Đại dịch và cuộc trưng cầu dân ý ngoài dự kiến!

Đại dịch và cuộc trưng cầu dân ý ngoài dự kiến!

Bởi  AdminTD

Blog VOA

Trân Văn

16-8-2021

Tượng đài Nguyễn Tất Thành và thân phụ Nguyễn Sinh Sắc tại tỉnh Bình Định, 18/5/2017. Hình minh họa. (Ảnh chụp từ Báo Bình Định)

Hình ảnh hàng ngàn nạn dân, kể cả người già, trẻ con lũ lượt rời khỏi TP.HCM vào sáng 15 tháng 8, sau khi chính quyền nơi này quyết định kéo dài thời gian cô lập thêm một tháng (1), cung cấp thêm bằng chứng, chứng minh những tuyên bố rổn rảng của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ trung ương tới địa phương tại Việt Nam chỉ là… “chót lưỡi, đầu môi”. Nguyên nhân dẫn tới đợt di tản thứ hai khỏi đô thị sầm uất, năng động nhất Việt Nam trong vòng chưa đầy một tháng vẫn là… tuyệt vọng.

Đợt dịch COVID-19 thứ tư tại Việt Nam sắp tròn bốn tháng. TP.HCM tự cô lập và bị cô lập sắp tròn ba tháng. Hỗ trợ chỗ ở, phân phát thực phẩm, thậm chí giúp đỡ thuốc men, thiết bị trợ thở… chủ yếu vẫn phụ thuộc vào… từ tâm. Những người kiệt quệ sớm nhất, bi quan nhất đã ra đi trước, giờ tới lượt những người từng lạc quan hơn vì có thể cầm cự lâu hơn. Cư dân các địa phương khác tìm tới TP.HCM còn có chỗ lánh nạn. Còn cư dân TP.HCM có thể chạy đi đâu?

Nếu được trợ giúp ngay từ đầu về chốn nương thân, miếng ăn, yên tâm vì sẽ được cấp cứu kịp thời, thích đáng khi chẳng may bị nhiễm COVID-19, chắc chắn không có đợt di tản thứ hai như vừa thấy! Tuy nhiên các chính sách hỗ trợ, gói cứu trợ, kể cả cứu trợ được xem là… táo bạo chưa từng có (2) vẫn… đang ở đâu đó! Trợ cấp tiền, trợ cấp thực phẩm còn… hiếm thì mơ gì đến trợ cấp giúp an cư cho cả người thuê nhà lẫn người có nhà cho thuê, dù nhiều người tiếng là chủ nhà trọ nhưng đang là con nợ của nhiều nơi vì vay đầu tư! Hết hệ thống chính trị tới hệ thống công quyền dõng dạc tuyên bố: “Không bỏ ai lại phía sau” nhưng không cho ai thiếu tiền điện, tiền nước, phí viễn thông (Internet, điện thoại)…Những dịch vụ thiết yếu với dân sinh vẫn thu đúng, thu đủ không để sót đồng nào! Làm sao để sống – giờ không còn là câu hỏi của riêng những thành phần xưa nay vẫn được xem là yếu thế trong xã hội Việt Nam, đó là trăn trở chung của tất cả các giới khi nền móng bảo đảm khả năng hồi phục (vốn liếng, nhân lực) đã tan hoang!

***

Đại dịch đã bày ra cho mỗi cá nhân và từng giới cảm nhận tường tận thế nào là… “tài tình, sáng suốt” và “ưu việt” của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam.

Trong 18 tháng tính từ khi COVID-19 lan rộng trên toàn cầu, những hệ thống này không học được gì hữu ích. Vì Chiến lược phòng, chống dịch vẫn chỉ xoay quanh “truy vết, cách ly, cô lập” và… không thèm bận tâm về vaccine nên Thủ tướng tiếp tục hô hào “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” – giống như thưở thúc ép đồng bào đề cao cảnh giác với kẻ thù hữu hình, cho đến khi thực tế chứng minh Chiến lược phòng, chống dịch ấy đã khiến thảm họa gia tăng mức độ thiệt hại cả về nhân mạng lẫn tài sản.

Giờ, Thủ tướng tiếp tục phát động… Phong trào đặc biệt “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19” (3).

Cả nước có bao gồm các viên chức lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương không?

Nếu có, chẳng lẽ đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19 sẽ tính cả những trường hợp như Thanh Hóa: Giữa đại dịch, tổ chức hội nghị chọn mẫu xây dựng quần thể tượng đài “Con tàu tập kết” trị giá 255 tỉ đồng mà theo dự kiến, sẽ khởi công vào quý tới (4)? Hay tính cả những trường hợp như Nghệ An: Giữa lúc dân chúng quằn quại vì thiếu thốn, bệnh tật, mất mát vẫn tổ chức hội nghị bàn việc xây dựng Thác chín tầng, trị giá 1.625 tỉ để tôn vinh… thân mẫu ông Hồ Chí Minh (5).

Có cần đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19 để từ trên xuống dưới, từ Nam ra Bắc không những hỗn loạn, mà còn góp phần gia tăng lây nhiễm COVID-19 vì thực thi kiểm soát… “thực phẩm, hàng hóa thiết yếu”, vì… “giấy đi dường phải có UBND phường nơi làm việc xác nhận”, vì… “khai báo di biến động dân cư”?… Đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua như thế rõ ràng không thể phòng, chống nói gì đến chiến thắng đại dịch COVID-19!

Khi đoàn kết, chung sức, đồng lòng vẫn chỉ là trút gian nan, mất mát lên đầu lê dân, chỉ là hứa hão và hô hào suông, làm gì cũng sai, phải sửa thì điều đó có khác gì thi đua tự đào hố chôn thể chế. Cho đến giờ, cả chiến lược lẫn cách thức phòng, chống đại dịch COVID-19 chỉ mới cho thấy hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam vừa bất tài, vừa bất nhân. Nhiều viên chức hữu trách từ trung ương đến địa phương đã kém cỏi, vô trách nhiệm lại huênh hoang, không biết sợ hậu họa!

Chú thích

(1) https://www.youtube.com/watch?v=Gy7Cx4-q4pk&ab_channel=Vnews24h

(2) https://tuoitre.vn/cham-nhat-7-10-ngay-nguoi-dan-se-nhan-duoc-ho-tro-tu-goi-26-000-ti-20210707171348344.htm

(3) https://baotintuc.vn/chinh-tri/thu-tuong-phat-dong-phong-trao-thi-dua-dac-biet-20210814131129217.htm

(4) https://vnexpress.net/thanh-hoa-chon-mau-xay-tuong-dai-khu-luu-niem-255-ty-dong-4299756.html

(5) https://nhadautu.vn/nghe-an-thong-nhat-y-tuong-du-an-thac-9-tang-cua-tt-group-o-nam-dan-d56198.html

Sứ mệnh Afghanistan: Phương Tây thất bại, nhưng không phải chỉ là lỗi của riêng họ

Sứ mệnh Afghanistan: Phương Tây thất bại, nhưng không phải chỉ là lỗi của riêng họ (Ba’o Tiếng Dân)

Bởi  AdminTD

 Die Zeit

Tác giả: Matthias Naß

Vũ Ngọc Chi, dịch

15-8-2021

Từ đồn của họ ở tỉnh Balk, các binh sĩ của quân đội Afghanistan đang quan sát Taliban. Trong vòng vài ngày, những người Hồi giáo quá khích đã chiếm hết thành phố lớn này đến thành phố lớn khác. Nguồn: Farhad Usyan/ AFP/ Getty Images

Mỹ và NATO không nên rút quân vội vàng như vậy. Nhưng người dân Afghanistan đã bị bỏ mặc bởi chính quân đội của họ và chính phủ tham nhũng.

Kabul đầu hàng. Chính phủ Afghanistan hứa hẹn một cuộc chuyển giao quyền lực trong hòa bình, vị tổng thống đã rời khỏi đất nước. Taliban có thể tiến vào thủ đô mà không cần giao tranh. Nhưng ngay cả khi không chiến đấu cũng sẽ có một cuộc thanh toán đẫm máu. Một tương lai kinh hoàng đang ở phía trước Afghanistan. Nhiều người Afghanistan, đặc biệt là nhiều phụ nữ, sẽ không tìm ra lối thoát, không con đường thoát chạy.

Đó là một khoảnh khắc khủng khiếp. Thế giới đứng ngoài nhìn choáng váng, khi Afghanistan một lần nữa nằm dưới sự thống trị của những phần tử Hồi giáo cực đoan. Trong vòng vài ngày, hết thành phố này đến thành phố khác rơi vào tay các chiến binh tôn giáo. Không ai, thật sự là không ai nghĩ rằng Taliban có thể tiến nhanh đến vậy. Lính chính phủ không chống lại họ mà hoảng sợ bỏ chạy. Và bỏ lại phía sau dân chúng lo sợ kinh hoàng.

Joe Biden có phải chịu trách nhiệm về thảm họa này không? Tổng thống Mỹ có gây ra sự sụp đổ với quyết định rút quân đội Mỹ khỏi Afghanistan cho đến ngày 11 tháng 9 năm 2021? Liệu sự hiện diện liên tục của các đơn vị tinh nhuệ của Hoa Kỳ, kết hợp với các cuộc không kích vào lực lượng Taliban đang tiến công, có ngăn cản được chiến thắng của họ? Không, sự kháng cự của quân đội từ bên ngoài có thể làm trì hoãn cuộc tiến quân, nhưng nó không ngăn cản được.

“Tôi sẽ không giao cuộc chiến này cho tổng thống thứ năm”

Đã từ lâu, Biden không còn tin rằng phương Tây có thể ổn định lâu dài Afghanistan. Ngay từ năm 2009, khi vẫn còn là Phó Tổng thống dưới thời Barack Obama, ông đã phản đối việc gia tăng mới lực lượng quân đội Hoa Kỳ. Ông không thấy một đối tác đáng tin cậy trong giới lãnh đạo chính trị ở Kabul. Tổng thống Mỹ đắc cử, Biden nói rõ rằng ông sẽ chấm dứt cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ. Hiện ông đã khẳng định lại quyết tâm rút lui này, trong đó lưu ý đến trường hợp Kabul. “Tôi là tổng thống thứ tư có quân đội Mỹ ở Afghanistan – hai đảng viên Cộng hòa, hai đảng viên Dân chủ. Tôi sẽ không giao cuộc chiến này cho tổng thống thứ năm”.

Mỹ, được NATO hỗ trợ, đã can thiệp vào Afghanistan 20 năm trước vì một lý do cụ thể: Họ muốn lấy khu vực do Taliban bảo vệ được làm nơi ẩn náu cho tổ chức khủng bố Al-Qaeda, nhóm đã tấn công New York và Washington, DC vào ngày 11/9/2001. Mục tiêu này đã đạt được với cái chết của trùm khủng bố Osama bin Laden trễ lắm là vào năm 2011. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước đã thất bại hoàn toàn – việc thiết lập các cơ cấu dân chủ, xã hội dân sự giúp phụ nữ ở Afghanistan trên hết được sống trong nhân phẩm và quyền tự quyết.

Không ai được quyền hạ thấp thiện chí và sứ mệnh đầy ấn tượng của tất cả những người đã cố gắng giúp Afghanistan trên con đường tiến vào thời đại hiện đại: Binh lính, những người giúp đỡ nhân đạo, bác sĩ và y tá, doanh nhân và nhà ngoại giao. Họ đã hy sinh bản thân rất nhiều, nhiều người đã trả giá cho nỗ lực của họ bằng cuộc sống của mình. Tuy nhiên, nước này hiện đang rơi trở lại chế độ chuyên chế Hồi giáo.

Đó chủ yếu hay chỉ là lỗi của phương Tây, nơi lẽ ra không bao giờ được phép can thiệp vào Afghanistan, vốn đơn giản là không có chỗ ở HinduKush (ND: khu vực dãy núi HinduKush bao gồm Pakistan và Afghanistan)? Người ta có thể tranh cãi như vậy. Nhưng cũng có nhiều ví dụ về nơi nhận được sự giúp đỡ, nơi mọi thứ đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.

Nhưng những tiến bộ này trong trường học, bệnh viện, trường đại học và các phương tiện truyền thông dường như chỉ có thể thực hiện được với sự bảo vệ liên tục của quân đội. Người Mỹ – và cả người châu Âu – vẫn chưa sẵn sàng cho một sứ mệnh bất tận. Thật là lố bịch khi một vài chính trị gia lại yêu cầu can thiệp quân sự để đẩy lùi Taliban. Sẽ không có ủy quyền nào cho việc này, bất kể ở Washington, D.C., hay Berlin.

Quân đội đầu hàng Taliban mà không kháng cự

Tất nhiên, các hoạt động của Mỹ và NATO không nên kết thúc một cách vội vàng như vậy. Nhưng điều đó không thay đổi một vài sự thật cơ bản. Quân đội Afghanistan bao gồm 300.000 binh sĩ, ít nhất là trên giấy tờ. Ước tính chỉ có khoảng 75.000 chiến binh Taliban. Hoa Kỳ đã đầu tư khoảng 83 tỷ đô la vào trang bị thiết bị và đào tạo quân đội Afghanistan – nhưng cuối cùng quân đội này đã đầu hàng Taliban mà không kháng cự lại. Những người lính không muốn chiến đấu cho một chính phủ hoàn toàn tham nhũng, đôi khi thậm chí không cung cấp thức ăn cho họ tại địa điểm hoạt động của họ.

Việc kéo dài sự hiện diện của quân đội phương Tây thêm một, hai hoặc năm năm nữa sẽ không làm thay đổi sự phá sản của giới lãnh đạo chính trị ở Kabul. Không phải phương Tây đã bỏ rơi người dân Afghanistan, mà là chính phủ của chính họ không có khả năng để lãnh đạo quân đội.

