CHẶNG THỨ 1: Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

CHẶNG THỨ 1: Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

Chúc mọi sự an lành đến bạn và gia đình nhé! Thiên Chúa là tình yêu. (1 Ga 4:8) Ngài không thể lặng thinh trước những nỗi thống khổ của nhân loại, đại dịch chưa hết chiến tranh ập tới. Do đó qua mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa xuống thế làm người, Ngài mang lấy thánh giá, và chia sẻ những đau khổ của bạn. Ngài muốn biến đổi trái tim chai đá của bạn thành một trái tim bằng thịt để bạn biết rung cảm và biết chia sẻ trước sự đau khổ của người khác. Vậy trong những ngày đầu của Mùa Chay thánh này, mời bạn cùng với mình suy niệm 14 Chặng Đàng Thánh Giá mà Con Chúa đã đi qua. Ước mong bạn nhận được ơn hoán cải để trở về nguồn tình yêu bất tận của Thiên Chúa.

Cha Vương

Thư 6: 04/3/2022

CHẶNG THỨ 1: Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

TIN MỪNG: Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp: “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây?” Mọi người đồng thanh: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27:22)

 SUY NIỆM: Nhìn vào xã hội ngày nay chuyện bất công vẫn còn xảy ra dưới nhiều hình thức, người công chính thì bị cầm tù nhạo báng còn kẻ vô luân thì lại huênh hoang hoành hành. 

XÉT MÌNH: Có bao bạn tham gia hoặc cổ võ cho những việc làm bất chính trong môi trường sống của bạn hay không? (Tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động.)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su, vì yêu thương con Chúa đã chấp nhận chịu xét xử và bị kết án tử hình một cách bất công để cho con được sống dồi dào trong tình yêu của Chúa, xin cho con luôn mặc lấy trái tim của Chúa, để con biết rung động và thương xót trước nỗi cơ cực của anh chị em, ngõ hầu con biết đứng về phía sự thật để trở nên chứng nhân của lòng Chúa xót thương. Amen. 

From: Đỗ Dzũng

NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HOÀ: NHÂN BẢN – DÂN TỘC – KHAI PHÓNG

NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HOÀ:

NHÂN BẢN – DÂN TỘC – KHAI PHÓNG

Quyên Di

Bài viết này bổ túc cho bài viết đã được đăng trước: “MÔI TRƯỜNG GIẢNG DẠY CỦA GIÁO CHỨC THỜI VIỆT NAM CỘNG HOÀ.” Nguyên thuỷ, bài này do phóng viên Doan Trang (Hoa Kỳ) phỏng vấn và viết lại những điều tôi trả lời. Ở đây, tôi sửa chữa đôi chút cho đúng với cách nói của tôi. Tôi cũng lược bỏ một số đoạn có ý tưởng trùng lặp với bài “MÔI TRƯỜNG GIẢNG DẠY CỦA GIÁO CHỨC THỜI VIỆT NAM CỘNG HOÀ.”

Bài này cũng đã được đăng lại hay trích đăng ở nhiều nơi. Vị đăng lại bài có tên “THUY TIEN” đã viết trong lời mở đầu:

“Đã có nhiều bài viết nhắc lại về nền giáo dục VNCH nhưng bài viết dưới đây là của một giáo sư đang dạy tại đại học Mỹ và là người từng hưởng thụ được nền giáo dục khai phóng của miền Nam trước 1975. Nhắc lại vài chi tiết về nền giáo dục xưa không chỉ là sự hồi tưởng ký ức mà còn là một chiêm nghiệm để soi rọi thực tại…”

Tôi cám ơn tất cả những vị đã giúp phổ biến bài viết này.

Quyên Di

*

BA YẾU TỐ KIẾN TẠO NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Tôi là người Hà Nội. Gia đình di cư vào Nam năm 1954, lúc đó tôi chừng 6 tuổi. Khi vào Nam ở Sài Gòn, tôi theo học một trường Tiểu học là chi nhánh mới của trường Bàn Cờ, đó là trường “Di Chuyển Bàn Cờ” trên đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu.) Học được hai năm, sau đó tôi được chuyển qua một trường sở mới, là trường Phan Đình Phùng, đối diện với trường Di Chuyển Bàn Cờ.

Từ năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm đã đặt ra tiêu chuẩn rất rõ ràng về nền giáo dục Việt Nam Cộng Hoà. Tôi được hưởng nền giáo dục ấy.

Có ba điểm để định hướng cho nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa (VNCH.) Đó là: Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Điều thứ nhất có nghĩa là học gì thì học, điều đầu tiên là phải là Con Người. Điều thứ hai là Dân Tộc: các triều đại thay thế, tiếp nối nhau cai trị đất nước, rồi cũng tàn thôi. Như triều đại Nhà Lê được yêu mến nhất, vài trăm năm cũng hết. Triều đại, chính quyền thay đổi nhưng dân tộc thì trường tồn (ngay cả khi không còn lãnh thổ nữa.) Điều thứ ba là Khai Phóng, nghĩa là mở rộng ra, tiếp nhận những cái mới, những tư tưởng khác nhau. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc có những tác phẩm hay, như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ… Họ không vào miền Nam, do hoàn cảnh này nọ, nhưng ở miền Nam, chúng tôi vẫn được học những tác phẩm của họ như thường chứ không có gì trở ngại. Những tư tưởng Âu, Á, Mỹ, chúng tôi cũng đều được học.

Hệ thống giáo dục dưới thời VHCH có trường công (chính phủ thành lập) và trường tư (tư nhân thành lập), đều được tôn trọng như nhau. Trường tư do giáo hội Công giáo thành lập được gọi là trường Đạo. Điều này cho thấy dưới chế độ VNCH, các tôn giáo lãnh trách nhiệm khá lớn về mặt giáo dục. Lý do Giáo hội Công giáo thành lập trường là vì dân số ngày càng đông, hệ thống trường công của chính phủ không đủ chỗ cho học sinh. Sau này, cũng có những trường Trung học, Đại học do hệ thống Phật giáo thành lập.

Về các cấp lớp:

* Tiểu học, tính từ thấp nhất đến cao nhất gồm có lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, lớp Nhất. Nếu so sánh bây giờ thì là lớp Một, lớp Hai, lớp Ba, lớp Bốn, lớp Năm.

* Trung học thì có Trung học đệ nhất cấp, gồm Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ; Trung học đệ nhị cấp, gồm có Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất. Đệ Thất là lớp Sáu bây giờ, cứ thế mà tính lên. Đệ Nhất là lớp Mười Hai bây giờ. Ở kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp (cuối lớp Đệ Tứ) còn có thi vấn đáp, thi nhiệm ý. Học sinh đỗ hay không đỗ cũng đều được lên lớp Đệ Tam. Ai đỗ Trung học Đệ Nhất Cấp là được quyền đi dạy học trường tư bậc Tiểu học. Ngay cả đi xin việc làm cũng được, nếu có cái bằng.

Lớp Đệ Tam gọi là “lớp dưỡng lão” bởi vì không có thi cử gì hết. Đệ Tứ, Đệ Nhị và Đệ Nhất thì học xong đều phải đi thi. Học xong lớp Đệ Nhị thi Tú Tài I. Xong lớp Đệ Nhất thi Tú Tài II. Đó là các kỳ thi Toàn Quốc, rất khó. Mỗi nơi có một Hội đồng thi và có một vị là chánh chủ khảo rất nghiêm minh. Thi đỗ Tú Tài I mới được lên lớp Đệ Nhất, tức lớp cuối cùng bậc Trung học, sau đó sẽ thi Tú Tài II. Dù cùng thi đỗ, nhưng thí sinh đỗ làm nhiều bậc: Tối ưu, Ưu, Bình, Bình thứ, và Thứ. Đỗ vớt là có đỗ đấy, nhưng “với sự khoan hồng của ban giám khảo.”

Thi Tú Tài có mấy môn như: Quốc văn, Sử, Toán, Lý Hóa, Sử Địa, Công dân giáo dục, Ngoại ngữ thì được quyền chọn: Anh, Pháp, Cổ ngữ La-tinh (hoặc là Hán văn hay tiếng Phạn.) Hồi ấy bậc Trung học đệ nhị cấp chia làm bốn ban: Ban A (Lý-Hoá và Vạn vật,) Ban B (Toán,) Ban C (Văn chương,) Ban D (Cổ ngữ.) Trong cuộc thi Tú Tài II, môn Quốc văn được thay bằng môn Triết học gồm ba phần: Luận Lý học, Đạo Đức học, và Tâm Lý học. Đến 1974, cuộc thi có môn Quốc văn trở lại.

* Các trường Đại học dưới thời VNCH có Đại học Y Khoa, Dược Khoa, Kiến Trúc, Sư Phạm thì phải thi vào. Đặc biệt nếu học Sư Phạm thì sẽ có phụ cấp, nên hồi đó nhiều người đã ghi danh hay thi vào trường Đại học khác, nhưng thi thêm vào trường Sư Phạm để có phụ cấp và tương lai được làm giáo chức, nếu không chọn những ngành nghề khác. Đương nhiên có những người chỉ học một Đại học là Đại học Sư Phạm thôi.

Vào trường Luật khoa, Khoa học, Văn khoa không phải thi, tất cả sinh viên đều được ghi danh vào học y như nhau. Năm đầu tiên đại học Văn khoa, sinh viên chưa học chuyên ngành. Năm ấy gọi là năm “Dự Bị Văn Khoa,” gồm những môn Triết Đông, Triết Tây, Ngoại ngữ, Văn chương, Quốc văn, Hán văn. Qua đến năm thứ hai mới được chọn chuyên ngành, như Văn Chương Quốc Âm, Văn Chương Việt Hán, Văn Minh Việt Nam, Ngữ Học Việt Nam, Sử Địa… Luật khoa thì không có năm nhất, năm hai, năm ba… mà gọi là Cử nhân một, Cử nhân hai, Cử nhân ba. Chuyện buồn cưởi là có sinh viên thi lên lớp mãi vẫn trượt, trong lý lịch ghi là: “Cử nhân một năm thứ… ba!” Cuối năm thứ tư, thi đỗ thì là Cử nhân Luật. Tốt nghiệp rồi, sinh viên ghi tên học thêm ngành Luật, rồi mới ra Luật sư tập sự.

Hồi đó có viện Đại Học Sài Gòn (Đại học công,) viện Đại học Huế (Đại học công,) viện trưởng là Linh mục Cao Văn Luận; viện Đại học Đà Lạt (Đại học Công giáo) nhưng được chính quyền công nhận bằng cấp ngang với các đại học khác, viện trưởng là Linh mục Nguyễn Văn Lập, sau đó là Linh mục Lê Văn Lý; viện Đại học Vạn Hạnh (Đại học Phật giáo) ở Sài Gòn, viện trưởng là Thượng toạ Thích Minh Châu; viện Đại học Cần Thơ; viện Đại học Minh Đức có một chút hướng về Phương Đông (Y khoa.) Đại học Minh Đức nổi tiếng có ban Kinh Thương (Kinh Tế – Thương Mại.)

Để trở thành Cô giáo, Thầy giáo thì phải tốt nghiệp trường Sư Phạm. Đó là với trường công, còn ở trường tư thì không cần qua trường Sư Phạm, miễn có bằng cấp về chuyên môn, được Bộ Quốc gia Giáo dục và Nha Tư Thục cho phép dạy từng bậc, và được nhà trường tín nhiệm. Thầy, Cô dạy học ở bậc tiểu học được gọi là Giáo viên, dạy bậc Trung học được gọi là Giáo sư Trung học, dạy bậc Đại học là Giáo sư hoặc Giảng sư Đại học.

Trước 1975, muốn học trường công thì hơi khó, phải giỏi mới vào được, vì có thi tuyển. Ở cấp Tiểu học thì không cần thi tuyển, dù nhà ở xa hay gần trường đều được vào học, không cần theo học khu. Nhưng sau khi học xong Tiểu học, học sinh phải qua cuộc thi tuyển để vào trường công bậc Trung học. Những môn thi gồm có: Toán, Quốc văn, Địa lý, Lịch sử và một vài môn nữa được tự chọn để lấy thêm điểm, như Nữ Công Gia Chánh, Hát, Vẽ….

Sau khi xong bậc Tiểu học, tôi thi vào trường công để học Trung học, nhưng thi hai lần không đỗ, nên bố mẹ gửi vào trường Đạo. Đó là trường Nguyễn Bá Tòng. Nguyễn Bá Tòng là tên của giáo sĩ Việt Nam đầu tiên được phong chức Giám mục. Sau 1975, trường Nguyễn Bá Tòng được đổi tên là trường cấp ba Bùi Thị Xuân, toạ lạc tại quận Nhất, Sài Gòn (thời chúng tôi là quận Nhì.)

