Facebooker Bùi Văn Thuận bị bắt vì phản biện CSVN trên mạng

Facebooker Bùi Văn Thuận bị bắt vì phản biện CSVN trên mạng

August 30, 2021

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Facebooker Bùi Văn Thuận bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam và khởi tố, vì những lời phản biện, đả kích chế độ mà ông viết trên trang facebook cá nhân.

Các nhà hoạt động xã hội dân sự tại Việt Nam loan truyền rộng rãi tin và bản chụp lệnh khởi tố ông Bùi Văn Thuận với cáo buộc “sử dụng tài khoản Facebook tàng trữ tài liệu, vật phẩm” chống chế độ, vi phạm Khoản 1 Điều 117 của Luật Hình Sự CSVN với bản án có thể lên đến 12 năm tù.

Ông Bùi Văn Thuận. (Hình: FB Bùi Văn Thuận)

Ông Bùi Văn Thuận, năm nay 40 tuổi, bị bắt ngày 30 Tháng Tám, chỉ bốn ngày sau khi Phó Tổng Thống Mỹ Kamala Harris rời Việt Nam. Trước khi rời Việt Nam, phó tổng thống Mỹ cho hay bà đã thúc giục CSVN cải thiện nhân quyền, thả các tù chính trị.

CSVN chỉ thả hai người Mỹ gốc Việt là ông James Hân Nguyễn và bà Angel Phan, bị bắt năm 2017 với cáo buộc “hoạt động lật đổ” chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam. Cả hai đều bị kết án mỗi người 14 năm tù nhưng được thả sớm như món quà “nhân quyền” tặng bà Harris, trong khi hơn 260 tù chính trị khác, hầu hết đều là những người trong nước, vẫn không được thả.

Ông Bùi Văn Thuận vốn là một giáo viên dạy môn hóa học ở trường trung học. Vì viết Facebook chỉ trích đường lối độc tài đảng trị của CSVN nên bị mất việc làm. Ông từ tỉnh Hòa Bình về Hà Nội sống với việc dạy kèm học sinh, sống qua ngày nhưng bị công an ép đuổi nhà liên tục nên phải trở về quê.

Vì ông vẫn viết phản biện, chỉ trích chế độ nên đã bị bắt thẩm vấn, đe dọa nhiều lần, và phải di chuyển chỗ tạm trú cũng nhiều lần. Nơi cư trú sau cùng của ông thấy ghi trên tờ “Quyết định khởi tố bị can” là phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Phản biện sau cùng của ông trên trang Facebook cá nhân là vào ngày 29 Tháng Tám khi ông nêu ra những phát ngôn trái ngược nhau của Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng “chống dịch như chống giặc” với Thủ Tướng Phạm Minh Chính “xác định sống chung lâu dài với dịch, không thể khống chế tuyệt đối” và Bộ Trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang “đây là trận chiến, không thắng không về.”

Ông Thuận đặt câu hỏi: “Ủa vậy là bác Trọng nói sai, hay chống không được ta buông súng đầu hàng rồi cuối cùng là buộc phải sống chung với giặc. Nếu không thắng được dịch-giặc, bộ đội sao có thể về đây đại tướng? Chả lẽ vất vưởng mãi trong đó?”

Trước lời phản biện trên, ông theo dõi và chỉ trích cách chống dịch COVID-19 trên dưới đá nhau, kém hiệu quả, làm khổ người dân, của nhà cầm quyền CSVN từ trung ương xuống tới các địa phương. Có thể những điều này khiến ông bị bắt.

Lệnh bắt Bùi Văn Thuận. (Hình: FB)

Cùng ngày bắt ông Bùi Văn Thuận, trên mạng xã hội cũng loan truyền tin thầy Thích Vĩnh Phước, trụ trì chùa Phước Bửu bị Công An huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, đưa giấy bắt đi “làm việc.”

Tờ “Giấy mời” buộc phải đến “làm việc” ngày 30 Tháng Tám với lý do “làm rõ hành vi, đăng tải, chia sẻ, tán phát thông tin sai lệch về dịch bệnh COVID-19 có dấu hiệu vi phạm pháp luật trên không gian mạng.” Tuy nhiên thầy Thích Vĩnh Phước đã không đi vì “dành thời gian tụng kinh trì chú Đại Bi cầu an cho bá tánh.”

Được biết trên trang facebook của chùa Phước Bửu, thầy Thích Vĩnh Phước viết bình luận: “Thông tin Bộ Y Tế ngày 29 Tháng Tám cho biết tỷ lệ chết COVID của Việt Nam 2.5 phần trăm, tỷ lệ chết của thế giới 2.1 phần trăm. Việt Nam cao hơn 0.4 phần trăm vậy phòng chống dịch ở Việt Nam là thành công hay thất bại?”

Từ đầu năm 2021 đến nay, CSVN đã kết án 17 người sử dụng Facebook và bắt giam chín người chỉ vì dùng quyền công dân phát biểu những điều bị coi là “độc hại” đối với chế độ độc tài đảng trị. (TN) [kn]

THƯƠNG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

THƯƠNG TIẾC NGƯỜI ĐÃ RA ĐI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Gần như chúng ta đều biết câu chuyện Zorba người Hy Lạp qua quyển sách nổi tiếng của tác giả Nikos Kazantzakis hoặc qua phim ảnh.  Và Zorba không phải là nhân vật hư cấu.  Alexix Zorba là người thật việc thật, có tính cách phóng khoáng và tinh thần hoạt bát đến nỗi khi ông qua đời, Kazantzakis không thể chấp nổi chuyện đó, tự vấn rằng một người với sức sống mãnh liệt thế kia mà có thể chết sao.

Khi biết tin Zorba qua đời, phản ứng của Kazantzakis là thế này: “Tôi nhắm mắt lại và cảm thấy nước mắt từ từ lăn xuống âm ấm trên gò má.  Ông ấy chết rồi, chết thật rồi.  Zorba đã ra đi, đi mãi không về.  Tiếng cười đã chết, bài ca im bặt, cây đàn santir vỡ tan, điệu nhảy trên bãi đá bờ biển đã dừng, cái miệng ham muốn đặt câu hỏi không ngừng giờ đã đầy bùn đất. …  Những linh hồn như thế sẽ không chết.  Đất, nước, lửa, liệu có thể tạo ra một Zorba nữa không? …  Như thể tôi tin ông ấy sẽ bất tử vậy.”

Đôi khi thật khó để tin là một người nào đó có thể chết, vì cuộc sống và sức sống của họ quá tuyệt diệu.  Đơn giản là chúng ta chẳng hình dung nổi một sức sống như thế lại nằm yên, lại chết và mãi mãi xa rời trần thế này.  Có những người dường như không thể chết vì chúng ta không hình dung nổi một sức sống, sự khoáng đạt, phong phú và tốt lành như thế lại chết.  Làm sao một sức sống diệu kỳ như thế mà chết được chứ?

Tôi đã nhiều lần cảm nhận chuyện này, gần nhất là mới tuần trước, khi hai đồng nghiệp cũ của tôi, những người khoáng đạt, sắc sảo, phong phú và cực kỳ tâm linh, đã chết.  Kazantzakis cố chấp nhận cái chết của Zorba, đồng thời tìm cách cố đương đầu với cái chết này.  Ông quyết định nỗ lực “phục sinh” Zorba, bằng cách kể những câu chuyện của Zorba cho cả thế giới sao để biến cuộc đời ông thành huyền thoại, thành vũ khúc, thành tôn giáo.

Kazantzakis tin rằng đây chính là việc Maria Mađalêna đã làm khi thương tiếc cái chết của Chúa Giêsu, khi bà rời mộ Ngài và trở lại với đời.  Bà đã “phục sinh” Chúa Giêsu bằng cách kể chuyện của Ngài, tạo nên một huyền thoại, một vũ khúc, một tôn giáo.  Nên khi thương tiếc cái chết của Zorba, Kazantzakis tự nhủ: “Hãy cho ông máu của chúng ta để ông có thể sống lại, chúng ta hãy làm những gì có thể để kéo dài thêm sinh mệnh cho con người mê ăn, mê uống, mê làm việc, mê đàn bà, mê lang bạt, người vũ công và chiến binh, linh hồn khoáng đạt nhất, thân thể rắn chắc nhất, tiếng hét tự do nhất mà tôi từng biết”.

Ông đã rất nỗ lực!  Và nỗ lực đó tạo nên một câu chuyện tuyệt vời, một thần thoại thú vị, nhưng nó không bao giờ tạo nên một tôn giáo hay một vũ khúc bất diệt, bởi nó không như những gì bà Maria Mađalêna đã làm cho Chúa Giêsu.  Dù thế, vẫn có gì đó đáng để chúng ta học hỏi về cách đương đầu với những ra đi quá lớn làm cho thế giới bỗng chốc hoang lạnh đi hẳn.  Chúng ta không được để sức sống diệu kỳ đó biến mất, chúng ta phải giữ cho nó sống.  Tuy nhiên, là tín hữu Kitô, chúng ta làm theo một cách khác.