Tuy nhiên, các nỗ lực phải luôn được thực hiện để cung cấp viện trợ nhân đạo. Ngay cả tại Afghanistan, nơi Taliban hiện đang thiết lập lại chế độ chuyên chế của họ. Quyền con người được áp dụng phổ quát, không ai được phép đứng yên khi một dân tộc bị khuất phục và tước quyền. Nhưng sự trợ giúp từ bên ngoài chỉ có thể đến bằng vũ lực trong một trường hợp hoàn toàn ngoại lệ. Và nó cần những đối tác có năng lực, đáng tin cậy trong nước.

Đã đến lúc phải rút kinh nghiệm cho những sai lầm mắc phải ở Afghanistan. Hiện tại chủ yếu là nỗi đau buồn khi đối mặt với thảm kịch của sự thất bại.

Tôi Đi Học – Thanh Tịnh

Nay chia sẽ toàn bài. Nếu không có dịch thì cũng sắp tựu trường rồi

No photo description available.

Huy Chiêu  K75 LƯƠNG VĂN CAN

Hồi học tiểu học chắc ai cũng có đọc bài ” Tôi đi học ” này, nhưng chỉ có một đoạn ngắn thôi ( vì cho học sinh tiểu học đọc mà )

Nay chia sẽ toàn bài. Nếu không có dịch thì cũng sắp tựu trường rồi 

Tôi Đi Học

Thanh Tịnh

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.

Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:

– Mẹ đưa bút thước cho con cầm.

Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:

– Thôi để mẹ nắm cũng được.

Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.

Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.

Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.

Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.

Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.

Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

– Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).

Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.

Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:

– Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.

Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.

Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.

– Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.

Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:

 Truyện ngắn của nhà văn Thanh Tịnh.

Taliban chiếm quyền tại Afghanistan: 20 năm đánh du kích, 3 tháng phản công

Taliban chiếm quyền tại Afghanistan: 20 năm đánh du kích, 3 tháng phản công

Đăng ngày: 16/08/2021  

Taliban vừa đánh, vừa đàm. Trong ảnh, các đại diện Taliban trong đoàn đàm phán với Hoa Kỳ tại Qatar ngày 12/08/2021. KARIM JAAFAR AFP/File

Anh Vũ

Nắm cơ hội khi Mỹ và liên quân quốc tế thông báo rút quân khỏi Afghanistan hồi đầu tháng 5/2021, lực lượng nổi dậy Taliban dù không được trang bị vũ khí hiện đại, đã mở nhiều cuộc tấn công vào quân đội chính phủ. Chỉ sau hơn ba tháng, Taliban trở lại Kabul nắm quyền.

Phong trào Taliban ra đời sau khi Liên Xô đưa quân xâm chiếm Afghanistan 1980, lập lên chế độ thân Cộng sản tại Afghanistan. Sau khi quân đội Liên Xô buộc phải rút khỏi Afghanistan (1989), đến năm 1994, Taliban tổ chức thành một lực lượng nổi dậy tại các tỉnh miền đông và đông nam Afghanistan. Chỉ 2 năm sau, 1996, Taliban chiếm Kabul lập lên tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan và nắm quyền đến năm 2001 dưới sự lãnh đạo của giáo sĩ Mohammad Omar.

Trên phương diện kinh tế, để tồn tại, Taliban ở trong nước dựa chủ yếu vào nguồn thu thuế, buôn bán thuốc phiện và nguồn tài trợ từ bên ngoài.

Sau các vụ tấn công khủng bố vào nước Mỹ 11/09/2001, Hoa Kỳ cùng các đồng minh NATO mở các cuộc tấn công ồ ạt vào Afghnistan để truy tìm trùm khủng bố Oussama Bin Laden bị tình nghi đang được chính quyền Taliban che chở. 

Từ năm 2001, Taliban đã bị Mỹ tấn công đánh đuổi, chấm dứt 5 năm cai trị Afghanistan bằng những đạo luật Hồi Giáo hà khắc nhất.

Năm 2003, lợi dụng quân đội đồng minh phương Tây cắt giảm quân số chia sẻ cho cuộc chiến tranh Irak, lực lượng Taliban đã nhanh chóng tổ chức chiến tranh du kích tại Afghanistan.

Năm 2020, sau nhiều lần đàm phán không thành công, cuối cùng Taliban và Mỹ đã ký thỏa thuận Doha, ấn định các điều kiện rút quân đội nước ngoài ra khỏi Afghanistan. Lịch trình rút quân bắt đầu từ ngày 08/07/2021. Ngay lập tức 75 nghìn quân nổi dậy Taliban đã chớp thời cơ trở lại chiếm quyền lãnh đạo.

Ngay từ ngày 01/05 năm nay, khi có thông tin rút dần 9500 quân của NATO trong đó có 2500 lính Mỹ, lực lượng nổi dậy đã bắt đầu triển khai phản công và nhanh chóng kiểm soát được nhiều vùng miền nam, cũng như một số tỉnh quan trọng ở phía bắc Afghanistan.

Ngày 02/07 mở ra thời cơ mới cho các cuộc tấn công của Taliban khi quân Mỹ và NATO trao lại cho quân đội Afghanistan quyền quản lý căn cứ không quân Bagram, cách phía bắc Kabul 50km, một trung tâm đầu não của các chiến dịch quân sự của liên quân quốc tế trong suốt 20 năm hiện diện ở nước này. Trong tháng 7, quân nổi dậy liên tiếp đánh chiếm thủ phủ của hầu hết các tỉnh trọng yếu. Đến cuối tháng, Taliban đã kiểm soát được 65% lãnh thổ đất nước.

Tháng 8 đánh dấu sự đột phá của quân Taliban. Trong vòng 10 ngày, lực lượng nổi dậy đã tiến vào kiểm soát hầu hết thủ phủ các tỉnh của Afghanistan, rồi cuối cùng đến sáng ngày 15/08 tiến vào Kabul mà không gặp sự kháng cự nào của quân chính phủ, buộc tổng thống Ashral Ghani chạy khỏi Afghanistan.

CHO CON VỀ LÁNH NẠN MẸ ƠI

 

CHO CON VỀ LÁNH NẠN MẸ ƠI

Xin lỗi vì ngày trở về con vẫn trắng hai tay

Bao năm lang bạt xứ người chẳng có gì mang về làm quà cho mẹ

Chạy trốn khỏi thị thành phồn hoa với hai mắt đẫm lệ

Con khóc cho con và thương xót cho tất thảy mọi người

Ngày về của con không làm mẹ hãnh diện được trời ơi

Thằng bất hiếu chẳng có gì ngoài hành trang ngày đi mẹ xếp

Đừng đau lòng nếu thấy con gầy gò mỏi mệt

Nắng sạm da mưa nhếch nhác đường dài

Con về nhà lúc này là đúng hay sai

Phận người đớn đau phân bua sao trước miệng đời ác nghiệt

Kẻ ra đi nào mà chẳng mong ngày về vui cười như Tết

Làng xóm đợi trước sân như thể con cháu ruột rà

Kiếp làm thuê còng lưng nơi phương xa

Dành dụm từng đồng gửi về lo cho gia đình no ấm

Bát mì tôm sau giờ tăng ca chát mặn

Nuốt cho đỡ cơn thương nhớ quê nhà!

Giờ tới đường cùng khi dịch bệnh đi qua

Căn nhà trọ mấy mét vuông không đủ tiền trang trải

Quê mình mênh mông núi đồi xin cho con trú lại

Tạm lánh qua tai ương… sống sót làm người

Dắt díu nhau trở về trong lúc nước sôi lửa bỏng mẹ ơi

Đứt lòng tính suy mấy đêm mất ăn mất ngủ

Chỉ lo mở mắt ra gặp chuyện dữ

Hai tay trắng làm sao xoay xở trước đời

Cho chúng con về lánh nạn với mẹ ơi

PHẠM THIÊN Ý

Kabul năm 2021 có phải là Sài Gòn năm 1975?

Kabul năm 2021 có phải là Sài Gòn năm 1975?

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

16-8-2021

Người dân Afghanistan xếp hàng dài hàng tiếng đồng hồ để rút tiền trước một ngân hàng ở Kabul. Ảnh: Rahmat Gul / AP

Các lực lượng Taliban tiến vào thủ đô Kabul ngày 15/8/2021. Tổng thống Ashraf Ghani bỏ chạy ra nước ngoài. Cuộc chiến Afghanistan kéo dài 20 năm của người Mỹ xem như chấm dứt.

5000 quân Mỹ được triển khai tới Afghanistan không phải để đánh nhau mà là để di tản những công dân Mỹ tại đây.

Hơn 46 năm trước, ngày 30/4/1975 là ngày chấm dứt cuộc chiến của người Mỹ ở Việt Nam, kết thúc 10 năm tính từ cuộc đổ bộ Đà Nẵng của thủy quân lục chiến Mỹ vào năm 1965, Nhưng nếu lấy mốc cuộc truất phế Bảo Đại của ông Ngô Đình Diệm với sự ủng hộ của người Mỹ thì cũng tròn 20 năm.

Vào ngày 30/4/1975 cũng có những đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ được không vận tới Sài Gòn, không phải để đánh nhau mà là để rút đi.

Những con số tròn, cân đối và lạnh lùng, nhưng lại đưa đến cảm giác thú vị về sự đối xứng như Jon Sopel, biên tập viên BBC ở Bắc Mỹ, đề cập.

Nhưng đó cũng là những con số nhân tạo, như ông Biden quyết định lấy ngày 11/9 là hạn chót cho những đơn vị quân đội Mỹ rút ra khỏi Afghanistan. Không rõ có phải ông muốn lấy ngày đó để gợi lại cho người Mỹ hiểu cái nguyên nhân trực tiếp của cuộc chiến là cái ngày thảm khốc 9/11/2001 hay không. Cái ngày định mệnh của cuộc chiến, ngày mà lần đầu tiên lãnh thổ chính thức của Mỹ bị tấn công bởi người ngoại quốc (Trân Châu Cảng bị Nhật tấn công vào năm 1941, lúc Hawaii chưa phải là một tiểu bang mà là lãnh thổ hải ngoại, cho đến năm 1959).

Cả hai cuộc chiến, Việt Nam và Afghanistan đều do người Mỹ chủ động, người Mỹ đến rồi rút đi.

Cho nên không ngạc nhiên khi các xe bán tải chở các chiến binh Taliban áp sát các thành phố Afghanistan, báo chí phương Tây lại rộ lên sự liên tưởng, và trong chừng mực nào đó, bóng ma Việt Nam lại ám ảnh một số người Mỹ, trong đó có không ít người Mỹ gốc Việt.

Quả thật có rất nhiều điểm tương đồng.

Thứ nhất đó là sự chủ động đến rồi đi của người Mỹ như vừa đề cập. Mục đích của người Mỹ ở Afghanistan là tiêu diệt Al-Qaeda và họ đã làm được (hạ thủ Bin Laden), họ thấy rằng họ không còn trách nhiệm ở lại. Mục đích của người Mỹ ở Nam Việt Nam là chống cộng sản, thì họ đã tìm ra con bài Trung Quốc vào năm 1972, cho nên cũng không có lý do để ở lại.

Nếu hiệp định Paris vào năm 1973 cho phép các lực lượng cộng sản ở lại miền Nam, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho họ tiến hành chiếm Sài Gòn hai năm sau đó, thì thỏa ước 2020 giữa Mỹ và Taliban cũng không có gì khác hơn là một nhịp cầu để cho những chiến binh Taliban có mặt tại Kabul vài tháng sau.

Thứ hai là, cả hai cuộc chiến đều có chút ít màu sắc ý thức hệ. Cuộc chiến ở Việt Nam là để ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn xuống Đông Nam Á, còn cuộc chiến ở Afghanistan là để cổ vũ cho những giá trị dân chủ (mục đích thứ hai), chống lại sự bạo tàn, hà khắc của luật Sharia Hồi giáo.

Thứ ba là sự hiện diện của lực lượng Mỹ (và đồng minh) không giúp kiến tạo được một nhà nước dân chủ, mạnh như mong muốn. Lực lượng quân đội Afghanistan và Việt Nam Cộng hòa đều không một mình chiến đấu chống lại được đối phương, dù có trang bị hùng hậu hơn. Các viên tướng không có tài, sự nhũng lạm, làm suy yếu sức chiến đấu của các đội quân này. Nếu có những lính ma (ghost soldier) trong quân đội nhà nước Afghanistan hiện nay, thì trong quân đội Việt Nam Cộng hòa có lính kiểng.

Điểm tương đồng thứ tư, có lẽ là khá quan trọng làm cho các đồng minh Afghanistan và Nam Việt Nam của người Mỹ không chinh phục được cảm tình của đa số dân chúng, đó là chủ nghĩa dân tộc. Ở miền Nam Việt Nam là chủ nghĩa dân tộc còn để lại từ phong trào Việt Minh chống Pháp, là sự đối kháng với những đội quân nước ngoài qua hơn 2000 năm lịch sử của người Việt Nam. Ở Afghanistan, các bộ lạc ở đây từ vài ngàn năm qua, chống trả dữ dội những đạo quân ngoại bang, từ Alexander Macedonia đến binh lính Anh, từ các sư đoàn Soviet đến liên quân do Mỹ đứng đầu.

Sự hiện diện của binh lính nước ngoài vô tình làm cho những tư tưởng cực đoan hà khắc trở thành đại diện cho chủ nghĩa dân tộc trong mắt dân chúng, tại Việt Nam là chủ nghĩa cộng sản, tại Afghanistan là những tín điều tàn bạo của luật Sharia. Bên cạnh đó, sự nhũng lạm của các nhà nước được phương Tây ủng hộ, cũng làm cho nhiều người trở nên bất mãn mà ủng hộ cộng sản trong chiến tranh Việt Nam, hay ủng hộ Taliban trong chiến tranh Afghanistan.

