Tướng Mỹ lo ngại TT Trump ”tâm thần bất ổn” ra lệnh tấn công Trung Quốc

Tướng Mỹ lo ngại TT Trump ”tâm thần bất ổn” ra lệnh tấn công Trung Quốc (RFI)

Đăng ngày: 15/09/2021 – 16:38

Tướng Mark Milley phát biểu trước báo giới, ngày 21/07/2021, tại Washington, Mỹ. AP – Kevin Wolf

Trọng Thành

Trong « Peril », cuốn sách sẽ được xuất bản ngày 22/09/2021, nhà báo nổi tiếng người Mỹ Bob Woodward và phóng viên Robert Costa tiết lộ việc viên tướng có cấp bậc cao nhất trong quân đội Mỹ hoàn toàn không tin tổng thống Donald Trump là người tỉnh táo vào thời gian cuối nhiệm kỳ tổng thống.

Tướng Mỹ lo ngại tổng thống Trump « tâm thần bất ổn » bất ngờ ra lệnh dùng vũ khí hạt nhân tấn công Trung Quốc. Theo trích đoạn tác phẩm, được công bố trên Washington Post và CNN, tướng Mark Milley, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, đã bí mật chuẩn bị để không thực hiện mệnh lệnh sử dụng vũ khí hạt nhân tấn công Trung Quốc, kịch bản được dự đoán có thể xảy ra sau thất bại của ông Trump trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 03/11/2019.

Nhiều nguồn tin tình báo Hoa Kỳ khẳng định Trung Quốc coi khả năng Mỹ tấn công là điều có thể. Tướng Mark Milley đã phải đích thân gọi điện trấn an đồng nhiệm Trung Quốc Lý Tác Thành (Li Zuocheng) hai lần, trước và sau cuộc bầu cử.

Thông tín viên Guillaume Naudin tường trình từ Washington :

« Mark Milley đơn giản là chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Rõ ràng tướng Milley nghi ngờ về sự tỉnh táo của cấp trên, tổng tư lệnh và tổng thống Donald Trump. Sau vụ bạo loạn ngày 06/01/2021 trên đồi Capitol, tướng Mark Milley thậm chí còn đảm bảo với các tướng lĩnh cấp cao khác rằng thủ tục phát động các cuộc tấn công hạt nhân sẽ được tuân thủ – tức là mọi quyết định sẽ phải được thông qua ông.

Chỉ ít tháng trước đó, viên tướng cao cấp nhất trong quân đội Mỹ đã nói chuyện với người đồng cấp Trung Quốc để trấn an và khẳng định không có kế hoạch tấn công Trung Quốc. Một cuộc điện thoại khác với phía Trung Quốc sau vụ tấn công nhà Quốc Hội đồi Capitol, để cho phía Trung Quốc biết tình hình đã ổn định.

Cùng ngày hôm đó, 08/01, Mark Milley cũng đã có cuộc nói chuyện với bà Nancy Pelosi, chủ tịch Hạ Viện để trấn an lãnh đạo Hạ Viện và giải thích rằng tình hình đang được kiểm soát và quân đội sẽ không làm bất cứ điều gì bất hợp pháp hoặc điên rồ.

Lãnh đạo Hạ Viện Nancy Pelosi nói: « Ông ta bị điên rồi, ông biết là ông ta điên rồi và ông ta đã bị điên trong một thời gian dài ». Người được coi là cố vấn quân sự thân cận nhất của Donald Trump trả lời: « Tôi hoàn toàn đồng ý với bà ». Cựu chủ nhân Nhà Trắng đã từ chối trả lời các câu hỏi từ phía các tác giả cuốn sách ».

Yêu cầu tình báo theo dõi « ứng xử bất thường » của ông Trump

Trong cuốn sách sắp công bố, với nhân chứng là khoảng 200 giới chức Hoa Kỳ ẩn danh, các tác giả thuật lại tướng Milley đã họp bộ tổng tham mưu, để nhấn mạnh với tất cả các sĩ quan có mặt rằng, nếu tổng thống Trump ra lệnh tấn công hạt nhân Trung Quốc, ông sẽ phải là người được thông báo trước tiên. 

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân cũng yêu cầu lãnh đạo cơ quan tình báo CIA, Gina Haspel, và lãnh đạo cơ quan tình báo quân sự, tướng Paul Nakasone, theo dõi nhất cử nhất động bất thường của tổng thống mãn nhiệm Donald Trump.

Theo các tác giả, một số người cho rằng tướng Milley đã « hành động vượt quá thẩm quyền của mình », tuy nhiên, rõ ràng là viên sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Mỹ hiểu rằng cần phải hành động như vậy để « không cho phép xảy ra một đổ vỡ lịch sử trong trật tự quốc tế, không có chiến tranh với Trung Quốc do bất cẩn, hay với bất cứ một quốc gia nào khác, và vũ khí hạt nhân sẽ không được sử dụng ».

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Tưởng Năng Tiến

Tuy chào đời tại Sài Gòn – trước Hiệp Định Geneve – tôi vẫn có mặt trong đoàn người di cư từ Bắc vào Nam hồi năm 1954. Tuy đây không phải là một “giai thoại” ly kỳ hay thú vị gì sất cả nhưng vẫn xin được phép ghi thêm đôi dòng (cùng dặm thêm chút đỉnh mắm muối) để câu chuyện được tỏ tường, và đỡ phần nhạt nhẽo.

Tác giả Lê Duy San cho biết:

“Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh âm thầm cho công an đột nhập trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống những con sông để họ chết chìm rồi loan tin là những người này bị VNQDĐ thủ tiêu.

Vụ này đã làm cho VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tầu trong đó có cụ Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và nhiều lãnh tụ của Việt Quốc và Việt Cách khác. Hàng ngàn người khác bị chúng bắt đem di giam giữ tại Hỏa Lò Hà Nội và nhiều nơi khác trong đó có nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư.”

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không được tường tận về những sự kiện thượng dẫn nhưng biết chắc rằng – ngoài những nhân vật nổi tiếng vừa nêu – còn có vô số những đảng viên cấp địa phương (của cả Việt Quốc lẫn Việt Cách) cũng bị truy lùng hay sát hại vì không “bung” kịp, hoặc không tìm được đường để ra đến nước ngoài.

Thân phụ tôi là một trong những kẻ thuộc cái đám đông vô danh tiểu tốt này. Thay vì chạy sang Tầu, như phần lớn những đồng chí ở trung ương, ông trốn vào Nam. Tuy tay trắng, không có chi để lận lưng, ngoài cái bằng tiểu học (Certificat D’Étude Primaires Complémentaires Indochinoises, C.E.P.C.I) ông vẫn kiếm được đôi ba chỗ kèm trẻ, và một nơi để trú thân, trong một cái xóm lao động nghèo nàn –  có tên là Xóm Chiếu – bên Khánh Hội.

Trong Thư Về Làng (viết năm 1956) nhạc sỹ Thanh Bình tâm sự: Từ miền Nam, viết thư về thăm xóm làng/ Sắt son gửi trong mấy hàng/ Thăm bà con dãi dầu năm tháng/ Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang/ Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng …

Bố tôi không phải là nghệ sỹ nên ông chỉ đề cập đến chuyện cơm, áo, gạo, tiền … Thư ông viết: “Trong này có khi cơm ăn không hết, người ta đổ cho gà hay cho lợn”. Mẹ hiền, tất nhiên, không thể nào tin vào một chuyện “hoang đường” cỡ đó!

Bà vùng vằng, tức tối xé nát tờ thư trong tay (ấy là tôi đoán thế, nếu sai, xin má thứ tha và bỏ qua cho thằng con út) lầu bầu: “Lại phải lòng con đĩ nào trong ấy rồi, và chắc là định trốn vợ trốn con luôn đây, chứ thức ăn ở đâu ra mà lại phí phạm như vậy được?”

