Bí thư đảng ủy Thị trấn Vụ Bản lỗ mãng, vô học xúc phạm nghi lễ tôn giáo

Đài Á Châu Tự Do 

Theo chương trình của Năm Truyền Giáo, vào Chúa Nhật thứ III trong tháng– cầu cho việc truyền giáo của Tổng Giáo phận Hà Nội, Đức tổng Giuse sẽ dành hai ngày thăm viếng các giáo xứ miền Hòa Bình… Sáng 20/2/2022, là ngày Chúa Nhật đầu tiên ngài đi thăm giáo xứ Vụ Bản (thuộc huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hoà Bình) và dâng Thánh lễ cho Giáo xứ ở đó.

Sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục và dâng Thánh lễ là sự kiện trọng đại của Giáo xứ, đáp ứng mong mỏi của Giáo dân nơi đây.

Trong Thánh lễ sáng Chúa nhật 20/2/2022 tại đây, khi Thánh lễ đang tiến hành đến lúc hết sức linh thiêng là rước lễ, thì Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch đã xông lên Cung Thánh, giành micro làm loạn Thánh lễ bất chấp Đức TGM Giuse Vũ Văn Thiên và các linh mục đang đồng tế tại đây.

Diện mạo của hai kẻ xông lên cung thánh này mặc quần áo bạt công an cấp nhìn như côn đồ, và có những lời nói đe dọa, xông vào cướp micro của Nhà thờ làm loạn.

Chúng hò hét la lối vào micro và loa phóng thanh mặc cho giáo dân vẫn đang đọc kinh, cầu nguyện hết sức nghiêm túc và các linh mục can ngăn.

Đặc biệt là hành động phá rối Thánh lễ linh thiêng của người Công giáo là một hành động rừng rú, lỗ mãng vô giáo dục và là sự vi phạm trắng trợn niềm tin, tín ngưỡng của giáo dân Vụ Bản cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam và giáo hội Hoàn Vũ.

Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch tại Thánh lễ sáng 20/2/2022 tại giáo xứ Vụ Bản

RFA.ORG

Trí thức và độc tài

Trí thức và độc tài

Bởi  AdminTD

Nguyễn Hưng Quốc

21-2-2022

Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài cá nhân với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe… chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-Hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Đạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức. Một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trọng nhất” trong cuộc đời của ông. Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Benito Mussolini. Ở Đức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Martin Heidegger, một trong những hoạ sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Adolf Hitler.

Đối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v… cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Đông.

Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Sô Viết xâm lăng Hungary vào tháng 11 năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt. Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Sô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “mùa xuân Prague”. Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và “trí thức” ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hoá, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán. Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Đó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số “trí thức” Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hoà giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản.

Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,

Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, và

Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

_____

*Ghi chú: Bài viết được trích từ cuốn “Những bài viết về chính trị”, Lotus Media xuất bản và phát hành trên Amazon.com)

ĐGH Phanxicô mở dành lời cầu nguyện cho thành phố của Ba Tây bị lở bùn khiến hơn 100 người chết

ĐGH Phanxicô mở dành lời cầu nguyện cho thành phố của Ba Tây bị lở bùn khiến hơn 100 người chết

Ít nhất 117 người đã thiệt mạng vì lở bùn và lũ lụt ở thành phố Petrópolis gần Rio de Janiero ở Ba Tây.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi một bức điện tới Đức Giám mục Petrópolis Gregório Paixão Neto, do Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Vatican ký.

Ngài viết rằng Đức Giáo hoàng gửi lời chia buồn đến gia đình các nạn nhân và chia sẻ nỗi đau của tang quyến. Ngài cũng cầu chúc sự thanh thản và niềm hy vọng của người Kitô giáo cho tất cả những người bị ảnh hưởng bởi thảm họa.

Kể từ tháng Mười Hai, mưa lớn đã dẫn đến lũ lụt và lở đất chết người trên khắp Ba Tây.

Tại Petrópolis, hơn 700 người đã phải rời bỏ nhà cửa và hiện đang phải trú ẩn trong các trường học và các khu nhà tạm. Nhà chức trách cho biết hơn 100 người vẫn mất tích.

Jos. Nguyễn Minh Sơn

Thánh lễ do Đức TGM Hà Nội chủ tế bị viên chức CSVN đòi ‘giải tán’

Thánh lễ do Đức TGM Hà Nội chủ tế bị viên chức CSVN đòi ‘giải tán’

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) .- Hai người xưng là đại diện nhà cầm quyền thị trấn Vụ Bản đã xông lên cung thánh đòi “giải tán” thánh lễ do Tổng giám mục Hà Nội chủ tế.

Chuyện xảy ra hôm Chủ Nhật 20 Tháng Hai tại thị trấn Vụ Bản tỉnh Hòa Bình khi Tổng giám mục địa phận Hà Nội là Đức cha Vũ Văn Thiên đến dâng thánh lễ tại giáo họ Vụ Bản. Vụ việc được thuật lại trên trang thông tin của Tổng giáo phận Hà Nội kèm theo một số hình ảnh. Một số Facebookers không những thuật tin về sự phá rối nói trên mà còn kèm theo một video clip ngắn chừng 42 giây của vụ việc.

Chế độ Hà Nội luôn luôn bác bỏ tất cả những cáo buộc về đàn áp tôn giáo mỗi khi bị Ủy hội Quốc tế về Tự do Tôn giáo Thế giới (USCIRF) thúc giục Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa tên nước Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt” (Country of Particular Concern – CPC).

Theo bản tin của Tổng giáo phận Hà Nội, Tổng giám mục Giuse Vũ Văn Thiên tới thăm giáo họ Đồng Tâm thuộc giáo xứ Vụ Bản “một Giáo họ non trẻ nhỏ bé toạ lạc bên cạnh thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình”. Ông đến đây trong hành trình “Ngày truyền giáo của Tổng Giáo phận”.

Ông Tổng giám mục đã chủ tế thánh lễ lúc 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật “tại nhà thờ nhỏ bé của giáo xứ Vụ Bản, tọa lạc tại thị trấn Vụ Bản”, thay vì dâng thánh lễ tại nhà nguyện của giáo họ Đồng Tâm như dự định từ trước. Hiện diện trong thánh lễ còn có linh mục quản hạt Mỹ Đức, Hòa bình, các cha trong giáo hạt, các tu sĩ và giáo dân trong giáo xứ.

Nguồn tin trên nói rằng đến cuối thánh lễ “có hai người xưng là đại diện chính quyền thị trấn Vụ Bản xông lên Cung thánh đòi giải tán Thánh lễ. Sự cố này làm Thánh lễ bị gián đoạn ít phút. Tuy nhiên, cộng đoàn Phụng vụ vẫn giữ được sự trang nghiêm. Trong khi đó, một số linh mục đồng tế và một số giáo dân đã ra can thiệp đề nghị hai người này rời khỏi nhà thờ để Thánh lễ được tiếp tục.”