Biên giới Afghanistan và biên giới Việt Nam đều không thể bao kín chống lại sự xâm nhập của các lực lượng vũ trang và vũ khí từ bên ngoài.

Sự tương đồng lớn nhất có lẽ là mô hình dân chủ phương Tây không được người địa phương hiểu, hoặc là chưa đủ thời gian để họ hiểu ra.

Tuy nhiên cũng có những sự khác biệt rất lớn.

Đầu tiên là nguồn cơn của cuộc chiến. Nếu ở Việt Nam là lý tưởng chống cộng sản, thì ở Afghanistan là để tự vệ sau cuộc tấn công của Al-Qaeda vào tòa tháp đôi ngày 11/9/2021, vì Al-Qaeda dùng xứ này làm căn cứ hoạt động.

Nếu các lực lượng cộng sản tại Việt Nam có một “hậu phương lớn” ý thức hệ rất rạch ròi trong chiến tranh lạnh, cung cấp cho họ những phương tiện tài chính, quân sự dồi dào, thì lực lượng Taliban lai được cung cấp những phương tiện ấy từ những đồng minh của… Mỹ, Pakistan và Arab Saudi.

Các lực lượng cộng sản Việt Nam, gồm miền Bắc cộng sản và bình phong của nó là Mặt trận Dân tộc Giải phóng, là một lực lượng rất thống nhất. Lực lượng đó đến gần nửa thế kỷ sau vẫn còn là một khối thống nhất trên cơ sở dân tộc và kinh tế. Lực lượng này đã từng có một ý thức hệ, nhưng đã tàn phai. Trong khi các chiến binh Taliban là một liên minh khá lỏng lẻo, liên kết nhau bằng một niềm tin có lịch sử gần 2000 năm.

Khi bắt đầu nhúng tay vào Việt Nam, người Mỹ hầu như không biết gì về xứ sở này, trong khi đó Afghanistan lại khá quen thuộc với họ, vì họ ủng hộ các chiến binh Mujahedeen chống lại quân đội Soviet trước đó. Xuyên suốt cuộc chiến, người Mỹ có những chuyên gia người Afghanistan am tường xứ sở của họ.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa của miền Nam Việt Nam trước đây không phải phân tán quyền lực về các thủ lĩnh địa phương, mà đôi khi khác hẳn về chủng tộc.

Cuộc chiến Afghanistan là cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ trong lịch sử của nó, nhưng nếu so vị trí của nó trên bàn cờ chiến lược quốc tế thì nó không lớn bằng cuộc chiến Việt Nam. Lẽ ra người Mỹ có thể rút lui khi đã diệt được lực lượng Al-Qaeda sau khi hạ sát Osama Bin Laden vào năm 2011, nhưng họ ở lại để tiếp tục một lý tưởng gọi là “xây dựng quốc gia” (nation building) một lý tưởng đã thất bại cách đó mấy ngàn cây số ở miền Nam Việt Nam.

***

Truyền thông quốc tế liên tục đưa tin về những đoàn người Afghanistan chạy loạn, vì họ sợ cuộc tắm máu đã từng diễn ra cách đây 20 năm. Các chiến binh Taliban mà giới truyền thông Anh quốc gọi là Taliban 2.0, tuyên bố rằng, họ sẽ không trả thù, sẽ không có tắm máu.

Tương tự như vậy, đoàn người chạy loạn ở miền Nam Việt Nam trong tháng 4/1975 bị thúc đẩy bởi những cảnh giết chóc kinh hoàng của lực lượng cộng sản vào năm 1968, và xa hơn nữa là cảnh đấu tố cải cách ruộng đất 1955.

Nhưng điểm khác nhau là những người Việt chiến thắng năm 1975 đang ở đỉnh cao hưng phấn ý thức hệ của họ, một ý thức hệ, một cách sống hoàn toàn khác biệt với những người miền Nam cùng chủng tộc với họ. Các chiến binh Taliban và dân chúng Afghanistan không khác nhau nhiều đến thế.

Đã có lác đác những người Afghanistan “thuyền nhân” đến Úc, châu Âu để thoát đói nghèo và chiến tranh trong hơn 10 năm qua. Khác với cuộc chiến Việt Nam, có hàng triệu người tị nạn Afghanistan đã có mặt trong những năm qua ở các nước láng giềng Pakistan và Iran.

Sau ngày 15/8/2021, liệu sẽ có một làn sóng “thuyền nhân” Afghanistan hay không? Như hàng trăm ngàn người Việt bỏ nước ra đi sau năm 1975?  Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Anthony Blinken nói vào ngày 15/8/2021, rằng Kabul không phải là Sài Gòn. Ông đúng hay sai? Câu trả lời có lẽ còn nằm ở phía trước khá xa

Tại sao cấm họ về? Ở lại sẽ chết vì đói chết vì y tế quá tải sao?

Sáng nay, nghe thông tin Saigon tiếp tục phong tỏa thêm 1 tháng, Dân lao động trụ lại hi vọng dịch sớm qua đi, cuộc sống sẽ ổn trở lại – đã bất lực, không còn tiền, không ai hỗ trợ và quyết định đào thoát về quê. Ngay lập tức công an lập rào chắn chặn lại, yêu cầu bà con ai ở đâu thì ở yên đó, quay lại trọ.

Mấy hôm nay, tôi xem nhiều clip Dân quận 7 và Bình Tân đã kéo lên phường khu phố đòi tiền hỗ trợ. Người nghèo, lao động thu nhập thấp, mưu sinh ngoài đường đã quá lâu nhốt ở nhà họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì họ cuộc sống của họ xung quanh tờ vé số, lon chai trong thùng rác…

Người nghèo yếu thế, không thu nhập chính phủ không lo được cho họ thì hãy để họ về quê tự lo.

Tôi chưa thấy chính phủ nào lại đốn mạt và bại hoại như CP Việt Nam!

Tại sao cấm họ về? Ở lại sẽ chết vì đói chết vì y tế quá tải sao?

Hôm qua báo chí nói 5 bệnh viện ở Bình Dương từ chối nhận người cấp cứu, sau đó người ta về trọ và đã chết trong sự oan ức.

Họ chết không phải không cứu được, chết vì cách chống dịch sai lầm. Không

kế hoạch chống dịch đúng đắn, toàn chỉ thị và nghị quyết nặng tính cách mạng. Không có chính sách minh bạch hỗ trợ người nghèo, doanh nghiệp đã gây ra tình trạng khủng họa và thảm hoạ.

Những người này là nạn nhân của chính sách sai lầm, họ bị chính phủ mặc kệ và bỏ rơi. Không còn đường sống phải về quê. Song, họ sẽ bị dư luận chỉ trích vì thiếu ý thức.

Nhưng, họ là Dân đen nên bị chỉ trích thôi. Chứ con cháu bí thư, các tỉnh sẽ sẵn sàng đợi lệnh để mở chốt cho bí thư chở con gái ra thẳng sân bay sang Mỹ du học. Vì có quyền và có tiền, báo chí sẽ phớt lờ xem như đó là điều bình thường, nhưng Dân không còn đường sống, ngay lập tức bị cho là thiếu ý thức.

Nhìn đất nước hôm nay, đồng bào ta quá khốn khổ vì những kẻ ngồi phòng lệnh sợ trách nhiệm triệt đường sống, mặt khác lại tung hô kẻ có tiền và có quyền.

Ta thật sự thấy nhục nhã, nhục vô cùng khi các quốc gia khác lo cho Dân từ an sinh xã hội tới Vx. Còn đây chống dịch trong phòng lạnh mặc kệ Dân sống chết ra sao.

Các ông ở biệt phủ có kẻ hầu người hạ có bao giờ nghĩ về họ. Nghĩ về đồng bào ta không còn đường lùi…

Ép họ quay lại câu hỏi họ sẽ ở đâu khi chủ trọ đuổi? Ăn gì khi tiền không còn một xu?

– Phạm Minh Vũ

May be an image of motorcycle and road

Thương Chùm Hoa Khế

 Van Pham

Đọc chậm rãi, cảm nhận từng ý mới thấu hiểu vì sao người già thích sống trong vùng trời kỷ niệm mà đôi khi chúng ta cho là lẩm cẩm…. Nhà văn Nhã Ca (Giải Khăn Xô Cho Huế) sẽ dẫn dắt chúng ta quay trở lại với dĩ vãng của từng người…

TRUYỆN NGẮN CUỐI TUẦN CỦA NHÃ CA

***

Thương Chùm Hoa Khế

Ông cụ Hồi mở cửa tiễn khách. Cũng là bạn hàng xóm thôi, nhưng gần nhà mà xa cửa ngõ. Hai khu vườn đâu lưng, cửa ngõ thì nằm ở hai con đường khác, đi bộ cũng mất mười lăm phút.

– “Bác về nghe. Rảnh sang chơi.”

– “Lóng rày hai cái chưn yếu lắm rồi bác. Muốn nhờ con cháu nó đưa đi thì sợ phiền bác ơi. Mình qua đây nó khác bển nhiều lắm.”

– “Biết.”

Ông cụ Hồi cười buồn. Điều này thì ông hiểu sâu đậm lắm rồi. Mà đâu phải bây giờ, cách đây mười năm trước, khi còn bà, cả hai đều khoẻ, họ cùng đi tập thể dục ở một câu lạc bộ của người Mỹ nhưng có rất đông người Việt Nam.

Hồi đó ông còn lái xe được, chớ bây giờ, hai chưn của ông có khá gì hơn ông bạn. Hồi đó, ở chỗ tập, bạn già hay tâm sự với nhau:

– “Tui hồi mới qua, làm việc như trâu để mua cái nhà cho lớn, nhiều phòng cho các con ở. Vậy mà thoáng cái, chúng nó đi hết trơn, hai vợ chồng tui thu dọn chết luôn.”

– “Sao không bán đi, kiếm cái nho nhỏ mà ở.”

– “Nhiều lúc cũng nghĩ vậy. Nhưng hổng có chỗ thì tụi nó không về. Lâu lâu tụi nó về thăm, dẫn thêm cháu vui nhà vui cửa lắm. Tụi nó đi đâu, đem sấp nhỏ về gửi, mình được coi cháu.”

Lại khoe con, khoe cháu:

– “Mấy đứa nhỏ qua Mỹ mà không nhiễm Mỹ chút nào hết trơn. Ôi thôi, đi lấy chồng lấy vợ, tuần nào cũng về, mua sắm đổ đi hổng hết. Tôi cứ phải ngăn, chửi tụi nó hoài.”

– Chắc không? Chưa nhiễm chớ đâu phải là không nhiễm. Ông cụ Hồ nghĩ trong lòng vậy.

– “Con cháu ngoại của tui mới hết xẩy. Nói tiếng Mỹ như gió. Dễ thương lắm kìa, nói chuyện với ông ngoại thì nói tiếng Việt, quay sang ba nó thì nói tiếng Mỹ ào ào. Giỏi quá.”

Bà muốn khoe bà có rể ngoại quốc.

Cũng ông bà già đó, chừng ba năm sau gặp lại thấy khác hẳn. Hôm xưa ông mập mạp, mặt đỏ như quan công, râu dài và mướt như Lưu Bị, bây giờ choắt lại, xanh xao. Còn bà, già nhanh không tưởng được. Nhớ tuổi thì chưa tới bảy mươi mà tiều tuỵ, còm cõi như bà cụ trên chín mươi sắp xuống lổ.

Nụ cười tươi tắn hãnh diện về con cháu đâu mất rồi.

Hỏi thăm. Nhà sang tên cho thằng con để nó trả phụ tiền nhà. Con vợ lộng quá, em út văng ra hết. Rồi đứa dọn ra, tách rời. Ông bà nhớ con nhớ cháu, lặn lội đi thăm. Lũ cháu lớn lên không dễ thương như khi còn nhỏ. Bà sụt sùi:

– “Mình nói gì nó cũng hổng hiểu. Nó nói gì mình cũng hổng hiểu nốt. Miết rồi còn hơn người dưng xa lạ.”

– “Bác ơi, tụi nó bận chết bỏ. Mình tới, nó đón về rồi mạnh chồng chồng đi, mạnh vợ vợ đi, trẻ con thì đi học. Bác biết hôn, tụi nhỏ hễ về tới chẳng chào hỏi ai, rút vô phòng, mở nhạc, điếc tai nhức óc…”

Ông cụ nuốt nước miếng. Già, miệng mau khô lắm, làm như phải nuốt nuốt liên tục:

– “Vậy là chóc ngóc hai ông bà già ở nhà, riết rồi lo cơm nước cho chúng mà…”

Bà cụ nói hớt:

– “Mà cũng hổng yên với chúng bác ơi. Mấy đứa cháu chê nấu nướng kiểu Việt Nam hôi nhà hôi cửa, nhăn nhăn nhó nhó làm mình tủi lắm kìa.”

– “Vậy chúng có ăn hôn?”

– “Ăn chớ sao không ăn, nhưng cằn nhằn chê thì cứ chê. Buồn trong bụng lắm, bác.”

Ông cụ thở ra một hơi dài mà làm như nỗi ấm ức còn nhiều lắm, nặng lắm, hổng ra hết.

– “Hai vợ chồng tui giờ thuê một phòng gần phố Bolsa ở, ngay góc chợ, bà già đi bộ ra mua đồ ăn về, hai ông bà già hẩm hiu với nhau, còn đỡ. Bà chủ nhà goá chồng, còn trẻ, nhưng thông cảm lắm, cho mượn bếp nấu nướng. Mai mốt tui đi trước hay bả đi trước, còn lại một đứa già mới là khổ hết biết, bác.”

Bà cụ lau nước mắt. Đàn bà dễ khóc mà.