Nói xong, bất chấp mọi sự can ngăn/khuyên giải của họ hàng nội ngoại, bà tức tốc lặn lội vào Nam. Tới nơi, hiền mẫu tìm quanh quất mãi nhưng chả ra một con đĩ  (ngựa) nào ráo trọi mà nhìn đâu cũng thấy phố xá tấp nập, hàng quán tùm lum, và đồ ăn thức uống ê hề khắp chốn.  

Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến.

Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó :

– Người từ là từ phương Bắc đã qua dòng sông, sông dài/ Tìm đến phương này, một nhà thân ái/ Ơi! Tình Bắc duyên Nam là duyên tình chung muôn đời ta đắp xây… (“Khúc Hát Ân Tình.” Xuân Tiên & Song Hương).

– Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa/ Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu/
Đồi nương thương sức cần lao/ Se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu, ngọt ngào tình yêu
… (“Đất Lành.” Phạm Đình Chương)

Chuyện se duyên Nam Bắc có ngọt ngào tình yêu (thiệt) không thì chả ai dám chắc, và cũng không có chi bảo đảm cả nhưng với thời gian – rồi ra – ai cũng biết cái mền là cái chăn, cái mùng còn gọi là cái màn, cái phong bì với cái bao thư là một, cái bật lửa đã trở thành bựt lửa, cái hôn và cái hun cùng một nghĩa (và cùng đã) như nhau.

Cuộc chung đụng giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm … tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.

Kết quả của mối giao duyên tốt lành này là một phần tư thế kỷ sau – dù chả cần ai tuyên truyền, hay cổ động gì ráo nạo – chàng trai Biên Hoà Nguyễn Tất Nhiên vẫn cứ si mê “cô em tóc demi garçon,” và mê chết bỏ: Đôi mắt tròn, đen, như búp bê/ Cô đã nhìn anh rất… Bắc Kỳ/ Anh vái trời cho cô dễ dạy/ Để anh đừng uổng mớ tình si. (“Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ.” NXB Nam Á: Paris 1982).

Nền Đệ I Cộng Hoà ở miền Nam cũng có không ít những khiếm khuyết (vô cùng đáng tiếc) nhưng việc ổn định hằng triệu người dân di cư phải được coi là một điểm son của chế độ này, nhờ vào sự trợ giúp tận tình của cả nước Hoa Kỳ. Không phải thế lực ngoại bang nào đến Việt Nam cũng chỉ với mục đích xâm chiếm, cùng với chính sách chia để trị.

Chủ trương phân biệt vùng miền, mỉa mai thay, lại là đường lối xuyên suốt và nhất quán của cái nhà nước được mệnh danh là cách mạng hiện hành – theo như lời của nhiều công dân Việt :

  • FB Trần Đình Thu: “Để kỳ thị hai miền Nam Bắc xẩy ra ngày càng nghiêm trọng là do những chủ trương tuyên truyền hung hăng của nhà nước VN.”
  • Blogger Ku Búa: “Ai là người gây ra nạn phân biệt Bắc Kỳ Nam Kỳ? Đó không phải là sự khác biệt trong tư duy, trong môi trường sống, trong quan niệm sống hay con người. Mà chính là sự phân biệt trong chính sách chính phủ hiện tại.”
  • FB Thuc Tran: “Bất công là nguồn gốc của mọi sự thù ghét nhau giữa dân chúng hai miền và có lẽ đó cũng là ý đồ của đảng khi chia để trị.”

Họ có quá lời chăng?

Không dám “quá” đâu. Từ cuối thế kỷ trước, ông Vũ Đình Huỳnh (một nhân vật quan trọng của ĐCSVN) cũng đã từng nói những điều tương tự: “Sài Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà-Nội.” (Nguyễn Chí Thiện. Hỏa Lò. 7th ed. NXB Cành Nam, Virginia: 2007).

Thực sự thì Sài Gòn chưa bao giờ được Bên Thắng Cuộc xem “giống như Hà Nội” cả. Sự thực phũ phàng này được nhìn thấy rõ hơn trong những ngày tháng vừa qua.

Tác giả Nguyễn Khoa nhận xét:

“Dịch bệnh cũng làm bộc lộ mâu thuẫn chính trị vùng miền, với sự thống trị của miền Bắc, vốn là nơi phát xuất những đội quân chiến thắng năm 1975. Trong những năm 1990, người ta dành kinh phí quốc gia để xây dựng đường số 5 Hà Nội – Hải Phòng, hay đường số 18 Hải Dương – Quảng Ninh, thay vì con đường nhiều hàng hóa hơn là Quốc lộ 1 Sài Gòn – Mỹ Tho, hay liên tỉnh số 8 Sa Đéc – Long Xuyên.

Việc này có thể được thông cảm vì hệ thống đường sá miền Bắc quá tệ hại. Nhưng vào năm 2021, với một dân số gấp đôi, số người nhiễm bệnh gấp ba Hà Nội, mà số liều vaccine phân phối về Sài Gòn lại ít hơn là điều không thể tha thứ được.”

Bao giờ mà kẻ thống trị còn giữ được quyền bính thì họ chả cần đến sự “tha thứ” của bất cứ ai. Câu hỏi đặt ra là cái đạo quân chiếm đóng hiện nay sẽ còn tiếp tục duy trì được quyền lực ở Việt Nam thêm bao lâu nữa, và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?

Tưởng Năng Tiến
8/2021

GANH GHÉT & ĐỐ KỴ…

Van Pham

GÓC SUY GẪM

GANH GHÉT & ĐỐ KỴ…

Con người được thượng đế tạo dựng, vì thế mỗi người là cá thể duy nhất trên thế giới này và đều có giá trị của riêng mình. Bạn đừng tự ti, mặc cảm về bản thân nếu chẳng may lâm cảnh nghèo hay ít học. Nhưng bạn cũng đừng tự kiêu, ngạo nghễ xem thường người khác khi bạn may mắn giàu có hay ăn học thành tài. Thế giới này đều dung chứa tất cả trong nó, và bạn phải chung sống với nó dù muốn hay không….

Một người vĩ đại sẽ để cho người khác dựa trên đôi vai của mình; cũng như biển lớn dung chứa trăm sông, nếu có tâm phân biệt, chê sông này đục, sông kia trong thì biển cũng không thể trở nên vĩ đại như thế.

Tâm phân biệt so sánh là khởi nguồn cho lòng đố kỵ. một cái tâm xấu xa có thể gây ra nhiều hậu họa.

“Những kẻ đố kỵ bao giờ cũng có một cái gì đó để buồn phiền, khiếu nại! Bởi vì anh ta bị giày vò không chỉ vì những thất bại của bản thân anh ta mà cả vì những thành công của người khác”.

Tâm rộng lượng thì lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ.

Thiên đường luôn rộng mở, chỉ là chúng ta tự khép mình.

So sánh hơn thua, dìm người khác để đưa mình lên, không những không giúp chúng ta hạnh phúc hơn… mà nó còn khiến ta mệt mỏi hơn.

Vốn dĩ trước mắt chúng ta là bầu trời rộng lớn, vậy nhưng chỉ vì tật đố kỵ mà bây giờ nó chỉ còn hình ảnh đáng ghét của đối phương. Như vậy chẳng phải là quá ngu ngốc hay sao?

“Thật may mắn cho ai học được cách:

– Khâm phục mà không ghen tỵ

– Đi theo mà không bắt chước

– Khen ngợi mà không tâng bốc

– Dẫn đường mà không thao túng”.

Buông tha cho đối phương cũng là mở ra cho mình thêm một con đường.

Thiên đường lúc nào cũng mở cửa, chỉ là chúng ta tự đóng kín tâm tư của mình!”