Ngay sau thánh lễ, Tổng giám mục Vũ Văn Thiên đã đến giáo họ Đồng Tâm cách nhà thờ Vụ Bản khoảng 5 km và đã “cùng cộng đoàn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa”.

Cung thánh trong một thánh lễ là khu vực thiêng liêng, người không phận sự không được phép mạo phạm, tự tiện bước lên. Việc hai chức sắc nhà cầm quyền địa phương, một người mặc áo mưa, tự tiện xông tới cản trở thánh lễ là sự sách nhiễu tôn giáo. Bản tin của Tổng giáo phận Hà Nội chỉ nêu ra vụ việc mà không bình luận gì nhưng gián tiếp chứng tỏ quyền tự do tôn giáo của người dân tại Việt Nam bị xâm phạm trắng trợn.

Ngày 29 Tháng Giêng vừa qua, linh mục Giuse Trần Ngọc Thanh đang giải tội sau khi dâng thánh lễ tại nhà thờ thuộc xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum thì bị một người đàn ông tên Nguyễn Văn Kiên xông tới chém vỡ sọ thiệt mạng. Vụ việc khủng khiếp này đối với một vị linh mục gây rúng động dư luận trong ngoài nước.

Ngày 22 Tháng Mười Hai 2021, một nhóm tín đồ Tin Lành ở xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tố cáo bị công an sách nhiễu, cản trở các hoạt động tôn giáo của họ khi đang chuẩn bị cho Lễ Giáng Sinh sắp đến.

Các tổ chức tôn giáo độc lập, tức không nằm trong hệ thống tôn giáo “quốc doanh”, thường xuyên bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp dưới nhiều hình thức khác nhau.

– Hình phổ biến trên trang mạng của Tổng giáo phận Hà Nội khi 2 viên chức thị trấn Vụ Bản phá rối thánh lễ đồng tế do Tổng giám mục Hà Nội Giuse Vũ Văn Thiên chủ tế. (Hình: Tổng giáo phận Hà Nội)

– Hình cắt từ clip phổ biến trên FB Lê Quốc Quân khi người xưng đại diện nhà cầm quyền thị trấn Vụ Bản tới đòi “giải tán” thánh lễ. (Hình: cắt từ clip trên FB Lê Quốc Quân)

https://www.tonggiaophanhanoi.org/duc-tgm-giuse-den…/… 

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Minh-Triết Lâm Minh-Nghị  PHƯỚC TUY QUÊ HƯƠNG TÔI

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Miền Nam từng có một nền giáo dục huy hoàng. Thành ra người Miền Nam chúng ta có toàn quyền ,có thể so sánh giữa “ngày nay” và “trước kia”.

Khi mà ngày nay người ta cứ làm những trò “cải cách”, đòi sửa này, chỉnh kia, bỏ nọ nhưng bản chất và cái gốc là cách dạy và chất lượng thì họ không đá động gì tới và cũng không có khả năng.

Việt Nam Cộng hòa hồi xưa phổ cập giáo dục tiểu học, trẻ em đi học tại trường công miễn phí và có sữa uống miễn phí luôn, sách giáo khoa không là gánh nặng của con nhà nghèo vì rất rẻ và đời anh xài tới đời em chỉ có mấy cuốn.

Từ lớp 6 trở đi thì học trò không được phổ cập. Tức lớp 5 sẽ thi tuyển vào lớp 6 trung học đệ nhứt cấp với những kỳ thi cực kỳ kinh khủng, chỉ lấy có 62% vào trường công, 38% vào trường tư học hoặc có thể nghĩ học nghề.

Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II.

Tú tài 1 chỉ lấy khoảng 15–30% và Tú tài 2 lấy khoảng 30–45%.

Có bằng tú tài 2 là thành một người công dân trí thức lịch lãm của VNCH rồi.

Ngày nay thì học trò thi lớp 12 đậu gần hết, có nơi 100%,trình độ thì “rất cao”, trường ĐH nhiều hơn sinh viên, cái bằng cử nhân giờ tương đương tú tài, rồi “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” thì nhiều như lá rụng. Xã hội trí thức nhiều nhưng ảo, chẳng làm được tích sự gì, giống như vẻ bùa đeo cho liệu pháp xã hội vậy.

Học trò VNCH được dạy từ nhỏ triết lý, luân lý, đạo đức, cách xử sự và sống chuẩn mực với xóm làng, xã hội, quốc gia, dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sanh ra trong đó để sống cho thích hợp.

Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sanh sống, phong tục tập quán.

Nền giáo dục của VNCH gói gọn trong ba chữ : Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa lấy con người làm nền, dạy tình thương, lòng trắc ẩn giữa người và người với nhau, người làm gốc, đó là giáo dục nhân bản.

Con người khác thú vật là con người có suy tư, có sáng tạo và làm cho đời sống càng ngày càng nâng cao. Con người cần được no cơm ấm áo, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng.

Con người trước nhứt là phải biết yêu thương nhau, tôn trọng nhau tối thiểu, hiếu thảo, yêu thương gia đình, kính trọng ông bà cha mẹ, yêu thương họ hàng thân tộc, kính trọng thầy cô, có lương tâm trong mọi sanh hoạt, có trách nhiệm với tha nhơn, góp phần bảo vệ cuộc sống cho xã hội.

“Cha sanh, mẹ dưỡng,

Đức cù lao lấy lượng nào đong.

Thờ cha mẹ ở hết lòng,

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Chữ đễ nghĩa là nhường,

Nhường anh, nhường chị lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em “

(Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục dân tộc, nó hướng người VN biết tự hào nguồn gốc, màu da của mình, biết trân trọng lịch sử của ông bà tổ tiên, biết lòng tự trong dân tộc để đi ra nước khác gìn giữ cái liêm sỉ của ông bà mình.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục khai phóng. Tức là open, cởi mở, giáo dục con người tánh sáng tạo, không gò bó, không thắt não, không nhồi sọ.

Con người tiếp nhận kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa cũng dạy con người tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân, biết nhìn cái sai cái đúng trong chính bản thân mình, sai thì chịu trách nhiệm và sửa từ từ để tốt hơn.

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa rất tuyệt vời. Nó dạy cho con người kiến thức và đạo đức song song.

Trong xã hội có những cá nhơn khác biệt, nhưng không thể đánh giá con người qua sự khác biệt đó để kỳ thị giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, địa phương, chủng tộc.

Mọi người đều được hưởng đồng đều về giáo dục.

Một người có giáo dục, có nhơn cách sẽ là một công dân tốt, có tình yêu quê hương đất nước, sống đàng hoàng.