Chúng ta đọc câu chuyện của Maria Mađalêna theo một cách rất khác.  Bà Maria đến mộ Chúa Giêsu, thấy mộ trống, và đi ra ngoài khóc, nhưng… trước khi đi kể chuyện này cho người khác, bà đã được gặp Chúa Giêsu, được Ngài nói cho cách để tìm được sức sống, sự phong phú, tình yêu thương và con người của Ngài, trong một phương thức hoàn toàn mới là trong tinh thần của Ngài.  Phương thức đó bao hàm cả bí mật về cách chúng ta trao sự sống cho những người thân yêu sau khi họ đã mất.

Làm sao để giữ những người thân yêu và sức sống kỳ diệu mà họ đã đem lại cho đời, vẫn tiếp tục sống sau khi họ đã mất?  Trước hết, là bằng cách nhận ra rằng sức sống của họ không mất đi cùng với thân thể, rằng sức sống đó không rời trần thế này.  Sức sống của họ vẫn còn sống, vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, nhưng bây giờ là ở trong chúng ta, qua tinh thần họ để lại (cũng như Chúa Giêsu đã để lại tinh thần của Ngài).  Hơn nữa, sức sống của họ truyền cho chúng ta mỗi khi chúng ta đi vào “Galilê” của họ, cụ thể là, vào những nơi mà tinh thần của họ phát triển và truyền đi dưỡng khí sinh sôi.

Thế nghĩa là sao?  “Galilê” của ai đó, nghĩa là gì?  “Galilê” của ai đó là sức sống đặc biệt, dưỡng khí đặc biệt mà người đó phát ra.  Với Zorba, thì đó là sự táo bạo và ham mê sống, với cha tôi là tinh thần ngoan cường, với mẹ tôi thì là lòng quảng đại.  Trong sức sống đó, họ phát ra một điều gì đó của Thiên Chúa.  Bất kỳ lúc nào chúng ta đến những điểm mà tinh thần của họ phát ra sức sống của Thiên Chúa, thì chúng ta hít vào dưỡng khí của họ, vũ điệu của họ và sự sống của họ.

Như tất cả các bạn, tôi cũng có những lúc choáng váng, buồn đau và hoài nghi về cái chết của một người nào đó.  Làm sao sức sống đặc biệt đó lại chết được?  Đôi khi sức sống đặc biệt đó được thể hiện nơi vẻ đẹp thể lý, sự duyên dáng, bạo dạn, hăng say, phong phú, kiên cường, cảm thương, nhân ái, nồng hậu, khéo léo hay dí dỏm.  Có thể rất khó chấp nhận rằng vẻ đẹp và dưỡng khí đem lại sự sống đó, có thể rời bỏ trần thế này.

Xét cho cùng, chẳng gì mất đi cả.  Đôi khi, trong thời gian của Thiên Chúa, khi đúng thời đúng điểm, tảng đá sẽ lăn ra, và như Maria Mađalêna đã từ mộ đi về, chúng ta sẽ biết rằng nếu đến “Galilê”, mình có thể hít thở sức sống diệu kỳ đó lần nữa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

LỜI HỨA…

8 SÀI GÒN

LỜI HỨA…

Ông Tom Cook, cư dân tại tiểu bang Wisconsin, đã trúng lô độc đắc Powerball 22 triệu ngày 10/6 vừa qua. Chuyện này không thành tin. Xổ số mở hàng ngày, có người trúng tới cả trăm triệu. Ông Cook trúng 22 triệu thì ăn thua chi.

Nhưng chuyện thành tin nóng khi ông chia đôi số tiền này với ông bạn Joe Feeney trong khi ông Feeney chẳng góp tiền mua chung tấm vé số. Tất cả chỉ vì một lời hứa. Năm 1992, hai ông bạn chí thân này bắt tay với nhau và hứa nếu một trong hai người trúng số Powerball thì sẽ chia cho người kia một nửa.

Chuyện như đùa mà nay thành thật. Thực ra ông Cook có thể làm lơ một cách dễ dàng. Vì ông Feeney chẳng còn nhớ tới chuyện cũ xì từ 28 năm trước. Khi được ông Cook điện thoại báo tin, ông Feeney tưởng bạn giỡn. “Ông ấy gọi tôi và tôi trả lời “ông có giỡn với tôi không vậy?”.

Trả lời báo chí, ông Cook nói: “Lời hứa là lời hứa. Đã nói thì phải giữ lời”. Hai ông dắt tay nhau đi lãnh tiền trúng số. Họ chọn cách lãnh trọn gói một lần. Mỗi ông được 11 triệu đô. Sau khi trừ tiền thuế, mỗi người bỏ túi được 5 triệu 700 ngàn. Cũng đỡ cho hai ông già. Ông Feeney đã nghỉ hưu trước đó. Ông Cook cũng nghỉ sau khi trúng số.

Chuyện giữ lời hứa của ông Tom Cook là chuyện đáng phục.

Thời buổi này mà còn một ông quân tử Tàu như vậy khá hiếm. Có tìm ở bên Tàu ngày nay chắc cũng không có. Nhưng chuyện tôi kể dưới đây li kỳ hơn nhiều.

Phil Seymour là một Trung Sĩ thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 của Hoa Kỳ, đóng ở Đà Nẵng. Anh qua Việt Nam vào tháng 12 năm 1966. Đơn vị của anh đóng quân tại một hòn đảo nhỏ gần Hội An. Họ thường vào chơi nơi phố thị này. Khi đi chơi, anh luôn mang theo chú chó cưng được gài sau ba lô. Tên chú chó này là Boot, được anh giải cứu trong một cuộc hành quân trong rừng. Khi đó Boot còn chưa dứt sữa mẹ. Mỗi khi từ thuyền vào đất liền, các anh lính GI này thường được một đám con nít đứng đón để xin kẹo, bánh, đồ hộp và cả thuốc lá.

Thường thì các anh lính trẻ này phân phát đầy đủ cho đám trẻ. Trong đám trẻ có một đứa tên Cam (có thể là Cầm hay Cẩm) luôn mặc bộ đồ ngủ màu xanh, đi chân đất. Cam không nhao nhao như đám con nít chung quanh mà luôn luôn đứng ở phía sau, cam phận.

Lúc đầu Phil và bạn bè tưởng Cam nhút nhát, nhưng không phải. Em không xin mà luôn mang theo dừa, chuối, chanh để trao đổi. Đám lính Mỹ rất thích đứa bé… sòng phẳng này.

Lúc đó Cam chỉ khoảng 9 tuổi. Có lần em mang một trái chuối tặng cho Phil. Phil rất cảm động. Khi anh được đi Thái Lan nghỉ phép, anh hỏi Cam muốn gì anh sẽ mua cho. Cam chẳng biết Thái Lan là cái xứ mô tê nào, tiếng Anh lại ba xí ba tú, cậu bé chỉ vào chiếc đồng hồ Phil đeo trên tay. Phil gật đầu.

Qua Thái Lan, Phil mải vui với các cô gái dễ dãi, với rượu nồng thịt béo, quên mất tiêu lời hứa mua chiếc đồng hồ cho Cam. Trở lại Hội An, Cam chạy ùa ra đón Phil với hy vọng có chiếc đồng hồ. Phil đành xin lỗi và hứa sẽ mua cho Cam sau.

Nhưng đời lính chẳng biết mai này sẽ ra sao. Đơn vị của Phil phải rời Hội An ra vùng phi quân sự ngay sau đó. Đầu năm 1968, Phil được trở về Mỹ. Về nhà, anh vẫn khó chịu vì không thực hiện được lời hứa với cậu bé nghèo nơi đất khổ. Lời hứa vẫn canh cánh bên lòng trong khi anh nghĩ chắc tới chết cũng không thực hiện được.

Anh tại ngũ thêm 27 năm. Chịu khó học lấy được bằng Master về luật, Phil trở thành luật sư của bộ Quốc Phòng. Năm 1995, ông nghỉ hưu.

Ông thường cùng một nhóm bạn đi du lịch khắp nơi. Năm 2007, nhóm du lịch này dự tính tham gia một tour tới vùng Đông Nam Á, có ghé Hội An. Vợ ông, bà Lynne, thúc giục ông phải tham dự chuyến này để trở lại Hội An, tìm gặp Cam, thực hiện lời hứa từ bốn chục năm trước. Phil đồng ý tuy trong thâm tâm ông nghĩ chuyện tìm lại Cam như chuyện mò kim đáy biển. Tuy vậy, ông vẫn mua sẵn môt chiếc đồng hồ.

Tới Đà Nẵng, hướng dẫn viên của đoàn du lịch là một người Hà Nội nhưng quen biết nhiều người ở Hội An. Anh chàng này hứa sẽ liên lạc tìm Cam giùm ông. May là ông Phil còn giữ và mang theo trong người được mấy tấm hình chụp với Cam ngày xưa.

