này một trăm phần trăm là những thành phần địa phương trong lực lượng tranh đấu phản loạn của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu vào năm 1966 nên chúng biết rất rành rẽ nhân sự và địa lý của Huế, do đó bạo lực cách mạng đã được bọn chúng “phát huy” một cách vô cùng hiệu quả: chiến lợi phẩm và thành quả cách mạng của bọn Nguyễn Đắc Xuân đó là xác chết và mồ chôn tập thể tràn ngập xứ Huế.

Bọn này vào năm 1966 thoát ly lên mật khu, nay xuống núi trở lại Huế với lòng hận thù ngút trời, hăng say chém giết sát hại đồng bào. Vì là người địa phương nên bọn chúng nắm chắc chắn rõ ràng địa chỉ lý lịch những đối tượng mà bọn chúng muốn thanh toán.

Vì bọn sát nhân này quá đông, nên tôi chỉ có thể nêu điển hình một số ít nhân vật quan trọng chủ chốt trong lực lượng Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân:

– Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư

– Hoàng văn Giàu, phụ khảo Giáo sư Đại Học Huế

– Nguyễn Đóa, nguyên giám thị trường Quốc Học, Giáo sư Bồ Đề

– Nguyễn Thị Đoan Trinh, sinh viên Dược Khoa Đại Học Sài Gòn

– Hoàng Phủ Ngọc Tường, Giáo sư Quốc Học

– Hoàng Phủ Ngọc Phan, Sinh viên Y Khoa

– Lê Hữu Dũng, sinh viên Đại Học Sài Gòn, con trai tên cán bộ nằm vùng Lê Hữu Tý

– Nguyễn Thúc Tuân, Giáo sư, nguyên nhân viên Pharmacy Trường Tiền

– Nguyễn Tròn, bồi bàn tiệm ăn Quốc Tế

– Diệu Linh, thầy bói

– Nguyễn Bé, thợ nề

– Tên Gù, tiệm bán thuốc lá Cẩm Lệ ở đường Trần Hưng Đạo

– Thiên Tường, chủ tiệm thuốc bắc tại đường Duy Tân, An Cựu, Huế

– Hai con trai của Thiên Tường là cán bộ Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn tại Tỉnh Thừa Thiên

– Nguyễn Hữu Vấn, Giáo sư Âm nhạc, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I

– Nguyễn Thiết, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II

– Lê Minh Trường.

Và quá nhiều… tôi không thể nhớ hết!

Sáng sớm Mùng 2 Tết, sau khi lá cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình được treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu và chính quyền cách mạng Tỉnh Thừa Thiên, Thị Xã Huế, Chính Quyền Cách Mạng Quận I, Quận II đã thành lập xong, Lê Chưởng Chính Ủy Khu Ủy Trị Thiên, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, các thành ủy viên Thành Ủy Huế như: Hoàng Kim Loan, Phan Nam, Hoàng Lanh, Trưởng Ty Công An VC Thừa Thiên-Huế Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh và Nguyễn Đắc Xuân kẻ chỉ huy lực lượng An Ninh và bảo vệ Khu Phố của 3 quận Thị xã Huế bắt đầu khởi động cuộc tổng nổi dậy hay danh từ mà bọn Cộng sản đã gọi là “tổng khởi nghĩa” cướp chính quyền.

Từ sáng sớm ngày mùng 2 Tết và những ngày kế tiếp, Nguyễn Đắc Xuân với lực lượng cơ hữu của hắn là các đoàn viên trong tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố đi khắp ba quận thị xã Huế Quận I, Quận II, Quận III, kêu gọi đồng bào “hãy treo cờ của Ôn lên (Ôn Đôn Hậu), nếu không có thì treo cờ Phật Giáo lên!” (lời này chính Nguyễn Đắc Xuân đã xác nhận trong cuốn hồi ký của y). Kế tiếp bọn chúng lục soát từng nhà, chận hỏi dân chúng chạy giặc, tìm kiếm bắt giữ và hạ sát ngay tại chỗ bọn “Ngụy ác ôn”.

Ngoài ra Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đã cố gắng kêu gọi thúc giục đồng bào tham gia các cuộc biểu tình do bọn chúng tổ chức để gọi là “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” tại ba quận trong thành phố Huế.

Thế nhưng mọi sự đã ngoài ước tính của bọn chúng, đám tử thần Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đi đến đâu thì dân Huế hốt hoảng kinh hoàng chạy đến đó. Họ chạy để tránh xa tử thần tránh xa Việt cộng, chạy nói theo kiểu người Huế là “chúi mũi chúi lái, chạy vắt chân lên cổ, chạy không dám nhìn lui”, thì thử hỏi dân chúng Huế, tổng nổi dậy ở đâu? Tổng khởi nghĩa ở đâu? Tổng bỏ chạy, tổng tàn sát thì có!

