Đi Hết Cuộc Đời Ta Còn Lại Gì?

 Một bài viết hay, cảm động, đánh thức nhiều suy tư.

(Trích Nhật Ký Từ Một Nữ Tu Phục Vụ Tại Khoa ICU – tgpSaigon.net)

Đã quá nửa đêm, chị em chúng tôi đang lau dọn sàn nhà, một chị điều dưỡng chạy tới giọng hối hả: “Các Sơ ơi, có người mới qua đời. Các Sơ vào cầu nguyện cho ông đi!”

Hai chị em bỏ dở công việc, chạy vội vào góc phòng. Các điều dưỡng đang gỡ máy móc, dây ống ra khỏi cơ thể đã bất động. Tôi nhìn gương mặt ông tím tái rồi nhạt dần. Vị bác sĩ trẻ vẫn chưa rời khỏi, cô lộ rõ nét buồn vì không giữ được sự sống cho ông sau một hồi cấp cứu. Cô đưa tay vuốt mắt cho ông rồi lặng lẽ quay đi. Các điều dưỡng nhanh chóng bọc ông cụ vào bao đựng tử thi rồi điện thoại cho nhân viên nhà xác mang xác đi. Tất cả diễn ra trong tích tắc khi chị em chúng tôi còn chưa đọc xong những lời kinh phó linh hồn.

Từ lúc vào giúp ở khoa ICU này, ngày nào cũng thế, cảnh tượng ấy dần rồi quen thuộc. Lúc đầu, tôi vô cùng ngạc nhiên, thậm chí là hơi sốc.

Ở gia đình, trong nhà dòng, tôi đã quen với việc nhìn thấy phút lâm chung của một người có biết bao người thân vây quanh. Người mất được tắm xác, mặc quần áo chỉnh tề, được tẩn liệm với bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu hương hoa, nhang nến, khăn tang, tiếng khóc thương đưa tiễn…

Còn đây là những cơn hấp hối và cái chết hoàn toàn trong cô đơn, lặng lẽ, chẳng có gì. Thật sự là không còn gì! Trong trận đại dịch, trong hoàn cảnh lây nhiễm, nhiều người phải từ giã cõi đời trong cái đau thương ấy! Nếu như tôi không ở đây, không tận mắt chứng kiến những cảnh tượng này, chắc tôi sẽ không có được cảm nghiệm sâu sắc về sự mong manh của phận người. Những ngày qua, tôi cứ suy nghĩ mãi: “Đi hết cuộc đời, ta còn lại gì?”

Những bệnh nhân trong khoa ICU này phần lớn đã hôn mê. Ngày nào tôi cũng đi từng phòng thăm và cầu nguyện cho họ. Họ là những người dân của Thành phố này. Nam có, nữ có, già có, trẻ có, mập có, ốm có… có đủ tất cả. Con virus này chẳng chừa ai. Chúng tấn công đủ mọi thành phần trong xã hội: có những người da dẻ trắng trẻo, mịn màng, trên người còn đeo nhiều trang sức và cũng có những người da nhăn nheo, khắc khổ; có những người giàu có, địa vị, tài giỏi, cũng có những người dân nghèo, bình dị, kém cỏi… Giờ đây, trong phòng Hồi sức Cấp cứu này, tất cả đều bình đẳng, tất cả những sự phân biệt đều quay về con số 0. Mọi người dù là ai đi nữa, chỉ còn là một sự trần trụi trên giường bệnh với nhưng hơi thở khó khăn, thoi thóp.

Và cái chết tinh thần đôi khi còn đến trước cái chết thể lý. Đó chính là sự cô đơn, sợ hãi khi không có lấy một người thân bên cạnh. Đi hết cuộc đời, làm bao nhiêu việc, tìm kiếm bao điều, bao mối tương quan… giờ chỉ còn một mình đối diện với cái chết cận kề. Cảm giác ấy thật không dễ dàng gì đón nhận!

Có lẽ nhiều người trong số các bệnh nhân đã cảm nhận được thân phận bụi tro của mình nên ra đi trong bình an. Nhưng tôi cũng thấy có người vẫn vùng vẫy trong hơi thở cuối cùng như còn điều gì chưa thỏa. Như hôm tôi chứng kiến cơn hấp hối của một cô độ 60 tuổi: Khi các bác sĩ vẫn đang nỗ lực cấp cứu, cô mở mắt ra lần cuối, đưa mắt nhìn quanh như tìm kiếm một người thân nào đó vì mới hôm trước, tôi nghe cô tâm sự: cả nhà đều bị nhiễm, mỗi người cách ly một nơi, cô rất lo vì mất liên lạc với mọi người. Thế nhưng xung quanh cô, giờ đây chỉ là những bức tường trắng xóa, những gương mặt xa lạ trong bộ đồ bảo hộ. Tôi thấy rõ ánh mắt đầy thất vọng và đượm buồn của cô. Máy thở đã không còn tín hiệu, cô ra đi mà mắt vẫn mở đầy thao thức. Thật không thể diễn tả được bao nỗi xót xa đau đớn. Mong manh quá, một kiếp người!

Nơi đây, tôi thấy ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ như một cái nháy mắt. Có người hôm nay còn thấy, ngày mai đã không còn nữa. Tất cả đều ra đi với đôi tay trắng như khi vào đời. Một cuộc đời còn lại gì? Không kèn trống, hương hoa, không một người thân đưa tiễn. Tất cả những bon chen giành giật, tìm kiếm danh vọng, địa vị, tiền bạc, sắc đẹp… không một điều gì có thể theo chúng ta vào cõi vĩnh hằng.

Lời Chúa vang lên soi sáng cho tôi: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời…” (Mt 6,20). Quả thật, khi cánh cửa thời gian khép lại, nguồn hy vọng duy nhất đời tôi chỉ còn là Lòng Thương Xót Chúa. Mọi sự thế gian đều phải bỏ lại thế gian. Chỉ có những công việc bác ái mà hàng ngày tôi tích góp mới trở nên kho tàng đích thực cho tôi, là người bạn duy nhất theo tôi đến trước tòa Chúa.

“Đi hết cuộc đời còn lại gì?”, bài học này thật quý giá cho tôi, để ngay lúc này, khi tôi còn hơi thở, tôi kịp thời chọn cho mình kho tàng không bao giờ hư mất.

Đồng Hồ Cát

httpv://www.youtube.com/watch?v=HQZY3vfKRL0&list=RDCMUCtoQh7mQikZsztA1OQRSFvw

Đi hết cuộc đời, ta còn lại gì?

YouTube player

THƯƠNG LẮM MẸ ƠI! | Nhật ký phục vụ tại bệnh viện dã chiến

VĂN HÓA LỪA HIỆN ĐẠI KIỂU TRUNG CỘNG.

VĂN HÓA LỪA HIỆN ĐẠI KIỂU TRUNG CỘNG.

(Bùi Văn Bông – Minh Diễn)

Nhóm chúng tôi có 12 người đi du lịch Trung Quốc, khởi hành từ Sài Gòn, theo chương trình sẽ đi thăm Bắc Kinh, Tô Châu, Quế Lâm. Hầu hết thành viên trong nhóm đều là cán bộ nghỉ hưu, gom góp mấy đồng tiền còm trong sổ tiết kiệm, và con cái phụ thêm cho chuyến tham quan. Người “có máu mặt” nhất là chị Lâm, vợ một ông tướng công an đương chức. Chị bao cho mẹ đẻ và mẹ chồng trong chuyến đi … “dối già”.

Đến Bắc Kinh, nhóm chúng tôi nhập vào một nhóm du lịch khác cũng từ Việt Nam sang hơn hai chục người, được một hướng dẫn viên người Trung Quốc đưa đi tham quan các nơi theo chương trình.

Phải nói Bắc Kinh là một thành phố vĩ đại, giàu bản sắc văn hóa Trung Quốc, nhiều công trình kiến trúc đẹp, nhiều di tích lịch sử rất đáng được chiêm ngưỡng và suy nghiệm. Thành phố này trật tự, nền nếp hơn Sài Gòn, Hà Nội, không chen chúc xe máy, không có người ăn xin, chụp giựt níu kéo du khách chặt chém từ vài quả cóc, lon nước đến bịch lạc rang như ở bờ Hồ Gươm.

Nói như vậy không phải người Trung Quốc thật thà, mà họ thuộc … hạng siêu lừa. Họ lừa có bài bản, lừa theo kiểu “kích dục mê tâm” – kích thích cái tham, làm cho lòng người mê mẩn thiếu sáng suốt rất dễ bị lừa. Phải thừa nhận là họ có “văn hóa lừa” hẳn hoi, ăn sâu, ăn đậm, và không ăn vặt.

Khi chúng tôi lên xe đi thăm Cố Cung, tay hướng dẫn viên du lịch nói nói:

– Thưa các bạn Việt Nam, Cố cung, là nơi các triều đại nhà Minh, nhà Thanh ngự trị suốt mấy trăm năm, lịch sử Trung Quốc trải qua bao thăng trầm xuất phát từ chốn cung vàng điện ngọc này… Viện bảo tàng Cố Cung.

Tay hướng dẫn viên nói như hát. Hắn mới khoảng hai nhăm tuổi, ăn mặc lịch sự, nói tiếng Việt làu làu, nhớ không ít tục ngữ ca dao Việt Nam, biết cả chửi thề, khoe rất thích ăn món thị chó rựa mận rìa đê Yên Phụ, Hà Nội và món cà pháo canh cua quán cơm bà Cả Đọi, Sài Gòn.

Nghe hắn nói Cố Cung hấp dẫn, ai cũng háo hức, nhưng hắn không cho vào thăm ngay, mà cho xe chạy qua cổng Bắc thành. Tôi hỏi sao lại đi vòng thế, hắn nói:

– Muốn vào thành phải được sự chấp thuận của các quan gác cổng, hôm nay tôi dẫn đoàn qua cổng Bắc, vượng khí đang ở hướng đó.

Nghe hắn như rót mật vào tai, ai cũng gật gù.

Vừa tới cổng thành, đã thấy bộ tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng rực rỡ nhảy múa đón rước. Rồi cả một ban tiếp tân, ăn mặc chỉnh tề, ân cần mời đoàn thăm quan lên lầu. Một căn phòng sang trọng, những dãy ghế đánh vec-ni bóng nhoáng.

Các du khách vừa an vị, tay hướng dẫn viên trịnh trọng giới thiệu vị giáo sư lịch sử ra nói chuyện với đoàn. Nhìn vị giáo sư, … thấy nghi nghi, hình như đây là một diễn viên đóng thế, bởi gương mặt non choẹt. Nhưng anh ta tỏ ra một diễn viên có tài, từ điệu bộ đến lời nói rất đĩnh đạc, nghiêm trang. Hắn nói một mạch về lịch sử Cố cung, về các triều vua, rất uyển chuyển không hề vấp váp, rồi chốt lại bằng câu chuyện con Tỳ Hưu thật hấp dẫn. Hắn nói:

– Thưa quý vị, đời vua Minh Thái Tổ, giữa lúc quốc khố bị rỗng, một đêm ngài nằm mơ thấy một con vật mình rồng, đầu to, ngực to, mông to, có sừng nhọn, lông dày, đứng hút nhanh từng thỏi vàng sáng chói vào bụng. Sau giấc mơ đêm ấy, nhà Minh hưng thịnh, quốc khố đầy vàng, nhà vua cho làm con đường vào thành theo trục Bắc Nam, hướng tài lộc, cho xây cổng Bắc thành này và dùng ngọc phỉ thúy tạc tượng con vật trong mơ, gọi là Kỳ Hưu, nghĩa là kỳ diệu, sau gọi là Tỳ Hưu đặt tại đây, gọi là tài môn, cổng tài lộc.

Hôm nay may mắn đoàn du khách Việt Nam được qua cổng tài lộc vào Tử Cấm thành, may mắn hơn vì quý vị sẽ được chiêm ngưỡng con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, tạc từ thời Minh Thái tổ…

Mọi người vỗ tay rào rào. Vị “giáo sư” mỉm cười nhã nhặn, ra hiệu mọi người ngồi xuống, nghe nói tiếp về sự mầu nhiệm của Tỳ Hưu:

– Tỳ Hưu là một con vật cực kỳ linh thiêng, mầu nhiêm, có đầu to, ngực to, mông to, nhưng bụng nhỏ và không có … hậu môn, chỉ hút vàng bạc châu báu của trời đất vào mà không nhả ra, chỉ làm giàu cho chủ mình chứ không để thất thoát đi đâu một đồng nào. Vì thế người đời xưa gọi là con Thiên Lộc. Từ đời nhà Minh đến đời nhà Thanh, vua ban sắc lệnh chỉ có vua và Hoàng hậu mới được thờ Tỳ Hưu, các hoàng tử, công chúa không được thờ. Đặc biệt nghiêm cấm các quan trong triều tuyệt đối không được thờ Tỳ Hưu, vì sợ quan sẽ giàu hơn vua.

Có một người dấu vua thờ Tỳ Hưu, là Hòa Thân, thời Mãn Thanh, đời Càn Long. Hòa Thân, tạc một con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, to hơn con Tỳ Hưu của vua, trưng trong biệt phủ của mình. Nhờ con Tỳ Hưu ấy Hòa Thân làm quan đến tột đỉnh, chỉ dưới một người trên muôn người, vơ vét hết của cải thiên hạ.

Theo thống kê thời ấy, Hòa Thân có biệt phủ 3.000 phòng, 6000 gia nhân, 600 thê thiếp, 32 km2 đất, 42 ngân hàng, 75 tiệm cầm đồ 600 cân sâm Cát Lâm, 60.000 lạng vàng, 100 thỏi vàng lớn mỗi thỏi 1.000 lạng, 56.000 thoi bạc mỗi thỏi 100 lạng, 90.000.000 lạng bạc lẻ, vân vân… Ước tính tài sản của Hòa Thân gấp 15 lần ngân quỹ quốc gia.

Có tiếng xuýt xoa của du khách. Mấy người cười khúc khích, nói với nhau: “Việt Nam mình cũng có vài Hòa Thân rồi đấy!”. Vị “giáo sư” ra hiệu mọi người im lặng rối nói:

– Không chỉ có Tỳ Hưu sinh tài, còn nhiều loại Tỳ Hưu khác mầu nhiệm không kém, như Bồ Lao, Trào Phong, Toàn Nghê, Bi Hi, Bế Ngạn, Phu Hi… Ai muốn con cháu văn hay chữ tốt thì thờ Phu Hi, muốn yên ổn bình an thì trưng Tiêu Đồ, muốn quyền cao chức trọng tiếm loát thiên hạ thì trưng Bế Ngạn…

Mấy vị du khách, mắt sáng lên, lấy sổ tay ghi tên loại Tỳ Hưu hợp với mình. Bà vợ ông tướng công an, không ghi kịp hỏi tôi:

– Cái con gì giữ quyền cao chức trọng anh nhỉ?