Tự Do cho TNLT Trần Huỳnh Duy Thức

May be an image of 1 person and text that says 'TỰ DO CHO TNLT TRẦN HUỲNH DUY THỨC "TÔI CẦN CÔNG LÝ VÀ NHÀ NƯỚC PHẢI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT!" LUA "Tôi không LẬT ĐÓ CHÍNH QUYỀN gì cả tôi chỉ CHỐNG CƯỜNG QUYỀN và sẽ còn CHỐNG nó đến khi nào còn THẤY nó"'

Lê Vi

Tôi có thói quen tìm kiếm sự vô lý trong mọi thứ xung quanh mình, có anh bạn mỗi lần gặp mặt thường than túng thiếu trong khi mỗi ngày anh hút hết một gói Marlboro giá khoảng 11 đô Mỹ. Khi tôi nói ông túng thiếu vậy sao ngày nào cũng đốt khơi khơi 11 đô chỉ để rước bệnh vô người chi vậy thì anh bảo “Chứ giờ bỏ hổng được biết làm sao?”

Xưa lúc mới qua đi làm chung với một bà đồng nghiệp da đen, chồng bà ấy làm nghề rửa xe dạo nhưng mượn tiền tậu một chiếc BMW gần 60 ngàn đô rồi đem về trùm mền lại chứ không dám chạy, lần đó xe bả bị hư phải sửa nên bả phải đi nhờ xe tôi, tôi hỏi sao không lấy xe BMW đi cho nó oai thì bả bảo chồng bả không cho bả đụng đến chiếc xe cưng đó, tôi cười và hỏi “Chiếc xe mua chỉ để ngắm thì mua làm gì?”

Hai vợ chồng ông bà bảo trợ cho gia đình tôi ngày xưa là giáo viên về hưu, họ sống giản dị và chi tiêu mọi thứ rất cẩn thận nên chỉ với số tiền hưu ít ỏi mà họ vẫn có thể đi du lịch khắp nơi trên thế giới. Một lần họ đem hình họ chụp ở Miến Điện cho tôi xem, chỉ vào những cái chùa vàng chùa bạc gì gì nơi xứ ấy họ bảo cái xứ này nghèo bởi vì họ xài sang quá, họ đổ quá nhiều tiền vào những nơi như thế này.

Mỗi khi về Việt Nam chơi tôi hay bị người nhà nhắc nhở “…thôi mày đừng chê nữa, làm mất cuộc vui…”. Thực tình là không phải tôi thích chê bai nhưng mỗi khi thấy chuyện gì vô lý mà không nói thì bức rứt khó chịu bởi ở xứ mình sự vô lý hiện diện ở khắp nơi.

Chẳng hạn như mới sáng sớm gặp mặt mấy thằng em tụi nó đã rủ “nhậu đi!”, giờ làm việc mà quán cà phê đông nghẹt người, đến nơi công quyền mới một giờ chiều đã thấy thằng cán bộ mặt đỏ gay vì cữ nhậu giữa trưa, con đường thì nhỏ mà cái lề đường lại quá rộng và không có đường cho xe lăn leo lên leo xuống, mỗi cái cổng chào hoành tráng cho mỗi huyện chẳng biết để làm gì? Đi từ Sài Gòn ra Nha Trang mà đếm không hết mấy cái tượng đài với cổng chào luôn, ủy ban nhân dân một toà nhà vĩ đại thì đảng uỷ cũng một toà vĩ đại không kém, thác Cam Ly lại chỉ có toàn nước cống và nước đái ngựa hôi rình, chợ Đà Lạt thì ngập ngụa rác, xuống tắm biển thì mới vừa lặn xuống trồi lên đã vướng cái bịt ni lông ở trên đầu…

Còn nhiều lắm, ở đâu cũng có sự vô lý nhưng ở xứ mình thì nó nhan nhản xung quanh ta, nó hiện diện ở tất cả các ngành trọng yếu của đất nước từ giáo dục, y tế, tư pháp, lập pháp, hành pháp, công an, quân đội, du lịch, thể thao…nói chung là nhiều lắm. Một con người mà cứ ôm khư khư những điều vô lý thì cuộc đời con ngưòi đó khó mà khá lên được, một dân tộc mà mãi bám víu vào những điều vô lý thì dân tộc đó khó có thể bằng bạn bằng bè, một đất nước mà nhìn đâu cũng thấy đầy sự vô lý thì đất nước đó khó thoát phận tiểu nhược nghèo hèn.

Một chính quyền mà không dẹp bỏ được những điều vô lý là một chính quyền không chính danh, một chính quyền mà dung dưỡng những điều vô lý chỉ với mục đích duy trì quyền lực thì chính quyền đó là thứ chính quyền vô đạo không xứng đáng được tồn tại. Công an nhân dân mà hợp tác với côn đồ đi liệng cứt vào nhà dân là vô lý, quân đội nhân dân mà đi ra hỗ trợ doanh nghiệp cướp đất của dân là vô lý, nhân tài của đất nước đã không được trọng dụng lại còn bị giam cầm oan ức là vô lý, hạng dốt nát tham lam mà nhảy lên làm quan với lương ba cọc ba đồng nhưng thằng nào cũng sở hữu biệt phủ lầu đài là một điều hết sức vô lý không tài nào hiểu được.

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng thì xứng đáng được hít khói bụi khi đi ra đường, bị bỏ mặc cho chết trong phòng cấp cứu nếu không có tiền, bị tra tấn khi phải nín tiêu nín tiểu khi không có toilet, bị hành xác khi kẹt xe, bị đè đầu móc bóp khi qua hải quan, bị chặn xe làm tiền khi lưu thông trên đường, bị đánh đập đến chết khi vào đồn công an…

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng để thay đổi nó thì sẽ sống chung với những điều vô lý như cái anh chàng nói ở đầu bài lúc nào cũng ca bài ca túng thiếu trong lúc miệng phì phèo thuốc lá và ho sù sụ, thế thôi.

Đất nước nào cũng cần người tài ra lãnh đạo để phát triển nhưng ở VN lại giam cầm người tài là một điều hết sức vô lý cần phải lên tiếng.

Free Trần Huỳnh Duy Thức

Fb Thuc Tran

Đọc chuyện bà Mai để biết dân khổ ra sao

Đọc chuyện bà Mai để biết dân khổ ra sao

Bởi  AdminTD

Blog VOA

Trân Văn

15-9-2021

Tờ Công Luận – cơ quan ngôn luận của Hội Nhà báo Việt Nam vừa kể một câu chuyện mà nội dung khiến độc giả không biết nên xác định thân phận con người và đạo lý ở Việt Nam vào loại nào trong đại dịch…

Bà Trương Thị Tuyết Mai, 54 tuổi, cư trú ở phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM. Ngày 28/6/2021, bà Mai rời nhà, dùng xe hai bánh gắn máy về xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để chăm sóc thân mẫu lâm trọng bệnh…

Thượng tuần tháng 7, chính quyền TP.HCM bắt đầu áp đặt những biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt theo yêu cầu “ai ở đâu ở đấy” của Thủ tướng nên bà Mai bị kẹt lại tại Bến Tre không thể về nhà.

