Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu và mối tình mang tên Việt Nam

 Ngoc Bich

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu và mối tình mang tên Việt Nam

Trong căn nhà nhỏ đượm nét Pháp, khách hành hương ghé thăm chị Thánh Têrêsa có thể tìm bản hướng dẫn bằng Tiếng Việt. Tôi không rõ cô quản lý nhà biết rằng có nhiều đoàn Việt đến thăm quan hay không nhưng nếu được hỏi, người Công giáo Pháp đạo hạnh ấy sẽ thủ thỉ cho bạn đôi điều về mối tình của chị Thánh với đất nước Việt Nam.

An Duyên – TNV Vatican News

 Ước muốn đến Việt Nam

Ơn gọi của con là tình yêu’’, câu nói ấy của chị Thánh Têrêsa đã chạm vào lòng Hội Thánh. Một cô gái sống 24 năm trên cuộc đời nhưng lại là một vị đại thánh, Tiến sĩ của Hội Thánh nhờ những cánh hoa tốt lành nhỏ bé. Chị là một trong vị thánh nổi tiếng nhất trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Từ năm bốn tuổi, chị sống cùng gia đình tại Lisieux thuộc vùng Normandie nước Pháp. Vì thế mà người ta vẫn gọi chị là Thánh Têrêsa thành Lisieux ngoài cái tên kính trọng, Têrêsa Hài Đồng Giê-su và Nhan Thánh (1873-1897).

Lớn lên trong một gia đình thánh đức, cha mẹ chị là ông Louis Martin và bà Zélie-Marie Guérin đã được ĐTC Phanxicô tuyên thánh ngày 18/10/2015. Năm 16 tuổi, chị bắt đầu cuộc sống của mình tại tu viện dòng Kín Cát Minh. Từ những tháng ngày đó, chị bắt đầu viết cuộc đời nên thánh của mình bằng những hy sinh nhỏ nhặt của mình. Vào mùa Chay năm 1896, Têrêsa có triệu chứng ho ra máu. Từ đó, bệnh tật là một Thánh giá mà Têrêsa đeo trên mình. Và, Thánh giá ấy đã trổ hoa.

Trong cái đau của bệnh tật, chị ước ao trở thành linh mục, được bước chân đi truyền giáo. Trong sách “Histoire d’une ame” (Truyện một tâm hồn), chị đã ghi lại thao thức của mình: “… si la sainte Vierge me guérit, je desire répondre à l’appel de nos Mères d’Hanoi’’ (Nếu Thánh nữ Đồng trinh chữa con lành bệnh, con ước ao đáp lời mời gọi của Mẹ tại Hà Nội) – trích chương IX trong Truyện một tâm hồn.  Nguyên trang trên ghi lại những nguyện ước của chị Thánh nếu người được chữa khỏi bệnh. Nhưng, những ước ao ấy đã được Chúa cất giữ và cho chị ra đi vào năm 24 tuổi, để câu chuyện tình yêu ấy được viết tiếp bởi người em thiêng liêng, Marcel Văn. 

Truyện một tâm hồn – cuốn sách được xuất bản năm 1898 ngay sau chị Thánh qua đời. Hiện nay, sách được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ khác nhau. Ảnh: An Duyên

 Marcel Văn, người em thiêng liêng tại nước Việt

Nếu bạn may mắn gặp một người Công giáo Pháp, họ sẽ nhắc với bạn một cái tên mà người Pháp yêu mến: Marcel Văn. Sau những vụ tấn công khủng bố xảy ra tại Pháp năm 2015, một lời nguyện cho nước Pháp được “râm ran” hơn: “Lạy Chúa Giê-su, Người giàu lòng trắc ẩn với nước Pháp…”. Những lời nguyện này được thầy Marcel Văn, người Việt viết ra cho dù chưa một lần đặt chân đến nước Pháp. Đó là lời nguyện, là câu chuyện “tình thánh” giữa Têrêsa và Marcel Văn.

