Sài Gòn Và Tuổi Thơ Tôi – BÚT KÝ TRẦN MỘNG TÚ…

Van Pham

BÚT KÝ TRẦN MỘNG TÚ…

***

Sài Gòn Và Tuổi Thơ Tôi

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blancy( Hai Bà Trưng,) sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả:

Hoa hường phết (phết là dấu phẩy) …

Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. Tôi viết: Qua tường phết

Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt.

Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này:

Sài Gòn vòi nước bùng binh

Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên

Trụ đèn, giây thép, tượng hình

Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an

Mặc dầu đường rộng thênh thang

Ngựa xe đi lại luật hành phải thông

Mặc dầu đường rộng mênh mông

Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm

Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…

Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì.

Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba, sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc.

Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ.

Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp.

Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không có tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra. Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một cái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa.

Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ cái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác.

Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn, đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà. Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học của trường Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên.

Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 su bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho: Tiết Trực Tâm Hư)

Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambreta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai,với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống. Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh.

Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao mất mát một chốn để về…

May be an image of road

Hạnh phúc, niềm vui, thành công…

Hạnh phúc, niềm vui, thành công…

Thật ra rất đơn giản để có. Nếu không tin, bạn hãy đọc những dòng nhật ký dưới đây.

  1. Thế nào là thành công

Khi người ta đến tuổi trung niên, thân thể khỏe mạnh, có tiền dành dụm, đã kết hôn, vợ chồng quan tâm chăm sóc lẫn nhau, con cái vâng lời, có được công việc mà mình yêu thích.

Chẳng cần nổi tiếng, cũng không cần phát tài, không cần thiết cứ phải nhìn vào gương người ta mà làm việc, được sống đúng với chính bản thân mình, đây chính là thành công.

  1. Thế nào là niềm vui

Vu Quyên, một giáo viên đại học Phục Đán qua đời vì căn bệnh ung thư, vào những thời khắc cuối cùng của cuộc đời, cô đã viết trong nhật ký rằng: “Khi ở vào thời khắc giới hạn của sự sống và cái chết, bạn sẽ phát hiện rằng, mọi phấn đấu của bản thân (thức trắng đêm trong một khoảng thời gian dài giống như việc tự sát mạn tính vậy), những đòi hỏi mua nhà mua xe, đều mang đến rất nhiều áp lực cho bản thân. Những thứ này đều là phù vân cả. Nếu như có thời gian, hãy ở bên con cái nhiều hơn, lấy số tiền đó mà mua thêm vài đôi dép cho ba mẹ, đừng liều mạng để đổi căn nhà lớn gì đó, hoặc đổi xe hạng sang gì đó, hãy ở bên cạnh những người mà mình thương yêu, căn nhà nhỏ mà ấm cúng, thì đi xe đạp cũng sẽ thấy vui”.

  1. Giá trị của bạn nằm ở đâu

Nếu như bạn nằm liệt giường hoặc đột nhiên chết đi, việc đầu tiên mà đơn vị công tác của bạn làm chính là tìm một người khác để thay thế, tất cả đều sẽ vận hành bình thường, bạn sẽ không quan trọng như bạn nghĩ. Còn ba mẹ, người nhà và những đứa con của bạn, họ sẽ cảm thấy như bầu trời đã đổ sụp xuống. Đối với họ, bạn mới thật sự là người quan trọng. Vậy nên lúc có bệnh thì nên giành thời gian cho bản thân, làm việc đúng mức, ở bên gia đình nhiều hơn, yêu mến bản thân mình, sống những ngày tháng yên bình, vui vẻ và hạnh phúc.

  1. Hạnh phúc là gì

Trong nhà không có người bệnh, trong tù không có người thân, bên ngoài không có kẻ thù, trong mối quan hệ không có kẻ tiểu nhân, bên cạnh không có những kẻ xấu xa, làm việc có người thành thạo, đàm luận có người thông minh. Tụ họp có cao nhân, uống trà có hiền nhân, tán gẫu có người phóng khoáng,…

Trong cuộc sống, có những việc thích làm, có một thân thể khỏe mạnh, có người yêu thương mình, có một đứa con dễ thương đáng yêu, có những người bạn đã một thời gian không gặp mà nhớ đến.

Đây chính là hạnh phúc.

Đông Tuyền (ST)

3 lưu ý khi uống nước để tránh vô tình làm hại thận

3 lưu ý khi uống nước để tránh vô tình làm hại thận

Bảo Vy

Thực ra, thận của con người là cơ quan chính điều chỉnh sự cân bằng nước của cơ thể, uống nhiều nước sẽ không gây hại cho thận, ngược lại còn có tác dụng bảo vệ hệ tiết niệu. Nhưng hãy chú ý uống nước đúng cách.

 Có câu hỏi thắc mắc rằng: “Uống nhiều nước và đi tiểu nhiều hơn có thể bảo vệ thận, nhưng không phải đi tiểu nhiều hơn cũng làm tăng khối lượng công việc của thận hay sao? Nếu thận hoạt động quá nhiều thì có bị kiệt sức không? 

Thực ra, thận của con người là cơ quan chính điều chỉnh sự cân bằng nước của cơ thể, uống nhiều nước sẽ không gây hại cho thận, ngược lại còn có tác dụng bảo vệ hệ tiết niệu. 

Nhưng hãy chú ý uống nước đúng cách.

  1. Tại sao uống nhiều nước lại bảo vệ thận?

Cơ thể con người có hai quả thận đảm trách nhiệm vụ lọc máu. Sau khi máu đi vào cầu thận, nó sẽ được lọc để tạo thành nước tiểu ban đầu. Sự khác biệt giữa nước tiểu và máu ban đầu là không chỉ tế bào máu và protein đại phân tử, mà các thành phần khác đều giống huyết tương. Khi nước tiểu ban đầu chảy qua ống thận, hầu hết nước, chất điện giải, glucose và các chất hữu ích khác trong nước tiểu ban đầu được tái hấp thu trở lại máu, chỉ còn lại axit uric, urê và các chất thải chuyển hóa khác, một phần nước và chất điện giải. Chúng kết hợp với nhau tạo thành nước tiểu thực và bài tiết ra khỏi cơ thể.

Điều gây hại cho thận không phải là tổng lượng nước tiểu, mà là nồng độ của nước tiểu. Khi cơ thể thiếu nước, nước tiểu sẽ bị cô đặc, đồng thời tăng nồng độ các chất thải chuyển hóa trong đó có thể sinh ra các tinh thể kết tủa, hình thành sỏi và gây hại cho thận. Vì vậy, hãy uống nhiều nước để đảm bảo lượng nước tiểu đầy đủ, từ đó sẽ bảo vệ thận.

  1. Uống quá nhiều nước sẽ không gây hại cho thận

Nhưng cũng có quan điểm cho rằng uống quá nhiều nước sẽ làm tăng khối lượng công việc của thận và gây hại cho thận. Tuy nhiên, khả năng làm việc của thận bị nhiều người đánh giá thấp. Hai quả thận của cơ thể con người có từ 1 triệu đến 2 triệu nephron, và chỉ 25% đến 30% trong số chúng cần được sử dụng để đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của cơ thể con người.