Bà Mai dự tính sẽ chờ đến 15/9/2021 – thời điểm mà chính quyền TP.HCM nới lỏng các biện pháp hạn chế đi lại – nhưng chồng bà đột ngột lâm trọng bệnh. Ngày 11/9/2021, bà Mai đến Văn phòng UBND tỉnh Bến Tre, trình bày hoàn cảnh của mình và xin nơi này cấp cho bà Giấy đi đường. Chính quyền tỉnh Bến Tre đã cho bà một tờ giấy. Họ xác định bà Mai được rời Bến Tre vào ngày 12/9/2021 để về nhà ở phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM. Yêu cầu bà tuân thủ các qui định về phòng chống dịch. Đồng thời đề nghị Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 các cấp cho phép bà Mai được băng qua các trạm gác vì chồng bà cần người chăm sóc…

Có giấy xác nhận đã xét nghiệm COVID-19 với kết quả âm tính, có giấy đi đường, bà Mai dùng xe hai bánh gắn máy rời khỏi Bến Tre nhưng chỉ đi được đến thành phố Tân An, thuộc tỉnh Long An…

Một trạm kiểm soát đi lại ở thành phố Tân An, tỉnh Long An không cho bà Mai qua trạm vì… Giấy đi đường do UBND tỉnh Bến Tre không có… số văn bản! Muốn qua trạm này, bà Mai phải quay lại Bến Tre, xin giấy đi đường… hợp cách!

Thế là bà Mai phải lộn trở lại Bến Tre để xin Giấy đi đường mới. May cho bà là Văn phòng UBND tỉnh Bến Tre thông cảm, chấp nhận cấp lại Giấy đi đường có… số văn bản theo đòi hỏi của chính quyền tỉnh Long An…

Với Giấy đi đường mới, bà Mai hăm hở trở về thêm một lần nữa ngay trong ngày 12/9/2021. Lần này bà băng qua được tỉnh Long An nhưng khi xe hai bánh gắn máy của bà gặp trạm kiểm soát đầu tiên của TP.HCM ở huyện Bình Chánh thì bà không được đi nữa! Công an ở trạm này không chấp nhận cho bà Mai – cư dân TP.HCM – quay về nhà của bà để chăm sóc chồng vì theo họ, lý do đó… không chính đáng! Bà Mai kể với phóng viên của tờ Công Luận rằng: Công an dọa sẽ lập biên bản, phạt bà vi phạm quy định phòng, chống dịch nếu bà tiếp tục năn nỉ… Bà Mai đành ngậm đắng, nuốt cay quay về Bến Tre thêm một lần nữa.

TP.HCM đã quyết định kéo dài thời gian hạn chế đi lại thêm nửa tháng nữa. Chưa rõ sau 30/9/2021 bà Mai có được trở về nhà của bà không? Đến lúc đó chồng của bà có còn cần người chăm sóc nữa không hay đã…

Tờ Công Luận đã đem câu chuyện của bà Mai và những Giấy đi đường bà được chính quyền tỉnh Bến Tre cấp để hỏi đại diện Công an TP.HCM xem… vì sao lại thế? Một viên thượng tá tên Lê Mạnh Hà là Phó phòng Tham mưu của Công an TP. HCM, bảo rằng: Công an TP.HCM chưa nhận được… văn bản của chính quyền tỉnh Bến Tre! Chẳng lẽ ngoài Giấy đi đường đã cấp cho bà Mai, chính quyền tỉnh Bến Tre còn phải gửi văn bản cho Công an TP.HCM để thông báo họ cho phép bà Mai rời khỏi Bến Tre?

Viên thượng tá vừa đề cập nói thêm, công an ở các chốt, trạm chỉ làm theo qui định “ai ở đâu, ở đấy”. Giấy đi đường liên tỉnh chỉ có giá trị khi có cả sự đồng ý của bên cho đi và bên tiếp nhận! Dường như đây là chỉ thỉ của Bộ Công an nên viên thượng tá tên Hà cho biết, Công an TP.HCM đang đề xuất Bộ Công an có văn bản chỉ đạo, tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện một kiểu! Viên thượng tá bảo, những trường hợp như bà Mai thì… CÓ THỂ giải quyết linh động hơn, hỗ trợ người dân về nhà an toàn.

CÓ THỂ có nghĩa là chấp nhận cũng được và từ chối cũng… chẳng sao! Không chỉ bà Mai, hoàn cảnh của bà, mà sự chấp thuận – cho phép đương sự đi lại – của chính quyền một tỉnh cũng… chẳng là gì cả!

Đại dịch COVID-19 đã lột trần từ trí tuệ, khả năng đến bản chất phi nhân của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương tại Việt Nam. Khi Thủ tướng bật đèn xanh cho hệ thống truyền thông chính thức hướng dư luận vào việc chỉ trích hệ thống chính trị, hệ thống công quyền địa phương vì… xét nghiệm chậm, lỏng lẻo trong quản lý người về từ vùng dịch (2) thì chuyện xem việc ai đó muốn về nhà để chăm sóc thân nhân lâm trọng bệnh là… không chính đáng sẽ mang tính tất nhiên.

Không chỗ nương thân, đói khát, thiếu người chăm sóc nếu bệnh tật hay chẳng may nhiễm COVID-19, tuyệt vọng vì tương lai mù mịt, nhiều người Việt tìm đủ mọi cách để thoát khỏi vùng dịch, kể cả chấp nhận những phương thức nguy hiểm tới tính mạnh trốn trong thùng xe vận tải chở hàng đông lạnh (3). Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền vẫn thế, vẫn bất chấp thực tại, răm rắp thực thi nghiêm lệnh của Thủ tướng dù nghiêm lệnh chỉ khiến thực trạng tồi tệ hơn để khỏi bị phê bình, khỏi bị Thủ tướng biến thành bung xung, thay chính phủ gánh trách nhiệm vì chiến lược và các giải pháp phòng ngừa chung chung, thiếu cụ thể, không hiệu quả nhưng vẫn khoác tấm áo choàng… chính đáng!

Lăng tẩm và câu chuyện thây ma biết ăn

Lăng tẩm và câu chuyện thây ma biết ăn

Bởi  AdminTD

 Đỗ Ngà

15-9-2021

Các vị vua với quyền lực bao trùm khi còn sống, tuy nhiên khi chết đi thì hầu hết trong họ đều bị người đời sau lãng quên. Công trình kiến trúc trường tồn là một dấu ấn làm cho người đời sau phải nhớ đến một vị hoàng đế. Công trình kiến trúc trường tồn là loại công trình dốc cạn sức dân mới có thể xây dựng được. Mà để ép toàn dân bỏ sức bỏ mạng ra xây công trình thì phải bạo chúa mới có thể làm được điều đó. Đó là lý do tại sao lăng mộ thường gắn liền với tên tuổi bạo chúa là vậy.

Lăng mộ cho bạo chúa thường phải là công trình kiến trúc vĩ đại có thể trường tồn để giữ tên tuổi và giữ xác các vị vua không mai một, Kim tự Tháp hay mộ Tần Thủy Hoàng đều tồn tại hàng ngàn năm. Cái vĩ đại của lăng mộ thể hiện quyền uy của người chết, cái vững chắc công trình nhằm mục đích là để trường tồn.

Từ khi chế độ dân chủ thay thế phong kiến, thì mốt xây lăng tẩm cũng cáo chung theo cái thể chế lỗi thời đó. Tuy nhiên khi nhà nước CS – một loại Phong Kiến trá hình xuất hiện thì phong trào xây lăng tẩm đã “đội mồ sống dậy”. Từ thời Tần Thủy Hoàng đến thời Tào Tháo ngót 5 thế kỷ mới lại xuất hiện lăng tẩm thì giờ đây thời đại CS lăng tẩm nổi lên như nấm. Lenin, Stalin, Kim Il Sung, Mao, Hồ Chí Minh… vv đều là các bạo chúa khét tiếng và tất cả đều đã nằm trong lăng to mộ lớn.

