Một cơn giận 

Một cơn giận 

Thạch Lam

(Nhà văn Tự Lực Văn Đoàn)

Một truyện ngắn thật hay, thật xúc động, của Thạch Lam

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:

– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.

Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:

– Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.

– Thầy cho sáu xu.

– Không, bốn xu là đúng giá rồi.

Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:

– Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.

Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:

– Lại đây đi mà.

Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:

– Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.

Anh xe cãi lại:

– Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!

– Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.

Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.

Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.

– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.

– Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!

Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:

– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.

Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.

– Ê! Đứng lại!

Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:

– Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.

Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

– Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!

Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.

– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?

Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:

– Tôi đi từ phố hàng Bún.

– Vậy phiền ông xuống xe.

Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

– Allez! Đi về bót!

Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:

– Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

– Bác Dư có nhà không ?

– Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.

Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

– Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.

Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

– Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?

Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:

– Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.

Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

– Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

– Thế bây giờ bác ta đâu?

Bà cụ trả lời:

– Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.

Tôi yên lặng, trong lòng náo nức

Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

– Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?

Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

– Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.

Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bươc ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.

Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.

Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:

– Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

THẠCH LAM

From: Tu-Phung

Suýt nữa không có Hai sắc hoa ti gôn

Suýt nữa không có Hai sắc hoa ti gôn

 Cuối mùa thu năm 1937, tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy nhận được bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi sau đó ít ngày, nhận được một bài thơ nữa, nhan đề Hai sắc hoa ti gôn, đều của một tác giả ký tên T.T.Kh
Sau đó, tòa soạn không nhận được bài thơ nào nữa của T.T.Kh, cũng không biết tác giả này ở đâu.
 
Sau khi báo đăng hai bài thơ, làng văn xôn xao lắm, nhưng không hề thấy T.T.Kh liên hệ với tòa soạn. Có mấy người đã nhất quyết, T.T.Kh chính là người yêu của mình, nhưng chả có ai đưa ra được chứng cớ thuyết phục. Tác giả T.T.Kh vô hình vô ảnh trong cuộc đời, nhưng thơ của bà được giới phê bình luận bàn náo nhiệt (và không hiểu sao mọi người đã tin chắc ngay rằng T.T.Kh là nữ giới). Đương thời, có người không ngần ngại đánh giá đó là những áng thơ tuyệt tác, nhất là bài Hai sắc hoa ti gôn.
 
Về những ý kiến cho hai bài thơ đầu tiên đó của T.T.Kh là kiệt tác thì tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói rõ quan điểm của mình: “Nói thế đã đành là quá lời, nhưng trong hai bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng đáng với vẻ lâm ly của câu chuyện. Cô bé T.T.Kh yêu…”. Có lẽ, với cách đánh giá như vậy nên Hoài Thanh và Hoài Chân đã không chọn in thơ T.T.Kh vào tập Thi nhân Việt Nam… Tuy vậy, thực tế đời sống văn chương Việt Nam hơn 70 năm qua, T.T.Kh luôn được độc giả mến mộ, nhất là đối với bài Hai sắc hoa ti gôn. Dường như càng trải thêm thời gian, bài thơ này càng biểu lộ vẻ đẹp đặc biệt, càng có sức sống lạ lùng. Chúng tôi nghĩ, nếu có cuộc điều tra tỷ mỷ để tìm hiểu những bài thơ Việt Nam nào trong 70 năm qua được bạn đọc yêu mến nhiều nhất, thì chắc sẽ có cả Hai sắc hoa ti gôn.
 
Chúng tôi phải trình bày lại sự ra đời và giá trị của bài thơ Hai sắc hoa ti gôn trong đời sống văn chương nước ta như vậy để chúng ta ý thức rằng: nếu không có bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, trong đời sống văn chương nước ta sẽ có sự thiệt thòi lắm! Và trên thực tế, việc đó đã suýt nữa xảy ra. Mà mãi đến năm 1990 chúng tôi mới biết việc ấy…
 
Năm 1990, nhà văn Ngọc Giao lên thượng thọ, 80 tuổi. Ông nguyên là Thư ký tòa soạn của báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Có một tâm sự ông giữ mãi trong lòng hơn nửa thế kỷ, khi vào tuổi 80 mới thổ lộ với bạn bè tâm giao. Rằng đó là một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Những đồng nghiệp trong tòa soạn đã về nghỉ gần hết, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao. Trúc Khê Ngô Văn Triện còn nán lại để dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. Ngọc Giao thì đã tiến đến chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. 
Nhưng đúng lúc đó có tiếng kèn đám ma. Đám tang đang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ nghe tiếng kèn đám ma, nên ông mới nán lại thêm cho xe tang đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ chỉnh chu, ông không muốn quay vào phòng trong mà kéo ghế ngồi tạm lại chỗ gần cửa, gần nơi để cái sọt đựng giấy loại. 
Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt giấy loại, nhặt lên mấy tờ bị vo tròn và quẳng vào đó chờ đi đổ xe rác. Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra và đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết bằng bút chì nguệch ngoạc, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần là xong và gửi luôn cho tòa báo. Lệ của báo là bài lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy. Nhưng bài thơ đã khiến Ngọc Giao xúc động lạ thường, đó là Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh. Và ông đã ngồi lặng đi trong mối rung cảm đặc biệt. 
Rồi ông bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu đọc ngay. Trúc Khê Ngô Văn Triện thấy Ngọc Giao đang quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông cũng ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này…!” Rồi ngay sau đó, Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo sắp chữ ngay bài thơ ấy cho số báo sắp ra. Vậy là Hai sắc hoa ti gôn đi vào đời sống thơ ca Việt Nam…
 
Kể câu chuyện tâm sự mấy mươi năm xưa cũ, nhà văn Ngọc Giao còn cầm bút ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một bạn văn cùng thời là nhà văn Phạm Văn Kỳ cũng từng làm thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm. Những dòng lão nhà văn Ngọc Giao ghi vào sổ lưu bút của lão nhà văn Phạm Văn Kỳ có đoạn: “… Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ xuất bấy nhiêu… 
Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác… thì đóa hải đường Hai sắc hoa ti gôn đành an phận nằm trong đó, rồi người ta mang đi theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt cả… Trong đó, rất có thể cả những áng văn hay mà cái anh thư ký tòa soạn quan liêu, nhác lười, cẩu thả đã ném đi!…”.
 