Do đó, khi uống nhiều nước, cơ thể con người sẽ mở ra nhiều nephron hơn để hoạt động, đồng thời không tạo gánh nặng cho thận. Phần nước dư thừa sẽ được đào thải ra ngoài cùng với nước tiểu để làm loãng nước tiểu tránh sự kết tủa của các chất thải chuyển hóa trong nước tiểu, các tinh thể đã hình thành cũng sẽ tan ra, có tác dụng ngăn cản quá trình hình thành sỏi. Lượng nước tiểu tăng lên cũng có tác dụng “rửa sạch” hệ tiết niệu, giảm khả năng vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào niệu đạo, ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu.

 Tránh uống nước không đúng cách

Uống nhiều nước sẽ không gây hại cho thận, nhưng uống nước sai cách có thể ảnh hưởng không tốt đến thận.

. Không nên chỉ uống nước khi khát: Nhiều người đã quen khát nước rồi mới uống, nhưng khi khát thì thực ra cơ thể đã bắt đầu thiếu nước, não bộ sẽ nghĩ rằng cơ thể người đã vào “trạng thái thiếu nước”; lúc này, vùng dưới đồi tăng tiết hormone chống bài niệu (ADH), làm tăng khả năng tái hấp thu nước của ống thận, và nước tiểu sẽ cô đặc hơn, có thể gây tổn thương cho thận.

. Không nên uống nước chè vằng và canh rau ngót thường xuyên: Trong thành phần của sỏi thận, canxi oxalat chiếm 80%, là loại sỏi được hình thành do sự kết hợp của axit oxalic và canxi trong nước tiểu. Trong rau ngót và chè có chứa axit oxalic, axit oxalic dễ tan trong nước. Do đó, nếu bạn thường xuyên uống trà đậm và canh rau ngót sẽ dẫn đến việc hấp thụ quá nhiều axit oxalic, và có nguy cơ hình thành sỏi thận.

. Không thay nước lọc bằng đồ uống khác: Nhiều loại đồ uống có thêm nhiều đường để tạo mùi vị, nạp quá nhiều đường có thể gây béo phì, gây xơ vữa động mạch, hẹp động mạch thận và gây hại cho thận.

 Cách uống nhiều nước đúng cách là uống một lượng nhỏ nhiều lần

Nước trong cơ thể con người sẽ thường xuyên bị tiêu hao khi thở, đổ mồ hôi, đại tiện, tiểu tiện và các phương thức bài tiết khác, trong các hoạt động bình thường, một người trưởng thành sẽ mất khoảng 2000ml ~ 2500ml nước mỗi ngày. Rau, cơm và trái cây ăn hàng ngày chứa một lượng nước nhất định và một số nước được tạo ra khi các chất dinh dưỡng được chuyển hóa, do đó, người trưởng thành nên uống khoảng 2000ml nước mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu cơ thể của họ.

Tuy nhiên, không nên uống một lúc 2 lít nước, nếu không, một lượng lớn nước đổ vào trong thời gian ngắn sẽ làm tăng gánh nặng cho hệ tuần hoàn. Cách đúng là chia 2000ml nước mỗi ngày thành nhiều phần và uống cách nhau từ 1 đến 2 giờ. Nếu trời nóng hoặc đổ nhiều mồ hôi khi vận động, bạn nên tăng lượng nước uống lên một cách hợp lý.

Tóm lại, uống nhiều nước không những không gây hại cho thận mà còn có tác dụng bảo vệ thận rất tốt. Đảm bảo hơn 2000ml mỗi ngày, khi uống nước cần chú ý tránh uống sai cách, đúng cách là uống từng ngụm nước và chia làm nhiều lần trong ngày.

 Bảo Vy

 From: thanhlamle.le & ThuNNguyen

BỮA TIỆC ĐÊM.

BỮA TIỆC ĐÊM.

Chị là Oshin… giúp việc nhà cho một ông chủ ngoại ngũ tuần, rất giàu có.
Đêm xuống, xong việc, chị vội vàng về với đứa con trai nhỏ 5 tuổi suốt ngày ngóng đợi trong căn nhà tồi tàn..
Hôm ấy, chủ nhà có lễ lớn, mời rất nhiều bạn bè quan khách đến dự tiệc đêm. Ông chủ bảo:
-Hôm nay việc nhiều, chị có thể về muộn hơn không?
– Thưa được ạ, có điều đứa con trai nhỏ quá, ở nhà tối một mình lâu sẽ sợ hãi.
Ông chủ ân cần:
– Vậy chị hãy mang cháu đến cùng nhé!

Chị mang theo con trai đến.
Đi đường nói với nó rằng :
-Mẹ sẽ cho con đi dự tiệc đêm.
Thằng bé rất háo hức.
Nó đâu biết là mẹ làm Oshin là như thế nào kia chứ! Vả lại, chị cũng không muốn cho trí tuệ non nớt của nó phải sớm hiểu sự khác biệt giữa người giàu kẻ nghèo. Chị âm thầm mua 2 chiếc xúc xích.

Khách khứa đến mỗi lúc mỗi đông. Ai cũng lịch sự. Ngôi nhà rộng và tráng lệ…
Nhiều người tham quan, đi lại, trò chuyện.
Chị rất bận nên không thường xuyên để mắt được đến đứa con nhếch nhác của mình. Chị sợ hình ảnh nó làm hỏng buổi lễ của mọi người.
Cuối cùng chị cũng tìm ra được cách: đưa nó vào ngồi trong phòng vệ sinh của chủ nhà ,đó có vẻ như là nơi yên tĩnh và không ai dùng tới trong buổi tiệc đêm nay.
Đặt 2 miếng xúc xích vừa mua để vào chiếc đĩa sứ, chị cố lấy giọng vui vẻ nói với con:
– Đây là phòng dành riêng cho con đấy, nào tiệc đêm bắt đầu!
Chị dặn con cứ ngồi yên trong đó đợi khi xong việc chị đón về.
Thằng bé nhìn “căn phòng dành cho nó” thật sạch sẽ thơm tho, đẹp đẽ quá mức mà nó chưa từng được biết.
Nó thích thú vô cùng, ngồi xuống sàn, bắt đầu ăn xúc xích được đặt trên bàn đá có gương, và âm ư hát… tự mừng cho mình.

Tiệc đêm bắt đầu. Người chủ nhà nhớ đến con trai chị, gặp chị đang trong bếp hỏi. Chị trả lời ấp úng:
– Không biết nó đã chạy đi đằng nào…
Ông chủ nhìn chị làm thuê như có vẻ giấu diếm khó nói.
Ông lặng lẽ đi tìm…
Qua phòng vệ sinh thấy tiếng trẻ con hát vọng ra, ông mở cửa, ngây người:
– Cháu nấp ở đây làm gì ? Cháu biết đây là chỗ nào không ?
Thằng bé hồ hởi:
– Đây là phòng ông chủ nhà dành riêng cho cháu dự tiệc đêm, mẹ cháu bảo thế, nhưng cháu muốn có ai cùng với cháu ngồi đây cùng ăn cơ!

Ông chủ nhà thấy sống mũi mình cay xè, cố kìm nước mắt chảy ra, ông đã rõ tất cả, nhẹ nhàng ngồi xuống nói ấm áp:
– Con hãy đợi ta nhé!
Rồi ông quay​ lại bàn tiệc nói với mọi người hãy tự nhiên vui vẻ, còn ông sẽ bận tiếp một người khác đặc biệt của buổi tối hôm nay.
Ông để một chút thức ăn trên cái đĩa to, và mang xuống phòng vệ sinh. Ông gõ cửa phòng lịch sự…
Thằng bé mở cửa…
Ông bước vào:
– Nào chúng ta cùng ăn tiệc trong căn phòng tuyệt vời này nhé!
Thằng bé vui sướng lắm.
Hai người ngồi xuống sàn vừa ăn ngon lành vừa chuyện trò rả rích, lại còn cùng nhau nghêu ngao hát nữa chứ…
Mọi người cũng đã biết.
Liên tục có khách đến ân cần gõ cửa phòng vệ sinh, chào hỏi hai người rất lịch sự và chúc họ ngon miệng, thậm chí nhiều người cùng ngồi xuống sàn hát những bài hát vui của trẻ nhỏ…
Tất cả đều thật chân thành, ấm áp!

Nhiều năm tháng qua đi…
Cậu bé đã rất thành đạt, trở nên giàu có, vươn lên tầng lớp thượng lưu trong xã hội… nhưng không bao giờ quên giúp đỡ những người nghèo khó chăm chỉ.

Một điều quan trọng đã hình thành trong nhân cách của anh: Ông chủ nhà năm xưa đã vô cùng nhân ái và cẩn trọng bảo vệ tình cảm và sự tự tôn của một đứa bé 5 tuổi như thế nào…!!!

From: ngocnga_12 & ThuNNguyen

Lời nói của đứa trẻ nghèo khiến người giàu xấu hổ

Lời nói của đứa trẻ nghèo khiến người giàu xấu hổ

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring đã từng nói: “Đừng bao giờ phán đoán bừa bãi về người khác”…

Vào những năm 1990 của thế kỷ 20, Behring đang đi ngang qua vùng Vịnh San Francisco thì bất ngờ phát hiện chiếc ví của mình bị mất. Người trợ lý lo lắng nói: “Có lẽ nó đã bị mất khi đi bộ qua khu ổ chuột ở Berkeley vào buổi sáng. Vậy phải làm sao bây giờ?”

Behring tỏ ra bất đắc dĩ nói: “Chúng ta chỉ có thể chờ người nhặt được ví liên lạc tới mà thôi”.

Hai giờ sau, người trợ lý thất vọng nói: “Mất rồi, đừng đợi nữa. Chúng ta không nên hy vọng vào những người ở khu ổ chuột”.

“Không, ta vẫn muốn chờ thêm một chút”. Behring bình tĩnh nói.

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring 

Người trợ lý cảm thấy rất khó hiểu, nói: “Trong ví có danh thiếp, người nhặt được nếu như muốn trả lại cho chúng ta thì họ chỉ cần mất vài phút gọi điện thoại. Nhưng chúng ta đã đợi cả buổi chiều, rõ ràng là họ không có ý định trả rồi”. 

Behring vẫn kiên trì chờ đợi. Khi trời sắp tối, chuông điện thoại đột nhiên vang lên. Chính người nhặt ví đã gọi điện và yêu cầu họ đến nhận ví tại một địa điểm trên phố Kata.

Người trợ lý càu nhàu: “Đây lẽ nào là một cái bẫy? Chẳng lẽ họ bắt cóc tống tiền?”

Behring không để ý đến lời nói của người trợ lý, lập tức lái ô tô đến khu phố Kata. Khi đến nơi hẹn, một cậu bé mặc quần áo rách rưới đi tới, trên tay cầm chiếc ví của Behring. Người trợ lý cầm chiếc ví, ông mở ra và đếm đếm, phát hiện thấy trong ví không thiếu một đồng tiền nào. 

“Cháu có một thỉnh cầu”. Cậu bé nghèo nói. “Các ông có thể cho cháu một chút tiền không?” 

Lúc này, người trợ lý cười ha hả: “Ta biết ngay…” Behring vội ngắt lời người trợ lý rồi mỉm cười hỏi cậu bé muốn bao nhiêu tiền.

Cậu bé nghèo không suy nghĩ nhiều liền nói: “Chỉ cần một đô la là đủ”. “Cháu mất rất nhiều thời gian mới tìm được nơi có điện thoại công cộng, nhưng cháu không có tiền, vì vậy cháu phải mượn một đô la của người khác để gọi điện. Giờ cháu cần phải trả lại số tiền này cho người ta”. 

Nhìn vào đôi mắt trong veo của cậu bé, người trợ lý cúi đầu xấu hổ. Behring hào hứng ôm cậu bé.

Ngay lập tức, Behring đã thay đổi kế hoạch từ thiện trước đó của mình. Thay vào đó, ông đầu tư vào việc xây dựng một số trường học ở Berkeley để trẻ em nghèo từ các khu ổ chuột dù không có tiền vẫn được đến trường.

Trong buổi lễ khai giảng, Behring nói: “Đừng phán đoán bừa bãi về người khác. Chúng ta cần cho mỗi người một cơ hội, chào đón một trái tim nhân hậu thuần khiết. Một trái tim như vậy đáng để chúng ta đầu tư”.

San San biên dịch

From: Helen Huong Nguyen

Tiếng khóc trong rừng-Đức CHA CASSAIGNE  

Tiếng khóc trong rừng

 Thân kính vô vàn. Đức CHA CASSAIGNE  

Bên cạnh Làng Cùi Di Linh, tỉnh Lâm Ðồng, có ngôi mộ của Ðức Giám Mục Jean Cassaigne (Gioan Sanh,) vị sáng lập giáo xứ và làng cùi tại Di-Linh.

Trên bia mộ Ðức Giám Mục De Cassaigne, có khắc hai dòng chữ sau đây:
“Tôi xin những người nào,mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được gì, hãy tha lỗi cho tôi”
“Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi đã nêu gương xấu, hãy tha lỗi cho tôi”

Ngay sau khi Ðức Cha Jean Cassaigne tấn phong Cha Simon Hòa Hiền (cựu Giám Mục Ðịa Phận Ðàlạt) năm 1955, thay vì về lại Pháp là nơi Ðức Cha Cassainge đã lớn lên, Ngài đã trở lại để vui sống với anh em bệnh nhân trại cùi, một làng nhỏ chính tay Ngài tạo dựng mấy mươi năm về trước. Tại làng nhỏ bé này, Ngài vừa làm Cha sở, Thầy giảng, Giám đốc, Y tá, chăm nom chu đáo cho tất cả bệnh nhân mọi tôn giáo, trẻ già, với sự cộng tác nhiệt thành của các sơ dòng Bác Ái Vinh Sơn. Ngài quyết tâm sống chết với con cái cùi hủi của Ngài.

Trong cuốn “Lạc Quan Trên Miền Thượng” [1] do Linh Mục Giuse Phùng Thanh Quang viết vội vào năm 1972 về cuộc đời hy sinh cho người cùi của Ðức Cha Cassaigne, lúc Ðức Cha Cassaigne đang đau quằn quại thê thảm với những cơn đau khủng khiếp cuối đời. Một đời hy sinh thật cao quý của Ðức Cha Cassaigne mà có lẽ nay còn rất ít người có biết và nhớ đến Cha Cassaigne được thụ Phong chức Linh Mục năm 1925 tại chủng viện Rue du Bac của Paris. Qua Sài Gòn ngay sau đó và nhận nhiệm sở thí điểm truyền giáo vùng ma thiêng nước độc Di Linh (DJIRING) năm 1927. Ngài đã yêu thương những người “Mọi cùi” đến độ đã sống giữa người cùi, tắm rửa, săn sóc cho những người cùi, đã thương yêu họ cho đến khi họ chết. Cha Cassaigne đã kể một câu chuyện có lần Ngài giúp những người cùi thức ăn gồm có gạo, muối, và thịt naị Có một bà cùi hàng tuần đến lấy phần ăn, nhưng tuần đó không thấy đến. Cha Cassaigne đến lều tranh tìm bà thì thấy bà ta sắp chết với mủ nhớt nhầy nhụa, mùi hôi thối không chịu được xông ra từ mảnh thân héo tàn đáng thương xót nàỵ Cha vội lo dạy bà những điều về Thiên Chúa và hỏi bà ta có muốn Cha rửa sạch những tội lỗi để bà được lên Trời sau khi chết không?

Người cùi đáng thương đồng ý được rửa tội và nói với Cha Cassaigne rằng:

“Cau dờng! Ăn rơp kăh dơ mê dỡ ăn gũh rê hơ trồ”

” Ông lớn ơi! Tui sẽ nhớ đến ông khi tôi ở trên Trời” Cái chết tội nghiệp nhưng tốt lành của bà Thượng cùi đã làm khích động thật sâu xa tâm hồn Tông Ðồ của vị Linh Mục Thừa Saị Câu nói “Tôi sẽ nhớ Cha khi được ở trên Trời” là viên đá đầu tiên được đặt xuống để khởi đầu công cuộc thành lập làng cùi tại Di Linh.

Trong khoảng thời gian đó, ở miền Trung cũng như ở miền Nam nước Việt cũng có những trại cùi với số người bệnh tương đối ít. Trong khi ở vùng đất xa xôi có đến hàng trăm người cùi, lại không có chỗ cho họ ở. Theo lời Linh Mục Phùng Thanh Quang kể lại. Một ngày cuối Thu năm 1928, trong chuyến đi thăm một làng Thượng xa, đang băng qua rừng vắng thì bỗng có tiếng chân nhiều người dồn dập từ trong vùng tối âm u, nhiều giọng la ú ớ kêu Ngài dừng lại. Những bóng dáng quái dị xuất hiện như một đoàn ma đói. Thân hình xác xơ, kẻ mất tay, người sứt mũi, miệng chảy nước lòng thòng và tất cả hầu như què quặt. Họ mặc dù có người khập khiểng, có người vừa bò vừa lết, và đói, cố đuổi theo Cha bao vây lấy Ngài và tất cả đồng gào lên thảm thiết: “Ơ cau dơng! Ơ cau dơng! Dăn đàc sơng it bol hi!”
Ới ông lớn! Ới ông lớn! Xin thương xót chúng tôi!

Rồi tất cả sụp lạy Ngài và khóc rống. Cha Cassaingne vừa sợ hãi, vừa mủi lòng. Thì ra đây là nhóm người cùi bị xóm làng kinh tởm đuổi đi, họ tụ tập từng nhóm ngoài rừng xa, sống lây lất qua ngày để chờ chết. Có lẽ họ đã nghe lời đồn đãi về ông lớn làm thuốc và hay thương giúp người cùi này. Họ chờ Cha trên khúc đường vắng để nhờ Cha giúp đỡ.
Vài ngày sau, đó, việc lập làng cùi Di Linh được xúc tiến ngay
[3] Trong bài thuyết trình của Cha Cassaigne tại Sài Gòn năm 1943 về bệnh cùi khủng khiếp như thế nào, Ngài viết:

“Ở xứ Thượng cũng như hầu hết các xứ vùng nhiệt đới, nơi mà sự ăn ở sạch sẽ và phương pháp vệ sinh ít được lưu ý, thì con số người mắc bệnh cùi khá cao. Khi mà có thể còn làm việc được thì người mắc bệnh cùi vẫn còn được sống chung với gia đình. Nhưng đến khi thân tàn ma dại không làm gì được nữa, nhất là khi các vết ung thối bắt đầu phá miệng lở loét ra, mủ máu vấy đầy khiến những người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được, thì dân làng đưa họ vào rừng, cất cho họ một túp lều tranh để người cùi ở lại đó một mình sống chết sao mặc kệ! Rồi yếu liệt cô đơn trong túp lều hiu quạnh, người cùi không còn sức làm gì nữa để kiếm ăn vì tay chân cụt mất rồi! Họ sẽ chết dần chết mòn một các thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó rồi chết đi vì đói lạnh, mà chẵng có ai hay biết…”

Trước khi mắc bệnh, mỗi lần thuyết trình đến đây, cha Cassaigne không sao cầm được nước mắt, phần thì thấy thương những người xấu số, phần thì chắc Ngài cảm thấy lo âu sợ sệt như linh cảm thấy trước định mệnh sẽ đến, Ngài run sợ như chính mình đang mắc chứng bệnh nan y nàỵ

Các việc làm nhân đức của Cha Jean Cassaigne đã đưa Ngài từ một căn lều tranh để phục vụ người hủi tới tận tai Tòa Thánh La Mã. Ngài được bổ nhiệm chức Giám Mục và Ngài phải tuân lệnh Toà Thánh về làm việc tại Ðiạ Phận Sài Gòn. Trong hơn 14 năm giữ chức vụ này Ðức Giám Mục Cassaigne đã đôn đốc thực hiện công cuộc bác ái, cứu trợ vật chất, ủy lạo tinh thần cho những người gặp cảnh bất trắc nghèo khó, di cư tị nạn, không phân biệt địa phương hay tôn giáọ.

Vì nhớ đám dân cùi, Ngài xin từ nhiệm chức Giám Mục Sài Gòn để trở về băng bó vết thương tinh thần và vật chất cho những đứa con cùi hủi của Ngài tại làng cùi Di Linh.

Vì sống một đời sống quá khắc khổ trong rừng nên Ðức Cha đã mang nhiều bịnh nặng. Từ năm 1929, Ngài đã mắc bịnh sốt rét rừng. Năm 1943, bịnh cùi đã đến với Ngài vì sống gần gũi với người bịnh; từ năm 1957, bịnh lao xương làm không thuốc chữa Ngài đau đớn, và năm 1964, bịnh lao phổi trở lại hành hạ thân Ngàị Ðức Cha đau đớn tột cùng với những cực hình thể xác, nhưng luôn luôn vững  lòng chấp nhận để xin Chúa thương mà giảm bớt cái đau của những người hủi tại Việt  nam.

 Những ai may mắn sống gần Ðức Cha thường được nghe

– “Ðời tôi chỉ có ba ước nguyện: được chịu đựng, chịu đau, và chịu chết ở đây, giữa những người Thượng của tôi”

(Je ne demande que trois choses: tenir, souffrir, et mourir ici, au milieu de mes Montagnards).

Chúa đã nhận lời cầu xin của Ðức Cha, đã cho Ngài mang lấy bốn chứng bệnh nan y. Ðã giúp sức cho Ngài chịu đựng quá lâu dài. Những ngày cuối cùng tuy đau đớn, nhưng Người vẫn đọc kinh cầu nguyện cho nước Việt Nam, cho các người cùi. Người nói:

“Suốt 47 năm dài, Cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này,và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây,Cha không tiếc một điều gì về sự dâng hiến toàn diện ấy”.

 Theo lời từ biệt của ông Nguyễn Thạch Vân, đọc trong lễ an táng Ðức Cha Cassaigne tại Di Linh ngày 11 tháng 5, năm 1973 kể lại, Cha Cassaigne còn nói:

“Việt Nam chính là quê hương của Cha, bởi vì Chúa muốn như vậy”.

Khi nói đến  câu: “Nước Việt Nam là quê hương của tôi”. Ðức Cha chấp tay như để cầu nguyện, và Ngài khóc! Ðây là giòng lệ Thánh cầu nguyện của một Tông đồ Truyền giáo, đã tận hiến đời mình cho lớp người khốn khổ, bất hạnh nhất trên cõi đời này.

Năm 1972, Ðức Cha đã được trao tặng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chươngtrên giường bệnh và đã qua đời tại Di-Linh ngày 31-10-1973

From: Helen Huong Nguyen

Đất nước bạn “có bao giờ được thế này hông” ?

May be an image of one or more people, people standing and road

Giờ, giả sử xóm bạn cần xây một cây cầu để “nối liền hai thôn thắm đượm tình quê” giá 10 đồng, cả xóm xúm lại hùn tiền đưa cho chính quyền để lo chuyện xây cầu.

Nhưng bọn quan chức tham nhũng cấu kết với bọn nhà thầu bất lương “ăn” hết 6 đồng, còn có 4 đồng, nên cây cầu xây xong nó sụm bà chè “tạo hình chữ V chớ hông sập” như trong hình. Chả ai dám đi vì hông muốn sụm bà chè đi chầu hà bá giống như cây cầu, nên phải phá đi làm lại.

Chi phí phá cầu tốn hết 2 đồng, xây cầu mới tốn hết 10 đồng nữa. Vị chi, để có một cây cầu giá 10 đồng, xóm bạn phải tốn 22 đồng. Vậy xóm bạn có mạt hông, hay xóm bạn “có bao giờ được thế này hông” ?

Đó là nói lần sau bọn quan chức hông dám tham nhũng nữa, chớ nếu tham nhũng nữa nhưng bớt lại, chỉ “ăn” hết 4 đồng, còn được 6 đồng, thì cây cầu xây xong chất lượng và tuổi thọ cũng giảm, xài được có mấy năm rồi lại phải phá đi làm lại, lại tốn nữa, chớ hổng giống như cây cầu Long Biên của bọn thực dân đế quốc áp bức bóc lột phản động thúi nát có tuổi thọ 100 năm dư …

Ờ … nghĩ thử chuyện đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông coi có giống vậy hông ?

Rồi … nghĩ thử bao nhiêu công trình trọng điểm quốc gia bị hư hỏng, đắp chiếu, bỏ hoang … coi có giống vậy hông ?

Rồi … nghĩ thử bao nhiêu lần “cải cách”, “cải tạo”, “đổi mới”, “sửa sai”, “sai đâu sửa đó, sửa đó sai đâu, sửa đâu sai đó”, “sáng đúng chiều sai, sáng mai lại đúng” … coi có giống vậy hông ?

Vậy đất nước bạn có mạt hông, hay đất nước bạn “có bao giờ được thế này hông” ?

Muốn so sánh, thì so sánh với lân bang trong cùng thời điểm, chớ tự mình so sánh với mình lại hông cùng thời điểm, thì so sánh mình thời nay với mình thời … Hùng Vương đi he, cho dễ thấy “có bao giờ được thế này hông”, rồi hăm he sẵn súng đạn, nhà tù để hổng ai dám cãi !

He …

Nguồn: fb Canh Le

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

    Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

    Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

    1. KHOẺ MẠNH
    Đạt Lai Lạt Ma:
    Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

    2. TÌNH THƯƠNG
    Tagore:
    Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

    3. NIỀM VUI
    Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh MỹFranklin:
    Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

    4. CHÍNH TRỰC
    Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
    Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

    5. TÔN TRỌNG
    Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
    Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu.
    Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

    6. NỘI TÂM THANH TĨNH
    Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
    Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

    7. ĐẠO ĐỨC
    Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
    Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

    8. GIÁO DỤC
    Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
    Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

    9. TRÍ TUỆ
    Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
    Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

    10. GIÁC NGỘ TÂM LINH
    Người vô danh:
    Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
  
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

From: TU-PHUNG

TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG

TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG

Ngày xưa chào mẹ, ta đi

Mẹ ta thì khóc

Ta đi thì cười

Mười năm rồi lại thêm mười

Ta về thì khóc, mẹ cười lạ không

Ông ai thế? Tôi chào ông

Mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi

Ông có gặp thằng con tôi

Hao hao…

tôi nhớ…

nó … người … như ông

Mẹ ta trả nhớ về không

Trả trăm năm lại bụi hồng, rồi đi…

Đỗ Trung Quân

Bài thơ lục bát này, rất ngắn, chỉ 10 câu, 70 từ, vời vợi thời gian một đời người, nặng trĩu bao tâm trạng. Tác giả lấy câu thứ 9 đặt tên cho bài thơ, Mẹ ta trả nhớ về không. Khi được phổ nhạc, các ca sĩ trình bày ca khúc như: Nguyễn Hồng Liên, Ngọc Huyền, Lê Vỹ, Thụy Long.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân kể lại rằng, “Bạn tôi đi làm ăn xa gần như cả cuộc đời, nên khi về thăm mẹ năm bà 92 tuổi, người mẹ đã mắc chứng Alzheimer và không còn nhớ con mình là ai. Bà hỏi: Ông ơi, ông là ai? Bạn tôi ôm mẹ khóc như mưa…” Từ cảm xúc đó, Đỗ Trung Quân viết bài thơ này.

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình mẹ con, đúng hơn, đó là tình cảm của đứa con đối với người mẹ, day dứt bao nỗi niềm:

Ngày xưa chào mẹ, ta đi

Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười

Mười năm rồi lại thêm mười

Ta về ta khóc, mẹ cười… lạ không ?

Tác giả chọn hai thời điểm ý nghĩa nhất: ta đi và ta về / mẹ khóc và ta cười / mẹ cười và ta khóc. Giữa hai thời khắc ấy, mười năm rồi lại thêm mười, có nghĩa đến hai mươi năm, dằng dặc hơn bảy ngàn ngày thương nhớ. Hai mươi năm, bao vui buồn đổ xuống trên hai cuộc đời (mẹ và ta), hai mái ấm gia đình, hai thứ tóc chuyển màu. Tiếng cười và tiếng khóc, ý nghĩa không giống nhau, đằng đẳng cả nghìn trùng của không gian và thời gian trong mỗi số phận.

“Ngày xưa chào mẹ, ta đi / Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười”. Hai câu thơ diễn tả rất đúng tâm trạng của hai mẹ con. Con thì còn trẻ, ăn chưa no lo chưa tới, chỉ thấy phía trước là những chân trời mênh mông, vẫy gọi, hớn hở vô cùng, dấn bước vào đời, làm một con người tự do với bao khát vọng tràn đầy. Cười là đúng. Tuổi trẻ, ai cũng vậy. Chỉ có mẹ, Ta đi – Mẹ khóc. Khóc vì phải xa con, lo lắng cho con, nơi những góc bể chân trời, ai người chia sẻ khi ấm lạnh?

Đến khi Ta về – Ta khóc – Mẹ cười – Lạ không? Hai trạng thái cảm xúc trái ngược nhau của người mẹ và người con, được lý giải: Khi trở về, người con gặp lại mẹ, bao năm xa nhà, nhiều năm chia cách, theo tuổi đời, mẹ không còn như xưa nữa, nhớ nhớ quên quên, trí nhớ suy giảm, kém dần, … Mẹ ta trả nhớ về mênh mông rồi !

Đằng sau tiếng khóc của người con, có thể nhận ra những ơn nghĩa sinh thành, mang nặng đẻ đau, công lao dưỡng dục và lòng yêu thương vô bờ của đứa con đối với người mẹ. Và, cũng nhận ra rằng, từ nay, mọi sóng gió và vấp ngã trong đời, đâu còn một bến đỗ bình yên để trở về, neo đậu:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ / Đi một đời, lòng mẹ vẫn theo con”, Chế Lan Viên từng viết như vậy trong bài thơ Con cò.

Những câu thơ nhói buốt tâm can:

Ông ai thế? Tôi chào ông

Ông có gặp thằng con tôi

Hao hao…

tôi nhớ…

nó …người …như ông.

Đây là các dòng thơ xúc động nhất, đọc đến, rơi nước mắt, nghẹn ngào. Người mẹ không nhận ra đứa con của mình, chỉ thấy “hao hao … tôi nhớ … nó … người … như ông”. Dòng thơ tưởng như lời giao tiếp, hỏi mà không có câu trả lời, bình thường mà lại không bình thường, nhói buốt, báo hiệu cho ta biết rằng, ta sẽ đơn côi, cô độc trên cõi trần gian này, ta sẽ có những ngày tháng bất hạnh nhất trong đời, khi:

Mẹ ta trả nhớ về không

Trả trăm năm lại bụi hồng, rồi đi…

“Bụi hồng”, Đào Duy Anh trong Từ điển Truyện Kiều, “bụi hồng chữ Hán là hồng trần, chỉ bụi sắc đỏ, do gió bốc lên, nghĩa bóng là cõi trần” (Từ điển Truyện Kiều, NXB KHXH, HN, 1974, trang 43). Như vậy là, mẹ ta, xong một đời người, từ biệt thế gian, “rồi đi …”, về với ông bà, tổ tiên. Ngày đau buồn ấy đang chầm chậm đến!

Hai câu thơ cuối cùng, dẫu biết đó là quy luật, nhưng sao buồn đến nao lòng! Cha mẹ không sống cùng ta đến cuối đời, mãn kiếp. Đành thế, sao thương quá cho đời, cho ta!

Mẹ ta trả nhớ về không là một trong những bài thơ hay viết về mẹ. Cái gốc làm nên sự sâu lắng của bài thơ, như Bạch Cư Dị nói, đó là tình. Các chi tiết đều có tính điển hình, chọn lọc. Bài thơ là tiếng lòng, là niềm day dứt khôn nguôi của người con đối với mẹ, là lời nhắc nhở về lòng hiếu đạo, bổn phận làm con. Người đọc, bắt gặp mình nơi các dòng thơ chan chứa ân tình của Đỗ Trung Quân

https://youtu.be/t0MAbhFZXL

MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG | LÊ VỸ | Ca khúc về mẹ phổ thơ Đỗ Trung Quân cảm động nhất mùa Vu Lan 2019

From: Dương Phong

VỢ LỚN – VỢ NHỎ…!

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Đinh Trực    

VỢ LỚN – VỢ NHỎ…!

Cưới nhau được hơn hai tháng thì ông đi tập kết, bỏ lại cho người vợ trẻ 20 tuổi và nhà cửa, ruộng vườn cùng cha, mẹ già yếu nay bệnh mai đau…! Khi ông còn xa miệt mù bên chiến tuyến, thì ở quê nhà song thân của ông lần lượt qua đời…!

Mồ yên mả đẹp cho Ba, Má chồng xong, cô vợ tiếp tục thủ tiết chờ chồng, lo canh tác ruộng vườn, giữ gìn đất cát, thờ cúng, chăm sóc mồ mã tổ tiên bên chồng, bỏ hết những lời ngọt ngào yêu thương của những người đàn ông xa gần vây quanh ngỏ ý…

Sau ngày 30/4/1975, bà càng thấp thỏm mong ngóng ông về. Bộ lư hương trên bàn thờ được bà lau chùi không biết bao nhiêu lần, màu đồng đã lên nước sáng choang, cơ ngơi trên dưới, trong nhà ngoài vườn luôn sạch sẽ, ngăn nắp. Bà sợ ông về mà nhà cửa bộn bề thì bị trách chưa tròn phận vợ hiền…!

Nghe trong xã có ai đi tập kết trở về là bà tới hỏi thăm ngoài đó có gặp ông không, nhưng chỉ nhận lại lắc đầu từ họ…, nhưng họ nói không có giấy báo tử thì cứ yên tâm chờ ông về…

Bà mừng lắm…, tối nằm nhẩm tính năm nay bà 41 tuổi, còn ông 43 không biết có còn đẻ con được hay không, nếu ông trở về thì bà sẽ sinh cho dòng họ chồng một, hai đứa con nói dõi tông đường, có người đốt nhang thờ tự trước bàn thờ…!

Bà cảm thấy nóng ran mặt mũi vì mắc cỡ với ý nghĩ đó nhưng nỗi khát khao được làm vợ, làm mẹ vẫn âm ỉ hơn trong lòng suốt 20 năm qua, chẳng dám nói cùng ai…, nay đang bùng lên dữ dội trong lòng bà…

Sáng bà dậy sớm đón xe lam xuống Bệnh viện, Bác sỹ khám xong, nói bà vẫn còn khả năng làm mẹ, như lượm được vàng, trên đường về bà ghé chợ mua vài món đồ riêng của đàn bà mà lâu nay vì xa chồng bà đã không nhớ tới, về nhà bà tìm chỗ kín đáo để cất, sợ chị em bạn nhìn thấy thì chỉ có nước độn thổ…

Tháng 10 âm lịch trời lập đông, gió bấc thổi ù ù trên đọt cây vú sửa sau vườn…, thì bỗng ông trở về nhưng không phải một mình mà với bà vợ, người một tỉnh miền Trung và hai đứa con, một trai một gái đã gần 20 tuổi…

Chỉ vài ngày sau, khi sự đau đớn, hụt hẫng tận cùng vẫn còn nguyên, chưa kịp hoàn hồn để tính toán được gì cho mình thì bà đã bị mẹ con vợ nhỏ thẳng tay đuổi ra khỏi nhà, ông có can ngăn nhưng rất yếu ớt vì hình như ông đã bị lép vế trong cái gia đình đó từ lâu.

Bà vốn ăn nói nhỏ nhẹ, kính trên nhường dưới nên không phải là đối thủ của bà vợ sau, miệng ào ào tuôn những ngôn từ đanh đá có vần có điệu cướp lời không cho ai nói, cùng sự phụ họa của hai đứa con cũng chanh chua không thua gì mẹ.

Nghĩ tại ông Trời bắt mình bạc phận, vô duyên, bà nước mắt ngắn dài lo thu dọn áo quần dù chưa biết sẽ đi đâu khi Ba, Má ruột cũng đã mất, còn đứa em trai duy nhất thì ở bên vợ xa quê…

Nhưng bà con lối xóm và dòng họ bên chồng thì không chịu thua, họ đồng lòng lên tiếng phản đối, cuối cùng bà cũng được chia ba công ruộng gò, giáp ranh nghĩa địa của xã. Còn lại một mẫu ruộng tốt và mảnh vườn gần hai công có căn nhà thờ trong xóm phải giao lại cho ông và mẹ con vợ nhỏ.

Làng xóm xúm nhau đào đất đắp nền dựng một căn nhà lá ngoài ruộng để bà ở, rồi người này cho cái lu, người kia cho cái chén, đôi đũa…. Mỗi tối vài chị em bạn tới ngủ qua đêm để bà làm quen từ từ với chuyện nhà ở sát bên nghĩa địa.

Người vợ lớn thực tế không chồng, không con từ đó làm lụng sinh sống trên đám ruộng của mình…

Ông chồng không dám, dù chỉ một lần đến căn nhà lá của bà, còn bà thì bị mẹ con vợ nhỏ cấm bước vô căn nhà thờ do bà giữ gìn, chăm sóc hơn 20 năm nên bà dành dụm mua một cái tủ thờ để cúng kiếng Ba Má chồng…!

Thời kinh tế thị trường, mẹ con vợ nhỏ bán sạch ruộng vườn tổ tiên của ông để lấy tiền về “xây dựng kinh tế” ngoài quê, chỉ chừa mỗi căn nhà thờ cho ông ở vì không hiểu sao lần này Ông nhất định không theo vợ nhỏ về tỉnh ngoài Trung đó…?

Càng lớn tuổi ông càng nhiều bệnh nên đi đứng, vệ sinh rất khó khăn nhưng chỉ sống một mình, không vợ, không con, không cả tiền chi tiêu trong căn nhà thờ đã bắt đầu hoang tàn, đổ nát và nồng nặc mùi xú uế do ông thải ra lâu ngày không ai dọn rửa.

Cám cảnh cô đơn của chồng xưa…!

Bà lại sớm sớm chiều chiều chăm lo cho ông. Ngôi nhà thờ nhờ vậy lại được gọn gàng, sạch sẽ, nhang khói ấm cúng chứ không lạnh lẽo như trước…!

Nghĩa địa giải tỏa để xây chợ, Xã lên Phường, lên Quận, mấy đám ruộng gò có vị trí xấu của bà tự nhiên có hai mặt tiền mà mặt tiền, giáp với ngôi chợ mới, dài hơn trăm mét nên có giá hàng ngàn lượng vàng… Biết tin này, Mẹ con vợ nhỏ tức tốc “Nam tiến”, họ kéo nhiều người đồng hương tới chửi bới, la lối hăm dọa buộc bà phải “trả ngay đất của tổ tông cho con của bà…?”.

Chuyện chia đất lúc bà bị đẩy đuổi năm xưa được một người am hiểu giúp làm giấy tờ đúng qui định nên bà đã được cấp giấy đỏ, nhân chứng sống còn nhiều, ông giờ cũng cứng rắn bảo vệ lẽ phải chứ không yếu đuối mặc cho vợ nhỏ muốn làm gì thì làm. Mẹ con vợ nhỏ bị lập Biên bản gây rối trật tự công cộng, đám người lạ mặt bị buộc phải lập tức giải tán nếu không sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, lại thêm bà con mỗi người một câu chê bai, đàn ông trai tráng trong phường biết chuyện kéo tới rần rần, tỏ rõ thái độ sẵn sàng ra tay bảo vệ bà nếu bên kia dám làm liều nên mẹ con vợ nhỏ cùng đám đồng hương đành phải vội vã rời khỏi hiện trường…

Ngày ông về với tổ tiên…, chỉ có bà và ít người bên họ chồng đứng cạnh quan tài, bà vẫn để tang chồng dù chỉ được làm vợ một lần nữa với ông khi chưa đầy 6 tháng…!

Nhưng may mắn thay, bà đã có giọt máu của ông đã chảy trong huyết quản…!

Bà có tìm được số điện thoại rồi nhờ người gọi báo nhưng vợ nhỏ của ông, bà vợ nhỏ không còn sức để đi xa vì đã nhiều năm bệnh tật triền miên, hai đứa con của vợ nhỏ đã đi khỏi xứ từ lâu, không biết làm ăn ra sao mà không thấy về, cũng rất ít khi gọi điện dù chúng biết rõ mẹ đẻ đang sống quạnh quẽ một mình với tuổi già ốm yếu ở quê nhà…!

Ngẫm ra, bà là một người có tình người trong thiên hạ…!

(Đinh Trực sưu tầm)

“Trăm năm trồng người…”

TẠP GHI HUY PHƯƠNG – BÀI VIẾT ĐÃ CŨ NHƯNG VẪN ĐÚNG CHO NGÀY HÔM NAY…

***

Có Những Sự Thật Không Cãi Được: – Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức.

“Trăm năm trồng người…”

Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Đẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Đặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.

“Trăm năm trồng người…”

Một trong những “ranh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em“quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Tàu là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà“bác.”

Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.” (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).

Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt.

Nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy! Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản.

Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.

Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 46 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai.

Sau nữa là cả nước từ 46 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi.

Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.

Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội.

Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống.

Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.

-Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi cả những gì quý nhất.

– Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…

– Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại vì không đi được, hay đang còn kiếm tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.

– Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!

– Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.

– Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.

– Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.

-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.

– Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Đội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,” nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi quốc gia có những cái nhìn thiếu thiện cảm.

Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, ai? vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?

– Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia…

Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.

– Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng,“Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sàng giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”

Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.

Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”

 THIÊN ĐÀNG VÀ HOẢ NGỤC

 THIÊN ĐÀNG VÀ HOẢ NGỤC

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Con người sống ở đời luôn luôn phải lựa chọn.  Làm thế nào để khôn ngoan chọn lựa cho mình những điều tốt đẹp và hạnh phúc lâu dài.  Bối cảnh xã hội, cùng với những nguyên nhân, chủ quan và khách quan, nhiều khi làm cho người ta lầm lạc.  Có những khi tưởng là chắc chắn vững bền mà thực ra chỉ là đuổi mồi bắt bóng.  Đối với người tin Chúa, cuộc sống luôn là sự chọn lựa giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa Thiên đàng và hoả ngục.  Vì con đường hạnh phúc là con đường hẹp, còn con đường hư hỏng lại rộng rãi thênh thang, nên sự chọn lựa này nhiều khi rất cam go, khiến chúng ta phải hy sinh mất mát vật chất cũng như tình cảm.

Bài Tin Mừng hôm nay như một tổng hợp nhiều bài học giáo huấn trong một đoạn văn ngắn.  Tác giả Luca chắc hẳn đã thu góp sưu tập những lời giảng dạy của Chúa, rồi đặt chúng bên cạnh nhau theo một lối hành văn cô đọng có chủ ý gửi gắm những thông điệp cụ thể.

Trước hết, Chúa Giêsu dạy chúng ta về tình liên đới hài hoà để chống lại sự ghen tị chia rẽ.  Đây cũng là giáo huấn mà chúng ta đã nghe trong Lời Chúa Chúa Nhật trước.  Tông đồ Gioan khó chịu khi thấy những người khác nhân danh Đức Giêsu mà trừ quỷ.  Lập luận của ông thuần tuý trần tục, với tư tưởng phe cánh: ai không cùng nhóm với các môn đệ Thày thì không thể nhân danh Thày.  Gioan cũng như một số môn đệ khác tự cho mình là được ưu tuyển, là chính danh, để coi thường những người khác và muốn phủ nhận những điều tốt lành họ đang làm.  Chúa Giêsu không quan niệm như thế.  Người khẳng định: Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.  Sự ganh tị cũng được nhắc tới trong Bài đọc I. Ông Giosuê, người sau này sẽ trở thành thủ lãnh kế vị ông Môisen, cũng ghen tương với những người khác và không chấp nhận cho họ nói tiên tri, trong khi chính Chúa ban cho họ khả năng ấy.  Điều đó cho thấy sự nhỏ nhen của của người.  Họ muốn giành quyền Thiên Chúa để phán xét theo cái nhìn thiển cận và ghen tương của mình.  Chúa dạy chúng ta hãy có cái nhìn công bằng hơn.  Bất cứ ai làm điều tốt, dù họ thuộc về phe phái chính trị hoặc về tôn giáo nào, đều đáng trân trọng.  Thiên Chúa là nguồn gốc của Chân, Thiện, Mỹ, nên những ai làm những thiện hảo và tốt đẹp đều đang hướng về Chúa, và mặc dù không ý thức điều đó, họ vẫn đang diễn tả vẻ đẹp và sự tốt lành của Ngài.

Từ khái niệm hài hoà yêu thương, Đức Giêsu nhắc đến tình liên đới của những ai muốn làm môn đệ Chúa.  Hình ảnh một chén nước lã quá đơn giản, mà khi được trao tặng với tư cách là môn đệ của Chúa, sẽ mang lại những lợi ích lớn lao.  Trong bài giảng về ngày phán xét chung (x. Mt 25,31-46), Chúa Giêsu còn nhắc tới giáo huấn này.  Hơn nữa, Người còn đồng hoá mình với những người bé mọn, cô thế cô thân và bất hạnh đau khổ.

Chọn lựa Thiên đàng chính là chọn lựa tình liên đới và yêu thương.  Hoả ngục là nơi dành cho những người ghen ghét hận thù.  Lời giáo huấn của thánh Giacôbê mang âm hưởng của vị Thẩm phán trong ngày cánh chung.  Tác giả nghiêm khắc khiển trách những người giàu, vì họ chỉ lo tích trữ của cải mà vô cảm với những người nghèo xung quanh.  Một cách đặc biệt, thánh Giacôbê lên án những người làm giàu bất chính, thu lợi từ những hành vi gian lận của người nghèo.  Họ sẽ phải nhận được hậu quả do những việc ác họ đã làm.

Sống ở đời, con người không phải là những ốc đảo riêng rẽ cô đơn, nhưng liên đới với nhau trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ.  Mỗi hành vi cử chỉ không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, mà còn liên luỵ hoặc làm dịp cho người khác vấp phạm.  Đối với Chúa Giêsu, những người làm gương xấu thật đáng lên án, đến nỗi thà buộc cối đá lớn vào cổ mà quăng xuống biển.  Điều đó có nghĩa những việc xấu gây nên những hậu quả vô cùng tai hại cho những người xung quanh, nhất là đối với những người đơn sơ và trẻ em.

Như đã nói ở trên, cuộc sống là sự chọn lựa giữa ánh sáng và bóng tối, cái thiện và cái ác, sự thánh thiện và tội lỗi, Thiên đàng và hoả ngục.  Chân, tay, mắt là ba phương tiện chính yếu để thực thi mối tương giao với người khác.  Vì vậy, cần phải có con mắt trong sáng, và phải có những hành vi thiện lành. Chắc chắn Chúa không đòi chúng ta phải chặt chân, chặt tay hay móc mắt, nhưng Chúa muốn chúng ta dành cho Chúa một tình yêu ưu tiên, vượt lên trên mọi tình cảm và quyền lợi trần gian, nhờ đó chúng ta sẽ đạt được gia nghiệp vĩnh cửu Chúa dành cho ai trọn tình yêu mến Ngài.

Một tác giả đã viết: Người quân tử khắt khe với bản thân và rộng rãi với người khác.  Ý tưởng này được nhấn mạnh trong giáo huấn của Chúa Giêsu.  Cách nói tạo hình ảnh gây ấn tượng như chặt chân, chặt tay, móc mắt… diễn tả sự chọn lựa cương quyết giữa hạnh phúc đời này với hạnh phúc đời sau, giữa sự thanh thỏa nội tâm với những bổng lộc trần thế.  Đây cũng là cách khẳng định mạnh mẽ về sự dứt khoát từ bỏ những nguyên nhân gây nên tội ác, để trung tín với Đấng đã hy sinh mạng sống vì yêu thương chúng ta.

Tương lai của chúng ta là Thiên đàng hay hoả ngục?  Đó là kết quả do sự lựa chọn của chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Nguồn: https://www.tonggiaophanhanoi.org

From: Langthangchieutim