Lên Đại học, tôi học chuyên ngành Ngữ học Việt Nam, nhưng năm cuối vào vấn đáp phải đến lần thứ hai mới đỗ. Giáo sư đánh trượt tôi là Linh mục Lê Văn Lý – người đầu tiên trình luận án về Ngữ học Việt Nam ở Đại học Sorbonne, Pháp. Dù rất thân thiết với gia đình tôi, ngài vẫn không nương tay cho tôi. Bên Đại học Văn khoa có các Giáo sư Lê Trung Nhiên, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Khắc Hoạch (là ba vị khoa trưởng tôi còn nhớ tên.) Tôi còn được học với những Giáo sư Nguyễn Duy Cần (Triết Đông,) Nguyễn Văn Trung (Triết Tây,) Thanh Lãng, Nghiêm Toản, Vũ Khắc Khoan, Đông Hồ Lâm Tấn Phác (Văn Chương Quốc Âm,) Lê Văn Lý và Lê Ngọc Trụ (Ngữ học Việt Nam), Bửu Cầm (Văn Minh Việt Nam) v.v…

Thầy Đông Hồ gục chết ngay trong lớp học. Tôi được đại diện sinh viên Văn Khoa, đọc văn tế trước khi hạ huyệt Thầy, trong đó có câu:

“Thầy nằm xuống giữa lòng lớp học,

Cho chúng con tiếng khóc nghẹn ngào.”

Còn bên Đại học Luật khoa có những Giáo sư nổi tiếng như Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân, Vũ Quốc Thúc…, đều là những Giáo sư giỏi nhưng chấm điểm rất gắt. Chúng tôi gọi vụng các Giáo sư đó là những “máy chém”: “máy chém Vũ Văn Mẫu,” “máy chém Lê Đình Chân,” “máy chém Vũ Quốc Thúc.” Gọi vụng các Thầy như vậy, nhưng chúng tôi rất kính trọng các Thầy.

Hồi đó, không phải dễ mà có bằng Tú tài I và Tú tài II, mà phải đậu Tú Tài II mới được ghi danh Đại học. Nhiều khi giáo sư ở Sài Gòn được gửi về miền Trung làm chánh chủ khảo để có sự thanh liêm, không thể hối lộ. Nói vậy, chứ không thể nào có sự thanh liêm tuyệt đối, vẫn có người tìm cách hối lộ này nọ, nhưng hiếm lắm. Mà nếu bị khám phá thì xấu hổ vô cùng.

Tôi tốt nghiệp năm Cử nhân 1970; khi còn dở dang, chưa hoàn tất bậc Cao học thì được mời lên làm phụ tá giám đốc ban Tu Thư Viện Đại học Đà Lạt (lo về sách giáo khoa và chương trình học) và vẫn tiếp tục dạy thêm ở bậc Trung học đệ nhị cấp. Năm 1974, tôi được đề cử dạy môn Quốc văn lớp Mười Hai, vì năm đó Bộ Quốc Gia Giáo Dục quyết định đưa môn Quốc văn lên dạy trên lớp Mười Hai, bên cạnh môn Triết học, và đó cũng là năm duy nhất cho thi Tú Tài lối trắc nghiệm, A, B, C khoanh…

*

Một chút ký ức được ghi lại. Mong rằng bài viết này góp thêm phần vào những bài viết giá trị của các tác giả khác, đã ghi lại rất chi tiết về nền giáo dục Nhân Bản – Dân Tộc – Khai Phóng thời Việt Nam Cộng Hoà.

(*) Tôi chỉ chụp hai tấm hình: bìa sách Văn học của Giáo sư Thanh Lãng và bài thực tập của tôi. Các hình khác, tôi mượn trên “internet.”

Nga đánh Ukraïna và phản ứng của các đảng Cộng sản không cầm quyền

Nga đánh Ukraïna và phản ứng của các đảng Cộng sản không cầm quyền

Bởi  AdminTD

 Đỗ Hùng

3-3-2022

Cuộc bỏ phiếu ở Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã cho thấy, phe chống Nga áp đảo phe thân Nga.

Có một phe lừng khừng ở giữa. Việt Nam chọn về phe e ấp bẽn lẽn này:

“Em bé nhỏ mong manh nên em yêu màu trắng

Anh đừng hỏi rằng em ‘yes’ hay ‘no’

Cứ hỏi hoài em hổng nói đâu

Em bé nhỏ mong manh chỉ biết yêu màu trắng”.

Như vậy, có thể thấy các nước có đảng cộng sản hoặc “đảng anh em” lãnh đạo (Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Cuba) đều hoặc ở phe Nga (Triều Tiên) hoặc ở phe “hổng nói đâu” (mấy nước còn lại).

Thế còn các đảng cộng sản không cầm quyền thì có lập trường thế nào?

Mình kiếm một hồi bèn ra một vài kết quả thú vị, lưu lại đây làm tư liệu.

Có một số phản ứng cơ bản sau:

  1. LÊN ÁN NGA KỊCH LIỆT:

ĐẢNG CỘNG SẢN NHẬT BẢN:

Đảng Cộng sản Nhật Bản có lẽ là đảng cộng sản lên án Nga mạnh mẽ nhất. Trong các ngày 12.2, 22.2 và 24.2, Chủ tịch Đảng, ông Shii Kazuo, đã ba lần lên án các hành động của Nga.

Ngày 12.2, dựa trên thông tin “Nga đưa 100.000 quân tới sát biên giới Ukraïna và tiến hành các hoạt động quân sự ở Belarus”, ông Shii Kazuo lên tiếng: “Nga cần chấm dứt các đe dọa quân sự” và “cộng đồng quốc tế cần theo đuổi giải pháp ngoại giao.” Ông cũng kêu gọi chính phủ Nhật Bản tham gia vào các nỗ lực quốc tế để giảm căng thẳng.

Trong tuyên bố ngày 24.2, khi Nga đơn phương công nhận độc lập đối với hai vùng ly khai miền Đông Ukraïna và tấn công Ukraïna, ông Shii Kazuo tuyên bố: “Đảng Cộng sản Nhật Bản cực lực phản đối hành động này” và coi đó là hành động hiếu chiến “xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraïna, vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế”.

Đảng Cộng sản Nhật Bản yêu cầu Nga chấm dứt các chiến dịch quân sự và rút quân về nước.

  1. LÊN ÁN NGA, KÊU NGA NGƯNG ĐI, CHỬI NATO, NHÂN TIỆN CHỬI CHÍNH PHỦ NƯỚC MÌNH:

ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁP:

Đảng Cộng sản Pháp trong tuyên bố ngày 24.2 lên án quyết định của Tổng thống Nga Putin về việc mở chiến dịch quân sự tại Ukraïna. Theo đảng này, Putin phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến.

Đảng Cộng sản Pháp cũng cho rằng Putin đang ngày một chìm sâu vào chủ nghĩa cực đoan, coi thường các cơ quan đa phương và luật pháp quốc tế.

Nhân tiện đảng này cũng chửi NATO.

ĐẢNG CỘNG SẢN ÚC:

Đảng Cộng sản Úc (ACP) đanh thép: “APC lên án cuộc tấn công do các lực lượng của Liên bang Nga thực hiện nhằm vào Ukraïna. Thế giới sửng sốt trước hành động bất chấp của phía chính quyền Putin và sự tổn thất nhân mạng cũng như những khổ đau của những người bị cuộc xung đột này tác động.”

“Ukraïna là quốc gia độc lập có thể chọn giao thương và kết đồng minh với bất kỳ ai mà họ muốn.” (Nhưng ý này là nhằm bôi trơn cho ý kế tiếp, chửi NATO).

APC, bên cạnh chửi Nga, có vẻ cũng không vui với việc chính phủ Ukraïna kết thân với phương Tây, cấm thành lập đảng cộng sản.

APC cho rằng chính quyền Ukraïna đã “chọn về phe với khối hiếu chiến và đế quốc mạnh nhất”. “Tất nhiên, Liên bang Nga có các nỗi lo chính đáng rằng điều này sẽ dẫn đến sự hiện diện của các lực lượng đối thủ và vũ khí hạt nhân gần biên giới để chuẩn bị cho một cuộc chiến về ảnh hưởng và nguồn lực.”

Tóm lại, APC lên án chính phủ Nga mạnh mẽ, chửi xéo chính phủ Ukraïna thân với đế quốc tư bản cũng như o bế bè lũ tân phát xít; nhân tiện chửi thêm Mỹ và các nước phương Tây về nhiều thứ, trong đó có việc tấn công Iraq năm 2003; rồi đá xéo chính phủ Úc.

“Công nhân Úc phải đấu tranh để lôi đất nước ra khỏi mối liên minh với Hoa Kỳ như một phần của cuộc đấu tranh tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa,” tuyên bố viết.

ĐẢNG CỘNG SẢN (MARXIST-LENINIST) GIẢI PHÓNG (ẤN ĐỘ)

Ở Ấn Độ có khoảng chục cái đảng cộng sản, đảng thì theo Marx, đảng theo Mao, đảng theo Lenin, đảng thì theo thập cẩm.

Có đảng cộng sản (nhỏ) này là chửi Nga mãnh liệt.

Tuyên bố của Đảng Cộng sản (Marxist-Leninist) Giải phóng (CPIML) có các điểm sau:

  1. Sát cánh cùng Ukraïna;
  2. Nga phải ngưng hành động quân sự hung hãn xâm phạm lãnh thổ Ukraïna ngay lập tức không nói nhiều;
  3. Ấn Độ cần đóng vai trò chủ động để ngăn chặn Nga xâm hại Ukraïna cũng như sự huy động quân sự của NATO;
  4. Quan ngại về sự can thiệp của Mỹ và NATO;
  5. Bằng cách tuyên bố ủng hộ độc lập hai thực thể ở miền Đông Ukraïna, Putin đã xóa bỏ di sản của Lenin về quyền dân tộc tự quyết và việc quân Nga tấn công Ukraïna không thể được coi là “gìn giữ hòa bình”.

Prasun Chaudhuri, Lãnh tụ Dipankar Bhattacharya của CPIML, đảng cộng sản lên tiếng gắt nhất trong số các đảng cộng sản ở Ấn Độ. Ảnh trên mạng

  1. QUAN NGẠI, CHỬI NATO, KHÔNG LÊN ÁN NGA:

Có một nhóm đảng cộng sản có quan điểm khá tương đồng nhau: quan ngại về chiến tranh, kêu chấm dứt chiến tranh, lên án việc NATO mở rộng đe dọa an ninh Nga; không lên án Nga.

Nhóm này gồm Đảng Cộng sản Ấn Độ (Marxist) và Đảng Cộng sản Ấn Độ (CPI, là đảng cộng sản lâu đời nhất ở Ấn Độ).

Có thể xếp Đảng Cộng sản Canada vào nhóm này. Bên cạnh kêu gọi chấm dứt chiến tranh, chửi NATO thì đảng này còn nhân tiện chửi chính phủ Canada đã chõ mũi vào làm chiến tranh nổ ra tại châu Âu.

Putin trong cơn tuyệt vọng

Putin trong cơn tuyệt vọng

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Đức Thành

28-2-2022

Một điều hy hữu trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, là chưa đầy một tuần, hay có lẽ chính xác hơn là chưa đầy 100 giờ đồng hồ, cuộc chiến do một cường quốc quân sự (tôi xin không gọi là Nga là siêu cường quân sự nữa) phát động với một nước láng giềng nhỏ bé hơn nhiều lần, đã thấy được kết cục thảm bại nghiêng về phía quân xâm lăng.

Tôi có thể khẳng định việc chiến thắng là không thể, khi Nga đã mất toàn bộ quán tính và động năng cho cuộc chiến. Trong khi đó, toàn bộ phần phía Tây của Ukraine vẫn hoàn toàn tự do. Và đây là phần trực tiếp kết nối với lãnh thổ các nước láng giềng thân thiện. Họ đã mở toan biên giới để người tỵ nạn Ukraine di chuyển sang như không hề có đường biên giới. Đồng thời, theo chiều ngược lại, vũ khí của các nước NATO và Mỹ đi qua biên giới để vào Ukraine, với số lượng sẽ không còn giới hạn nào nữa. Điều này cho thấy hai đặc điểm quan trọng lúc này của cuộc chiến:

  1. Ukraine có một hậu phương coi như vô hạn về phía Tây, trong khi đó, phía Đông chỉ đóng vai trò như mặt trận, mà quân Nga còn chưa làm chủ được.
  2. Ukraine giờ đây không khác gì một nước quasi-NATO rồi. Tức là một nửa đã là NATO. Chỉ có người lính là người Ukraine (những người thiện chiến nhất Châu Âu), còn toàn bộ khí tài và nguồn lực cho cuộc chiến đã đồng nhất với NATO, chưa kể tới toàn bộ thế giới văn minh.

Với lý do này, Nga sẽ không còn cơ hội chiến thắng. Cứ thêm một ngày giao tranh, với chiến thuật như hiện nay, Nga sẽ mất thêm khoảng 1.000 quân và vô số khí tài quân sự. Đây là thiệt hại mà không một cường quốc hay siêu cường nào có thể chấp nhận được quá một tuần liên tục. Mà nếu chấp nhận được thì đó là sự lựa chọn hoàn toàn mất lý trí. Mà kẻ mất lý trí thì làm sao có cơ hội chiến thắng một đối thủ có lý trí?

Vấn đề của Putin bây giờ là làm sao rút được quân khỏi Ukraine, và làm sao GIẢM THIỂU thiệt hại về người và của mà thôi.

Trong cơn tuyệt vọng, Putin ra lệnh chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Đó thực sự là mất lý trí. Thứ nhất, cuộc chiến của Putin phát động tưng bừng ban đầu là với lý do lật đổ chính quyền “không được lòng dân”. Thế thì nhẽ ra nhân dân phải đồng lòng với Putin để lật đổ chính quyền. Cớ gì bây giờ lại phải dùng bom nguyên tử, để thảm sát nhân dân mà chưa chắc đã tiêu diệt được chính quyền đó.