– “Bởi, mình bỏ quê, bỏ nhà bỏ cửa qua đây là hy sinh nhiều lắm, cũng vì nghĩ tới sấp nhỏ mà thôi…”

Ông cụ gạt phăng:

– “Bà nữa. Mình xong bổn phận làm cha làm mẹ rồi, nước mắt chảy xuống có bao giờ chảy trở ngược chưa? Thấy con đứa nào cũng nên thân là mình yên tâm nhắm mắt được rồi.

– Bà à nhe, bà muốn gì nữa, lúc nào bà cũng có tui một bên…”

Lâu rồi, cụ Hồi không còn gặp ông bà già này nữa. Họ còn không? Chết? Có lẻ đôi? Ra sao rồi. Ông vẫn hay thắc mắc.

Ông già hàng xóm đã đi được một chặng đường. Ông già cũng lẻ bạn, như ông cụ Hồi, lẻ bạn. Tội nghiệp, đi thui thủi một mình. Kìa, sao lại băng ngang đường. Muốn tới cái công viên ngồi nữa sao? Dư thì giờ vậy, không ở lại chơi thêm, thiếu gì chuyện để nói. Hồi nãy cũng có cầm chưn:

– “Còn sớm mà bác, ở chơi một lúc.”

– “Bữa khác bác. Bữa nay…”

À, thì ra bữa nay tới công viên nữa. Ở đó, có vài ông già ngồi, có vài đứa con nít chơi. Ông bạn già này thèm nhìn con nít. Ổng đâu có thiếu cháu nội cháu ngoại chớ, nhưng ông lại ở với thằng con trai có vợ không sanh con, hai vợ chồng nuôi đến bốn con chó đủ giống trong nhà. Ông cụ nói:

– “Ôi thôi, hai đứa nó cưng bốn con chó, chắc con đẻ cũng cưng tới vậy thôi bác ơi. Tui nhớ lũ cháu mà chịu, tụi ở xa quá. Gọi điện thoại có khi nào được nói chuyện với tụi cháu đâu, làm như tụi nó hổng biết mình là ai.”

– “Thì tại bác hổng đi thăm tụi nó. Thời này, mua một cái vé máy bay, chỗ nào hổng tới được.”

– “Tui, hổng tới được thiệt đó bác. Tiền già lãnh, tháng nào cũng chia cho hai đứa con còn ở Việt Nam. Tụi nó khổ lắm. Nè bác, bển tui cũng có cháu nội, cháu ngoại. Tụi nó năm nào cũng gửi hình qua, coi ngộ lắm.”

Ông cụ mở cái ví luôn luôn sau túi quần, lôi ra mấy tấm ảnh con nít.

– “Bác thấy hôn. Tụi nó có tình nghĩa lắm kìa. Đứa nào cũng đề sau ảnh, chắc con mẹ hay thằng cha nó cầm tay cho viết, nè, bác coi…”

Sau mấy tấm ảnh, tấm thì đề cháu nhớ ông ngoại lắm, tấm thì ông nội ơi, cháu thương ông nội nhất đời. Trong khi ông cụ Hồi lấy kính, lau cho sạch để đọc thì ông bạn già rơm rớm nước mắt.

– “Nhớ sao hổng mua vé về. Lóng rày người ta về hà rầm, sợ thằng tây đen nào chớ.”

– “Tui cũng hổng về được. Bác nghĩ coi, có mấy trăm bạc, nhớ con nhớ cháu cứ gọi về Việt Nam, phải chia cái biu điện thoại để khỏi nghe con dâu cằn nhằn, nựng chó mà chửi mình. Còn lại, gửi cho hai đứa, nuôi mấy đứa cháu ở bển ăn học.”

Ông cụ Hồi lắc đầu, nghĩ trong lòng mà không nói ra miệng. Hèn chi. Ông bạn già đời rồi mà vẫn còn ngây thơ, bị phỉnh như thường. Cũng còn đỡ, con cháu nó phỉnh chớ ai vô đó.

Ông cụ Hồi trở vô. Căn nhà vắng như chùa bà Đanh. Chùa bà Đanh vắng như thế nào, ông cụ chỉ nghe câu nói trong nhân gian đó thôi, chớ cái nhà của cụ đang ở vắng thì buồn khủng khiếp lắm. Có bà bạn già, ở goá hồi còn trẻ kìa, có bữa gặp trong đám ma một người trong họ, mừng lắm:

– “Mèn ơi, lâu ơi là lâu, hổng thấy bác đâu…”

Sao thấy được. May đám bà con trong họ, thằng con mới lấy ngày nghỉ, đưa đi. Mà cũng bỏ ông ở đây rồi dọt lẹ, hẹn giờ tới đón. Chuyện qua chuyện về, người sống sắp hết đời rồi thì còn chi vui nữa. Bà bạn:

– “Tui nghĩ cho cùng mình cũng hổng nên trách ai mà trách mình là một gánh nặng cho con cái. Cũng may mình biết phòng thân bác ơi. Giờ còn chút tiền gửi nhà băng, lấy ra xài dần.

– Tui vô chùa ở với mấy bà bạn già, làm công quả, sớm tối kinh kệ, ngày qua mau lắm.”

– “Thấy chị thong thả, phẻ phắn quá, tui ham.”

– ” Ý cha, già rồi mà ăn nói vô ý vô tứ quá vậy. Còn ham kí gì nữa mà ham chớ. Ông cười gượng gạo.

– “Xin lỗi, già rồi, lẩm cẩm phải hôn. Tui muốn nói thấy chị… tiếng Phật nói là gì đó, à từ bi tự tại, thấy chị hổng lý chuyện đời nên mặt ít nhăn, còn tui, giống trái cau khô không chị.”

Bà già cười. Ông bạn chồng này, thủa xa xưa cũng một thời, nghe đâu có nhiều hồng nhan tri kỷ, cũng làm khổ đờn bà không ít.

– “Bác cũng nên đi chùa mà rửa nghiệp rồi mới đi thong thả.”

– “Được như chị thì phúc rồi. Tui hoàn cảnh khác, chị ơi.”

– “Biết. Lúc đầu tui cũng đeo con đeo cháu mà không nghĩ ra là đến một lúc nào đó, con cháu nó hết cần mình nên khổ hoài. Mèn ơi, cả ngày ở trong căn nhà rộng, đi ra đi vô, tủi thân khóc ơi là khóc. Cũng may tui “ngộ” sớm… Bữa nào rảnh, bác tới chùa chơi, hổng phải chỉ có người già không đâu, mà mấy cô tre trẻ cũng tới tu, thương nhau và giúp đỡ nhau, như một gia đình.”

Ông có hứa. Nhưng không đến thăm bà bạn già được. Bữa đó, bà bạn già, cũng còn giữ được tính nghịch ngợm thời trẻ, nhắc tới một hai hồng nhan tri kỷ trước đây của ông. Còn đẹp còn xấu gì nữa, tất cả đã già. Ông cũng không hề nghĩ là tìm dịp gặp lại, kể cả nếu nghe tin đám ma, chắc cũng hổng nên tới thắp nhang. Đến tro cốt của bà vợ để trên chùa, thằng con nghĩ tới đưa đi thăm thì ông tới thắp nhang, còn không thì thôi, đâu dám nhắc, sợ làm phiền.

Nếu căn nhà trống vắng này mà có chút tro cốt của bà, hay cái bàn thờ để ông hương khói cũng còn ấm áp chút đỉnh.

– “Sấp nhỏ chúng nó không chịu được mùi nhang, với lại nhà có cái phòng khách nhỏ xíu, bày bàn thờ trông kỳ cục lắm. Thôi đem má lên chùa, con sẽ chở ba đi thăm, má ở chùa nghe kinh mới sớm siêu thoát. Để ở nhà, ba nhớ, sanh bệnh, khổ.”

Ứa lệ mà chùi lén. Ông có một phòng nhỏ, ngăn bớt ở garage ba xe. Chỉ kê được cái gường, cái bàn nhỏ xíu còn chừa cho lối đi. Ông để cái ảnh nhỏ của bà lên bàn. Lúc đầu ông có cái bát nhang. Nhưng thằng con lại nói:

– “Ba cứ đốt nhang khói um sùm. Phòng ba gần máy ga, máy nước nóng. Ba hay quên, dễ cháy nhà lắm. Để con mua cây nhang điện về cho ba, cháy đỏ ngày đêm như ngọn đèn, ha ba. Ba thấy hợp lý không ba?”

Nói thì vậy, nhưng mấy năm rồi, thằng con chưa mua. Ông cũng không nhắc. Bà chết rồi, thôi ông cứ khấn nguyện trong lòng cũng được.

Ông cụ nhà đâu vườn mà có phúc hơn mình. Còn hai ba đứa con ở quê nhà mà lo. Còn lũ cháu chưa biết mặt, phỉnh cho mà khoái. Chớ ông, đã đem hết các con qua đây, bây giờ chúng nó đã dọn mỗi đứa một nơi. Lúc còn khoẻ, ông cũng đã tới ở với từng đứa. Cũng được tiếp đón, nhưng đó là lúc ban đầu.

Sau cùng, ông thấy không phải con ông tệ, mà ông không còn là một người cha nhanh nhẹn, tháo vát nuôi các con mà chỉ là một gánh nặng. Mà hai vợ chồng thằng con này thì muốn giữ ông, cũng vì lớn nhất, còn vướng chữ hiếu khó rũ bỏ.

Ông cụ Hồi đi ra đi vô. Vườn tược ông đã chăm xong. Bởi ông ít ngủ, dậy từ sáng sớm là ra vườn. Ông còn phải chăm hai cây mà bà vợ, lúc còn sống nưng niu nhứt. Đó là một cây khế và một cây nhãn Việt Nam. Bà nói:

– “Thấy người ta trồng thì ham, tui cũng muốn trồng. Nhưng tui biết, tui hổng đợi được thấy nó lớn, có trái đâu. Lâu lắm.”

Phải. Bây giờ cây nào cũng có hoa có trái, còn bà, xương cũng không còn, chỉ còn nhúm tro.

Cũng không phải nhà vắng rồi cứ đi ra đi vô hoài đâu. Sáng sớm, hai đứa cháu ăn sáng xong, vội vã đi học. Còn đống chén đĩa ở bếp, ông phải thu dọn dùm chúng. Gì nữa, à nhớ ra, sáng đứa con dâu dặn:

– “Ba, con giặt quần áo mà không sấy kịp. Ở nhà, ba bỏ qua máy sấy dùm con chút, được không?”

– “Ườm.”

– “Chết cha. Thùng rác chưa lôi ra… Trễ giờ rồi, con phải đi… Ba đem ra giùm, được không?”

Lúc nào cũng hỏi câu được không làm gì chớ. Bắt buộc là phải được. Việc kéo thùng rác nặng nhọc, cứ đến ngày, ông cụ còn ì à ì ạch kéo ra đường, tối lấy thùng vô. Thằng con trai có thấy, nhưng lơ đi. Ông cụ còn làm được để cho ông làm, dãn gân cốt, đỡ bệnh tật.

Đứa con dâu, lúc vắng mặt chồng quăng thúng đụng nia:

– “Mệt ơi là mệt, đi làm cả ngày như trâu như chó, sao có những người sướng chỉ ăn không ngồi rồi.”

Nó nói trống lổng thôi, đâu chỉ ai. Ông cụ Hồi đắng cả họng.

Làm xong thì tới trưa trợt. Lại thêm một chuyện tệ hại. Đã dặn sáng ra lấy cục thịt đông lạnh trong tủ đá ra ngoài để trưa kho rim mặn ăn với cháo. Đã nói già, lẩm cẩm, quên. Ông đành làm một tô mì gói. Ăn xong, ông vô phòng. Ngồi trên cái gường nhỏ, ông nhìn ảnh bà vợ. Tấm ảnh chụp lúc bà lớn tuổi rồi, mới nhìn tưởng con mắt nheo nheo ngó nhưng kỳ thực không phải, đuôi mắt bà xếp nếp nhiều quá nên tưởng vậy. Thì cũng là nét duyên của người già.

– “Bà à, cây khế mùa nào cũng có hoa. Hoa khế đẹp lắm, tui biết bà rất thích, mai mốt…”

Phải rồi, mai mốt tới xuân, có hoa khế. Ông phải nhớ ngắt một chùm để trên cái dĩa, trước tấm ảnh của bà. Bữa nay ra vườn, thấy cây khế trơ trụi lá mà đã có những chồi non muốn nhú lên. Khi đông tàn, loại cây này nó vậy.

Nhớ mùa xuân ở quê nhà, trong dĩ vãng xa, nụ cười của bà bên cây khế sau vườn nhà đâu có vậy, đẹp lắm kìa. Hồi đó, ông còn là một chàng trai trẻ, thường nhìn trộm qua vườn bên cạnh… Vậy mà mấy chục năm qua cái vèo. Chuyện gì cũng đã quên tuốt luốt hết, chỉ có một chuyện nhớ.

Nhớ hoài, là bữa hẹn tân niên. Mùa Xuân. Buổi trưa yên ắng. Dưới gốc khế sau vườn nhà nàng. Cũng chỉ vì đôi môi chúm chím, còn ngậm chùm hoa khế làm duyên. Cầm lòng chẳng đậu. Vậy mà lỡ cho lỡ luôn. Nào dè, chưa kịp hoàn hồn, bỗng thấy tiếng chân đi nặng nề. Rồi ông già nàng cầm cái rựa xông tới. Lạ thật, lúc đó trời sập cũng hổng biết chớ đừng nói, vậy mà nàng thấy kịp, vùng đẩy ông bật dậy.