Vậy mà ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968, đài phát thanh Hà Nội loan tin: “Dân chúng Cố Đô Huế đã tổng nổi dậy cướp chính quyền”! Quả thật Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản Việt Nam và đồng bọn tay sai thật là một bọn nói láo không biết ngượng miệng.

Tức giận và mất mặt vì dân Huế không theo bọn chúng như ước tính, cộng quân và đám tay sai không thể tổ chức được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và đám Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam liền quyết định áp đụng biện pháp mạnh là “Bạo Lực Cách Mạng, Bạo Lực Đỏ” để áp lực, để răn đe khủng bố và trả thù dân chúng Huế.

Máu của dân Huế đã nhuộm đỏ dòng sông Hương, xương của dân Huế đã chất cao quá núi Ngự Bình trong cuộc thảm sát ghê rợn và kinh hoàng suốt 624 giờ, của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam, và đám tay sai nằm vùng.

Vietnam: A Television History; Tet, 1968; Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982

https://openvault.wgbh.org/…/V_226B408F90EB4A4BA79758A8…

Bộ Lạc Tà Ru A-20- Tưởng Năng Tiến

Bộ Lạc Tà Ru A-20 – Tưởng Năng Tiến

Đất này chẳng có niềm vui

Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt

 Trại lính, trại tù người đi không ngớt

 Người về thưa thớt dăm ba…

Mấy câu thơ trên được trích dẫn từ thi phẩm Đất Này của Nguyễn Chí Thiện, viết vào năm 1965. Gần chục năm sau, trong đám “người về thưa thớt dăm ba” đó, có Bùi Ngọc Tấn. Tác giả Chuyện Kể Năm 2000 (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, CA: 2000) xác nhận tình trạng “trại tù người đi không ngớt” bằng một câu văn rất ngắn: “Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ.”

Thế nhỡ gặp lại đúng bạn tù cũ thật rồi sao?

Tay bắt, mặt mừng, bá vai, bá cổ …  rồi kéo nhau vào quán (hay mời ngay bạn về nhà) tiếp đãi linh đình – cơm gà cá gỏi không thiếu món chi, ăn uống phủ phê, nhậu nhẹt linh đình – chăng?

Hổng dám “phủ phê” đâu. Ở Đất Này làm gì có mấy cái vụ “linh đình” như vậy:

Một buổi chiều, con Thương đi học về bảo hắn:

– Bố. Có ai hỏi bố ở dưới nhà ấy?

– Ai con?

– Con không biết, trông lạ…

Hắn xuống thang. Hai người quần nâu, áo nâu đứng dựa lưng vào tưởng chỗ bể nước. Quen quen. Đúng rồi. Min: toán chăn nuôi, người đã giũa răng cho hắn. Còn một anh nữa mặt loang, tay loang. Thấy hắn, cả hai cười rất tươi. Người mặt loang bảo:

– Anh không nhận ra em à?

Trời ơi. Thì ra là Dự. Dự có con chuột được đem xử án. Dự hay bắt tóp. Dự cũng đã được ra rồi. Dự bảo:

– Em bị cháy, bỏng.

Hắn mời hai người lên nhà, nhưng Dự lắc đầu:

– Thôi, chúng em đứng ở đây thôi. Hắn liếc nhanh vào cửa sổ của gia đình gần bể nước. Bọn hắn thì chẳng lẫn vào đâu được. Bây giờ bè bạn hắn rặt một loại như vậy… người ta còn dặn con, dặn vợ:“Cửa rả cẩn thận. Quần áo kéo vào đi…( Bùi N.T., s.đ.d, II, trang 13 – 20).

May mà thời thế không đứng mãi về phe những kẻ cầm quyền hà khắc nên dân làng Tà Ru (tù ra) giờ đây không còn bị thiên hạ xem thường là “rặt một loại như vậy” nữa. Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang, CấnThị Thêu, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn … đều được thân bằng quyến thuộc (cùng hàng xóm, láng giềng) đón rước tưng bừng – ngay khi bước ra khỏi nhà giam – như những anh thư hoặc anh hùng thời đại.

Chả những thế, nhiều tù nhân– từ Trại Tù Trừng Giới A-20 – còn tiếp tục gắn bó chặt chẽ với nhau như những thành viên của một đại gia đình vậy. Họ nối kết và liên lạc qua một trang mạng (Quán Lá Của Trại Tù A20) có cả ngàn người, hiện đang sống ở khắp mọi nơi trên thế giới, tham dự thường xuyên.