Thứ hai, vũ khí hạt nhân theo quy định quốc tế là chỉ dùng để tự vệ, chứ không phải dùng để tấn công. Giả sử Putin có ngông cuồng phá vỡ quy ước này – ừ thì cũng không sao nếu muốn – thì phải đem sử dụng với những cường quốc hoặc siêu cường đối chọi chứ. Ai lại bây giờ cuồng loạn đem sử dụng với một nước nhỏ, hết sức gần gũi về lịch sử, mà lại đang được Putin “giải phóng” theo đúng như lời Putin nói.

Thôi thì nói một đằng làm một nẻo, vứt các cam kết quá khứ vào sọt rác, lừa dối nhân dân, vi phạm luật pháp quốc tế v.v… là chuyện mà chính trị gia khát máu hay cuồng điên với cuồng lực nào cũng có thể làm. Nhưng làm một cách không còn lý trí, tức là bản thân mình đã tự mất kiểm soát về ý thức, thì cá nhân ấy làm sao còn tồn tại được nữa? Nói gì đến đánh giá đúng hay sai, đạo đức hay vô đạo đức.

Thêm một lựa chọn mang tính tuyệt vọng nữa, là Putin muốn lôi kéo Belarus vào cuộc chiến với Ukraine. Một nước Nga hùng hậu về dân số và quân sự đến như vậy, và nước Belarus thì cho đến giờ có khác gì một tỉnh của Nga đâu, bảo gì nghe nấy, thì giờ đây muốn họ tuyên chiến với Ukraine thì được ích gì trên chiến trường? Có thay đổi được gì đâu nếu trên thực tế Belarus vẫn là một lãnh thổ mà Putin tùy nghi sử dụng cho các hoạt động quân sự của ông ta?

Lợi ích như vậy không khác là bao. Nhưng chi phí thì lại to lớn vô cùng. Đơn giản là nếu Tổng thống Lukashenko của Belarus, cái anh chàng to béo làm con bù nhìn cho Putin, đồng ý tuyên chiến với Ukraine, chính người dân Belarus có thể phẫn nộ mất hết giới hạn mà lật đổ ông ta. Vì bản chất ở cấp độ nhân dân, người dân Belarus, người Ukraine, người Nga, đều hòa bình, thân thiện, yêu quý nhau từ bao đời nay. Giờ đây lại đẩy họ đến đường tiêu diệt nhau, thì làm sao họ nhẫn nhịn mãi được.

Với kịch bản này, Putin có thể gặp rủi ro là mất luôn cả Belarus. Như những gì đã diễn ra vào năm 2014 ở Ukraine, khi vị tổng thống thân Nga bị người dân lật đổ (và xây dựng đất nước Ukraine mới cho tới hôm nay).

Một tính toán mà lợi ích không thêm được bao nhiêu, mà chi phí thì tăng lên đáng kể, thì không nên thực hiện. Nhưng vẫn cố thực hiện, thì không còn lý trí nữa.

Tóm lại, mọi hành động của Putin sau chưa đầy 100 giờ đồng hồ phát động cuộc chiến, cho thấy ông đã hoàn toàn tuyệt vọng và mất lý trí.

Bi kịch của những nhà độc tài hoặc bạo chúa là như vậy. Trong suốt lịch sử loài người từ khi có sử, từ Đông sang Tây, Nam chí Bắc, là tên bạo chúa đều chết một mình, vì chính sai lầm của mình. Lý do đơn giản là những người có thể nói chuyện được với họ về lý trí, luận bàn những việc đúng sai, để giúp cho tên bạo chúa một chút gì đó tốt đẹp hơn, đều đã bị hắn giết chết rồi.

Các nước dân chủ không bao giờ đánh nhau?

Các nước dân chủ không bao giờ đánh nhau? 

Luật Khoa

Tìm hiểu mối quan hệ giữa dân chủ, hòa bình và chiến tranh.

On 01/03/2022

By  VINCENTE NGUYEN

Ảnh nền: Lính Ukraine sau một đợt tấn công của lực lượng Nga tại Kyiv vào ngày 26/2/2022. Nguồn: AFP. Bìa sách: Amazon.

“Học thuyết hòa bình dân chủ” (democratic peace theory) là một trong những học thuyết quan trọng và được đánh giá cao nhất trong hệ thống nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại.

Không hề quá lời nếu cho rằng thuyết hòa bình dân chủ là thứ gần nhất mà khoa học chính trị có thể tạo ra để tiệm cận với cái gọi là “luật” trong việc tìm hiểu nguyên tắc, định hướng và tương lai của chiến tranh trên thế giới.

Thuyết hòa bình dân chủ không phải là một học thuyết khó hiểu, tuy nhiên, nó có rất nhiều biến thể nhánh và quan điểm học thuật khác nhau. [1] Cái gốc quan trọng nhất của học thuyết này là việc khẳng định các nền dân chủ sẽ không tham gia vào các cuộc chiến tranh chống lại nhau.

Lý do quan trọng nhất là các thiết chế dân chủ – bao gồm bầu cử cạnh tranh, đa nguyên chính trị và tự do ngôn luận – đảm bảo rằng các lãnh đạo được bầu lên sẽ theo ý của đa số dân chúng. Và vì chiến tranh ảnh hưởng tiêu cực đến phần lớn người dân, những lãnh đạo nào khơi mào chiến tranh sẽ dễ dàng bị người dân phế bỏ quyền lực qua phiếu bầu.

 

Người dân Đài Loan bỏ phiếu trong cuộc bầu cử vào tháng 1/2020. Ảnh: How Hwee Young/ EPA-EFE/ Shutterstock.

Tuy nhiên, liệu dân chủ có giúp các quốc gia này hạn chế tham chiến chống lại những quốc gia “không dân chủ”, bao gồm cả những quốc gia dân chủ phi cấp tiến (non-liberal democracy) và hoàn toàn không dân chủ (non-democratic)?

Trong bối cảnh Nga xâm lược Ukraine, nhiều nhà quan sát đã cho rằng đây là một ví dụ khá kinh điển của thuyết hòa bình dân chủ khi mà Nga, một nhà nước đang dần đi đến con đường toàn trị, đã không thể chia sẻ hay trao đổi mong muốn chính trị của mình một cách bình thường với nền dân chủ Ukraine và các nền dân chủ châu Âu.

Liệu thuyết hòa bình dân chủ có thật sự là một học thuyết khả dụng?

Để cùng tìm hiểu, người viết xin giới thiệu đến bạn đọc quyển sách có tên gọi “Puzzles of the Democratic Peace: Theory, Geopolitics and the Transformation of World Politics” của Karen A. Rasler và William R. Thompson, hai giáo sư chính trị trường Đại học Indiana, Hoa Kỳ. [2]

Đây là quyển sách cô đọng với tương đối đầy đủ thông tin, cả ủng hộ lẫn thách thức thuyết hòa bình dân chủ, để chúng ta có thể có một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề này.

Dân chủ và hòa bình: trứng và gà cái nào có trước?

Vấn đề đầu tiên mà quyển sách đặt ra là liệu chúng ta có tiếp cận sai về mối liên hệ nhân quả giữa các nền dân chủ và hòa bình hay không. Bởi một khả năng khác là việc duy trì nền hòa bình giữa các quốc gia mới chính là yếu tố tạo điều kiện cho quá trình phát triển và thực hành dân chủ.

Hai tác giả gọi đây là “peace ↔ democratic dyads” (tạm dịch là nhị nguyên hòa bình và dân chủ) trong các thảo luận chính trị liên quan, và sẽ rất dễ rơi vào vòng luẩn quẩn ngụy biện nếu chúng ta không có nền tảng lịch sử và phương pháp luận vững chắc.

Các tác giả dẫn ra nhiều nghiên cứu định lượng lẫn định tính nhằm xác định sự thật của mối quan hệ nhị nguyên giữa hòa bình và dân chủ với các nhóm kết quả khó lòng xác định rõ khác.

Ví dụ, nhóm tác giả đồng tình với nhiều nghiên cứu rằng sự thắng thế của mô hình dân chủ trên toàn thế giới trước tiên là nhờ vào chiến tranh, mà cụ thể nhất là kết quả của hai cuộc thế chiến. Theo đó, liên minh của các nền dân chủ đánh bại liên minh của các chính thể chuyên chế và từ đó tạo nền tảng cho sự lan tỏa của mô hình dân chủ. Họ giả định, nếu liên minh dân chủ thất thủ, tầm ảnh hưởng của định chế dân chủ trên thế giới chắc chắn sẽ suy giảm trầm trọng.

Như vậy, xét theo bình diện lịch sử, chiến tranh thật ra lại tạo ra động lực cho làn sóng dân chủ.

Lính Mỹ cắm cờ tại Iwo Jima trong trận chiến với quân Nhật vào tháng 2/1945 trong Thế chiến II. Ảnh: AP Photo/ Joe Rosenthal.

Tương tự, nhóm tác giả cũng nhìn nhận rằng có nhiều nghiên cứu tìm ra được những biến/ tiêu chí khác có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu chiến tranh của các quốc gia, và hòa bình hay không không nhất thiết chỉ phụ thuộc vào biến “dân chủ”. Các tiêu chí này bao gồm: nguồn nội lực và tài nguyên trong nước (domestic resources), vị trí địa lý và áp lực lãnh thổ từ bên ngoài (external threats), cán cân quyền lực cũng như truyền thống tập trung quyền lực của một quốc gia (traditional power concentration), v.v.

Với những thông tin tổng hợp này, hai tác giả tự tìm kiếm mô hình riêng của mình để xác định tầm ảnh hưởng thực tế của dân chủ đối với hòa bình và đưa ra được một mô hình tương đối hoàn chỉnh. Theo đó, các thứ tự ưu tiên để xây dựng một nền hòa bình chung là:

  1. Các mối nguy hại khu vực thấp (low external threat) => 
  2. Lượng tài nguyên nội địa không cao (low domestic resource) => 
  3. Lịch sử tập trung quyền lực chính trị nội địa không cao (low power concentration) => 
  4. Dân chủ hóa thành công (democratisation) => 
  5. Giảm trừ các hành vi gây hấn (less conflict behavior).

Hai nhà nghiên cứu từ đó khẳng định, thuyết hòa bình dân chủ về cơ bản là không sai. Quá trình dân chủ hóa có mối quan hệ đặc biệt quan trọng với xu hướng giảm thiểu các hành vi gây hấn, chiến tranh.

Tuy nhiên, họ cũng cho thấy là còn rất nhiều biến khác trước đó ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến khả năng dân chủ hình thành, bao gồm các áp lực an ninh từ bên ngoài hay tài nguyên nội địa (tài nguyên nội địa quá cao thường khó xây dựng chính quyền dân chủ).

Cách tiếp cận nhị nguyên vì vậy được cho là có vấn đề. Song rõ ràng có tồn tại sự kết nối hữu cơ giữa dân chủ và hòa bình.

Mô hình nhà nước trong bối cảnh xung đột?

Đi xa hơn những quan sát về mối liên hệ giữa dân chủ và hòa bình, hai tác giả còn tìm cách cân đo đong đếm xem liệu các mô hình chính thể khác nhau (giữa hai thái cực dân chủ và không dân chủ) có phản ứng gì khác biệt dưới áp lực xung đột hay không.

Tiếp cận với nội dung này bằng nghiên cứu định tính và nghiên cứu vụ việc thay vì định lượng, hai tác giả đưa ra những thảo luận hết sức có ý nghĩa để cân nhắc vai trò của thiết chế dân chủ và cách mà nó gây ảnh hưởng lên phương thức mà những nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định liên quan đến chiến tranh.

Các thảo luận dẫn đến kết luận tương đối giống với phần mà chúng ta vừa phân tích ở trên, khi mà những vấn đề như áp lực quốc tế, định chế bộ máy nhà nước có hiệu quả không và công luận có những phản ứng như thế nào, v.v. đều có tác động ảnh hưởng.

Những biến này có thể rất khác nhau ngay giữa những nền dân chủ, bởi mỗi nền dân chủ tự thân nó cũng có đặc điểm lịch sử, định chế nhà nước hoàn toàn khác biệt. Yếu tố dân chủ vì vậy được xem là quá chung chung để tìm ra một kết quả đúng trong mối quan hệ nhị nguyên dân chủ – hòa bình.

Tuy nhiên, theo các tác giả, điều này cũng có thể giúp khẳng định vai trò của một nền dân chủ mạnh trong việc kiểm soát ngôn ngữ hiếu chiến và các chiến dịch tuyên truyền chiến tranh trong nội bộ các quốc gia.

*** 

Các thảo luận chất lượng, bao hàm cả định tính lẫn định lượng, giúp cho độc giả của quyển sách có một tầm nhìn bao quát hơn về thuyết hòa bình dân chủ.

Chúng ta hiểu rằng dân chủ và hòa bình chỉ là hai biến rất nhỏ trong rất nhiều những biến khác cần phải cân nhắc để có thể đưa ra nhận định phù hợp. Bản thân các nền dân chủ cũng không nhất thiết phải tương đồng với nhau về trình độ, định chế chính trị hay quan điểm dân tộc chủ nghĩa của các nhóm dân cư.