Lăng tẩm được xem là một loại lâu đài cho người chết, nên những kẻ tham quyền, háo danh rất thích. Mà nói đến tham quyền và háo danh thì không ai bằng bạo chúa. Đến thành thây ma cũng “phải nằm trong lâu đài mới chịu” thì có thể nói đó là tột cùng của bệnh háo danh. Trí tuệ thì CS không có, đạo đức thì CS không có, tuy nhiên tính háo danh thì có thừa. Háo danh đến mức mà đến chết vẫn háo thì trong ĐCS nhiều như rươi. Và đó là lý do tại sao lăng tẩm cho quan chức mọc như nấm mưa: lăng Võ Nguyên Giáp, lăng Trần Đại Quang, và bây giờ là lăng của Phùng Quang Thanh rồi còn nữa và còn nữa… Để có những lăng mộ ấy, thì người dân Việt Nam phải làm bán mạng nhưng vẫn thiếu ăn.

Rồi đây lịch sử Việt Nam sẽ ghi lại thời CS là thời mà bệnh háo danh lên đến cực độ, bọn quan tham bòn rút tiền dân xây lăng to mộ khủng. Thời CS, thời đại mà thây ma biết cướp phần ăn hàng triệu người sống.

CHIÊM NGẮM TÌNH YÊU

CHIÊM NGẮM TÌNH YÊU

J.B Lê Đình Nam

Đối với người đời, hình ảnh thập giá là một điều gì đó đau đớn tột cùng và một sự thất bại thê thảm.  Tuy nhiên, với người Công giáo thì khác, thập giá là biểu tượng của hy sinh, của tình yêu và vinh quang.

Hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta cùng nhau suy tôn Thánh giá, tức là chiêm ngắm tình yêu tự hủy của Thiên Chúa dành trọn cho con người.  Chính nơi thập giá ấy, ơn cứu chuộc đã đến với con người và cánh cửa trong thân phận làm con Thiên Chúa được rộng mở.

Chúa Giêsu đã không chỉ tự hạ mình để đến với nhân loại trong thân phận con người.  Nhưng hơn thế nữa, Ngài đã tự hiến thân mình trên cây thập giá để tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa được tuôn đổ trên con người.

Thay vì thập giá là biểu tượng của sự ô nhục và thất bại thì ngang qua cái chết của Đức Giêsu, thập giá đã trở nên biểu tượng của sự chiến thắng tội lỗi và đem lại vinh quang cho con người bằng một tình yêu vô vị lợi.

Thay vì thập giá là biểu tượng của sự đau khổ và vô cảm, thì ngang qua sự hiến thân của Đức Giêsu, thập giá đã trở nên biểu tượng của sự hòa giải và tình liên đới với Thiên Chúa bằng một tình yêu khiêm hạ.

Thay vì thập giá là biểu tượng của sự hận thù và chết chóc, thì ngang qua việc hy sinh mạng sống của Đức Giêsu, thập giá đã trở nên biểu tượng của một Đức tin tinh tuyền và một tình yêu son sắt mà Thiên Chúa dành tặng cho nhân loại.

Thật thế, mỗi một người Công giáo luôn xác tín rằng, thập giá không phải là một kết thúc, nhưng là một sự bắt đầu.  Thập giá không phải là sự yếu đuối nhưng là sức mạnh của tình yêu đến nỗi thí mạng sống cho người mình yêu.  Và thập giá không phải là sự chết, nhưng hơn thế đó chính là sự sống mới của con người trong tư cách làm con Thiên Chúa.

Suy tôn Thánh giá là cơ hội để chúng ta chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa – Người là cội nguồn của tình yêu.  Đây cũng là giây phút thiết thực để mỗi chúng ta nhìn lại hành trình sống chứng nhân tình yêu của mình đối với Chúa và tha nhân.

Trong một thế giới đang mải mê tìm kiếm vật chất như hôm nay, tình yêu dường như đang trở nên khan hiếm và rẻ mạt.  Khi mà mọi thứ xung quanh đang được cung cấp một cách đầy đủ và tiện nghi hơn, thì xem ra tình yêu lại đang bị thiếu hụt và xem thường một cách trầm trọng.

Tình người đang được cân đong đo đếm bằng những lợi lộc vật chất và địa vị.  Tình yêu nam nữ đang được xây dựng trên trên những quy chuẩn của tiền tài và dục vọng.  Do đó, sự khủng hoảng đời sống gia đình đang trở nên báo động hơn bao giờ hết.  Sự thờ ơ vô cảm trở nên lối sống chung của con người thời hiện đại.  Và xã hội trở nên như một chiến trường của sự tranh giành, đấu đá và chỉ biết nghĩ cho riêng mình.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến những đổ vỡ đó chính là sự thiếu vắng tình yêu.  Và cốt lõi của đó chính là sự đánh mất niềm tin vào một Thiên Chúa – Đấng đầy tình yêu thương.

Lễ Suy tôn Thánh giá mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu vô tận của Thiên Chúa.  Một tình yêu tự hạ để đến và sẻ chia với thân phận con người.  Một tình yêu tự nguyện để đồng hành và thấu hiểu nỗi thống khổ của phận người.  Một tình yêu tự hiến để hàn gắn tình nghĩa phụ tử của Thiên Chúa với con người.

Suy tôn Thánh giá không chỉ dừng lại ở việc nhận ra tình yêu hải hà của Thiên Chúa trên cuộc đời mình, mà còn mời gọi mỗi người chúng ta sống tình yêu đó một cách triệt để và cụ thể nơi cuộc sống hằng ngày.  Để ngang qua đời sống chứng nhân đó, hình ảnh một Thiên Chúa đầy tình yêu thương và giàu lòng thương xót đến được với nhân loại đang quặn mình trong đau khổ và tội lỗi.

Dẫu biết rằng dòng đời vẫn còn đó lắm vất vả gian truân, nhưng sẽ đẹp biết mấy nếu mỗi chúng ta biết dành tình thương cho nhau.  Xã hội sẽ trở nên giá trị và bình yên hơn nếu mỗi chúng ta biết tôn trọng phẩm giá con người bằng tình liên đới và sẻ chia trong cuộc sống.  Và tất cả điều đó sẽ được bắt đầu khi mỗi chúng ta biết nhìn lên Thập giá Đức Kitô, chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa và thực hành tình yêu đó mỗi ngày trong đời.

J.B Lê Đình Nam

From: Langthangchieutim

‘Tarzan Việt Nam’ Hồ Văn Lang chết vì ung thư gan, sau 8 năm về từ rừng sâu

‘Tarzan Việt Nam’ Hồ Văn Lang chết vì ung thư gan, sau 8 năm về từ rừng sâu

September 13, 2021

QUẢNG NGÃI, Việt Nam (NV) – Ông Hồ Văn Lang, người được báo chí cả trong nước và thế giới biết đến, với biệt danh là “người rừng” và “Tarzan Việt Nam” do từng sống tách biệt trong rừng sâu suốt hơn 40 năm, vừa qua đời hôm Thứ Hai tuần trước, do căn bệnh ung thư gan, theo bản tin của tờ Daily Mail hôm Thứ Hai, 13 Tháng Chín.

Giới chức chính quyền huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, cũng như ông Hồ Văn Tri, em trai ông Lang, xác nhận điều này và cho biết ông Lang qua đời hôm 6 Tháng Chín, sau khoảng một năm chống chọi với căn bệnh quái ác.

Ông Hồ Văn Lang vào Tháng Tám năm 2013. (Hình: APF/AFP via Getty Images)

Vào năm 1972, ông Lang được cha là ông Hồ Văn Thanh, người thuộc sắc dân thiểu số Cor, dẫn vào rừng sâu trú ẩn, sau khi xảy ra cuộc oanh tạc khiến một nửa gia đình thiệt mạng, theo các cơ quan truyền thông.

Ông Alvaro Cerezo, một người bạn ngoại quốc quen biết sau này với ông Lang, nói với tờ Daily Mail rằng đời sống trong thế giới tân tiến có lẽ đã góp phần khiến ông sớm qua đời, qua việc uống rượu, hút thuốc, ăn các thực phẩm biến chế có đủ mọi chất hóa học.