Tôi nói:

– Tên nó là Bế Ngạn chị ạ! Hình dáng nó như con hổ, loài chúa sơn lâm đấy.

Vị “giáo sư” đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi bằng một thái độ hết sức trịnh trọng, anh ta mời mọi người qua phòng bên xem con Tỳ Hưu ngọc phỉ thúy, anh ta nhắc đi nhắc lại, chỉ được đi lướt qua, liếc mắt nhìn, tuyệt đối không sờ tay vào con vật linh thiêng. Tay hướng dẫn viên cúi rạp người xuống cám ơn vị “giáo sư”, rồi dẫn mọi người qua cái cửa hẹp vào phòng lớn.

Bốn người mặc quần xanh nẹp đỏ, đội mũ quan thời Minh, đứng canh cái bệ gỗ, trên bệ phủ mảnh vải đỏ. Sau khi thắp hương vái, bốn người cầm bốn góc tấm vải hất lên, phía dưới hiện ra con Tỳ Hưu lung linh dưới ánh đèn mầu nhấp nháy. Mọi người không được nhìn kỹ, nên chả biết con Tỳ Hưu bằng ngọc hay bằng đá? Thì tay hướng dẫn viên hối sang phòng bên.

Căn phòng rộng thênh thang, bày la liệt đủ các loại Tỳ Hưu to nhỏ lớn bé, trên kệ gỗ, trong tủ kính. Gần chục cô gái bán hàng sốt sắng chào mời khách. Tay hướng dẫn viên nói, chỉ ở đây mới có các loại Tỳ Hưu “thứ thiệt”, mỗi con vật linh thiêng này được đưa vào Cố Cung bày trước anh linh vua Minh Thái Tổ xin ban phúc lộc, rồi mới mang ra đây bán cho du khách.

Mọi người như bị mộng du, bước chân đi rón rén, không dám nói cười, và cứ ngoan ngoãn móc ví đếm tiền mua Tỳ Hưu. Bà vợ tướng công an mua một lúc bốn con Bế Ngạn bằng ngọc, giá mỗi con 9.000 tệ. Bà ta nói với tôi:

– Trưng ở nhà hai con, chỗ làm việc của nhà em hai con bác ạ!

Một con Tỳ Hưu nhỏ nhất ở đây có giá 3.200 tệ, tương đương 500 đô la Mỹ, tức 11.000.000 đồng Việt Nam. Tôi nói nhỏ với ông bạn đi cùng nhóm:

– Hình như không phải bằng ngọc ông ạ? Tôi trông giống hệt mấy con Tỳ Hưu bán ở Hà Nội, Sài Gòn, giá chưa đến một triệu một con?

Ông bạn vênh mặt lên:

– Không có tiền nên nói thế!

Ông rút một nắm tiền ném lên mặt tủ kính. Tôi vội lánh sang chỗ khác, nhìn những cô gái tíu tít đếm tiền, miệng cười tươi như hoa.

Khi đã bán được 26 con Tỳ Hưu, thấy không ai mua nữa, tay hướng dẫn viên du lịch mời mọi người lên xe vào Cố cung.

Đến đây mọi người chỉ được xem qua, vì kỷ luật bảo vệ di tích của Trung Quốc rất nghiêm khắc, hơn nữa theo chương trình còn đi thăm Vạn Lý Trường Thành.

Cách điểm thăm quan Vạn Lý Trường Thành không xa, tay hướng dẫn viên nói với du khách:

– Thưa quý vị, Vạn Lý Trường Thành được Hoàng đế Tần Thủy Hoàng xây dựng từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, dài 3.980 dăm, nơi đây, Mao Chủ tịch đã đến khắc bảy chữ vàng “Bất đáo trường thành phi hảo hán” nghĩa là chưa đến Vạn lý trường thành thì chưa phải là một anh hùng.

Muốn lên Vạn Lý Trường thành phải có sức khỏe tốt, vì vậy cơ quan y tế Trung Quốc đã thành lập một Trung tâm khám sức khỏe “miễn phí” cho du khách. Hôm nay trước khi lên Vạn Lý Trường Thành tôi xin giúp quý vị kiểm tra lại sức khỏe, cô bác nào có bệnh sẽ được điều trị ngay tại chỗ.

Cái trung tâm ấy là một tòa nhà bốn tầng, khang trang. Cũng như ở cổng Cố Cung, các bác sỹ ra tận cửa đón rước, mời chúng tôi lên phòng khám bệnh thênh thang, từng hàng ghế kê ngay ngắn. Các nhân viên mang nước mời mọc ân cần. Rồi năm, sáu người mặc blu-trắng xuất hiện, giới thiệu rất trịnh trọng, đây là giáo sư tiến sỹ Lu Zeng Ung nổi tiếng nhất Trung Quốc (?), đây là bác sỹ Hua Twen Xuang nổi tiếng nhất Bắc Kinh (?).

Những vị giáo sư, bác sỹ vạch miệng, vạch mắt, nghe tim phổi và bắt mạch cho từng người trong hai nhóm du khách với thái độ rất thân thiện, khi nheo mắt tỏ vẻ lo lắng, khi mím môi tỏ vẻ nghiêm trọng, rồi nhoẻn miệng cười đầy vẻ cao đạo.

Khốn nạn thân chúng tôi, ở nhà khỏe re, mà đến đây ai cũng có bệnh. Không cao huyết áp thì phù thận, suy tim, có người bị chứng xơ gan mới khiếp chứ!? Nhưng lại … “mừng vì phát hiện ra bệnh sớm” và vị giáo sư, tiến sỹ nói, đã tới đây thì bách bệnh sẽ được tiêu trừ hết, bởi Trung tâm này đã từng chữa bệnh cho nhiều vị nguyên thủ quốc gia Trung Quốc và thế giới.

Chúng tôi được kê đơn thuốc, có chữ ký của vị giáo sư tiến sỹ đàng hoàng, có con dấu của Viện Đông y thế giới Bắc Kinh đỏ choét. Ai cũng cảm thấy hả hê vì may mắn. Ở nhà đi bác sĩ tư thì bị chặt chém, đi bệnh viện công thì bị hành, chuyến đi này, vừa được thăm quan du lịch vừa khám chữa bệnh bốc thuốc, được tiếp đón ân cần như bố người ta thì còn gì sướng bằng?

Nhưng ít phút sau thì mọi người hơi ngán, bởi các giáo sư, bác sỹ, chỉ khám miễn phí, còn thuốc phải mua, mà đây là một Viện y học nổi tiếng, nên thuốc rất “đắt”. Mỗi bịch thuốc theo toa của “giáo sư, bác sĩ” rẻ nhất là 1.000 tệ tương đương 160 đô la Mỹ.

Như bị ma ám, ai cũng bỏ tiền ra, ôm một mớ thuốc nam và mấy hộp … “cao đơn hoàn tán”. Các vị giáo sư tiến sĩ Trung tâm y dược vẫn chưa chịu buông tha các con mồi. Họ kéo mọi người sang phòng bên ngồi xung quang cái sân khấu hình tròn.

Một anh chàng nhảy lên sân khấu, hung dữ như một thằng du đãng. Hắn hét toáng lên, rồi chạy xuống lôi một thanh niên đang ngồi lẫn trong đám du khách lên sân khấu. Chả rõ nguyên cớ vì sao, thù hằn gì mà hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh anh thanh niên ghê thế. Đến nỗi du khách phải la lên phản đối. Thằng du đãng bỏ anh thanh niên nằm lăn lóc, lủi mất. Bấy giờ một bác sỹ chạy tới vén quần, vén áo anh thanh niên lên. Ôi cha mẹ ơi, từ ngực trở xuống, từ đít trở lên thâm tím như những quả đa mồi.

Anh ta không ngồi dậy được, rên ư ử như sắp chết. Bà bác sỹ lấy một viên thuốc cho anh ta uống, lấy một lọ thuốc nước đổ lên các vết thương, và … thật “mầu nhiệm”, thuốc chảy đến đâu vết thương lành đến đấy. Chai thuốc hết, anh thanh niên đứng dậy, khỏe re, toe toét cười. Tiếng vỗ tay vang lên và sau đó, tiếng xuýt xoa thán phục râm ran trong nhóm du khách.

Tiếp theo, một phụ nữ lên sân khấu, đổ cồn vào tay, châm lửa cháy đùng đùng. Khi lửa tắt bàn tay chị phồng rộp lên, Vị giáo sư liền mang lọ thuốc nước trong suốt ra, rưới vào tay chị, và chao ơi thuốc thần thuốc thánh cũng không hiệu nghiệm bằng, rưới đến đâu da tay chị phụ nữ hết phồng, trắng hồng trở lại đến đấy.

Thế là mọi người nhắm mắt, nhắm mũi, xỉa tiền mua thuốc bỏng, thuốc trị thương. Tôi thách bạn nào đi trong nhóm du lịch ấy, trong hoàn cảnh ấy, mà không mua một thứ gì. Mình cũng được khám bệnh như mọi người, bác sỹ nói mình có bệnh, kê đơn đàng hoàng sao mình không mua thuốc. Nói không có tiền giữa đám khách du lịch với nhau thì mắc cỡ lắm. Tôi đã bị người đàn ông trong nhóm khinh thường nên vội tránh đi nơi khác.

Lên Vạn Lý Trường Thành, nhìn núi non trùng điệp bao la, hiểu thêm, đất nước Trung Hoa vĩ đại bao nhiêu thì ta càng thấy … tham vọng của Trung Nam Hải càng dữ dội bấy nhiêu, mưu sâu kế hiểm bấy nhiêu, lừa lọc, lòng dạ rất hẹp hòi, lừa đảo như chớp, không rộng rãi như miệng lưỡi họ nói.

Những người đóng vai quân lính, người hầu cận vua chúa ngày xưa đứng bên những chiếc kiệu, sẵn sàng phục vụ du khách, những nhiếp ảnh viên đon đả mời chụp ảnh kỷ niệm, ân cần lắm, nhưng nhìn sâu vào mắt họ không có … chút chân thành nào.

Một người ra dáng thi nhân ngồi sau cái bàn viết thi pháp bán cho du khách. Tôi mua tờ giấy hoa văn hai mươi tệ, mượn bút viết mấy câu bằng chữ Hán: “Thử địa nhược đại mông. Bá đạo nhân thực nhân” – Nơi này ôm mộng lớn, toàn quân ăn thịt người!. Tôi tặng lại người viết, anh ta vái một vái, rồi gập tờ giấy lại đút vào túi.

Nhóm chúng tôi đến Tô Châu vào một buổi chiều. Thành phố cổ kính nổi tiếng bởi nhà thơ Trương Kế, thời vua Đường Túc Tông, với bài “Phong Kiều Dạ Bạc”:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cộ tô thành ngoại hàn sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Cụ Tản Đà đã dịch cực hay là:

Trăng tàn tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cậy ánh sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Trước khi được đi thăm Hàn sơn tự, xây dựng 70 năm trước khi Trương Kế ra đời, để viết Phong kiều dạ bạc, chúng tôi được “mời” uống trà Loa Xuân, nổi tiếng Tô Châu. Hướng dẫn viên du lịch là một cô gái trẻ, miệng lưỡi không thua kém anh chàng Bắc Kinh, lại hấp dẫn hơn bởi sự duyên dáng. Cô nói:

– Mời các anh các chị, các chú các bác vào uống trà, tại nơi sản xuất loại trà Loa Xuân, nổi tiếng Trung Quốc.

Trong hoa viên lộng lẫy, ban giám đốc và nhân viên xếp hai hàng, ăn mặc chỉnh tề đón tiếp khách du lịch như đón nguyên thủ quốc gia. Một dãy sa lon bọc vải đỏ chót trong căn phòng mát lạnh. Uống trà khác với uống cà phê, càng khác với cà phê đá, trà đá, ở chỗ tĩnh, mát. Người Tô Châu hiểu như vậy, nên làm phòng trà mát lạnh.

Khách vừa ngồi ấm chỗ, nước được bưng lên, những gói trà được mang tới, và những cô gái trẻ trang phục bằng loại lụa tuyệt đẹp xứ lụa Tô Châu, nhanh nhẹn pha trà bằng các động tác chuẩn xác đến mức, một cô cầm chiếc ấm có cái vòi dài gần hai mét rót nước vào miệng cái bình trà nhỏ xíu mà không rớt ra ngoài giọt nào. Hàng chục cặp mắt cứ trố ra nhìn, tấm tắc khen, sao họ khéo thế.

Từng ly trà được mời từng vị khách. Giám đốc nhà máy cúi gập đầu chào mọi người, rồi nói xuất xứ loại trà Loa Xuân, sự kỳ công trong trồng tỉa, chế biến và tác dụng của nó. Kết thúc câu chuyện, là mời du khách mua trà với giá … khuyến mãi đặc biệt.

Được tiếp đãi như thượng khách, đã uống trà của người ta mời, chả nhẽ “nhổ đít” bước ra tay không? Có mà ê mặt! Hơn nữa lại là khách đi theo đoàn, đoàn Việt Nam hẳn hoi, chơi không đẹp ảnh hưởng quốc thể chứ đâu bỡn. Lại sợ người cùng đi nhìn mình, khinh mình kẹt sỉn, thế là đồng loạt rút ví.

Cũng phải thừa nhận uống tách trà họ vừa pha ngon thật, bập vào môi có vị hơi đắng , mùi thơm thoảng, uống vào có vị ngọt trong cổ họng. Tôi nói với người giám đốc, xin mua chính những gói trà vừa bóc ra pha cho chúng chúng tôi uống, hắn ta “hảo hảo” rồi lánh đi, không tiếp chuyện nữa!

Từ Tô Châu về Quế Lâm, ăn món tương ớt và món mỳ thịt ngựa nổi tiếng, nhưng sau mới biết bị lừa , ăn phải mỳ thịt … chuột.

Nhưng rồi cũng cho qua chuyện để đi thăm công viên Thất Tinh, núi Tượng Tị, đồi Trăng Khuyết… Đến mả Mã Viện, thấy tượng hắn đúc bằng đồng, cưỡi trên lưng con ngựa chiến, mặt hắn vênh váo, hai con mắt trừng trừng, miệng như đang gào thét, chẳng biết muốn đâm chém ai, hay đang đau đớn vì bệnh ỉa chảy, tôi vụt nhớ câu thơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tới đây gần nửa thế kỷ trước: “Trăm năm mới đến nơi này, Ngàn năm mới thấy mặt mày ở đây!”.