Anh hướng dẫn viên cầm tấm hình đi hỏi thăm. Anh gần như trúng số khi gặp được một người em của Cam. Chỉ cần một cú điện thoại, Cam chạy vội tới khách sạn. Lúc này Cam không còn là một đứa trẻ 9 tuổi mà là một bác thợ mộc 49 tuổi. Anh hướng dẫn viên hỏi Cam có biết ông Mỹ này không. Cam nhận ra Phil liền. “Ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Anh hướng dẫn viên hỏi thêm anh có còn nhớ lời hứa năm xưa không, Cam trả lời liền: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng ổng không hiểu nên không mua đồng hồ cho tui thôi”.

Ông Phil nói với Cam là không có sự hiểu lầm nào cả mà chỉ có sự thất hứa. Ông đeo chiếc đồng hồ cho Cam rồi hai người ôm nhau.

Cam cảm động đến rơi nước mắt. Hôm sau, Cam mời vợ chồng ông Phil và anh hướng dẫn viên tới nhà dùng cơm. Bữa ăn do vợ của Cam là Nở và con gái 28 tuổi tên Vy của Cam nấu nướng. Vy mới lập gia đình. Được hỏi về ước muốn của Vy, cô chỉ ước được học Đại học như bốn người em trai. Là phận gái nên Vy không được học hành như các em.

Vợ chồng Phil không ngần ngại chu cấp cho Vy vào Sài Gòn học Đại học. Cô đã đậu bằng Cử nhân vào năm 2012.

Quá vui mừng, vợ chồng Phil đã qua Sài Gòn dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam vào Sài Gòn. Đó là lần đầu tiên vợ chồng Cam được đi máy bay! Anh không quên mang theo một số đồ ăn quê mùa Hội An để mở tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Vợ chồng Phil mừng Vy một cái microwave.

Hiện Vy vẫn làm việc tại Sài Gòn và thường điện thoại liên lạc với vợ chồng Phil.

Nói về li kỳ thì chuyện giữ lời hứa của anh GI Phil ăn đứt chuyện chia đôi tấm vé số của ông Cook. Nhưng chuyện giữ lời hứa thì không có thể so sánh hơn kém. Chuyện nào cũng quý cả.

Họ là những quân tử thứ thiệt, thuộc loại hiếm trên trái đất này. Lời hứa của họ như đinh đóng cột. Từ ngàn xưa người ta đã xưng tụng bằng những câu đã biến thành những bài học mà muốn thành người tử tế phải noi theo.

Nhất nặc thiên kim, lời hứa giá ngàn vàng. Nhất ngôn cửu đỉnh, lời nói có sức nặng tựa chín chiếc đỉnh. Quân tử nhất ngôn, người quân tử chỉ nói một lời. Dân gian cũng có những câu như: Một lời nói dối, sám hối bảy ngày. Hoặc: Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

Hứa trong thương trường trở thành chữ tín. Buôn bán với nhau người ta rất trọng chữ tín. Đã nói là phải giữ lời. Không lươn lẹo, không gian dối.

SONG THAO

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Bọn Mafia & Đám Cách Mạng Mùa Thu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Bọn Mafia & Đám Cách Mạng Mùa Thu

27/08/2021

Truyện Bố Già của Mario Puzo mở đầu bằng một vụ xử bất công, thấy rõ :

Amerigo Bonasera có việc ra Toà, Toà Đại-hình Nữu-Ước, Phòng 3 để nghe công lý phán xét, trừng trị hai thằng khốn can tội bạo hành, toan cưỡng dâm con gái lão. Ngài Chánh án uy nghi, bệ vệ vén áo thụng đen làm như sắp đích thân ra tay trị hai thằng nhãi ranh đang đứng xớ rớ trước Toà. Giọng ngài sang sảng, lạnh tanh:

– Tụi bây hành động như những quân côn đồ tồi tệ nhất. Tụi bây làm như thú dữ ở rừng vậy! Cũng may mà cô bé đáng thương kia chưa bị tụi bây xâm phạm tiết hạnh, bằng không thì mỗi đứa 20 năm chắc… Xét vì tụi bây còn nhỏ, chưa có tiền án và con nhà đàng hoàng… Vả lại xét vì luật pháp đặt ra chẳng phải để trả thù nên toà tuyên phạt mỗi đứa 3 năm tù, cho hưởng án treo!
………

Bonasera nghiến răng nghe nỗi đắng cay trào lên nghẹn họng. Lão đưa chiếc khăn tay trắng lên bụm chặt miệng, ngó hai thằng khốn đi tà tà trở ra. Mặt chúng tươi rói, chúng tỉnh bơ không thèm nhìn lão một phát. Đành đứng trơ ra vậy. Cha mẹ chúng tò tò đi theo: hai cặp vợ chồng Mỹ trạc tuổi lão, bề ngoài Mỹ rặt bẽn lẽn ra mặt nhưng ánh mắt vẫn cứ vênh váo ngầm….

Lão quyết định tìm tới cố nhân Corleone, tốn bao nhiêu thì tốn…”

“Tìm tới cố nhân  Corleone ” lão Bonasera không phải chi một đồng nào nhưng hai cậu nhóc “con nhà đàng hoàng” vẫn bị xử lại (và xử đẹp) cấp kỳ bằng một trận đòn thừa sống thiếu chết: 

Jerry và Kevin, nghe đâu, nằm nhà thương cả tháng. Từ đó về sau, hễ thoáng thấy đàn bà con gái (nói chung) và đám di dân gốc Ý (nói riêng) là hai cậu lảng đi chỗ khác chơi liền. Cho ăn kẹo cũng không dám buông lời tán tỉnh hay chọc ghẹo bâng quơ, đừng nói chi đến chuyện sàm)sỡ (tiện tay bóp lồn hay thuận tay bóp vú) như trước nữa. 

Trận đòn, ngó bộ, hơi bị nặng tay. Tụi Mafia, rõ ràng, là có khuynh hướng trọng nữ khinh nam. Đụng tới phụ nữ là tụi nó nổi giận cấp kỳ, và phản ứng (có phần) quá đáng.

Tháng 11 năm 2007, cảnh sát Sicily tìm được (trong sào huyệt của ông trùm Salvatore Lo Piccolo) “Mười Điều Răn” (Ten Commandments) của đám Mafia địa phương. Đọc xong, quí bà và quí cô đều phải xuýt xoa và tấm tắc khen: Phải kính trọng vợ/ Không được dòm ngó vợ bạn/ Không được lem nhem về tiền bạc/ Luôn giữ đúng hẹn/  Không bao giờ nói dối …

Thiệt, có một thằng con hay thằng rể ăn ở và cư xử mực thước (quá cỡ) như vậy thì ai mà không hãnh diện chớ” Lỡ nó có dính tới băng đảng Mafia “chút xíu” thì cũng đã chết ai đâu. Thằng nhỏ có hung dữ, đánh đập ai ở ngoài đường thây kệ, miễn nó “kính trọng vợ con” và “không dòm ngó tới vợ bạn” (và em vợ mình) là yên bụng rồi – đúng không”?

Điều răn thứ IV mới thiệt là quí hoá chớ. Đọc mà mát ruột mát gan: “Don’t go to pubs and clubs” (Không được chàng ràng ở quán bia ôm hay quán nhậu). Phải vậy chớ. Đ…má, tui ghét nhứt là cái thứ đàn ông mà mở miệng ra là chửi thề, hoặc tu bia, hay nốc ruợu ào ào. Thiệt mất cảm tình hết sức!

 Trong phần lời tựa của cuốn Bố Già, bản Việt ngữ, dịch giả Ngọc Thứ Lang còn cho biết thêm đôi điều lý thú khác nữa :

“Nhiều tư liệu gần đây về Mafia và ‘The Godfather’ cho chúng ta biết rằng nhân vật “Bố Già” ngoài đời chính là Don Vito Cascio Ferro, một trong những thủ lĩnh quan trọng đầu tiên của giới Mafia Ý di cư sang Mỹ… 

Nhưng đối với bạn bè, thân quyến, ‘Bố Già’ gần như là một đấng toàn năng có thể cứu họ thoát khỏi những thế kẹt và nỗi oan ức mà ngay cả luật pháp cũng chẳng gỡ được. Ông đúng là ‘Mafia’ theo cái nghĩa nguyên thủy của nó thuở ban đầu hình thành, nơi ẩn náu.”

Những người ở trong “thế kẹt” và có “những nỗi oan ức” phải tìm đến Bố Già nhờ giúp đỡ (phần lớn) là những di dân nghèo khổ, không được pháp luật Hoa Kỳ – vào hồi đầu thế kỷ XX – che chở (đúng mức) khi cần. Như thế, băng Đảng Mafia “thuở ban đầu hình thành” – xem chừng – với có rất nhiều khí khái và thiện ý: đứng với kẻ ở thế cô, và sẵn sàng phò nguy cứu khổ.

Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng – kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” – nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” 

Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.”  Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc. Xin ghi lại vài ba :

– Đàn áp dã man những cộng đồng của người dân bản địa ở Tây Nguyên vào năm 2001 và 2004.

– Đàn áp dã man những cộng đồng của người dân bản địa ở Mường Nhé, Điện Biên năm 2011

– Tấn công Tu Viện Bát Nhã năm 2009.

– Tấn công Đan Viện Thiên An năm 2017.

– Tấn công nông dân ở Văn Giang năm 2012.

– Tấn công nông dân ở Đồng Tâm năm 2020.

Đó là chưa kể những vụ cướp ngày được mệnh danh là Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Đổi Tiền, Vượt Biên Bán Chính Thức (bằng cách … bán bãi thu vàng) và vô số tài sản – nhà, xe, cơ sở thương mại … – mà dân chúng đã tự nguyện ký giấy “hiến tặng” với hy vọng (mỏng manh) của đi thay người.

Vậy mà thời gian vừa qua, không ít kẻ gọi đám người đang nắm quyền bính ở Việt Nam hiện nay là “bọn Mafia” hay “băng đảng Mafia đỏ.”  Úy Trời, đừng có nói (đại) như vậy mang tội chết à nha.  

Mafia đâu có hành động đê tiện dữ vậy! 

Tụi nó cũng cướp của, tống tiền,  khủng bố …nhưng đâu có ăn hối lộ, ăn chận, và cướp đất của những người cùng khổ. Tụi nó cũng đâu có bao giờ phải “giả dạng thường dân” hay “ném đá giấu tay” như đám công an cách mạng. Khi cần, đám Mafia (dám) ném lựu đạn như không, chớ đâu có cái chuyện ném cứt – bẩn thỉu, dơ dáy, và đáng tởm – như dân băng đảng ở làng Ba Đình, Hà Nội, đúng không? 

Tôì tin chắc rằng nếu quí ông Trần Độ, ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ … gia nhập bất cứ băng đảng Mafia nào, thay vì Đảng Cộng Sản Việt Nam – chắc chắn – họ sẽ được đối xử tử tế hơn nhiều vào lúc cuối đời, nếu chưa muốn nói là sẽ được đàn em tuyệt đối kính trọng vì cung cách hành xử can trường và nghĩa khí. 

Nếu bọn Mafia – đôi khi – phải làm những điều khuất tất chả qua vì họ ở cái thế chẳng đặng đừng, của những người thất thế, những kẻ bị gạt ở bên lề xã hội. Chứ còn cứ mở miệng ra là “toàn thắng đã về ta,” và cứ “đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” mà (đ… mẹ) cách hành xử thì kém xa bọn băng đảng xã hội đen! 

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA MARIA THẢO LINH gửi cho các soeur…

Phạm Nguyên Trường is with Hoàng Hưng and 

BỨC THƯ CUỐI CÙNG CỦA MARIA THẢO LINH gửi cho các soeur cùng mình tham gia chống dịch trước khi được Chúa gọi về bên chân của Người.

Các chị rất thương mến !

Có chị từng hỏi em: “Đây là một căn bệnh hiếm, tại sao trong bao nhiêu người, lại là chị?”

Em đã suy nghĩ về câu hỏi này và thấy rằng: Ồ, có lẽ em là người được chọn nhỉ. Như thế thì thật là tốt phải không ? Là em thì không phải là những người còn lại: không phải là các chị, không phải là ai đó trong gia đình em, hay là một người nào khác.

Nhìn theo hướng khác, thì căn bệnh này là thánh giá Chúa đã chọn và dành riêng cho em.

Với em, đây là cơ hội để sống ơn gọi Mến Thánh Giá triệt để hơn. Có thánh giá thì mình sẽ dễ dàng “tiếp nối cuộc đời lữ thứ hy sinh của Chúa Giêsu” hơn, dễ mang lấy tâm tình và ý hướng của Chúa Giêsu khi Ngài chịu thương khó hơn, phải không các chị ?

Chưa biết tương lai thế nào, nhưng hiện tại em vẫn tạ ơn Chúa vì bệnh của em chẳng làm em mệt mỏi hay đau đớn gì cả.

Suy nghĩ về sự sống và cái chết, em thấy nó chỉ là tên gọi của hai hình thái sống khác nhau mà thôi. Thực tế thì, chúng ta có bao giờ chết đâu.

Vậy đó, nên em cũng chẳng năn nỉ Chúa cho mình được khỏi bệnh hay được sống lâu.

Nếu bước đi trên một cuộc hành trình, điều người lữ hành mong mỏi nhất là có thể đến đích sớm bao nhiêu có thể. Thì cũng vậy, nếu cái chết đến sớm có lẽ là điều đáng mừng phải không ? Tuy cái chết không phải là đích chúng ta nhắm tới, nhưng nó là dấu hiệu cho thấy chúng ta đã gần đích lắm rồi.

Thế nên, em đã nói với Bà Ngân thế này: “Con với Bà cùng chạy nhé, không chừng con sẽ đến đích trước Bà đấy!”

Các chị biết đấy, bây giờ em là một loại cây không ưa ánh nắng mặt trời và có thể chỉ là một loại cây ngắn ngày. Không biết nhà thiết kế cảnh quan của Hội dòng có thể tìm được chỗ nào thích hợp cho loại cây đặc biệt này không nhỉ ?

Maria Trần Ngọc Thảo Linh.

Từ Facebooker Kim Dung Pham

May be a closeup of 1 person, standing, eyeglasses and headscarf

Những nguyên nhân chính khiến việc chống dịch ở VN càng chống càng thất bại

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Song Chi

Những nguyên nhân chính khiến việc chống dịch ở VN càng chống càng thất bại, và người dân phải hứng chịu mọi hậu quả, không chỉ chết vì dịch mà còn chết vì đói, và bị “khủng bố” tinh thần bởi hàng loạt chủ trương sai lầm, hà khắc, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, hở tí thì cấm, phạt, và cuối cùng là đem cả quân đội súng ống, xe tăng, thiết giáp vào SG:

  1. SỰ NGẠO NGHỄ, CHỦ QUAN. Do những bước đầu kìm chế dịch khá thành công nên khi đợt dịch thứ tư bùng phát dữ dội ở VN từ cuối tháng 4.2021, sau nhiều quốc gia khác tới gần một năm rưỡi, nhưng VN đã chủ quan không thèm chuẩn bị gì, từ chiến lược vaccine cho tới làm sao để vừa phòng chống dịch cho hiệu quả, vừa để người dân có thể sống sót qua những ngày phong tỏa không có thu nhập, đồng thời kinh tế vẫn tiếp tục vận hành ở một mức độ nào đó, không bị đứt gãy giữa nguồn cung và cầu, đứt gãy sản xuất hoàn toàn v.v…Và cũng vì ngạo nghễ nên không thèm học bài học chống dịch, cách thức phong tỏa, vận hành quốc gia trong thời dịch từ các nước khác, cũng như bất chấp mọi ý kiến, mọi lời khuyến cáo của các bác sĩ, chuyên gia, người có kinh nghiệm ở trong hay ngoài nước, bất chấp dư luận, cứ làm theo ý mình, và nếu có học thì chỉ học duy nhất bài học chống dịch cực kỳ khắc nghiệt của Tàu Cộng tại Vũ Hán!
  2. CHÍNH TRỊ HÓA VIỆC CHỐNG DỊCH. CHỐNG DỊCH VỚI TƯ DUY THỜI CHIẾN THAY VÌ TƯ DUY KHOA HỌC. Ngay từ đầu cho tới giờ nhà cầm quyền vẫn cứ khăng khăng giương cao khẩu hiệu “chống dịch như chống giặc”, với tinh thần “phải quyết thắng tới cùng” (trong khi nhiều cường quốc hàng đầu với nền y tế tiên tiến hơn gấp nhiều lần đã hiểu ra là không thể thắng con coronavirus này 100% mà phải có kế hoạch “chung sống lâu dài” với nó), để cho đám quan chức vốn xuất thân từ công an, tình báo, hoặc tuyên giáo, không có chút kiến thức, kinh nghiệm về khoa học lên lãnh đạo việc chống dịch, đưa công an, và bây giờ là quân đội vào kiểm soát tình hình, coi virus là…giặc, coi dân cũng là những kẻ thù tiềm tàng…Thay vì chống dịch với tư duy khoa học, đưa các chuyên gia, bác sĩ hàng đầu trong lĩnh vực dịch tễ học, vi trùng học…lên lãnh đạo việc chống dịch, còn chính phủ thì lùi lại, lắng nghe ý kiến của họ, lắng nghe ý kiến của dân.
  3. ĐỘC QUYỀN CHỐNG DỊCH, LUÔN LUÔN MUỐN KIỂM SOÁT MỌI THỨ. KHÔNG TIN DÂN. Cái gì cũng độc quyền, thậm chí chống dịch đảng cũng phải độc quyền, không muốn chia sẻ trách nhiệm cho các chuyên gia đã đành, việc cứu trợ cho dân cũng không muốn các tổ chức hoạt động dân sự, các tổ chức tôn giáo tham gia trừ phi dưới cái ô của Mặt trận Tổ Quốc hay các tổ chức của đảng; mà nếu có cho phép được một lúc vì làm không xuể thì sau đó cũng lại giành lại, như hiện nay đưa quân đội vào giành cả công viêc đi chợ của shipper, công việc cứu trợ của các tổ chức, cá nhân thiện nguyện…
  4. NHÂN DANH CHỐNG DỊCH ĐỂ CÀNG VI PHẠM NHÂN QUYỀN QUA CÁC BIỆN PHÁP CẤM, PHẠT CỰC ĐOAN. KHÔNG COI ĐỜI SỐNG KINH TẾ VÀ SINH MẠNG CỦA DÂN RA GÌ. NHƯNG LẠI SĨ DIỆN KHÔNG MUỐN THỪA NHẬN THẤT BẠI. Cái kiểu chống dịch mà VN học theo Tàu Cộng nó nguy hiểm ở chỗ là họ khuyếch đại hóa nỗi sợ hãi, làm căng thẳng thêm tình hình để từ đó càng có cớ mà nhốt dân trong nhà, và bây giờ là đưa cả quân đội với súng ống vào SG, lấy cớ là giúp dân chống dịch nhưng chủ yếu là nhằm ngăn ngừa mọi sự nỗi loạn từ người dân, hoặc mọi ý kiến, quyết định khác ý trung ương nếu có, của các chính quyền địa phương. Tất cả là để nhằm giữ sự ổn định chính trị và giữ cái bề mặt “sạch sẽ” nghĩa là ai bị dương tính, bị nhiễm thì nhốt vào một chỗ mặc kệ lây chéo lẫn nhau, ai chết thì lẵng lặng đem đi thiêu, bây giờ là đi chôn tập thể, miễn sao trên bề mặt mọi thứ vẫn trong vòng kiểm soát và những con số về tình hình dịch bệnh vẫn “ở mức độ chấp nhận được” dù thực tế thì tồi tệ hơn rất nhiều! Cuối cùng là cái bệnh sĩ diện của nhà cầm quyền không muốn thừa nhận họ đã thất bại để kêu gọi quốc tế trợ giúp nhân đạo, mặc kệ mỗi ngày trôi qua là số người chết đói, chết vì dịch càng nhiều hơn.