Một nền giáo dục mà không dạy đạo đức nó tạo ra xã hội có đạo đức bị băng hoại, con người lương tri và lương năng cũng mất.

Khi đạo đức biến mất thì xã hội sẽ không có trật tự, an ninh, thường xảy ra trộm cướp, giết người, con người mất dạy, ý thức buông bỏ, con người không tôn trọng nhau khiến cho cuộc sống của con người đầy dẫy sự đau khổ và bất an.

Một đất nước không đạo đức là một đất nước không phồn vinh, thạnh trị, mưa không thuận gió không hòa, lòng dân oán thán, khi đó sẽ có loạn lạc.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hoà là nền giáo dục hiệu quả và tiến bộ.

Trình độ giáo dục VNCH là thiệt và thế giới công nhận. Bằng cấp của VNCH được thế giới công nhận.

Bằng cấp của VN ngày nay chẳng có nước nào công nhận.

Đường xá ngày nay dơ hơn thời trước 1975. Sông hồ ngày nay dơ hơn trước 1975.

Đồ ăn ngày nay dơ hơn trước 1975, ung thư người VN cao hơn trước 1975.

Con nít ngày nay mất dạy kinh khủng, điều này trước 1975 là ít có. Xã hội ngày nay loạn thất kinh, không có một giới hạn nào hết, điều mà trước 1975 rất rõ ràng giới hạn.

Và rất nhiều không kể hết.

Nhiều người may mắn lớn lên trong một gia đình, trong một xã hội mà ông bà cha mẹ vẫn giữ nề nếp của Miền Nam thời VNCH với một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người, vào cái chung vẫn còn mạnh mẽ dữ lắm.

Có thể nói, dư âm giá trị di sản VNCH là đồ cổ, nhưng rất quý.

Không cách nào xóa bỏ di sản VNCH trong lòng người Miền Nam.

Nghĩ về cái xưa ta tiếc đứt ruột, dân tộc này vô phước vô phần.

–nguồn Nguyễn Gia Việt

GẶP LÀNH

GẶP LÀNH

Năm 2020 tôi có đăng một bài tựa đề là “Thầy Tôi” trên group “Phước Tuy quê hương tôi” viết về người thầy dạy môn Pháp Văn của mình : thầy Trần Ba. Tôi viết về thầy bởi vì vào năm 1977, có một câu chuyện buồn mà thầy là nhân vật chính, nói đúng hơn thầy là một nạn nhân của sự thù hận của bên thắng dành cho bên thua. Một lý do khác, tôi mong qua bài viết, hy vọng có ai đó sẽ đọc được và cho tôi biết tin tức của thầy.

Nhắc lại câu chuyện buồn này một chút, vào một ngày của năm 1977, cả trường đang trong giờ học, có 2 người bộ đội hay công an gì đó vào thẳng văn phòng giáo viên bắt thầy Trần Ba và giải thầy từ văn phòng ra sân trường trước sự chứng kiến của nhiều học trò và thầy cô. Hôm đó tôi ngồi cạnh cửa sổ nên đã nhìn thấy rõ mọi việc, thầy còn dắt theo chiếc xe đạp cũ không có cạc te đi giữa 2 tay công an. Lúc đó, tôi đã lờ mờ đoán được thầy bị bắt vì cái tội gọi là “phản động” hay “xê i a” gì đó. Những năm đầu sau 75, người dân bị bắt không có gì lạ, có thể bị bắt vì một lý do vu vơ nào đó, không cần trác toà hay công tố. Công an bao luôn công việc của ngành tư pháp. Trong chuyện này, chỉ có một điều làm tôi ưu tư mãi là tại sao người ta không bắt thầy ở một địa điểm nào khác, chẳng hạn như bên ngoài trường hoặc tại nhà riêng, mà lại bắt một người giáo sư trung học trước mặt các học trò của mình trong sân trường? Không lẽ người ra lịnh bắt thầy chưa bao giờ đi học và chưa bao giờ có thầy cô? Vô lý, không học sao làm sếp được! Chỉ còn một lý giải nghe có lý : lòng thù hận.

Trước khi đăng bài “Thầy Tôi” lên group Phước Tuy, tôi chưa có tin tức gì của thầy Trần Ba kể từ ngày thầy ra tù năm 1982, sau 5 năm bị giam cầm ở Biên Hoà. Ngày thầy ra tù, tôi và 2 người bạn có đến thăm thầy nhưng không dám nói chuyện nhiều vì …sợ công an theo dõi. Sau lần gặp đó, tôi không còn cơ hội gặp thầy lần nào nữa vì ai cũng phải lo đi tìm kế sinh nhai. Một thời gian sau, nhờ bài đăng trên group Phước Tuy, tôi nhận được tin nhắn của một người thuộc thế hệ đàn anh cùng quê Phước Tuy, anh nhắn cho tôi số phone và nơi ở của thầy thuộc tiểu bang Oregon bờ tây nước Mỹ. Mừng quá, tôi vội vàng gọi ngay cho thầy. Thật may mắn, người bắt máy hôm đó chính là thầy. Thầy nhớ ra tôi ngay, vì lúc đi học thầy trò chúng tôi thường đi lao động, ăn cơm và nói chuyện với nhau. Hồi đó thầy hay gọi tôi bằng tiếng “con” nghe rất thương, bây giờ thầy cũng gọi tôi như vậy.

Hôm đó thầy trò chúng tôi nói chuyện với nhau hơn 2 tiếng đồng hồ. Thầy kể lúc bị bắt, thầy hoàn toàn không biết vì lý do gì, phạm tội gì. Nhưng sau này thầy biết có một người đã báo cho công an là thầy làm “xê i a” cho đế quốc Mỹ. Họ đã điều tra thầy suốt 5 năm trời mà không tìm ra một bằng chứng nào để kết tội, cuối cùng đành phải thả thầy ra. Sau khi ra tù, dù vô tội, thầy vẫn không được đi dạy lại nên phải làm nghề “buôn chuyến” để kiếm sống. Các con của thầy vì mang “lý lịch xấu” do có cha “phản động” ở tù nên cũng không thể học hành và xin việc làm được. Cuộc sống của gia đình thầy thời gian đó rất khó khăn. Trong một lần đi buôn chuyến, thầy bị một người học trò cũ ở Đất Đỏ làm cán bộ thuế vụ tịch thu hết hàng hoá. Hết vốn, thầy đành phải trở về Đất Đỏ làm rẫy. May mắn thay, đến năm 1997 thầy và vợ thầy được sang Mỹ theo diện di dân do người em vợ của thầy bảo lãnh, nhưng các con của thầy vẫn còn ở lại.

Thầy trò thường nhắc lại kỷ niệm cùng đi lao động ngày xưa, dù thiếu ăn nhưng ai cũng phải ráng cuốc nhằm đạt thành tích “lao động tiên tiến” để lấy điểm. Thời đó lao động là vinh quang, chỉ có đào bới xới cuốc đổ mồ hôi hột mới được gọi là “lao động”, còn những nghề khác như y tá, bác sĩ, dạy học…đều là “phi lao động”.

Tết vừa rồi, thầy cho tôi biết các con của thầy đã được sang Mỹ, cả gia đình đoàn tụ và có cuộc sống ổn định. Thầy còn nói cho tôi biết tên của tay công an huyện đã đến trường bắt thầy ngày hôm đó. Tôi nghe xong giựt mình. Thì ra tay công an đó có bà con họ hàng với bên ngoại của tôi, tôi gọi ông ta là cậu. Sau khi bắt thầy vào tù chỉ một thời gian ngắn, tay công an này đã bị tai nạn xe mất mà chưa kịp hưởng thành quả cách mạng của mình.

Cứ mỗi lần nói chuyện phone với thầy, câu cuối cùng trước khi từ giã mà thầy hay nói với tôi là :”Ở hiền gặp lành nhen con”. Tôi nghĩ thầy đã trải qua một khoảng đời tựa như một bi kịch, nhưng cuối cùng lại là một kết thúc có hậu : GẶP LÀNH.

(Hình các giáo sư trường trung học Đất Đỏ, Phước Tuy năm 1968. Thầy Trần Ba đứng thứ 3 từ trái sang)

Hoa Kỳ: Quản lý tà đạo bằng con đường “xã hội hóa”

Hoa Kỳ: Quản lý tà đạo bằng con đường “xã hội hóa”

Dùng nguồn lực của xã hội để chống lại ảnh hưởng xấu của các tư tưởng cực đoan.

On 18/02/2022

By  NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG

Một cảnh trong phim tài liệu “The Source Family” (2012) của đạo diễn Jodi Wille, kể về một giáo phái cùng tên tại Mỹ. Nguồn: Netfilx.

Trong bài viết trước, người viết đã bàn về hệ lụy của việc không có những công cụ bảo vệ xã hội khỏi những tư tưởng cực đoan của các nhóm cuồng tín và tà đạo (cult/ heresy). [1] Bài viết này một lần nữa khẳng định nhu cầu phải quản lý nhà nước đối với tôn giáo.

Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với tôn giáo không đồng nghĩa với hành động cầm tay chỉ việc hay can thiệp sâu vào các hoạt động tôn giáo – một việc hoàn toàn có khả năng vi phạm các quy định về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế.

Vậy làm thế nào để quản lý nhà nước về tôn giáo mà không nhất thiết phải thao túng sâu vào cấu trúc tổ chức và hoạt động của một tôn giáo? 

Trường hợp của Hoa Kỳ cung cấp nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo.

Trước tiên, cần khẳng định rằng Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ ở mức độ gần như là tuyệt đối sự thành lập của các nhóm cuồng tín, thậm chí là tà đạo.

Nói cách khác, chính phủ Hoa Kỳ sẽ không can thiệp kiểm soát trước vào câu chuyện xác định ai được xem là tôn giáo, ai không được xem là tôn giáo, ai là tà đạo, ai không phải là tà đạo, v.v.

Song điều này cũng dẫn đến những công cụ và những thảo luận pháp lý có một không hai.

“Deprogramming”: Toàn dân du kích chống giáo phái cuồng tín

Một trong những công cụ tư nhân nổi bật nhằm chống lại các giáo phái cuồng tín và tà đạo tại Hoa Kỳ là các chương trình “deprogramming”, tạm dịch là “giải giáo”.

Đây là các chương trình tư nhân có mục tiêu giáo dục, đào tạo và thuyết phục thành viên của các giáo phái cuồng tín, rằng thứ đức tin mà họ đang theo đuổi có vấn đề, là sai lầm và nguy hại cho gia đình lẫn xã hội.

Phong trào, hay nói đúng hơn là “dịch vụ giải giáo”, thường phục vụ các gia đình của những thành viên đang hoạt động bên trong các giáo phái . Thập niên 1960 – 1970 là giai đoạn làn sóng giáo phái tại Hoa Kỳ nở rộ với hàng ngàn giáo phái mới được thành lập. Những cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ giải giáo cũng phất lên từ đó. [2]

Gói dịch vụ này ban đầu bao gồm cả việc tạm “bắt cóc” thành viên gia đình đang tham gia giáo phái (với sự đồng thuận của các thành viên còn lại trong gia đình).

Các bước tiếp theo của quá trình giải giáo có thể từ nhẹ nhàng như trò chuyện, thuyết phục, giảng giải đạo đức hay áp dụng các biện pháp tâm lý trị liệu, cho đến các biện pháp nặng đô hơn như gây áp lực tinh thần.

Một cảnh giải giáo (deprogramming) trong bộ phim tài liệu “Deprogrammed” (2015).

Một số lượng đáng kể các nhà tâm lý học lâm sàng, bác sĩ tâm thần, và thậm chí các luật gia – luật sư ủng hộ cách tiếp cận và các biện pháp của những chương trình giải giáo này. [3] Nó giúp cho ngành công nghiệp giải giáo – do tư nhân thành lập, điều chỉnh và cung ứng vốn – trở thành một ngành được thừa nhận rộng rãi trong nền kinh tế Hoa Kỳ.

Dù rất nhiều giáo phái mới rao giảng những giáo điều đi ngược lại nhiều giá trị đạo đức cộng đồng nói chung và nhu cầu quản lý nhà nước nói riêng, các cơ quan chức năng không thể can thiệp vào hoạt động của các giáo phái này vì chúng không vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ.

Thay vào đó, nhà nước vừa khuyến khích người dân tự nguyện rút khỏi các giáo phái, vừa ngầm ủng hộ các dịch vụ giải giáo.

Vậy kỹ thuật ủng hộ của họ ra sao?

Các công cụ tư pháp

Đọc đến đây, có lẽ nhiều bạn đọc đang có vài câu hỏi về nội dung đoạn trước.

“Bắt cóc”?

Chẳng phải như vậy là trái luật hay sao? 

Hoa Kỳ, một nước tôn trọng nhân quyền, thượng tôn pháp luật, sao lại cho phép chuyện như thế?

Đây sẽ là chỗ mà các cơ quan tư pháp Hoa Kỳ cho thấy sự can thiệp nhất định của họ vào việc ủng hộ những nỗ lực tư nhân trong việc kiểm soát các giáo phái.

Để bắt đầu, chúng ta cần tìm hiểu hai thuật ngữ: “colour of law” và “conservatorship”.

“Conservatorship” là một khái niệm tư pháp trong hệ thống thông luật Hoa Kỳ. Nó cho phép một thẩm phán, dựa trên các bằng chứng mà họ có, tuyên trao cho một người trong gia đình quyền đại diện và kiểm soát hành vi dân sự của một thành viên khác vì thành viên này không còn đủ năng lực hành vi.

Nếu đối chiếu với hệ thống pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu khái niệm này là gần tương tự với việc “giám hộ người mất năng lực hành vi dân sự” (trong trường hợp của Hoa Kỳ thì không đến mức mất năng lực).

Sau khi giành được quyền này, gia đình của một giáo dân có thể sử dụng vũ lực đúng mức để giữ và ngăn cản thành viên, không cho tiếp tục tham gia giáo phái, buộc họ điều trị theo các chương trình giải giáo.

Trong quá trình thực hiện thẩm quyền này, gia đình và tổ chức thực hiện dịch vụ giải giáo sẽ hoạt động dưới danh nghĩa “the colour of law”. Nói cách khác, các hành vi vũ lực mà gia đình có thể thực hiện được sự “ủy quyền ban đầu” của pháp luật.

Những thành viên bị “bắt cóc” hoàn toàn có thể khởi kiện, yêu cầu tuyên sự ủy quyền và các hành động của gia đình là bất hợp pháp. [4] Tuy nhiên, thành viên gia đình tham gia vào các giáo phái ít khi thành công khi kiện gia đình của mình. [5]

Ban đầu, các thẩm phán địa phương khá ngại ngần trong việc cho các gia đình dùng quyền giám hộ để tạm giữ và giải giáo cho con cái của mình.

Song cùng với làn sóng giáo phái cuồng tín và tà đạo trỗi dậy quá mạnh mẽ, cân nhắc những trói buộc dành cho cơ quan công quyền theo Tu chính án thứ Nhất như đã nói ở trên, nhiều tiểu bang quyết định mở rộng các quy định liên quan đến “conservatorship”.

Ví dụ, ở tiểu bang Arizona, các nhà lập pháp thậm chí cho phép các thẩm phán trao “conservatorship” cho ba mẹ hay gia đình nói chung để can thiệp vào quá trình giải giáo của con hoặc thành viên trong gia đình mà không cần trải qua các thủ tục thông báo (notice) hay trình bày, tranh biện tại tòa (hearing). Trong các trường hợp khẩn cấp, bang Arizona khuyến khích trao cho gia đình cơ chế giám hộ tạm thời (temporary guardianship) kéo dài ba mươi ngày. [6]

Và ba mươi ngày thật ra cũng là quá đủ đối với các chương trình giải giáo. 

***

Sau khi đạt đỉnh ở thập niên 1970 – 1980, phong trào thành lập các giáo phái mới ở Hoa Kỳ hạ nhiệt. Các chương trình giải giáo và các công cụ tư pháp mà chính quyền tiểu bang trao cho hệ thống tư pháp của mình cũng dần bị bãi bỏ.

Nhìn chung, có thể thấy ngay cả ở quốc gia tôn trọng tự do tôn giáo đến mức gần như tuyệt đối như Hoa Kỳ, việc điều chỉnh hệ thống pháp luật để thích ứng với những thách thức quản lý nhà nước đối với tôn giáo không phải là không có.

Điểm thú vị nhất là họ lại trao quyền đó cho tư nhân và thị trường.

Đọc thêm: Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước

 Những hiểu lầm về tự tử

 Những hiểu lầm về tự tử

  • TS Nguyễn Phương Mai
  • Viết cho BBC News Tiếng Việt 

BBC 19/02/2022.

Câu chuyện bạn sinh viên đeo đá tự vẫn mới đây khiến chúng ta ai nấy đều đau đớn. Đó không chỉ là một cái chết thương tâm mà còn là bao nhiêu câu hỏi sẽ còn quanh quẩn day dứt với người ở lại. 

Trong những khắc khoải đòi câu trả lời ấy, có một vài điều chúng ta cần chia sẻ rộng hơn để xã hội thêm sự thấu cảm với những cái chết như vậy.    

Chỉ những người bị trầm cảm hay có vấn đề về tinh thần mới tự sát 

Đúng là trầm cảm chiếm tỷ lệ lớn, đôi khi đến 50% số người tự sát. Tuy nhiên, lý do để một người chấm dứt cuộc đời đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. 

Theo một báo cáo của UNICEF ở Việt Nam, lý do tự sát vô cùng đa dạng: áp lực học hành, bị bắt nạt, thất tình, bất hạnh và xung khắc với gia đình, gánh nặng kinh tế, bị ép buộc cưới sớm hoặc bị cản trở trong hôn nhân, áp lực phải thành công và mạnh mẽ…vv.

Như vậy, ta không nên coi tất cả những người tự tử là bệnh nhân trầm cảm vì như vậy giải pháp sẽ chỉ dồn về việc chữa trị một căn bệnh. Trong khi đó, nguyên nhân tự sát không chỉ là một căn bệnh đơn lẻ. Rất nhiều áp lực, bất công và vấn đề trong cuộc sống hàng ngày đều có thể là lý do để người thân của chúng ta tìm đến cái chết. 

Trong báo cáo của UNICEF về Việt Nam có một chi tiết khá quan trọng, đó là việc sống riêng có tác dụng bảo vệ người có ý định tự tử. Lý do có thể đến từ việc cha mẹ mong đợi quá nhiều ở con cái, biến yêu thương thành áp lực.      

Những người tự tử thường hành động bất ngờ, chẳng có dấu hiệu gì báo trước

Một trong những hình xăm tạo viral trên mạng khi mới xuất hiện là dòng chữ “I’m fine” (tôi ổn mà), nhưng khi nhìn ngược lại, chính dòng chữ ấy có thể đọc là “save me” (cứu tôi với). 

Khi một người ra đi, họ đã bằng nhiều cách khác nhau để lại những tín hiệu của dự định tìm đến cái chết. Câu hỏi là liệu xung quanh họ có những người đủ gần gũi, đủ sắc bén, đủ thấu cảm để nhận ra những tín hiệu đó?

Danh sách những tín hiệu của ngõ cụt, đường cùng bao gồm: xa lánh người xung quanh, buồn bã, không chăm sóc bản thân, có hành vi khác thường, thay đổi thói quen ăn uống và sinh hoạt theo hướng tồi tệ hơn, giận giữ, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, dùng chất kích thích, tự làm đau bản thân, than thân trách phận, có cái nhìn bế tắc với cuộc sống, tin rằng mình là gánh nặng cho người khác, coi bản thân là sự thất bại, tự coi mình là vô nghĩa, và bộc lộ suy nghĩ về tự sát. 

Từ khía cạnh sinh học tiến hóa, hành vi tự tử là kết quả cuối cùng của một chuỗi những tín hiệu cảnh báo mà không được để ý (bargaining model). Giả thuyết này cho rằng những người gặp vấn đề đã vô thức tìm đến việc phát đi tín hiệu cứu giúp ở mức độ cao nhất, và cái chết chỉ là một hệ quả không hề mong muốn của tín hiệu đường cùng đó. 

Nói về tự tử là vẽ đường cho hươu chạy

Không hẳn, bởi con hươu ấy đã đang chạy rồi, và chạy trong một ma trận không có đường thoát. Cách xã hội nhìn tự tử như một chủ đề nhạy cảm và cấm kỵ khiến ma trận đó càng khó giải hơn. Vấn đề này cũng khá giống cách một xã hội bảo thủ nhìn tình dục hay LGBTQ. Tìm hiểu về sex không có nghĩa là con trẻ sẽ tìm đến sex, nói về tình dục đồng giới không có nghĩa là góp phần bẻ thẳng thành cong. 

Người có ý định tự sát sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi được chia sẻ. Ba câu hỏi mà các chuyên gia khuyên nên dùng, theo thứ tự, chỉ hỏi câu tiếp theo khi câu đầu tiên trả lời là “có”:

  • Bạn có nghĩ rằng cuộc đời này đáng sống hay thà chết còn hơn? 
  • Bạn đã bao giờ nghĩ về tự tử chưa?
  • Bạn có nghĩ mình sẽ chấm dứt cuộc đời không? Bạn đã từng thử làm điều đó chưa? 

Những khó khăn về tinh thần cũng giống như những khó khăn về cơ thể, đều cần trị liệu mới khỏi. Một người gãy chân không thể tự đứng dậy mà đi. Tương tự, một người bị áp lực tinh thần không thể cứ vui lên mà sống tiếp mà không có sự chia sẻ, trợ giúp và nâng đỡ nào.

Những người tự tử là kẻ ích kỷ 

Một cái chết luôn để lại đau thương cho người ở lại. Chính vì thế mà kẻ tự tử bị coi là ích kỷ khi chỉ nghĩ đến giải thoát cho chính mình. 

Tuy nhiên, việc “bôi đen” hành động tự tử cũng là một cơ chế tâm lý vị kỷ nhằm gián tiếp bảo vệ bản thân kẻ phán xét. Ta sợ rằng mình sẽ là nạn nhân của sự đau khổ ấy, từ đó vô thức tìm cách giảm thiểu khả năng xảy ra hành vi tự tử bằng cách dán cho hành vi ấy một cái nhãn xấu xí

Trong thực tế, bất chấp giá trị thực trong mắt xã hội, nhiều người tìm đến cái chết thường thật lòng tin rằng họ là một gánh nặng cho người xung quanh. Họ coi tự tử là một giải pháp quên mình, xóa đi một mối lo, bỏ đi một mắt xích lỏng lẻo, khiến những người ở lại có thể trút được một phần khổ đau. 

Điều này chính là giả thuyết thứ hai của hành vi tự tử từ góc nhìn sinh học tiến hóa (adaptive suicide). Các nghiên cứu về vấn đề này cho rằng, khi tìm đến cái chết, những người tự tử không hẳn chỉ tìm đến sự giải thoát cho bản thân mà còn là sự giải thoát cho những người xung quanh, giống như một sự hy sinh vô thức cho lợi ích của cộng đồng.

Những người tự tử là kẻ yếu đuối 

Con người chúng ta sinh ra không hề bình đẳng. Chúng ta chỉ có quyền đấu tranh để đạt được điều đó. Không ai có thể chọn cho mình một sức khỏe hoàn hảo, một gia đình hạnh phúc, một ngôi nhà giàu sang, một đất nước phồn vinh vv…rồi mới chấp nhận chào đời. 

Bởi mỗi chúng ta đều mang vác trên mình những gánh nặng vô hình rất khác nhau của sức khỏe và tâm sinh lý, thật khó để phán xét rằng tại sao tôi cũng bị áp lực như bạn mà tôi không bỏ cuộc. Ngưỡng chịu đựng của mỗi người khác nhau bởi nguồn tài nguyên cung cấp cho sự sống của mỗi người là khác nhau. 

Đây chính là giả thuyết thứ ba của hành vi tự tử, nhìn từ góc độ sinh học tiến hóa (pain-brain hypothesis). Giả thuyết này cho rằng chỉ loài người mới có khả năng nhìn nhận và đánh giá nỗi đau của mình, rồi dùng bộ não để lập kế hoạch tự hủy diệt nhằm chấm dứt nỗi đau ấy. 

Cao hơn, đó thậm chí còn là câu hỏi về quyền tự quyết. Ta đã không được chọn phương cách được sinh ra, nhưng ta có thể chọn phương cách mình chết đi. 

Sự phán xét, thậm chí rủa xả những người tự tử là kẻ hèn nhát phản ánh nhiều điều, trong đó rõ nhất là khả năng thấu cảm của người phán xét. Những người có ý định tự sát khi đọc được những lời phán xét đó có thể tìm cách vượt qua nỗi đau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sự phán xét đó cũng khiến họ che giấu nỗi đau kỹ hơn, từ chối tìm đến sự trợ giúp. 

Đây chính một trong những nguyên nhân lớn nhất giải thích cho việc tỷ lệ nam giới tự vẫn luôn cao gấp nhiều lần nữ giới, ở Việt Nam là gấp hai, ở Úc là gấp ba. 

Như vậy có phải là đàn ông bản chất là yếu đuối hơn phụ nữ hay không? 

Đàn ông vốn được cho là phái mạnh. Họ cũng bị áp lực phải là phái mạnh. Nếu họ thất bại trong cuộc sống, đó là do họ yếu đuối, nhu nhược, là do tự bản thân họ không xứng đáng chứ không phải do các nguyên nhân khác. 

Lấy ví dụ như bạo hành. Không khó để thấy những câu chuyện đàn ông bị đánh đập và thiên hạ thi nhau thả mặt cười. Sự chế giễu “đàn ông mà yếu đuối” vô tình ngăn cản họ tìm kiếm sự giúp đỡ, xuất phát từ nỗi sợ rằng không ai tin họ. Họ tự xấu hổ và trách móc chính bản thân mình.

Như vậy, không chỉ xã hội đổ lỗi cho nạn nhân (đàn ông mà thế à?) mà chính nạn nhân cũng đổ lỗi cho chính mình (tại bản thân tôi yếu kém). Kết cục là người đàn ông phải đối mặt với không chỉ một mà tận hai tầng chướng ngại vật, khiến họ phải trả giá đắt vì phải chịu đựng, che dấu các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần. 

Thậm chí chính người đàn ông cũng cố gắng tự coi đó là chuyện nhỏ để tránh làm mình bị tổn thương hơn, hoặc để không bị xấu hổ. Tại Mỹ chẳng hạn, tỷ lệ những người bị mắc chứng trầm cảm tìm đến giải pháp tự sát là 1% với phụ nữ, nhưng với đàn ông, tỷ lệ đó là 7%. 

Việc tỷ lệ nam giới tự tử cao gấp nhiều lần nữ giới khiến ta hiểu rằng, các vấn đề trong cuộc sống không đứng riêng lẻ mà tương tác với nhau. Như một kẻ bị đánh hội đồng, các vấn đề liên quan đến giới, giai tầng xã hội, tuổi tác, sức khỏe, tài chính, tinh thần …vv cùng “xúm vào” dần cho nạn nhân tơi tả, không có thời gian hồi phục. Chính vì thế, ta nên cân nhắc để không so sánh một cú đấm riêng lẻ với một trận tấn công dồn dập, để từ đó phán xét rằng kẻ tự tử chỉ là một kẻ yếu đuối. 

Vả lại, cái chết luôn là điều đáng sợ. Vì sự sinh tồn, tạo hóa đã cài đặt nỗi sợ ấy sâu đến mức con người luôn bằng mọi giá né tránh cái chết. Dù là tự tử, cảm tử, trợ tử, hay thậm chí chết vì danh dự, những con người tự nguyện đối mặt với cái chết đều có một động lực mạnh mẽ hơn cả cái chết. Vượt qua được nỗi sợ có tính bản năng đó có thể nào thuần túy là hèn nhát yếu đuối không hay thực sự là một trạng thái của lòng can đảm? 

*PGS.TS Nguyễn Phương Mai làm việc tại ĐH Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan. Bà nghiên cứu quản trị đa văn hoá bằng phương pháp liên ngành kết hợp với kiến thức thần kinh não bộ (neuroscience). Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

From: Đỗ Tan Hung & KimBang Nguyen

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chúng ta hình dung một cặp say sưa yêu nhau trong thời gian đầu; một người tân tòng yêu mến Chúa, cầu nguyện đến xuất thần; một thanh niên lòng đầy lý tưởng, làm việc không mệt mỏi vì người nghèo, lòng bừng bừng vì khao khát công bằng.  Hai bạn trẻ đó có yêu nhau thực sự không?  Người tân tòng đó có yêu Chúa thực sự không?  Nhà hoạt động xã hội trẻ có có thật sự yêu người nghèo không?  Đó là những câu hỏi không dễ để trả lời.

Khi có cảm giác yêu là chúng ta thật sự đang yêu ai?  Yêu người khác?  Yêu bản thân?  Yêu mẫu hình và sinh lực nơi những người khác?  Yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó?  Hay là yêu cái cảm giác mà trải nghiệm đó khơi lên trong chúng ta?  Khi yêu, chúng ta thật sự yêu người khác hay chỉ đắm mình trong một cảm giác tuyệt vời vốn có thể dễ dàng được vô số người khơi lên?

Có những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này.  Thánh Gioan Thánh Giá nói tình yêu là tất cả những điều này, là chúng ta thật sự yêu người đó, yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó, và đắm mình trong cảm giác vui thích mà chuyện này khơi gợi lên trong lòng chúng ta.  Chính vì thế, một chuyện luôn xảy ra là, đến một lúc nào đó trong mối quan hệ, những cảm giác yêu nồng nàn mạnh mẽ 3/ nhường chỗ cho vỡ mộng – và theo định nghĩa, “vỡ mộng” là xóa tan những ảo tưởng, mộng tưởng sai lầm, những gì không có thật.  Với Thánh Gioan Thánh Giá, khi chúng ta yêu, thì một phần tình yêu đó là thật, và một phần là ảo tưởng.  Hơn nữa, ngài nói điều này cũng đúng với những cảm giác sốt sắng ban đầu của chúng ta khi cầu nguyện và làm những việc hảo tâm.  Có sự trộn lẫn cả hai, cả tình yêu chân thực và ảo tưởng.

Một vài phân tích khác lại không nương tay đến thế.  Nhiều phân tích xác định rằng mọi tình yêu ban đầu của chúng ta, dù là với người khác, với Thiên Chúa khi cầu nguyện, với người nghèo trong việc phục vụ, chủ yếu đều là ảo tưởng.  Xét cho cùng, chúng ta yêu chuyện được yêu, yêu những gì lời cầu nguyện làm cho ta, hoặc là yêu cảm giác chúng ta có được khi làm việc vì công bằng.  Người khác, Thiên Chúa và người nghèo, chỉ là điều thứ yếu.  Chính vì thế, chuyện thường xảy ra là khi lửa mến ban đầu nguội đi, thì tình yêu của chúng ta dành cho đối tượng cũng lạnh dần.  Khi ảo tưởng chết đi, thì cảm thức yêu cũng thế.  Chúng ta yêu mà không thật sự hiểu người kia, và chúng ta hết yêu mà cũng không thật sự hiểu người kia.  “Bắt đầu yêu” trong tiếng Anh là “fall in love” (tiếng Việt là rơi vào lưới tình, là phải lòng) và nó nói lên nhiều điều.  “Fall/ngã” không phải là điều chúng ta quyết định mà điều xảy đến với chúng ta.  Linh đạo về hôn nhân có một khẩu hiệu rất sáng suốt: hôn nhân là lựa chọn, yêu thì không. 

Ai nói đúng đây?  Khi chúng ta yêu, bao nhiêu phần là tình yêu đích thực và bao nhiêu phần là ảo tưởng, vốn thật sự chỉ là chúng ta đang yêu chính mình?  Nhà thơ người Mỹ Steven Levine trả lời câu hỏi này từ một góc nhìn khác và soi rọi nhận định mới về vấn đề này.

Ông nói rằng, tình yêu không phải là “cảm xúc đối ngẫu.”  Với ông, mỗi khi chúng ta cảm nhận tình yêu chân thực, chính lúc đó, chúng ta cảm nhận sự đồng nhất với Thiên Chúa và vạn vật.  Ông viết: “Cảm nghiệm tình yêu trỗi dậy khi chúng ta buông bỏ sự tách biệt của mình trước sự đồng nhất toàn thể.  Nó là một cảm giác hợp nhất…  Nó không phải là cảm giác, đúng hơn là một tình trạng hiện hữu….  Nó không phải là ‘cả hai nên một’ cho bằng ‘một mà thể hiện như hai.’”  Nói cách khác, khi yêu ai đó, thì lúc ấy, chúng ta là một với người đó, không tách rời, đến nỗi dù cho những ảo tưởng và cảm giác của chúng ta chỉ nhắm vào tác động cho riêng chúng ta, nhưng luôn có đó một điều sâu sắc hơn và chân thực hơn nhiều.  Chúng ta là một với người kia trong hiện hữu, và khi yêu, chúng ta cảm nhận được điều đó. 

Với quan điểm này, tình yêu chân thực không phải là cái chúng ta cảm nhận cho bằng là cái mà chúng ta là.  Về căn bản, tình yêu không phải là một cảm xúc gây xúc động hay một đức tính (dù chúng là những phần của tình yêu).  Tình yêu là một tình trạng siêu hình, chứ không phải một thứ đến rồi đi như cảm xúc, không phải một thứ mà chúng ta có thể chọn hoặc bỏ theo tinh thần của mình.  Tình trạng siêu hình là điều được trao, điều mà chúng ta tồn tại trong nó, điều mà một phần con người chúng ta cố kết dù chúng ta không nhận ra.  Do đó, tình yêu, thậm chí cả cảm giác mới yêu, có thể giúp chúng ta ý thức hơn về sự không tách rời của mình, về sự thống nhất hiện hữu của chúng ta với người khác. 

Khi yêu đậm sâu hay nồng nhiệt, có lẽ (như lời Thomas Merton mô tả một thị kiến cha thấy ở một góc đường) chúng ta có thể tỉnh hơn khỏi mộng ảo tách biệt và ảo tưởng khác biệt để thấy được vẻ đẹp và chiều sâu nơi tâm hồn người khác.  Có lẽ nó cũng sẽ cho chúng ta thấy được người khác, thấy được phần mà cả tội, dục vọng hay sự tự tri đều không vươn đến được, phần cốt lõi hiện thực của con, là con người trong mắt Thiên Chúa.

Và thật là tuyệt vời, “nếu chúng ta có thể thấy người khác như thế suốt.” (theo lời cha Merton).

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: langthangchieutim

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em

Ngày Chúa Nhật thật là tốt lành nhé.

Cha Vương

CN: 20/02/2022

TIN MỪNG: Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (Lc 6:27-28)

SUY NIỆM: Thật, đây là một mệnh lệnh rất khó để thực hành trong cuộc sống va chạm hằng ngày. Mình biết rất khó đó nhưng không phải là bạn “không có thể”. Sự thường thì bản tính tự nhiên của con người dạy ta: “thương kẻ nể ta, đập kẻ mất lòng ta” còn trong Kinh Thương Linh Hồn 7 Mối, điều thứ năm và thứ 6 lại dạy ta: “Tha kẻ hại ta, nhịn kẻ mất lòng ta”. Hai điều này quy về một điều mà Chúa dạy hôm nay là: hãy YÊU MẾN kẻ thù của mình, LÀM ƠN cho kể ghét mình, CHÚC LÀNH cho kẻ nguyền rủa mình, CẦU NGUYỆN cho kẻ vu khống mình. Nếu bạn yêu không được thì hãy làm ơn làm phước cho họ. Nếu bạn yêu cũng chẳng vô, làm ơn cũng chẳng được vì chữ “khó” hoặc vì không muốn nhìn mặt người đó thì việc chúc lành và cầu nguyện cho họ là một việc “có thể”. Nó không đến nỗi khó như bạn tưởng đâu. Bạn cứ chúc lành và cầu nguyện cho họ đi rồi để Chúa là người sẽ phán xét họ. Nếu bạn cứ dành thời gian và năng lực để phán xét chỉ trích họ thì bạn có thời gian đâu để cầu nguyện cho họ nữa, hãy để Chúa làm việc phán xét đó. Chúa Giêsu đến để mạc khải sứ điệp tốt hơn, trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “răng đền răng mắt đền mắt”. Ngài nhắc nhở bạn 2 điều hôm nay:

1) Tình yêu của Chúa không là Tình Yêu phân loại (exclusive): ai là người thân hoặc ai là thù địch.  Tình Yêu Chúa là tình yêu bao gồm (inclusive), không ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của Người.

2) Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân, chúc lành, và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được bạn yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác. Ước mong bạn cảm nhận được lời Chúa dạy là một giải pháp tích cực để đương đầu với những người đáng ghét hôm nay.

LẮNG NGHE: Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, / Người chấp giận và giàu tình thương. / Người không cứ tội ta mà xét xử, / không trả báo ta xứng với lỗi lầm. (Tv 102: 8,10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin đổ tràn trên con tình yêu thương của Chúa, để con được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà biết quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với con hôm nay.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và làm một việc hy sinh cho những đối tượng của bạn nhé.

From: Đỗ Dzũng

Tội là gì?

Tội là gì?

Chúa là hơi ấm trong đêm giá lạnh… Hôm nay trời Houston gió lớn và lạnh, khi ra ngoài đừng quên Chúa nhé.

Thứ 6: 18/02/2022

GIÁO LÝ: Tội là gì? Tội là hoàn toàn từ bỏ Thiên Chúa, từ chối không đón nhận Tình yêu Thiên Chúa, khinh thường không giữ giới răn của Thiên Chúa. (YouCat, số 67)

SUY NIỆM: Tội còn hơn là một thái độ lầm lỡ, và cũng không phải chỉ là một yếu đuối tâm lý. Thực ra mọi từ bỏ hoặc phá hủy điều gì là tốt, xét cho cùng đều là bỏ tốt để chọn xấu, loại bỏ Thiên Chúa vậy. Trong kích thước sâu xa và kinh khủng nhất, tội là xa lìa Thiên Chúa, xa lìa nguồn sống. Vì thế, chết là hậu quả tất nhiên do tội lỗi. Chỉ nhờ Chúa Giêsu ta mới hiểu được kích thước không thể đo được của tội, vì muốn liên đới với loài người đã phạm tội bỏ Chúa, Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì các hậu quả của tội nơi chính thân xác Người. Người đã phải gánh lấy sức mạnh gây chết của tội, để nó không làm hại ta. Đó là tất cả ý nghĩa của “cứu chuộc”. (YouCat, số 67 t.t)

❦ Điều xấu hơn không phải là phạm tội ác mà là đã không làm những điều tốt mà mình có thể làm. Chính tội bỏ sót không làm chẳng qua là tội không yêu mến, và thường không ai xưng thú tội đó. (Léon Bloy, 1846-1917, văn sĩ Pháp)

LẮNG NGHE: Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội. (Rm 5:20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa yêu thương con và mong muốn con đáp tình yêu đó bằng cuộc sống thánh thiện trước mặt Chúa và đối với anh em. Xin đừng để con rơi vào tình trạng dửng dưng về tội, tưởng mình không có tội hay chỉ có lỗi qua quít để rồi vẫn sống khơi khơi, nhưng xin hãy khuấy động tim con để con biết ý thức về tội đang làm con xa lìa Chúa và tổn thương đến anh em con.

THỰC HÀNH: Tự xét mình coi bạn có “tội bỏ sót không làm” không hả? Td: Đưa công việc cho người khác vì lười biếng trong khi mình có thể làm được. Cụ thể khi đi làm mệt về bạn vẫn thấy một đống chén đũa vẫn nằm chềnh ềnh trong bồn rửa chẳng ai thèm đá động đến.

From: Đỗ Dzũng