Cách tiếp cận của quyển sách cũng giúp chúng ta có những quan sát khoa học và kỹ lưỡng hơn về cuộc xâm lược mà Nga đang phát động trước Ukraine.

Ngày 24/2/2022, Nga tấn công xâm lược Ukraine. Ảnh: The Times.

Ví dụ, việc nền kinh tế Nga tiếp tục dựa dẫm vào tài nguyên và lịch sử tập quyền từ thời Sa Hoàng cho đến nay khiến Nga gặp nhiều trở ngại trong việc xây dựng một nền dân chủ lành mạnh.

Mặt khác, dù người dân Ukraine liên tục cố gắng xây dựng nền dân chủ đúng nghĩa, những rủi ro an ninh đến từ việc sống cạnh Nga luôn sản sinh ra những nhóm chuyên quyền, cực đoan (mà cụ thể các nhóm cực hữu dân tộc chủ nghĩa) để đối phó với mối lo kề cận.

Tuy không phải là một quyển sách dễ đọc, người viết cho rằng đây là một tài liệu khách quan và đầy đủ về thuyết hòa bình dân chủ và những vấn đề của nó.

Thánh Katarina Drexel, người Mỹ (1858-1955)

Thánh Katarina Drexel, người Mỹ (1858-1955)

Chúc Bạn Mùa Chay Thánh tràn đầy ân sủng của Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 03/03/2022

        Hôm nay ngày 3/3 Giáo hội mừng kính Thánh Katarina Drexel, người Mỹ (1858-1955) Là người phụ nữ con nhà giầu: Katarina Drexel sinh tại Philadelphia năm 1858. Thuộc một gia đình giàu có bậc nhất Mỹ châu. Cha cô là một chủ ngân hàng, gốc người Công giáo nước Austria. Nhà có đường xe lửa riêng. Drexel mồ côi  mẹ khi mới chào đời được năm ngày. Năm sau cha cô đã tái giá, kết hôn với một người Công giáo đạo đức, Emma Bouvier. Người mẹ kế này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đời sống đạo đức trên Drexel. Cô được giáo dục tốt đẹp, và được đi du lịch nhiều nơi trên thế giới.

            Là một thiếu nữ con nhà giàu, Cô có một tương lai thật vững chãi, nhưng sau khi săn sóc người mẹ kế, bị bệnh ung thư trong ba năm, cô nhận thấy tiền bạc cũng không tránh khỏi đau khổ và chết chóc, nên cô đã hướng cuộc đời theo một đường khác.

            Khi ông Frances Drexel qua đời đã để lại một gia tài lớn lao khoảng 14 triệu đô la thời bây giờ. Ðược nuôi dưỡng với tinh thần bác ái Công giáo, các chị em cô nghĩ đây là một cơ may dùng gia tài để làm sáng danh Chúa và giúp đỡ những kẻ thiếu may mắn.

            Sau khi đọc tác phẩm “Một thế kỷ ô nhục” (A Century of Dishonor) của Helen Hunt Jackson, Bà cảm thấy những bất công của xã hội thời bây giờ đối với dân da màu nên Bà quyết tâm giúp đỡ họ. Trong một cuộc viếng thăm  Âu châu, Bà được triều kiến Ðức Giáo Hoàng Leo 13, và Bà đã xin ngài gửi nhiều nhà truyền giáo đến bang Wyoming giúp Ðức Giám mục James O’Connor bạn thân của Bà. Ðức Thánh Cha đã trả lời: “Sao con không là một nhà truyền giáo?” Câu trả lời đã đánh động tâm hồn Bà. San sẽ tiền của với tha nhân chưa đủ, theo Chúa là hiến dâng tất cả.

            Lúc trở về, Bà đến Dakota, gặp Red Cloud, tù trưởng Bộ lạc Sioux, Bà bắt đầu công việc truyền giáo và tích cực giúp đỡ người Da Ðỏ. Năm 1889, Bà đã thổ lộ cùng Ðức Cha O’Connor, “ngày lễ thánh Giuse đã mang lại cho con ân sủng lạ lùng là hiến dâng đời con cho Chúa để làm công việc truyền giáo giúp người Da Ðỏ và Da Màu. Bà đã cùng một số phụ nữ lập Dòng Nữ Tu Thánh Thể (Sisters of the Blessed Sacrament).

            Năm 1891 bà khấn như là sơ đầu tiên của dòng này. Dòng có mục đích rao giảng Phúc âm và Thánh Thể cho người da đỏ và người da đen. Bà lấy ngôi nhà cũ ở Pensylvania làm nhà đầu tiên cho dòng mới.

            Lập Dòng và hoạt động bằng tiền túi:  Sau 3 năm rưỡi, các bà xuống Santa Fe, bang New Mexico mở trường nội trú đầu tiên. Bà chi 12 triệu đôla tiền riêng của bà vào việc truyền giáo của dòng.  Bà đã lập 50 nhà truyền giáo cho người da đỏ trong 16 tiểu bang, và 40 trung tâm truyền giáo và 25 trường miền quê cho người da đen.

            Bà chống nạn kỳ thị màu da và bất công xã hội, kêu gọi giáo hội và nhà nước quan tâm đến người nghèo. Kì thị chủng tộc đã làm trở ngại công việc của Bà, ở tiểu bang Pensylvania có vài ngôi trường của Dòng Bà đã bị đốt cháy.

            Thánh Cabrini khuyên Bà nên xin Tòa Thánh phê chuẩn Luật Dòng và thánh nhân đã được toại nguyện. Công việc tốt đẹp hơn hết là thành lập Trường Ðại học Xavier ở bang New Orleans, đó là Ðại Học đầu tiên ở Hoa Kỳ dành cho người Da Ðen.

            20 năm đau bệnh: Ðến 77 tuổi sau một cơn đau tim Bà đã phải hưu trí. Bên ngoài thì hình như thánh Katharine đang hưu dưỡng, nhưng trong 20 năm ngồi trên xe lăn trong một phòng nhỏ hướng về nhà nguyện có trưng bày Thánh Thể, Bà không ngớt cầu nguyện.

            Những lời cầu nguyện cũng như những suy ngẫm của thánh nhân được ghi lại trên những mẫu giấy nhỏ. Cha Augustus Tolton, một linh mục da đen duy nhất thời bây giờ đã viết như sau: “Trong lịch sử Giáo Hội Hoa kỳ tôi chưa tìm được một người đã cho tất cả tài sản của mình cho dân Da Ðỏ và Da Màu. Như tôi đã là một linh mục da đen duy nhất ở Hoa kỳ thì Mẹ Katharine Drexel cũng là người duy nhất đã hy sinh tất cả cho các sắc dân bị áp bức đày đọa.”

            Mẹ Katharine Drexel đã về với Chúa lúc 96 tuổi và đã được Ðức Gíao Hoàng Phaolô 2 phong thánh cho Bà năm Thánh 2000. (Nguồn: Dân Chúa)

        Mời Bạn suy niệm những câu nói của Ngài sau đây và xin Thánh Katarina Drexel cầu bầu cho chúng ta hôm nay:

1/ Sự kiên nhẫn và khiêm tốn chịu đựng vác Thánh Giá – trong mọi hoàn cảnh – là việc cao cả nhất mà chúng ta phải làm. (Thánh Katarina Drexel)

2/ Nếu chúng ta muốn phục vụ Chúa và yêu thương tha nhân, chúng ta phải thể hiện niềm vui của mình trong khi phục vụ. Hãy mở rộng con tim, lấy niềm vui làm lời mời gọi. Tiến tới và đừng sợ gì hết. (Thánh Katarina Drexel)

Câu nào đánh động bạn nhất?

From: Đỗ Dzũng

Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết lên án Nga, Việt Nam bỏ phiếu trắng

Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết lên án Nga, Việt Nam bỏ phiếu trắng

RFA
2022.03.02

Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu thông qua nghị quyết lên án Nga hôm 2/3/2022

 AFP

Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm 2/3 đã thông qua nghị quyết lên án Nga xâm lược Ukraine, đồng thời kêu gọi Nga phải rút quân ngay lập tức.

Nghị quyết được thông qua với 141 phiếu tán thành trong tổng số 193 phiếu. Việt Nam, Cuba, Venezuela, và Trung Quốc nằm trong số 35 nước bỏ phiếu trắng. Năm nước bỏ phiếu chống bao gồm Nga, Belarus, Bắc Hàn, Eritrea và Syria.

Nghị quyết mới không có tính ràng buộc của LHQ lên án với lời lẽ mạnh nhất chống lại hành động xâm lăng của Nga đối với Ukraine, yêu cầu Nga phải ngay lập tức ngưng sử dụng các lực lượng vũ trang chống lại Ukraine, ngay lập tức và vô điều kiện rút toàn bộ quân đội khỏi Ukraine.

Việc bỏ phiếu diễn ra khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn về vấn đề Ukraine từ hôm 28/2 với việc đại diện các nước lên phát biểu bày tỏ quan điểm của mình về cuộc chiến Nga – Ukraine.

Đại sứ Việt Nam tại LHQ Đặng Hoàng Giang hôm 1/3 đã nêu lập trường chính thức của Việt Nam về cuộc chiến này. Bài phát biểu của đại diện Việt Nam có thể coi là mạnh mẽ nhất trong các phát biểu chính thức được Chính phủ Việt Nam đưa ra kể từ khi cuộc chiến bắt đầu một tuần trước đó.

Trong bài phát biểu của mình, Đại sứ Đặng Hoàng Giang dù không chỉ đích danh Nga, nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, nhưng đã lên án các cuộc chiến tranh mà ông cho rằng bắt nguồn từ “các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế”.

Đại sứ Việt Nam tại LHQ cũng nhấn mạnh đến vấn đề giải quyết tranh chấp bằng phương cách hoà bình theo luật quốc tế và tôn trọng chủ quyền của các nước liên quan. Ông nói:

“Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.”

Kể từ khi Nga tấn công Ukraine cho đến nay, Việt Nam vẫn tránh dùng từ xâm lược khi nói về cuộc chiến này. Báo chí Nhà nước Việt Nam thường gọi cuộc chiến do Nga phát động là “hoạt động quân sự đặc biệt”.

Trong khi đó một số tướng lĩnh đã về hưu của Việt Nam và dư luận viên trong nước ủng hộ hành động của Nga trước Ukraina, một quốc gia độc lập và là thành viên của LHQ.

Nhật Ký Vượt Biên – Lê Minh

Van Pham

Gần đến ngày 10-03 khởi đầu từ TP. Banmêthuột cho đến ngày 30-4-1975 toàn bộ miền Nam bị cộng quân tấn chiếm. Kể từ ngày này bao tang tóc đau thương phủ trùm lên dân tộc, mà thảm cảnh “Vượt Biển” vẫn hằn sâu trong tâm khảm hàng triệu người Việt cả hải ngoại lẫn trong nước…

***

Nhật Ký Vượt Biên

Lê Minh

Gia đình tôi đông anh em và nghèo lắm! Muốn gom đủ 3 lượng vàng để lo cho một người vượt biển không phải là dễ. May sao nhờ nhà ở mé sông, nên có người tổ chức vượt biên họ cho tôi đi không với điều kiện ba mẹ tôi phải chứa chấp 8 người mà họ dắt mối từ Sài Gòn về chờ ngày ra tàu. Công việc nầy cũng rất nguy hiểm, lỡ mà công an biết được là đi tù cải tạo.

Nhà nội tôi kế bên nhà tôi nên ba má tôi gởi bên nội 6 người còn nhà tôi chỉ chứa 2 người. Người tổ chức sắp xếp là đến ngày đi họ sẽ có thuyền nhỏ đậu dưới bến sông nhà nội tôi để đưa người ra tàu lớn đã đậu sẵn ngoài khơi.

Vào một đêm 30 tối đen như đêm cả miền Nam lọt vào tay Cộng sản, một chiếc thuyền đánh cá nhỏ trên thuyền phủ đầy lưới tấp vào bờ sau hè nhà nội tôi, họ nói phải chuyển người thật nhanh, “cá lớn” – có nghĩa là tầu lớn- đang đợi.

Tiếng xì xào to nhỏ làm nội tôi tuy đã già, 2 mắt đã mờ cũng giật mình thức giấc, ông hỏi:

-Thằng Minh đâu rồi?

– Dạ con nè nội!

Trong bóng đêm, ông mò mẫm lấy tay rờ đầu tôi rồi nói nhỏ:

– Con ra đi lần nầy là chắc ông cháu mình sẽ không còn có dịp gặp nhau nữa đâu! Nơi đất khách quê người con ráng lo học hành và tự lo cho bản thân mình.

Ông nhét vào tay tôi 2 miếng gì hơi mỏng và cứng, rồi như không nén nổi sự xúc động, ông bỏ đi vào trong phòng. Sau đó tôi mới biết là ông đã gói ghém cho tôi 2 chỉ vàng, là gia tài dành dưỡng già của ông để tôi phòng thân.

Khi tôi ngồi viết bài nầy nhớ đến nội đã ra đi vĩnh viễn mà không có dịp nhìn mặt ông lần cuối cùng, là nước mắt tôi tuôn tràn…

Ngày Đầu Tiên: qua trạm biên phòng

Sau khi 9 người chúng tôi đều xuống khoang thuyền, người đưa khách lấy lưới phủ lên trên người chúng tôi để ngụy trang như là một ngư phủ sửa soạn ra khơi đánh cá.