Đó là chưa kể những chính sách bất công, bất hợp lý trong đối tượng ưu tiên chích vaccine, sự phân biệt vùng miền thay vì dồn tối đa nguồn vaccine, nguồn tài chính cho những tỉnh thành bị dịch nặng v.v…khiến tình hình càng tệ hơn.

TẤT CẢ NHỮNG NGUYÊN NHÂN TRÊN LÀ DO: THỂ CHẾ ĐỘC TÀI+SỰ DỐT NÁT+ ĐỘC ÁC+CHỈ LO BẢO VỆ QUYỀN LỰC CỦA NHÀ CẦM QUYỀN.

– Hầu như không có nước nào mà không bị đại dịch COVID-19, không có nước nào mà không có những quyết định sai lầm lúc này lúc khác, không có nước nào mà không có người chết, nhưng chỉ có một chế độ độc tài toàn trị thì mới có cái cách chống dịch như vậy. Suốt bao nhiêu năm qua đảng cộng sản đã hành xử như một lực lượng chiếm đóng đối với người dân VN, thậm chí còn ác hơn cả thời thực dân nhiều, và đại dịch chỉ càng phơi bày sự thật đó mà thôi.

Song Chi

May be an image of 2 people, motorcycle and road

Bức tường Berlin (Phần 4): Những đứa con của bức tường

Bức tường Berlin (Phần 4): Những đứa con của bức tường

Bởi  AdminTD

Nguyễn Thọ

29-8-2021

Tiếp theo Phần 1 − Phần 2 và Phần 3

Cảnh sát Tây Berlin nhặt xác của anh thanh niên Peter Fechter bị bắn chết bên hàng rào biên giới đông tây Berlin hôm 17.08.1962. Ảnh tư liệu

Những ngày sau khi bức tường thép gai tạm thời được dựng lên, hàng trăm người Đông Berlin vẫn tìm cách lọt qua các kẻ hở để chạy trốn. Có những nơi người ta nhảy qua cửa sổ sang bên kia. Dân Tây Berlin giăng vải bạt hứng được hàng chục người nhảy cửa sổ, không có tai nạn nào xảy ra. [1]

Dần dần chính quyền Đông Đức xây hoàn chỉnh thành những bức tường cao 3m, có một dải đất phân cách cho xe biên phòng đi tuần, có tháp canh, đèn pha chiếu sáng. Nhưng người dân vẫn tìm cách đào những con đường hầm từ những khu nhà gần đường biên để sang bên kia. Rồi dần dần những hộ ở gần đường biên cũng bị di dân đi nơi khác và các ngôi nhà đó bị san ủi thành bãi hoang.

Cấu trúc bức tường Berlin. Ảnh tư liệu

Ngày 13.8.1961 được coi là ngày chính thức hoàn thành việc chia cắt nước Đức. Một sự chia cắt không cân xứng. Người dân miền Tây vẫn sang Đông được. Nhà nước Tây Đức cho dân tự do đi lại. Phía Đông Đức thì coi người Tây là nguồn ngoại tệ quan trọng. Người Tây Đức vẫn đi xe ô tô qua 3 tuyến đường cao tốc để sang Tây Berlin. Họ chỉ được dừng lại ở những cây xăng dành cho họ, không được rẽ ngang tắt. Nếu có lý do chính đáng (thăm thân, định cư hay công tác), họ sẽ được vào lãnh thổ CHDC Đức.

Nhưng người dân Đông Đức thì không được đi sang phía Tây. Sau ngày 13.8.1961, họ chỉ còn cách liều chết vượt biên hoặc xếp hàng đặt đơn đi thăm thân, xin xuất ngoại. Đơn thăm thân rất ít khi được xét, và chỉ xét cho những cán bộ đáng tin cậy. Mà tin cậy đến đâu thì chỉ có vợ hoặc chồng được đi, phần kia của gia đình phải ở lại làm con tin.

Dân chúng Đông Berlin ở phố Bernauer nhảy qua cửa sổ để chạy sang Tây Berlin hôm 13.08.1961. Ảnh tư liệu

Những người xin xuất ngoại mới khốn khổ. Họ luôn bị coi là kẻ „có vấn đề“ trong suốt thời gian chờ đợi đơn được cứu xét. Nhiều người mất việc, bị bạc đãi, sống trong sự dè bỉu của hàng xóm, đồng nghiệp. Có những người như bà Ingrid Taegner được kể ở cuối bài trước, cam chịu cả đời không được sang bên kia.

Những người không cam chịu được thì tìm cách vượt biên. Để vượt qua 155km biên giới bao quanh Tây Berlin hay 1.400km biên giới Đức – Đức đầy mìn và thiết bị điện tử, được canh gác vô cùng chặt chẽ, người ta đã sáng tạo ra muôn vàn cách thoát thân. Ở Đức có rất nhiều “bảo tàng vượt biên”, trình bày từ những cách đào hầm, đóng xe tải thành xe tăng để phá hàng rào, làm xe ô tô nhiều lớp vỏ, bay bằng khinh khí cầu, vượt biển Baltic bằng ca nô v.v.

Vượt biên trong những ngày đầu khi mới chỉ có dây thép gai. Ảnh tư liệu

Bà Liane Weinstein sinh ở Tây Berlin mới được 2 tháng. Dịp cuối tuần bố mẹ bà bận sửa nhà nên gửi cháu bé cho ông bà ngoại ở Đông Berlin. Bức tường dựng lên sáng chủ nhật 13.08 đã khiến bé phải ở lại với ông bà bên phía Đông. Bố mẹ bé ở bên kia gần như phát điên vì mất con. Họ nhờ người đào một đường hầm để đưa bé về phía tây. Kế hoạch bại lộ, những người đào hầm và ông bà ngoại bị bắt giam. Cô bé bị đưa vào trại mồ côi. 11 năm sau, nhờ sự can thiệp của chính quyền Tây Đức, cô được trả về phía Tây với bố mẹ, những người đối với cô rất xa lạ.