Thầy Marcel Văn có tên là Gioakim Nguyễn Tân Văn, sinh ra tại làng Ngăm Giáo, thuộc giáo phận Bắc Ninh, Việt Nam. Từ nhỏ, thầy đã có một ước ao mãnh liệt được trở thành linh mục và được nên thánh. Thầy đã được người mẹ đức hạnh Anna Maria Tế gửi vào nhà Chúa. Thầy đã từng sống tại giáo xứ Hữu Bằng (1935-1941) và sau đó theo học Tiểu chủng viện tại Lạng Sơn. Tại đây, câu chuyện “chị thiêng liêng” bắt đầu.

Trong giờ Chầu tại chủng viện, Văn bắt đầu tìm kiếm cuốn sách thiêng liêng về vị Thánh mà mình có thể theo bước. Và cuốn sách trong linh hứng của Chúa là Truyện một tâm hồn. Trong nhật ký của mình, thầy viết “… Con lại cả dám ước ao xin Mẹ một điều là chớ chi con được Mẹ yêu thương đùm gối như bông hoa trắng tuyết Têrêsa của Mẹ hồi xưa. Con cũng ao ước giá Mẹ ban cho con bà thánh ấy để làm thầy dạy dỗ con trên con đường nhỏ bé của Người thì Mẹ biết con sung sướng dường nào”. “Con vào nhà thờ, đến quỳ trước tượng thánh Têrêsa và chân thành nói với thánh nữ: Têrêsa, từ nay chị là chị của em” [1] [1] Marie-Chichel: Tình yêu không thể chết– Tr. 162-163. 

Nhóm thân hữu Marcel Văn đã xuất bản rất nhiều sách, truyện tranh thiếu nhi về cuộc đời của thầy Marcel Văn. Ảnh: Les amis de Van

Khi dòng người di cư vào Nam sau năm 1954, thầy Văn quyết định trở lại miền Bắc. Ngày 7/7/1955, thầy Marcel bị bắt, phải đi cải tạo trong nhà tù và chết tại đây năm 1959, khi thầy mới 31 tuổi. Thầy Marcel đã được nâng lên hàng tôi tớ Chúa nhờ con đường nên thánh nhỏ bé cùng chị Têrêsa. Hiện nay, quá trình phong thánh vẫn đang được tiến hành bởi nhóm thân hữu Marcel Văn “Les amis de Van” tại Pháp.

Mượn lời nguyện của thầy Marcel để tạm kết cho câu chuyện “tình yêu” của vị Thánh nữ Têrêsa qua chính ước nguyện tiếp tục được thực hiện trên đất Việt:

“Tôi không nhìn đâu xa

Cũng chẳng nhìn quanh quẩn…

Tôi chỉ ngắm nhìn Người tôi yêu…

Chính lúc lòng tôi yêu mến

Tôi tìm thấy hạnh phúc vô tận…

Tình yêu không thể chết”.

Văn

From: KimBằngNguyễn 

Tù nhân Lương tâm – Đinh Thị Thu Thủy

Tù nhân Lương tâm – Đinh Thị Thu Thủy

Tù nhân Lương tâm, 4 chữ này nghe ra rất gần gũi với chúng ta trong mấy mươi năm nay, từ khi Cộng Sản bắt đầu biết sợ những người dám đứng lên chống đối, dám lên tiếng để mong xây dựng xã hội – và họ ra sức bắt bớ, trù dập. Danh sách các X thì nhiều lắm, chưa kể những người bị trù dập, bắt bớ trong âm thầm. Nổi bật là Phạm Đoan Trang, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Năng Tĩnh…. nhiều lắm, thương lắm.