Nằm dưới đống lưới cá còn ướt đẫm mùi tanh của cá, mùi nước biển, hơi thở khó khăn làm tôi muốn ói nhiều lần.

Gần tới trạm công an biên phòng, người đưa khách nói:

– Các anh chị ráng giữ bình tĩnh, đừng nhúc nhích và nói gì hết! Qua khỏi trạm nầy là kể như đã đi được nửa đường.

Chiếc thuyền bớt máy, chậm lại rồi ngừng hẳn. Tôi nghe có người nói:

– Giờ nầy còn đi đâu đó?

– Đi làm mẻ lưới sáng chớ anh! Nước triều đang lớn hy vọng sẽ trúng mánh.

– Có chở gì khác không?

– Trời! Anh biết tôi ngày nào cũng ra khơi đánh cá mà, đâu có chở gì! Anh muốn xuống coi không? Thôi lấy vài tờ uống cà phê nghe! Bữa nay trúng lưới, mai về bọn mình nhậu cho đã.

– Thôi, đi đi!

Tiếng máy nổ và thuyền lại rời bến. Người đưa khách cất tiếng:

Chúc mừng các anh chị đã qua khỏi cửa biên phòng. Bây giờ có thể bỏ lưới qua một bên cho dễ thở.

Tôi tung lưới ra, ngước mặt nhìn về những dãy dừa xanh, những cây mắm mọc sát bờ biển và xa xa những mái nhà nhỏ của xóm ngư phủ… Đó là hình ảnh quen thuộc của quê nhà tôi cố ghi nhớ để nhớ mãi mảnh đất quê hương lần cuối cùng trước khi đi không hẹn ngày trở về.

Ngày Thứ 2: đem trứng cho ác

Chiếc thuyền nhỏ ra khơi trong cơn mưa phùn đầu tháng Mười. Quần áo ướt át, thêm gió biển rồi từng đợt sóng biển đánh vào khoang thuyền làm tôi lạnh run người. Thuyền chạy gần một tiếng thì tôi nhìn thấy xa xa có một chiếc tàu khá lớn đang đậu gần một hòn đảo nhỏ, hình như là Hòn Tre thì phải.

Người đưa khách cho thuyền cặp vào chiếc tàu nầy rồi ra lệnh:

– Các anh chị leo lên tàu nầy. Lẹ lên!

Chiếc tàu cao quá so với thuyền nhỏ và những đợt sống làm lắc lư con tàu, khiến tôi nhảy mấy lần mà cũng chưa lên được. Cả hai chân bị rớm máu vì bị cắt bởi những con hà đóng quanh thành tàu. Rốt cuộc thì tất cả đều lên được tàu. Người đưa khách vẫy tay chào chúng tôi rồi quay thuyền chạy thẳng về đất liền.

Trên tàu đã có một số người đến trước. Họ nói phải chờ cho đủ số người và tài công ra rồi mới bắt đầu cuộc hành trình. Vậy là tiếp tục chờ đợi, căng thẳng. Thuyền nhỏ cứ lâu lâu lại chở thêm 9- 10 người lên tàu. Gần chật cả khoang dưới lẫn trên boong tàu mà sao vẫn chưa thấy người chủ tàu, tài công hoặc người tổ chức?

Trời gần sáng thì có một chiếc thuyền nhỏ chở chủ tàu, tài công và người tổ chức. Họ lên tàu, tiền trao cháo múc, thanh toán tiền mua tàu còn lại bằng những thỏi vàng óng ánh, nói vài lời chúc may mắn đến chúng tôi rồi trở về thuyền đi về, chỉ để lại người tài công.

Chiếc tàu với sức chứa 70 người giờ đây đã có tất cả là 139 người. Coi lại lương thực thì trời ơi! Chỉ có một khạp nước với một khạp gạo. Làm sao có thể đỡ cảnh đói khát cho suốt cuộc hành trình vượt biển?

Trên tầu có nhiều người chửi rủa là “đem trứng cho ác, lấy vàng của người ta rồi tổ chức như vậy đó!” Nhưng chửi rủa gì cũng đã muộn rồi, chỉ còn quyết định là có nên tiếp tục đi hay là quay trở lại để chịu cảnh tù đày!

Cuối cùng tất cả đành quyết định ra đi, hy vọng khi ra được hải phận quốc tế sẽ có tàu buôn hoặc chiến hạm của Mỹ cứu vớt.

Ngày Thứ 3: tài công không biết lái tàu

Người tài công nổ máy tàu và loay hoay với chiếc hải bàn. Ông tự giới thiệu là đại úy Hải Quân, cùng đi với người bạn gái. Thấy ông lây quây mãi với cái hải bàn, có người hỏi:

– Sao không bắt đầu chạy đi mà ở đó coi cái gì vậy?

– Nói thiệt nghe! Tôi đi hải quân nhưng hồi đó đâu có lái tàu, làm sao biết đường nào đến Thailand!

– Trời đất! Dzậy sao ông nhận làm tài công cho tàu?

– Thì phải nói là tài công họ mới cho đi không lấy tiền! Bây giờ tôi cũng không biết tọa độ nào để lái tàu đến bờ biển Thailand!

Cả tàu xôn xao. Thiệt là đem con bỏ chợ mà! Tính sao bây giờ?

– Để tôi lái cho!

Từ phía sau mũi tàu có anh thanh niên vóc dáng vạm vỡ, nước da ngâm đen lên tiếng và đi lại buồng lái.

– Có gì khó đâu! Tôi nghe người ta nói cứ giữ hải bàn ở tọa độ 260 là sẽ đến hải phận quốc tế và đến Thailand.

Cả tàu thở ra. Anh thanh niên cho máy nổ rồi cầm tay lái cứ hướng 260 độ mà cho tàu chạy! Con tàu băng băng. Mặt trời đã lên cao rọi những tia màu đỏ nhạt trên mặt nước biển.

Ngày Thứ 4: máy chết, tàu lủng

Con tàu chật ních người vẫn lướt trên biển cả mà chưa thấy bờ bến. Cơn nóng biển VN hòa lẫn với hơi người ngột ngạt. Bắt đầu đói khát lả người. Người ta nấu một nồi cơm lớn rồi chia phần cho mỗi người một muỗng cơm trắng với chút nước lã đo lường bằng cái nắp can để cầm cự, hy vọng sớm ra được hải phận quốc tế. Trời về chiều, ở cuối chân trời hiện lên một vầng mây đen như báo trước bão tố sẽ chụp lấy con tàu nhỏ bé. Biển mênh mông không bờ bến, biết đâu là hải phận quốc tế, đâu là bờ biển Việt Nam?

Mọi người chợt hướng mắt nhìn về phía trước, một chiếc tàu buôn ngoại quốc đang chạy song song cách thuyền rất xa. Gương mặt mọi người đều hiện lên vẻ mừng! Chỉ trong hải phận quốc tế mới có tàu buôn ngoại quốc thôi!

Nhiều người cởi áo trắng ra vẫy vẫy làm dấu SOS với hy vọng chiếc tàu kia sẽ thấy mà quay lại cứu giúp. Tất cả dán mắt theo dõi nhưng cái tàu buôn vẫn làm ngơ. Có người đề nghị đục tàu cho chìm để họ thấy emergency thì bắt buộc phải vớt.Một số người đồng ý, phần còn lại thì không. Rủi họ không thấy thiệt thì chết cả đám. Thôi thì hy vọng có chiến hạm Mỹ hay gặp dàn khoan dầu là hay nhất!

Trời đã về đêm, gió bắt đầu đẩy những ngọn sóng bạc đầu thật lớn đánh vào thành tàu. Cơn mưa lớn chợt nổi lên. Con tàu của chúng tôi như nhào lộn trong lòng biển, lúc thì sóng đưa lên thật cao, lúc thì như chìm vào biển cả.

Cạch… cạch… cạch…Tiếng máy tàu nổ thêm 3 tiếng rồi tắt hẳn!

– Chết rồi! Tàu phá nước ngập cả máy rồi, bà con ơi xúm lại tát nước!

– Trời ơi! Vậy là chắc chết hết!

Tôi nghe tiếng khóc la hòa lẫn tiếng cầu kinh, niệm Phật cộng với tiếng gió rú mưa rơi giữa biển khơi mịt mù đen tối! Đời người chỉ chết một lần! Tôi nhủ mình hãy cố bình thản trước cái chết gần kề.

Đọc xong kinh ăn năn tội thấy mình không sợ cái chết nữa, dù thấy nó sẽ xảy đến trong giây lát. Trong số 139 người trên tàu, có những cụ già từng trải, những thanh thiếu nữ tương lai đầy hứa hẹn và những mái đầu xanh vô tội chưa từng nếm mùi đời. Tất cả đã đem sinh mạng mình ra để đánh đổi 2 chữ “Tự Do”.

Ngày thứ 5: kề cái chết, thấy lòng người

Đêm giông bão tưởng như dài vô tận. Quá nửa khuya, đã sang ngày Thứ 5 nhưng trời vẫn chưa rạng. Con tàu nhỏ bé bắt đầu từ từ chìm xuống lòng đại dương.

– Trời ơi! Tàu sắp chìm rồi, thẩy bớt đồ trên tàu cho nhẹ bớt đi! Ai biết bơi lội thì nhảy xuống biển giùm!

Chúng tôi thẩy bỏ tất cả những gì có thể thẩy. Mấy cái can chứa đầy dầu, máy tàu không còn chạy nữa thì để nó làm gì! Chúng tôi đổ bỏ hết dầu rồi cắt thùng ra làm đôi để làm thùng tát nước.

Nhiều người nhảy xuống biển, nhưng đêm tối mịt mù, không thấy bờ bến biết bơi về đâu! Đành vịn vào thành tàu cho khỏi chết chìm.

– Kiếm được chỗ bể rồi bà con ơi! Cởi áo ra! Cởi áo ra để tôi nhét chỗ bể lại.

May mắn làm sao có một anh nhảy xuống biển, tay vịn vào thành tàu, cái chân chòi chòi lại thọt ngay vô chỗ bể mới biết mà la lên!

Mọi người giành nhau cởi áo đưa cho anh ta rồi xúm lại tát nước với hy vọng nhỏ bé là tàu đừng có chìm. Có anh chàng thanh niên quá hăng say tát nước, anh tát quá nhanh, hết sức mình đến nỗi ngã xỉu bên thành tàu mà 2 tay vẫn còn đưa ra như muốn tát thêm một thùng nữa. Có những cụ già, em bé lấy hai tay bụm từng bụm nước cố đem ra khỏi tàu nhưng khi đem ra khỏi tàu thì không còn được bao nhiêu!

Chúng tôi tát nước suốt đêm hôm đó dưới cơn mưa gió bão bùng. Tay chân bị vọp bẻ vì lạnh cóng nhưng vẫn cố gắng hết mình. Có cận kề cái chết mới thấy được lòng người! Chúng tôi là dân tứ xứ không hề quen biết nhau, giờ đây cùng chung chiếc thuyền định mệnh. Tất cả đều coi như anh em ruột thịt trong nhà, tất cả đều tận lực không phân bì ai làm nhiều làm ít! Sau cơn mưa trời bắt đầu rạng dần! Ở cuối chân trời vầng hồng thái dương chiếu sáng, biển lặng như tờ. Chúng tôi vẫn tát nước, con tàu càng lúc càng nổi lên và trôi theo dòng nước biển. Trôi về đâu… đành phó mặc cho số trời!

Ngày Thứ 6: hải tặc đợt một

Con tàu nhỏ cứ trôi lững lờ trên biển vắng. Trời đã vào trưa. Cơn nóng biển, sự mệt nhọc tát nước suốt đêm và cơn đói khát hoành hành làm cho mọi người rã rời! Trên tàu có khoảng 60 người là thanh niên trai tráng, phần còn lại là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng tôi bàn nhau chia những thanh niên thành 20 tổ, mỗi tổ 3 người để thay phiên nhau tát nước 24/24 hầu những người khác có thì giờ nghỉ ngơi.

Nguyên cả ngày không thấy bóng một chiếc tàu lạ nào và cũng không biết tàu của mình đã trôi về đâu! Trời đã gần chiều, hoàng hôn từ từ lặn ở phía chân trời xa! Một chấm đen hiện trên biển xa càng lúc càng lớn dần, mọi người đều mừng rỡ: “Có tàu đến gần, được cứu rồi!

Một chiếc tàu đánh cá Thailand cặp vào tàu tôi. Hai ngư phủ Thailand nhảy qua dùng dây cột tàu chúng tôi tôi vào tàu họ rồi kéo đi! Đâu có ai biết nói tiếng Thái. Chúng tôi chỉ xí xô, xí xào… Thailand, Thailand rồi ra tay làm dấu ý nói là muốn đi Thailand.

Hai người ngư phủ Thái không nói một lời nào. Chúng tôi bàn với nhau ai có tiền bạc, vàng vòng gì thì bỏ ra chút ít để gom góp lại đưa cho họ nhờ họ kéo đi Thailand.

Chết đi sống lại thì ai đâu còn để ý chút ít tiền bạc làm gì! Chúng tôi gom góp được khá nhiều đồng hồ, vàng bạc để vào cái nón rồi đưa cho 2 ngư phủ Thái. Họ cầm lấy rồi nói tiếng Thái với mấy người của họ còn ở trên tàu.