Gia đình bà Liane Weinstein (giữa) tan vỡ sau 11 năm bà bị giữ làm con tin ở Đông Berlin. Bố mẹ mà đã li dị nhau trước ngày bà được trả về Tây Berlin cho họ. Ba số phận có thật của những người con của bức tường Đức. Ảnh tư liệu

Trong 11 năm qua cô luôn được nghe kể rằng: bố mẹ đã nhẫn tâm bỏ con lại để hưởng lạc ở miền Tây, mặc dù chính quyền luôn mời họ về miền Đông với con gái. [2]

Thế hệ người Đức như bà Weinstein được gọi là những đứa con của bức tường. Dù gia đình họ có bị xé nát hay không, dù ở Đông hay ở Tây thì ai cũng bị ảnh hưởng bởi sự chia cắt đất nước.

Chính phủ CHDC Đức luôn tuyên bố: “Bức tường là sự lựa chọn của nhân dân”. Đầu tháng 10.1989, hàng trăm ngàn người Đông Đức biểu tình với khẩu hiệu: “Chúng tôi là nhân dân”, “Hãy mở cổng thành”. Sau hơn một tháng liên tục đấu tranh bất bạo động, đêm 9.11.1989, bức thành bị dỡ bỏ.

Người ra lệnh mở cổng thành lại chính là Trung tá an ninh STASI Harald Jäger [3]. Ngày nay người ta đặt câu hỏi. Nếu vào giờ phút lịch sử đó Jäger ra lệnh nổ súng vào đám đông quần chúng đang đòi mở cổng thành thì sẽ ra sao? Lịch sử cuối cùng cũng vẫn sang trang, vì lòng dân đã rõ, nhưng sẽ tốn máu. Viên sỹ quan STASI Jäger biết tiếc máu của dân mình vì anh cũng là nhân dân, cũng là người con đau khổ của bức tường.

Một trong những cách tuyệt vọng để vượt biên. Ảnh tư liệu

Tôi có thể viết hàng trăm bài về nước Đức chia cắt, vì tôi là đứa con miền Nam tập kết ra Bắc, chơi thân với nhiều bạn bè Đông và Tây Đức, chứng kiến nhiều số phận của họ. Tôi xin tạm dừng ở đây với các tóm tắt như sau:

– Tháng 5.1945. nước Đức thua trận bị phân chia thành 4 vùng chiếm đóng của Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô. Thủ đô Berlin nằm lọt thỏm trong vùng Liên Xô ở miền Đông nước Đức cũng bị chia 4. Chia nhưng chưa bị cắt, vì giữa các vùng vẫn đi lại được.

– Tháng 5.1949, ba vùng tư bản ở Tây Đức tập hợp thành nước CHLB Đức, kinh tế tư bản, dân chủ đại nghị.

– Tháng 10.1949, nước CHDC Đức ra đời ở miền Đông lấy Đông Berlin làm thủ đô. Biên giới Đức-Đức dài 1400km hình thành, chia cắt nước Đức thành 2 miền XHCN và TBCN.

– Trong khi đó Tây Berlin vẫn là thành phố tư bản, tự do. Đi lại giữa đông-tây thành phố vẫn “bình thường”. Tây Đức và Tây Berlin liên hệ với nhau qua các đường sắt, đường cao tốc và hàng không xuyên qua lãnh thổ CHDC Đức (theo thỏa thuận của đồng minh).

– Lỗ hổng này giúp cho 3 triệu người bỏ Đông Đức đi sang Tây Đức qua đường Tây-Berlin. Những người này được gọi là dân tỵ nạn. Lý do ra đi có thể là kinh tế, là chính trị (đòi tự do dân chủ) hoặc đoàn tụ gia đình.

– Để tránh việc chảy máu chất xám, ngày 13.9.1961, CHDC Đức bất ngờ xây bức tường Berlin, chính thức chia cắt hoàn toàn nước Đức.

– Từ sau 13.8.1961, dòng người tỵ nạn giảm hẳn. Vượt biên trở nên nguy hiểm chết người. Từ tháng 8.1961 đến ngày 11.1989, chỉ còn khoảng 500.000 công dân CHDC Đức sang được CHLB Đức. Trong đó hơn 300.000 người được cấp phép xuất cảnh định cư, đoàn tụ gia đình.

– Chính phủ CHLB Đức đã chi 5 tỷ DM để “mua giấy phép xuất ngoại” cho 250.000 đồng bào trong số 300.000 nói trên. Ngoài ra CHLB Đức chi 3,5 tỷ DM để “mua tự do” cho 33.700 tù chính trị từ các nhà tù CHDC Đức. [4]

– Số người bị bắn chết trong khi vượt bức tường trốn từ Đông sang Tây Berlin là 140 người.

– Số người chết vì bị bắn, vì vấp mìn khi vượt qua biên giới Đức – Đức là 327.

– Nếu kể cả hơn 200 người bị chết khi vượt biển Baltic để sang Bắc Âu hoặc Tây Đức và khoảng 300 người bị chết khi vượt qua biên giới các nước XHCN khác thì có khoảng 1000 người Đức đã chết chỉ vì muốn đi từ vùng đất này đến vùng đất khác của tổ quốc mình.

PS: Ai cần có thể đọc một số tư liệu khác về “Chia cắt nước Đức”:

Bài viết khác về bức tường Berlin và số phận những con người: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/3195284190489632

Bài viết về những ngày phong tỏa Berlin: “Máy bay ném bom nho”: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/3184493994901985

Bài viết về vụ vượt biên bằng khinh khí cầu “Gió bay về miền tây”: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/3340344989316884

Bài viết về những cầu thủ bóng đá CHDC Đức: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/4734892423195460

Viết về những gì xảy ra sau ngày thống nhất đất nước: Về những bức tường trong đầu (3 bài) https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/2549301718421219

_____

*Chú thích:

[1] https://www.zdf.de/dokumentation/zdfzeit/zdfzeit-ein-tag-im-august–mauerbau-61-100.html, (Bắt đầu từ phút thứ 01:12:30)

[2] https://17juni1953.wordpress.com/2020/04/13/gerhard-weinstein-einstiger-staatsfeind-der-ddr-tot/

[3] https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1414934981857904 (bài viết về trung tá Harald Jäger)

[4] https://en.wikipedia.org/wiki/Trading_of_East_German_political_prisoners

Hai con mèo và đỉnh cao trí tuệ

Hai con mèo và đỉnh cao trí tuệ

Bởi  AdminTD

Đỗ Thành Nhân

29-8-2021

  1. Hai con mèo

Trong phòng thí nghiệm yên tĩnh, có 2 mẹ con con mèo phá phách, đùa giỡn nhau làm cho các nhà khoa học không tập trung nghiên cứu được.

– Vị Giáo sư yêu cầu người giúp việc đục 2 cái lỗ, lỗ lớn cho mèo mẹ, lỗ nhỏ cho mèo con để chúng ra ngoài.

– Ông Tiến sĩ nói: không cần đục 2 lỗ đâu, chỉ cần đục 1 lỗ lớn cho cả 2 mẹ con ra ngoài.

– Cô sinh viên tập sự: không cần đục lỗ nào cả, để tôi mở cửa sổ là 2 mẹ con con mèo sẽ nhảy ra ngoài.

Chỉ có vị Giáo sư – đầu óc thuộc loại đỉnh cao trí tuệ mới nghĩ ra những điều mà người bình thường không thể nghĩ đến.

Chuyện thật hay đùa: không rõ; nhưng cũng làm sinh viên xả bớt căng thẳng sau giờ học.

Nhưng thực tế có những người siêu trí tuệ, đỉnh cao của tài tình sáng suốt: mới làm ra đồng tiền 30 đồng – mà cả thế giới không ai nghĩ ra được kể từ khi loài người phát minh ra tiền.

  1. Đỉnh cao trí tuệ

Quá trình phát triển xã hội của tự nhiên đã hình thành một hệ thống quy trình đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng (người dùng cuối), hệ thống này hướng đến sự nhanh chóng, chi phí thấp, bảo đảm chất lượng. Nói vắn tắt hệ thống này là “chuỗi cung ứng hàng hóa”. Chuỗi cung ứng này đưa từng hạt lúa trên cánh đồng của bác nông dân ở nông thôn vào tận từng cái bếp của cô nội trợ ở đô thị, hoàn hảo đến mức, nhiều học sinh tiểu học không biết hạt cơm làm ra từ gì, ở đâu?

Hiện nay trong các ngành học và thuật ngữ kinh tế có khái niệm “logistics”, hiểu một cách đơn giản nhất là một phần của quản trị chuỗi cung ứng. Và trong các giáo trình, khoa học về “logistics” hoàn toàn không có khâu nào của quân đội.

Vậy mà, đỉnh cao trí tuệ của những siêu trí tuệ với tầm Giáo sư, Tiến sĩ đã nghĩ ra được: giao cho quân đội, những người lính nhận nhiệm vụ đi chợ giúp dân.

Tội nghiệp cho những người lính trẻ được huấn luyện để bảo vệ tổ quốc, còn công việc “giao hàng, chợ búa” tưởng đơn giản nhưng lại quá sức của họ.