Ông Hồ Văn Lang, giữa, khi vừa trở về sống với cộng đồng. (Hình: STR/AFP via Getty Images)

Ông Cerezo nói: “Tôi rất buồn khi ông ấy ra đi, nhưng đối với tôi thì cái chết cũng là sự giải thoát cho ông ta vì tôi biết ông đã rất đau đớn trong những tháng cuối.”

Người bạn này cũng nói rằng, “Tôi không thấy ông ta phù hợp với đời sống trong xã hội này. Tôi luôn lo ngại rằng ông ta và cơ thể của ông sẽ không thể nào đối chọi với sự thay đổi lớn lao khi trở về với cộng đồng.”

Căn chòi cao 5 m trong rừng sâu của hai cha con “người rừng.” (Hình: STR/AFP via Getty Images)

Hai cha con ông Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang sống mấy thập niên trong khu rừng rậm thuộc huyện Trà Bồng, cho tới khi dân địa phương nhìn thấy họ lúc vào rừng kiếm củi.

Giới hữu trách nói rằng vào năm 2013 người em của ông Lang là Hồ Văn Tri khuyên nhủ người anh hãy đưa cha về sống với cộng đồng, do sức khỏe của ông Thanh ngày càng suy yếu. Ông Thanh qua đời năm 2017.

Các tấm khố làm bằng vỏ cây và dụng cụ hàng ngày do hai cha con chế tạo khi sống trong rừng. (Hình: STR/AFP via Getty Images)

Trong thời gian sống ẩn náu trong rừng, hai cha con sống sót bằng cách hái lượm rau quả và trồng bắp.

Họ mặc khố làm bằng vỏ cây, sống trong căn chòi trên đọt cây, cao hơn mặt đất khoảng 5 mét. (V.Giang) [kn]

Loạn ngôn !

Loạn ngôn !

Lm. Anmai, CSsR

Còn nhớ Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Ephêsô:
“Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô” (Ep 4,29-32)

Công – dung – ngôn – hạnh là những đức tính không chỉ dành cho nữ giới dẫu ta nghe nói có vẻ cho nữ giới. Thế nhưng rồi, khi đã làm người và nhất là là người thì bất cứ ai cũng thật cẩn trọng về phát ngôn của mình.

Lời phát ngôn của mỗi người, tùy vào vị trí của mình sẽ lan tỏa, sẽ ảnh hưởng đến tùy mức độ, tùy vị thế của người đó. Thế nhưng rồi, dù bất cứ một ai, khi phát ngôn sẽ làm ảnh hưởng đến những người nghe dù bất cứ người đó là ai.

Nhiều ngày tháng qua, ta thấy có những người loạn ngôn. Ta thấy những phát biểu, những câu từ của họ xem chừng là chướng tai gai mắt vì như họ nói mà không biết họ nói cái gì.

Những ngày gần đây, cộng đồng lại được nghe một người đem đạo Công Giáo ra để cười đùa với câu chuyện quá tục tằn về chuyện giải tội. Người nói cười hả hê đắc thắng như là đắc thắng với bao nhiêu chuyện mà người đó đã làm và sẽ làm.
Nhưng không, có thể đụng đến bất cứ ai nhưng đến tôn giáo là điều cấm kỵ. Loạn ngôn phát ra từ người này đã để lại biết bao nhiêu bức xúc, phẫn nộ trong cộng đồng. Dĩ nhiên chuyện bức xúc và phẫn nộ là bộc lộ tâm lý hết sức bình thường của người bình thường. Chỉ có những người nào đó khác thường mới có thể im lặng hay ủng hộ hay thỏa hiệp với cung cách loạn ngôn của con người đó.

Thế nhưng rồi, ta hãy hết sức bình tĩnh vì lẽ công mãi mãi vẫn là công và quạ mãi mãi vẫn là quạ.

Văn là người mà ! Từ xưa đến giờ ai ai cũng biết vậy để rồi khởi đi từ ngôn từ, từ giọng nói của ai đó ta có thể biết được tâm trạng, tâm tính và tính cách của người đó.
Ở đời ! Ai dám nói mình trong sạch, ai dám nói mình sạch tội để đi xét đoán và bươi móc người khác : “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”. (Ga 8, 7)
Và ta nên nhớ trong thư của Thánh Giacôbê tông đồ : “Chỉ có một Đấng ra Lề Luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn anh là ai mà dám xét đoán người thân cận?”

Với tất cả những điều đó, ta thấy chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng thấu suốt tâm can của con người mới có quyền xét xử con người mà thôi.

Tiếc thay nhiều người trong cuộc sống tự cho mình là có quyền trên người khác để xét xử, để moi móc, để thóa mạ người khác. Phải nói là thương cho thể loại người như vậy. Ta có thể nói họ là những người vô minh và nhất là không biết mình là ai.
Ngày nay, ở cái thời đại bùng nổ truyền thông, ta thấy mạnh người người nói, mạnh nhà nhà nói và họ không biết lời đó mang lại sự hiệp nhất yêu thương hay gây chia rẽ. Cứ thích là cho lên mạng những lời bất chấp để gây tổn thương cho người khác. Và tiếc thay là nhiều người khác không xem xét cũng như không cân nhắc mà hùa theo những loạn ngôn ấy.

Ta thấy một người nữ như đang gây sóng gió hay bão trên mạng. Bình tĩnh và hết sức bình tĩnh vì ta cũng chưa hiểu được những gì đàng sau lưng của người nữ đó. Có khi cũng là chiêu trò để kéo sức hút về mình để làm cho nhiều người quên đi mình là ai cũng như quên đi những điều cần thiết trong đời mình.

Hiện tại, giây phút này là giây phút mà ta cần nhìn lại mình, cần phải sám hối vì cái chết có thể đến với ta bất cứ điều gì.

Và với những loạn ngôn mà ta nghe được như là lời nhắc nhở ta để ta hết sức cẩn trọng khi nói ra bất cứ lời nào. Không cân nhắc, không suy nghĩ, không lựa lời thì ta cũng sẽ đi theo vết xe đổ của những loạn ngôn của con người đang cuồn cuộn như thế này.
Nên nhớ ở đời không ai thoát khỏi quy luật nhân quả. Thế thì những lời mình nói, những việc mình làm trước tiên phản tĩnh về con người của mình cũng như sẽ là những lời tự kết án mình.

Ta cũng chả cân phải đao to búa lớn, cũng chả cần phải thóa mạ những kẻ loạn ngôn. Những người đó không sớm thì muộn cũng phải lãnh tất cả những lời mình nói và những việc mình làm. Phần chúng ta, chuyện cần nhất đó chính là sự bình an trong tâm hồn.

Để được như thế, ta cần có sự bình an ngay trong tâm hồn của ta.
Ngày còn bé, Mẹ tôi vẫn dạy chúng tôi : “Ngậm máu phun người là dơ miệng mình”. Lời của Bà vẫn còn đó để tôi, chúng tôi không bao giờ nói ra những lời độc địa hay làm gì đó hại ai.

Cũng tương tự ý nghĩa lời dạy đó : “Bạn đừng lấy bùn ném vào người khác vì đôi khi không trúng người khác mà tay bạn đã bẩn”.

Vâng ! Với tất cả tâm tình, ta được mời gọi hãy chọn cung cách sống sao để được bình an. Tưởng nghĩ trước hết để được bình an đó là ta phải có tâm an và nhất là cái miệng cũng phải an. Nghĩa là ta xin Chúa cho ta đừng bao giờ thốt ra lời độc địa, thóa mạ hay mạt sát bất cứ ai.