Tàu của họ kéo tàu của chúng tôi được đâu hơn 2 tiếng thì dừng hẳn, cặp sát vào tàu của chúng tôi, họ lấy dây cột tàu lại rồi nhảy qua thêm 5 người nữa. Trên tay có 2 người có súng, họ lục xét từng người để tìm vàng bạc, nữ trang.

Trời ơi! Chúng tôi gặp hải tặc mà ngỡ là người làm ơn!

Sau khi lục xét và gom thêm được chút vàng bạc, họ nhảy qua tàu của họ và thẩy sang mấy gói mì khô rồi chặt dây chạy mất tiêu. Trước khi đi chúng tôi có nghe là có thể gặp hải tặc, nhưng đâu có ngờ họ là dân đánh cá chuyên nghiệp và cũng là hải tặc! Thôi cũng là một kinh nghiệm cho những ngày kế tiếp…

Ngày Thứ 7: tang lễ giữa biển

Đêm mùng 7 tháng 9 âm lịch, biển lặng như tờ! Bầu trời đầy sao, xa xa ánh trăng lưỡi liềm chiếu ánh sáng mờ ảo xuống khoang tàu. Mọi người đang nằm sắp lớp, thiêm thiếp trong cơn nóng và đói khát cả ngày trời. Cảnh vật im lìm chỉ còn nghe tiếng xào xạc tát nước của 3 người thanh niên đến phiên trực.

Giờ nầy chắc ba mẹ tôi lo lắng lắm rồi! Người ta đi chỉ có 4- 5 ngày là có điện tín báo tin, còn tôi đã 7 ngày rồi mà vẫn nằm đây, trên chiếc tàu định mệnh không biết sống chết lúc nào! Mệt mỏi vì đói khát tôi gần thiếp đi trong giấc ngủ thì bổng nghe tiếng la thất thanh:

– Trời ơi! Con gái tôi chết rồi! Con ơi sao nở bỏ mẹ mà ra đi!

Mọi người đều giật mình mắt hướng về tiếng la. Một người đàn bà đang ôm đứa con gái 8 tuổi mà nước mắt lưng tròng. Chúng tôi xúm lại xem coi còn có thể cứu chữa em bé không! Hai môi em bé đã nứt nẻ chảy máu và đã chết cứng tự lúc nào! Mọi người dùng lời an ủi người mẹ và đề nghị: Con tàu không biết đến bao giờ cặp bến, chắc là không thể đem được em lên bờ để mà chôn cất. Thôi thì lấy đại dương làm nơi em yên nghỉ cuối cùng.

Tang lễ cho em bé diễn ra theo nghi thức của 2 tôn giáo. Không nhang, không đèn. Giữa biển khơi mịt mù tăm tối tiếng tụng kinh bằng Phạn ngữ của một vị sư đi cùng tàu sao thấy quá xót xa! Rồi bài kinh Vực Sâu thánh thót vang lên giữa tiếng khóc nức nở “Từ vực sâu u tối con cầu xin chúa, chúa ơi!….”

Một người thanh niên cởi chiếc áo khoác cuối cùng quấn vào thi thể em bé như muốn cho em thêm chút hơi ấm dưới lòng đại dương.

Chúng tôi thả thi hài em xuống biển, em nổi lên trôi lẩn quẩn bên thành tàu mấy phút như còn luyến tiếc những mối tình thâm, rồi chìm sâu vào lòng biển cả.

Em bé ơi! Nếu linh hồn em có linh thiêng xin hãy theo che chở cho chúng tôi, những người còn lại trên con tàu khốn khổ….

Ngày Thứ 8: cầu mưa

Tàu vẫn trôi bềnh bồng trên sóng biển. Đã mấy ngày không có giọt nước thấm giọng. Ở cuối chân trời vầng mây đen càng lúc càng lan rộng, cơn sóng biển càng lúc càng to báo hiệu thêm một cơn mưa. Nghĩ càng đau lòng. Người ta đi biển chỉ cầu mong biển lặng sóng yên. Còn chúng tôi trên tàu thì đang cầu có mưa. Mưa bão có thể làm chìm con tàu nhỏ bé, nhưng trước hết, có mưa mọi người thấy mình đỡ chết khát.

Mây đen phủ kín trời, con tàu nhấp nhô trên những đợt sóng bạc đầu khổng lồ. Rồi những giọt mưa nặng trĩu trút xuống khoang tàu. Tất cả há miệng ra để hứng từng giọt nước trời cho. Có người còn lo xa hơn, lấy những cái can đựng dầu mà chúng tôi cắt ra để hứng nước mưa phòng bị cho những ngày sắp tới.

Cơn lo chết khát đã qua đi! Cơn lạnh của đám mưa ướt đẫm cả người làm cho cơn đói càng thêm dữ dội hơn! Tôi thấy có người cạo rong xanh đóng vào thành tàu đưa vào miệng để ăn.

– Cái nầy có bổ dưỡng gì đâu mà ăn!

– Nó không bổ dưỡng nhưng để cho bao tử mình có cái gì làm việc. Đến khi được cứu, ăn đồ ăn vào sẽ không bị đứt ruột mà chết!

Nghe cũng có lý! Mọi người xúm lại cạo những vệt rong biển để ăn lót dạ. Chiếc tàu đóng đầy rêu xanh chỉ lát sau đã được mọi người cạo sạch như lau. Cơn đói cơn khát lại tiếp tục dầy vò, không biết đến bao giờ…

Ngày thứ 9-11: Ba ngày đêm bị hải tặc

Đây là ba ngày đen tối nhất trong hành trình vượt biển của chúng tôi! Ngày thứ 9: Thêm một tàu hải tặc xuất hiện. Hải tặc thay phiên nhau cướp bóc, hãm hiếp. Tôi không biết lấy lời gì để kể! Sang ngày thứ 10. Cùng vậy! Đoàn người trên tàu hoàn toàn kiệt lực rồi! Hải tặc muốn làm gì thì làm! Thêm ngày Thứ 11: Tôi chịu hết nổi!

Nhìn những em gái 14-15 tuổi quằn quại dưới bàn tay đen đúa của đám hải tặc Thailand. Những người vợ trẻ cặp mắt đau đớn nhìn chồng, và những người chồng ngoảnh mặt nhìn nơi khác mà đôi mắt lưng tròng! Tôi muốn lén đục bể chiếc tàu để cho mọi người cùng chìm sâu dưới lòng biển, để khỏi nhìn cảnh xót xa nầy! Nhưng mạng sống của hơn một trăm người còn lại, không cho phép tôi làm chuyện nầy!

Trời ơi! Chết không ra chết! Sống không ra sống! Biết bao lâu nữa chúng tôi mới tìm được bến bờ?

Ngày Thứ 12: Con rắn biển

Biển sao yên lặng quá! Không một bóng tàu. Lòng người thật mâu thuẫn. Cơn hãi hùng vì hải tặc cướp bóc, hãm hiếp mới đó, vậy mà bây giờ lại trông cho có bóng tàu.

Thấy tàu Thailand thì chúng tôi sợ, không thấy gì hết thì chúng tôi lo. Lo là không biết con tàu đã trôi vạt về đâu! Lỡ mà trôi ngược về hải phận VN thì thôi thà chịu cảnh cướp bóc, hãm hiếp trên biển Thái còn đỡ khổ và có chút hy vọng về tương lai hơn.

Mấy giọt nước mưa hứng từ cơn mưa bão mấy hôm trước giờ cũng đã cạn khô. Chúng tôi đã ăn tất cả những gì có thể ăn được, những rong rêu trôi lềnh bềnh cạnh tàu, mấy con sứa biển sống mặn đắng hôi tanh.

Có con rắn biển bằng ngón chân cái lội ngoằn ngoèo cạnh thành tàu. Một anh thanh niên nhảy ùm xuống biển, nắm đuôi đập đầu rắn vào thành tàu rồi ngắt bỏ đầu ăn sống không chừa một giọt máu.

Trời đất! Nó là con đèn cườm rất độc, nó mà cắn thì cho dù có ở trên đất liền cũng chưa chắc gì có thuốc chữa huống chi trên chiếc tàu lênh đênh trôi dạt như vầy! Tôi nghe kể là trước đây có chuyến tàu lạc trên biển lâu ngày, quá đói khát, có người đã ăn thịt người chết để mà cầm hơi. Lạy trời! Đừng để con tàu của chúng con lâm vào cảnh nầy.

Có con cá nút nhớt to hơn bắp chuối chân đang lội quanh quẩn chiếc tàu để nút chất dơ. Kiếm được một lưỡi câu sét và sợi dây gân ở dưới hầm tàu, tôi tớm lưỡi câu rồi lấy cái đầu rắn biển của anh thanh niên bỏ móc vào hy vọng sẽ câu được con cá.

Cá ơi! Làm ơn cắn mồi. Cắn mồi mầy sẽ chết, nhưng chúng tôi sẽ có thêm chút sự sống để chờ đợi phép lạ!

Con cá nhào lại táp mồi, dính câu! Mọi người la lên:

– Hay quá!

– Để em làm cá rồi lượt lên chia cho mọi người nghe!

Trời ơi! Con cá có bao lớn làm sao chia đủ cho 138 người? Tôi nghĩ không còn bao lâu nữa mọi người sẽ ngã gục vì đói khát trên con tàu vô phước nầy rồi!

Ngày Thứ 13: Lại tàu Thái nữa

Nhiều người đã lả vì đói nằm sắp lớp trên khoang tàu! Đêm về, gió mát và sương đêm làm cho mọi người cảm thấy đỡ hơn lúc ban ngày.

Từ đàng xa một chiếc tàu đánh cá Thái đèn đuốc sáng trưng cặp vào. Trên tàu đầy tôm cá còn nhảy tung tăng vì mới đổ một mẻ lưới cào. Hai người ngư phủ nhảy sang tàu và cột tàu của chúng tôi vào tàu họ! Thôi rồi! Lại bị cướp bóc hãm hiếp nữa! Nhiều người đói quá nhẩy sang tàu Thailand quơ những con tôm, con mực còn sống mà ăn. Đói quá rồi! Ăn trước cái đã rồi muốn sao thì sao.

Đùng! Đùng! Đùng! Ba tiếng súng nổ vang trời. Một anh thanh niên vừa đứng lên định nhẩy lên tàu Thái chợt ngã sấp xuống vĩnh biệt cõi đời!?

Trời! Ăn có mấy con tôm cá sống mà nỡ bắn chết người sao? Mọi người chết lặng không dám nhúc nhích.

Người thuyền trưởng một tay cầm cây súng shot gun bắn chỉ thiên, một tay ra dấu đừng có ăn mấy thứ đó và dùng tiếng Phổ Thông nói với mọi người hãy trở về tàu mình, ông đã kêu ngư phủ nấu cơm, chiên cá chút nữa sẽ phân phát cho tất cả mọi người!

Chúng tôi thiệt là hồ đồ: Kẻ cướp trước đây thì ngỡ là người ơn, kẻ làm ơn thì chút nữa đã đổ oan cho họ là kẻ cướp.

Chúng tôi vội trở về tàu của mình. Còn anh thanh niên hóa ra không phải chết vị súng bắn, mà chắc vì đói khát, sức lực chỉ còn đủ để đứng lên rồi ngã quỵ hoặc là quá sợ hãi vì tiếng súng rồi đứng tim mà chết!

Lại phải cử hành lễ an táng cho anh ta dưới lòng đại dương, nhưng lần nầy anh có được chút may mắn hơn em gái nhỏ đã ra đi là vì có người thuyền trưởng Thái tốt bụng thắp cho ba nén hương tàn!

Ngày thứ 14: Vị thuyền trưởng Thái

Bất cứ dân tộc nào cũng vậy! Có người tốt, người xấu, kẻ dữ, người hiền. Vị thuyền trưởng người Thái gốc Hoa sau khi kêu đám ngư phủ phân phát cơm nước cho chúng tôi ông ngồi nói chuyện, kể lại là trước đây có lần ông đi đánh cá, tàu bị hỏng trôi dạt vào hải phận Việt Nam, được những người lính Hải Quân VNCH giúp đỡ kéo tàu về đảo Phú Quốc để sửa dùm máy móc sau đó mới chỉ hướng cho ông ta lái tàu về hải phận Thailand. Ông ta nói từ đó lòng ông rất cảm động và biết ơn.

Sau khi nghe tin miền Nam VN thất thủ và có nhiều thuyền nhân vượt biển tìm tự do, tàu của ông thường luôn chuẩn bị thêm gạo, nước để có dịp gặp thuyền nhân là ông tiếp tế!

Ông không thể nào vớt người vượt biển được vì chính phủ Thailand có lệnh cấm nếu ông làm trái lệnh sẽ bị đi tù, nhưng ông có thể đợi đến gần sáng sẽ kéo tàu của chúng tôi vào vùng biển có nhiều tàu đánh cá qua lại hơn, hy vọng sẽ có những người ngư dân tốt bụng khác giúp đỡ hoặc là gặp tàu buôn, chiến hạm cứu giúp!