Thế là tá hoả, cũng không biết lúc đó làm sao chàng thanh niên có thể nhảy bay qua hàng rào mà về vườn nhà mình. Chuyện đâu dừng ở đó, cái bụng nàng chình ình ra, rồi đám cưới. Đứa con đúc có một lần dính liền là thằng con lớn bây giờ. Bà vợ từ trẻ tới già, vẫn lãng mạn kiểu vườn, ở đâu cũng muốn trồng một cây khế.

Đời người đàn ông kể cũng lạ. Biết bao người yêu qua đời, nhưng cuối cùng chỉ có một người đàn bà già nua, xấu xí nhứt thì vẫn mặn nồng bên cạnh. Đâu có ai hiểu lòng ông, dù bà còn nắm tro, ông vẫn thương, thương hoài thương huỷ.

***

Mấy bữa sau hai ông cụ bắt ghế nói chuyện với nhau qua bức tường ngăn vườn. Hai ông đứng ở khoảng tường thấp nhất, còn có bục xi măng chặn luống hoa, nên nhìn thấy mặt nhau.

– “Mấy ngày rồi, tụi có bụng ngóng, hổng thấy bác ra vườn.”

– “Tui. Bị bận quá bác ơi, đi lo mấy thứ giấy tờ, rồi còn chích đủ thứ.”

– “Phải. Mùa này cúm dữ lắm. Tui cũng chưa đi chích vì thấy tụi nó hổng rảnh, mà cũng… sợ phiền.”

Vậy đó, hồi còn nhỏ nhít, đang ăn chúng nó cũng phẹt phẹt ra, phải bỏ đũa dọn. Đang ngủ, chúng ọc sữa, đái dầm, phải thức giấc lo, khi mọc răng nóng đầu, khóc cả đêm không ai ngủ được, có làm phiền hôn chớ. Nhưng nói ra ngặt lắm, ai nuôi con mà kể công.

Ông cụ Hồi cũng vậy, nhắc bạn chớ ông cũng đã chích ngừa đâu. Năm ngoái có thằng cháu tới chở đi chích. Năm nay thằng cháu vô trường mới, ở xa, điện thoại hỏi thăm ông ngoại cũng thưa dần, rồi bặt. Hồi đó, ông hay khen có thằng cháu ngoại hiếu để biết thương ông, nay mới mắc cái quai sặc họng.

– “Tui mà đi trước, ông khổ lắm ông biết hôn?”

Lúc còn sống, bà lo vậy, mà chắc lo cho tới khi nhắm mắt rồi có còn lo không đây. Bữa đám ma bà xong, cả tháng ông không ngủ, ngồi mở mắt trừng trừng. Đâu biết cái bà già ngắt, lẩm cẩm, suốt đời như cái gánh nặng đeo bên hông mà lại quan trọng đối với ông đến vậy.

– “Bác thấy hôn, lật bật mà hết năm tới nơi rồi. Tui bữa nay ra coi lại hệ thống tưới tự động cho tụi nó rồi thôi, tui đi.”

Giật mình. Lời nói như trối trăng. Ở tuổi này còn đi đâu chớ, nếu không phải về dưới? Nhưng ông bạn già nói tiếp:

– “Tui về bển, bác.”

– “Bển.”

– “Phải. Đứa con gái đầu của tui bịnh nặng mà tụi nó giấu tui. Nghe nói không xong rồi mới báo cho biết. Thằng cháu ngoại gọi điện thoại qua, nghe giọng ông ngoại, khóc quá là khóc.”

– “Tội hôn.”

Ông cụ Hồi hơi ân hận trong lòng, thì ra lâu nay, ông hiểu lầm nhiều quá.

Vẫn ông bạn:

– “Mua vé lâu rồi, đang lo không ai giúp thì bữa có ông bạn già gọi điện thoại tới khoe um sùm là sắp về bển ăn Tết. Tui mới hỏi thăm, dò đường í mà. Thì ra, bây giờ dễ lắm, cứ lật tờ nhật trình ra là có số điện thoại để mình gọi, người ta đem xe đến tận nơi đưa mình đi. Vậy mà tui đi chích cúm, rồi đi chích các thứ thuốc ngừa. Bữa đi họ cũng đưa mình ra phi trường…”

Ông cụ Hồi buồn tênh. Sáng nào cũng có tờ báo Mỹ liệng trước sân, chính tay ông nhặt tờ báo vô nhà, nhưng chỉ nhìn được mấy tấm hình.

– “Bữa mua vé nhờ thằng con, nhưng cứ nhờ hoài sợ phiền. Bây giờ biết rồi, phẻ quá bác ơi. Để bữa tui đi về, tui với bác biểu xe tới đón tụi mình ra Phước Lộc Thọ chơi, ở đó có mấy lão tướng, đấu với nhau suốt ngày, coi vui lắm.”

– “Ừm.”

Cụ Hồi bần thần trong người, vụt miệng nói:

– “Tui mà biết, tui cũng đi với bác. Sao bác hổng nói sớm?”

– “Bác còn ai ở bển mà về chớ. Về bển, hỏi bạn cũ, muốn thăm đều phải ra nghĩa địa, họ nằm hết ở ngoải rồi. Còn đi đường thì sợ xanh mặt, xe cộ hồi đó đã ghê rồi, bi giờ còn ghê hơn, ổng hổng dám ra đường…”

– “Bác về bển cũng cẩn thận.”

Ông cụ Hồi nói cho có chuyện. Ông bạn già gật đầu:

– “Tui cũng biết. Tui đâu có ở thành phố, bác. Về đến là tụi nó rước xuống Cần Thơ, ở dưới với con cháu, cũng hổng muốn đi đâu. Chơi? Có gì mà vui, mà chơi, bác.”

Rồi kể:

– “Nghe lóng này đường phố, xe cộ chạy như mắc cưởi mà người nào người đó đeo khẩu trang, nghĩa là khăn bịt mặt nên đi ra đường là như thấy toàn quân ăn cướp, ghê rợn lắm kìa.”

– “Thiệt sao?”

Ông cụ Hồi không tưởng tượng ra được. Ông bỗng hắt xì liên tục một hơi, nước mắt nước mũi ràn rụa.

– “Thôi chết rồi, bác sắp cúm đó nha. Mặc thật ấm vào. Nhớ đi chích thuốc cúm, nhớ đó nha. Quên là nó vật mình toi củ tỏi luôn.”

Ông cụ Hồi cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy khắp thân, rồi dồn ở ngực, bắt muốn ho. Ông ho khục khặc.

– “Vô nhà đi bác ơi. Vô đi. Tui cũng kiếu bác, bác ở lợi ăn Tết vui nhe. Tui còn lo đi một vài việc để về bển.”

– “Bác cho tui gửi lời hỏi thăm… hỏi thăm… ắt xì, ắt xì…”

Ông bạn già còn ráng đứng trên ghế chờ. Ông cụ Hồi hắt hơi xong thì mới chưng hửng. Đâu biết gửi lời thăm ai chớ. Ông lắc đầu:

– “Thôi bác, chúc bác về bển gặp con cháu… vui.”

– “Chào. Ráng uống thuốc mau lành, bữa về gặp lợi.”

Ông bạn già sẽ vắng mặt một tháng. Nhưng còn gặp lại nhau không, đó là chuyện của ngày mai, ai biết!

***

Lúc đầu chỉ vài cái hắt hơi, rồi ho. Ông cụ Hồi mỗi lần ho là gập người xuống, vì vậy, cái lưng càng còng hơn, càng gần mặt đất hơn.

– “Đã nói nhắc con đưa đi chích cúm, hổng chịu nhắc. Bịnh vậy đâu có đi chích được. Chờ qua khỏi, con đưa ba đi chích. Nghe nói năm nay cúm độc lắm.”

Ông cụ Hồi ầm ừ. Bữa sau, chắc con vợ tỉ tê sao đó, thằng con trước khi đi làm dặn:

– “Ba à, ba đang cúm, đừng ở nhà trên nhiều, rồi lây hết cả nhà khổ lắm.”

– “Hổng phải tụi bây chích ngừa hết rồi sao?”

– “Chích thì chích, cả trăm thứ cảm cúm, ngừa mấy thứ dữ thôi ba. Còn mấy đứa nhỏ đâu chịu chích, dễ lây lắm ba.”

Đứa con nói đâu có gì sai. Nhưng cứ ru rú ở dưới garage, nằm hoài cũng thấy nhức đầu lắm. Thằng con có mua thuốc đầy đủ, còn dặn:

– “Có cam vợ con mua để sẵn, ba vắt uống nhiều nhiều cho mau khoẻ. Ba nhớ uống thuốc.”

Đứa con dâu, sáng, trước khi đi làm cũng ráng bắc một nồi cháo trắng. Cũng có một nồi thịt kho tiêu. Có sự săn sóc chớ đâu phải không, nhưng tình cảm thì thiếu nhiều lắm, nó nhạt nhẽo làm sao!

Qua chiều ngày thứ ba thì ông cụ Hồi sốt. Ăn cơm chiều xong, đứa con trai xuống thăm, thấy ông trùm mền kín mít thì hoảng:

– “Ba sao vậy.”

Đứa con lật chăn lên, sờ trán thấy trán cha nóng hổi.

– “Ba có uống thuốc đều không đó. Chắc lúc nhớ lúc quên mới mau nặng vậy. Để sáng mai con đưa ba đi bác sĩ.”

Con dâu và cháu không dám đến gần, sợ lây bệnh. Đứa con sợ cha buồn, bệnh nặng thêm, nên gượng gạo bảo con:

– “Ông nội đau không đứa nào hỏi thăm một tiếng sao? Xuống thăm ông nội ngay.”

Hai đứa cháu mặt mày cau có, đứng lấp ló ở cửa hỏi vọng vô, tiếng Việt bập bẹ:

– “Ông nội, ông nội có khoẻ khôn. Chào ông nội.”

Vậy là biến. Ông cụ Hồi trong cơn sốt gần như mê sảng cũng nghe giọng hai đứa cháu, mừng đến ứa nước mắt.

Tối đó, hai vợ chồng gây gỗ nhau.

– “Anh một vừa hai phải thôi nhe. Ba bịnh nặng như vậy mà bắt tụi nhỏ xuống thăm. Mai mốt ba lành, muốn thăm nhiêu không được. Cả nhà thi nhau bịnh nằm một đống, khi đó ai thăm hỏi ai cho biết.”

Thằng con thấy vợ nói cũng phải, nhưng trong bụng đang tức. Công việc lu bu gì không đưa cha đi chích thuốc ngừa, lỡ có gì thì ân hận đến chết. Đời sống ở Mỹ này, đứng lại là thụt lùi, là thua kém, là nguy…

– “Em cũng quá lắm, anh thì bận, em chẳng để ý gì đến ba.”

– “Nói vậy mà nghe được. Tui cũng đi làm như anh chứ ở nhà đi ra đi vô sao? Còn nữa, chợ búa, cơm nước, làm con sen ở nhà này là ai.”

Thương ông già thì nổi cơn vậy, nhưng vợ lớn tiếng thì cũng phải nhịn. Đến đó thôi. Vừa đủ. Làm tới, nổ lớn.

– “Nói nhỏ tiếng chút được hôn, thôi mình, bỏ qua.”

Anh sợ sấp nhỏ nghe. Hai đứa con đứng về phe mẹ.

Chiều hôm sau, đứa con dâu đi làm về, chính tay nấu món cháu thịt bò bằm, chính tay bưng xuống cho bố chồng ăn. Chị hỏi thăm, có cười, nhưng nụ cười như mỗi lần phải xã giao, gượng gạo. Ông cụ Hồi đã có vẻ khá hơn, thấy không cần phải đưa đi bác sĩ khám. Anh tự hào với bạn bè là bố anh khoẻ mạnh, tuổi già mà ít làm phiền con cháu. Anh vui vẻ hứa:

– “Vài bữa ba khoẻ con đưa ba đi chích cúm.”

Ông cụ gật đầu, lòng vui, thấy cha con đã gần gũi quá. Nó đâu có gì chớ, có phải lâu nay ông đã hiểu lầm con?

Tối, ông cụ Hồi uống thuốc xong thì nằm nghỉ. Ông trôi vào giấc ngủ mau lắm, rồi thì có nhiều giấc mơ.

Giấc mơ đầu tiên, ông theo ông bạn già về Việt Nam. Thình lình thấy đứng trên đường phố có một mình, rồi ông thấy không biết bao nhiêu xe cộ ào ào nhắm ông mà phóng tới, người nào người nấy đều đeo khẩu trang màu đen. Ông la lên: “Cướp, cướp.” Đám cướp nhảy xuống xe vây lấy ông, kê súng vào tai ông sẵn sàng bóp cò. Sợ quá, ông van lạy, nhưng xung quanh ông, tiếng cười man rợ cất lên. Ông hoảng hốt tỉnh dậy, mồ hôi toát ra và sự hoảng hốt kéo dài cho tới lúc ông chìm vào giấc ngủ khác…

Nhiều giấc mơ vụn vặt, nối tiếp không đầu không đuôi, cho tới gần sáng, giấc mơ sau cùng… Giấc mơ kéo ông về thời niên thiếu, cậu học sinh vườn yêu cô gái quê. Ông được sống lại cảm giác ân ái vụng trộm với cô gái vườn bên, cả cái cảm giác hãi hùng, muốn trốn thoát lúc nhảy qua hàng rào ngăn hai nhà lúc bị lộ chuyện. Khi không lại nhớ một chi tiết kỳ cục nhứt lúc đó mà chỉ có hai ông bà già biết, về già còn nhắc nhở… Ông cười nấc lên.

– “Gì mà cười dữ vậy ông”

Chuyện hồi trai trẻ biến mất. Bà đã đứng bên cạnh. Ông nắm tay bà, vẫn nắm được. Vậy bà đâu đã chết.

-“Tui cười vì nhớ lại cái chiện hồi đó, bữa dưới gốc cây khế.”

– “Khỉ. Già mà còn khỉ. Kỳ quá hà.”

Bà vẫn còn bẽn lẽn, đỏ mặt. Khi bà đỏ mặt, những vết nhăn trên má hóp như có mờ bớt đi nên vẫn còn thấy duyên.

– “Cây khế, cây khế có bông chưa. Tui nhớ nó lắm.”

Ông cười:

– “Trùi lũi hà. Làm gì có.”

Tay bà giựt giựt trong tay ông, vẫn còn cái hơi ấm thủa nào.

– “Ông nhớ đó nha, khi nào hoa khế nở, ông hái một chùm đem về dưới cho tui.”

Bà cười. Hàm răng giả của bà đâu rồi mà cái miệng móm mém, trơ lợi, trông hết duyên nhưng hóm hỉnh, ngộ quá.

Chớp một cái, không thấy bà đâu nữa. Ông ra khỏi giấc mơ.

Mở mắt, trời mới mờ sáng, nhưng ông không thể ngủ tiếp được. Đầu óc cứ chờn vờn, lảng vảng bao nhiêu chuyện cũ, bao nhiêu kỷ niệm những ngày ở quê hương, từ lúc còn là cậu thiếu niên miệt vườn, cho tới lúc đưa vợ con lên tỉnh thành lập nghiệp. Một đời đủ chuyện, lúc lặng lúc sóng dồn biển dập, long đong cũng không ít.

Hai vợ chồng chống chỏi qua bao nhiêu cơn tưởng sạt nghiệp, hoặc tan vỡ gia đình. Lỗi cũng ở ông nhiều, cái số đào hoa, ra đường, người ta gặp, người ta thương, biết sao. Bà ghen tuông cũng dữ, tưởng mấy lần đứt gánh. Tội nghiệp, người thua thiệt, chịu đựng, nhịn nhục vẫn là bà, bởi thương con.

Biết bao đêm, ông bỏ nhà đi hoang, một mình bà lủi thủi với đàn con dại, ôm con mà nước mắt ướt mặt mũi.

Gái thương chồng đang đông buổi chợ,

trai thương vợ nắng quái chiều hôm.

Mà nắng đã quái, đã xế đâu còn bao nhiêu, vậy mà bà lại bỏ đi trước.

Đến giờ đi làm, người con đứng ở cửa, hỏi:

– “Ba sao rồi, thấy đỡ nhiều không?”

– “Đỡ.”

– “Có gì ba gọi điện thoại sở con. Số điện thoại con ghi để sẵn bên máy.”

Người con đi sau cùng. Nhà vắng ngắt. Ông thấy đến giờ uống thuốc, nhưng phải ăn chút gì, uống thuốc mà bụng đói nó cào chịu hổng thấu. Nhưng lạ, khi ông đứng dậy thì thấy choáng váng. Ông đưa tay ôm ngực, hai lồng ngực như đang bị xiết lại, trì nặng và nhịp tim đập tới tấp, loạn xạ.

Ông ngồi xuống giường, định thần lại. Nhưng thần trí ông bỗng lơ mơ. Điều ông muốn nghĩ thì nghĩ không ra, mà những ý nghĩ kỳ cục đâu đâu lại ào ào kéo tới. Cái đầu có vẻ chịu không thấu. Đâu chỉ đầu, cả cái ngực nữa. Có bàn tay ai đang bóp hai lá phổi của ông, kéo luôn mấy sợi gân đang co giật trong chân, trong tay. Phải chặn cái bàn tay quá đáng ấy lại. Ông muốn mà không còn sức làm.

Một phút nào đó, ông nghĩ tới điện thoại, muốn gọi cho đứa con, nhưng rồi ông quên ngay. Có cái gì đó đang nhẹ nhàng đung đưa, ngay trước mắt ông. Ông nhận ra nó rồi. Chùm hoa khế. Chùm hoa khế, bông nhỏ li ti, điểm nhuỵ vàng. Chùm hoa ấy đang vẫy gọi ông. Có cơn gió xuân làm chùm hoa đung đưa. Có cả tiếng cười khúc khích nữa. Chùm hoa khế. Hoa khế. Đừng giỡn mặt nhe. Ở đó đi. Ông tới.

Không hiểu sao bằng cách nào ông mở được cửa phòng, mở được cửa sau. Ông nhìn thấy vườn cây xanh mát. Ông đi qua cây nhãn, không dừng lại. Ông đi tới cây khế. Hoa khế nở rồi? Ông nhìn lên. Kìa, núp sau một tàn lá, có chùm hoa cánh tím nhuỵ vàng đang đung đưa. Nó muốn lẩn trốn ông. Cả cái hàng rào cao thế kia, ông còn thừa sức phi thân qua. Làm sao chùm hoa này trốn nổi. Ông vươn người, với tay, mỗi lúc một cao.

“Tui hái cho bà. Tui hái cho bà.”

Chùm hoa khế đã ở trong tay ông. Lạ thay, cùng lúc đó, ông bỗng thấy mặt ông đang dụi vào mặt đất. Đất. Phải, đó là chỗ của ông. Ông nghe tiếng bà dặn:

– “Khi nào hoa khế nở, ông nhớ hái một chùm đem về dưới cho tui.”

Bàn tay vẫn thận trọng nắm chặt chùm hoa, ông tiếp tục thì thầm: – “Tui hái cho bà. Tui hái cho bà.”

Chùm hoa tím ngát… nhoà dần trong mắt ông.

***

Buổi trưa, người con trai cụ Hồi không biết có linh tính gì, đang giờ ăn trưa, bỏ về nhà. Anh ta canh cánh trong lòng, hình như buổi sáng đi chưa tắt máy hít. Đến tối mịt cả nhà mới về, ông già bịnh, đôi khi không biết để tắt, hao điện lắm.

Về tới, máy hít đã tắt rồi, không biết do anh hay bà vợ trước khi đi làm. Anh tính khoá cửa đi, nhưng nghĩ giờ đi ăn, tới sở sẽ trễ, anh xuống bếp. Bếp ngắt lạnh tanh, nồi cháo vẫn y nguyên, chứng tỏ ông già chưa đụng tới. Anh đi xuống garage định hỏi ông già có ăn không để cùng ăn. Đây cũng là dịp anh bày tỏ nỗi lòng để cha con gần nhau trở lại. Không biết từ bao giờ, anh nghĩ lại, thương cha, hay chính mới đây, lúc sờ lên đầu cha sốt, trong hơi bốc nóng, lẫn một cái mùi già, ngái ngái như mùi lá vàng sắp rụng.

Anh không thấy ông già trong phòng. Anh đi tìm một vòng, cũng không thấy. Kỳ lạ chưa? Liệu có… Không đâu, ông cụ đã qua cơn sốt, có nhiều phần khoẻ lại, lẽ nào…

Nhìn cửa ra vườn thấy mở toang hoang. Anh vội vã ra tìm. Vườn mùa đông, cây lá trơ trụi. Tới gốc khế, anh thấy cha anh nằm sóng soài, mắt mở trừng, một tay nắm cái gì thật chặt.

Người con quỳ bên xác cha. Anh khóc. Rồi anh gọi 911. Lát sau xe cứu thương tới, có bác sĩ khám nghiệm, xác nhận ông già đã tắt thở mấy tiếng đồng hồ rồi, vì đứt mạch máu não, xuất huyết trong đầu. Khi mở bàn tay nắm chặt của ông ra coi, thì chỉ là một cành cây khô khốc, khẳng khiu, không ai hiểu tại sao!

Sau đám tang cụ Hồi, cái garaga được sửa lại đủ cho ba xe đậu. Từ nay, chiếc xe của thằng cháu nội có mái nhà, không phải đậu ngoài lề đường để chim nó iả dơ hầy nữa.

Tháng sau ông bạn già hàng xóm đi Việt Nam về, nhìn sang vườn bên. Không thấy ông bạn hơn hở bắt cái ghế lên để nhìn mặt nhau. Ông hỏi thăm, biết ông cụ Hồi đã chết, khi chết nằm dưới gốc cây khế.

Ông cụ thở dài, nhớ bạn. Nhớ ông cụ Hồi có lần chỉ cây khế:

– “Bởi, đi đâu bả cũng trồng cây khế, bả mê hoa khế lắm kìa. Mê như mê tui.” Đó là lần ông được ông cụ Hồi vui miệng, khoe thành tích chuyện tình thời trai trẻ miệt vườn.

Năm đó, cây khế ra hoa chi chít, từng chùm bông khế tím sậm, lấn cả lá. Có điều, hoa thì nhiều mà không đậu trái nào.

Ông bạn già hàng xóm còn lại cũng hẩm hiu lắm, đôi khi ông tự hỏi, lẽ nào ông cụ Hồi đã hái hết chừng đó hoa khế mang xuống dưới cho bà.

ĐƯỜNG NÊN THÁNH TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 HÔM NAY

ĐƯỜNG NÊN THÁNH TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 HÔM NAY

Bs. Trần Như Ý Lan, Dòng Đức Bà

Ngày lễ Đức Mẹ Maria Hồn Xác lên Trời có nhiều ý nghĩa quan trọng về phương diện thần học và đời sống đức tin, tôi chỉ chia sẻ một ánh sáng chợt đến khi suy niệm hôm nay.  Ngày lễ này, Giáo Hội chọn đoạn Tin Mừng Đức Maria vội vã lên đường thăm viếng và giúp đỡ, chăm sóc người chị họ Elizabeth đang mang thai lúc tuổi già (Lc 1,39-56).  Thật bất ngờ và ngỡ ngàng!  Ngày lễ Đức Mẹ Maria Hồn Xác lên Trời được Giáo Hội làm nổi bật với cuộc lên đường của Mẹ Maria, một mình Mẹ không ngần ngại đường xá xa xôi gập ghềnh sỏi đá của xứ Palestine để phục vụ tha nhân, cho ta thấy con đường lên đến Trời cao chính là con đường của cuộc sống đời thường, chính là con đường mà mỗi người chúng ta hàng ngày đi đến bệnh viện, trường học, công sở, đi gặp gỡ… tùy theo nhiệm vụ và nghề nghiệp của mỗi người, khi con đường đó được dệt bằng tình yêu, bằng trái tim yêu thương, bằng hành động nhân ái, bằng tấm lòng chia sẻ và liên đới.  Như thế, ngày lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời nhắc nhớ chúng ta hướng về Trời cao, với niềm hy vọng hạnh phúc vĩnh hằng, nhưng đồng thời cũng nhắc chúng ta con đường dẫn tới Trời cao chính là con đường phục vụ, sẻ chia, liên đới trong cuộc sống đời thường hiện tại.  

Giữa cơn đại dịch đang diễn biến khốc liệt trên quê hương Việt Nam, cách riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), hầu hết chúng ta phải đối diện với rất nhiều thử thách cho đời sống thường nhật về mọi mặt, kể cả khía cạnh đức tin.  Tuy nhiên, dưới ánh sáng đức tin, đoạn suy niệm ngắn trên lại chiếu tia sáng cho mỗi người chúng ta hôm nay, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn chỉ cho ta con đường hướng về Trời cao như Mẹ Maria, hay nói cách khác, con đường NÊN THÁNH hôm nay. 

NHỮNG NGƯỜI TRÊN ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Các bác sĩ (BS), y tá, nhân viên y tế đang ở tuyến đầu chống dịch, họ đang bước vào một trận chiến thực sự, luôn có nguy cơ bị phơi nhiễm và hy sinh cả mạng sống.  Trong nhiều tháng liền, họ đã phải xa gia đình, cha mẹ, vợ /chồng, con thơ, để giành giật từng mạng sống của các bệnh nhân nguy kịch.  Chính bản thân cũng mang nhiều nỗi lo toan và nhớ thương, nhưng các thiên thần áo trắng vẫn nỗ lực đem lại hy vọng, niềm an ủi, sức khỏe và sự sống cho người bệnh.  Vâng, các vị là chứng nhân sống động của tình yêu tha nhân, huynh đệ đại đồng!  Các vị đã đặt quyền lợi bản thân dưới quyền lợi của người bệnh.  Các chiến sĩ áo trắng là những anh hùng thời đại.  Các vị đang trên đường NÊN THÁNH!

Đã có các chiến sĩ áo trắng quỵ ngã, như BS Lý Văn Lượng, thuộc nhóm các bác sĩ đầu tiên ở Vũ Hán chết vì tham gia điều trị bệnh nhân COVID-19.  Câu thơ Anh để lại trước khi chết là lời của Thánh Phaolô:

Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp,

Tôi đã chạy hết chặng đường,

Tôi đã giữ vững đức tin,

Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính (2Tm 4, 7-8a).

Các tu sĩ và các tình nguyện viên ở các bệnh viện chăm sóc, điều trị bệnh nhân COVID-19, các anh chị không tránh khỏi nỗi lo lắng, sợ hãi ban đầu: mới tiêm một mũi vaccine ngày hôm trước, hôm sau đã lên đường, vaccine chưa kịp phát huy tác dụng; không có chuyên môn về y khoa lại tiếp xúc trực tiếp với F0, sự an toàn của chính mình có thể gặp nguy cơ.  Vâng, nỗi sợ thật bình thường và chính đáng!  Các anh chị vẫn sợ nhưng một tình yêu lớn đối với Thiên Chúa và tha nhân đã giúp các anh chị vượt qua nỗi sợ để lên đường dấn thân!  Nếu ai cũng sợ và lùi bước thì ai sẽ xông pha chiến trận bảo vệ quê hương, người bệnh?  Các anh chị không phải là nhân viên y tế, chỉ tham gia công tác vệ sinh phòng bệnh, thay tã, đổ bô, thay drap cho bệnh nhân, cho người bệnh ăn, và vệ sinh thân thể cho họ… công việc nhỏ nhưng với tình yêu lớn!  Vâng, các anh chị đang là chứng nhân sống động của tình yêu Thiên Chúa!  Các anh chị đang trên đường NÊN THÁNH!

Các công nhân vệ sinh môi trường, hàng ngày âm thầm đẩy xe rác nặng nề, tiếp xúc với rác thải dơ bẩn và nguy hiểm, để bảo vệ sức khỏe cho mọi người.  Các tình nguyện viên ở tuyến đầu chống dịch, hay tham gia công tác hậu cần, đặc biệt những nơi phong tỏa, cách ly, nhóm tài xế thiện nguyện thành lập đội xe cấp cứu 0 đồng, chuyên chở F0 đi cách ly… khi nhận việc các anh chị quên hẳn những cảnh báo của người thân về việc mình có thể bị nhiễm bệnh.  Các anh chị đã được thúc bách bởi một Tình Yêu.  Vâng, các anh chị đang là chứng nhân sống động của tình yêu tha nhân HƠN chính mình!  Các anh chị đang trên đường NÊN THÁNH! 

Biết bao người Samari nhân hậu thời đại, tại TP HCM và nhiều tỉnh thành khác, nhiều sáng kiến được đưa ra để hỗ trợ những người bán vé số, lượm ve chai, xe ôm, người nghèo… bị ảnh hưởng trong thời gian cách ly xã hội.  Từ các cha xứ đi phát lương thực từ thiện, các siêu thị mini 0 đồng, các ATM gạo, nam sinh viên chở rau miễn phí từ Kontum về TP HCM, anh công an hỗ trợ sản phụ trên đường đến bệnh viện phụ sản, các chiến sĩ  gặt lúa giúp dân ở khu phong tỏa, em bé dành tiền tiết kiệm để giúp người nghèo…  Thật ấm lòng!  Thật đẹp thay tình người!  Công việc ý nghĩa trên đời là những gì ta làm để chăm sóc lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau và mang lại lợi ích cho nhau, sống tình liên đới.  Những người Samari nhân hậu thời dịch bệnh đang trên đường NÊN THÁNH!

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm…  Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25, 34;37). 

Có lẽ hơn bao giờ hết, giữa đau thương thử thách, tình người lại được thắp sáng cả bầu trời.

Hàng trăm ngàn bệnh nhân COVID-19 đang đau khổ và thậm chí đối diện với cái chết bất ngờ.  Đau khổ, cách riêng là đau khổ trong những giờ phút cuối cuộc đời, có một vị trí đặc biệt trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Đau khổ quả thật là chia sẻ cuộc khổ nạn của Đức Kitô và hiệp nhất với hy tế cứu độ của Ngài trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Như thánh Phaolô nói: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc Thương Khó của Ðức Giêsu, để sự sống của Ðức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,10).  Sự thật này tuy không làm vơi đi nỗi đau và sự sợ hãi, nhưng cho chúng ta sự tin tưởng, và ân sủng để mang lấy sự đau khổ thay vì để nó đè bẹp chúng ta.  Và như thế, các bệnh nhân đang trên đường NÊN THÁNH!

Những ngày qua hàng ngàn người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 chết cô độc.  Karl Rahner, nhà thần học lớn thế kỷ XX đã chiêm niệm về cái chết: “bất luận sự chết có tàn bạo, có làm con người đau khổ thế nào thì cũng không thể hủy hoại tính cách độc lập và tự ý thức của con người.  Chính nhờ sức sống của đức tin mà chúng ta biết rằng: khi đối mặt với cái chết, con người có thể nhìn thấu vào những giới hạn của cái chết, và chính khi ấy chân trời mới của huyền nhiệm Thiên Chúa được khai mở, nhờ thế cuộc sống con người có được ý nghĩa tròn đầy vĩnh viễn.”  Chính thời khắc vô cùng đáng sợ của sự chết lại biến thành thời cơ quan trọng nhất để con người tiến gần Thiên Chúa hơn.

Có những người Kitô hữu hấp hối đã tỉnh thức chờ đợi Chúa đến trong bình an, nhưng cũng có nhiều người chưa tỉnh thức sẵn sàng.  Ắt hẳn mọi người Công giáo đều biết đến câu chuyện của người trộm lành, “Kẻ của phút thứ năm mươi lăm của giờ thứ mười một.” 

Ở một nhà thờ của Giáo Hội Chính Thống kia có bức tranh Chúa Phục Sinh.  Bức tranh mô tả cảnh Chúa Phục sinh đang giải thoát những người công chính thời Cựu Ước: Ngài giúp Ađam chỗi dậy khỏi mồ, Evà đang quỳ mọp đôi tay hướng về Đấng Cứu Độ, trong khi các ngôn sứ đang diễn hành, tay cầm biểu ngữ trên có ghi lời sấm nổi tiếng nhất của mình.  Thiên đàng còn trống vắng, chỉ một mình tên trộm lành giữa cây cối tươi tốt.  Anh ta đã không có thì giờ khoác chiếc áo cưới của những người được tuyển chọn, vẫn còn đóng cái khố của tên tử tù, nhưng giờ đây nó lại trắng tinh, tươm tất.  Anh ta là vị thánh đầu tiên của thiên đàng, là kẻ được chính Chúa Giêsu phong thánh: “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên thiên đàng với ta.”  Vì sao anh ta lại được diễm phúc như thế?  Vì hắn đã tin!  Và bởi tin, hắn đã thốt lên lời cầu xin bất hủ trong giờ phút chót: “Ông Giêsu ơi, khi nào ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42).  Vậy đừng ai bỏ lỡ cơ hội phút cuối cùng: với lòng tin cậy, hãy nài xin lòng thương xót của Chúa. Khi ấy bạn vẫn có cơ hội NÊN THÁNH!

Với gia đình có người thân qua đời vì COVID-19, không được gặp lại nhau phút lìa đời, thật đau đớn, và chỉ nhận được hũ tro cốt sau đó.  Có người đã than thở “Nước mắt người ra đi cũng xong, nhưng nước mắt người thân yêu còn sống chẳng biết đến bao giờ mới nguôi ngoai.  Lệ có khô, nhưng nước mắt chảy vào trong còn mãi, ngậm ngùi nhớ thương chẳng bao giờ cạn.”  Trong đức tin, chúng ta biết rằng: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ.  Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21,4).  Đức Maria hồn xác về Trời, Kinh Tin K ính tuyên xưng niềm tin: xác chúng ta ngày sau sống lại.  Thân xác và linh hồn hiệp nhất với nhau, hiện tại thân xác người thân yêu qua đời có thành tro bụi, chúng ta sẽ gặp lại người thân, cả hồn và xác trong ngày sau hết.  Trong tin yêu phó thác, hãy kết hợp với Đức Maria dưới chân thập giá, hiệp thông với Người Con thân yêu bị các môn đệ bỏ rơi, chết trần trụi, khi ấy, chúng ta được thông phần với hy tế cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta NÊN THÁNH trong vâng phục Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu.

Với các bạn trẻ thời gian cách ly xã hội, ở trong nhà nhiều hơn, nhờ đó bạn trẻ có thể học thinh lặng và thấy được giá trị của đời sống nội tâm, dành nhiều thời gian để sống cho những người thân yêu trong gia đình, hiếu thảo với cha mẹ, hay sống gần Chúa, gần thiên nhiên nhiều hơn.  Mỗi ngày bạn trẻ tham dự thánh lễ online, bàn học bạn trở thành bàn thờ!  Bạn hãy tạ ơn Chúa và tôn vinh Ngài qua những nỗ lực học tập, mong muốn góp phần xây dựng quê hương mai sau, và làm vinh danh Chúa hơn.  Khi ấy, các bạn trẻ đang trên đường NÊN THÁNH!

Các cặp vợ chồng đang gặp khó khăn, thất nghiệp, phải ở nhà cùng nhau 7 ngày/24 giờ.  Hãy dành cho nhau những lời an ủi, ân cần chăm sóc cho nhau: “Anh/ chị em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều.  Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.  Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1,2-4).  Được như thế, các anh chị đang trên đường NÊN THÁNH!

Và biết bao người nữa, mỗi người chúng ta, khi làm một việc nhỏ cho tha nhân, cho cộng đồng với tình yêu lớn thúc bách, chúng ta đang trên đường NÊN THÁNH.

Xin tạ ơn Chúa!  Xin chúc tụng và ngợi khen Chúa!

Giữa bao đau thương cuộc đời, qua Mẹ Maria, Chúa đã chỉ cho chúng con Con đường hướng về Trời cao, con đường NÊN THÁNH của mỗi người chúng con được hiện thực hóa trong từng hành vi, cử chỉ, chọn lựa yêu thương trong cuộc sống đời thường.

Bs. Trần Như Ý Lan, Dòng Đức Bà

From: langthangchieutim

Mũ Đỏ Út Bạch Lan kể chuyện ‘tình người trong cuộc chiến’

Mũ Đỏ Út Bạch Lan kể chuyện ‘tình người trong cuộc chiến’

August 14, 2021

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

HOUSTON, Texas (NV) – Mũ Đỏ Trương Văn Út vào binh chủng Lượng Lực Đặc Biệt một thời gian thì giữa năm 1970, binh chủng này bị giải thể, ông chuyển sang binh chủng Nhảy Dù, và có mật danh Út Bạch Lan.

Cựu Đại Úy Trương Văn Út và vợ trong tiệc Tất Niên Gia Đình Mũ Đỏ 2018 tại Dallas, Texas. (Hình: Trương Văn Út cung cấp)

Cuối năm 1971, Sư Đoàn 320 Bắc Việt bắt đầu xâm nhập và gây áp lực cho Sư Đoàn 22. Lúc đó, căn cứ Đắc Tô là bộ tư lệnh tiền phương của Sư Đoàn 22 cũng bị Cộng Quân tấn công dữ dội. Đại Tá Lê Đức Đạt, tư lệnh Sư Đoàn 22, kêu cứu thì Bộ Tư Lệnh Nhảy Dù đưa Lữ Đoàn 2 Dù ra tiếp cứu.

Tham chiến mặt trận đồi Delta với quân Bắc Việt

Ông Út kể, khi đến Kon Tum, Đại Tá Trần Quốc Lịch, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2 Dù, mới quyết định thành lập căn cứ hành quân giả chiến Võ Định nằm giữa Kon Tum và Đắc Tô, hướng Tây có một rặng núi thuộc đuôi của dãy Trường Sơn, Sư Đoàn 22 thành lập căn cứ A và căn cứ B tại nơi này, và một căn cứ nữa, đó là căn cứ C tức Charlie.

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, tại đây địch đã có một Tiểu Đoàn Phòng Không được Sư Đoàn 320 Bắc Việt bảo vệ.

Ông Út nhớ lại: “Ngày 17 Tháng Ba, 1972. Từ căn cứ Võ Định, Đại Đội Trinh Sát 2 Dù do tôi chỉ huy được lệnh đổ quân ngay trên đầu địch tại đồi Delta. Đơn vị đi đầu là Thám Sát thuộc Đại Đội Trinh Sát 2 Dù, gồm 14 chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc đầu là hai toán Viễn Thám, chiếc thứ ba có tôi và bảy quân nhân Mỹ; hai người mang máy truyền tin cùng một sĩ quan pháo binh (đề-lô).”

“Chiếc đầu tiên bay vô rồi lại bay ra, chiếc thứ hai cũng vậy, vì họ không phát hiện địch. Tôi đang ngồi chiếc thứ ba, rồi cũng không thấy gì ở dưới hết, tôi mới vỗ vai người phi công Việt Nam (Trung Úy Tấn) và nói ‘Bằng mọi giá, anh xuống liền cho tôi.’ Khi trực thăng hạ xuống còn cách mặt đất khoảng 3 mét, chúng tôi cùng nhảy xuống thì đã bị lọt vào ổ phục kích của Thượng Liên 12ly7 của địch,” ông kể thêm.

Cùng lúc, trực thăng đưa mấy toán Trinh Sát 2 vừa đến. Cộng Quân đã điều động một tiểu đoàn để bao vây Đại Đội 2 Trinh Sát. Lúc đó, ông Út vừa phân tán quân và vừa chiến đấu. Địch tràn lên, nhưng chỉ gặp những toán nhỏ của Trinh Sát 2 Dù. Những quân còn lại của Trinh Sát 2 đã bọc phía sau lưng địch để kích hoạt mìn Claymore vào bộ chỉ huy tiểu đoàn của địch. Trận này, địch bị tổn thất nặng. Đại Đội 2 Trinh Sát Dù bắt được đám tàn quân địch còn sống.

Ông kể tiếp: “Hôm đó, chúng tôi chiếm được ngọn đồi Delta, nhưng đến ngày hôm sau, Trung Đoàn 3 Bắc Việt điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta. Lúc bấy giờ, Đại Đội 2 Trinh Sát cũng đã thấm mệt, đạn dược và lương thực gần cạn mà địch quân cư tấn công tràn ngập. Phi Đoàn Thần Tượng (Bạch Tượng) đã bay vào Đồi Delta tiếp ứng. Nhưng vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh, nên không thể tiếp tế đạn dược và lương thực cho Đại Đội Trinh Sát 2.”

Sau đó, Phi Đoàn Song Chùy đã anh dũng lách qua các ổ phòng không, và tiếp tế cho đại đội của ông Út được một chuyến duy nhất.

Khi Đại Đội 2 Trinh Sát Dù được Tiểu Đoàn 7 Dù vào thay thế ở đồi Delta, thì đơn vị của ông Út triệt xuất về căn cứ Võ Định. Lúc bấy giờ, Trung Úy Trương Văn Út được Trung Tướng Ngô Dzu, cựu tư lệnh Quân Khu II, gắn lon đại úy và cấp cho ông Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẳng tại mặt trận.