– Cuối cùng, khi không thể đục 2 cái lỗ cho 2 con mèo chui ra được, thì phải mở cửa ra thôi; nếu không thì những con mèo bị tù túng phá phách chưa biết hậu quả như thế nào.

Vậy là “TPHCM đề xuất huy động 25.000 shipper vận chuyển hàng hóa cho người dân” để dần dần đưa chuỗi cung ứng về đúng quy luật.

Bá Kiến, cũng là một đỉnh cao trí tuệ ở làng Vũ Đại, chỉ ở đỉnh cao trí tuệ, mới biết đẩy người khác xuống sông rồi vứt phao ra cứu (hay nắm tóc kéo lên), lại còn nhận được nhận lời cảm ơn là tài tình, sáng suốt.

THÁNH MONICA VÀ THÁNH AUGUSTINÔ

THÁNH MONICA VÀ THÁNH AUGUSTINÔ

Trầm Thiên Thu 

Chắc hẳn chẳng ai xa lạ gì với hai vị thánh là mẹ con, đó là thánh mẹ Monica và thánh con Augustinô – Giám mục Tiến sĩ.  Hằng năm, ngày 27-8 là lễ kính nhớ người mẹ, và ngày 28-8 là lễ kính nhớ người con. 

Thánh Monica (331-387) là bổn mạng của những cha mẹ chịu đựng đau khổ vì gánh nặng gia đình, đặc biệt là những người mẹ Công giáo.  Bà được mệnh danh là “Người Bạn của Thánh Giá.” 

Thánh Monica sinh năm 332 tại Tagaste, Bắc Phi (nay là Souk Ahras, thuộc Algeria).  Bà sống các nhân đức Kitô giáo nổi bật, nhất là chịu đựng sự ngoại tình của người chồng, bà khóc hằng đêm vì thương “cậu ấm” Augustinô, chuyên cần cầu nguyện cho con hoán cải, điều mà chính thánh Augustinô đã viết trong cuốn Tự Thuật (Confession).

Dù bà là một Kitô hữu, cha mẹ vẫn bắt bà sớm kết hôn với một người ngoại giáo tên là Patrixiô, dân thành phố Tagaste, một người chồng có tính nóng như lửa, nghiện rượu, ngoại tình, phóng đãng, luôn khó chịu vì vợ hay làm việc từ thiện và cầu nguyện. 

Thánh Monica có 3 người con: Augustinô là con trai trưởng, Navigius là con trai thứ hai, và Perpetua là con gái út.  Thánh Augustinô bướng bỉnh, lười biếng, và được gởi vào học tại trường Madaurus.  Thánh Monica bị coi là một người vợ hay bị cằn nhằn, là con dâu đau khổ và là người mẹ thất vọng, nhưng bà không đầu hàng trước mọi nghịch cảnh.  Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng cực kỳ khó tính.  Nhưng lời cầu nguyện và gương lành của thánh Monica đã khiến chồng và mẹ chồng trở lại Công giáo.  Patrixiô mất năm 371, sau khi đã được rửa tội một năm, lúc này Augustinô 17 tuổi.  Thánh Monica ở vậy nuôi dạy các con.  Augustinô tiếp tục theo học tại trường Carthage, và tại đây chàng Augustinô bắt đầu ăn chơi trác táng.

Tại Carthage, biết Augustinô theo tà thuyết Manichean (*), thánh Monica đã thẳng thắn đuổi Augustinô đi chỗ khác, không được ăn uống và không được ngủ trong nhà.  Đêm đó, thánh Monica đã có thị kiến lạ là “đứa con trời đánh” sẽ trở lại, thế nên bà giải hòa với con.  Từ đó, bà luôn theo sát con mọi nơi mọi lúc, đêm ngày cầu nguyện và ăn chay vì con.

Rồi bà đã gặp một giám mục thánh thiện là thánh Ambrôsiô, giám mục này khuyên bà và nói tiên tri: “Đứa con của nước mắt sẽ không hư mất. Thánh Monica bí mật theo con đi khắp nơi để tìm cách cứu con ra khỏi vũng lầy tội lỗi.  Tại Manila (Ý), thánh monica đã gặp thánh Ambrôsiô và được chứng kiến con trai Augustinô trở lại sau nhiều năm ròng rã 

Lúc 29 tuổi, Augustinô quyết định đi Rôma để dạy khoa hùng biện.  Thánh Monica cũng quyết định đi theo con.  Một đêm nọ, Augustinô nói với mẹ là sắp đi tạm biệt một người bạn.  Nhưng không, Augustinô lại lên tàu đi Rôma.  Thánh Monica rất đau khổ khi biết con lừa dối mình, nhưng bà vẫn âm thầm đi theo.  Bà vừa đến Rôma thì biết tin con trai “trời đánh” Augustinô đã đi Milan.  Dù việc đi lại khó khăn, thánh Monica vẫn theo con tới Milan và bất cứ nơi nào khác.

Tại Milan, Augustinô chịu ảnh hưởng thánh giám mục Ambrôsiô, đồng thời là linh hướng của thánh Monica.  Bà nghe lời khuyên của thánh Ambrôsiô và khiêm nhường từ bỏ mọi sự.  Thánh Monica trở thành trưởng nhóm của các phụ nữ đạo đức ở Milan cũng như khi bà ở Tagaste.  Bà vẫn tiếp tục cầu nguyện cho Augustinô.

Lễ Phục Sinh năm 387, thánh Ambrôsiô đã rửa tội cho Augustinô và vài người bạn của Augustinô tại Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả ở Milan (Ý quốc).  Ngay sau đó, nhóm của Augustinô đi Phi châu.  Biết mình không còn sống bao lâu nữa, thánh Monica nói với Augustinô: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui.  Mẹ không biết có gì còn lại cho mẹ làm hoặc tại sao mẹ lại vẫn ở đây, mọi hy vọng trên thế gian này mẹ đã được mãn nguyện.  Sau đó bà lâm bệnh, và sau 9 ngày bệnh nặng thì bà qua đời.  Hầu như những gì chúng ta biết về thánh Monica là nhờ các tác phẩm của thánh Augustinô, đặc biệt là cuốn Tự Thuật. 

Thánh Augustinô được rửa tội lúc 33 tuổi, rồi làm linh mục lúc 36 tuổi, và làm giám mục lúc 41 tuổi.  Ngài là một tội nhân trở thành thánh nhân.  Đó là nhờ nước mắt và sự kiên trì cầu nguyện của người mẹ là thánh Monica, sự hướng dẫn của thánh giám mục Ambrôsiô, và nhất là chính Thiên Chúa đã nói với thánh Augustinô qua Kinh thánh để soi dẫn Augustinô từ tình-yêu-cuộc-sống đến cuộc-sống-tình-yêu. 

Trong những năm đầu đời, thánh Augustinô đắm chìm trong kiêu ngạo, hoang đàng và tội lỗi, nhưng ngài đã trở lại và sống thánh thiện, chống lại mọi thủ đoạn của ma quỷ thời đó – suy đồi về chính trị, xã hội và luân lý.  Chính kinh nghiệm “xương máu” của đời mình mà ngài đã để lại cho chúng ta những câu nói bất hủ, chẳng hạn: “Ngài có đó khi ta tưởng mình đơn côi, Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả hững hờ; hoặc:“Hát hay là cầu nguyện hai lần; hoặc:“Chúa dựng nên con thì Ngài không cần đến con, nhưng để cứu độ con thì Ngài cần đến con. 

Thánh Augustinô không thể im lặng, như ngôn sứ Giêrêmia xưa đã phải thú nhận: “Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.  Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt.  Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20:9).

Thánh Augustinô viết về người mẹ của mình: “Trong chiếc rổ đầy trái cây, mẹ tôi biết đem cả một trái tim đầy ắp lời cầu xin thuần khiết tới nhà thờ Các Thánh Tử Đạo, và trao hết cho người nghèo – để việc rước Mình Thánh Chúa được cử hành ở đúng vị trí.  Noi gương Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, các thánh Tử Đạo đã hy sinh và đã nhận triều thiên” (Tự Thuật 6.2.2)

Khi con trai Augustinô trở lại, hai mẹ con sống bên nhau sáu tháng an bình tại Rus Cassiciacum (ngày nay là Cassago Brianza).  Thánh Monica qua đời ở tuổi 55.  Sau khi an nghỉ trong Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa, thánh Monica được an táng tại Ostia, và hầu như chẳng còn ai nhớ đến bà. 

Thế kỷ XIII, lòng sùng kính thánh Monica bắt đầu lan rộng.  Lúc đó, lễ thánh Monica vào ngày 4-5.  Năm 1430, dưới thời Đức Giáo Hoàng Martin V, hài cốt thánh Monica được dời tới Nhà thờ thánh Augustinô ở Rôma, đặt ngay bên phải bàn thờ.  Nhà thờ này do Đức Hồng Y Estouteville của Tổng Giáo Phận Rouen đã cho xây dựng.  Nhiều phép lạ đã xảy ra trong tháng Năm.  Mãi đến thế kỷ XVI, lễ thánh Monica mới được ấn định trong Lịch Phụng Vụ.