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Tân Sơn Nhất. Hầu như các loại thuốc quý đều vứt lại khách sạn bên Trung Quốc. Bà vợ viên tướng công an nói với tôi:

– Bác Minh Diện ơi, mấy sợi dây chuyền ngọc trai là đồ dỏm bác ạ, cái con Tỳ Hưu tử tiệt cũng dỏm. Sao bác biết mà không bảo em?

Tôi đưa mắt nhìn ông bạn cùng nhóm, ông nhếch miệng cười như mếu:

– Nó lừa mình khéo quá anh ạ! Mả cha cái bọn Tàu!

Bọn Trung Cộng nổi tiếng cả thế giới về hàng dỏm, hàng giả, hàng nhái; đã nhiều lần bị quốc tế lên án vì các thực phẩm độc hại… Bị phỉ nhổ vì các hành vi ăn cắp các công trình nghiên cứu và phát minh của Hoa kỳ.

Việt nam, thật đáng thương khi không may ở gần anh Trung Cộng xấu xa, là thùng rác khổng lồ để Trung Cộng tuôn hàng dỏm, hàng độc hại có nguy cơ gây ung thư, không ngừng giết hại dân ta từ từ mỗi ngày.

Chưa hết, chúng còn có âm mưu thâm độc và to lớn hơn khi được chính quyền Việt cộng tham lam và ngu dốt tiếp tay, đó là âm mưu sửa lại lịch sử, địa lý, văn hóa… của nước ta bằng cách in và phát hành hàng lọat các sách giáo khoa cho các trẻ thơ, trắng trợn dạy dỗ trẻ em: VN là một phần đất của Trung Cộng!

Qua bài viết trên đây, tác giả đã lột tả những hành động lừa lọc rất tinh vi của Ngành du lịch TC nhằm móc túi của du khách.

Trước sự xâm lăng biển, đảo, đất đai của VN một cách ngang ngược, đầy hiếu chiến; tàn phá môi trường thiên nhiên, biến đất đai của chúng ta thành những “tô giới” của Trung Cộng ngay trên quê hương của chúng ta, ở đó họ tự ý đưa người của họ vào VN, xây dựng nhà cửa, đường xá, trường học, bệnh viện, phố xá, hoàn toàn sử dụng tiếng Hoa, có luật pháp riêng… Không một người dân Việt nào, kể cả bộ đội, chính quyền địa phương được bén mảng tới.

Bùi Văn Bông – Minh Diễn

From: TU-PHUNG

“TÙ TÚNG” TRONG CHIẾC QUAN TÀI

“TÙ TÚNG” TRONG CHIẾC QUAN TÀI

Đường phố Sài Gòn thênh thang vắng lặng không một bóng người bởi thực hiện lệnh giãn cách xã hội nghiêm ngặt thời dịch Covid.  Có một lối vào lại đông đúc và chật hẹp chẳng thể thông giao.  Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa những ngày vừa qua bế tắc bởi xác người quá nhiều.  Đoàn xe đưa đám nối đuôi nhau đợi chờ hàng giờ hầu giải phóng cái gọi là “tù túng” cho cả đôi bên: người nằm trong và kẻ ở ngoài.  Cảnh “một cõi đi về” thời Covid sao nó vong thân đến tột cùng!

Câu chuyện “shipper buồn nhất thế giới” trên đường Âu Cơ – Lạc Long Quân những ngày qua làm cho người ta quặn đau bởi thân phận con người thời dịch hãi quá ư “bèo bọt” trong nắm tro tàn.  Đúng là thân phận con người, đi đến “mỏi gối chồn chân” của kiếp bụi tro tưởng được an yên phút giây biệt ly, nào ngờ vẫn còn đó sự mệt nhoài nghe tiếng ai oán gõ nhịp không nguôi.  Đọc những câu thơ trong bài “Cát Bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chúng ta mới thấm thía và chua xót cho cái “tù túng” của phận người trong “hũ tro cốt” như một món hàng giao dịch thời công nghệ 4.0: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp không nguôi.” 

Mạng xã hội truyền đi những video với thân phận “nhạt nhòa” của con người trên những chiếc xe tang dồn ứ quan tài.  Lò thiêu hoạt động ngày đêm vẫn không thể đưa những xác người “vượt qua ranh giới của cái hình hài” mà về với mẹ đất trong cái bụi.  Nằm trong chiếc quan tài “chập hẹp, gò bó, tù túng” có bao giờ vẫn có một cảm thức linh thiêng nơi ấy không được “thoải mái.”  Người ra đi còn đâu một nhịp thở trong hai tiếng hiện sinh; người đang sống “với hoài” cũng thấy xa tít chân trời một đoạn đường đưa tiễn.  Nỗi đau vẫn còn mãi và day dứt bởi cái chết mùa này sao “cách ly” đến cả đường về thế giới bên kia lẫn lời tiếc thương phân ưu của người thân ruột rà.  Thế mới đau!  Đau trong cái “chật hẹp” của phận người, đắng trong cái “gò bó” của thời cuộc, và xót xa trong cái “tù túng” trên đoạn đường cuối cùng của cuộc đời.

Trong thời đại dịch, “nghĩa tử là nghĩa tận” sao nó phong trần đến khó tả.  Cha mẹ mất con cái không thể gặp gỡ bày tỏ “nghĩa tận” của đạo hiếu.  Vợ chồng “có nhau” đến chẳng thể rời, “xương bởi xương tôi thịt bởi thịt tôi,” phút giây tạ thế cũng “nhân tình thế thái” đến lạ thường trong cái thực tại khốn cùng tạo ra.  Lời trần tình trên trang facebook Hạnh Maria cũng làm cho chúng đau tận cõi lòng: “Thế là xong một kiếp người.  Cô em dâu ra đi không một người thân là hai đứa con gái, người chồng thì chỉ đứng từ xa nhìn vào vì dịch, cũng vì dịch mà em bỏ lại hai đứa con thơ.  Không biết từ mai hai cháu sẽ bám víu vào ai.  Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn Maria mau hưởng tôn nhan Thiên Chúa.”  Nhìn chiếc quan tài đổ lệ, người ở lại tiếp tục gồng mình với thời đại dịch “tù túng” trong mọi sinh hoạt thường ngày.

Chết thời Covid vẫn là cái chết của phận người.  Chết trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng là thực tại chân thật nhất mà ai cũng sẽ trải qua.  Bởi đó, sinh ra là nguy cơ tiềm ẩn một ngày sẽ chết đi.  Sinh tử là một cặp “hữu thể thực hữu” nghe thì xa xôi nhưng thực chất rất gần, gần đến mức biên thùy của nó giống như khoảng không giữa hai nhịp thời gian hiện tại và tương lai.  Hầu như các triết gia hiện sinh ngắm nhìn cái chết không mấy mặn mà.  Và cả chúng ta nữa, trong giây phút đau buồn trước cái chết của anh chị trong đại dịch, chúng ta cảm thấy đắng lòng.  Sự “tù túng” trong chiếc quan tài kia có thể người đời gọi đó là định mệnh không thể cưỡng lại và chẳng chút nào khiên cưỡng với phận người.  Trong lối tâm thức này, chết đúng là tuyệt vọng thật. 

Tuy nhiên, tinh thần Kitô Giáo khả dĩ giúp chúng ta nhìn về tương lai bên kia bờ trần gian.  Chết không phải là định mệnh đưa con người vào hư vô, mà là “sự sống chỉ thay đổi chứ không mất đi,” là đưa ta vào sự sống vĩnh cửu.  Chết là sống lại cách bất diệt nơi Thiên Chúa, Đấng là uyên nguyên sự sống.

Thật vậy, cần một lời nguyện cầu cho người quá cố an vui bên kia nấm mồ, và lại cần một niềm hy vọng vào tương lai tươi đẹp cho con người nguy nan trong cơn đại dịch.  Thiên Chúa là nơi ta tìm gặp, là Đấng giải thoát muôn sự “tù túng” cho phận người cả đời này và đời sau.  Lời Chúa trong Chúa Nhật 19 thường niên hôm nay đặt chúng ta trong ơn gọi “cứu rỗi” cho cả hai cảnh vực này.  Niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, và ăn bánh hằng sống nơi Người sẽ giúp chúng ta hóa giải tất cả mọi đau khổ trong quá khứ, ngay lúc này và cả tương lai.  Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời.  Tôi là bánh trường sinh.  Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết.  Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.  Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.  Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 47-51).

Chúng ta chẳng thể có kinh nghiệm về cái chết của chính mình, nhưng cái chết của người bên cạnh giúp chúng ta gẫm suy về ý nghĩa cuộc đời.  Những khoảnh khắc “tù túng” trên đường về bên kia thế giới của những người ra đi trong thời dịch bệnh này, có làm cho cuộc đời chúng ta thay đổi không?  Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta vượt thắng với sự trân trọng “ơn hoán cải” mà Người khơi gọi lên trong lòng chúng ta qua những “dấu chỉ thời đại” của ngày hôm nay.

Phan Hiếu

Nguồn: https://dongten.net

From: Langthangchieutim

THÁNH LAURENSÔ, PHÓ TẾ, TỬ ĐẠO – Ngày 10 tháng 8

May be art of 2 people

Ngày 10 tháng 8

THÁNH LAURENSÔ, PHÓ TẾ, TỬ ĐẠO

“Hoàng đế không thấy nửa người tôi được nướng chín kỹ rồi sao? Hãy lật phía kia để nướng tiếp cho kỹ đi để Hoàng đế có thể ăn thịt nướng này.”

Thánh Laurensô sinh tại thôn Huêca nước Tây Ban Nha. Cha mẹ ngài là người rất đạo hạnh. Quãng đời thơ ấu của Laurensô không được ghi lại tường tận, chỉ biết rằng: Ngài sớm từ biệt quê hương thân yêu để sang du học tại Rôma và đã sống cả cuộc đời trần thế tại đây

Được sống nơi kinh đô Giáo Hội, Laurensô hăm hở học hành và rèn luyện nhân đức, nên chẳng bao lâu tiếng nhân đức và tài học rộng hiểu sâu của ngài vang lừng khắp nơi. Khi vừa lên ngôi ngày 30 tháng 8 năm 257, Đức tân Giáo Hoàng Xíttô đã chọn Laurensô làm Phó tế giúp việc cho ngài.

Nhưng rồi cơn bách hại đạo làm cho Giáo Hội Chúa lại phải sống trong âu lo và thử thách. Giông tố đó do Hoàng đế Valêrianô gây ra. Để trốn tránh, giáo sĩ cũng như giáo dân phải sống dưới những hang toại đạo hoặc trong những nhà giáo dân kín cổng, cao tường.

Hoàng đế Valêrianô ra lệnh cho quân lính bí mật theo dõi Đức Giáo Hoàng và một đêm kia, quân lính đã tìm ra con đường nhỏ, quanh co dẫn xuống hầm giữa nghĩa địa Prêtêta. Bắt được Đức Giáo Hoàng đang ngồi giảng dạy Lời Chúa giữa đông đảo giáo dân. Quân lính xông vào bắt Đức Giáo Hoàng và đoàn tháp tùng đem nộp cho quan. Ngài bị án chém đầu. Được tin sét đánh này, thầy Phó tế Laurensô vội vã chạy theo Đức Giáo Hoàng và năn nỉ xin được cùng chết với vị cha chung. Nhưng Đức Giáo Hoàng Xíttô an ủi:

– Con yêu dấu, cuộc bách hại đạo dữ dội đang chờ đợi con, vài ngày nữa con sẽ theo Cha. Phần Cha, nay đã già cả, Cha sẽ trải qua những thử thách này cách nhẹ nhàng, nhưng con còn trẻ trung, đầy nghị lực, con sẽ phải trải qua cuộc bách hại đạo vẻ vang hơn nhiều. Rồi Đức Giáo Hoàng ban phép lành vĩnh biệt người con yêu dấu, để đi ra pháp trường.

Trước cái tang chung của Giáo Hội và trước cảnh “Đoàn chiên không chủ chăn”, thầy Phó tế Laurensô suốt ngày đêm đi săn sóc và an ủi giáo dân đang ẩn nấp, rải rác khắp thành Rôma.

Hoàng đế Valêrianô là con người độc ác, lại tham lam, khi biết Giáo Hội còn nhiều tài sản, lập tức, ông hạ lệnh bắt thầy Phó tế Laurensô tới để tra của. Hoàng đế nói với thầy:

– Giáo Hoàng và các người Kitô giáo trách ta xử ác với họ. Giờ đây ta hứa sẽ dễ dãi nếu ông đem nộp cho ta tất cả của cải như chén vàng, đĩa bạc, chân nến và các đồ thờ quý giá: Ta rất cần các đồ đó để tăng cường ngân quỹ quốc gia.

Thầy nhanh nhẹn trả lời:

– Thưa Hoàng đế, tôi rất giàu, chính kho bạc của Hoàng đế cũng không thấm vào đâu, tôi sẽ nộp cho Hoàng đế những vật quý báu ấy. Vậy xin Hoàng đế cho tôi ít ngày để kịp thu gom của cải đó lại.

Hoàng đế gia hạn ba ngày.

Còn thầy Phó tế Laurensô ngang nhiên đi khắp thành phố Rôma, tập trung các bệnh nhân mà Giáo Hội vẫn cấp dưỡng, gồm mọi thứ bệnh: Phong cùi, mù loà què quặt, độ chừng 1.500 người. Ngài thuê những chiếc xe ngựa chở họ thẳng tới cung điện Hoàng đế.

Thấy công việc kỳ lạ của thầy, dân thành Rôma rủ nhau đi xem rất đông. Đoàn xe ngừng trước cung điện Hoàng đế, thầy tâu trình lớn tiếng:

– Tâu Hoàng đế, đây là tất cả kho tàng quí báu của Giáo Hội Công giáo chúng tôi, đây là những người nghèo khổ, bệnh tật, nhưng chính nhờ công việc cứu trợ họ và chúng tôi đã tích trừ được nhiều kho báu trên trời. Xin Hoàng đế hãy đón nhận tất cả của cải này để dùng cho thành Rôma và cho chính Hoàng đế.

Trước những lời đầy khiêu khích đó, Hoàng đế Valêrianô đỏ mặt, tía tai, nổi giận đùng đùng, ông truyền đánh đòn thầy bằng roi sắt; rồi truyền đem các dụng cụ hành hình ra trước mặt thầy và nói:

– Ngươi sẽ phải chết, nhưng ngươi đừng tưởng sẽ được chết ngay đâu ta sẽ kéo dài cái chết của ngươi bằng trăm ngàn cực hình .