Nghe ông nói trong lòng chúng tôi gợi lên chút ánh sáng hy vọng… Người ngư phủ lấy giây cột mũi tàu của chúng tôi vào sau lái tàu đánh cá của họ. Vị thuyền trưởng mở máy chạy rồi kéo đi từ từ, ông không dám chạy nhanh vì thấy chiếc tàu của chúng tôi đã quá cũ kĩ và đang rỉ nước. Kéo nhanh lỡ nó chịu không nổi, phá nước thì nguy!

Đúng 10 ngày con tàu của tôi mới được rẽ sóng biển mà lướt đi mặc dù nó phải nhờ chiếc tàu khác kéo giúp! Nhìn con tàu rẽ sóng lướt đi mà lòng tôi chợt nao nao! Không biết lần nầy nó có rẽ đúng hướng để đi về một nơi có chút hy vọng hay là lại đưa chúng tôi vào cảnh khốn cùng như những ngày đã qua!

Kéo cả ngày trời, đến khi trời sắp tối vị thuyền trưởng mới ngừng lại tại một vùng biển mà ông cho là sẽ có nhiều tàu đánh cá hơn. Ông kêu 2 ngư phủ đem qua tàu của chúng tôi một thau lớn cơm nếp, cá muối chiên, một cái phi bằng plastic đổ nước đầy, một bao gạo 50 lbs.

Có người quá cảm động với tấm lòng tốt của ông, moi móc trong cái nón nỉ tờ $100 USD, số tiền mà cho dù đám cướp biển ghìm dao, chĩa súng trước đây ông cũng không chịu đem ra mà đưa cho vị thuyền trưởng để tỏ lòng cám ơn. Ông không chịu lấy và nói là “ráng cất giữ nó đi, nếu may mắn được đến bến bờ của trại tỵ nạn thì số tiền đó cũng rất cần cho đời sống của người tha hương”!

Trước khi từ giã, ông còn không quên đưa cho mấy cái diêm quẹt, nói lời chúc may mắn rồi mới tháo dây tiếp tục cho chuyến đánh lưới tôm cá ngoài biển khơi. Thì ra, bên cạnh những hải tặc Thailand độc ác không có tánh người cũng còn có những người ngư phủ, hiền hòa chất phác thi ân không cần đền đáp.

Đêm hôm đó chúng tôi ngủ rất ngon với niềm hy vọng là mình sẽ gặp được nhiều ngư phủ giống như vị thuyền trưởng mới quen và chắc cũng không bao giờ có dịp gặp lại lần thứ 2!

Ngày Thứ 15-23: bềnh bồng không người lái

Xin rút ngắn chuyện trong những ngày nầy vì bài đã quá dài! Dài như cuộc hành trình gian khổ của những người mất nước đi tìm tự do.

Con tàu không người lái chở sinh mạng của 137 người còn lại vẫn trôi bềnh bồng trên sống biển. Mặc dù chúng tôi có thêm được chút nước và gạo nhưng cũng không dám ăn uống nhiều vì không biết đến bao giờ mới được cứu giúp.

Thỉnh thoảng cũng thấy có một hai chiếc tàu đánh cá ghé ngang đưa mắt nhìn, có tàu đưa qua một thau cơm, mấy gói mì khô, một can nước rồi bỏ đi!

Có thêm chút thức ăn nước uống thì chúng tôi lại phải vất vả làm việc hơn! Chỗ bể của con tàu giờ đây rỉ nước nhiều hơn, phải 6 người thay phiên nhau tát nước suốt ngày đêm để cho mực nước trong tàu đừng dâng cao. Sự sống của chúng tôi sao chẳng khác gì những con kiến bám vào cành cây trên dòng nước lũ, không biết sẽ bị dòng nước cuốn đi lúc nào?

Ngày Thứ 24: kéo tàu đi núp bão

Vùng biển thỉnh thoảng có tàu đánh cá Thái hôm nay sao vắng lặng như tờ? Ở cuối chân trời mây đen che kín một vùng, lâu lâu một tia sét chớp sáng hiện lên như báo trước một cơn bão khủng khiếp sắp xảy ra.

Các tàu đánh cá chắc đã nghe tin tức khí tượng báo bão nên đã trở về đất liền hoặc là kiếm nơi ẩn núp. Chỉ còn con tàu vô định của chúng tôi giữa đại dương mênh mông. Chúng tôi thừa biết là con tàu chắc chắn sẽ chìm đắm trong cơn bão sắp tới nầy!

Từ đàng xa một chiếc tàu đánh cá Thái chạy thật nhanh đến bên tàu của chúng tôi. Trên tàu chỉ có 2 người, một tài công và một ngư phủ. Người ngư phủ nhảy sang tàu của chúng tôi, lấy 2 sợi dây thừng thật to cột chặt vào mũi tàu rồi nói xì xào gấp rút với chúng tôi bằng tiếng Thái. Cảm thấy chúng tôi không hiểu gì, anh móc trong túi áo ra miếng giấy và vẽ vào đó một hòn đảo nhỏ nằm chơi vơi giữa biển khơi rồi ra dấu là họ sẽ kéo dùm tàu của chúng tôi vào đó!

Anh nhảy sang tàu đánh cá, người tài công mở máy thật lớn kéo con tàu của chúng tôi đi! Hai sợi dây thừng căng thẳng, chiếc tàu kêu lên răng rắc, chỗ bể lòng tàu bị sức ép càng tràn nước vào nhiều hơn!

Chúng tôi xúm lại tát nước! Cơn mưa đã bắt đầu rơi hạt, gió thổi mạnh, những đợt sóng biển càng lúc càng to làm lắc lư cả hai con tàu. Mạng sống của 137 người như chỉ mành treo chuông. Chắc chắn con tàu sắp bể tan từng mảnh.

Trong mưa bão, bỗng thấy hiện lên một khối to đen. Hòn đảo nho đây rồi. Trong tàu chúng tôi nước càng dâng cao, sức người tát nước ta không kịp. Người tài công cho máy nổ thật lớn lấy trớn đưa con tàu chúng tôi đến gần đảo hơn, rồi chặt dây thừng quây tàu mình chạy ngược về đất liền.

Con tàu lảo đảo, nước tràn vào gần đầy, mọi người nhảy xuống biển. May quá bờ biển chỉ sâu ngập chưa tới đầu người. Chúng tôi dìu dắt, ôm nhau lội vào bờ. Con tàu vài phút sau đó thì an phận chôn sâu dưới lòng biển.

Người ngư phủ Thái vô danh ơi! Anh đã làm một việc thiện để rất nhiều ơn đức cho con cháu sau nầy! Anh đã cứu một lần 137 mạng người trong cơn thập tử nhứt sanh!

Chúng tôi ùa vào đảo tìm những hang đá, bụi cây để tránh cơn mưa như thác lũ. Gió rít nghe rợn người, ngoài khơi tiếng sóng vang rền. Không biết ngày mai sẽ ra sao trên hòn đảo hoang không một bóng người này. Cũng chưa ai trong chúng tôi biết đây chính là đảo Kra, một hòn đảo hoang cách tỉnh Songkhla khoảng một ngày tàu. Hải tặc Thailand thường dùng nơi nầy để tránh những cơn bão và lên đảo kiếm thuyền nhân lạc vào để cướp bóc và thỏa mãn thú vui xác thịt, từ đó nó có thêm cái nickname là Đảo Hải Tặc.

Do sự kể lại của các thuyền nhân đã đến nơi nầy trước đây nên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ thường cho máy bay ra đảo nầy để tìm kiếm người vượt biển. Con tàu của chúng tôi tới đảo vào những ngày mưa bão, sẽ phải gánh chịu bao cảnh hãi hùng nữa?! Đâu có máy bay nào dám bay trong thời tiết mưa bão cấp 5?!

Ngày thứ 25: Đảo Hải Tặc

Sau một đêm chui rúc trong những hang đá, bụi cây mình mẩy ướt như chuột lột, sáng hôm sau, dù cơn mưa vẫn như trút nước, chúng tôi vẫn đi ra khỏi hang đá, bụi cây coi trên đảo có những thứ gì.

Ngay khi vừa nhìn ra biển thì trời ơi! 15 chiếc tàu hải tặc đang bỏ neo song song với nhau! Hơn 30 chục tên hải tặc trên mình chỉ có chiếc quần lót giắt dao găm, mã tấu lội vào bờ. Bộ muốn giết chết hết chúng tôi hay sao? Sau 24 ngày đói khát chúng tôi chỉ còn da bọc xương, sức lực yếu sùi chỉ cần xô nhẹ cũng đủ ngã rồi, đâu cần phải dùng dao búa! Trong cơn mưa bão, bọn hải tặc tràn vào, bắt người đem đi chỗ khác cướp bóc hãm hiếp…

Cho phép tôi đừng kể những cảnh hãi hùng nầy!…

Đảo Hải Tặc, Ngày Thứ 2:

Cơn mưa bão quả nhiên dữ dội và kéo dài! Đã qua đến ngày thứ 2 rồi mà mưa vẫn to, sóng vẫn lớn. Đám hải tặc vẫn thay phiên nhau lội vào bờ bắt người đi vào những bụi cây cướp bóc hãm hiếp!

Trốn trong hang đá bên cạnh tôi có đứa em gái chưa đầy 14 tuổi, thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương, vậy mà hải tặc cũng xóc nách lên đòi đem đi. Tôi đưa tay cản lại, không phải là tôi muốn làm anh hùng rơm mà ý của tôi là em còn nhỏ quá, ốm yếu đâu có sức lực gì, thôi tha cho em bé đi!

Tên hải tặc tưởng tôi có ý chống đối, rút trên lưng quần lót ra chiếc mã tấu, nhá nhá vào tôi làm tôi cũng hết hồn. Thôi thì… Tên hải tặc xóc nách em bé, em giẫy giụa, la khóc! Rồi không hiểu sao hắn bỏ em xuống đi tìm người khác!

Em bé trong hang đá xưa bây giờ chắc đã thành một người vợ, người mẹ. Bao năm qua, tôi vẫn nhớ sự bất lực của mình và hằng cầu mong cho em được hạnh phúc.

Đảo Hải Tặc, ngày Thứ 3: thêm 2 cô gái trẻ.

Những chiếc tàu hải tặc vẫn còn bỏ neo trên bờ biển! Cơn mưa bão vẫn tiếp tục nên chúng nó không cần phải sợ là có máy bay LHQ bắt gặp nên càng ra sức lộng hành! Từ ngoài khơi một chiếc tàu hải tặc khác chạy vào thả neo rồi bỏ 2 cô gái trẻ ôm phao lội vào bờ.

Hai cô nầy đã bị chiếc tàu hải tặc bắt đi cả tuần rồi! Bây giờ cũng không biết chiếc tàu và những người trên tàu của hai cô ra sao? Thì ra, đâu phải chỉ có riêng con tàu vượt biển của chúng tôi là gặp cảnh khốn đốn! Biết bao nhiêu ngàn người đã bỏ thây nơi biển cả mà không một ai biết tới.

Vậy là chuyến tàu của tôi trở thành con tàu không số KG139 (137 người còn sống sót trên tàu và 2 người bị hải tặc bắt đi rồi thả vào đảo)!

Đảo Hải Tặc, ngày Thứ 4: Máy bay!

Cơn giông bão đã qua. Mặt trời đã ló dạng ở chân trời. Ngoài bờ biển không còn một bóng tàu hải tặc nào. Chắc họ biết là cơn bão đã qua sợ máy bay LHQ nhìn thấy rồi chụp hình nên bỏ đi hết.

Chúng tôi kéo ra ngoài bờ biển để hít thở không khí trong lành của biển sau bao ngày trốn chui, trốn nhủi trong hang đá! Có người đói bụng quá thấy mấy cây đậu ma bẻ hạt ra ăn, trúng thực ói ra mật xanh, không chết là may!

Đến trưa thì chúng tôi nghe có tiếng máy bay vòng quanh hòn đảo nhỏ. Mọi người mừng rỡ chạy ra bờ biển, cởi áo ra quơ lên trên cốt ý cho viên phi công thấy. Chiếc máy bay đảo lại nhiều vòng rồi bay thật thấp như có ý nói là họ đã thấy chúng tôi, rồi cất cánh bay cao về đất liền. Mọi người hân hoan tay bắt mặt mừng. Cái giá quá đắt của 2 chữ Tự Do của chúng tôi sắp sửa được đền bù!

Ngày Cuối Cùng: Chết sau khi có ăn

Trời hừng sáng là chúng tôi đã thấy một chiến hạm thật lớn của hải quân Thailand do Cao Ủy Tỵ Nạn mướn đậu ở ngoài khơi! Họ thả hai chiếc ca nô xuống rồi chạy vào đảo nhỏ. Từng người dìu nhau ra ca nô mỗi lần 10 người, phụ nữ, trẻ em đi trước, sau đó thì mới tới đàn ông, thanh niên.

Trên tàu họ đã nấu cháo thật nhừ với cá muối chiên phân phát cho mỗi người chúng tôi. Họ biết chúng tôi đói khát lắm rồi nên không dám cho ăn nhiều chỉ phát cho mỗi người một chén cháo lỏng và nửa ly nước cam, bảo là nên ăn từ từ cho bao tử quen với cơn đói nhiều ngày.

Thật không may mắn cho một anh thanh niên, ăn uống xong anh ta ngã ra nằm thở hổn hển mặt mày nổi đen rồi trút hơi thở sau cùng!