Ngày đầu tháng 9 năm 2021

Lm. Anmai, CSsR
ảnh: trên mạng

Việt Nam/COVID: Số ca nhiễm và tử vong đi xuống trong 8 ngày

VOA Tiếng Việt

Bản tin về đại dịch COVID-19 của Bộ Y tế Việt Nam cho biết đất nước có thêm hơn 10.500 ca nhiễm và 276 ca tử vong trong thời gian từ 17h ngày 13/9 đến 17h ngày 14/9.

Đến nay, Việt Nam có tổng cộng hơn 635.000 người nhiễm virus và 15.936 người thiệt mạng vì dịch. Hầu hết các ca này xảy ra trong vòng 4 tháng rưỡi trở lại đây. Chiếm khoảng một nửa các con số vừa kể là ở thành phố Hồ Chí Minh, tâm dịch của đất nước.

Thống kê của Bộ Y tế cho thấy số ca dương tính được ghi nhận qua các cuộc xét nghiệm chính thức đang có xu hướng đi xuống trong 8 ngày gần đây, từ gần 14.200 ca hôm 7/9 xuống gần 10.500 hôm 14/9.

Trong cùng thời gian, đường đồ thị về số người tử vong trên toàn quốc đi từ con số 316 của ngày 7/9 và 335 của ngày 8/9 xuống 217 vào ngày 11/9, sau đó đi ngang trong 3 ngày từ 12 đến 14/9 với khoảng trên dưới 270 người thiệt mạng vì dịch mỗi ngày.

Xu thế giảm cũng khá rõ ở tâm dịch Tp.HCM, với số ca nhiễm trung bình là trên dưới 7.300 trong các ngày 7-10/9 xuống mức 5.500-6.500 trong những ngày gần đây, tương tự là con số tử vong từ trên 250 ca trong các ngày 7 và 8/9 xuống khoảng 200 trong vài ngày qua.

Mặc dù vậy, tình hình dịch vẫn bị xem là còn nghiêm trọng và chính quyền Tp.HCM tiếp tục áp dụng lệnh giãn cách ở mức độ cao trong ít nhất 2 tuần nữa kể từ ngày 15/9.

Thành phố có vai trò là đầu máy kinh tế của Việt Nam đã áp dụng các biện pháp giãn cách, phong tỏa nghiêm ngặt trong hơn 3 tháng, dẫn đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp và người dân.

Trong khi đó, chính quyền của thủ đô Hà Nội mới đây cho biết họ đang cân nhắc lộ trình nới lỏng giãn cách theo từng bước sau các thời điểm 15 và 21/9, nhưng chưa đưa ra kế hoạch nào cụ thể. Một quan chức kiểm soát bệnh dịch của Hà Nội nói với báo chí rằng thành phố này vẫn “chưa hết nguy cơ lây nhiễm”. Thủ đô của Việt Nam áp dụng lệnh giãn cách từ 24/7.

Cách Hà Nội không xa, chính quyền thành phố cảng Hải Phòng thông báo hôm 14/9 rằng họ cho phép một loạt dịch vụ công ích hoặc kinh doanh sinh lợi được hoạt động trở lại từ 0h ngày 15/9.

Đó là các vườn hoa, công viên, nhà hàng, các quán vỉa hè, các cơ sở kinh doanh dịch vụ thể dục, thể thao trong nhà, spa, chăm sóc sắc đẹp, các phòng khám chữa răng, tai mũi họng, v.v…

Nhà chức trách Hải Phòng nói cơ sở để nới lỏng lệnh giãn cách là thành phố đã đẩy mạnh tiêm vắc-xin, đến nay đã tiêm được gần 500.000 liều, và qua 21 ngày thực hiện nhiều xét nghiệm song không ghi nhận ca nhiễm mới trong cộng đồng.

Trên cả nước, Việt Nam đã tăng đáng kể số người được chủng ngừa COVID-19, với tổng số liều vắc xin được tiêm là hơn 30,3 triệu, trong đó hơn 24,7 triệu người tiêm được tiêm 1 mũi và hơn 5,6 triệu người đã tiêm 2 mũi. Với dân số hơn 98 triệu người, việc tiêm vắc-xin của Việt Nam còn tiếp tục diễn ra trong những ngày tháng tới.

https://www.voatiengviet.com/…/viet-nam…/6226001.html

Việt Nam/COVID: Số ca nhiễm và tử vong đi xuống trong 8 ngày

VOATIENGVIET.COM

Việt Nam/COVID: Số ca nhiễm và tử vong đi xuống trong 8 ngày

Theo Bộ Y tế VN, số ca dương tính đang có xu hướng đi xuống trong 8 ngày gần đây, từ gần 14.200 ca hôm 7/9 xuống gần 10.500 hôm 14/9. Đường đồ thị về số người tử vong trên toàn quốc cũng đi xuống.

NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC CÓ “ĐÁNH THUÊ” KHÔNG?

 Tôi Yêu Miền Nam

NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC CÓ “ĐÁNH THUÊ” KHÔNG?

Trần Trung Đạo

Các bạn trẻ tại Việt Nam nghe ba chữ “lính đánh thuê” từ khi mới tập đọc nhưng chắc không hiểu rõ định nghĩa quốc tế của ba chữ này.

Theo Nghị định thư (Protocol) 1977 được Liên Hiệp Quốc công bố ngày 8 tháng 6 năm 1977 để đính kèm theo Công Ước Geneva quy định các nguyên tắc hành xử trong một xung đột võ trang ra đời năm 1949, những điểm căn bản định nghĩa lính đánh thuê (mercenary) gồm (1) không thuộc quân đội chính thức của chính phủ, (2) được tuyển dụng tại địa phương hay nước ngoài để tham gia một cuộc xung đột võ trang chỉ vì ước muốn riêng tư và được hứa đền bù cao hơn một người lính cùng cấp trong lực lượng võ trang của chính phủ mướn người đó, (3) không phải thành viên hay đang cư ngụ trên lãnh thổ được kiểm soát bởi chính phủ.

Theo định nghĩa trong Nghị định thư 1977, người lính miền Nam không đánh thuê cho ai cả mà chỉ chiến đấu trong một cuộc chiến tranh tự vệ trên mảnh đất mà chính họ chọn làm quê hương và nhiều trong số họ đã chết trên mảnh đất đó.

Nếu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là lính đánh thuê cho Mỹ vì Mỹ trang bị vũ khí, tài trợ là không đúng với các định nghĩa quốc tế cũng như thực tế chiến tranh.

Trong Thế chiến Thứ hai, phần lớn trong khoảng 60 quốc gia trực tiếp hay gián tiếp đứng về phía đồng minh, trong đó có Liên Sô và đã nhận vũ khí của Mỹ qua đạo luật Lend-Lease Act nhưng không ai gọi họ là “lính đánh thuê” vì họ có kẻ đối đầu chung là Khối trục. Tương tự, từ khi bắt đầu cuộc chiến cho đến khi Hiệp định Paris ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, quyền lợi và mục đích chiến lược của Mỹ và VNCH giống nhau là ngăn chận làn sóng CS tràn xuống phía Nam Việt Nam. Sau khi Mỹ thay đổi trục chiến lược bằng việc thỏa hiệp với Trung Cộng, VNCH phải chiến đấu trong cô đơn và cô thế.

Nói rộng hơn, ngoại trừ các hoạt động gián điệp mà bất cứ cuộc chiến tranh lớn nào cũng có, Việt Nam Cộng Hòa không chủ trương đánh chiếm miền Bắc. Nếu CS miền Bắc, tính luôn các thành phần CS cài lại ở miền Nam sau 1954, để yên cho miền Nam ổn định và phát triển về mọi lãnh vực thì đã không có gì xảy ra.