Người lính dũng cảm của Chúa Kitô mạnh dạn thưa:

– Ngài tưởng tôi sợ cực hình sao? Không đâu! Ngài cho những cực hình đó là ghê sợ, nhưng tôi không sợ chút nào, mà còn ước mong từ lâu.

– Ngươi tưởng rằng, “những của cải quí báu” kia sẽ cứu ngươi thoát những cực hình sao?

– Tôi cậy vào của cải trên trời, đó là lòng Chúa nhân từ thương xót. Thiên Chúa sẽ ban cho tôi được giải thoát, dù khi thân xác tôi phải phanh ra làm trăm ngàn mảnh.

Hoàng đế truyền đánh đòn thầy lần nữa. Đồng thời, Hoàng đế truyền cho lý hình nung đỏ những thanh sắt dí vào khắp mình ngài.

Không kêu la, than trách, thầy ngửa mặt lên trời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin hãy thương đến tôi tớ Chúa đã bị kết án là không chối Chúa, đã bị tra tấn vì dám tuyên xưng Danh Thánh Chúa giữa trăm ngàn cực hình”.

Hoàng đế tức giận hét lên:

– Mày là thằng phù thủy, mày coi khinh cực hình, nhưng nhân danh các thần minh, nếu mày không tế lễ các ngài, ta sẽ hành hạ mày như chưa từng ai có thể làm được.

Thầy mạnh dạn trả lời:

– Nhờ ơn Chúa, tôi không sợ chút nào, mọi cực hình sẽ qua đi. Chúc Hoàng đế hăng hái thi hành điều ngài dự định để làm khổ tôi.

Được lệnh, lý hình lấy roi sắt tua gắn chì đánh túi bụi vào thân xác ngài, đến nỗi những mảnh thịt bóc ra tung toé. Khắp mình mẩy tím bầm, đẫm máu. Thầy tưởng giờ phút vinh quang đã tới. Nhưng từ trời có tiếng vang lên báo cho ngài biết ngài còn phải chịu đựng thử thách gay go hơn nữa. Chính Hoàng đế cũng nghe thấy những tiếng vang đó, Hoàng đế kêu lên:

– Đoàn quân Rôma, các ngươi không nghe thấy ác quỉ đang kéo tới cứu phạm nhân, khinh dể thần minh và coi thường các khổ hình sao?

Như không để ý đến lời hò hét của Hoàng đế, thầy sốt sắng cầu xin:

– Lạy Chúa, xin thương đến người tôi tớ bất xứng này, con nguyện xin Chúa hãy ban cho những người có mặt đây được trở lại cùng Chúa. Xin Chúa hãy an ủi họ trước toà phán xét.

Bấy giờ, một Thiên thần lấy hình một thanh niên tới an ủi và lau chùi các vết thương cho thầy. Một binh sĩ tên là Rômanô được Chúa cho xem thấy sự lạ này, đã mạnh dạn tiến thẳng tới xin thầy Phó tế Laurensô rửa tội cho anh và sau đó Rômanô cũng được phúc tử đạo.

Hoàng đế Valêrianô vẫn chưa nguôi căm tức, Hoàng đế truyền đặt trước mặt thầy những dụng cụ hành hình có thể làm sởn tóc gáy người xem. Hoàng đế hỏi lý lịch, thầy trả lời:

– Quê tôi ở Tây Ban Nha, từ nhỏ tôi đến ở Rôma được rửa tội và được giáo dục trong đức tin Công giáo.

– Ngươi tôn thờ Thiên Chúa, Đấng dạy ngươi bất kính các thần minh và coi thường các khổ hình phải không?

– Nhân danh Chúa Kitô, tôi không sợ khổ hình chút nào .

Nghe lời thách thức đó, Hoàng đế căm giận như điên cuồng, truyền nung đỏ giường sắt và đặt thầy lên giường sắt nung đỏ. Lúc đó, ngài cầu nguyện:

– Lạy Chúa, xin nhận hy lễ xông hương thơm ngọt ngào này.

Rồi, quay sang phía Hoàng đế, ngài nói:

– Tâu Hoàng đế, Hoàng đế có biết không, lửa này chỉ làm cho tôi tươi tỉnh hơn, nhưng nó sẽ dành sức nóng để thiêu đốt Hoàng đế đời đời.

Hoàng đế Valêrianô tức giận, sùi bọt mép và trở nên mù quáng trong giận dữ còn thầy tươi cười nói tiếp:

– Hoàng đế không thấy nửa người tôi được nướng chín kỹ rồi sao? Hãy lật phía kia để nướng tiếp cho kỹ đi để Hoàng đế có thể ăn thịt nướng này.

Khi lý hình đã lật thầy lên, ngài nói:

– Đã chín rồi, mời Hoàng đế ăn đi.

Lúc đó, đoàn giáo dân đứng vây quanh, thấy một vầng sáng lạ lùng bao quanh thầy và xác ngài toả ra hương thơm ngào ngạt.

Biết rằng cuộc chiến đấu sắp hoàn tất, thầy cảm tạ Thiên Chúa:

– Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa, vì nhờ Chúa mà con sắp được vào nước hạnh phúc,

Rồi ngài tắt thở, hôm đó là ngày 10 tháng 8 năm 258.

Xác thầy được hai linh mục kính cẩn an táng một nơi cách thành phố Rôma hai ngàn thước. Thế kỷ IV, Hoàng đế Constantinô đã xây cất một ngôi thánh đường nguy nga trên chính mộ thánh nhân và được mang tên thánh Laurensô.

TgpSaigon.net  

Những đêm đen thay đổi cả cuộc đời.

 

Những đêm đen thay đổi cả cuộc đời.

Đời này có lẽ rất hiếm ai may mắn từ lúc sinh ra, trưởng thành, lập nghiệp, thành gia thất, nghỉ ngơi hưu trí… cho đến thời khắc trở về cát bụi mà cuộc đời phẳng lặng êm ả, an cư một nơi duy nhất không hề dời đổi bao giờ.

1/-

Ba tôi là con trưởng trong gia đình địa chủ miền Nam thuộc một làng nổi danh nghề dệt chiếu, đẹp trai học giỏi, nói năng lịch sự nhẹ nhàng nên nhiều cô gái đem lòng yêu thương. Một phần sợ ba “lạc lòng” trước bao cám dỗ, một phần cũng như tâm lý bao người ở thời kỳ đó luôn mong có cháu chắt nối dõi tông đường nên mới 21 tuổi ba đã được ông bà nội đã cưới vợ. Ông bà ngoại tôi chỉ có má tôi là con độc nhất, sống cách làng của ông bà nội khoảng năm cây số. Những năm 1930-1940, dù ông bà là nông dân thuần phác, nhưng tư tưởng tiến bộ nên đã cho má tôi đi học đến năm 16 tuổi. Khi ông bà nội mang trầu cau sang cưới má về làm dâu thì má mới ngưng học.

Làm dâu trưởng tuy vất vả vì phải lo quán xuyến việc nhà cho gần chục thành viên bên chồng, phải thức khuya dậy sớm nấu nướng phục vụ thợ ruộng… nhưng má được ông bà nội thương yêu như con ruột, nhất là bà nội. Tiếc thay, hơn một năm sau bà nội chưa kịp ôm cháu nội nào vào lòng thì đã qua đời bởi bọn lính Lê Dương (Légion Étrangere). Hôm ấy chúng vào làng càn quét tìm bắt Việt Minh. Đàn ông, đàn bà, trai gái đều chạy ra đồng hay sang làng khác lánh nạn, tưởng để người già cả ở lại trông nhà thì không sao, ngờ đâu chúng lục soát từng nhà, bắn giết tất cả những ai mà chúng gặp, trong đó có bà nội tôi. Nên mỗi năm ngày giỗ bà nội cũng là ngày giỗ chung của làng, nhà nhà đều vang tiếng dao thớt làm cỗ cúng người thân.

Hai năm sau chị Hai tôi ra đời, được ông nội bế bồng vài tháng thì Việt Minh nửa đêm đến bắt ông đem vào bưng đấu tố vì tội “dám chở lúa đem bán ra ngoài thành mà không xin phép”. Sau có người quen chứng kiến về kể lại: Chúng xử tội ông bằng cách cột hai ngón tay trỏ treo lên cây cho chết dần trong đau đớn.

Ba tôi nhậm chức Quận trưởng Th. B khi chưa đầy 27 tuổi, vùng thuộc cuối bản đồ Việt Nam, nơi cộng sản trà trộn ẩn náu dầy đặc. Má tôi lo sợ bất an nên nhân dịp quận Đông Yên đang thiếu chức Phó Quận, má khuyên ba nên nhận chức này vì nơi ấy tương đối gần nhà hơn. Dù đây cũng là vùng xôi đậu, ban ngày Cộng Hoà, ban đêm Cộng Sản. Lúc đó phương tiện đi lại đường bộ còn hạn chế, muốn ra tỉnh phải dùng tàu hoặc đò nhỏ luồn lách qua kinh rạch mới ra sông Cái. Tôi còn nhớ thỉnh thoảng chú tùy viên lái chiếc “bo-bo” (Bord-à-Bord) chở ba, má, chị em tôi về thăm ông bà ngoại hoặc các chú cô dịp giỗ nội, Tết…

Khi chị Hai được chín tuổi, chị Ba sáu tuổi, tôi bốn tuổi, em gái kế lên hai, em trai vừa ra đời được vài tháng, gia đình chưa thỏa mừng vui vì nhà toàn con gái giờ mới có cậu trai, thì ba gặp nạn. Ông phải vào tù oan bởi Cộng Sản dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà.

Số là, một đêm khuya mọi người đang ngon giấc bỗng nghe có nhiều tiếng chân rầm rập vang trên con đường độc đạo dẫn vào dinh Quận. Tiếp đó, giọng một người đàn ông hô to lời lẽ xấc xược rằng họ thuộc đoàn quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến đây để giải phóng đồng bào thoát ách đô hộ của chính quyền Diệm Nhu và tìm bắt “những tên ác ôn nợ máu với nhân dân”. Họ nêu một loạt tên gồm có Quận Trưởng, Phó Quận Trưởng, Cảnh sát Trưởng, Chỉ Huy Lính Bảo An…

Lúc đó tôi còn quá nhỏ nên không nhớ gì nhiều, chỉ nghe Ba Mẹ và Chị Hai kể lại, tuy lính bảo vệ dinh Quận ít hơn nhưng vẫn oanh liệt chống trả, đến gần sáng thì đẩy lui Cộng quân. Phía Cộng Hoà nhiều chiến sĩ hy sinh, trong số ấy có ông Quận trưởng, còn ba tôi may mắn chỉ bị thương. Rồi sau đó ba cùng với toàn thể viên chức hành chánh quận bị bắt giam vì tình nghi nội gián.

Thế là má con tôi bồng bế nhau về nương nhờ ông bà ngoại. Nhà ngoại gồm hai căn. Một nhà sàn cao cách mặt đất một mét, cất theo kiểu vùng Cao Lãnh, để ngừa ngập lụt, làm toàn bằng gỗ quí, mái nhà lợp bằng lá dừa nước nên lúc nào trong nhà cũng mát mẻ. Các cánh cửa chạm khắc rất cầu kỳ, phần trên có ghi năm cất nhà “1940”. Căn thứ nhì cũng bằng gỗ, nền lót gạch tàu, chung vách căn kia, thông nhau bằng cánh cửa hông. Căn nhà này là ngoại cho đất ba má cất nhà để mỗi khi đưa chị em tôi về chơi có nơi ở rộng rãi thoải mái. Chung quanh hai căn nhà bao bọc bởi hàng rào dâm bụt. Mảnh vườn phía trước trồng xoài, lý, me, ổi, hoa nhài, hoa sứ. Phía sau và bên chái có hàng dừa bụi chuối trĩu nặng hoa trái quanh năm. Bà ngoại còn dựng giàn trầu nho nhỏ, cạnh bên là giậu mồng tơi quấn quýt xanh rờn. Nhờ vậy mà khi ba gặp nạn, mẹ con tôi về có sẵn chỗ trú thân êm ấm.

Để nuôi đàn con dại, má vừa mở các lớp dạy học tại nhà vừa nhận may quần áo cho láng giềng. Các kiểu trang phục nữ-nam má đều may rất khéo nên lúc nào cũng có khách.

Lớp học của má lúc đầu chỉ vài em bé trong xóm đã quá tuổi đi học mà cha mẹ chưa cho đến trường. Má chỉ lấy tiền tượng trưng vì biết đa số đều nghèo. Nhờ phương pháp dạy chữ dễ hiểu, kèm thêm dạy lễ nghĩa nên học trò của má mau biết chữ mà rất lễ phép. Tiếng lành đồn xa, dần dần những làng bên cũng có người mang con sang học. Lớp học có tới hơn bốn mươi cô cậu từ Vỡ lòng đến lớp Nhứt (tức lớp Năm bây giờ). Chị Hai, chị Ba phụ má viết chữ mẫu bằng bút chì cho lớp Vỡ lòng tô lại bằng mực tím.

Tuy thiếu vắng ba, cuộc sống thanh bần, nhưng nhờ có ông bà ngoại hết lòng yêu thương chăm sóc nên chị em chúng tôi vẫn được hưởng một thời ấu thơ hạnh phúc. Đó cũng là nơi ký ức tuổi thơ tôi in đậm nhất mà không lớp bụi thời gian nào có thể xoá nhoà được. Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn mơ thấy mình sống trong căn nhà gỗ thân yêu ấy.

Đầu năm 1964, vào một buổi chiều nắng vàng còn vương trên ngọn chuối cành dừa bên chái, gió từ sông thổi mát rượi, có chiếc xe chở khách ngừng xéo trước cổng nhà ngoại. Từ trên xe bước xuống là bóng dáng thân yêu quen thuộc của ba hiện ra. Cả nhà mừng vui khôn xiết, khóc cười ôm ba. Láng giềng hay tin đến chúc mừng tận khuya mới giải tán. Chính quyền trả tự do cho nhiều người bị tình nghi như ba mà không thể kết án vì không có bằng chứng.

2/-

Bị tù oan năm năm, ba chán chuyện đời, muốn tìm việc gì không dính líu đến công quyền để nuôi vợ con nhưng có lẽ số mệnh ba vẫn còn nặng nợ Công Hầu Khanh Tướng nên một người bạn chí cốt là Thiếu tá Ch. thuyết phục ba tham chính. Lúc đầu ba chối từ nhưng Bác Ch. không bỏ cuộc, thỉnh thoảng ghé thăm vẫn nhẫn nại nhắc lại lời đề nghị.