 Gần đây, tôi được biết thêm về một người nữ kiên cường khác. Cô tên là Đinh Thị Thu Thủy – nhà hoạt động môi trường, có bằng cao học chuyên về các loại bệnh trong ngành chăn nuôi thủy sản, đã bị bắt vào ngày 18/4/2020  tại nhà riêng với cáo buộc: “Lưu trữ, lan truyền thông tin tài liệu, vật phẩm nhằm mục đích, chống đối nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam  theo điều 117 của bộ luật hình sự của đất nước“.

Thu Thủy sinh năm 1982 tại Sóc Trăng, nay gần 39 tuổi. Cô từng được cộng tác với tổ chức phi chính phủ NGO hỗ trợ bà con nông dân nuôi trồng tôm cá sạch. Thủy đã tham gia các nhóm facebook Cửu Long Xanh và Sức Sống Xanh, hoạt động thiện nguyện nhằm bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó cô lên tiếng phản đối về vấn đề y tế tại địa phương, khi hàng trăm học sinh tiểu học tại thị xã Ngã Bảy ngộ độc sữa MILO năm 2017. Khi dịch Covid-19 bắt đầu năm 2019, Thu Thủy cũng dám lên tiếng khi nhà trường cho học sinh tiểu học đến trường mà không có biện pháp an toàn cụ thể. Cô cũng tham gia buổi biểu tình ôn hòa tại Saigon vào tháng 6 năm 2018 phản đối dự luật về đặc khu kinh tế – cho Tàu Cộng mướn đất và phản đối hành động đàn áp, đối xử tàn nhẫn với các tù nhân. Tại công viên Tao Đàn cô bị giam giữ đánh đập, thẩm vấn và bị phạt hành chính bởi Công an phường Bến Nghé, quận 1 trước khi được thả về.

Theo cáo trạng của công an Hậu Giang, Thu Thủy đã có nhiều bài viết được nhiều bình luận và lượt chia sẻ, mang nội dung “chế nhạo, châm biếm, xúc phạm lãnh đạo đảng, nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc ý nghĩa lịch sử, phỉ báng đất nước…” Vào chiều ngày 18/4/2020, Thủy bị hơn 50 công an tỉnh Hậu Giang vây quanh, bắt giữ tại nhà riêng, ngay trước sự khủng hoảng của đứa con trai chưa đầy 10 tuổi và cả gia đình.

Sau 9 tháng bị giam giữ, trong phiên tòa ngày 20  tháng 1, 2021, cô bị lãnh án 7 năm tù giam, mặc dù cô Thủy và 2 luật sư khẳng định hoạt động của Thủy chỉ mình nhằm mục đích chia sẻ để mọi người cùng nhận thức về các vấn đề môi trường, xã hội. Cô Thu Thủy khẳng định trước tòa là hành vi của mình không có ý định chống chính quyền, mà chỉ lên tiếng đóng góp về tình trạng ô nhiễm môi trường, sai trái về giáo dục và về những hiện tượng xấu xảy ra bên ngoài xã hội. Nhưng luật rừng là luật rừng, cộng sản rất sợ những người có tài, có tâm nên cần phải bịt miệng bằng mọi cách.