Thành phố Santa Monica ở California (Hoa Kỳ) là đặt theo tên thánh Monica.  Tương truyền rằng, hồi thế kỷ XVIII, linh mục Juan Crespí đặt tên cho một dòng suối là Las Lagrimas de Santa Monica (Nước mắt của thánh Monica), ngày nay gọi là Serra Springs, gợi nhớ những giọt nước mắt mà thánh Monica đã nhiều năm ròng rã khóc vì nghịch tử Augustinô.  Tượng thánh Monica được dựng tại Santa Monica’s Palisades Park (Công viên Hàng rào Thánh Monica), tượng do điêu khắc gia Eugene Morahan hoàn tất vào năm 1934.

Lạy Thánh Monica và Thánh Augustinô, xin cầu thay nguyện giúp.  Amen!  

Trầm Thiên Thu 

(*) Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác.  Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

 From: langthangchieutim

Phúc Đức Tại Mẫu

Phúc Đức Tại Mẫu

Ngày còn bé con…, tôi cứ thắc mắc: Tại sao trên đất nước này cái gì cũng mang dấu ấn của sự tôn vinh lại là “người Mẹ…!”

Dòng sông lớn nhất ở phía Bắc đất nước ta quen gọi sông Hồng cũng còn có tên khác là sông Cái…

Con đường nào lớn gọi là “đường cái”. Thứ tiếng ta nói hàng ngày cũng gọi là tiếng “Mẹ đẻ”.

Tổ Quốc thiêng liêng cũng được gọi với giọng tha thiết là “đất Mẹ”.

Trên dải đất nhỏ hẹp mang hình chữ S này, đâu đâu cũng có những đền thờ Mẫu…

Bài học đầu tiên con trẻ được học cũng là từ trường Mẫu giáo và do các cô bảo mẫu truyền dạy…

Đến cái đũa lớn nhất để xới cơm ở quê mình cũng gọi là “đũa cái”, “đũa cả”.

Nhớ Lời Mẹ Dặn

Mẹ không được học chữ, vậy mà khi con học xa nhà, có một lần mẹ đã cố gắng viết cho con mấy dòng ngắn ngủi, nét chữ run rẩy và to như trẻ con học mẫu giáo tập viết. Mẹ viết: “Mẹ ít học hơn con nên mẹ tin con hiểu đời nhiều hơn mẹ. Mẹ chỉ muốn dặn con một điều rằng con đi xa hãy nhớ: “Ăn một miếng của người, con tạc ân vào dạ; Học một chữ ở đời, con xem nặng nhẹ bao nhiêu”.

Lời dặn của mẹ đã làm con khóc. Và con tâm niệm điều đó suốt cả cuộc đời và nó đã trở thành lẽ sống của con…

Hôm con phỏng vấn xin việc vào công ty của Nhật cùng với ba chục người khác. Con không giỏi vi tính và ngoại ngữ như họ, song người được lựa chọn lại là con. Mẹ có biết họ hỏi con câu gì không? Họ hỏi con câu nói nào và của ai gây “ấn tượng” và có tác động mạnh đến cuộc sống của con, con đã nói lại lời mẹ dặn.

Họ bảo: “Vi tính và ngoại ngữ cần, nhưng bạn có thể học trong vài tháng. Chúng tôi cần hợp tác với một người nặng lòng biết ơn và biết chắt lọc trong học hỏi”. Mẹ ơi, chính mẹ đã để phúc đức cho con…!

Tổng hợp các hình ảnh về mẹ cảm động đẹp nhất

Những Lá Thư Cũ

Con và chồng con có xích mích lớn vì con nghi anh ấy vẫn gặp gỡ với người bạn gái cũ. Con bực mình bỏ nhà chồng về khóc lóc với mẹ. Tối ấy mẹ mang từ trong chiếc hòm cũ ra một tập thư đã ố vàng. Đó là những lá thư của người yêu cũ gửi cho bố con trước đây.

Mẹ bảo khi bố quyết định lấy mẹ, bố định đem hết đám thư và ảnh của người yêu cũ ra đốt đi để chứng minh sự “một lòng một dạ với mẹ”. Mẹ đã ngăn lại và bảo: “Thư anh đốt mà lòng anh còn nhớ cũng chẳng ích gì. Hãy cứ để em giữ lại làm kỷ niệm…! Thỉnh thoảng anh đọc lại cũng thấy vui. Dù sao đấy cũng là những kỷ niệm gắn bó với anh một thời, sao lại cạn tàu ráo máng như vậy”. Bố sững sờ và ôm chầm lấy mẹ cảm động lắm. Thỉnh thoảng bố mẹ còn đọc lại những lá thư ấy, nhưng bố cả đời thuỷ chung với mẹ…!

Hôm ấy con đã khóc thật nhiều và con tự tìm về nhà làm lành với chồng. Mẹ nói ít nhưng mẹ dạy nhiều. Chính mẹ đã lấy lại cho con hạnh phúc…!

Hai Vùng Sáng Tối

Tổng hợp các hình ảnh về mẹ cảm động đẹp nhất

Khi em trai con đưa người yêu về ra mắt, con không ưng ý lắm. Mẹ im lặng không nói gì. Sau hôm gặp mẹ cô ấy, mẹ nhận xét: Mẹ cô ấy hiền hậu, phúc đức lắm. Người mẹ như thế chắc chắn cô con gái sẽ là đứa con ngoan, dâu hiền…!

Mẹ đã không lầm. Hôm mẹ chồng tương lai của con sang chơi với mẹ, cụ cũng nhận xét về con y như thế. Hoá ra nhiều người nhìn nết mẹ mà đoán tính cách của con…!

Năm trước con đọc báo thấy có chuyện một cô gái đang tâm đẩy con chồng xuống sông Hồng. Một thời gian sau thấy có bà dì ghẻ bắt con chồng tự khâu miệng mình lại. Con nhận xét rằng phụ nữ nhiều người ác quá. Mẹ lại bảo “phúc đức tại mẫu, những người như thế rồi lại ác giả ác báo thôi”.

Mẹ nói với con rằng những người ác chỉ là số ít, đừng vì thế mà vơ đũa cả nắm. Mẹ chỉ cho con thấy bao nhiêu người mẹ đã hy sinh hết lòng vì con, không ít người phụ nữ đã nhận nuôi hàng mấy chục trẻ mồ côi mặc dù bản thân mình còn khó khăn, vất vả. Trong đời có hai vùng sáng tối, mẹ bảo con nhìn ánh sáng mà đi…!

Bài Học Làm Gương

Tổng hợp các hình ảnh về mẹ cảm động đẹp nhất

Thấy con phàn nàn về sự chểnh mảng học tập của các cháu, mẹ bảo: “Con nhắc các cháu đi học bài, mà vợ chồng con cứ ngồi xem ti vi. Con chê các cháu lười học tiếng Anh mà bản thân con cũng không thông tỏ ngoại ngữ thì dạy bảo chúng nó thế nào…?”

Ngẫm kỹ lời mẹ nói, con đã quyết định đi học lớp tiếng Anh buổi tối cùng cháu. Tối về mẹ con trao đổi bài rôm rả. Đúng như mẹ nói, khi thấy cả bố và mẹ đều miệt mài làm việc, các cháu cũng tự động lấy sách ra làm bài…!

Đến nay chúng con rất yên tâm về việc học hành của các cháu. Sao có mỗi bài học đơn giản rằng “muốn con chăm thì mẹ phải siêng, muốn con hiền thì mẹ phải thảo” mà con không nhớ, phải để mẹ nhắc nhở…!

Tổng hợp các hình ảnh về mẹ cảm động đẹp nhất

Mẹ nghèo không có tiền bạc cho con, nhưng mẹ đã cho con hiểu giá trị của sự tần tảo, lòng bao dung, đức hy sinh. Mẹ không đi học, nhưng mẹ dạy con biết sống đúng mực, trọng ân tình…!

Cuộc đời con lúc nào cũng có mẹ ở bên. Con có cuộc sống hạnh phúc hôm nay là do bàn tay mẹ tạo dựng. Đến bây giờ con đã hiểu rằng công sinh thành dưỡng dục do cả mẹ cả cha chung sức, nhưng không phải vô tình trong nhạc, trong thơ, nơi đâu cũng thấy vang lên những “Huyền Thoại Mẹ”, “Tình mẹ”,“Lòng mẹ”…!

Tổng hợp các hình ảnh về mẹ cảm động đẹp nhất

Nguồn: Đinh Thủy

(Đinh Trực sưu tầm – Tống Viết Minh chuyển)

From: TU-PHUNG

httpv://www.youtube.com/watch?v=390o88jqiCU

Những Bài Hát Cảm Động Về Mẹ | Liên Khúc Nhạc Về Mẹ Hay Nhất Của Thúy Huyền