Năm sau, không thể tiếp tục làm Khương Tử Nha ngồi câu cá với chiếc cần không lưỡi không mồi bên bờ sông Vị chờ thời, trút gánh nặng cơm áo cho cha mẹ vợ và vợ… nên cuối cùng ba chấp nhận đi làm trở lại. Lần này đảm trách chức vụ Trưởng Ty Thông Tin tỉnh. Nhà lại thêm cô em út ra đời. Cuộc sống tưởng đâu bình yên phẳng lặng không còn gì phải lo lắng, ai ngờ lần nữa tai ương ập xuống không chỉ với gia đình tôi mà cho toàn thể dân miền Nam hiền hoà no ấm. Cuối Tháng Tư năm 1975, miền Nam bị cưỡng chiếm trong sự hãi hùng hoang mang tuyệt vọng của bao người. Ba tôi lại khăn gói vào Trại Cải Tạo, mà thực chất là tù khổ sai lao lực nặng nhọc trong rừng U Minh muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh.

Với lý lịch ba như vậy, nên chị Hai bị nghỉ việc thư ký. Chị Ba và tôi không được tiếp tục đến giảng đường đại học. Cô em thứ năm chưa kịp thi tốt nghiệp tú tài đôi cũng chung số phận. Cậu em thứ sáu hết lớp 10 rồi bỏ học chạy xe ôm phụ giúp gia đình. Cô em út chín tuổi tiếp tục học đến lớp 12 thi tốt nghiệp thứ hạng cao nhưng không được thi đại học, chấm dứt mộng theo ngành y khoa.

Chị em tôi đặt vài cái bàn trong sân nhà bán cà phê giải khát thu nhặt vài đồng sống tạm qua ngày. Thời gian đầu, ruộng chưa bắt vào Hợp Tác Xã nên ngoại tôi còn có vài mẫu đất canh tác. Khi lúa vào mùa gặt chị em tôi về đồng phụ ngoại, thuê thêm vài thanh niên khoẻ mạnh làm giúp… nên cả nhà chưa đến nỗi đói ăn.

Đến Giáng Sinh cuối năm 1977, một đêm khuya cả nhà đang ngon giấc bỗng nghe tiếng gõ cửa dồn dập, tiếng chân người lao xao cùng tiếng hét: “Mở cửa! chủ nhà mở cửa nhanh lên cho Công an vào xét nhà!”. Má tôi ra mở cửa, giật mình thấy chừng vài chục công an dầy đặc trước sân, họ xô má qua bên tràn vào khám xét, đi từ trước ra sau, từ ngoài phòng khách vào tận phòng ngủ lùa tất cả chị em tôi dậy bắt ra ngồi im một chỗ trên salon. Họ lục tung tủ, bàn, nhà bếp, gầm giường, leo cả vào bồ đựng mấy trăm giạ lúa ở nhà sau…

Má tôi cố gạt sợ hãi hỏi: Các ông làm gì nửa đêm vào lục soát nhà tôi vậy?

Một người có vẻ là chỉ huy nói:

“Có tin báo nhà thím chứa vũ khí âm mưu chống phá cách mạng!”

“Trời, các ông thấy nhà tôi có hai ông bà già, đàn bà con gái trẻ nít, chống các ông thế nào?”

Họ gầm gừ: “Thím im đi, rồi sẽ biết ngay thôi!”

Lát sau, một trong vài công an bươi móc xào xạc trên bồ lúa, la lên:

“Đây rồi, tìm được súng giấu trong lúa đây rồi!”

Như màn ảo thuật, hắn cầm khẩu súng nhỏ giơ lên cao vẻ mặt đầy vênh váo.

Súng? Súng ở đâu mà tự nhiên có trong bồ lúa nhà chúng tôi?

Thế là mấy mẹ con mỗi người được cho mang thêm hai bộ đồ, lướt thướt leo lên xe chở thẳng vào tù, kể cả đứa cháu mới 11 tháng con chị Ba.

Ông bà ngoại và cô em út lúc ấy 10 tuổi cũng bị tống ra cho ở trong cái túp lều hoang mục rỗng, chỉ lấy tay đẩy nhẹ cũng đổ sụp, cách căn nhà khang trang của chúng tôi chỉ một khoảnh sân vài mét.

3/-

Từ năm 1954, ở miền Bắc có hàng trăm ngàn người bị đấu tố đến chết vì gán cho danh địa chủ, hàng triệu người phải bỏ nhà cửa ruộng vườn, lìa nơi chôn nhau cắt rốn… vào miền Nam trốn hiểm họa cộng sản.

Sau năm 1975, lại lần nữa để chạy trốn cộng sản, một cuộc đại di tản của nhiều triệu dân tìm đường ra biển, vượt biên giới Lào, Campuchia… bất chấp nguy nan cướp bóc, giết hại, tù tội, hãm hiếp, hay bị vùi thây dưới lòng biển. Ngay cả giờ đây đất nước hết chiến tranh, vẫn còn nhiều người Việt tìm cách ra đi, chết ngạt trong container đông lạnh.

Gia đình tôi, nhiều đời dân miền Nam chính gốc. Ông nội chưa hề đặt chân đến Sài Gòn, làm sao hình dung được xứ Bắc với cảnh đấu tố xử tử rùng rợn ngay từ năm 1951. Thế nhưng, ông cũng đã phải chịu cách xử tử dã man của cộng sản, một cái chết treo từ không trung, hãi hùng đau đớn, lúc chưa đầy năm mươi tuổi.

Đến đời ba mẹ chị em tôi không phải chạy giặc xa xôi nghìn dặm từ miền Bắc, miền Trung, gồng gánh qua những đại lộ kinh hoàng đầy xác người, bom rơi đạn lạc; không phải mất nhiều ngày tháng lang thang đói khát, tìm đường xuống tàu hay bất cứ phương tiện nào để vào Nam… mà chỉ vài bước chân từ mảnh sân này qua mảnh sân kia, từ chỗ buổi tối còn quây quần cùng nhau thì sáng hôm sau hơn hai phần ba thành viên trong gia đình ngồi thu lu trong trại tù, một phần ba còn lại thành kẻ vô gia cư, ngơ ngác mất hồn trong căn chòi hoang rách nát, bàng hoàng chưa hiểu vì sao!

Mẹ con tôi ở tù hơn ba tháng thì chúng thả cho về với tội danh “vượt biên”. Còn cậu em trai 18 tuổi thì bị gán tội giấu vũ khí để mưu toan chống phá nên bị giam trong phòng kín cả năm trời. Rồi vì không khám phá thêm được điều gì, chúng chuyển em vào trại tù U Minh mà ba tôi đã từng ở đó trước kia. Thật ra, chúng bày chuyện giấu súng làm lý do để chiếm đoạt hai căn nhà do mồ hôi nước mắt của ông bà tôi tạo dựng.

Chế độ ấy muốn dìm gia đình chúng tôi xuống tận cùng như hàng triệu gia đình miền Nam khác nhưng nhờ sự độ trì của đấng thiêng liêng, nghị lực, ý chí, sự đoàn kết thương yêu của bốn thế hệ ”tứ đại đồng đường”, chúng tôi đã vượt qua mọi khốn khổ.

Em trai được tha về, em cùng nhóm mươi bạn trẻ hùn nhau mua dầu, lương thực bất chấp mùa biển động, chiếc ghe nhỏ liều chết ra đi. May mắn em cũng đến được bến bờ tự do sau khi trải qua hải tặc, bão táp. Hơn 40 năm nay, em đã có cuộc sống an lành nơi xứ lạnh tình nồng. Mấy năm sau, ba tôi cũng được tha về. Má không nỡ bỏ ngoại đã già yếu không người chăm sóc lúc cuối đời để ra đi. Ba thì không thể sống nơi nào thiếu má, nên rốt cuộc đành gác lại chương trình H.O. Các chị em tôi lần lượt lấy chồng, an phận.

Riêng tôi cũng đạt ước mơ thời đi học là được sống trên xứ sở bình yên, hiền hoà, phong cảnh đẹp như tranh – Thụy Sĩ. Tôi chọn nơi này là quê hương thứ hai để sống cho tới cuối đời…

Thụy Sĩ, August 2021

Khi người chết vẫn ‘sống’ trên mạng xã hội

 Kimtrong Lam asked a question in Lương Văn Can 75.

  Khi người chết vẫn ‘sống’ trên mạng xã hội

Lê Tây Sơn

8 tháng 8, 2021

Ảnh đại diện (avatar) trên tài khoản mạng xã hội sẽ sống mãi với thời gian, dù chủ nhân của nó không còn. Lúc đó avatar giống như ảnh trên bia mộ ngoài đời thật. Không ai thoát khỏi cái chết, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể sống mãi dưới hình thức “avatar ảo” (digital avatar) để những người sống có thể thảo luận những câu chuyện, những suy nghĩ và những gì bạn đưa lên mạng giống như trò chuyện với bạn lúc còn sống?

Mạng xã hội, di sản để lại sau khi chết

Khác với di sản trong thế giới thật, việc khai thác di sản trong thế giới ảo hầu như không gặp trở ngại gì và nằm ngoài vòng can thiệp của pháp luật.

Rõ ràng, công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách suy nghĩ cũ về “di sản” và cách chúng ta viết “tự truyện” về mình. Tài khoản Facebook chính là nơi lưu giữ tự truyện của chủ nhân.

Một cuộc khảo sát mới nhất cho thấy, mỗi tài khoản mạng xã hội bỏ ra khoảng 12 giờ mỗi tuần để viết “nhật ký” trên Facebook bằng ngôn ngữ, hình ảnh hay video. Cuốn “tự truyện ảo” này vẫn còn nguyên vẹn sau khi chúng ta qua đời nếu chúng ta không chủ động xoá nó trước khi bị chết. Có người xem “nhật ký số” là “linh hồn số” (digital soul). Những đứa cháu có thể tìm hiểu về bà nội của chúng thông qua các post để ở chế độ “public” hay “friends” trên Facebook của bà. Trừ phi mạng xã hội này giải thể và đóng cửa.

Những biến cố lớn và đáng nhớ trong cuộc đời của bà nội đều được bà tự đưa lên Facebook hàng ngày hay hàng tuần. Những sở thích của bà cũng được đưa lên. Rồi cả những bức ảnh, video và những “chia sẻ” sống động. Người ta có thể dễ dàng biết được xu hướng văn hoá, tôn giáo và quan điểm chính trị của nhau qua Facebook.

Trong vài năm trở lại đây, nhiều công ty công nghệ mở rộng ý tưởng về “digital soul”. Software Eterni.me, phát hành năm 2014, sẽ tạo ra “phiên bản ảo về bạn” (digital version of “you”). Phiên bản này sẽ tồn tại mãi sau khi bạn qua đời. Nếu những software như Eterni.me thành công, thế hệ cháu chắt không chỉ biết nhiều về cuộc sống của ông bà mà còn có thể hỏi họ những câu hỏi và nhận được câu trả lời về những vấn đề mà chúng quan tâm giống như đang ngồi trước mặt.

“Nói vậy để thấy, giao tiếp sau khi chết là điều hoàn toàn có thể xảy ra” – một nhà tương lai học nói. Hãy nhìn qua robot Bina 48 được sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nhân Martine Rothblatt. Robot gần giống diện mạo vợ của Rothblatt và chứa các dữ liệu về ký ức cũng như giọng nói, cách nói của bà.

Rothblatt là tác giả cuốn sách “Virtually Human” và là Giám đốc điều hành của United Therapeutics. Là kẻ chuyển giới (transhumanist), châm ngôn cuộc sống của ông: “Chết là sự chọn lựa” (death is optional). Rothblatt tiên đoán trong tương lai gần người chết có thể hồi sinh nhờ vào software nhân bản (cloning) tư tưởng trong đó cho phép avatar suy nghĩ và phản ứng giống như người nó đại diện lúc còn sống.

Được hỏi, kỳ vọng này bao giờ mới trở thành hiện thực, Rothblatt nói: “Theo tôi, software nhân bản tư tưởng sẽ nhân bản hoàn hảo hơn chúng ta tưởng. Nói rõ hơn, avatar và người nó đại diện không khác biệt nhiều về tư duy và phản ứng trước một vấn đề”. Thậm chí có người còn nói đến việc “sao lưu não” (back-up brain) để bất tử hoá bộ não của các thiên tài. Lúc đó, “linh hồn ảo” sẽ không cho phép con người xóa bỏ quá khứ, quá khứ vẫn tồn tại và những người thân yêu đã qua đời sẽ tiếp tục sống với chúng ta. Quan hệ giữa người sống và người chết trong thế giới thực không còn nữa nhưng trong thế giới ảo vẫn còn nguyên. Sự đau đớn và thương tiếc quá đáng sẽ trở thành không cần thiết.

Trong The Memorius, truyện ngắn của nhà văn Jorge Luis Borges, nhân vật trung tâm Funes mất khả năng quên sau khi bị tai nạn xe cộ. Funes có thể kể lại vanh vách những cuốn sách ông đọc và nhắc lại chi tiết những gì ông trải qua mỗi ngày. Nhưng khả năng này đã biến bộ nhớ của ông thành “đống rác khổng lồ” không thể giải phóng được. Cuối cùng, Funes bị thất lạc trong bộ nhớ của mình, không thể phân biệt giữa nhớ và quên.

“Không thể để quá khứ lại phía sau đang trở thành bi kịch của con người trong thời đại kỹ thuật số” – nhà nghiên cứu Mayer-Schonberger nói. “Công nghệ số buộc chúng ta không được quên người chết. Đây vừa là sự may mắn vừa là điều bất hạnh – nhà xã hội học Jean Baudrillard cảnh báo – Bạn không cần phải đến nhà thờ hay nghĩa trang để tưởng nhớ người chết mà có thể vào thẳng mạng xã hội, nơi có những nghĩa trang khổng lồ và sống động như Facebook”.

Câu chuyện của Brandon Ambrosino

Theo một nghiên cứu đáng tin cậy, số người chết trên Facebook (hay số người dùng Facebook đã qua đời) đang gia tăng nhanh: khoảng 30 triệu người và còn tăng nữa. Năm 2012, chỉ tám năm sau khi Facebook ra đời, đã có 30 triệu người dùng qua đời, tám năm sau, con số chết cũng tương đương. Ước tính cho thấy có hơn 8.000 người dùng Facebook chết mỗi ngày. Trong thế giới ảo đang xâm lấn thế giới thật với tốc độ chóng mặt, mạng xã hội Facebook (và cả các mạng xã hội ít phổ thông hơn) là một lăng mộ ảo khổng lồ và không ngừng phát triển (a growing and unstoppable digital graveyard).