Tâm linh của người lính chiến

Sau mặt trận Delta, Đại Đội 2 Trinh Sát “đụng nặng” với một trung đội súng nặng của Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 320 Bắc Việt. Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Minh, trưởng Ban Truyền Tin của Đại Đội Trinh Sát 2, bị một tràng AK-47 trúng ngay lồng ngực chết tại chỗ.
Ông tâm tình: “Tối đến, mặt trận tạm yên. Tôi mệt lã chập chờn trong giấc ngủ, bàn tay trái vẫn còn trên poncho bó xác của Minh. Chợt tai tôi nghe tiếng nói của Minh, ‘Đại úy ơi, mở ba lô của em ra, lấy cái poncho light của em mà đắp và giữ nó bên mình của đại úy, rồi mở cái poncho của em ra lấy cái thẻ bài gửi cho mẹ em và con Nguyệt (em gái của Minh), còn sợi dây chuyền có cái thẻ ngà bằng nanh heo rừng, đại úy hãy mang vào cổ đừng bao giờ rời nó.’”

“Tôi choàng tỉnh ngồi bật dậy. Trời hãy còn tối đen như mực, nhìn quanh bên cạnh vài thước, một người lính của tôi vẫn còn ghìm súng trong phiên gác nửa đêm. Tôi tự hỏi, có thật linh hồn của Minh vẫn còn quanh đây để về báo mộng cho tôi, hay chỉ là hư ảo qua tình cảm tiếc thương đứa em cận kề thâm tình bấy lâu nay mà sinh chuyện mộng mị,” ông kể thêm.

Sau đó, ông Út làm theo lời của Minh, thì quả thật, tất cả hiện vật đều đúng như Minh đã về báo mộng cho ông Út. Sáng hôm sau, ông Út nhận được công điện từ hậu cứ thông báo là, sáng nay, mẹ và em gái của Minh có đến văn phòng hậu cứ khóc lóc thảm thiết. Mẹ của Minh cho biết là Minh đã có về báo mộng cho mẹ mình đêm qua.

Tham chiến trận cổ thành Quảng Trị

Ngày 17 Tháng Tư, 1972, Tiểu Đoàn 11 Dù bị tổn thất nặng ở đồi Charlie. Thiếu Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận.

Giữa Tháng Năm, 1972, Lữ Đoàn 2 Dù, gồm các Tiểu Đoàn 7, 9, một Tiểu Đoàn Pháo Binh và Đại Đội Trinh Sát 2 Dù triệt xuất Kon Tum về hậu cứ. Sau đó, Lữ Đoàn 2 Dù được lệnh tăng cường ra Huế chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị.

Quận Mai Lĩnh nằm ở phía Đông Nam cổ thành Đinh Công Tráng, cách gần một cây số về hướng Bắc là làng Trí Bửu, trên nữa là Hạnh Hoa Thôn, nơi đây, địch dùng nơi đóng quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 325 của Bắc Việt, trang bị nhiều chiến xa, hỏa tiễn phòng thủ dọc theo con đường Duy Tân.

Cựu Đại Tá Đỗ Ngọc Nhận (phải) và cựu Đại Úy Trương Văn Út (giữa) tại Đại Hội 21 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam 2018 tại San Jose, California. (Hình: Trương Văn Út cung cấp)

Toán Viễn Thám Trinh Sát 2 phát hiện địch quân đã nằm áp sát bên mình, gồm Bộ Binh và Thiết Giáp. Sau khi hai Tiểu Đoàn 11 và 5 Nhảy Dù về đến Quảng Trị, thì Tiểu Đoàn 11 và Pháo Binh Dù đã chiến thắng vẻ vang trên đồi Trần Văn Lý. Trong khi đó, một trung đội của Đại Đội 2 Trinh Sát có nhiệm vụ yểm trợ tản thương cho các thương binh của Tiểu Đoàn 11. Trung đội này không may bị ‘dính’ một trái mìn chống chiến xa của quân ta khiến cho một sĩ quan, một hạ sĩ quan cùng sáu binh sĩ chết tại chỗ và 17 bị thương nặng nhẹ. Chỉ năm ngày sau, quân số của trung đội này được cấp tốc bổ sung đầy đủ.

Sau đó, Lữ Đoàn 2 Dù vượt phòng tuyến bên bờ Nam sông Mỹ Chánh. Địch gồm ba Sư Đoàn Bắc Việt, cùng đại pháo 130 ly, hỏa tiễn phòng không, hoả tiễn chống chiến xa của Liên Xô. Địch đã điều nghiên chiến trường và chuẩn bị chu đáo để đối phó với Lữ Đoàn 2 Dù.

Chỉ trong vòng ba ngày đêm, đầu đội pháo, chân dẫm lên xác địch, tác xạ lao về phía trước vượt trên tuyến đường vài ba cây số ngập tràn máu lửa, đạn bắn như đan lưới. Hai Tiểu Đoàn 1 và 5 Dù đã tiến vào La Vang, Tiểu Đoàn 2 Dù đã vượt qua ngã ba Long Hưng áp sát vào vòng đai Cổ Thành Đinh Công Tráng, Trinh Sát 2 Dù có lệnh theo đuôi Tiểu Đoàn 7 Dù. Sau đó, Trinh Sát 2 đơn độc rẽ về hướng Đông để tiên phong xâm nhập vào quận Mai Lĩnh ban đêm. Tất cả ngụy trang tối đa, bảo toàn lực lượng để mở đường cho Tiểu Đoàn 7 và Đại Đội Trinh Sát 2 Dù tiến vào mục tiêu.

Hơn 21 ngày đêm Lữ Đoàn 2 Dù và Đại Đội Trinh Sát 2 đã đụng độ khốc liệt với quân Bắc Việt trên nhiều chiến trận, với sự yểm trợ của Pháo Binh, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân VNCH và Không Kỵ Hoa Kỳ (US First 1st Cavalry Division) để tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Sau đó, Sư Đoàn Nhảy Dù được lệnh triệt thoái, và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) vào thay thế trong mặt trận này. Sư Đoàn Nhảy Dù tiếp tục hành quân sang hướng Tây Nam thành phố Quảng Trị, và bắt tay với Sư Đoàn 1 Bộ Binh để giữ tuyến từ La Vang xuống Ba Lòng kéo dài tận hướng Tây, Huế.

Đầu Tháng Chín, 1972, Sư Đoàn TQLC đã kiểm soát hoàn toàn thị xã Quảng Trị và cổ thành Đinh Công Tráng.

Những tháng năm cuối cùng trong cuộc chiến

Ông Út kể, Hiệp Định Paris ký kết vào 20 Tháng Giêng, 1973, toàn cả miền Nam được lệnh ngưng bắn. Đơn vị của Đại Úy Út không còn tham chiến trận nào đáng kể cả. Tháng Mười Một, 1973, ông bị tai nạn gãy ống quyển chân phải, nằm bệnh viện và dưỡng thương gần một năm.

Cuối năm 1973, Cộng Quân tiếp tục tấn công mạnh miền Nam. Đầu năm 1974, Cộng Quân bắt đầu gây áp lực đe dọa Quân Khu 1 (Đà Nẵng).

Ngày 20 Tháng Ba, 1975 Ban Mê Thuột bị thất thủ. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Sư Đoàn Nhảy Dù khẩn cấp về Sài Gòn, còn Lữ Đoàn 3 Dù về tăng cường cho Quân Khu 2 ở mặt trận Khánh Dương. Sau đó, Lữ Đoàn 3 Dù tan hàng ở đây.

Ông Út chia sẻ: “Ngày 4 Tháng Tư, 1975, Lữ Đoàn 2 Dù được không vận ra Phan Rang, 10 ngày sau đó cũng tan hàng. Lúc đó, tôi được lệnh ở lại Sài Gòn để tiến hành thành lập Tiểu Đoàn 17 Dù (tân lập). Ngày 27 Tháng Tư, 1975, Tiểu Đoàn 17 Nhảy Dù tân lập được lệnh di chuyển từ căn cứ Long Bình về Sài Gòn để tăng cường lực lượng phòng thủ Phi Trường Tân Sơn Nhất, rồi có lệnh buông súng ba ngày sau đó. Lúc này, tôi là sĩ quan hành quân của Tiểu Đoàn 17 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng đã rời khỏi đơn vị trước đó hai ngày.”

Ngày 30 Tháng Tư, 1975, toàn miền Nam bị thất thủ. Cựu Đại Úy Trương Văn Út và nhiều sĩ quan của Quân Lực VNCH phải vào tù “cải tạo” của Cộng Sản. Sau một năm tù đày, Út Bạch Lan trốn trại “cải tạo,” ẩn náu về Mỹ Tho sống bằng nghề đạp xích lô để tìm đường vượt biên.

Tình người trong cuộc chiến

Ông Út nhớ lại: “Sau cuộc hành quân Hạ Lào 719, đơn vị của ông được lệnh thám sát vào Chiến Khu D của địch. Đại Đội Trinh Sát 2 Dù hợp cùng trực thăng võ trang Không Kỵ Hoa Kỳ đã tiêu diệt một số Cộng Quân tại Chiến Khu D; một số đã di chuyến về nơi khác. Trinh Sát 2 Dù đã khám phá một bệnh xá cấp trung đoàn của Việt Cộng, và bắt được ba nữ tù binh đều là y tá viên của Việt Cộng Miền Nam.”

Khi đọc tờ khẩu cung, thì ông mới biết tên y tá thứ nhất là Nguyễn Thị Yến, sinh quán ở Chợ Gạo, Mỹ Tho, cựu học sinh trung học bán công Thiên Hộ Dương, vào bưng cuối năm 1969 và hiện là y tá cho bệnh xá này cùng hai nữ ý tá Trần Thị Ánh và Ngô Thị Hạnh. Cả ba đều bị bắt trong lúc trốn ẩn nấp dưới hầm.

Sau khi điều tra về cô Yến thì ông Út mới biết, khi cô 10 tuổi, cha của Yến theo kháng chiến Việt Minh rồi bị bắt giam, sau hơn ba năm điều tra, ông được phóng thích và qua đời sau vài tháng vì bị bệnh. Gia đình Yến sống trong vùng “xôi đậu,” ban ngày với sự kiểm soát của Quốc Gia, ban đêm Việt Cộng về làng hoạt động.

Sau đó, Việt Cộng lợi dụng Yến còn ngây thơ đã tuyên truyền những oán hận là chính phủ VNCH đã gây ra cái chết ba của Yến. Vì thế, năm 1967, Yến vừa tròn 20 tuổi, cô bắt đầu hoạt động cho Việt Cộng với nhiệm vụ liên lạc với các tổ nội thành ở Chợ Hàng Bông Mỹ Tho.

Ông Út kể: “Lúc đó tôi mới hỏi Yến, cô đã bị chúng tôi bắt, cô có biết số phận của cô sẽ ra sao hay không? Thì Yến mới trả lời rằng, ‘Thưa anh, đã được sinh ra đời thì ai cũng cầu được sống, chớ chẳng có mấy ai cầu cho mình chết cả. Nhưng sống hay chết thì do định số đã an bày. Ngay lúc này, đối với các anh phía VNCH thì chúng tôi có tội, nay chúng tôi đã bị các anh bắt, thì mạng sống của chúng tôi, tùy các anh định đoạt.’”

“Tôi nghe Yến kể rất bình thản, bùi ngùi an phận theo nghiệp số của con người. Tâm tư tôi có chút xao động, vì không ngờ một cô gái còn son trẻ lại nghe theo lời tuyên truyền của Việt Cộng, mà theo tôi thì cô cũng có chút trình độ học vấn của chánh phủ VNCH. Tôi hỏi thêm thì cô trả lời là, cô đã học đến lớp Đệ Tam ban C (Hán văn),” ông kể thêm.

Sau đó, vì chưa báo cáo với cấp trên về vụ đơn vị đã bắt được ba nữ tù binh Việt Cộng, và cũng vì tình người trong cuộc chiến, nên Đại Úy Út đã thả ba nữ y tá Việt Cộng này với hình thức là cho tử hình ba cô, nhưng không bắn vào người mà chỉ bắn lên trời để cho ba cô chạy thoát.

Trong lúc đạp xích lô ở Mỹ Tho, thì tình cờ ông gặp lại cô Nguyễn Thị Yến. Lúc bấy giờ, Yến là phó giám đốc bệnh viện Mỹ Tho. Chồng của cô là cựu giáo sư văn chương của trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.

Mũ Đỏ Út Bạch Lan (phải) đứng cạnh vợ chồng cựu Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. (Hình: Trương Văn Út cung cấp)

Cuộc đời đẩy đưa hai con người không cùng giới tuyến chính trị trong thời chiến, trở thành hai người bạn thân thiện phát xuất từ tấm lòng tình người trong cuộc chiến. Gặp nhau, tuy ngỡ ngàng, nhưng từ sự biết ơn và thân thiện của Yến đã cho cựu chiến sĩ Nhảy Dù Út Bạch Lan rất ấm lòng.

Tháng Ba, 1982, Út Bạch Lan được bằng hữu giúp đỡ xuống tàu vượt biên thành công, và được định cư tại Houston, Texas, ngày 12 Tháng Mười Hai, 1983.

Năm 2014, một cú điện thoại từ Boston, Massachusetts, gọi cho Út Bạch Lan, đầu dây bên kia là vợ chồng Yến và Tân. Họ định cư tại Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh thân nhân. Câu chuyện “tình người trong cuộc chiến” đã trở thành tình đồng hương tại hải ngoại.

Cố nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại cho đời qua câu nhạc “Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai.” (Lâm Hoài Thạch) [qd]

Xem lại kỳ trước: Mũ Đỏ Trương Văn Út và mật danh hành quân Út Bạch Lan