A-20 Nguyễn Chí Thiệp, tác giả Trại Kiên Giam, mô tả: “Trại Xuân Phước là nơi tập trung thành phần chống đối của các trại cải tạo miền Nam, cũng là nơi tập trung của các người lãnh đạo các tổ chức phản động ở khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam, Nghĩa Bình chuyển vào, từ cao nguyên Ban Mê Thuột đến và cả những người ở tận Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ.”

A-20 Lê Hoàng Ân cho biết thêm: “Những anh em chúng ta không được coi như những con người nữa, mà chỉ được coi như những con vật, không hơn không kém. Chúng muốn để cho sống thì sống, chúng muốn giết thì chúng giết không nương tay. Vài mẩu khoai mì H.34, ít nước muối hay nước mắm ròi. Có nhà tù nào trên thế giới đối xử với tù nhân như vậy không?”

Dù vậy, đám tù nhân ở đây vẫn sống mãnh liệt từng ngày, từng giờ. Họ hành xử cứ như những nhân vật trong tiểu thuyết, hay phim ảnh vậy. A-20 Phạm Đức Nhì kể chuyện :

Ngày đầu tiên bị giải đến Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước, tất cả chúng tôi – thành phần cứng đầu, khó cải tạo từ các trại – bị lùa vào hội trường để được dằn mặt và đưa vào khuôn phép.

 Mở đầu là màn văn nghệ ca tụng đảng và nhà nước có tính cách bắt buộc. Cán bộ giáo dục yêu cầu một người tù trong chúng tôi ra bắt giọng cho mọi người hát một bản nhạc cách mạng để lấy khí thế. Hối thúc hoài cũng chẳng ai thèm ra.

Cuối cùng, khi hắn giở giọng đe dọa thì tôi nóng mặt đứng lên bắt nhịp cho anh em hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang. Được gãi đúng chỗ ngứa anh em hát muốn bể tung hội trường. Cán bộ giáo dục và ban thi đua ú ớ chẳng biết gì nên dù “ngờ ngợ có cái gì không ổn” cũng không làm chi được.

Tuy đây quả là một màn “ngoạn mục” nhưng vẫn chỉ là … chuyện nhỏ thôi, như nhiều chuyện nho nhỏ tương tự (tuyệt thực, chất vấn cán bộ quản giáo, trình diễn văn nghệ phản cách mạng ) đã xẩy ra không chỉ một lần, tại Thung Lũng Tử Thần – một tên gọi khác của trại Kiên Giam Xuân Phước. 

Sự xuất hiện của tờ báo chui (underground press) Hợp Đoàn mới thực sự là vụ lớn, làm chấn động không chỉ Cục Quản Lý Trại Giam mà đến cả Bộ Công An nữa. Cái giá phải trả, tất nhiên, không rẻ. A-20 Nguyễn Thanh Khiết cảm thán :

Sáu năm biệt giam

ba muỗng nước, ba muỗng cơm

chưa lần lung lay ý chí

một đời anh – một đời sĩ khí

bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi

ngọn bút hiên ngang

thay làn tên mũi đạn

giữa trại thù nét mực chưa phai 

Những nhân vật tham gia báo Hợp Đoàn (A-20 Nguyễn Hùng Cương, A-20 Nguyễn Hữu Giao, A-20 Phạm Văn Hải, A-20 Trần Kim Hải, A-20 Trần Bửu Ngọc, A-20 Phạm Đức Nhì, A-20 Trần Danh San, A-20 Phạm Chí Thành, A-20 Nguyễn Chí Thiệp…) đều bị biệt giam, và chỉ được nhận được khẩu phần tiêu chuẩn (“ba muỗng nước, ba muỗng cơm”) mỗi ngày nhưng không ai ngã gục.

Theo A-20 Vũ Ánh [người khởi xướng vụ clandestine press (*) này] thì họ vẫn có thể sống sót không chỉ nhờ cái tâm thiền định, và ý chí mãnh liệt của chính bản thân mà còn nhờ vào tấm lòng quả cảm của nhiều bạn đồng tù nữa: “Nếu ở ngoài các bạn bè tâm phục không liều chết tổ chức cho một người liều chết leo qua bức tường cao 4 thước có kẽm gai trước họng thượng liên của vọng gác tiếp tế thuốc vitamin B-1 cho chúng ta, chắc chúng ta cũng không thể sống nổi.”

Sống chí tình với nhau đến thế nên không có gì ngạc nhiên khi những cựu tù nhân từ Trại Trừng Giới Xuân Phước đã hợp thành bộ lạc Tà Ru A-20. Họ tổ chức những cuộc họp mặt mà có người phải vượt nhiều ngàn dặm (hoặc cả một đại dương) chỉ để tay bắt, mặt mừng và hàn huyên với bạn tù ngày cũ. 