Đến một thời điểm nào đó, số người dùng Facebook chết sẽ đông hơn số người sống. Đối với những người còn ở lại, cái chết trên mạng xã hội của các “friend” gồm người thân, bạn bè và người xa lạ không hẳn là cái chết như trong thế giới thật mà sự tương tác vẫn còn qua hình ảnh, video và bài viết còn lưu lại. Facebook sẽ không có lời chia buồn và lưu ý về một chủ tài khoản đã chết nếu nó không được thông báo.

Một ngày sau khi cái chết của người dì, tôi (Brandon Ambrosino) khám phá ra dì đã viết cho tôi một lá thư thương yêu ở trang trước cuốn sưu tập những tác phẩm của văn hào Shakespeare mà bà tặng tôi. “Dì biết những lời dì viết cho con là quan trọng thế nào. Vì nó là quà tặng cho con với tất cả tình yêu. Bên con mãi mãi. Dì Jackie”.

Bức thư gây xúc động sâu sắc trong tôi. Tôi liền mở laptop của mình và tìm đến trang Facebook của dì giống như lúc bà còn sống và hy vọng sẽ khuây khỏa nỗi nhớ thương khi nhìn thấy những bức ảnh của dì và đọc những gì dì viết. Thậm chí tôi còn tưởng tượng dì đang trò chuyện với mình bằng giọng nói thánh thót quen thuộc trên những post video live.

Trên đầu trang Facebook dì để lại, có một video do người em họ chia sẻ (share) cảnh hai con voi con chơi đùa trong nước. Dì rất yêu loài voi nên có hàng ngàn bức ảnh voi treo khắp nhà. Bên dưới một số bức có lời bình của các sinh viên cũ của dì và cả một cáo phó của người em dâu cho một con voi bị chết. Tôi dùng chuột cuộn trang lên và lý lịch trích ngang của dì hiển thị.

Dì Jackie học Khoa Giáo dục tiếng Anh tại Đại học Frostburg State University và là cựu Trưởng khoa tiếng Anh tại một số trường học của thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland, nơi dì sinh sống. Không có dòng chữ hay dấu hiệu nào cho thấy dì đã chết. Nhưng dì Jackie của tôi đã thực sự từ giã thế giới này trước sự chứng kiến của những người thân.

Không có cáo phó trên Facebook, chủ tài khoản được mặc định là vẫn còn sống. Vì hầu như chẳng có mấy ai thông báo với Facebook là chủ tài khoản đã qua đời và xin hủy trang cá nhân. Như vậy là xét về lý lẽ, dì Jackie chưa từ giã trên thế gian.

Dì vẫn hiện diện trên mạng xã hội dù dì không có hoạt động mới nào trên đó. Thậm chí, nếu muốn, dì vẫn có thể nhờ người thân thay mặt mình để cập nhật trang cá nhân và thổi sức sống cho nó. Tôi nhớ lại cái đêm tôi cùng gia đình đứng quanh giường của dì Jackie khi những dây nhợ và máy móc giúp duy trì cuộc sống còn nguyên vị để chờ dì trút hơi thở cuối cùng.

Facebook, nghĩa trang không cần đất

Như vậy, việc một người tiếp tục “sống không ngừng” trên không gian mạng đã làm thay đổi thế nào đến cách chúng ta nghĩ về cái chết? Và sự thương tiếc có còn nhiều như cũ khi người chết vẫn hiện diện trong không gian ảo? Chỉ cần quan sát những gì xảy ra đối với người dùng mạng xã hội sau khi họ qua đời cũng đã thấy lắm điều thú vị.

Ở đây là dì Jackie của tôi, người tôi yêu, trò chuyện, nắm tay và chứng kiến những đường hiển thị màu xanh lá chậm dần và biến thành một đường thẳng khi dì chính thức giã từ cuộc sống sau vài ngày hôn mê. Sự ra đi của dì là “rõ ràng và không thể đảo ngược”. Vậy mà dì vẫn sống nhờ một dịch vụ máy tính từ xa điều hành hoạt động của mạng Facebook.

Những suy nghĩ, tâm sự, kỷ niệm, hình ảnh và những mối quan hệ của dì tiếp tục hiển thị trên trang cá nhân. Facebook không tự xoá nên nó sẽ tồn tại mãi với thời gian. Các post video dì Jackie cười nói vẫn yên vị ở đó để chờ người xem. Trong khi con người không thể hồi sinh thì sự kỳ diệu của công nghệ thông tin đã giúp họ tồn tại mãi trên trái đất này.

Chúng ta chết ngoài đời thật nhưng vẫn sống trên Facebook. Cuộc sống này sẽ kéo dài nếu chúng ta có “kẻ tiếp nối” trang cá nhân của mình. Vào trang Facebook của dì Jackie tôi có cảm giác là dì còn sống. Từ khi mạng xã hội trở nên phổ biến, số người chết trên Facebook không ngừng tăng với tốc độ nhanh. Như vậy, Facebook đã trở thành “nghĩa trang lớn nhất thế giới” và sự bành trướng của nghĩa trang này là không có điểm dừng.

Khi một tài khoản Facebook công bố chủ nhân của nó đã chết, Facebook sẽ gắn chữ “remembering” lên “profile” để tưởng niệm họ. Tài khoản của họ cũng thôi xuất hiện tại những không gian “public” như “People You May Know” giới thiệu kết bạn hoặc nhắc bạn bè ngày sinh nhật. Rất ít người dùng Facebook tự thông báo hay nhờ người khác thông báo với dịch vụ là họ… sắp chết.

Kerry, một trong những người bạn sống chung với tôi trong ký túc xá thời đại học đã tự tử cách nay vài năm. Tuy nhiên, vợ của anh, gia đình và bạn bè vẫn thường xuyên post bài hay hình ảnh lên trang của anh. Profile của Kerry tiếp tục xuất hiện trên Facebook và các không gian “công” vẫn có tên anh.

Cả Kerry và dì Jackie đều không có tên trong danh sách “tưởng niệm” của Facebook. Điều đó có nghĩa là, cái chết của họ không được Facebook biết và dịch vụ vẫn cư xử với họ như người còn sống. Những hoạt động quá khứ của họ được duy trì và không tự xoá.

Trên giường chờ chết của bệnh viện, những dấu hiệu sự sống trọng yếu của dì Jackie đã mất nhưng cỗ máy điều hành Facebook ở cách xa hàng ngàn dặm không hề biết người dùng dịch vụ của nó đã chết.

Mạng xã hội cho chúng ta thấy quyền năng của sự nối kết toàn cầu mỗi khi xảy ra một sự kiện đáng chú ý, từ đêm trao giải Oscar đến vòng chung kết World Cup, từ một bộ phim truyền hình nhiều tập đình đám đến các tin tức thời sự nóng hổi.

Nhưng mạng xã hội còn có vai trò lớn trong việc lưu giữ “di sản” của người dùng trong thế giới ảo thay cho di sản trong thế giới thật. Những gì bạn để lại trên Facebook sau khi chết chính là di sản của bạn.

(Theo The Atlantic Unbound 2021)

Nghe lời cao cả, sao chỉ thấy rùng mình

Nghe lời cao cả, sao chỉ thấy rùng mình

Tuấn Khanh

8 tháng 8, 2021

Bác sĩ Khoa không thấy xuất hiện nữa, sau sự kiện gây sốt dư luận mạng xã hội mà bác sĩ Khoa kể rằng anh đã quyết “rút ống thở” của cha mẹ già, để nhường cho hai đứa trẻ sơ sinh vừa mới chào đời. Bản tin lan nhanh đến khủng khiếp trong đêm 7 Tháng Tám 2021. Bên dưới lời tâm tình gây chấn động đó, không ít các nhân vật tên tuổi để lại lời kính trọng và cám ơn. Thậm chí, có người còn ghi rằng họ nợ anh, về mạng sống của cha mẹ già mà anh đã quyết hy sinh.

Nhưng rồi chỉ đến rạng sáng hôm sau, mọi thứ bày ra một sự thật khủng khiếp: hóa ra đó là trò bịa đặt. Nó có giá trị như một cú hích truyền thông được tổ chức, nhằm tạo một luồng tâm lý mới trong xã hội đang quá bất mãn và đầy tiêu cực về những câu chuyện mất mát, khốn khó của người dân thời phong tỏa. Cùng với thực trạng bộ máy y tế Sài Gòn đang kiệt sức trước các mệnh lệnh chống dịch bất hợp lý và bế tắc.

Người ta tìm thấy vị bác sĩ tên Khoa ấy – tự xưng là làm việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Thế nhưng trả lời báo Tiền Phong, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy là ông Nguyễn Tri Thức đã khẳng định là không có bác sĩ nào tên Khoa và Bệnh viện Chợ Rẫy cũng không có khoa sản. Câu chuyện hai em bé sinh đôi cũng được vạch ra: là hình ảnh được ăn cắp từ trang Facebook của bác sĩ Cao Hữu Thịnh, về một ca mổ do chính bác sĩ này đảm trách.

Tâm lý đám đông bị hành hạ khủng khiếp vì kịch bản truyền thông này. Người Việt ở mọi nơi bị sững sờ và khuất phục bởi hình ảnh không khác gì những giai thoại trong truyện Tàu cũ – vốn đã ăn sâu vào tình cảm người Việt nhiều đời.

Hãy tự hỏi, có cái gì “cao quý” hơn việc một bác sĩ trong thời đại xã hội chủ nghĩa đã quyết hy sinh cả ba mẹ để cứu cho những đứa trẻ vừa ra đời? Nhất là chuyện đó xảy ra trong lúc đại dịch khốn khó, rõ là hình tượng sáng ngời và mẫu mực của đám đông đang cắn môi ứa lệ để giơ cao tay đi cùng thủ tướng, quyết “chống dịch như chống giặc”, sẵn sàng vượt qua mọi nỗi đau để chiến thắng. Kịch bản này đau đớn và đẹp đẽ tương tự như Tỷ Can chấp nhận ăn bánh bao thịt con mình, để thoát khỏi tay Trụ Vương, nghĩ đến ngày khởi nghĩa. Chuyện cũng bi phẫn như Quách Cự tự tay chôn sống đứa con ba tuổi để dành thêm cơm nuôi mẹ trong Nhị Thập Tứ Hiếu.

Không đến 24 giờ đồng hồ sau, tâm lý đám đông lại bị hụt hẫng, đặc biệt với những người bị tác động khủng khiếp bởi đã để cảm xúc kiểm soát mình hơn là lý trí. Rất nhiều người nói mình đã cúi đầu, khóc thương hay ngưỡng mộ bác sĩ Khoa, nay lại rơi vào trạng thái tức giận và buông lời nguyền rủa.

Báo chí Nhà nước lao vào cải chính, vạch trần sự kiện này cũng nhanh đến mức bất ngờ. Nhưng có lẽ mọi thứ sẽ sớm qua đi, vì có vẻ như mọi nguồn cơn tìm thấy, xuất phát mạnh mẽ từ một người làm báo chuyên phát ngôn cho nhà nước, và cũng hay tổ chức sự kiện truyền thông để phục vụ mục đích chính trị mỗi khi có yêu cầu. Bên cạnh việc trang cá nhân của “vị bác sĩ trẻ tên Khoa” này biến mất, khiến nhà báo cũng phải xin lỗi và rút lại những gì đã đăng, mặc dù vẫn chống chế rằng “đã huy động tòa soạn kiểm tra nguồn tin đến 2 giờ sáng”.

Ở Việt Nam, đã có hàng trăm người bị gọi làm việc với công an, phạt tiền, bị bỏ tù… với các câu chuyện của họ trên Facebook từ năm 2020 đến nay, bởi các Điều khoản 117, 331 hoặc theo Nghị định 15 về viễn thông. Thế nhưng, không chắc là sẽ có ai liên quan bị khiển trách gì sau vụ này, nhất là với vị trí lãnh đạo của một sếp tờ báo về Pháp Luật.

Phải “khâm phục” là câu chuyện cổ tích giữa đời thường của “bác sĩ Khoa” phối hợp với một vài nhân vật KOL có chủ ý dẫn dắt dư luận trên Facebook, đã chọn đúng điểm rơi tâm lý của người dân lúc này.

Cả một đất nước đang lo lắng trước những câu chuyện đau thương, và vật vã trước những những đòn ngăn sông cấm chợ điên loạn của một lực lượng kiêu binh nổi lên, nhân danh Chỉ thị 16, thì rõ là mọi người đang khao khát được nghe những điều tử tế, những sự cao cả và lương thiện của con người dành cho nhau. Chính câu chuyện này có tác dụng làm ai nấy chùng lòng lại. Thậm chí những người đang kêu gào cho quyền lợi của mình hay cho người khác, đều có ít phút giây tự vấn về sự thấp hèn của mình khi nghe chuyện.

Nếu không bị vạch trần, chuyện của “bác sĩ Khoa” có tác dụng không nhỏ trong việc kềm hãm sự bức bối quyền lợi cá nhân, và nhu cầu bản thân bị thiệt thòi của đám đông bất bình đang ngày càng tăng trong phong tỏa. Và thậm chí, câu chuyện có thể trở thành sách khoa của giới tuyên truyền về việc dẫn chứng sự hy sinh bản thân của thế hệ mới xã hội chủ nghĩa cho tương lai đất nước.

Có người nêu câu hỏi, để dựng nên câu chuyện này, vì sao “bác sĩ Khoa” có thể giỏi đến mức tạo nên một khung hình cao thượng-nhẫn tâm thú vị như vậy, để hớp hồn nhiều tầng lớp dân chúng?

Thật ra, mọi thứ đều có tính truyền thống của nó, soi chiếu lại quá khứ sẽ thấy không khó nhận ra. Trong mỗi giai đoạn kiểm soát đất nước, tùy theo tình hình, các nhà lãnh đạo vẫn có khuynh hướng mị dân và thao túng bằng những câu chuyện được dựng thêm, hay sáng tác ra. Việt Nam đã có những chuyện đầy cảm hứng của thời chiến tranh như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện… Và chẳng phải từ xa xưa, Lê Lợi đã thành vua trong suy nghĩ mê tín của người dân, qua việc cho viết bằng nước cơm trộn mật lên lá Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, để kiến đục thành chữ?

Những điều như vậy, cũng quen thuộc với tinh thần “Thép đã tôi thế đấy” của N.A.Ostrovsky: trung thành và sẵn sàng hy sinh theo mệnh lệnh, theo thời cuộc sắp đặt và tương lai mà cộng sản kêu gọi.

Chắc nhiều người còn nhớ tác phẩm “Người thứ 13”, truyện về cô gái Hồng quân bị kẹt trên đảo với một sĩ quan Bạch vệ đẹp trai. Gần nhau nên cả hai nảy sinh tình yêu. Nhưng đến khi một nhóm Hồng quân đến đảo và yêu cầu cô gái giết tên sĩ quan Bạch vệ, vì mệnh lệnh và nhân danh lòng phụng sự cao cả, cô đã bắn người yêu của mình.