Nếu áp đụng Nghị định thư 1977 trong Công Ước Geneva 1949, câu hỏi “Người lính miền Bắc có đánh thuê không?” lại có vẻ thích hợp hơn và đáng phân tích hơn.

Những người lính miền Bắc thỏa mãn các điều kiện căn bản của định nghĩa “lính đánh thuê” vì (1) “không thuộc quân đội chính thức” mà là các thành phần khủng bố, xâm lược, được lén lút đưa vào Việt Nam Cộng Hòa từ một quốc gia khác, trong trường hợp này là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), (2) vô thừa nhận, đảng CSVN có một thời không thừa nhận những thanh niên nói giọng Hà Nội, Nghệ An, Hà Tỉnh, Cao Bằng v.v.. bị quân đội VNCH bắt được là từ miền Bắc mà cho họ là “nhân dân miền Nam tự đứng dậy”, (3) chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ trả lương và cung cấp vũ khí trong đó gồm đảng CSVN, Liên Sô và Trung Cộng.

Không chỉ rút ra từ Công ước Geneva mà từ cấp cao nhất của đảng CSVN cho đến cấp cao nhất của nhà nước VNDCCH đều thừa nhận “lính miền bắc là lính đánh thuê”.

Lấy các phát biểu của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Nguyễn Mạnh Cầm để chứng minh.

Về phía đảng, Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng CSVN thừa nhận quân đội CSVN là quân đội đánh thuê.

Nhân dịp “40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”, Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN, khi trả lời phóng viên Tuần Việt Nam đã nhắc lại câu nói của Lê Duẩn: “Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”.

Để công bằng và trung thực cho câu nói của Lê Duẩn, xin lưu ý, một số tài liệu khi viết lại đã cố tình bỏ chữ “cả” để vạch ra bộ mặt đánh thuê của CSVN là “đánh cho Trung Quốc và Liên Sô”. Thật ra, trong câu đó có chữ “cả” nữa, nhưng “cả” gồm những ai, xin đọc tiếp.

Câu trả lời của Lê Duẩn có thể phân tích đầy đủ hơn gồm “cho ta”, “cho Trung Quốc” và “cho Liên Sô”:

(1) Quân đội CS miền Bắc “đánh cho ta” nhằm CS hóa toàn cõi Việt Nam. Nếu theo dõi dòng lịch sử đảng CS từ thập niên 1920 khi Hồ Chí Minh nước mắt chảy dài đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lenin viết ngày 5 tháng 6, 1920 cho đến hôm nay rồi đem so sánh giữa thực tế đất nước qua cách sống như vua chúa của tập đoàn cai trị CS bên cạnh những mái tranh nghèo của hơn 90 triệu dân còn lại, sẽ thấy “ta” trong câu của Lê Duẩn là đảng CSVN chứ không phải toàn dân Việt Nam.

(2) Quân đội CS miền Bắc đánh thuê cho Trung Cộng để bảo vệ vùng an toàn phía nam quan trọng của Trung Quốc và cửa ngõ ra Biển Đông. Chính sách bành trướng nhanh chóng của Tập Cận Bình ngày nay một phần do quan điểm Trung Quốc và Việt Nam như anh với em, như môi với răng, như nước với sữa mà CSVN đã lặp đi lặp lại từ lâu.

Nếu CSVN biết cứng rắn như Philippines hay kiên quyết như Bắc Hàn thì dù không chận đứng hẳn ít ra đã làm họ Tập chậm chân chứ không có những căn cứ, những phi trường quân sự trên đảo Chữ Thập của Việt Nam như ngày nay.

(3) Quân đội CS miền Bắc đánh thuê cho Liên Sô để giảm áp lực của Mỹ bằng một mặt trận nóng trong Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Sô. Giới lãnh đạo CS Liên Sô biết không sớm thì muộn Liên Sô sẽ nguy khốn nếu không làm chậm cuộc chạy đua võ trang với Mỹ.

Về phía chính phủ CS, Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN, cũng thừa nhận quân đội CS đánh thuê cho Trung Cộng.

Đoạn đối thoại dưới đây giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng trích trong tác phẩm On China của Henry Kissinger. Chu Ân Lai nói với Phạm Văn Đồng: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam.” Phạm Văn Đồng cam kết: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.” Chu Ân Lai thỏa mãn: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí.”

Như vậy, cả đại diện cho đảng và nhà nước CS đều thừa nhận những người lính từ Bắc Việt và các thành phần cài lại ở miền Nam đều là lính đánh thuê, đúng theo tinh thần của Công ước Geneva 1949.

Quan điểm Mao Trạch Đông về chiến tranh tại Việt Nam phù hợp với cách giải thích của Lê Duẩn. Theo đó, giống như trong chiến tranh Triều Tiên, là tạo một vùng độn trong biên giới phía nam Trung Quốc. Để thực hiện chủ trương này, Trung Cộng đã chi dụng gần như hầu hết võ khí, đạn được cho CSVN. Trung Cộng là mẹ đỡ đầu của các chính sách và chiến lược chiến tranh của đảng CSVN từ 1949 đến 1954.

Giai đoạn đầu của chiến tranh, Mao chỉ muốn miền Bắc là phên giậu và thỏa mãn sau khi đạt được mục đích đó.

Theo nghiên cứu của Chen Jian trong China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-69, Bành Đức Hoài, 24 tháng 12, 1955 thông báo cho Võ Nguyên Giáp biết các đoàn cố vấn quân sự Trung Cộng sẽ rút về nước hết vào tháng 3, 1956. Tuy nhiên khi chiến tranh leo thang, Trung Cộng cảm thấy vùng an toàn phía nam lần nữa bị đe dọa nên đổi ý và gia tăng viện trợ cho CSVN cho đến khi chấm dứt chiến tranh.

Quan điểm Liên Sô về chiến tranh Việt Nam xác định chủ trương mướn người Việt đánh người Mỹ.

Mặc dù trước đó tỏ ra lạnh nhạt trong nhưng khi cuộc chiến leo thang, Liên Sô từng bước trở thành phe có lợi trong chiến tranh tại Việt Nam. Liên Sô vượt qua cả Trung Cộng trong việc cung cấp vũ khí, viện trợ kinh tế và các phương tiện tuyên truyền cho CSVN. Để làm gì? Ngày nay các tài liệu cho thấy, Liên Sô muốn (1) dùng người Việt để đánh Mỹ, (2) cố gắng nhận chìm bộ máy quân sự của Mỹ, (3) cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Cộng trong các nước thuộc phe “xã hội chủ nghĩa”, và (4) quan trọng nhất là giảm ưu thế của Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang.

Tóm lại, quan điểm của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trung Cộng và Liên Sô về lý luận lẫn thực tế đều giống nhau.

Nhưng nếu đem câu “người lính miền bắc có đánh thuê hay không?” để hỏi một cựu cán binh CS đã từng chiến đấu ở miền Nam trước 1975, chắc chúng ta sẽ nhận câu trả lời “không phải.”

Nếu ai đó tiến bộ về nhận thức chính trị thì nhiều lắm chỉ thừa nhận họ bị gạt, bị lừa nhưng vẫn cho khẩu hiệu “đánh bại chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ” là đúng và “thống nhất đất nước” là tình cảm tự nhiên. Tuy nhiên, cho tới nay, chắc không bao nhiêu người hiểu “chủ nghĩa thực dân mới” là gì và tình cảm “thống nhất đất nước” kia từ đâu mà có.

Một số khác cũng trả lời “không”, không có nghĩa là họ không thấy, không biết, không nhận ra sự thật sau nhiều nghìn đêm mất ngủ, nhưng chỉ vì không đủ can đảm để từ chối một phần đời trai trẻ của mình và nhất là mất đi những gì họ đang có hôm nay.

Trần Trung Đạo