Vậy đấy, câu chuyện pha chút hài hước “nếu không có cái đám ma qua phố…” lại là một tâm sự canh cánh trong lòng nhà văn Ngọc Giao suốt 53 năm trời. Vì tế nhị, nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giữ kín suốt đời câu chuyện này. 
Nghĩ rằng, chuyện có thể hữu ích với nghề báo chí văn chương hôm nay, chúng tôi đã xin phép nhà văn Phạm Văn Kỳ và mạn phép nhà văn quá cố Ngọc Giao viết ra trong bài này. Chúng tôi cũng muốn được khép lại bài viết này bằng mấy dòng di bút cao thượng của lão nhà văn Ngọc Giao viết mùa thu năm 1990: “Tôi xin cúi đầu nhận lỗi đã có hành vi bất kính đối với một tài năng văn học. Tôi xin bà mãn xá cho tôi nếu bà đã qua đời, cũng miễn thứ cho tôi nếu bà còn ở cõi thế gian này với mái tóc cũng bạc trắng như tôi, như tất cả chúng ta cùng chung thế hệ đoạn trường văn bút”.
 
Hai Sắc Hoa Ti-Gôn
 
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”
Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy”
Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…
Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.
Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha!
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.

From: TU-PHUNG

Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy

Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy

Đây là một bài thuyết pháp rất ngắn nhưng vô cùng thâm sâu, nó đi vào tận cội nguồn của tâm thức, nó sẽ làm bật rễ cây cổ thụ ngu dốt đã ăn sâu vào tâm hồn để đem đến một nguồn ánh sáng soi rọi mọi ngõ ngách trong tâm hồn chúng ta.

(Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác) 
 

Tri Thiên Mệnh 

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. 
Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. 
Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. 
Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. 
Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. 
Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. 
Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. 
Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục .”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

Ra đời hai tay trắng. 
Lìa đời trắng hai tay. 
Sao mãi nhặt cho đầy. 
Túi đời như mây bay.”

Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.

Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài”.

Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.

Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.

Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. 

Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma

Nhiều người Haiti tìm cách tới Mỹ qua ngả Panama

VOA Tiếng Việt 

Hai nguồn tin chính phủ Panama cho biết, có tới 4.000 di dân, hầu hết là người Haiti, đã băng qua những khu rừng rậm nguy hiểm thuộc Darien Gap ở Panama trên biên giới với Colombia trong khi đi về phía bắc để tới Mỹ.

Một lán trại có người Haiti tạm trú xuất hiện trong những tuần gần đây trên biên giới Hoa Kỳ – Mexico đã gây thêm khó khăn cho chính sách di dân của Tổng thống Joe Biden. Đỉnh điểm là vào ngày 18 tháng 9, có khoảng 15.000 người ở đó, trong bối cảnh người Haiti chạy trốn khỏi sự hỗn loạn xã hội, chính trị và kinh tế ở quê hương của họ.

Tới thứ Sáu tuần trước, hàng nghìn người trú tạm tại lán trại này đã được đưa đi. Phần lớn tạm thời được ở lại Hoa Kỳ và những người khác bị trục xuất hoặc bị đưa trở lại Mexico.

Một nguồn tin từ Bộ An ninh Panama cho biết có khoảng 3.500 đến 4.000 di dân đang đi qua các trạm tiếp nhận di dân ở Darien và Chiriqui. Nhóm này bao gồm người Cuba và di dân có các quốc tịch khác, nguồn tin cho biết.

Trong khi đó, khoảng 16.000 di dân đang mắc kẹt tại thị trấn duyên hải Necocli ở miền bắc Colombia, chờ đến lượt để đi thuyền tới Darien Gap, nơi những kẻ buôn lậu hướng dẫn các nhóm qua một trong những khu vực nguy hiểm và khó vượt qua của Mỹ Latinh.

Colombia và Panama hồi tháng trước đã đồng ý rằng 500 người di cư có thể qua lại mỗi ngày, nhưng các quan chức địa phương đã liên tục thúc giục họ tăng hạn ngạch, nói rằng con số đó quá thấp để theo kịp với số lượng lên đến 1.500 di dân đến thị trấn hàng ngày.

Tổng thống Panama Laurentino Cortizo hôm thứ Năm tuần trước nói với Đại hội đồng Liên Hợp Quốc rằng hơn 80.000 di dân bất hợp pháp đã đi qua Panama trong năm nay. Ông kêu gọi sự hỗ trợ quốc tế, nói rằng đất nước của ông đang dùng tiền từ khoản ngân sách hạn chế cho việc chăm sóc di dân.

Nhiều người Haiti tìm cách tới Mỹ qua ngả Panama

VOATIENGVIET.COM

Nhiều người Haiti tìm cách tới Mỹ qua ngả Panama

Hai nguồn tin chính phủ Panama cho biết, có tới 4.000 di dân, hầu hết là người Haiti, đã băng qua những khu rừng rậm nguy hiểm thuộc Darien Gap ở Panama trên biên giới với Colombia trong khi đi về phía bắc để tới Mỹ.

Lâm Đồng: Dân tố cáo công an xã đánh dân đến chết

Đài Á Châu Tự Do 

Một người dân ở thôn 3, xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng bị công an xã đánh đến chết hôm 24/9 vừa qua, theo cáo buộc của người thân và những người dân chứng kiến sự việc. Tuy nhiên, truyền thông Nhà nước chỉ cho biết người này chết sau khi được mời lên làm việc tại đồn công an xã.

Nạn nhân là ông Phan Văn Lan (49 tuổi). Theo báo Thanh Niên, vào ngày 24/9, ông Lan có lời qua tiếng lại với công an khi lực lượng này lập biên bản xử phạt đối với một tài xế xe tải luồng xanh vi phạm quy định phòng chống dịch COVID-19 “một cung đường, 2 điểm đến”.

Vào 9 giờ cùng ngày, ba công an xã đã tới nhà ông Lan phát giấy mời, yêu cầu ông Lan lên trợ sở công an xã làm việc. Theo báo Thanh Niên, ông Lan khi làm việc với công an xã tại nhà đã có hơi men trong người. Ông Lan tiếp tục có những lời lẽ xúc phạm công an và bị đưa về trụ sở công an xã.

Sau đó, người thân của ông Lan nhận tin ông tử vong trên đường đưa đến bệnh viện cấp cứu trong cùng ngày.

Tuy nhiên, trên mạng Facebook, người thân của gia đình ông Lan cho biết, ông Lan đã bị công an xã đánh đến hộc máu mồm ngay tại nhà riêng của ông Lan trước khi ông bị đưa lên đồn.

Sau đó, cũng theo người nhà nạn nhân, ông Lan tiếp tục bị công an đánh đập tại đồn công an. Người thân được tin, yêu cầu được đưa ông đi bệnh viện nhưng công an không cho. Chỉ đến chiều cùng ngày, công an mới cho gia đình đưa ông Lan đi bệnh viện cấp cứu nhưng ông đã tử vong trên đường đến bệnh viện.

Theo báo Thanh Niên, việc khám nghiệm hiện trường và tử thi đã được hoàn tất vào chiều ngày 25/9. Gia đình cũng tổ chức đám tang cho ông Lan vào cùng ngày.

Ông Phan Văn Thuần, anh trai nạn nhân, cho báo Thanh Niên biết, ông chứng kiến và ghi nhận trực tiếp công tác khám nghiệm tử thi. Ông Thuần khẳng định ông Lan có nhiều thương tích.

Theo thông tin trên trang Facebook người nhà nạn nhân, khám nghiệm tử thi cho thấy ông Lan bị “dập não, gẫy ba xương sườn, gẫy răng”.

Các hình ảnh và video đăng lên Facebook của người nhà nạn nhân cũng cho thấy đầu và người của ông Lan bị nhiều vết thâm tím, chảy máu.

Tuy nhiên, status và hình ảnh này sau khi đăng lên Facebook và được 30 nghìn lượt share đã bị Facebook gỡ xuống chỉ trong vòng một ngày vì vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng.

Lâm Đồng: Dân tố cáo công an xã đánh dân đến chết

RFA.ORG

Lâm Đồng: Dân tố cáo công an xã đánh dân đến chết

Một người dân ở thôn 3, xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng bị c

Vì sao Việt Nam không bị đồng hóa sau hơn 1,000 năm Bắc Thuộc?

Vì sao Việt Nam không bị đồng hóa sau hơn 1,000 năm Bắc Thuộc?

Giáo Sư Trần Văn Chi

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất Châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức mạnh đồng hóa láng giềng.

-Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ Ả Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán, họ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán.

-Ngay cả dân tộc Mãn Châu hùng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán Ngữ đồng hóa.

Chính sách đồng hóa của Trung Quốc thời Bắc Thuộc

Đồng hóa thời Bắc Thuộc kéo dài, gắn liền với các cuộc di dân từ phương Bắc của người Hoa Hạ xuống đất Việt phương Nam. Quá trình di dân và đồng hóa có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống chính trị, xã hội, và văn hóa Việt Nam.

Chính sách đồng hóa và di dân đối với người Việt được các triều đại phong kiến Trung Quốc thực hiện từ khá sớm. Trung Quốc tự cho mình là nước lớn, coi các dân tộc khác xung quanh là thấp kém, cần phải “giáo hóa” và gọi họ bằng những tên miệt thị như Man, Di, Nhung, Địch. Do tư tưởng tự tôn này, các triều đình Trung Quốc mang quân bành trướng, thôn tính các nước và dân tộc xung quanh.

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà ép buộc dân Việt học Hán Ngữ, nhằm đồng hóa bằng ngôn ngữ.

Sách “Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận” do Lê Tung viết năm 1514 có đề cập việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.

Tới triều nhà Minh 1368 – 1644 (do xuất thân ở đất Ngô nên mới có bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi), họ còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Quốc phục dịch.
Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên và Nhật nhiều thế kỷ).

Tuy nhiên, người Việt nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Nhận định về Việt Nam sau 1,000 năm Bắc Thuộc, sử gia Trần Trọng Kim nói: “Người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với nước Tàu.”

Việt Nam chống đồng hóa bằng nhiều cách

1-Giữ tiếng nói
Biểu hiện rõ nhất của sự bảo tồn giống nòi chống đồng hóa là sự bảo tồn tiếng Việt. Tiếng nói là một thành tựu văn hóa, là một thành phần của văn hóa. Giặc phương Bắc chỉ tiêu diệt được chính quyền cai trị người Việt nhưng không tiêu diệt được tiếng Việt.

Ngoại trừ một nhóm người tham gia bộ máy cai trị của chính quyền phương Bắc tại Việt Nam học tiếng Hán, còn lại đa số người Việt vẫn sống theo cách sống riêng và duy trì tiếng nói của tổ tiên. Dù đã có sự hòa trộn những từ ngữ Hán trong tiếng Việt, người Việt hấp thụ chữ Hán theo cách sáng tạo riêng, Việt hóa những từ ngữ đó theo cách dùng, cách đọc, tạo thành một lớp từ mà sau này được gọi là từ Hán Việt.

Mấy nghìn năm sau, Phạm Quỳnh, một học giả lớn của dân tộc ta, tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!”

2-Giữ phong tục
Người phương Bắc đưa vào nhiều thứ lễ giáo của phương Bắc và điều đó có ảnh hưởng nhất định tới người Việt. Tuy nhiên, những nếp sinh hoạt truyền thống trong đời sống của người Việt vẫn được duy trì.

Sống trong ngàn năm Bắc Thuộc, người Việt thời đó vẫn không bỏ những phong tục như búi tóc, xăm mình, ăn trầu, chôn người chết trong quan tài hình thuyền hay thân cây khoét rỗng, nhuộm răng…

Kết luận

-Xét về ngôn ngữ, tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác hẳn tiếng Hán và tiếng của các tộc Bách Việt đều thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

Hán Ngữ nghèo âm tiết nên chỉ có thể dùng chữ viết loại ghi ý trong khi chữ Việt thuộc loại ghi âm như chữ Quốc Ngữ Việt Nam.

-Về chủng tộc người Việt thuộc loại người thấp nhỏ, phụ nữ thanh mảnh, khác với người Bách Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang…

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học cho thấy hệ gene của người Việt khác rất xa hệ gene của người Hán.

Từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể khẳng định: Người Việt Nam thời cổ không phải là người di cư từ phương Bắc xuống, trước khi nhà Tần xâm lược Việt Nam.

Người Việt không có quan hệ với các dân tộc ở bên kia biên giới phía Bắc. Dân tộc Việt không phải là thành viên của cộng đồng Bách Việt.

-Và nhờ sáng tạo được phương pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Quốc.

From: TU-PHUNG

TẠI SAO THIÊN CHÚA CHO PHÉP ĐẠI DỊCH XẢY RA?

TẠI SAO THIÊN CHÚA CHO PHÉP ĐẠI DỊCH XẢY RA?

 Cha Richard Leonard S.J.

Thời nay, dường như một số tín hữu vẫn giữ những hình ảnh rất sai lệch về Thiên Chúa Ba Ngôi: Thiên Chúa Cha trên trời hay giận dữ, còn Chúa Giêsu dễ mến, đầy yêu thương…!  Trong khi các tín điều dạy rằng, chỉ có một Thiên Chúa duy nhất trong ba ngôi vị; Ba ngôi ấy là Một trong công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa.  Theo Tin mừng của thánh Gioan, Đức Giêsu đã nói rằng, Người không làm việc một mình (5,30); ‘Tôi và Chúa Cha là một’ (10,30); và ‘ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha’ (14,9).  Các Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu xuống thế để ứng nghiệm Kinh Thánh Cựu ước; họ cũng tin rằng nên giải thích mọi điều trong Kinh Thánh Cựu ước dưới lăng kính mặc khải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

Điều này rất quan trọng khi ta muốn hiểu ý nghĩa của dịch bệnh và các thảm họa thiên nhiên khác.  Đối với các dân tộc cổ đại, nếu có lũ lụt, dịch bệnh, thì Thiên Chúa như muốn nói điều gì đó ngang qua những sự kiện ấy.  Nhưng trong các Tin mừng, Chúa Giêsu không bao giờ tạo ra một bệnh dịch, một thảm họa thiên nhiên hay biến ai đó thành cột muối như bà vợ ông Lót xưa.  Nếu Đức Giê su không đi vào cuộc khổ nạn, hay, nếu ta không đón nhận lời tiên báo của Người về cái chết ấy, thì Thiên Chúa thật sự là Cha ư?  Đức Giêsu xuống thế để uốn nắn những quan niệm sai lầm về cách thức Thiên Chúa hoạt động trong thế giới này.

Thế nên, cho dù nguồn gốc của Covid-19 vẫn chưa được xác định, nhưng đại dịch này cho ta một lời giải thích tự nhiên, và cách thức vi-rút lây lan khủng khiếp đến giờ là hệ quả của những quyết định yếu kém của con người.  Dĩ nhiên, Thiên Chúa không hề đưa đại dịch đến với nhân loại.

Bất cứ khi nào có một thảm họa, dù lớn hay nhỏ, dù là trận hỏa hoạn thiêu rụi mái nhà thờ Đức Bà Paris, hay sự lây lan của đại dịch AIDS, thì sẽ luôn có một số tín hữu cho rằng những điều ấy là do Thiên Chúa trừng phạt vì tội lỗi của con người thời nay.  Có lẽ điều này cho thấy niềm tin vào Thiên Chúa như một nhân vật “siêu quyền lực” cai quản vũ hoàn, “một giám đốc điều hành” có thể chịu đựng những hành vi xấu xa ở một mức độ nào đó.  Nhưng khi mất kiên nhẫn, ông ấy chấm dứt những điều vô nghĩa, và gởi một trận sóng thần hay một trận đại dịch đến để nhắc nhở ta rằng ai mới là ông chủ thực sự.  Trong vai một tên bạo chúa, Người quả là lời lý giải đáng sợ cho những nỗi đau đớn khôn nguôi trong cuộc đời này: những đau khổ của ta phải đến từ một nơi nào đó, và dường như một số người rất dễ dàng tìm thấy lời giải thích trực tiếp từ Thiên Chúa.

Nhưng có một sự khác biệt rất lớn giữa việc Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra trong thế giới này, và chuyện Người gây ra những sự ấy.  Giáo Hội dạy rằng, điều đầu tiên là chính xác, nhưng điều thứ hai thực sự sai lầm mặc dù khi nghe một số tín hữu nói về đại dịch Covid-19, ta dễ dàng bỏ qua vì nghĩ rằng nó đúng.  Bởi Thiên Chúa muốn ta được hoàn toàn tự do, ta có khả năng chọn điều dữ; nếu ngược lại, ta cũng chỉ như những con rối.  Đây chính là một thế giới khác xa với việc Thiên Chúa trực tiếp gây ra đau khổ và hủy diệt.

Ta hiểu rằng con người trưởng thành hơn qua những khó khăn, đau khổ nhưng điều này không có nghĩa là Thiên Chúa đã gởi những điều ấy đến như một thử thách.  Đúng

hơn, sự trưởng thành minh chứng cho ta rằng Thiên Chúa luôn đồng hành với ta qua từng giây phút.  Người thôi thúc ta liên đới với anh chị em của cùng một Cha trên trời.  Thế nên, ta cùng nhau đưa ra quyết định tốt nhất trong bóng tối của sự chết và thũng lũng của nước mắt, khổ sầu.

Thiên Chúa không gửi bệnh dịch đến để dạy ta về điều gì đó cho dù chúng cho ta nhiều bài học.  Ta đang học được rất nhiều về mối tương quan mong manh của ta với trật tự tạo dựng và hệ lụy từ những lựa chọn sai lầm ở nơi này có thể gây ra những hậu quả tai hại cho những nơi khác.  Ta cũng học được rằng cách ứng phó tốt nhất với những thiên tai, với những tình trạng khẩn cấp về sức khỏe là tính minh bạch, một nhà nước vì dân, những báo cáo trung thực, sự khéo léo của con người, trách nhiệm của công dân, và sự quý trọng lợi ích chung…  Ta cũng học được sự phi thường nơi những con người bình thường khi đối diện với bị kịch, khổ đau.

Làm sao tôi có thể tin chắc rằng Thiên Chúa hằng sống?  Người không bao giờ chết?  Bởi vì Thiên Chúa được tỏ bày trong Đức Giê su Ki tô không phải như một tên bạo chúa, mà là một Đấng đầy tình yêu.  Đó là một Thiên Chúa đã sẵn sàng dấn thân vào bất cứ con đường nào kể cả từ bỏ mạng sống mình trên Thập Giá.  Đoạn thư của thánh Gioan Tông đồ chép rằng, “Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào.” (1 Ga 1,5).  Nếu đó là sự thật, thì bệnh dịch hay đại dịch không thể là bản án của một Thiên Chúa đầy giận dữ vì tính ích kỉ và thói tham lam của ta được.

Sự tỉnh thức thiêng liêng trong những ngày khó khăn của đại dịch hệ tại ở điều này: trong mọi phút giây của ngày sống Thiên Chúa thực hiện những gì Người đã làm vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh – Người không can thiệp để ngăn người ta giết Chúa Giêsu, nhưng không để sự dữ và tuyệt vọng có tiếng nói cuối cùng.  Sức mạnh tuyệt vời của ân sủng cho phép ta tận dụng cơ hội, ngay cả trong những tình cảnh tồi tệ nhất, để giúp đỡ nhau bằng mọi cách có thể, và để cho ánh sáng và cuộc sống có tiếng nói cuối cùng.  Chúa Nhật Phục sinh là lời đáp trả của Thiên Chúa dành cho Thứ Sáu Tuần Thánh: sự sống thoát ách sự chết.

 Cha Richard Leonard S.J.

Lyeur Nguyễn lược dịch

From: Langthangchieutim

Nguồn: https://jesuit.org.au/why-does-god-allow-pandemics/

Một Người Việt Tên Dang

Một Người Việt Tên Dang

Tưởng Năng Tiến

Tên đúng của ông có thể là “Đăng,” “Đặng,” “Đằng,” hay “Đáng,” hoặc “Đang” (Việt Ngữ không có từ “Dang”) nhưng tôi không dám chắc vì chỉ được biết qua một bài báo bằng tiếng nước ngoài (“Han ble smuglet inn i Norge i et bagasjerom. Et halvt år senere ble han pågrepet på en hasjplantasje”) đăng tải trên tờ Aftenposten, phát hành từ Na Uy, vào ngày 27 tháng 8 năm 2021.

Bản tiếng Việt (gồm 4371 từ) của dịch giả tên Trang, xuất hiện trên FB Que Toi mấy hôm sau đó. Xin được tóm lược :

“Dang” cho biết quê anh là làng chài Đô Thành, thuộc miền Trung Việt Nam. Từ nơi đây, nhiều thanh niên Việt Nam đã đi lậu trong các xe container xuyên qua Trung Quốc, rồi vượt biên giới vào Nga (Russland), trước khi trở thành nhân công lao động giá bèo hoặc gái mại dâm ở các thành phố Châu Âu.

Trên hành trình dài 11.660 km đến Na Uy, “Dang” trốn trong một thùng container sau xe tải. Đến ngày hôm nay, anh vẫn còn ám ảnh trong giấc mơ về những điều khủng khiếp mà anh đã thấy trên tuyến đường đó…

Ô nhiễm môi trường, đánh bắt cá quá mức và bất hợp pháp, công nghiệp hóa ngày càng phát triển đã dẫn đến tình trạng rất khó khăn cho ngành ngư truyền thống ở Việt Nam. Đối với đại gia đình của “Dang”, giải pháp cuối cùng là gửi cậu con trai lớn nhất trong một chiếc container đến Tây Âu. “Dang” cho biết gia đình đã phải thế chấp căn nhà và bán tất cả những gì đáng giá để trả tiền cho nhóm buôn người.

Tôi ra đi để tìm một cuộc sống tốt hơn. Nhưng nếu tôi biết trước kết quả thế này, tôi thà chọn cuộc sống một ngư dân nghèo. Theo “Dang” biết, gia đình đã thỏa thuận giá 25.000 USD với nhóm buôn người. Và đã trả trước một nửa.

“Dang” – người đàn ông 25 tuổi – kể lại cuộc hành trình phải đi xuyên qua Trung Quốc, Nga, Latvia, Belarus (Hviterussland) và Ba Lan. Theo “Dang”, chiếc container mà đoàn của anh đi chỉ có hai lỗ thoát khí nhỏ. Họ phải tiểu tiện và đại tiện trong một túi nhựa lớn.

Tháng 2/2021, “Dang” bị kết án 2 năm tù và phải bồi thường gần 100.000 kroner cho một công ty điện lực của Na Uy vì đã ăn cắp điện để trồng 649 cây cần sa. Bản án được giữ nguyên tại Tòa Phúc Thẩm Eidsivating vào tháng 6/2021, nhưng được giảm xuống còn 1 năm 9 tháng.

Ngày 19 tháng 8/2021, Tòa Án Tối Cao Høyesterett đã bác đơn kháng cáo của “Dang”. Luật sư biện hộ Audun Helgheim nói rằng họ sẽ kháng cáo vụ việc lên Tòa Án Nhân Quyền Châu Âu. Câu hỏi chánh và gây tranh cãi ở đây là: “Dang” là tội phạm hay nạn nhân!?

Tòa án quận Gjøvik viết trong bản án từ tháng 2: Tòa án căn cứ theo yếu tố bị cáo, sau khi đến Na Uy, ít nhất là bởi bị lạm dụng hoàn cảnh bí thế của mình, đã bị buộc phải trồng cần sa. Điều này dẫn chứng cho thấy bị cáo là nạn nhân của nạn buôn người”…

UDI (UtlendingsDIrektorate) đã xét đơn theo lời khai của “Dang”. Trong giấy phép cấp cho anh được cư trú tạm thời tại Na Uy (midlertidig oppholdstillatelse), viết là họ tin rằng có thể lý giải được là anh đã bị hại trong vụ buôn người.

Rosa, một tổ chức hỗ trợ những người có thể là nạn nhân tệ nạn buôn người, cũng tích cực trong vụ án của “Dang”. Mildrid Mikkelsen của hội Rosa cho rằng việc bỏ tù một người cùng lúc với việc điều tra xem người đó có phải là nạn nhân buôn người là điều chúng ta cần phải suy ngẫm…

Điều “Dang” lo sợ là anh sẽ bị trả về Việt Nam. Luật sư biện hộ Audun Helgheim cho biết: Về Việt Nam, anh có nguy cơ bị thủ phạm ám hại, do những gì anh đã khai… Tương lai ở Việt Nam của người đàn ông trẻ Việt Nam này, là một sự mịt mù. Nếu tôi về nhà, có lẽ tôi sẽ bị giết. Và ở đó, tôi cũng không còn gì. Trong cuộc thẩm vấn với cảnh sát vào ngày 22 tháng 6 năm nay, “Dang” nói anh như một người đã chết: Tôi không còn gì để sống nữa. Tôi chỉ ước ao có thể gặp lại mẹ một lần.

Câu nói thượng dẫn bỗng khiến tôi nhớ mấy câu thơ của Huyền Chi, và bản nhạc Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy: Nhìn về đường cố lý cố lý xa xôi/ Đời nhịp sầu lỡ bước bước hoang mang rồi …/ Mẹ già ngồi im bóng mái tóc tuyết sương/ Mong con bạc lòng …

Không biết có bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vẫn đang ngồi tựa cửa mỗi chiều, và bao nhiêu thanh niên thiếu nữ từ xứ sở này đã “lỡ bước hoang mang” trên con đường lưu lạc. Điều an ủi duy nhất cho những kẻ tha phương cầu thực là không hề có một lời lẽ, cử chỉ, hay thái độ miệt thị nào từ người dân (cũng như từ những cơ quan hữu trách) ở nước ngoài.

Sáng sớm hôm 23 tháng 10 năm 2019, dân Anh vừa mở mắt dậy đã nhận được thông tin khiến ai cũng phải bàng hoàng: cảnh sát mới phát hiện ra 39 thi thể người Việt nằm chết trong một cái container tại khu công nghiệp Waterglade!

Họ phản ứng ra sao?

Không một lời than phiền, không một câu trách móc. Sau khi biết rõ sự việc, họ bầy tỏ sự thương cảm bằng cách lặng lẽ mang hoa tưởng niệm đến nơi đặt xác nạn nhân. Ngay sau đó, họ tổ chức cầu nguyện cho linh hồn của người quá cố. Rồi họ sắp xếp những chuyến bay để đưa tất cả thi hài của những kẻ xấu số trở về quê quán, và đích thân vị đại sứ Anh ở Việt Nam – ông Gareth Ward – đã đến tận nơi để chia buồn. 

Người Na Uy bây giờ cũng thế. Từ luật sư, toà án, nha ngoại kiều, và các cơ quan thiện nguyện của họ đều chia sẻ một nỗi băn khoăn chung:“Dang” là tội phạm hay nạn nhân!?”

Có lẽ cả hai nhưng đồng bào của nạn nhân, tiếc thay, chỉ nhìn ra ông là một tên tội phạm :

  • Kieu Ninh Vaagen : “Nhìn mặt biết gian.”
  • Hoang Nguyen Van: “Nhìn mặt là biết lưu manh, là trùm du đảng, không là nạn nhân.
  • Cuong Le: “Xứ này luật pháp văn minh và nhân bản nên các lão cứ thoải mái lợi dụng quyền làm người rồi khai ra làm sao cho thật đáng thương để được khoang hồng…”

Cá nhân “Dang” thì không hề có một lời biện minh, biện hộ hay biện bạch nào cả. Trong cuộc thẩm vấn với cảnh sát vào ngày 22 tháng 6 năm nay, ông chỉ nói: “Tôi không còn gì để sống nữa. Tôi chỉ ước ao có thể gặp lại mẹ một lần.”

Nỗi “ước ao” nhỏ bé này lại khiến tôi liên tưởng đến đôi câu đối thoại (giữa hai người Việt đồng cảnh, từ hai phòng giam sát cạnh nhau, tại một nhà tù nào đó ở Âu Châu) trong một truyện ngắn của một nhà văn ở Na Uy:

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về… Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm ‘Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.’ Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh. “Người Rơm”. Thế Kỷ 21, Jul. 2010).

Đối với nhiều người dân Việt thì muốn sống như một ngư dân nghèo nơi vùng biển quê hương (như ông Dang) hay mong “muốn cơ cực ở nhà gần mẹ suốt đời” (như cô Tuyết) e đều chỉ là thứ ước mộng rất xa vời trong chế độ hiện hành.

Tưởng Năng Tiến
9/2021

Trẻ vị thành niên ở Tây Nguyên bị lừa đưa sang lao động tại Ả Rập Xê Út

Trẻ vị thành niên ở Tây Nguyên bị lừa đưa sang lao động tại Ả Rập Xê Út
RFA.ORG

Trẻ vị thành niên ở Tây Nguyên bị lừa đưa sang lao động tại Ả Rập Xê Út

Tin mới về lao động 

Trẻ vị thành niên ở Tây Nguyên bị lừa đưa sang lao động tại Ả Rập Xê Út

Thanh Trúc
2021-09-24

Những người phụ nữ Việt lao động tại Ả Rập Xê Út kêu cứu

 BPSOS/CAMSA International

Trẻ vị thành niên ở Tây Nguyên bị lừa đưa sang lao động tại Ả Rập Xê Út

00:00/00:00

Những cô gái trẻ được môi giới bên Việt Nam đưa sang Ả Rập Xê Út làm nghề giúp việc nhà hầu hết là người Tây Nguyên chưa tới 18 là độ tuổi lao động theo luật pháp Việt Nam.

Chuyện được chú ý sau khi tin tức về cô H’Xuân Siu, người dân tộc J’rai, chết trong lúc đang giúp việc nhà cho một gia đình người Ả Rập Xê Út. 

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành BPSOS, cho biết:

“Chúng tôi lấy được tin trên Internet và Facebook từ những  người đi lao động ở Ả Rập Xê Út. Tin em Siu H’Xuân qua đời do những người Tây Nguyên ở Thái Lan cung cấp, liên lạc và kết nối chúng tôi với gia đình Siu H’Xuân”.

Hai điểm cần làm rõ, vẫn lời Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, thứ nhất là chuyện làm giấy tờ giả để tăng tuổi người được xuất khẩu lao động, thứ hai là cách thức đưa người đi như thế có giống hành vi buôn bán trẻ vị thành niên không: 

“Khi H’Xuân chết, em vẫn chưa đến 18 tuổi. Thứ hai, việc đánh đập dẫn đến sự  tử vong của em H’Xuân cũng phải được điều tra là một tội phạm xảy ra ở Ả Rập Xê Út và một tội phạm xảy ra ở Việt Nam”

“Cảnh sát Ả Rập cuối cùng đã truy ra nơi giữ xác em H’Xuân ngày 13/9 vừa rồi. Họ đang thúc hối chính quyền Việt Nam nhanh chóng đưa xác em về. Trong suốt tuần qua chúng tôi gặp rất nhiều trở ngại, bởi công ty VINACO chuyên môi giới xuất khẩu người đi làm việc ngoài nước nhất định ép mẹ em H’Xuân phải ký một giấy ủy quyền, trong đó xác nhận em H’Xuân sinh năm 1996”.

Đó là năm giả mà VINACO khai lên để làm hộ chiếu cho H’Xuân Siu, vì năm sinh thật sự của em là 2003:

“Gia đình em H’Xuân phải lên tận Buôn Ma Thuộc để làm việc với luật sư, xác nhận theo  yêu cầu của công ty VINACO. Đây là điểm khuất tất nhưng chúng tôi nghĩ họ cần làm để đưa xác em về, sau đó sẽ tính vấn đề truy tố  hình sự những ai đã làm giả giấy tờ”.

RFA đã liên lạc với H’Soan Siu là chị của H’Xuân Siu, và được cô cho biết khi ra đi thì em gái cô chỉ mới 14 tuổi:

Có bà Lê Thị Toan, công ty VINACO ở Thanh Hóa, tới đây gặp em H’Xuân, đưa em đi chơi và đi làm hộ chiếu.”

Em H’Xuân. Hình:  BPSOS

Chuyện này cô H’Soan Siu và gia đình không hay biết cho tới khi em H’Xuân gọi về từ sân bay, báo tin em đi Ả Rập Xê Út, nói rằng em chỉ được cầm hộ chiếu lúc sắp sửa lên máy bay, và khi đó mới hay  VINACO đã đổi năm sinh 2003 của cô thành 1996.

H’Xuân nói với chị khi còn ở Thanh Hóa là em đã từng đòi về nhà. Bà Lê Thị Toan bảo muốn về cũng được nhưng phải trả lại 30 triệu chi phí ăn ở mua sắm cho em. Vì không có tiền, H’Xuân Siu đành phải đi theo  họ:

“Tháng 10/2019 ở nhà chủ bên Ả Rập em mới gọi điện về nữa.

Tháng 7/2021 gia đình mất liên lạc với em. Ngày 13/7 công ty gọi báo H’Xuân đang nằm trong bệnh viện, bảo là H’Xuân bị suy tim. Gia đình em đã yêu cầu  chụp một cái hình gởi về cho gia đình, nhưng mà công ty bảo là không được phép chụp hình. Tới ngày 17/7 họ báo là H’Xuân đã tử vong”

Bên công ty bảo gia đình ủy quyền cho họ làm thủ tục chôn cất ở bên kia. Gia đình chưa làm cái thủ tục nào hết. Bây giờ đang làm giấy ủy quyền để đưa xác em về”.

Được hỏi về nghi vấn H’Xuân Siu không chết vì suy tim mà chết vì bị chủ đánh, cô H’Soan nói cô tin chắc H’Xuân chết vì bị đánh. Cô H’Soan còn gởi cho RFA đoạn băng ghi âm lời H’Xuân gọi về từ Ả Rập Xê Út mà cô dịch ra tiếng Việt như sau: 

Em H’Xuân nói em xin nghỉ ngơi mà bà chủ không cho nghỉ. H’Xuân bị đau đầu rồi mà bà chủ vẫn đánh. Cả đêm H’Xuân không ngủ  được vì bị đau mắt. Họ độc ác với Xuân lắm. Xuân có gọi cho Nhung (môi giới) nhưng đổi lại Nhung không chịu giúp đỡ còn chửi lại H’Xuân. Cuối cùng H’Xuân bảo không chịu ở nhà bà chủ đó nữa”.

“H’Xuân có nói với bà chủ rồi mà bà chủ vẫn đánh và không cho H’Xuân nghỉ ngơi. Cứ làm miết giờ này tới giờ khác. Rồi H’Xuân có gọi cho Nhung với Khánh, bảo cố gắng rồi mà không làm nỗi nữa, mệt quá. H’Xuân xin với Nhung với Khánh cho về văn phòng nhưng họ không cho,  bảo sợ dịch bệnh mà H’Xuân chỉ bị ốm với mệt thôi. H’Xuân bảo là ở thêm mấy ngày mấy tháng nữa rồi khi nào có chuyến bay thì H’Xuân sẽ về”.

Không riêng H’Xuân mà còn trường hợp H’Ngọc Niê đã về nước tháng mười năm ngoái, chưa kể hai trường hợp vị thành niên khác cũng bị lừa đi làm gia nô như H’Xuân và H’Ngoc. Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng cho biết:

Đó là hai em Siu H’Chiu và R’Ma Nguyệt, vẫn còn ở bên Ả Rập Xê Út. Nếu để ý thì thấy VINACO nhắm vào các em vị thành niên người Tây Nguyên sống xa thành thị như em H’Xuân bị bà Lê Thị Toàn gạ đưa đi Thanh Hóa chơi mà gia đình không hề biết. Thành ra khi mẹ về, chị về thì không thấy H’Xuân đâu nữa”.

Từ buôn làng của huyện E H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, H’Ngọc Niê kể về em như sau:  

Em sinh năm 2003, người dân tộc Ê Đê. Những người môi giới ở Thanh Hóa kéo vô trong buôn em, bảo là đi bên kia sung sướng, giúp được gia đình, nghèo thế này ở nhà làm gì. Thế là bọn em đi luôn. Em 15 tuổi, môi giới làm hộ chiếu giả mà em không biết, cứ đi theo cô Toan với lại anh Tùng, anh Sơn. Tới chuyến bay Nội Bài-Dubai người ta mới đưa hộ chiếu cũng tên H’Ngoc Niê nhưng lại  sinh năm 1997”.

Tháng 10/2018 H’Ngoc Niê đặt chân tới Ả Rập Xê Út, bắt đầu làm việc không hở tay trong nhà chủ xứ này:

“Ngủ ba bốn tiếng người ta đã kêu dậy. Đang ăn nó kêu đi làm. Nói chung gia đình nó ăn cả ngày luôn, mình làm còn nó chỉ có ngồi, xong việc này nó kêu làm việc kia nữa”.

Dẫu đầu tắt mặt tối nhưng H’Ngọc Niê vẫn thấy mình may mắn hơn các chị em khác vì không bị chủ đánh đập. Những lúc quá nhọc  cô gọi cho đại diện VINACO ở Ryadth, lần nào cũng bị môi giới rầy rà, nạt nộ rằng ‘người ta làm được mày cũng phải làm được’

Lúc đầu  em gởi tiền về cho mẹ được hai tháng, làm một năm thì không gởi nữa vì bà chủ không trả tiền. Khi nghe người ta đồn có dịch, em bảo bà chủ kiểu như là đưa tiền cho văn phòng Việt Nam đặt vé, người bên đấy là anh Khánh và anh Tùng”

“Em về Việt Nam tháng 9/2020, môi giới bảo em về là không cho ai xem hộ chiếu, bất cứ ai cũng không cho xem”

Em bảo  môi giới nói đi bên kia sung sướng không muốn về, không ngờ đi là mệt mỏi mất ăn mất ngủ, bảo tại sao hỗ trợ người ta tầm 20, 30 triệu mà hỗ trợ em có 5 triệu thôi. Nó bảo tại em không biết làm việc, nó so sánh em với Siu H’Xuân đấy”. 

httpv://www.youtube.com/watch?v=-HWqLNR3-Ns

Phụ nữ Việt qua Ả Rập Xê-Út: lao động xuất khẩu hay nạn nhân buôn người?

Người tên Khánh mà cả H’Xuân Siu và H’Ngọc Niê nhắc tới là ông Nguyễn Quốc Khánh, chuyên trách người Việt lao động ngoài nước trong Đại Sứ quán Việt Nam ở thủ đô Ryadth của Ả Rập Xê Út.

RFA gọi vào số của ông Nguyễn Quốc Khánh nhưng ông không bắt máy.

Khi gọi về công ty VINACO ở Thanh Hóa, nhân viên tên Thy trả lời là VINACO được chính quyền địa phương cho phép tuyển người ra nước ngoài làm việc:

Về vấn đề này chị hỏi trực tiếp lãnh đạo công ty hay gọi cho chính quyền địa phương, em không hề biết thông tin nào”.

Được yêu cầu chuyển đường dây cho bà Lê Thị Toan, là người đã tiếp cận các em gái dân tộc, nhân viên tên Thy vội vàng dập máy.

Luật pháp Việt Nam nghiêm cấm hành vi dụ dỗ, lừa gạt, bắt buộc trẻ vị thành niên vào đường lao động khi chưa tới tuổi, là khẳng định của ông George Blanchard, Giám đốc tổ chức Alliance Anti Traffic Liên Minh Chống Buôn Người, hoạt động tại Việt Nam từ năm 2001:

“Từ 2004 đã có mấy công ty ngoài Trung, ngoài Bắc, mục tiêu của người ta là tìm kiếm buôn bán người. Cả những người Việt bị bán qua Malaysia là cũng mấy công ty đó”

Tôi cũng làm về giáo dục phòng ngừa ở mấy khu dân tộc miền Trung. Người dân tộc đời sống còn khó khăn nên là dễ bị lừa, bị bán đi, nên là mấy em vị thành niên 15 tuổi bị lừa đi Ả Rập Xê Út làm ô xin”

“Có thông tin về mấy chuyện đó là tôi làm báo cáo cho bên công an được. Công an theo dõi và đã bắt nhiều người lắm”.

Chuyện lừa gạt buôn bán trẻ dưới tuổi lao động ra nước ngoài, vẫn lời ông George Blanchard, không phải một hay hai người làm được mà phải cả một đường dây trong ngoài cùng phối hợp thì mới thành.

Mạnh Vãn Chu: Đổi tự do bằng “lừa đảo”?

Mạnh Vãn Chu: Đổi tự do bằng “lừa đảo”?

Bởi  AdminTD

 Lê Huyền Ái Mỹ

25-9-2021

Hôm nay, thông tin Mạnh Vãn Chu được phóng thích tràn ngập. Chỉ vài giờ sau, 2 công dân Canada, Michael Spavor và Michael Kovrig cũng được Trung Quốc trả tự do.

Tháng 12- 2018, bà Mạnh bị tạm giữ. Vài ngày sau, ông Michael Spavor – một doanh nhân Canada và Michael Kovrig- một người từng làm trong ngành ngoại giao Canada – bị bắt giữ tại Trung Quốc. Nước này phủ nhận việc bắt giữ hai công dân Canada là hệ quả của việc bà Mạnh bị bắt và tuyên án ông Spavor 11 năm tù.

Vậy mà giờ, sau cú phóng thích bà Mạnh, từ tù nhân lãnh án 11 năm thành người tự do ngay và luôn. Đều là phát ngôn bằng tiếng Trung Quốc cả đấy thôi!

Cũng như nhìn lại cú mặc cả “tự do” cho bà Mạnh trở về Trung Quốc, không bị dẫn độ sang Mỹ bằng một thỏa thuận bà thừa nhận “có trách nhiệm về vai trò chính của mình trong hành vi thực hiện kế hoạch lừa đảo một tổ chức tài chính toàn cầu”.

Dù các tín hiệu có vẻ sáng sủa nào “hoãn truy tố”, “hủy bỏ cáo buộc”, “rút lại đề nghị dẫn độ” thì cái giá để gọi là “được tự do” lại đóng dấu mộc bằng sự thừa nhận “hành vi lừa đảo”.

Vậy là sau 1000 ngày, “kẻ lừa đảo” đã được về nhà?

Cáo buộc của Mỹ về việc bà Mạnh đã nói dối HSBC trong mối quan hệ của Huawei- với tư cách là giám đốc tài chính của tập đoàn – với Skycom, một công ty kinh doanh ở Iran, khiến HSBC có nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự vì vi phạm lệnh trừng phạt thương mại của Mỹ. Huawei đã bác bỏ cáo buộc và cho rằng vụ việc nhằm vào bà Mạnh Vãn Chu mang động cơ chính trị.

Vậy con đường làm ăn của Trung Quốc vào Iran là nằm ngoài chính trị? Cả hành động ngay lập tức nhảy bổ vào Iran sau khi Mỹ và Châu Âu áp đặt lệnh cấm vận quốc tế lên quốc gia Trung Đông này? Hai lựa chọn duy nhất cho quốc gia dầu mỏ này là Nga – có công nghệ nhưng chẳng đủ vốn và Trung Quốc – yếu kém về công nghệ nhưng sẵn tiền và can thiệp chính trị – nhà nước Trung Quốc không ngần ngại sử dụng sức mạnh chính trị để bảo vệ doanh nghiệp của họ thoát khỏi sự cô lập Iran của Mỹ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, như cơn lốc rời đi của các tập đoàn Shell, Total, ENI, Respol… thì cơn lốc ập tới với Sinopec, PetroChina và CNOOC (Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc) mà chính ngoại trưởng Mỹ thời điểm ấy, Hillary Clinton đã phải thốt lên câu hỏi “Làm sao anh chơi rắn với ngân hàng của mình được?” với thủ tướng Úc, Kevin Rudd – ý nói về chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ là Trung Quốc.

Vậy thì, một “tiểu nương nương” như Mạnh mà phải “nói dối” rằng không có dính líu gì đến quốc gia dầu mỏ hay một ông lớn ngân hàng như HSBC lại tin vào lời nói dối ấy; và cả sự phủ nhận liên quan giữa Huawei với quân đội Trung Quốc, nó cứ như trò ve vãn đầy “ngọt ngào và man trá”. Cú mặc cả bằng thỏa thuận kia, chẳng qua cũng là sự “dọn dẹp” cho xong một động tác.

Còn bản chất, đã đóng “vai trò chính của mình trong hành vi thực hiện kế hoạch lừa đảo một tổ chức tài chính toàn cầu” thì đi đâu, ở đâu hay về nhà cũng là “cốt cách” lừa đảo. Hay “căn nhà” ấy, quê nhà ấy cũng đã chứa đựng sẵn cái mầm phong hóa lật mặt, tráo trở?

Như chuyện xảy ra với đất nước này. Hôm trước còn dắt nhau sang thăm hữu nghị. Mấy hôm sau đã điều máy bay vận tải tới các thực thể mà chúng bồi đắp trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Toàn một lũ cả thôi!

Đến chó nó cũng hổng tin…

Le Tu Ngoc

Đến chó nó cũng hổng tin…

Có ông già nọ đang bị bệnh nan y mà nhà thì rất nghèo nên bà vợ ông lo lắm; tiền đâu thuốc thang cho ông, nếu rủi như ông qua đời thì tiền đâu lo hòm quách, tang lễ cho ông. Một hôm ông nói với vợ điện thằng con đang đi học xa về gấp để ông bàn ít việc trước khi qua đời. Khi thằng con về, ông nói:

– Con đem giấy bút ra; ba nói, con viết cái di chúc cho ba, rồi con đem lên Phường ký; chứ ba qua đời đột ngột thì sẽ khó cho con sau này!

Thằng con nghe vậy, đem giấy ra; ông bảo thằng con viết:

“Khi tôi qua đời, tài sản, nhà cửa, ruộng nương, cây cối, vườn tược và 1000 cây vàng tôi giao hết lại cho đứa con trai độc nhất của tôi…!”.

Khi ông nói đến đây, thằng con hết sức ngạc nhiên nói:

– Ba điên rồi hả ba! Vàng, ba mẹ hiện ko có một phân, ở đâu 1000 cây mà ba nói vậy!

– Mầy điên thì có, mầy khờ thì có! Mầy cứ viết vào; biết đâu sau này mầy làm quan, mầy xây biệt phủ… Họ có kiểm tra thì có cơ sở để nói, chứ mầy nói nuôi gà, nuôi vịt, nấu diệu, làm giày; làm chổi đót thì đến chó nó cũng không tin !!!???

#Gota chia sẻ từ Xuanphung Pham

ảnh minh hoạ từ fb Phan Lê Long