Việt Nam cũng có, sách vở vẫn ghi lại rất nhiều trong năm 1945, trong đợt Cải cách ruộng đất. Để chứng tỏ trái tim đỏ và cao quý, nhiều thanh niên đã từ chối cha mẹ mình, thậm chí quay mặt khi họ bị bắn, đánh đập. Mục đích là để bản thân mình vươn cao hơn trong đám đông – một kiểu kiếm views thời chưa có internet – để lọt vào tầm mắt bề trên, và chấp nhận mình là con bài cần thiết của thời cuộc.

Nếu thật sự có một sự thật hy sinh vĩ đại như “bác sĩ Khoa” đã nói, sao anh ấy còn tỉnh táo đến mức dành thêm thời gian để khoe chuyện như vậy trên Facebook, và còn ăn cắp ảnh trẻ sơ sinh từ trang người khác để minh họa cho mình? Ấy là máu lạnh chứ đâu là sự thánh thiện – một người bạn tôi nhắn như vậy.

Đời người ngày càng khó biết, và khó đoán. Thật không dám nói gì thêm về cái gọi là sự thật trong những ngày tháng này. Nhưng trong tầm nhìn hạn hẹp của mình, thật lòng tôi không cảm thấy xúc động từ lúc đầu được biết về câu chuyện của vị bác sĩ tên Khoa. Nhưng rồi khi nhìn lại từ những gì lịch sử ghi lại, đã có đến nay, câu chuyện ấy chỉ khiến tôi lại thấy rùng mình.

Sài Gòn, im lặng hay cất tiếng? (RFA)

Sài Gòn, im lặng hay cất tiếng? (RFA)

Bài bình luận của Viết Từ Sài Gòn
2021-08-08

Hình minh hoạ: đưa quan tài người mất vào xe ở TPHCM giữa dịch COVID-19 tháng 8/2021

HCDC

Mấy ngày nay, các trang mạng xã hội nổi lên hình ảnh thanh niên “shipper” những hũ tro cốt, các hũ nằm lăn lóc, chồng chất trong một chiếc giỏ nhựa, hình ảnh này gây sốc với rất nhiều người. Và, người ta bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc của tấm hình kinh động này thử nó là hình giả hay thật. Đáng buồn ở chỗ, nó thật, và sự thật này còn nấp bóng sau một sự thật khác đau lòng hơn! Tất cả mọi sự giấu giếm, dấm dúi của nhà cầm quyền trước bệnh dịch, chết chóc và đau khổ của người dân trong lúc này, lại là một nỗi đau khác.

Theo Facebooker Trần Ngọc Tuấn, Trưởng Đại diện báo Tiền Phong tại Đà Nẵng (trích nguyên văn): “Sau khi hình ảnh và câu chuyện của một “anh bán gas” kể về trường hợp thấy người ta ship tro cốt trên đường phố SG, đã có nhiều chia sẻ trên mạng, gây chấn động tân can nhiều người, trong đó có tôi.

Rồi tối qua báo TTO tìm hiểu sự việc, thông qua vài người, là bà Chủ tịch phường Phú Trung, quận Tân Phú, ông chủ cơ sở mai táng (một của nhà nước, một tư nhân), và trao đổi với chủ tút là Facebooker Lan Nguyen Van.

Tóm lại bài viết trên báo TTO có bốn ý:

– Chủ cơ sở mai táng tư nhân cho rằng “người em của ông chỉ giao khoảng 10 hũ, không phải 27 hũ như Facebooker đã viết”

– Chủ lò thiêu của nhà nước (Cty MTĐT) cho rằng: “hiện tại công ty đã tạm ngưng dịch vụ giao tro cốt tại nhà”. Và khi còn dịch vụ (miễn phí) giao tro cốt đến từng nhà, thì các hũ tro của cty “đều đóng vào thùng các tông đúng quy cách, chứ không chở lổn nhổn như giao rau…”.

– Bà Chủ tịch phường Phú Trung (quận Tân Phú): Chỉ có 1 trường hợp được giao tro cốt tại hẻm 477 Âu Cơ, cứ không phải tại hẻm 42 Âu Cơ. Và bà này khẳng định: “Thống kê trong tháng 7 phường không có người mất, tháng 8 có 3 trường hợp…”!

– Facebooker Lan Nguyen Van (Nguyễn Văn Lân) nói với TTO: “Hôm qua, tôi chứng kiến câu chuyện sao kể vậy, tôi không hỏi thông tin của ai hết. Về hoàn cảnh thằng bé, tôi biết từ bà hàng xóm dẫn cháu bé ra ký tên xác nhận để nhận 2 hũ tro cốt”. Về số lượng hũ tro cốt, anh Lân nhấn mạnh: “Tôi thấy sao nói vậy, đếm sao nói vậy. 50 tuổi rồi, không phải thằng con nít mà đếm nhầm. Dưới chân anh shipper còn một đống dây băng keo để ràng ba lớp hũ tro cốt, nếu bung hình sẽ thấy rõ”. Về cháu bé (nhân chứng), anh Lân cho biết “nhân viên công ty anh đã liên hệ Ủy ban MTTQ phường để hỗ trợ cháu bé. Và “chính quyền địa phương đã hỗ trợ đầy đủ thức ăn cho người dân trong khu phong tỏa”.

FB Lan Nguyen Van

Sở dĩ dài dòng một chút như trên, để xâu chuỗi lại, thấy rằng:

– Dịch vụ chạy xe máy giao tro cốt đến từng nhà là CHUYỆN CÓ THẬT. Đến nay chưa có bằng chứng nào khẳng định tấm hình của Facebooker kia là ẢNH FAKE

– Về số lượng hũ tro cốt: Có sự lệch nhau, nhưng cho đến thời điểm này, tôi tin vào sự chứng kiến trực tiếp của người viết status Nguyễn Văn Lân, hơn sự suy đoán gián tiếp của những người khác (chợt liên hệ tới stt của ông Đoàn Ngọc Hải trước đó). Nhất là khi bà chủ tịch phường lại khẳng định đinh đóng cột với báo chí, là: “Trong tháng 7 phường không có người mất, tháng 8 có 3 trường hợp…”(?!).

Tra trên mạng, thấy phường Phú Trung có dân số 38.397 người (số liệu năm 2003). Tự hỏi, mấy chục ngàn người này đều là “thánh bất tử” hết hay sao, mà lại có số liệu như lãnh đạo phường khẳng định?

– Đọc fb của Lan Nguyen Van, tôi thấy đây không phải người chơi fb theo kiểu “trẻ trâu” chuyên chia sẻ, phát ngôn bậy bạ lấy views. Mọi người vào đọc ở đây sẽ thấy

Những gì Đúng-Sai, hay Chưa chính xác từ status trên của Lân, cần làm rõ và minh định rạch ròi, chứ không phải ào ào “chụp mũ” rồi đòi “xử lý” này nọ.

NHƯNG, điều quan trọng hơn cả, với tôi, đó là nỗi CHẤN ĐỘNG TÂM CAN.

DÙ dịch vụ giao tro cốt (có thu tiền hoặc miễn phí) đến từng nhà có được gọi bằng cái tên mĩ miều nào, thì bản chất vẫn là SHIP HÀNG”.

DÙ dịch vụ SHIP HÀNG ấy vốn đã có từ lâu, ở các đô thị lớn và không chỉ mùa dịch. Nhưng đến giờ giữa thời điểm này bỗng trở nên đau nhói, cho thấy sự vô thường của nhân thế.

DÙ tất cả các hũ tro cốt trên, và các trường hợp lũ lượt xếp hàng đợi trước lò thiêu KHÔNG PHẢI ĐỀU LÀ BỆNH NHÂN COVID (như rất nhiều người đưa lên hình ảnh đoàn xe xếp hàng trước lò thiêu với sự mập mờ, cố tình ù xọe đánh đồng, dọa nạt nhằm mục đích riêng), nhưng sự dồn dập người chết là sự thật không thể chối bỏ. Khi mấy ngày qua mỗi ngày có 300 ca tử vong vì COVID, trong đó chủ yếu ở SG. Khi rất nhiều ca bệnh khác do quá tải BN COVID nên không kịp cứu. Khi cả SG phong tỏa cứng, không nơi nào có thể tự tổ chức tang lễ, cũng không thể tự đến BV lấy thi thể người thân, thì còn cách nào khác là cơ sở y tế tự mang đi thiêu, rồi hoặc giao “hàng”, hoặc xếp trong kho chờ… Quá tải (việc xử lý) người chết là có thật, đã được thừa nhận như ở Quảng Ngãi hôm kia, có ca tử vong đầu tiên vì COVID, do tỉnh không có lò thiêu, nên bệnh viện đã tự liệm, tự đem đi chôn và đánh dấu, để sau này người thân ra khỏi vùng cách ly sẽ tìm lại. Khác nào những người lính chôn đồng đội giữa chiến trường, cắm cành cây đặt cục đá làm dấu!

DÙ, và cuối cùng là DÙ thế nào, thì chúng ta cũng không thể an tâm, hay thanh thản nhẹ nhõm hơn, vơi bớt nỗi hoảng sợ hơn, khi “nhắm mắt cho qua”, khi kêu gọi không đưa những hình ảnh buồn/câu chuyện buồn lên mạng. Đó là thái độ nhắm mắt bịt tai trước hiện thực cuộc sống, nhất là với những người là nhà thơ nhà văn nhà báo. Đó là SỰ LỪA DỐI chính mình (TẤT NHIÊN mọi hình ảnh/câu chuyện trước khi được đưa ra, đều phải được cân nhắc điều tiết, thanh lọc, chọn lọc từ CHÍNH LƯƠNG TÂM và TRÁCH NHIỆM của mình, chứ không phải đợi ai tuyên giáo).

Lúc này đây, tôi cho rằng việc đối diện với chính NỖI ĐAU và biết NHÌN THẲNG VÀO THỰC TẾ mới đem lại sức mạnh cho mỗi cá nhân. Nhất là với giới viết lách, sáng tạo, phản ánh hiện thực.

Chứ không phải thái độ NHẮM MẮT BỊT TAI, NGỒI THU LU TRONG BÓNG TỐI…”

Trong một status không quá dài và cũng không đến nỗi ngắn, dường như bản chất, căn để của câu chuyện về tro cốt, về đời sống vùng dịch, về cách hành xử của chính quyền địa phương và cả những trí trá của họ bị bóc trần. Nói khác đi là bản chất sự việc được bóc trần. Và sự bóc trần này dẫn đến ba câu hỏi:

Tại sao đến giờ phút này, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh vẫn cố gắng dấm dúi mọi thông tin về dịch?

Tại sao mọi chuyện đã đến nước vỡ trận, nguy cơ đói và chết vì suy dinh dưỡng trong nhân dân tăng cao nhưng chính quyền thành phố Hồ Chí Minh vẫn khư khư giữ lối chống dịch bằng cách phong tỏa trong khi thực tế đã chứng minh rằng phong tỏa là một sự thất bại nặng nề?

Ngoài các biện pháp đã dùng, liệu còn biện pháp nào khả dĩ hơn, giúp dân tránh nguy cơ chết đói, chết cô đơn hơn?

httpv://www.youtube.com/watch?v=E2-SRf0n8J4&t=43s

Lò thiêu Bình Hưng Hòa chật cứng xe cứu thương chở hòm đi hỏa táng 

Ở câu hỏi thứ nhất, dường như không cần câu trả lời nào khác, bởi nó đã chứng minh rằng cùng hệ thống, dường như mọi hành xử của người Cộng sản đều y hệt nhau. Hiện tại, thành phố Hồ Chí Minh là một phiên bản khác của Vũ Hán. Những tiếng kêu từ nhân dân sẽ bị bóp nghẹt, cho đến khi chính quyền tuyên bố thành phố đã sạch dịch, thì nhân dân cũng chết không ít, cái đói và đau đớn bị che khuất. Thắng lợi, thắng lợi và thắng lợi… Đó là ngụ ngôn thời Cộng sản!

Ở câu hỏi thứ hai, vì sao chính quyền thành phố Hồ Chí Minh không lựa chọn một giải pháp phòng chống dịch khác ngoài chuyện phong tỏa, biến thành phố thành thứ chuồng trại kiểu mới dành cho con người? Rõ ràng, ở đây, nếu chính quyền hành xử theo lối của các nước tư bản tiên tiến, nguy cơ mất quyền lực và chạm mặt với tự do báo chí, tự do ngôn luận của chính quyền là rất cao. Bên cạnh đó, một khi người dân có quyền lựa chọn, điều đó cũng đồng nghĩa với quyền lực Cộng sản sụp đổ. Chính vì vậy, khư khư chọn phương pháp giới nghiêm, chuồng trại với cách dùng chữ mỹ miều là “giãn cách” nhằm bảo vệ chính quyền hơn là bảo vệ nhân dân.

Ở câu hỏi cuối, có rất nhiều biện pháp chống dịch. Thử nghĩ, nếu người ta chuyển hóa các đội dân phòng chuyên đi bắt bớ, lập biên bản và bươi móc lỗi của người dân thành những đội bán rau lưu động trong vùng dịch, thì nhân dân có lợi biết bao nhiêu? Và thay vì chích vắc-xin cho cán bộ về hưu, cho những người có công trước, dành lượng vắc-xin đó để chích cho những người bán hàng trong các chợ truyền thống, sau đó mở lại các chợ truyền thống hoặc thiết lập các gian hàng lưu động trong các vùng xanh để người dân luôn đảm bảo dinh dưỡng?

Nhưng không, người ta đã chọn theo cách khác, ở đó, tính thành tích và tính công thần vẫn được đặt lên hàng đầu. Ngay từ các khoản hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng cúm Vũ Hán, người ta vẫn ưu tiên cho gia đình có công nhận trước. Nhiều gia đình thừa ăn, thừa mặc vẫn được nhận hỗ trợ, trong khi đó, bên cạnh họ, những gia đình đói ăn, thiếu mặc không hay biết gì về khoản tiền này. Và mọi thứ, một khi tư duy công thần và thành tích vẫn hiện hữu thì đừng mơ bất cứ điều gì tốt đẹp cho nhân dân!