Anh bạn ơi! 29 ngày gian nan, đói khát trên biển cả anh vẫn chịu đựng nổi, sao chỉ còn vài giờ để nhìn thấy bến bờ tự do thì anh lại vội bỏ ra đi! Người thủy thủ lấy tấm vải trắng che thân thể anh ta mà nước mắt lưng tròng!

Xa xa những hàng dừa xanh, những căn nhà hiện lên lờ mờ của bến cảng Songkhla! Từ đây, chúng tôi biết mình đã sống lại, như sang một kiếp khác.

* * *

Nhiều năm đã qua. Những người sống sót trên con tàu mỏng manh năm xưa không biết nay ra sao. Tại vùng Little Saigon, có lần trong một ngôi chợ VN rồi sau đó trong Home Depot, tôi được thấy lại một bóng hồng quen, đó là cô bạn gái của chàng Trung Uý Hải Quân đóng vai tài công trong chuyến tầu năm xưa. Nhớ lại 29 ngày đêm cùng chung một con tàu đầy sóng gió, khi gặp lại cô tôi có mở lời chào nhưng rồi cả hai lần đều cảm thấy cô nhìn đi chỗ khác. Có lẽ cô không còn nhớ, hoặc không muốn nhớ!…

Biết bao khổ nhục. Quên đi là phải. Gợi lại làm gì.

Tôi biết vậy mà vẫn viết lại những trang nhật ký này để tưởng nhớ đến 138 người bạn đã cùng tôi trải qua 29 ngày đêm lênh đênh trên biển cả, những người bạn đã may mắn đến được bến bờ tự do, và những người bạn đã gởi nắm xương tàn dưới lòng đại dương.

“XÓT THƯƠNG”, TẤT CẢ CHỈ CÓ THẾ!

“XÓT THƯƠNG”, TẤT CẢ CHỈ CÓ THẾ!

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng Chúa xót thương!”.

Giáo sư Charles H. Spurgeon đã nhấn mạnh với lớp dạy của mình về tầm quan trọng của việc làm cho nét mặt hài hoà với bài giảng. “Khi nói về thiên đàng”, ông nói, “hãy để khuôn mặt bạn sáng lên, hãy để nó rạng rỡ bởi ánh sáng mặt trời, hãy để đôi mắt bạn ngời sáng bởi ánh quang phản chiếu! Nhưng khi nói về địa ngục, cứ để tự nhiên, khuôn mặt bình thường của bạn đã làm được điều đó! Còn khi nói về Thiên Chúa, chỉ cần bạn cúi đầu, nhìn xuống đất, để biết phận mình, những con người vốn bị đuổi khỏi địa đàng; Ngài, Đấng ‘“Xót thương”, tất cả chỉ có thế!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

‘“Xót thương”, tất cả chỉ có thế!’, H. Spurgeon thật chí lý. Mùa Chay, mùa tuyệt vời để chúng ta hiểu rõ hơn về lòng thương xót! Phụng vụ Lời Chúa thứ Tư Lễ Tro hôm nay cũng chỉ nói đến ngần ấy. Xót thương là thấu hiểu, là chia sẻ và liên luỵ với; vì thế, khi chúng ta kêu lên, “Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng Chúa xót thương!” như Thánh Vịnh đáp ca, là chúng ta đang kéo ghì Thiên Chúa xuống, và Ngài phải nhập cuộc với bao truân chuyên của mỗi người.

Nói đến Mùa Chay, chúng ta thường sợ hãi, “Tôi phải từ bỏ một cái gì đó”; nhưng nếu đó là suy nghĩ thật, thì chúng ta đang mất điểm! Tôi “phải” từ bỏ một thứ gì đó? Vâng, có và không! Đúng là Chúa muốn điều này, và Ngài đã nói đến thực hành khổ chế cũng như kỷ luật bản thân cho chúng ta thông qua Giáo Hội; chẳng hạn, Tin Mừng hôm nay nói đến cầu nguyện, ăn chay và bố thí. Điều đó đúng, nhưng đó là một lời mời gọi đến với ân sủng hơn là áp đặt một gánh nặng.

Từ bỏ một điều gì đó thực sự mang ý nghĩa là tất cả sẽ chìm hẳn vào lòng xót thương thăm thẳm của Thiên Chúa ở một mức độ sâu hơn! Đó là được cởi bỏ khỏi tất cả những gì đang trói buộc, giúp chúng ta trải nghiệm một cuộc sống mới mà chúng ta đang hết lòng kiếm tìm. Từ bỏ một cái gì đó đơn giản như nhịn ăn, nhịn uống; hoặc, có thể bất kỳ hành động cố ý nào đó vốn đòi hỏi một sự bỏ mình nhất định. Điều này là tốt! Tại sao? Bởi việc từ bỏ đó tiếp sức cho chúng ta về tinh thần và ý chí; nó tăng lực để chúng ta quyết tâm hơn hầu có thể nói “Có” với Chúa ở mức độ Chúa muốn. Thế nhưng, từ bỏ một cái gì đó, một điều gì đó để được ‘Một Ai đó’ thì rất đáng cho chúng ta từ bỏ! Bởi lẽ, khi từ bỏ, chúng ta rời địa ngục để phản ánh thiên đàng, “Hãy để khuôn mặt của bạn sáng lên, hãy để nó rạng rỡ bởi ánh sáng mặt trời, hãy để đôi mắt của bạn ngời sáng bởi ánh quang phản chiếu!”.

Vậy mà, trong cuộc sống, chúng ta thường bị thao túng bởi những cảm xúc và ham muốn; chúng điều khiển chúng ta một cách dễ dàng! Ấy thế, việc thực hành khổ chế, từ chối bản thân sẽ giúp chúng ta củng cố và làm chủ các khuynh hướng rối loạn hơn là bị chúng kiểm soát. Và điều này áp dụng cho nhiều thứ, không chỉ đồ ăn thức uống, nhưng còn cho nhiều điều tích cực hơn; nó bao gồm các nhân đức, đặc biệt là lòng bác ái đối với tha nhân của mỗi người.

‘“Xót thương”, tất cả chỉ có thế!’; trải nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta cũng trải nghiệm Ngài chờ đợi chúng ta xót thương nhau. Đó là yêu theo cách Ngài yêu; đó là được tự do để tình yêu chiếm lấy chúng ta, chấp cánh cho chúng ta. Một khi được tình yêu chiếm lấy, chúng ta sẽ mẫn cảm hơn với Thiên Chúa; sợ mất lòng Ngài, muốn trở về làm hoà với Ngài như Gioel và Phaolô hôm nay mời gọi. Được tình yêu chiếm lấy, việc cầu nguyện, giữ chay và thực hành thương xót của chúng ta như Tin Mừng hôm nay đề nghị sẽ dễ dàng hơn biết bao!

Anh Chị em,

‘“Xót thương”, tất cả chỉ có thế!’. Đó là quà tặng miễn phí được trao hoàn toàn từ động lực của tình yêu; đó là tình yêu Thiên Chúa ban cho chúng ta, phận người tro trấu, cách đặc biệt trong Mùa Chay. Chớ gì lời khẩn xin “Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng Chúa xót thương!” không ngừng vang lên trong tâm hồn chúng ta suốt Mùa Chay này, hầu khi cảm nghiệm được lòng Chúa xót thương, chúng ta dễ dàng thương xót nhau. Hãy biến Mùa Chay này thành mùa ân sủng tuyệt vời, đừng mắc kẹt với ý nghĩ, những hy sinh là nặng nề; chúng là một phần thiết yếu trên con đường dẫn đến một cuộc sống mới mà Thiên Chúa muốn ban tặng cho mỗi người!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con hiểu, ‘“Xót thương”, tất cả chỉ có thế!’, đó là một quà tặng ân sủng Chúa ban cho con trong Mùa Chay này; để từ đó, con có thể ‘sống nó’ với anh chị em con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

TỰ NHIÊN VÀ LÀNH MẠNH

TỰ NHIÊN VÀ LÀNH MẠNH

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào!”

Robert Fulghum viết, “Hầu hết những gì tôi thực sự cần biết về cách sống, điều phải làm và làm như thế nào, tôi đã học được ở trường mẫu giáo.  Trí tuệ không nằm trên đỉnh núi của các trường cao học, mà ở trong mấy hộp cát ở trường mẫu giáo. ‘Tự nhiên và lành mạnh’ biết bao!”

Kính thưa Anh Chị em,

‘Tự nhiên và lành mạnh’ cũng là những gì Lời Chúa hôm nay nói đến.  Thật thú vị, Chúa Giêsu dùng trẻ em để dạy người lớn!  Ngài chỉ ra cách chấp nhận Nước Thiên Chúa như trẻ em chấp nhận; không dè giữ, ngờ vực hay do dự, nhưng cởi mở, vui tươi và đơn sơ.  Hơn nữa, Tin Mừng còn tiết lộ một sự thật tinh tế khác, đó là sự cần thiết của một tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh!’

Thế giới chúng ta đang sống ngày càng có xu hướng đồi trụy và ham muốn sai lầm của con người. Từ “Chiếm hữu và thống trị” được nhắc đến nhiều trong hai ngày qua, khi Nga đem quân tiến vào Ukraine.  Sự thèm muốn nhục dục có xu hướng thống trị nền văn hoá của chúng ta theo cách gần như bình thường, khi con người coi người khác là đối tượng của ham muốn.  Điều này nhan nhản trên các trang mạng và các ‘shows’ quảng cáo.  Tội lỗi do dục vọng tràn lan, ảnh hưởng đến con người tới mức ràng buộc nó, đến nỗi nạn nhân không thể thoát ra.  Kết quả đáng buồn là, có vẻ như con người ngày nay đã mất đi những tình cảm trong sáng và hồn nhiên đối với tha nhân, nhất là với người khác phái.  Trong một nền văn hoá bị ‘tình dục hoá’ quá mức như thế, chúng ta có thể dễ dàng bắt đầu nhìn mọi thứ qua lăng kính vọng tưởng và vọng động.  Kết quả là, sự hiểu biết về một tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh’ nơi con người bị đánh mất!

Chúa Giêsu nói, “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Thầy”; Marcô viết tiếp, “Rồi Ngài ôm chúng, đặt tay, chúc lành cho chúng.”  Như vậy, Tin Mừng đã tiết lộ một tình cảm thánh thiện, ‘tự nhiên và lành mạnh’ mà Chúa Giêsu đã dành cho những trẻ này cũng như cho mỗi người chúng ta.  Tuy nhiên, không chỉ trẻ em mới đến với Ngài; một người phụ nữ ngoại tình đã ��bám lấy’ chân Ngài; một phụ nữ khét tiếng khác, “lấy nước mắt tưới ướt chân, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm đổ lên”; và Gioan tông đồ, người đã “tựa đầu vào lòng” Ngài trong Bữa Tiệc Ly.

Tình cảm của con người phải được ‘thanh tẩy và cứu chuộc’ theo cách nó được dâng hiến cho người khác mà không một động cơ ích kỷ nào có thể len vào; và dĩ nhiên, không có những ham muốn tình dục rối loạn!  Một khi điều này được thực hiện, như Chúa Giêsu đã làm, thì cái ôm của cha mẹ đối với con cái, của một người bạn với một người bạn, vợ hoặc chồng với người phối ngẫu của mình… sẽ trở thành một biểu hiện thánh thiện, ‘tự nhiên và lành mạnh’ của một tình yêu trong sáng trong trái tim Chúa Kitô.  Để có được một tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh’, thánh Giacôbê hôm nay nhắc nhở chúng ta phải cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, cho mình và cho mọi người; cầu nguyện kiên trì như Êlia.  Chỉ có cầu nguyện mới có thể không dè giữ, ngờ vực hay do dự, nhưng cởi mở, vui tươi và đơn sơ trước mặt Chúa như trẻ nhỏ trước mặt cha mẹ, đúng như tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca, “Ước chi lời con nguyện, như hương trầm bay toả trước thánh nhan!

Anh Chị em,

Hôm qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đích thân đến toà Đại Sứ Nga tại Vatican; nghĩa cử này được xem là một diễn biến chưa từng có về mặt ngoại giao.  Dẫu báo chí có thể đoán già đoán non hoặc cắt nghĩa nội dung cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha cách này cách khác; nhưng chúng ta có thể tin chắc, với tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh’ của một người cha, một vị lãnh đạo tinh thần của thế giới, thay mặt Chúa Kitô, ngài đến để cầu xin hoà bình cho Ukraine.  Cũng thế, chúng ta hãy nghĩ đến những gì mỗi người chúng ta có thể làm để đem lại sự trong sáng và hồn nhiên cho môi trường của mình, một môi trường vốn đã bão hoà với một nền văn hoá quá nhiều tạp chất gây ra sự nhầm lẫn về cách nhìn nhận tha nhân.  Chúng ta hãy cầu nguyện để trở nên những sứ giả tiếp tục tặng ban một tấm lòng trong sạch; qua đó, chính Chúa Giêsu sẽ mời nhiều người đến với Ngài qua lòng nhân ái và tình cảm ‘thánh khiết’ của chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi mọi cám dỗ hưởng thụ, lây nhiễm từ một nền văn hoá thế tục; thay vào đó, cho con thể hiện một tình yêu vị tha ‘tự nhiên và lành mạnh’ như Chúa”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen