Mời xem vũ điệu Ukraina – Ukrainian dance

httpv://www.youtube.com/watch?v=AOgdrrzOi1A

Virsky Ukrainian National Folk Dance Ensemble | ансамбль ім. П. Вірського | Best of (2022)

MỘT MÀN VŨ ĐÁNG THƯỞNG THỨC …

Mời xem vũ điệu Ukraina – Ukrainian dance

Vũ điệu Ukraina (Người Ukraina: Український тaнeць, bản dịch. Các ‘tab’ tiếng Ukraina ) đề cập đến truyền thống điệu múa dân gian sau đó dân tộc Ukraine. Hình thức nghệ thuật cách điệu này đã thấm nhuần văn hóa của Ukraine, rất ít hình thức khiêu vũ truyền thống thuần túy của Ukraine vẫn còn cho đến ngày nay. Điệu múa Ukraina thường được mô tả là tràn đầy năng lượng, nhịp độ nhanh và giải trí, cùng với những quả trứng Phục sinh truyền thống (pysanky), nó là một ví dụ đặc trưng của văn hóa Ukraine ngay lập tức được công nhận và nổi tiếng trên toàn thế giới. 

UKRAINE DE COULEURS, DE CHARME ET DE JOIE.  CA NOUS CHANGE DES IMAGES D’UKRAINE DE VIOLENC 

Tôi có một lời nhắn gởi đến các bạn Nga của tôi

Tôi có một lời nhắn gởi đến các bạn Nga của tôi

Tác giả: Arnold Schwarzenegger

Trần Ngọc Cư, biên dịch

19-3-2022

https://twitter.com/i/status/1504426844199669762

Sức mạnh và trái tim của người dân Nga đã luôn truyền cảm hứng cho tôi. Đó là lý do tại sao tôi hy vọng rằng các bạn sẽ để tôi nói cho các bạn biết sự thật về cuộc chiến ở Ukraine.

Tôi có một thông điệp cho những người bạn Nga của tôi, và cho những người lính Nga đang phục vụ ở Ukraine: Có những điều đang diễn ra trên thế giới này đã bị người ta giữ kín với các bạn, những điều khủng khiếp mà các bạn nên biết. Nhưng trước khi kể cho các bạn nghe về những thực tế khắc nghiệt, hãy để tôi kể cho các bạn nghe về một người Nga đã trở thành một vị anh hùng của tôi.

Năm 1964, khi tôi 14 tuổi, tôi có cơ may đến xem Giải vô địch cử tạ thế giới tại Vienna. Yury Petrovich Vlasov đã giành chức vô địch thế giới, trở thành người đầu tiên nâng được 200 kg qua đầu. Bằng cách nào đó, một người bạn của tôi đã đưa tôi vào hậu trường. Đột nhiên, một cậu bé 14 tuổi đang đứng trước người đàn ông mạnh nhất thế giới. Tôi không thể tin được. Anh đưa tay ra bắt tay tôi. Bàn tay tôi vẫn còn là bàn tay của một cậu bé. Bàn tay của người đàn ông mạnh mẽ này đã nuốt chửng bàn tay tôi, nhưng anh ta rất tử tế. Và anh đã mỉm cười với tôi.

Tôi không bao giờ quên ngày hôm đó. Tôi về nhà và đặt ảnh của anh ấy phía trên giường của tôi. Nó truyền cảm hứng cho tôi khi tôi bắt đầu cử tạ, nhưng nó khiến cha tôi tức giận. Ông không thích người Nga, vì kinh nghiệm của ông trong Chiến tranh thế giới thứ hai, khi ông bị thương ở Leningrad. (Quân đội Đức Quốc xã mà ông gia nhập đã gây tổn thất tệ hại cho thành phố vĩ đại ấy và những người dân dũng cảm của nó). Cha tôi bảo tôi gỡ bức ảnh của Petrovich xuống và tìm một vị anh hùng Đức hoặc Áo thay vào. Nhưng tôi đã không gỡ bức ảnh xuống, bởi vì lá cờ anh ấy mang theo không quan trọng đối với tôi.

Nhiều năm sau, tôi đến Moscow để quay phim Red Heat, bộ phim đầu tiên của Mỹ được phép quay ở Quảng trường Đỏ. Yuri và tôi đã dành cả ngày bên nhau. Anh ấy rất chu đáo, tốt bụng, rất thông minh và rất hào phóng. Anh ấy cho tôi một cái cốc cà phê màu xanh mà tôi vẫn dùng mỗi buổi sáng.

Lý do tôi nói với các bạn về điều này là từ khi tôi 14 tuổi, tôi đã không có gì ngoài tình cảm và sự tôn trọng đối với người dân Nga. Sức mạnh và trái tim của người dân Nga đã luôn truyền cảm hứng cho tôi. Đó là lý do tại sao tôi hy vọng rằng các bạn sẽ để tôi nói cho các bạn biết sự thật về cuộc chiến ở Ukraine. Không ai thích nghe một điều gì đó có ý chỉ trích chính phủ của mình. Tôi hiểu điều đó. Nhưng với tư cách là một người bạn lâu năm của người Nga, tôi hy vọng rằng các bạn sẽ nghe những gì tôi nói.

Tôi đã nói chuyện với người dân Mỹ theo cung cách này năm ngoái vào ngày 6 tháng 1, khi một đám đông cuồng nhiệt xông vào Điện Capitol của Hoa Kỳ để cố gắng lật đổ chính phủ của chúng tôi. Có những thời điểm sai lầm đến mức chúng ta phải lên tiếng.

Tôi biết rằng chính phủ của các bạn đã nói với các bạn rằng đây là một cuộc chiến nhằm bài trừ Quốc xã tại Ukraine. Sự thật không phải như thế. Bài phát xít tại Ukraine chăng? Đó là một đất nước có vị tổng thống gốc Do Thái — tôi có thể nói thêm, đó là một tổng thống người Do Thái, mà ba người anh của cha ông ta đều bị Đức quốc xã sát hại. Ukraine đã không khởi động cuộc chiến này. Những người theo chủ nghĩa dân tộc hay quốc xã cũng không khởi động nó. Chính những người nắm quyền trong Điện Kremlin đã bắt đầu cuộc chiến này; đây không phải là cuộc chiến của nhân dân Nga.

Hãy để tôi nói cho các bạn biết những gì các bạn nên biết. Một trăm bốn mươi mốt quốc gia tại Liên Hợp Quốc đã biểu quyết cho rằng Nga là kẻ xâm lược và kêu gọi nước này rút quân ngay lập tức. Chỉ có bốn quốc gia trên toàn thế giới bỏ phiếu cùng với Nga. Đó là một sự thật. Thế giới đã quay lưng lại với Nga vì các hành động của nước này ở Ukraine.

Toàn bộ nhiều khu phố đã bị san phẳng bởi pháo và bom của Nga, bao gồm cả bệnh viện trẻ em và bệnh viện phụ sản. Ba triệu người tị nạn Ukraine, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em và người già, đã rời khỏi đất nước và nhiều người khác hiện đang tìm cách thoát ra ngoài. Đó là một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Nước Nga, vì sự tàn bạo của nó, giờ đây đã bị cô lập với xã hội của các quốc gia.

Chính phủ Nga cũng không nói thật với các bạn về hậu quả của cuộc chiến này đối với chính nước Nga. Tôi rất tiếc phải nói với các bạn rằng hàng ngàn binh sĩ Nga đã thiệt mạng. Họ đã bị kẹt giữa những người Ukraine chiến đấu cho quê hương của họ và giới lãnh đạo Nga chiến đấu để chinh phục. Hàng loạt thiết bị của Nga đã bị phá hủy hoặc bị bỏ rơi. Sự tàn phá mà bom của Nga trút xuống thường dân vô tội đã khiến cả thế giới phẫn nộ đến mức các lệnh trừng phạt kinh tế toàn cầu mạnh nhất từng được ban hành đã được áp dụng đối với nước này. Những người không đáng gánh chịu điều đó ở cả hai bên của cuộc chiến sẽ phải chịu đựng.

Chính phủ Nga không chỉ nói dối với người dân mà còn nói dối với cả binh lính của họ. Một số binh sĩ được thông báo rằng họ sẽ đánh với Đức Quốc xã. Một số người được nói rằng người dân Ukraine sẽ chào đón họ như những người hùng. Một số người được cho biết rằng họ chỉ đơn giản là đang tập trận — họ thậm chí không biết rằng họ sắp tham chiến. Và một số người được cho biết rằng họ ở đó để bảo vệ người dân tộc Nga ở Ukraine. Không có điều nào trong luận điệu này là đúng. Những người lính Nga đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của những người Ukraine muốn bảo vệ gia đình của họ.

Khi nhìn thấy những đứa trẻ được kéo ra khỏi đống đổ nát, tôi có cảm giác như đang xem một bộ phim tài liệu về sự khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ không phải tin tức của ngày hôm nay. Khi cha tôi đến Leningrad, ông ấy đã bị bơm vào sự dối trá của chính phủ ông ấy. Khi rời Leningrad, ông đã bị suy sụp về thể xác lẫn tinh thần. Ông đã trải qua phần đời còn lại của mình trong nỗi đau: nỗi đau vì gãy lưng, nỗi đau vì mảnh đạn luôn khiến ông nhớ về những năm tháng khủng khiếp đó, nỗi đau vì mặc cảm tội lỗi mà ông cảm thấy.

Những người lính Nga đã biết nhiều về sự thật này. Các bạn đã thấy nó tận mắt. Tôi không muốn các bạn bị suy sụp như cha tôi. Đây không phải là một cuộc chiến để bảo vệ nước Nga như cha ông các bạn đã chiến đấu. Đây là một cuộc chiến bất hợp pháp. Mạng sống của bạn, tay chân của bạn và tương lai của bạn đang bị hy sinh cho một cuộc chiến vô nghĩa, bị cả thế giới lên án. Hãy nhớ rằng, 11 triệu người Nga có mối quan hệ gia đình với Ukraine. Với mỗi viên đạn mà bạn bắn, bạn sẽ bắn một người anh hoặc một người em gái. Mọi quả bom và mọi quả đạn pháo rơi xuống không phải rơi vào kẻ thù, mà rơi xuống trường học, bệnh viện hay nhà riêng.

Tôi không nghĩ rằng người dân Nga biết những điều như vậy đang xảy ra. Vì vậy, tôi kêu gọi người dân Nga và binh lính Nga ở Ukraine hiểu những tuyên truyền và thông tin sai lệch mà các bạn đang được nghe. Tôi xin các bạn hãy giúp tôi truyền bá sự thật để đồng bào Nga của các bạn biết được thảm họa nhân loại đang xảy ra ở Ukraine. Với Tổng thống Putin, tôi nói: Ông đã gây ra cuộc chiến này. Ông đang lãnh đạo cuộc chiến này. Ông có thể chấm dứt cuộc chiến này ngay bây giờ.

Và đối với những người Nga đã xuống đường biểu tình chống lại cuộc xâm lược tại Ukraine: Thế giới đã thấy sự dũng cảm của các bạn. Chúng tôi biết rằng các bạn đã phải gánh chịu hậu quả do lòng dũng cảm của mình. Các bạn đã bị bắt. Các bạn đã bị bỏ tù và các bạn đã bị đánh đập. Các bạn là những vị anh hùng mới của tôi. Các bạn có sức mạnh của lực sĩ Yury Petrovich Vlasov. Các bạn có trái tim thực sự của nước Nga.

Cái Muỗng // Văn Quang

Cái Muỗng // Văn Quang

Nhà văn Văn Quang, cựu Trung Tá VNCH, từng là  Đài Phát Thanh Quân Đôi, mất sáng thứ ba, 3/15/2022, tại Saigon, thọ 89 tuổi.

Ông dân Quỳnh Côi, Thái Bình.  1954, vào Nam, thân lập thân.  Sau 4/1975, ông bị tù hơn 12 năm trong nhiều trại giam ngoài Bắc.  Bạn rất thân với nhà văn Hoàng Hải Thủy, được HHT yêu thương gọi là “Thuyền Trưởng Hai Tầu,” vì ông có hai vợ.  Ông từ chối không sang Mỹ theo diện HO, vì lý do gia đình.

Chúng ta thường nhớ về nhà văn Phan Lạc Phúc với một bút ký ngắn cuả ông. Đó là đoản văn “Người Tù Kiệt Xuất,” ca ngợi phong cách khẳng khái cuả Đại Úy Biệt Kích Nguyễn Hữu Luyện khi còn trong tù. Sau 1975, Văn Quang viết nhiều loạt phóng sự trong “Lẩm Cẩm Saigon Thiên Hạ Sự,” đăng trên nhiều báo hải ngoại.  Nhưng có một đoản văn rất cảm động mà ông viết cách đây khoảng 10-15 năm.  Hôm nay, để tưởng nhớ ông, xin kính mời các anh chị đọc đoạn truyện này – “Cái Muỗng.”

Thân kính

Nam Hà

***

Cái Muỗng // Văn Quang

Ảnh VĂN QUANG tại Sài Gòn năm 2011.

Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng khi ấy trong chúng tôi đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u miền Bắc. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, trên những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

 

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được vài cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra đóng vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả người tù đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ síu cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– hay bị đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chờ gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào những phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” mà trại đã quy định tù không được dùng.

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự thô bạo của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được vài anh tù nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó lòi ra một vài cái “tội”. Ðội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Ði làm suốt ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào tù phạm tội vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những vụ tù kết hợp thành tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người tù “chẳng còn có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng còn có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Ðôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “Tù Caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người tù chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người tù còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó và đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Ðó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Ðây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ Tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng tôi chẳng có gì để mất, hay cái vật tôi mất chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất với người tù chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu mới được ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tên người tôi đã gặp ở tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng bo bo ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, múc nước tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Ðây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, anh “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh, phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “Cậu Huyện Nhụ nằm ở đó”.

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói anh là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở Tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ Huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ Huyện Nhụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ dãi hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi mới gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

“Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”

Tôi nằn nì:

“Ðấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, tôi chỉ cần cái muỗng thôi.”

Dực nhìn tôi nghi ngại:

“Mày giấu cái gì trong đó?”

Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó hắn gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

“Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu cái gì trong nó được?”

Dực nửa đùa nửa thật:

“Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”

“Ðúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”

“Vậy sao mày chỉ đòi lấy lại cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn Tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng tôi sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng giam và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó, hay tôi cần cái muỗng để làm việc gì đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

“Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng cho vào túi xách để tôi mang đi. Ðứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “Con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả con. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái tôi, bên những người thân yêu của tôi. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

“Thôi được, nếu là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi cậu ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa kho vào mà tìm, nhưng có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải làm thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “Con có ở xa bố hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi vài ngày rồi bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng, khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn!

Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Ðó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò.

Anh bạn nhảy dù, la lên:

“Bộ ông điên sao?”

Tôi điên thật, tôi muốn mò tìm cái muỗng của tôi. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút, anh khom người xuống, thò một tay vào cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi cái muỗng. Ðôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:

“Tôi biết ông mất cái gì rồi. Tôi tìm được nó cho ông nè.”

Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi trở về, nhưng tôi chưa trả lại cái muỗng cho con gái tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, đã định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa một lần được gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu lập gia đình ở Miami, Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới nó. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sài Gòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái tôi. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sài Gòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái Tình. Cái Tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi mạnh và sâu hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật  trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 khi tôi được tin cháu lập gia đình. Nhưng nhiều lần muốn viết tôi cứ ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Ðúng là chuyện của người thì làm xong nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang

TRAO ĐỔI GIỮA PUTIN VÀ SHIMON PERES

TRAO ĐỔI GIỮA PUTIN VÀ SHIMON PERES

(DAVID SAMUELS ghi lại) 

Shimon Peres, cố tổng thống Israel, kể về nội dung cuộc trao đổi giữa ông và Putin khoảng năm 2015.

Tôi là bạn thân với Putin. Và tôi sẽ kể, một cách ngắn gọn, nội dung của một trong những cuộc thảo luận gần đây của chúng tôi.

Tôi nói với anh ta, anh 63, tôi thì đã 93 tuổi. Nói tôi biết, anh muốn đạt được gì trong 30 năm tới? Anh đang chiến đấu vì cái gì? Anh hy vọng chọc giận nước Mỹ à?

 Anh ta nói “Không”.

 Nước Mỹ muốn một mảnh của Nga?

 Không.

 Anh và Obama không hiểu nhau?

Anh ta nói, sao ông hỏi?

Tôi nói, này, tôi không phải là gián điệp, anh có thể nói với tôi bất kỳ cái gì.

Anh ta nói, ông nghĩ sao?

Và tôi nói, Mỹ sẽ thắng bất kể anh có làm gì.

Tại sao? – anh ta hỏi

Vì họ may mắn, còn anh thì không.

[Cười]

 Hơn thế, tôi bảo anh ta, khi một người Mỹ thức dậy vào buổi sáng, anh ta thấy gì? Mexico ở phía nam, và họ chấp nhận người Mexico ở đất nước của họ. Canada ở phía bắc, họ là những người bạn tốt nhất trên thế giới. Bên phải và bên trái, là đại dương và cá.

Obama có gì phải lo lắng? Còn anh, anh thức dậy vào buổi sáng, anh có ai? Nhật Bản, Trung Quốc, Afghanistan? Lạy Chúa! Họ biết anh có nhiều đất, và anh không cho họ một xu. Anh có 20% nước ngọt toàn cầu, và anh không cho gì cả. Vì vậy, khi tuyết ở Siberia tan, thứ đầu tiên anh thấy là người Trung Quốc. Bởi vì có rất nhiều người TQ ở phía đông, trong khi không có nhiều người Nga.

Điều thứ hai tôi nói với anh ta: Nước Mỹ có tỷ lệ tốt nhất giữa diện tích và dân số. Của anh thì tệ nhất. Hai mươi triệu km vuông. Lạy Chúa. Nhưng không có dân. Dân của anh đang chết. Đừng bị ấn tượng bởi những tràng pháo tay và những gì họ nói. Họ sẽ không tha thứ cho anh. Tại sao người Nga chỉ thọ 62 tuổi, trong khi người Mỹ thọ 82?

Và sau đó tôi nói với anh ta: Anh hành xử như một Sa hoàng.

 Tôi rất thẳng thắn.

Tôi nói, các Sa hoàng đã làm gì? Họ đã phát triển hai thành phố, St. Petersburg và Moscow, như một nơi trưng bày. Bất cứ điều gì bạn muốn, bạn sẽ tìm thấy ở đó. Phần còn lại của Nga giống như Nigeria phủ đầy tuyết. Dân của anh đang chết. Anh không cho họ cuộc sống. Anh nghĩ rằng họ sẽ tha thứ cho anh?

Tại sao nước Mỹ lại vĩ đại? Tôi hỏi anh ta. Vì họ là người cho. Tại sao châu Âu gặp rắc rối? Bởi vì họ là người nhận. Nước Mỹ đang cho đi, mọi người nghĩ rằng họ rất hào phóng. Tôi thì nghĩ họ làm thế vì khôn ngoan. Nếu bạn cho đi, bạn tạo thêm bạn bè. Đầu tư có lợi nhất là kết bạn.

Nước Mỹ đã can đảm thực hiện Kế hoạch Marshall – một phần lớn từ GNP mà họ đã trao cho châu Âu đang hấp hối lúc đó. Và bằng cách này, họ đã chỉ ra rằng đây là khoản đầu tư tốt nhất trên thế giới.

 Không có quốc gia châu Âu nào mà không từng là đế chế. Người Pháp và người Anh, người Bồ Đào Nha, tất cả mọi người. Và chuyện gì đã xảy ra? Họ bị ném ra khỏi đó và không còn gì. Nước Anh, đế chế vĩ đại nhất từ bình minh đến hoàng hôn, tất cả các đại dương và những người Ấn Độ tốt bụng, bất bạo động đã ném họ ra và chỉ để lại cho họ ba hòn đảo nhỏ, mà họ không biết phải làm gì với chúng.

 Hãy tin tôi, tôi đã nói với Putin, kẻ thù và sự thù địch là lãng phí lớn nhất trong cuộc sống. Anh đang đầu tư vào một điều xuẩn ngốc.

  David Samuels

 Nguồn:  https://www.tabletmag.com/jewis…/214621/one-last-interview

18 tháng 1, 2020

Phan Phương Đạt trích dịch

From: TU-PHUNG

Một mẫu gương Thánh Nhân là Mẹ Têrêsa

 

Make Christianity Great As Always

{Đôi chân của Mẹ Têrêsa}

Mỗi khi vào nhà chầu Thánh Thể cầu nguyện, Mẹ Têrêsa và các nữ tu khác phải cởi bỏ đôi giày ra ngoài.

Khi thấy đôi chân của Mẹ Têrêsa méo mó biến dạng, các nữ tu khác rất lo ngại vì không biết Mẹ Têrêsa có bị lây nhiễm bệnh phong cùi từ những bệnh nhân mà Mẹ chăm sóc không.

Nhưng một nữ tu thân cận với Mẹ Têrêsa đã cho biết không phải là Mẹ bị nhiễm bệnh phong cùi, nhưng đôi chân của Mẹ bị biến dạng là do phải thường xuyên mang những đôi giày không đúng kích cỡ, không phù hợp với đôi chân của Mẹ. Nữ tu này giải thích thêm: khi có các chuyến hàng từ thiện là những đôi giày do các nhà hảo tâm gửi tặng, Mẹ thường là người chọn giày cuối cùng, vì Mẹ luôn muốn những đôi giày tốt nhất, đẹp nhất, hoàn hảo nhất cho các người nghèo mà Mẹ gặp gỡ. Vì thế mà năm tháng lâu dài dần dần đôi chân Mẹ đã trở nên biến dạng.

Tạ ơn Chúa đã ban cho nhân loại chúng con một mẫu gương Thánh Nhân là Mẹ Têrêsa, để qua Mẹ chúng con biết thế nào là tình yêu trao ban giữa người và người. Xin Chúa thương giúp chúng con sống được tinh thần khó nghèo, bác ái yêu thương, quên mình phục vụ giống như mẫu gương Thánh Nhân là Mẹ Têrêsa. Amen!

Lòng Dân & Ý Đảng- Tưởng Năng Tiến

Lòng Dân & Ý Đảng- Tưởng Năng Tiến

Cách đây chưa lâu, có hôm tôi nghe nhà văn Nguyễn Đình Bổn than phiền (“những bồn hoa tết tại Hà Nội chỉ sau một đêm là mất sạch!”) nhưng không lưu tâm gì lắm bởi đây nào có phải là chuyện lạ lùng hay mới mẻ chi đâu.

Ngay từ hồi cuối thế kỷ trước, cũng đã có người than thở thế rồi: “Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá. (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. nxb Thế Kỷ: California 1994).

Mà nào có riêng chi Hà Nội. Đâu cũng vậy thôi. Ở những nơi không có dây điện để cắt, hoặc kho hàng để đốt thì thiên hạ tàn phá bất kể thứ gì miễn là kiếm được chút đỉnh lợi lộc hay tiền bạc.

Ngay đến trẻ con cũng thế. Vnexpress loan tin: “Theo Tổng công ty Đầu tư và Phát triển cao tốc Việt Nam (VEC), tại tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai, các bulong, hộp đệm trụ đỡ tôn lượn sóng, tấm đệm liên kết cột tôn lượn sóng bị mất khá nhiều. Ngày 25/4, đơn vị vận hành đã phát hiện 2 cháu nhỏ đang tháo bulong tôn hộ lan dải phân cách giữa tại xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông Đỗ Chí Chung, Chánh văn phòng VEC, cho biết hầu hết các vụ trộm bulong là do trẻ em thực hiện để lấy sắt bán phế liệu. Chủ đầu tư đề nghị địa phương và trường học trên địa bàn tăng cường tuyên truyền đến người dân và học sinh tham gia bảo vệ tài sản quốc gia.”

Lời “đề nghị” (ngây ngô) của ông Chánh Văn Phòng VEC khiến tôi thốt nhớ đến mấy câu thơ viết chưa ráo mực của Bùi Chí Vinh: Tỷ tỷ đô la người ta coi như rác/ Trong khi kinh tế nước nhà đang chống nạng tập đi.

Khi các đồng chí lãnh đạo coi “tỷ tỷ đô la như rác” thì tại sao đám trẻ con (thiếu đói) ở Lào Cai lại phải “tham gia bảo vệ tài sản quốc gia” chớ? Đường lối và chủ trương nhất quán “sở hữu toàn dân” của Đảng đã khiến cho cả nước Việt sống với cái não trạng vô sản (“cha chung không ai khóc”) tự lâu lắm rồi mà.

Ai cũng có thể trộm hoa, cắt dây điện, đốt kho hàng, tháo bù long mang bán đồng nát … cả. Riêng giới quan chức thì còn có đủ quyền lực để biển thủ công quỹ, rút ruột công trình, khai thác tài nguyên quốc gia một cách vô tội vạ (và đều “ăn của dân không từ một thứ gì” ) từ bấy lâu nay nhưng có ai phiền hà, thắc mắc hay khiếu nại gì đâu?

Cái nước mình nó thế đấy!

Vấn đề (có lẽ) chỉ được dư luận quan tâm, sau khi kết quả của cuộc bỏ phiếu trong phiên họp đặc biệt khẩn cấp của Đại hội đồng LHQ – lần thứ 11 – được công bố thôi. BBC đi tin:

“Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm thứ Tư 02/03 đã bỏ phiếu áp đảo để lên án Nga về cuộc xâm lược Ukraine và yêu cầu Moscow rút các lực lượng quân sự của họ. Nghị quyết, được sự ủng hộ của 141 trong số 193 thành viên của hội đồng. Nga, và chỉ 4 nước – Bắc Hàn, Syria, Belarus, và Eritrea – bỏ phiếu chống nghị quyết. Ba mươi lăm nước, trong đó có Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, bỏ phiếu trắng.”

Bản tin thượng dẫn cũng trích dẫn lời bà Nataliya Zhynkina, Đại Biện Lâm Thời của Đại Sứ Quán Ukrain, bằng tiếng Việt: “Trong số tất cả các thành viên ASEAN chỉ có Việt Nam và Lào đã bỏ phiếu trắng. Việt Nam ơi, quê hương thứ hai của tôi, tôi rất thất vọng.”

Nỗi thất vọng của vị quan chức ngoại giao Ukraine, phần nào, là do bà chưa biết đủ rõ về nội tình của cái “quê hương thứ hai” đấy thôi. Chứ đối với những công dân VN (thứ thiệt) thì dường như chả ai “thất vọng” hay “hy vọng” gì ráo trọi. Họ coi cái cách ứng xử vô liêm sỷ của nhà nước VN hiện hành, chả qua, chỉ là chuyện chẳng đặng đừng: 

– T.S Mạc Văn Trang: “Tôi nghĩ rằng chính phủ [Việt Nam] phải xử lý như vậy thôi bởi vì quan hệ Việt Nam – Nga rất sâu sắc, từ truyền thống cho đến hiện nay. Việt Nam và Nga có mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, cho nên trong tình huống như thế này thì họ cũng thông cảm và đành phải bỏ phiếu như vậy.”

– Nhà báo Dương Quốc Chính: “Trong QĐ, CA thì bất chấp tuổi tác, mình nghĩ cũng phải 99% là cuồng Liên Xô, vì vũ khí, khí tài của họ hầu hết là của Liên Xô và sau này là Nga.”

Sự thực quả đúng là như thế nhưng không phải chỉ có thế đâu. Còn nguyên do khác nữa, cũng hơi tế nhị (và rất không tiện nói ra lời) nhưng ai cũng biết rằng lá phiếu trắng của VN trong hôm 2 tháng 3 vừa qua không chỉ vì sự liên hệ mật thiết với Nga mà còn vì cái tâm lý khiếp nhược nên không dám làm khác ý của Tầu.

Sự sợ hãi này đã kéo dài triền miên từ nhiều thập niên qua, và mỗi lúc lại một thêm thảm hại – theo như ghi nhận của tác giả Nguyễn Hưng Quốc:

Đọc trên các trang mạng hay blog từ trong đến ngoài nước, chúng ta gặp nhan nhản những chữ “hèn”.

Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm Trường Sa và Hoàng Sa, chính quyền vẫn cúi đầu và im lặng: Hèn.

Trong khi khiếp nhược trước Trung Quốc, nhà cầm quyền lại mạnh tay đàn áp các thanh niên sinh viên yêu nước xuống đường phản đối chính sách bành trướng của Bắc Kinh: Hèn.

Tàu hải quân của Trung Quốc giết và bắt ngư dân Việt Nam đang đánh cá ngay trong lãnh hải Việt Nam mà nhà cầm quyền cũng không dám lên tiếng phản đối, thậm chí, không dám gọi là tàu Trung Quốc, chỉ gọi một cách bâng quơ là “tàu lạ”: Hèn.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng, trên nhật báo Người Việt ở California, sau khi so sánh với cách hành xử của các nước trong khu vực trong những trường hợp tương tự, đã đi đến kết luận: thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam là “hèn yếu”.

Nhà báo Huy Đức, hiện sống trong nước, trên Osin blog của anh, bày tỏ quan điểm của mình ngay trên nhan đề bài viết “Tàu thì lạ sự hèn hạ thì quen”. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, sống tại Úc nhưng có nhiều quan hệ gần gũi với Việt Nam, nhận định thẳng thừng:“Chưa thấy trong lịch sử Việt Nam, có thời nào mà Việt Nam khiếp nhược như thế.”

Từ ba vị thế khác nhau với những lập trường chính trị có khi khác hẳn nhau, cả Ngô Nhân Dụng, Huy Đức và Nguyễn Văn Tuấn đều có nhận định giống nhau về giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay: Hèn!

Hình như chưa bao giờ trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, lại đồng ý với nhau như thế! Hình như mọi người đều đồng thanh: Giới lãnh đạo Việt Nam hèn! Riêng tôi, tôi không ngớt ngạc nhiên: Sao tự dưng họ lại đâm hèn đến vậy?

Chả phải “tự dưng” mà họ đâm ra đổ đốn thế đâu.

Sau hai phần ba thế kỷ cầm quyền, chế độ hiện hành vẫn cứ còn loay hoay với tính chính danh nhưng đã đánh mất đến người dân cuối cùng rồi – kể cả những đứa bé thơ ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng … năm nào! Dân vô tín bất lập. Với hoàn cảnh “lập cập” như hiện cảnh thì ĐCSVN mà không hèn thì mới là chuyện lạ!

Blogger Hoàng Trường (VOA) khuyến cáo: Phải dứt khoát vứt bỏ ngay thói khôn vặt “bỏ phiếu trắng” và thái độ “người ngoài cuộc” như các quan chức ngoại giao đã lựa chọn ở LHQ và các tướng tá quân đội đã thể hiện theo tình thần “chém gió” và “loa phường” của các loại tướng “quảng lạc” trình diễn và rao giảng.

Nói thế (nghe) cũng tội vì nhà nước hiện hành chưa bao giờ có Bộ Ngoại Giao thực sự mà chỉ có Đảng Ngoại Giao thôi. Nay thì đường lối ngoại giao của Đảng cũng không còn nữa. Nó buộc phải tùy thuộc vào chính sách ngoại giao của Đảng Cộng Sản Tầu khá lâu rồi. Việt Nam rõ ràng là đang ở thế quỳ mà!

Tưởng Năng Tiến
3/2022

Lễ trọng thể kính Thánh Giuse (19/03)

Lễ trọng thể kính Thánh Giuse (19/03)

Mến chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay 19/03 Giáo hội mừng lễ trọng thể kính Thánh Giuse, bạn Đức Trinh Nữ Maria. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 19/03/2022h

Thánh Giuse Bạn Ðức Trinh Nữ Maria, Phúc Âm đã ca ngợi Thánh Giuse là người “công chính”. Ý nghĩa của chữ “công chính” rất sâu xa. Khi Phúc âm nói Thiên Chúa “công chính hóa” người nào, điều đó có nghĩa Thiên Chúa, là Ðấng cực thánh và “chính trực”, biến đổi người đó bằng cách cho họ được chia sẻ sự thánh thiện của Thiên Chúa, và bởi đó họ đáng được Thiên Chúa yêu mến. Khi nói Thánh Giuse “công chính”, Phúc Âm muốn nói rằng ngài hoàn toàn mở lòng cho tất cả những gì Thiên Chúa muốn làm cho ngài. Ngài trở nên thánh thiện vì tự mở lòng cho Thiên Chúa. Với những gì còn lại chúng ta dễ phỏng đoán. Hãy suy nghĩ về tình yêu mà ngài đã theo đuổi và dành được con tim của Ðức Maria, và sự sâu xa của tình yêu mà hai người đã chia sẻ cho nhau trong cuộc hôn nhân. Khi Thánh Giuse quyết định từ bỏ Ðức Maria khi thấy người có thai, điều này không trái với sự thánh thiện của Thánh Giuse. Phúc Âm có ghi lại một chữ quan trọng là ngài dự định thi hành việc này “cách âm thầm” vì ngài là “một người chính trực, nhưng không muốn tố giác bà để bị xấu hổ” (Mátthêu 1:19). Người công chính thì đơn sơ, vui vẻ, hết lòng vâng lời Thiên Chúa – khi kết hôn với Ðức Maria, khi đặt tên cho Hài Nhi Giêsu, khi săn sóc gia thất ở Ai Cập, khi đem gia thất về lại Nagiarét, khi sống âm thầm trong bao năm trường với đức tin và dũng cảm. Vì Thánh Giuse không xuất hiện trong cuộc đời rao giảng công khai của Ðức Giêsu, nhiều sử gia tin rằng có lẽ Thánh Giuse đã từ trần trước khi Ðức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng.

Thánh Giuse là quan thầy của những người hấp hối, vì người ta cho rằng khi ngài từ trần có Ðức Giêsu và Ðức Maria ở bên cạnh, đó là điều mà tất cả chúng ta đều mong ước khi từ giã cõi đời.

Thánh Giuse còn là quan thầy của Giáo Hội hoàn vũ, của các người làm cha, các thợ mộc, và vấn đề công bằng xã hội. (Nguồn:  ns Người Tín Hữu online)

Kinh khấn Thánh Giuse Bảo trợ những vụ khó khăn

Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu, Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời, đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời, Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin.” Lạy Cha hiền, xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này, Cha đã từng là Cha Nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con chí thánh, nay xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó cho Cha vụ khó khăn này (kể ra…). Xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới vào bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng – vâng, chúng con tin tưởng, Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi những khổ cực u sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy, Cha không bỏ qua điều gì giúp ích cho những người sầu khổ kêu cầu Cha, chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con, và chúc lành cho chúng con – Amen.

Chiến tranh và Khổ đau

Chiến tranh và Khổ đau

Những ai thường quan tâm theo dõi chuyện thời sự, chính trị trên thế giới hẳn đều biết rằng trong các ngày gần đây chiến tranh đã nổ ra tại Ukraine và ngày càng dữ dội, ảnh hưởng tới đời sống của hầu hết mọi người ở khắp nơi vì một số lĩnh vực liên quan và do giá xăng dầu gia tăng làm vật giá leo thang bởi chi phí vận chuyển lên cao!

Tuy nhiên điều quan trọng hơn là khi xem tin tức chiến tranh qua báo chí, tivi…, nước mắt của lương tri nhân loại đã rơi. Thiên hạ ghê tởm cho tham vọng, đầu óc của những kẻ chủ chiến khát máu, mà điển hình là nhà độc tài máu lạnh Putin; người đã mất nhân tính lúc phát động cuộc chiến tranh phi nghĩa mang đến nhiều thảm họa tang thương, đau khổ cho biết bao gia đình hiền lương ở Ukraine, khiến kẻ thì mất cha, người khóc chồng, mẹ chôn con với cõi lòng tan nát. Nhìn bao thành phố đẹp đẽ giàu có trở thành hoang tàn, máu con người đã đổ vì những kẻ quân phiệt cuồng điên mà lòng không khỏi  đau đớn, xót xa!

Nhìn Putin tung ván bài xâm lăng Ukraine một cách hung hãn, cả thế giới bàng hoàng, Mỹ và phương Tây đồng loạt lên án, đưa ra các biện pháp trừng phạt, cô lập kinh tế nhằm tạo áp lực buộc Nga ngưng chiến. Tôi tin rằng ông ta sẽ sa lầy trước sự đoàn kết mãnh liệt của người dân Ukraine với chính quyền và lòng yêu nước bao la để kiên cường chống trả quân Nga.

Một tòa nhà bị phá tan nát sau khi trúng hỏa tiễn Nga Kyiv, Ukraine, ngày 25 Tháng Hai (ảnh: Pierre Crom/Getty Images)

Cuộc chiến này của Putin không có chính nghĩa nên đã có vô số quân tình nguyện thế giới tới giúp bảo vệ dân chủ tự do cho Ukraine, cho người dân đang khốn khổ sẽ làm cho ông ta gặp nhiều khó khăn hơn trong tương lai. Putin đã đánh một ván bài quá liều lĩnh nên cho dù có chiếm được Ukraine nay mai đi chăng nữa thì đất nước Nga sẽ kiệt quệ về mọi phương diện vì không có nhiều đồng minh ủng hộ. Trong tương lai Nga có thể sẽ lệ thuộc vào Trung Quốc nếu nhận sự trợ giúp của họ hôm nay. Điều này sẽ làm cho Nga mất vị thế siêu cường số một sau nhiều thập niên thống trị khối cộng!

Đặc biệt người Việt Nam chúng ta hiểu rất rõ về chiến tranh và vô cùng chán ghét chiến tranh bởi chúng ta là nạn nhân của nó suốt mấy mươi năm dài. Chiến tranh luôn mang đến đau khổ cho dân chúng và nguồn gốc của chiến tranh là từ tham vọng, hận thù. Chiến tranh ở Ukraine hôm nay là hình ảnh của chiến tranh Việt Nam năm xưa vì đều xuất phát từ những lãnh tụ cộng sản khát máu.

Riêng tôi, lúc trông thấy cảnh người lớn bồng bế trẻ em, dắt díu cha già mẹ yếu chạy trốn dưới bom rơi đạn bắn giữa khói lửa mịt mờ thì nỗi ám ảnh chiến tranh, chạy giặc Mậu Thân năm nào trong lòng thủ đô Sài Gòn đổ nát lại sống dậy mãnh liệt.

Một góc Chợ Lớn, Sài Gòn, ngày 6 Tháng Sáu 1968 – đổ nát tan hoang sau những ngày Mậu Thân thảm khốc (ảnh: Bettmann Archive via Getty Images)

… Ngày ấy tôi tám tuổi, đang hồn nhiên háo hức đón Xuân, mong được ăn các món ngon, mặc quần áo đẹp trong ngày đầu năm thì bỗng dưng mới sáng sớm bị má tôi bắt chui vô tủ núp khi nghe tiếng đạn pháo kích bay xé toạc không khí và nổ vang rền bên ngoài chớ không phải là tiếng pháo mừng Xuân mà tôi đã náo nức mong đợi đêm qua. Rồi tiếng dân chúng hàng xóm la hét, khóc vang làm tôi thêm hốt hoảng, hoang mang sợ sệt mà chẳng biết chuyện gì đang xảy ra. Đoạn tiếng chân người chạy rầm rầm, tiếng bà Năm Đán vừa rảo bước về nhà vừa nói oang oang bên hè khi thấy má tôi ló đầu ra nhìn:

– Việt Cộng vô tới thành phố, đang đánh nhau ngoài ngã năm Bình Hòa dữ lắm kìa Ba Nhỏ!

Ba Nhỏ là biệt danh của má tôi mà người lớn thường gọi bà.

– Vậy hả thím Năm? 

Má tôi hỏi lại và rút vô nhà khi bóng bà Năm khuất sau cây vú sữa. Đến trưa thì chiến cuộc diễn ra ác liệt giữa quân lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) với Việt Cộng ở khắp mọi ngả đường. Nhà bà Hai cạnh bên đã bị rocket bắn trúng đang bốc cháy. Các người anh họ tôi cùng bà con xung quanh hò hét và nhào ra dùng nước dập tắt đám cháy mặc cho tiếng đạn đang bay vèo vèo khắp nơi vì nếu không ngăn được lửa đỏ đang ngùn ngụt tít trời cao thì cả xóm chúng tôi sẽ ra tro!

Tới xế trưa nhắm tình hình thấy không xong mọi người bắt đầu bỏ nhà tản cư. Má tôi quơ vội một mớ quần áo bỏ lên tấm drap trải giường rồi túm vội bốn góc cột lại giao tôi vác cho nhanh chớ không kịp xếp đồ đạc bỏ vô vali như mỗi lần đi xa. Anh tôi thì ôm một túi đồ đựng giấy tờ cần thiết, má tôi thì xách giỏ đựng một số tiền và nữ trang để phòng thân rồi nắm chặt tay đứa em gái gần bốn tuổi hối hả ra khỏi nhà chạy sang nhà bà Tám Heo ở xóm kế bên nhưng không ngờ lúc cả nhà chạy vô thì mới thấy trong ấy đầy Việt Cộng!

Sau này má tôi hay nói đó là một sai lầm lớn vì má tôi nghĩ nhà bà Tám Heo là một villa to lớn, kiên cố thì an toàn hơn, ai dè… Và cũng nhờ vậy mà má tôi mới biết bà Tám là Việt Cộng nằm vùng vì có con theo cộng sản, tập kết ra Bắc từ lâu.

Lần đầu tiên thấy Việt Cộng nên tôi nhìn mãi không thôi. Có những người còn rất trẻ và da dẻ tái xanh. Tôi đoán họ chỉ hơn tôi vài ba tuổi. Họ mặc đồ bà ba đen cũ kỹ, vai mang đầy đạn, AK47 lăm lăm trên tay. Một người bị thương nơi bả vai máu ra ướt đỏ miếng vải băng bên ngoài làm tôi sợ hãi không dám ngó lâu.

Má tôi lo lắng, ngại ở đây lâu sẽ bị nguy hiểm nên muốn ra đi nhưng họ không cho. Má tôi năn nỉ bà Tám nói giúp nhiều lần, mãi tới khoảng năm giờ chiều họ mới cho chúng tôi rời khỏi nhà. Má tôi mừng rỡ lật đật dẫn anh em tôi men theo hông hè, lúp xúp chạy lên hướng chợ ngã ba Cây Thị.

Bốn má con tôi đi khép nép trên con đường Phan Văn Trị vắng hoe dưới tiếng súng thỉnh thoảng nổ chát chúa đâu đó. Chợt một chiếc trực thăng xuất hiện trên bầu trời xa, sà sát xuống sân thượng của căn nhà lầu bên kia đường và người xạ thủ bỗng bắn xối xả vào căn phố sau lưng chúng tôi. Má tôi lật đật kéo con em nằm sấp xuống vỉa hè không quên lôi cả hai anh em tôi ngã dúi theo bà. Trong nhà, tiếng AK47 cũng bắn vói theo khi chiếc trực thăng bốc lên cao không quên nã mấy quả rocket! Lửa phựt lên cao từ căn nhà ấy!

Sài Gòn 1968 (Getty Images)

Má tôi lồm cồm bò dậy khi không còn nghe tiếng súng nổ và dẫn chúng tôi chạy nhanh tới trước phòng mạch bác sĩ Nguyễn Văn Khải thì dừng lại do bị xác một người lính Việt Cộng chắn ngang. Ngó người lính Bắc Việt nhỏ xíu mắt trợn trừng, ngực thủng một lỗ to khiến cái áo sơ mi sọc ca rô nhuốm đầy máu đã ngả sang nâu sẫm với chiếc quần xà lỏn nhăn nhúm, đi chân trần, nằm cong queo tay còn nắm chặt đòn bánh tét nhưn chuối nhỏ đang ăn dang dở, cây súng văng cách anh không xa mới thấy tội làm sao!

Chúng tôi băng qua đường, vô nhà bà Mười; hàng xóm của ông ngoại tôi ngày xưa. Trong nhà có rất đông người tụ lại và mọi người mừng rỡ khi gặp lại, bởi họ là chòm xóm lâu đời mấy mươi năm trước của nhau nay vì hoạn nạn mà có dịp hội ngộ. Rồi trong lúc mọi người đang kể lể thì chợt có một tiếng nổ thật to ngoài sân làm đá chạy cát bay rào rào vào vách nhà, khói bụi mịt mờ cả gian phòng khách rộng lớn khiến các bà hốt hoảng hét to, tứ bề con nít khóc thất thanh. Giữa sự hỗn loạn đó bỗng chị Cẩm; con bà Mười, rống lên vì đau đớn do bị miểng đạn văng trúng dưới bụng làm máu tuôn xối xả. Mọi người phải dùng thật nhiều vải để cầm máu trong khi chị rên la làm tất cả thêm kinh hãi!

Tối đến thì ông Mười lợi dụng việc chở chị Cẩm vào bệnh viện Nguyễn Văn Học, Gia Định để đưa mọi người tản cư ra hướng thủ đô luôn, vì Việt Cộng từ Cầu Hang, Gò Vấp, Hạnh Thông Tây đổ về đây càng lúc càng đông, làm cường độ giao tranh ác liệt hơn. Mọi người bị dồn chật cứng vô chiếc xe hơi Peugeot của ông mà lâu quá tôi không còn nhớ rõ loại gì nhưng vẫn chở được hết mọi người có mặt khi đó. Lúc xe tới ngã tư Xóm Gà thì bị lính VNCH giữ lại tại một chốt chặn bằng lô cốt với hàng rào kẽm gai dày đặc. Vài người lính cảnh sát dã chiến Việt Nam và một MP Mỹ (Military Police) dùng đèn pin rọi khám xét, đoạn cho đi vì thấy toàn đàn bà con nít và một người bị thương nặng cần cấp cứu.

Đưa chị Cẩm vào bệnh viện xong, ông Mười lái xe chạy ra Sài Gòn nhưng bị cảnh sát cùng bộ phận lo về tị nạn chiến tranh trong chính quyền đang án ngữ ngay Lăng Ông Bà Chiểu giữ lại, và chuyển vào trường tiểu học Chi Lăng; là trại tạm cư mới thành lập cho dân chúng ở chứ không cho đi tiếp!

Ở đây tương đối an toàn vì xa vùng chiến sự do quân đội VNCH đã chặn và đẩy lui các cuộc tiến công của cộng sản. Nhưng không ngờ chúng tôi phải lưu trú chốn này hơn hai tháng trời vì Việt Cộng tấn công thêm hai ba đợt nữa mới chịu rút lui sau khi thất bại thảm hại.

Kyiv 2022 (ảnh: Chris McGrath/Getty Images)

Trong thời gian “tị nạn chiến tranh” tại trường, hằng ngày chúng tôi được mấy cơ quan từ thiện quốc tế như Anh, Pháp, Mỹ cũng như Việt mang quần áo, thuốc men, lương thực, sữa bột… tới ủy lạo. Mỗi sáng, họ mang từng cần xé bánh mì có chế sữa bò đặc vào trong đó cho đồng bào. Và các hướng đạo sinh của Hướng Đạo Việt Nam thì hăng hái tham gia quét sân trường, lau phòng ốc, chùi rửa nhà cầu, dọn vệ sinh những vòi nước công cộng. Ban đêm thì ca hát, sinh hoạt cộng đồng giúp vui văn nghệ nên mọi người cũng tạm khuây khỏa.

Và ngày trở về tôi không khỏi ngỡ ngàng khi vừa vô xóm đã thấy nhà dì Sáu, ông chú Mười Kiểng của tôi ngay đầu ngõ chỉ còn là những đống gạch đổ nát. Nhiều cột kèo bị cháy đen sạm, dang dở còn treo lủng lẳng trên cao không rơi xuống được, nằm trên mấy miếng tường bể một cách nham nhở đứng chơ vơ, khiến cảnh vật thêm tiêu điều, chết chóc. Nhà tôi và một số nhà bà con khác may mắn còn nhưng không nguyên vẹn vì vết đạn lỗ chỗ khắp nơi, hư hại không ít. Phần nhà bà Hai dù đã được cứu hỏa sáng hôm đó nhưng sau cùng vẫn tan hoang, tivi bàn ghế cháy rụi nằm chỏng chơ lẫn lộn trong đống gạch vụn!

Cái Tết Mậu Thân 1968 năm ấy đầy thương đau, buồn hiu hắt mà mỗi khi nhắc lại mọi người vẫn còn bàng hoàng, sợ hãi chiến tranh nhưng rồi ai ai cũng phải cố gắng sống và gầy dựng lại. Vài năm sau, những ngôi nhà bị sập, bị hư hại được xây cất sửa chữa lại khang trang và đẹp hơn xưa do sự cần cù, siêng năng làm việc của ông bà cô bác tôi. Đến khi dân chúng vui vẻ yêu đời và hăng hái lên với cuộc sống mới thì “cơn hồng thủy 1975” lại ập tới. Việt Cộng chiếm trọn Miền Nam.

Việt Nam trở thành một nước cộng sản khiến dân Việt điêu linh, khổ sở trăm bề. Nhà nào cũng lâm cảnh chia ly, nếu không có cha mẹ bị đi tù cải tạo thì con cái cũng bị buộc đi thanh niên xung phong, nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động hay giãn dân hoặc đi vùng kinh tế mới. Thê thảm hơn nữa là nhiều người đành phải ngậm ngùi nuốt lệ bỏ lại mồ mả ông bà tổ tiên để băng rừng, vượt biển với hy vọng mong manh, một phần sống chín phần chết, khi liều mạng phóng mình ra đại dương bao la mặc cho số phận đưa đẩy cùng bão táp phong ba, làm mồi cho cá hay hải tặc Thái Lan…

Triết gia Krishnamurti từng nói: “Đại bàng bay không để lại dấu vết nhưng khoa học gia thì có (The eagle in its flight does not leave a mark: the scientist does)”. Tôi nghĩ các nhà quân sự, chính trị gia cũng vậy! Vì thế ông Putin đã để lại hình ảnh của một nhà độc tài gớm ghiếc như Hitler ngày xưa. Ông đã để lại cuộc chiến tranh mà ngày sau nhân loại luôn nhắc đến như một cuộc xâm lăng hơn là vệ quốc mà ông đã biện minh cho hành động của mình!

Triều Phong

Hiện tượng Ukraine

Hiện tượng Ukraine

Trần Gia Phụng (Danlambao) – Điều dễ nhận thấy là các nước Đông Âu luôn luôn nằm giữa hai thế lực chính trị quan trọng. Trước đây là đế quốc Áo-Hung ở phía tây, và đế quốc Nga về phía đông. Từ thế chiến thứ hai (1939-1945), các nước Đông Âu nằm giữa Đức Quốc Xã và Liên Xô. Hai nước nầy đều độc tài, nhưng hoàn toàn khác nhau về ý thức hệ chính trị, và cả hai đều lăm le nuốt trọn Đông Âu, Ngày nay, Đông Âu cũng nằm giữa hai khối chống đối nhau: Môt bên là NATO (North Atlantic Treaty Organization) tức Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, lúc đầu gồm các nước tự do dân chủ Tây Âu và Hoa Kỳ, sau có thêm một số nước Đông Âu sau khi thoát ra khỏi khối cộng sản (CS), và bên kia là Cộng Hòa Nga là một nước hậu CS. Tổng thống Nga Vladimir Putin vốn là một sĩ quan công an CS Liên Xô. Liên Xô bị sụp đổ năm 1991, đổi thành Cộng Hoa Nga.

Trong số các nước Đông Âu hiện nay, các nước giáp giới về phía đông với Nga từ bắc xuống nam là Estonia, Latvia, Belarus va Ukraine. Ukraine là nước rộng nhứt và có nhiều dân gốc Nga ở phía đông. Hai nước Estonia và Latvia là thành viên của NATO từ 29-3-2004. Bealarus và Ukraine chưa gia nhập NATO. Nói chung, hai nước nầy đều trung lập, và chịu nhiều ảnh hưởng của Nga.

Bản đồ Đông Âu (Internet)

Vị trí địa lý của các nước Đông Âu gần giống như trướng hợp Việt Nam ở Đông Nam Á. Việt Nam nằm về phía đông của Indochina (Anh ngữ) hay Indochine (Pháp ngữ). Rõ ràng Indochina là chữ ghép lại từ hai địa danh là India (Ấn Độ) và China (Trung Hoa). Hai nước India và China có hai nền văn hóa và văn minh cổ xưa rất khác nhau. Ngày nay, Indochina cũng nằm giữa hai thế lực chính trị đối kháng nhau. Đó là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa theo chủ nghĩa CS, độc đảng độc tài toàn trị một bên, và bên kia là Hoa Kỳ cùng các nước Tây phương, chủ trương tự do dân chủ.

Năm 2014, hai vùng Donetsk và Lugansk ở phía đông của Ukraine gồm đa số là dân Nga, tách ra ly khai khỏi Ukraine và thành lập hai nước cộng hòa biệt lập. Lúc đầu, hai nước cộng hòa mới nầy được một số nước nhỏ công nhận, và cho đến ngày 21-2-2022, tổng thống Nga Vladimir Putin công nhận nền độc lập của hai nước nầy.

Có thể vì việc nầy, tổng thống Ukraine là Volodymyr Oleksandrovych Zelensky, một chính khách độc lập, liền cắt đứt quan hệ ngoại giao với Nga ngày 24-2-2022. Tổng thống Nga quan ngại rằng đây là dấu hiệu Ukraine nghiêng về NATO, liền xua quân đánh Ukraine cùng ngày đó.

Hành động của Vladimir Putin gần giống như hành động của lãnh tụ Đức Quốc Xã là Aolf Hitler trước thế chiến thứ hai. Ngày 1-9-1939, Hitler xua quân tấn công Ba Lan, vì trước đó một tuần, ngày 25-8-1939, Ba Lan ký hiệp định liên minh quân sự với Anh Quốc. Việc nầy làm cho Hitler lo ngại rằng quân đội và võ khí Anh sẽ đến Ba Lan và đe dọa Đức Quốc. Vì vậy, Hitler ra tay trước, xua quân tấn công Ba Lan ngày 1-9-1939. Ba ngày sau, Anh Quốc cùng Pháp trả đũa Đức Quốc Xã ngày 3-9-1939. Thê là thế chiến thứ hai bùng nổ. Phải chăng nhà dộc tài Vladimir Putin đã học theo bài học của nhà độc tài Adolf Hitler, hay lịch sử đã tái diễn?

Khi Nga, một cường quốc trên thế giới, đưa quân xâm lăng Ukraine, hầu như ai cũng nghĩ rằng Ukraine sẽ nhanh chóng sụp đổ, nhưng không ngờ là Ukraine đã anh dũng chống trả mãnh liệt, chận đứng, hoặc ít ra cũng đã làm chậm lại bước tiến của quân Nga, đúng như câu ca dao lịch sử của người Việt chúng ta thường truyền tụng: “Nực cười châu chấu đá xe / Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng.”

Thiên hạ còn mỉa mai rằng tổng thống Ukraine, ông Volodymyr Oleksandrovych Zelensky, chỉ là một diễn viên hài kịch, hay nói nôm na là một “tên hề” trên sân khấu kịch nghệ. Và thiên hạ còn bàn tán rằng một “tên hề” thì làm sao cai trị đất nước và làm sao lãnh đạo quân đội trong cuộc kháng chiến chống xâm lược?

Tuy nhiên, dù bị lực lượng hùng hậu của Nga tấn công, dù bị đe dọa, ám sát, và ba lần thoát chêt, dù đã được Hoa Kỳ mời di tản ra nước ngoài, nhưng ông Zelensky tuyên bố chiến đấu đến cùng, cương quyết ở lại Ukraine, lãnh đạo dân chúng Ukraine chống lại cuộc xâm lăng của Nga. Chưa biết tương lai sẽ như thế nào, nhưng cho đến nay, bàn dân thiên hạ trên thế giới đều phải công nhận ông Zelensky là một người yêu nước vĩ đại, cùng sống chết với toàn dân Ukraine chiến đấu chống ngoại xâm. Như thế, kinh nghiệm Ukraine cho thấy thà bầu “tên hề” làm lãnh đạo, còn hơn là bầu lãnh đạo lên làm tên hề, như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. “Cuba thức Việt Nam ngủ…” đúng là sản phẩm khôi hài đen “ma dề [made] in Việt Nam.”

Trong cuộc kháng chiến nầy, ngoài tổng thống Zelensky anh hùng, có thể nói toàn dân Ukraine đều anh hùng. Những thanh niên Ukraine đưa gia đình đi lánh nạn, rồi quay trở về làm nhiệm vụ chiến binh. Những người phụ nữ can đảm nếu không được ở lại để chiến đấu, thì tuyên bố chấp nhận hy sinh, một mình đưa gia đình ra đi lánh nạn, để chồng ở lại chiến đấu, chống ngoại xâm. Cuộc chiến đấu anh dũng của người Ukraine trong nước chẳng những làm cho thế giới khâm phục, mà thế giới còn khâm phục hơn nữa khi nhiều người Ukraine đang sống an vui, sung sướng và thanh bình ở nước ngoài, đã tình nguyện xin về nước để góp sức chiến đấu Đây mới đúng là đất nước anh hùng như thời nhà Trần chúng ta chống quân Nguyên.

Trong cuộc chiến đấu anh dũng của toàn dân Ukraine chống lại quân Nga xâm lược, truyền thông thế giới loan tin rằng quân đội Ukraine đã chận đứng được quân Nga nhờ sử dụng tài tình và hữu hiệu hai loại võ khí quan trọng.

Loại thứ nhứt là những máy bay không người lái (drone). Có hai loại drone. Drone làm công việc thám thính, theo dõi đối phương, rồi thông báo tin tức đối phương về hậu cứ để các chuyên viên hậu cứ lên chương trình tấn công địch thủ. Loại thứ hai là loại drone được các chuyên viên dựa vào những tin tức đó, rồi đặt chất nổ lên drone, và gởi đi tấn công mạnh mẽ các đoàn quân Nga xâm nhập vào Ukraine, làm cho quân Nga tiến thoái lưỡng nan, như ăn phải gân gà, nuốt vào không được, mà nhả ra cũng không xong.

Loại võ khí quan trọng thứ hai là các hỏa tiển FGM 148 JAVELIN, là loại võ khí chống tăng tầm trung rất hữu hiệu, dễ di chuyển, dễ sử dụng do Hoa Kỳ sản xuất, có thể là quân đội Nga chưa có, hoặc cũng có thể quân đội Nga chưa biết đến.

Sự kiện nầy khiến chúng ta chú ý thêm một điều là chiến tranh là cơ hội sử dụng, trình diễn và tiêu thụ võ khí, giúp cho sự phát triển kỹ nghệ quân sự. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô (nước Nga CS) viện trợ võ khí còn tồn đọng từ thế chiến hai cho các nước và các tổ chức thiên tả trên thế giới, từ Á Châu, qua Phi Châu, Nam Mỹ, nhằm tranh đấu để thiết lập các chế độ CS. Chính Liên Xô đã gia tăng viện trợ quân sự gấp bốn (4) lần cho Bắc Việt Nam để Bắc Việt Nam có điều kiện tấn công Nam Việt Nam, trong khi Nam Việt Nam bị phía Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ lớn lao sau hiệp định Paris ngày 27-01-1973, đưa đến kết quả ngày 30-4-1975.

Khi Liên Xô chuyển qua Cộng Hòa Nga năm 1991, kỹ nghệ võ khí Nga tiếp tục phát triển tuy âm thầm nhưng mạnh mẽ, chẳng những cần phải có thị trường tiêu thụ, mà còn cần phải có cơ hội thí nghiệm võ khi và thi triển võ công mới, võ khí mới, để chào hàng với thế giới và chiêu dụ khách hàng, cạnh tranh với các nước khác.

Ukraine là cơ hội thuận tiên cho Putin biểu diễn võ công. Vì vậy, Putin mở cuộc chiến tranh ở Ukraine không phải chỉ vì vấn đề Donetsk và Lugansk, mà còn để tiêu thụ kho võ khí mà Nga đã sản xuất, giới thiệu các sản phẩm quân sự của Nga, và chiêu khách để bán võ khí.

Vì vậy Putin ra lệnh tấn công Ukraine đúng như câu nói của các cụ đồ nho Việt Nam ngày xưa: “Đột phá nhứt điểm, khai thông toàn bộ” (tấn công một điểm, mở ra toàn bộ), nghĩa là Nga chỉ cần đánh Ukraine, thì Nga có thể mở ra được nhiều lối thoát bế tắc của Nga.

Dĩ nhiên các cường quốc kỹ nghệ võ khí Tây phương cũng không bỏ lỡ cơ hội, đáp ứng ngay cuộc tấn công của Nga, dựa vào thời cơ rất thuận tiện, gởi ngay võ khí giúp Ukraine chống lại Nga một cách hợp lý, hợp tình, hợp pháp, đồng thời bán ngay võ khí cho các nước láng giềng của Ukraine để các nước nầy tự phòng thân, vì biết đâu Putin sẽ dựa vào những lý do vu vơ, tiếp tục lấn sân, tiếp tục tung quân xâm lăng các nước Đông Âu khác như đã xâm lăng Ukraine.

Gần đây, tổng thống Ukraine là Zelenski lên TV kêu gọi Hoa Kỳ và NATO thiết lập vùng cấm bay ở Ukraine, để ngăn cản hoạt động của phi cơ Nga trên vòm trời Ukraine, nhưng Hoa Kỳ và NATO không đáp ứng. Theo tin truyền thông Tây phương, Hoa Kỳ và NATO không thiết lập vùng cấm bay trên vòm trời Ukraine, vì quan ngại quân đội Hoa Kỳ và NATO sẽ đụng độ với quân đội Nga, thì chiến tranh sẽ lan rộng, có thể đưa đến thế chiến thứ ba. Điều nầy thoạt nghe thì hợp lý và nhân bản, nhưng Hoa Kỳ và NATO lại khẩn cấp viện trợ võ khí cho Ukraine thì cũng là một cách tiếp tay với Ucraine chống Nga, vậy cũng có thể làm cho chiến tranh lan rộng.

Ở đây, xin chú ý rằng, nếu thiết lập vùng cấm bay trên không phận Ukraine, thì Nga không có cơ hội thi triển võ khí mới của Nga, như máy bay, hỏa tiễn, súng đạn… Nếu thế thì các địch thủ của Nga (tức Hoa Kỳ, NATO) không có cơ hội tìm hiểu, quan sát, nghiên cứu võ khí của Nga đã sản xuất trong thời gia gần đây. Đồng thời các nước địch thủ của Nga cũng sẽ không có cơ hội cung cấp, bán thêm sản phẩm quân sự, võ khí, máy bay, hỏa tiễn, súng đạn, quân nhu cho các nước có nhu cầu phòng thủ và chống Nga như Ukraine và các nước Đông Âu khác. Vì vậy chuyện cấm bay trên vòm trời Ukraine khó xảy ra. Ngày nay, phức trạng kỹ nghệ quân sự (military industrial complex) sinh lợi không kém các loại kỹ nghệ khác trên thế giới, kể cả kỹ nghệ xe hơi.

Một hiện tượng rõ ràng nhứt là từ trước đến nay, do ảnh hưởng của tuyên truyền, người ta cho rằng Nga là một cường quốc quân sự, võ khí hiện đại tối tân như Hoa Kỳ, nhưng qua những ngày chiến tranh vừa qua, sức mạnh võ khí của Nga không như người ta tưởng, mà chỉ là huyền thoại đồn đãi mà thôi, khác với Hoa Kỳ.

Có một điểm khá quan trọng xảy ra sau “hiện tượng Ukraine”, là ở Nga dân tình chia rẽ khá trầm trọng. Một điều hiếm thấy là sau khi Nga đưa quân vào Ukraine, thì ở bên trong nước Nga xảy ra nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh Ukraine, chống Putin. Quân đội và cảnh sát Nga đã vất vả dẹp bỏ biểu tình và bắt bớ dân chúng. Chẳng những thế, truyền thông Nga nói chung, tức các hãng thông tấn, báo chí, truyền hình, không được đưa tin chiến sự ở Ucraine, mà chỉ loan tin là quân Nga đang qua Ukraine để giúp nhân dân Ukraine xây dựng đất nước. Sao mà rất giống với truyền thông, báo chí, truyền hình Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay quá vậy?

Điều nầy ngược lại ở Hoa Kỳ. Tin tức báo chí cho biết hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vốn hiện tranh chấp nhau quyết liệt, nay lại cùng nhau lên án Nga và đòi hỏi trừng phát Nga. Vì vậy, lúc đầu tổng thống Biden còn lưỡng lự, nhưng sau khi thấy lưỡng đảng đồng tình lên án Nga, tổng thống Biden liền quyết định trừng phạt kinh tế, ngưng mua dầu khí của Nga.

Cho đến nay, cuộc xâm lăng của quân Nga vào Ukraine chưa kết thúc. Kết quả cuối cùng chưa ngã ngũ. Tuy nhiên cả thế giới đều thấy rõ, chiến tranh Ukraine là một hiện tượng lịch sử đặc biệt sau một thời gian dài hòa bình ở Âu Châu, nhắc nhở rằng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc luôn luôn âm thầm nuôi dưỡng con người đứng lên bảo vệ quê hương khi lâm nguy. Và cuồng vọng xâm lăng, làm bá chủ thiên hạ không còn chỗ đứng trong tâm thức của loài người chúng ta. HIỆN TƯỢNG UKRAINE đã chứng minh điều đó.

(Texas, 08-03-2022)

Trần Gia Phụng

danlambaovn.blogspot.com

Chiến trường Ukraine, du kích quân Javelin

Chiến trường Ukraine, du kích quân Javelin

Jackhammer Nguyễn

18-3-2022

Chuyện gì đang xảy ra ở Ukraine với đội quân của một cường quốc quân sự hàng thứ hai thế giới là nước Nga? Mà hơn nữa đây là hậu duệ của lực lượng Hồng quân vang bóng một thời, từng mang tiếng là đập tan quân đội phát xít Đức hồi thế chiến thứ hai!

Bài phân tích khá chi tiết của báo Financial Times về chiến thuật và vũ khí của hai đội quân, Nga và Ukraine, cho chúng ta biết thêm một số điều thú vị.

Các sư đoàn cơ giới Nga đầy sắt thép

Theo Financial Times, từ năm 2012, với dự án “cải tổ tận gốc”, quân đội Nga bắt đầu được tổ chức thành những sư đoàn chiến thuật trang bị xe cơ giới rất hùng hậu. Mục đích của việc tái cấu trúc này được nói là nhằm để vừa mềm dẻo, vừa có sức mạnh tấn công lớn. Theo giới tình báo phương Tây, hiện có đến 100/170 sư đoàn như vậy của Nga đang có mặt ở chiến trường Ukraine.

Mỗi sư đoàn như thế gồm 10 xe tăng hạng nặng, khoảng 10 giàn hỏa tiễn và đại pháo di động, hai giàn hỏa tiễn phòng không di động, ba xe cơ giới chở quân trang bị hỏa lực mạnh, một giàn phóng hỏa tiễn nhiều nòng, các đơn vị hỗ trợ bao gồm hỏa tiễn vác vai, súng cối, tác chiến điện tử, công binh, quân báo…

Mỗi sư đoàn có tới khoảng 75 xe cơ giới, nhưng lại chỉ có khoảng 200 quân đi kèm, làm cho các sư đoàn này dễ bị địch quân tấn công ở mạn sườn.

Quân Ukraine trang bị vũ khí di động phương Tây

Sau sự kiện Nga sát nhập Crimea của Ukraine vào năm 2014, quân đội nước này bắt đầu được phương Tây trang bị vũ khí và huấn luyện.

Trong những loại vũ khí này, nổi bật nhất là hai loại hỏa tiễn Javelin chống xe tăng và cơ giới nói chung, loại thứ hai là Stinger nhắm bắn trực thăng và các máy bay bay thấp.

Hỏa tiễn Javelin được thiết kế khá nhẹ để có thể di chuyển nhanh, và tương đối dễ sử dụng. Theo một số bản tin phương Tây, một người không biết gì về vũ khí có thể học sử dụng Javelin trong vòng 1 giờ. Hỏa tiễn này chụp hình mục tiêu, sau đó khi bay ra khỏi nòng sẽ tìm mục tiêu và ụp từ trên xuống. Điều này giúp cho Javelin rất có lợi thế khi tấn công vào tháp pháo của xe tăng Nga, nơi lớp vỏ thép mềm nhất. Hỏa tiễn này có đến hai ngòi nổ, cho nên nếu nó chạm vào phần thân của xe tăng Nga với các hộp thép nổ bảo vệ, thì ngòi nổ thứ hai sẽ làm nhiệm vụ phá hủy chiếc xe.

Loại hỏa tiễn thứ hai mà quân đội Ukraine được cung cấp là Stinger bắn máy bay thấp. Loại này là vũ khí cá nhân, nhẹ, đã thể hiện hiệu quả của nó trong cuộc chiến Afghanistan, khi các nhóm Mujaheedin bắn rơi rất nhiều máy bay và trực thăng Liên Xô.

Du kích quân Javelin

Quân đội Nga, theo tính toán ban đầu, dự định tiến hành một cuộc tấn công chớp nhoáng, chiếm đóng ngay các thành phố lớn, trong đó có thủ đô Kyiv nằm không xa biên giới với Belarus, đồng minh của Nga.

Các mũi tiến quân của họ tung ra dọc theo các xa lộ với các đoàn xe cơ giới dài hàng chục cây số. Như đã đề cập bên trên, các đoàn xe này hở mạn sườn, làm mồi cho các nhóm quân Ukraine.

Tên lửa Javelin của Mỹ viện trợ cho Ukraine trong cuộc chiến chống quân Nga. Nguồn: Sgt. Michael T. Crawford/ Quân đội Mỹ

Quân Nga thiếu cả chuẩn bị về hậu cần và bảo trì khí giới, theo các nhà phân tích quân sự phương Tây. Xe tăng dọc đường hết xăng, xích xe tăng bị sa lầy, các xe khác thì bánh xe cao su bị bể.

Sau vài ngày đầu của cuộc chiến, lực lượng phòng không Ukraine vẫn được bảo toàn, nhưng quan trọng hơn hết là người Ukraine thấy rằng dù đường sá có rộng đi nữa thì tốc độ tiến công của Nga vẫn lệ thuộc vào chiếc xe đi đầu, chỉ cần phá nó là xong. Điều thứ hai là quân Ukraine vẫn di chuyển qua các cánh rừng, làng mạc, thị trấn dễ dàng, từ đó họ tổ chức thành các nhóm nhỏ với Javelin và Stinger tấn công mạn sườn quân Nga.

Sau ba tuần lễ, quân đội Nga hùng mạnh không làm gì được quân đội Ukraine nhỏ hơn cả chục lần, tổn thất về nhân mạng đã lên tới khoảng 7000 người, theo các đánh giá thận trọng. Ngoài ra, hàng ngàn xe cơ giới của Nga bị phá hủy, hàng chục máy bay và trực thăng bị bắn hạ.

Hậu duệ Kim trướng Hãn quốc

Hình ảnh thê thảm của quân Nga ở Ukraine gợi cho tôi nhớ đến các đội kỵ binh Mông Cổ trên chiến trường Đại Việt, hơn 700 năm trước.

Theo sử sách ghi lại, các kỵ sĩ Mông Cổ sa lầy tại vùng chiêm lầy lội của nước Đại Việt ngày xưa, không khác gì xe tăng Nga rối tung dây xích trong các bãi bùn mùa xuân trên những cánh đồng ở Ukraine. Các đội quân Nga thiếu ăn, thiếu xăng dầu, cũng giống như các chiến binh Mông Cổ xưa không tìm được thức ăn vì người Việt tiêu thổ kháng chiến.

Nước Nga từng bị Mông Cổ thống trị đến 200 năm, dưới thời Kim trướng Hãn quốc (The Golden Horde). Viên tướng Nga làm bộ trưởng quốc phòng hiện nay là Shoigu, là một người thuộc dòng dõi Mông Cổ Tarta. Có điều là các thủ lĩnh Mông Cổ xưa như Bạt Đô, Mông Kha, Hốt Tất Liệt… không vướng vào những hợp đồng béo bở tân trang quân đội, cung cấp thức ăn cho binh lính, như ông tướng Nga – Mông Shoigu ngày nay.

Trong tất cả các quốc gia nằm ở lục địa Âu – Á ngày nay, không có nước nào xứng đáng là hậu duệ của Kim trướng Hãn quốc như nước Nga, ngay cả nước có tên là Mông Cổ.

Kim trướng Hãn quốc lụn bại vì lãnh thổ quá rộng lớn, vượt qua sức cai trị của mình. Nước Nga, Nga Sa hoàng, hay Nga Xô Viết ngày trước, và Nga Putin ngày nay, theo phân tích của Stephen Kotkin, một nhà nghiên cứu về nước Nga, là những đế quốc có tham vọng lớn hơn sức mình, vì thế mà sụp đổ.

Và cho đến tận hôm nay, năm 2022, đế quốc Nga của tổng thống Putin vẫn hãy còn là một đế quốc trung cổ với những tham vọng lãnh thổ lỗi thời.

Nước Nga Putin đang oằn mình dưới sự tấn công của các đế quốc hiện đại là Mỹ và phương Tây (phương Tây nhưng gồm cả các quốc gia phương Đông như Nhật Bản, Nam Hàn), nhưng không phải là xe thiết giáp hay hỏa tiễn, mà là kinh tế và tài chính.

Bên cạnh đó, thiết giáp Nga, đội kỵ binh thời hiện đại đang sa lầy bởi các du kích quân Javelin của Ukraine, đúng răm rắp lời khuyên của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ngày trước: Lấy đoản binh mà thắng trường trận.

Tuổi Già Mất Người Phối Ngẫu-Nguyễn Thị Phi Phượng (Việt Báo)

Tuổi Già Mất Người Phối Ngẫu

18/03/2022

 

Chương trình Việt Báo Viết Về Nước Mỹ khởi sự từ Tháng Năm năm 2000. Ngay trong những ngày đầu tiên đã có bài “Gia Đình Tôi Tới Mỹ” của Nguyễn Thị Phi Phượng. Tác giả ngày ấy vừa định cư Mỹ 4 tháng. Bài viết có in trong sách Viết Về Nước Mỹ, tuyển tập I, ấn hành lần thứ nhất tại California, tháng 11 năm 2000. Tác giả thắng giải đặc biệt 2017 và giải danh dự 2018. Sau đây là bài viết mới nhất của bà.

 ***

Tôi biết:

Đất trời có bốn mùa: hết Xuân thì tới Hạ , rồi Thu và tới Đông …

Con người: có Sinh thì ắt có Tử…

Biết là một chuyện, chấp nhận và bằng lòng với quy luật đó là một chuyện khác.

Cho dù thế nào thì tôi cũng phải làm quen và tập sống với thực tế: cuộc đời của tôi đã thay đổi từ khi người chồng đáng kính của tôi đi xa. Anh đã sang qua một thế giới khác.

Trong 53 năm, chúng tôi kề cận, nhường nhịn, yêu thương và chăm sóc nhau để cùng xây dựng cuộc sống riêng sau khi cả hai chúng tôi học xong đại học. Chúng tôi đã có một gia đình nhỏ an vui với hai con trai. Và từ khi chúng tôi đem hai cô con gái nhà người dưng, mang về làm hai con gái ruột nhà mình thì gia đình chúng tôi có thêm ba đứa cháu. Nay, các con đã thành nhân, các cháu thì đã có đứa chuẩn bị vào đại học. Hai con trai của chúng tôi đã có nghề nghiệp vững vàng, chúng đã có nhà riêng. Chúng tôi già dặn hơn cùng với sự trưởng thành của con cháu. Hai chúng tôi đã về hưu, vẫn cùng có nhau, tiếp tục nhường nhịn, chăm lo cho nhau trong những năm tháng cuối đời…

Nhờ duyên lành, tôi được học Phật khi tôi còn ở bậc trung học đệ nhất cấp. Tôi rất lí thú nghe Pháp và thực tập theo cách sống Bi – Trí – Dũng của Phật từ lúc còn rất trẻ đó. Tôi biết, thông hiểu và chấp nhận sự vô thường của muôn loài.

Nhưng, khi chồng tôi nằm xuống vĩnh viễn, người bạn đời của tôi đã bỏ tôi, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay tôi như con vẹt,  lập lại và nhìn mọi vật, có đó rồì mất đó – trong cái vô thường của đất trời – nó tự nhiên, nó nhẹ nhàng như tôi đang thở, nay, không phải như thế nữa. Với chính thực tế mất mát của bản thân, mọi suy nghĩ trước đây của tôi về sự vô thường của một kiếp nhân sinh đã bị đảo lộn, rồi quay cuồng…. Đây có phải là một tổn thất quá lớn trong cuộc đời mà từ trẻ cho tới bây giờ tôi chưa hề trải qua, tôi chưa hề có kinh nghiệm? Tôi hụt hẵng, tôi níu kéo và cố bám vào ảo tưởng: “Ông nhà tôi đi đâu đó rồi Anh sẽ về thôi mà…”

Tôi đợi Anh trở về, hết ngày rồi tới đêm… Một tuần, rồi hai tuần …và tôi thất vọng…

Tôi không chấp nhận sự thật.

Tôi đang sống thời gian khó khăn nhất.

Nguyễn Thị Phi Phượng và cố tác giả giám khảo VVNM Bồ Tùng Ma

Thế rồi, tôi cũng phải ráng tập lối sống mới: một mình , tự lo thân, tự quyết định mọi việc… Mà sao khó quá, tôi không cảm thấy dễ chịu chút nào… Bất chợt , trong tiềm thức của tôi, hiện lên qui luật mới: học nhớ dễ hơn học quên vạn lần!… Với tôi, không nỗi đau nào hơn nỗi đau của tuổi già bị mất người phối ngẫu. Không có sự trống vắng nào hơn ở tuổi xế bóng bị mất người chồng( hoặc người vợ), người đã đồng hành, đã cùng mình vượt qua bao khổ nhọc của cả một đời. Tôi không còn ai để nói hết, nói thật… nói tất cả… những lo toan, những vui buồn tôi đang gặp phải. Không còn ai để tôi “cằn nhằn”! Tôi vẫn thường nghe câu nói đầu môi từ vài người bạn: “Vợ chồng tôi không cải nhau bao giờ”. Tôi không bao giờ tin những lời nói này. Với tôi,  chuyện vợ chồng tranh cải vì khác ý kiến trong một vấn đề, đó cũng là bình thường. Ông bà mình vẫn luôn nói: chén dĩa trong sóng còn khua thay.

Hai năm cuối đời, ước lượng được sức khoẻ của mình, Anh đã nói với thằng cháu lớn nhất 17 tuổi: “ Ông Nội ráng đợi ngày Con tốt nghiệp đại học, Ông sẽ có mặt trong ngày Con ra trường. Con nhớ dẫn Ông đi ăn một bữa thịnh soạn rồi Ông Nội sẽ đi xa.” Tội nghiệp thằng cháu không rành tiếng Việt và cũng không hiểu “đi xa” là Ông Nội sẽ đi đâu thế mà ngày Ông Nội nằm xuống, Cháu cũng biết tại sao Ông không thể giử lời hứa với Cháu. Và bữa ăn thịnh soạn ngày Cháu tốt nghiệp sẽ mãi mãi không bao giờ có mặt Ông Nội nữa…

Năm nay, mùa đông California rét buốt hơn mọi năm. Trời lạnh, cái nhà của tôi càng lạnh hơn vì chỉ một mình tôi lẻ loi…

Nhớ lời dặn: “Anh chết rồi, buồn lắm, em ơi. Hãy về một đứa con mà ở.”

Tôi tới nhà con trai út ở thành phố San Francísco – đứa con gần tôi nhất – ở chơi vài hôm. Ở đó, có con cháu vây quanh, tôi nguôi ngoai phần nào mà sao tôi vẫn nhớ, vẫn thích trở về cái nhà nhỏ quen thuộc của tôi. Trong ngôi nhà xưa thân quen, hằng ngày,  tôi “nói chuyện” với Anh như Anh vẫn còn đó. Tôi cảm thấy Anh vẫn loanh quanh đâu đây, bảo vệ và mang về sự bình yên cho tôi. Tôi tự do khóc, tự do ăn, tự do ngủ… bất cứ khi nào… theo “thời dụng biểu bất thường”  trong lúc này của tôi. Và điều quan trọng mà vợ chồng tôi đã nhận thấy từ lâu, nay, càng rõ ràng hơn, đó là: các con – các cháu của tôi, chúng có suy nghĩ của chúng. Chúng nó trẻ. Chúng say mê công việc và theo đuổi sự nghiệp. Chúng lo làm việc để trả nợ nhà, nợ xe… và nhất là lo việc nuôi dạy con cái. Chúng không có cùng cách giải quyết vấn đề như thế hệ già của chúng tôi. Làm sao tôi có thể bộc bạch hết những tâm tư sâu kín của tôi với chúng nữa.

Chồng tôi đã có chỗ ở mới, chắc chắn rất an vui. Còn lại tôi, bơ vơ, chới với. Người đi trước sao mà ấm áp, được mọi người lo cho đầy đủ, chu toàn.

Tôi bắt đầu ganh tỵ với chồng tôi.

Hồi tưởng lại vài năm sau này, khi hai chúng tôi đã về hưu và nhờ có con vi rút covid , chúng tôi có nhiều thì giờ ngồi bên nhau. Không biết tìm đâu ra, chồng tôi thường đọc cho tôi nghe bài thơ xưa ( không biết tên tác giả) của người chồng già viết tặng vợ:

…Mất gì thì mất Bà ơi,

Xin Trời để lại còn Tôi, còn Bà

Nếu mà có phải đi xa

Để Tôi đi trước còn Bà đi sau

Mong Bà đừng ốm đừng đau

Để Tôi có bát cơm rau sáng chiều

Càng già, càng quí, càng yêu

Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa ….

Mất gì thì mất Bà ơi,

Xin Trời để lại còn Tôi, còn Bà

Tôi – Bà nay tuổi đã già

Mà Tôi vẫn sợ còn Tôi, mất Bà…

Thế là ước muốn “ xin được đi trước” của chồng tôi đã được thỏa theo ý nguyện.

Chồng tôi, cả đời là một nhà giáo đạo hạnh. Anh có chánh nghiệp. Anh có một đời sống viên mãn. Nay, nghiệp đã trả xong, Anh ra đi nhẹ nhàng. Anh được thay cái xác mới. Tôi tin: nhất định Anh đã đến được cõi an lành.

Rồi thì ai cũng sẽ phải theo con đường của Anh thôi mà. Tôi cũng sẽ như thế.

Hai tháng, … rồi ba tháng, …

Tôi không thể nào khoẻ mạnh trong tình trạng sống đau buồn mãi được.

Tôi bắt đầu đọc sách nhiều hơn, nghe giảng Pháp nhiều hơn. Tôi thiền định lâu hơn. Tôi làm vườn, công việc này chồng tôi phụ trách trước đây, tôi nào biết tới. Và tôi tiếp tục lại các việc đang dang dở mà thời gian qua vì phải chăm sóc Anh bịnh tôi đã xin tạm nghỉ. Tôi có Chùa Phổ Từ ở Hayward, gần nhà. Tôi có Camp Metta ở Los Gatos. Tôi có nhiều bạn đạo rất thành thật ở hai nơi đó. Tôi có những bạn thiện tri thức của hai nhóm Gia Đình Phật Tử Chánh Tâm và Chánh Hòa, nơi tôi đang dạy thiện nguyện Tiếng Việt cho các em đoàn sinh và nhất là hằng ngày tôi được tu tập qua những câu viết ngắn dưới đề mục  “Morning Coffee” của Sư Bhante . Dần dà, tôi đã lấy lại sự quân bình trong suy nghĩ. Niềm vui và sự tin tưởng vào Chánh Pháp đã vực tôi đứng lên . Tôi nhận ra thế nào là Chơn Thường trong Vô Thường của sự vậ , của cuộc sống. Đã có sẵn Chánh niệm và Chánh Tư Duy, tôi cảm nhận được sự sống đang có mặt trong từng giây phút của hiện tại. Sự tiếc nuối và suy nghĩ về mất mát trở về lại với tôi nhẹ nhàng như tôi đang thở.

Tôi đăng ký học vẽ ở Chabot College – Hayward. Tôi tập vẽ trên giấy canvas để áp dụng vẽ trên áo dài, niềm say mê nhất của tôi từ khi còn trẻ nhưng vì quá bận rộn phải xếp qua một bên.

Tôi đang suy nghĩ để xem tôi có còn thích hợp để học khiêu vũ không. Đây là môn thể dục lý thú của tuổi già.

Tôi sẽ tiếp tục gặp lại học trò qua hai lớp dạy thiện nguyện Tiếng Việt của tôi sau thời gian dài dạy chúng qua zoom.

Tôi sẽ tiếp tục dịch sách chương trình “Early Childhood Education” ( Ngành Mẫu Giáo Nhà Trẻ). Sách tôi dịch, in ra, đã và sẽ giúp các cô giáo dạy chương trình này ở Việt Nam làm giàu thêm kiến thức nghề nghiệp của họ.

Cám ơn Phật pháp đã giúp Con sáng ra và chấp nhận thực tế đúng như tính chất vô thường nó đang là.

Cám ơn Anh đã cùng Em đi hơn nửa cuộc đời. Anh đã giúp Em hiểu được sự chịu thương chịu khó, sự hy sinh cho một tình yêu đích thực. Anh đã để lại cho Em quá nhiều kỷ niệm, Em chẳng thể nào quên. Em sẽ chuyển nỗi đau thành niềm thương nhớ. Anh ơi, hãy chờ Em bên kia sông, vài năm nữa mình sẽ gặp lại, nhé Anh.

Mẹ cám ơn hai Con Trai của Mẹ. Các Con đã giúp Mẹ tiếp tục giữ cuộc sống an nhàn như khi Ba Mẹ có nhau.

Bà Nội cám ơn ba Cháu yêu. Các Cháu rất ngoan, nghe lời dạy bảo của cha mẹ, học giỏi. Cám ơn các Cháu luôn báo tin vui về việc học của các Cháu cho Bà nghe.

DT – Th H ơi , Nh – Ng ơi ! Các Em đang đủ đôi . Đó là hạnh phúc quý báu nhất Thượng Đế ban tặng cho riêng các Em và cho cả loài người. Các Em hãy yêu thương – chăm sóc nhau với tất cả những gì có thể để rồi mai kia, khi một người đi xa trước, người ở lại không có gì để hối hận…

Tôi cũng vậy.

Tôi đã là người vợ tốt.

Tôi đã là người mẹ tốt.

Tôi đã hết lòng chăm sóc chồng tôi khi Anh bịnh hoạn.

Tôi không có gì để hối hận.

Tôi phải vui lên để được sống khỏe mạnh. Cầu mong tôi giử được sức khoẻ này lâu dài cho tới khi nào quá yếu. Khi đó, tôi sẽ về sống cùng với con cháu.

Tôi đang bước vào khúc quanh mới của đoạn cuối con đường và tôi sẽ thanh thản đón hoàng hôn./.

Hayward – California

Tháng Hai, 2022.

Nguyễn Thị Phi Phượng