Họ cũng tận tình chia sẻ với nhau những niềm vui bình dị khi con cháu thành hôn hay thành đạt. Đôi khi, họ còn tận tụy giúp đỡ lẫn nhau một cách thiết thực khi biết có kẻ lâm vào cảnh túng quẫn, giữa lúc nhà có việc và tang gia bối rối.

Họ là biểu trưng của một thứ hội ái hữu với tinh thần tương trợ cao đẹp nhất dù  chỉ là những người đồng cảnh, chứ không phải là đồng hương/đồng môn hay đồng đội gì ráo trọi.

Tự thâm tâm – có lẽ – tất cả A-20 vẫn chưa bao giờ quên đại cuộc, cùng những hoài bão lớn lao khi tóc hãy còn xanh. Tuy thế, dòng đời (và tuổi đời) khiến tất cả đều nhận ra rằng cái cơ hội để có thể tham dự vào lịch sử của đất nước quê hương (vốn) rất hiếm hoi trong một kiếp nhân sinh. Chúng ta thường vẫn chỉ là nạn nhân, hay “những người cam chịu lịch sử” mà thôi, theo như cách nói của tù nhân Bùi Ngọc Tấn.

Tôi cũng là một người thuộc bộ tộc Tà Ru nhưng trong suốt thời gian bị giam giữ chưa hề dám có một hành động phản kháng nào ráo (ngoài những câu “phát biểu linh tinh” mà không quên dòm trước/ngó sau ) nên khi nhìn cách “cam chịu” của những anh hùng A-20 trong Trại Kiên Giam Xuân Phước (và những ân tình mà họ dành cho nhau sau đó) thì không khỏi sinh lòng kính trọng và vô cùng ngưỡng mộ.

Tưởng Năng Tiến

(*) Trong những trang sổ tay kế tiếp, chúng tôi hy vọng sẽ có thể viết thêm đôi điều về tờ báo Hợp Đoàn (và những người chủ xướng) cũng trên diễn đàn này.

Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV

Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV

Chúc bình an! Hôm nay 17/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV. Mời bạn đọc hành trình nên thánh của ngài nhé, lý thú lắm!

Cha Vương

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập. Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ Ngài sống đạo ngay từ nhỏ. Khi được 18 tuổi thì cha mẹ Ngài qua đời. Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời sách thánh: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

Sau khi lo lắng gửi gấm em gái của mình cho một nữ tu viện, Ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, Ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn. Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, Ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho Ngài bánh đến cho Ngài nhưng ma quỉ đã tìm cách quấy phá để trục Ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ, chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái. Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng gấp những việc hãm mình. Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ Ngài nữa.

        Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích. Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn: – Tôi còn sẵn sàng chiến đấu. Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được. Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, Ngài khinh bỉ trả lời: – Ồn ào vô ích. Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.

    Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa. Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỉ đã lùi bước, Ngài cầu nguyện: -Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu? Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con?

    Tiếng Chúa trả lời: – Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu. Bởi vì con đã chống trả lại ma quỉ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.

        Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa. Muốn xa mọi người hơn nữa, Ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết. Nhưng sự thánh thiện của Ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa. Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

        Dầu vậy, thánh An tôn đã hai lần từ giã sa mạc. Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Alaximiô, Ngài nói: – Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.

        Ngài lên đường đi Alexandria. Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan tòa và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, Ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục. Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.

        Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc. Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông. Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, Ngài dừng lại gần biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở. Dân Bê-đu-anh (Bédouins) cho Ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho Ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arat, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

        Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của đức giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo. Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón Ngài. Các lương dân cũng bảo nhau : – Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.

        Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ Ngài làm, đã xin lãnh bí tích rửa tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy Ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hóa và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi Ngài:

– Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết? Thánh nhân trả lời: Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

    Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo hóa.

Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt Ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng Ngài kết hiệp mật thiết với Chúa, Ngài nói: – Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.

Danh tiếng của thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến Ngài, Môn sinh của Ngài hãnh diện lắm. Nhưng Ngài bảo họ: Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người. Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua đức Giêsu Kitô.

    Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, Ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

    Khi Ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc. Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

    Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, Ngài đi thăm anh em Ngài lần chót. Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ đã khóc ròng, nhưng Ngài khuyên nhủ họ: – Hãy sống như phải chết mỗi ngày. Hãy cố gắng noi gương các thánh.

    Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh. Trong căn phòng nghèo nàn của mình, Ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi. Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời thánh An tôn là nhờ thánh Athanasiô kể lại. (Nguồn: Mạng Vui Học Thánh Kinh)

Chết là từ bỏ cái tôi cái ích kỷ để được sống tự do với Chúa. “Hãy sống như phải chết mỗi ngày.” Mời bạn hãy cố “chết” đi một tí hôm nay nhé.

From: Đỗ Dzũng