Chuyến ‘di tản thứ ba’ của lịch sử Việt Nam: Bỏ chạy khỏi Sài Gòn

Chuyến ‘di tản thứ ba’ của lịch sử Việt Nam: Bỏ chạy khỏi Sài Gòn

August 3, 2021

Kalynh Ngô/Người Việt

QUẢNG TRỊ, Việt Nam (NV) – Là một trong hàng trăm ngàn người dân tứ xứ vừa thực hiện chuyến bỏ chạy khỏi Sài Gòn, vùng “đất lành chim đậu,” để về tận miền Trung nắng gió bằng xe gắn máy để tránh dịch COVID-19, cô Phan Thị Cẩm Nhung cho biết trước khi đi, cô đã đi xét nghiệm COVID-19, vì đó là tờ giấy thông hành của cô ở mỗi trạm kiểm soát.

Đoàn người “tháo chạy” khỏi Sài Gòn bằng xe gắn máy trong đêm. (Hình: Facebook Quỹ Từ Thiện Bông Sen)

Khuya Chủ Nhật, 1 Tháng Tám, từ khu cách ly ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, cô gái 32 tuổi kể lại với phóng viên nhật báo Người Việt về cuộc hành trình xa thẳm này: “Sáu giờ tối ngày 25 Tháng Bảy, em chạy xe gắn máy từ Gò Vấp về Quảng Trị. Lúc đó trời đang mưa. Qua những chốt, trạm kiểm soát đều có công an đứng chặn hỏi thì em đưa tờ giấy xét nghiệm [COVID-19] ra và họ cho đi. Suốt đường không có gì bán. Trước khi đi em chuẩn bị nước uống, bánh kẹo chứ trên đường không có bán đồ ăn thức uống gì cả. Mình cũng không dám tấp vào đâu hết. Họ sợ mà mình cũng sợ.”

“Di tản” bằng xe gắn máy

Không muốn ảnh hưởng đến giấc ngủ của những người đang cùng phòng cách ly, cô Nhung bước ra ngoài để nói chuyện. Đến Chủ Nhật là ngày cách ly thứ tư của cô ở Cam Lộ, sau hơn hai ngày hai đêm chạy xe gắn máy. Cái thời dịch giã, cái thời của Chỉ Thị 15, 16, 16+, không có hàng quán, nhà nghỉ nào hoạt động, chỉ trừ các cây xăng dọc đường.

“Em và một chị bạn chạy suốt đêm, lúc nào mệt thì tấp lại ven đường, nằm ngủ chút rồi chạy tiếp. Người ta đâu có cho mình nghỉ lại nhà nghỉ. Từ Sài Gòn về đến đây em mang theo 1.7 triệu đồng ($74). Tiền xăng, mua đồ ăn đi đường và đóng tiền cách ly cho 14 ngày (80,000 đồng [$3.5]/ngày), giờ em còn 100,000 đồng ($4.3),” cô nói qua điện thoại.

Vì sao cô phải quyết định “di tản” giữa lúc mọi chuyện ngổn ngang như thế? Chắc gì quê nhà (Quảng Trị) yên ổn hơn hoặc tốt hơn? Thân gái “dặm trường” biết bao là nguy hiểm? Cô trả lời nhanh: “Em vào Sài Gòn phụ người chị bán hàng. Từ khi dịch xảy ra, tiệm đóng cửa, không có việc, nhà trọ thì không giảm tiền thuê nhà nên em chọn cách về lại quê.”

Một gia đình “di tản” khỏi Sài Gòn bằng xe gắn máy nghỉ lại ven đường trong đêm. (Hình: Phan Thị Cẩm Nhung cung cấp)

Cùng một tuyến đường, nghĩa là từ Sài Gòn về Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị… cô Nhung gặp rất nhiều bạn “đồng hành.” Họ đều là những người “di tản” bằng xe gắn máy. Trước đây, họ là những người phải rời quê hương để tìm đường mưu sinh cho cuộc đời mình và cho gia đình đỡ vất vả hơn. Rồi giờ đây, cũng chính họ đang phải “tháo chạy” khỏi vùng đất ấy. Nơi đó không còn là “vùng trời bình yên” của những người dân lao động tứ xứ như cô nữa.

Vì không có hàng quán nào mở cửa trên suốt đoạn đường, nên bữa ăn của cô Nhung, và những người “di tản” khác chủ yếu là thức ăn đã chuẩn bị sẵn để mang theo. “Ngoài ra thì tụi em nhận được những phần cơm, nước uống từ bà con giúp đỡ dọc đường,” cô nói.

“Tháo chạy” bằng mọi cách

Từ Sài Gòn chạy về Quảng Trị hai ngày hai đêm, đó là bằng xe gắn máy. “Phi thường” hơn, là hai vợ chồng “chạy nạn” bằng cách đi xe đạp từ Lâm Đồng về Thanh Hóa trong ba tuần lễ. Người dân Phú Yên ghi lại được cảnh vợ chồng ông đang nhận nước uống từ nhóm thiện nguyện tại quốc lộ 1A, xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Hình ảnh trong video cho thấy ông luôn miệng cảm ơn khi nhận chai nước suối và hộp cơm từ người dân ven đường. Phía sau yên xe của người vợ là chiếc chiếu cói. Có lẽ đó là “giường ngủ” của hai vợ chồng ở dọc đường. Chiếc xe đạp cao quá khổ so với người phụ nữ. Bà phải “nhấp” vài nhịp mới leo lên được yên xe. Cuộc hành trình “di tản” của hai vợ chồng tiếp tục quay đều theo vòng xe nhọc nhằn.

Bữa cơm của cô Phan Thị Cẩm Nhung được người dân tiếp tế dọc đường. (Hình: Phan Thị Cẩm Nhung cung cấp)

Mạng xã hội những ngày qua tràn ngập hình ảnh đoàn người “dắt díu nhau chạy trốn.” Họ là những người cha, người mẹ vào đất Sài Gòn mưu sinh để nuôi gia đình. Họ là những người trưởng thành, chọn Sài Gòn là nơi kiếm sống.

Họ là những những đứa trẻ được sinh ra ngay chốn Sài Gòn hoa lệ, nhưng, như câu nói của cô Nhung: “Hoa cho người giàu, lệ cho người nghèo.”

Họ là đứa bé chỉ mới vừa được sinh ra chín ngày tuổi, ánh mắt chưa kịp quen với ánh sáng cuộc đời. Họ là những người nằm mệt lả ngay giữa đèo Hải Vân, tạm nghỉ trên đoạn đường về nhà xa thẳm.

Họ, nói chung, là những người dân nghèo từ các vùng miền xa xôi tìm việc ở Sài Gòn. Đó là anh thợ hồ, chị lao công, cô gái phụ bán quán, anh thanh niên chạy “shipper”… Đó là những người làm nên một phần bản sắc của Sài Gòn.

Một trạm tiếp tế người đi xe gắn máy về quê của Quỹ Từ Thiện Bông Sen-VietBay Group. (Hình: Quỹ Từ Thiện Bông Sen)

“Người đi càng đêm càng đông dần” (lời trong ca khúc Kinh Khổ của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng). Dòng người “tháo chạy” khỏi Sài Gòn càng ngày càng nhiều hơn. Cho đến khi họ không thể “chạy” được nữa vì chỉ thị đưa ra nghiêm ngặt hơn: Người dân không được tự ý rời khỏi địa phương, nơi cư trú.

Lúc này, các doanh nghiệp tư nhân như xe khách Phương Trang, hoặc các hội đồng hương bắt đầu vào cuộc để giúp người dân về quê. Các chốt, trạm tiếp tế của người dân và nhóm thiện nguyện lập ra trên quốc lộ 1A cũng ngày càng nhiều.

Những đoàn người từ Sài Gòn đi xe gắn máy về Quảng Trị đêm 31 Tháng Bảy được cả cảnh sát giao thông đón, dẫn đường, với thông điệp “để bảo đảm an toàn.” Tại mỗi chốt kiểm soát, dòng người được tiếp tế thức ăn, nước uống và xăng.

Dù rằng, hình ảnh thật “hùng tráng” với xe cảnh sát hú còi, quay đèn chạy trước, theo sau là đoàn xe gắn máy trật tự, ngay hàng thẳng lối, tạo ra một bức tranh ánh sáng thật đẹp. Bất cứ nhiếp ảnh gia nào cũng có thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật với những dòng ánh sáng như thế.

Nhưng, những ánh sáng của đèn xe và nơi chốt kiểm soát vẫn không “làm mờ” được ánh mắt hoang mang, mệt mỏi của người đàn ông trong đêm tối, bế đứa bé nhỏ, có lẽ chỉ mới vài tháng tuổi đang ngủ ngon trên tay.

Giữa lúc chính phủ Việt Nam loan tin đón nhận thêm những lô vaccine viện trợ từ nước ngoài, hàng ngàn người dân nghèo vẫn tiếp tục “tháo chạy.” Trong dòng người quy cố hương ấy, có những đứa bé, sau này, sẽ là nhân chứng kể lại cho thế hệ sau biết về một lần quy cố hương. 

Chợt nhận ra bài hát “Đường Về Nhà” của ca nhạc sĩ Ái Phương chưa bao giờ buồn đến thế: “Trở về nhà bên mẹ cha có con sông chảy bên hiên nhà/ Có cánh diều đàn em bé thơ thả bay la đà/ Những buổi chiều xanh khói bếp, có khoai ngon mẹ ấp lửa vàng/ Có em cười ngây ngô sáng vang lên cả khúc sông…”  [qd]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.kalynh@nguoi-viet.com

 

Covid – Việt Nam: Y tế phía Nam quá tải, nhiều “F0” không cứu kịp (RFI)

Covid – Việt Nam: Y tế phía Nam quá tải, nhiều “F0” không cứu kịp (RFI)

Đăng ngày: 07/08/2021 – 16:57

Sài Gòn hoang vắng mùa đại dịch. Ảnh minh họa. © Wikimedia

Trọng Thành

Dịch bệnh Covid-19 đang đẩy hệ thống bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương miền Nam vào tình trạng quá tải. Nhiều trường hợp trở nặng tử vong do không kịp cấp cứu.

Từ mươi ngày nay, số người tử vong do Covid tại Sài Gòn luôn vượt quá 100. Trong hai ngày liên tiếp 4 và 5/8/2021, số tử vong vượt 200 người. Theo bộ Y Tế Việt Nam, số người nhiễm virus (hay « F0 » theo cách gọi ở Việt Nam) tại thành phố Hồ Chí Minh hiện đã vượt quá 100.000. Theo quy định mới, đa số các « F0 » không triệu chứng tự cách ly và chăm sóc y tế tại nhà để giảm tải cho các cơ sở « thu dung » cũng như điều trị. Tuy nhiên, trong số « F0 » này dự kiến khoảng 5% trường hợp diễn tiến nặng, cần được cấp cứu, chuyển tuyến kịp thời. Có những ca chuyển nặng rất nhanh, không được cấp cứu kịp, đã tử vong. Số người cần thở máy tăng gấp đôi trong mươi ngày vừa qua, từ hơn 700 người (ngày 28/07) thành hơn 1.300 người (ngày 05/08).  

Theo chính sách mới của chính quyền Việt Nam, hệ thống chăm sóc và điều trị người nhiễm SARS-CoV-2 tại Sài Gòn chia thành 5 tầng. « Tầng một » tập trung đa số người nhiễm virus không có triệu chứng để cách ly, theo dõi (gọi là « cơ sở thu dung »). Trước tình trạng quá tải, nhiều cơ sở « thu dung » đã được điều chuyển thành cơ sở điều trị « tầng 2 ». Một bài viết trên trang mạng chính phủ Việt Nam hôm nay 07/08 cho biết « tình trạng quá tải các tầng điều trị của TP HCM làm nhiều bệnh nhân Covid nặng chậm được tiếp nhận, cấp cứu » khiến Quân khu 7 phải « quyết định chuyển đổi » khu thu dung « F0 » không triệu chứng thành bệnh viện dã chiến chuyên điều trị, cấp cứu.  

Sở Y Tế : Các bệnh viện không được từ chối người cấp cứu

Hôm qua 05/08, giám đốc sở Y Tế phải ra « công văn khẩn » yêu cầu tất cả trung tâm cấp cứu, các bệnh viện phải « mở cửa tiếp nhận người bệnh tự đến khám và cấp cứu 24/7, đặc biệt vào ban đêm ». Tuyệt đối không được yêu cầu người bệnh phải có xét nghiệm nhanh hoặc PCR âm tính với Covid. Tuy nhiên, khả năng tiếp nhận của các bệnh viện là có hạn.  

Trả lời báo Tuổi Trẻ hôm qua, giám đốc một bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid ở mức tương đối nặng (thuộc « tầng 3 ») quy mô 500 giường tại Sài Gòn cho biết, bệnh viện này lúc nào cũng trong tình trạng kín giường, do đó việc tiếp nhận được bệnh nhân nữa hay không còn tùy thuộc mức độ bệnh lý, « nếu bệnh nhân cấp cứu sẽ ráng cứu ». Vị bác sĩ này cho biết thêm : « Bên cạnh các ca thở máy không xâm lấn được điều trị hồi phục tốt, có ngày 3-4 ca tử vong, chủ yếu tập trung vào nhóm lớn tuổi, có bệnh nền. Gần đây xuất hiện thêm ở nhóm trẻ tuổi bị béo phì ».  

Tình hình căng thẳng không chỉ tại Sài Gòn. Tỉnh Bình Dương láng giềng cũng là một điểm nóng khác. Số ca mới trong 10 ngày gần đây chiếm gần 70% tổng số ca từ đầu mùa dịch. Hiện vẫn còn gần 400 bệnh nhân có diễn biến nặng, đã có 144 người tử vong vì Covid. Có ngày, số ca mắc mới của Bình Dương vượt 2.000, bằng một nửa ca mới của Sài Gòn, dù dân số chỉ bằng một phần năm. 

Theo trang mạng của bộ Y Tế Việt Nam hôm nay, bệnh viện Hồi Sức Covid-19 tại thành phố HCM hiện đang điều trị 522 bệnh nhân, trong đó 149 người trong tình trạng nguy kịch. Bệnh viện Hồi Sức Covid-19, được thành lập khẩn hồi tháng 7/2021, dự kiến có thể tiếp nhận tối đa 1.000 bệnh nhân rất nặng và nguy kịch (tức « tầng 5 », tầng cao nhất theo hệ thống điều trị Covid tại Sài Gòn). Hiện tại bệnh viện chỉ đón nhận được một nửa số bệnh nhân theo mục tiêu thiết kế do thiếu phương tiện và nhân viên.

Nhìn chung, tình trạng thiếu máy trợ thở, thiết bị ECMO (tim phổi nhân tạo), máy thở oxy dòng cao, bồn chứa oxy, máy chụp X-quang di động…, cũng như thiếu y bác sĩ điều trị, cấp cứu, nhân viên điều dưỡng chuyên về Covid, là phổ biến. Tình hình dự kiến sẽ căng thẳng hơn trong những ngày tới.