Trong tù, Thủy không nhận được thông tin từ gia đình, bạn bè, xã hội, cộng thêm sự khắc nghiệt của điều kiện sống nơi trại giam, chiều ngày 3/2/2021 gia đình nhận được tin cô Thủy ngất xỉu, sau đó phải đem đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện tỉnh Hậu Giang, rồi bị bỏ tù trở lại. Mới đây Thủy mới được gọi điện thoại về thăm nhà trong vài phút. Tôi có duyên may được nghe lại cuộc nói chuyện này, lòng xúc động bồi hồi thêm, thương cho một người con gái tài giỏi, trí thức phải chịu nhiều đau đớn về thể xác và đặc biệt là tinh thần. Thủy ở miền Nam, nên nói giọng Nam thật dễ thương, chân thành. Cô cho gia đình biết mình bị mất ngủ kinh niên, từ đó gây ra nhiều chứng bệnh khác. Điều kiện trong tù thì khổ khỏi nói. Cô xin gia đình gởi vào áo ấm, vì phòng nhốt tù vào đêm rất lạnh. Thủy cần thêm thuốc, nhưng thật ra trong mấy phút được nói chuyện, cô dành giờ để hỏi thăm con trai, hỏi thăm gia đình nhiều hơn. Đặc biệt vì luôn muốn học hỏi, Thủy cũng nhờ gia đình đem vào những cuốn sách tiếng Anh mà con trai đã học xong. Sách mắc tiền nên không dám nói người nhà mua cuốn mới. Cô cũng yêu thơ mến nhạc, nên dặn người nhà đem vào “thăm nuôi” bằng cuốn sách nhạc Phạm Duy. Nhạc phải được bán ở nhà sách “Nhân Dân”, đã được kiểm duyệt cẩn thận trước khi cho phép in, không phải muốn bài nào cũng được.

Trong điều kiện tù đày đầy khó khăn, thêm nỗi lòng người mẹ đơn thân nhớ thương, lo lắng cho đứa con trai còn nhỏ, nhưng Thủy luôn chia sẻ, giúp đỡ các bạn tù. Cô thật là tấm gương bất khuất, là một người trí thức, có tấm lòng quan tâm đến vận mệnh đất nước, muốn nâng cao trình độ dân trí, một bông hoa hiếm có trong đất nước ngày hôm nay. Cô thật xứng đáng là thế hệ trẻ nối tiếp tinh thần con cháu Hai Bà Trưng, góp phần làm đẹp đất nước. Bản thân chúng tôi rất trân trọng và muốn vinh danh người phụ nữ nhỏ bé nhưng tài giỏi và kiên cường này. Mong đất nước được mau thoát ách Cộng sản, để các nhân tài, các đóng góp được thực hiện cách hữu hiệu cho quê hương.

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

Tháo chạy

Tháo chạy

Bởi  AdminTD

Lâm Bình Duy Nhiên

2-10-2021

Ngày đầu tháng mười, đây là lần thứ ba, người dân Sài Gòn đã tìm đường tháo chạy khỏi thành phố này.

Những hình ảnh tạo nên nhiều cảm xúc mạnh, thống thiết, lo lắng. Một nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn. Sau vài tháng “chống chọi” đại dịch, với sự thật bị bưng bít, che giấu, người dân Sài Gòn vẫn còn chưa thoát khỏi cơn ác mộng nghiệt ngã…

Dòng người tìm cách vượt những chốt kiểm soát, đạp đổ những vòng kẽm gai được dựng lên để ngăn chặn người dân là những hình ảnh sống động, tượng trưng cho nỗi sợ hãi về một kịch bản xã hội bị phong tỏa một lần nữa.

Có cả những người dân đớn đau, quỳ lạy lực lượng an ninh. Họ van xin như để được “thoát khỏi” một thành phố bị cô lập, tang thương và chết chóc.

Trong cái thành phố sầm uất và phồn thịnh này, vẫn có rất nhiều mảnh đời cơ cực của những người dân lao động, làm thuê. Chính họ đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển và giàu có của Sài Gòn. Họ đến từ những tỉnh thành lân cận. Họ để lại tất cả, từ gia đình đến kỷ niệm để tìm đường mưu sinh tại đây.

Những người làm lụng cực lực và đứng bên lề của sự hào nhoáng. Từ khi chỉ thị 16 được ban ra nhằm đối phó với đại dịch, họ cùng với hàng triệu người dân Sài Gòn bị rơi vào sự phong tỏa nghiêm ngặt, phi lý và phi khoa học. Họ bị “trói chân” tại đây, không việc làm, không tiền bạc, không lương bổng, sống trong túng quẫn, đói khát và nỗi nhớ nhà tha thiết.

Họ, những người nghèo khổ, đến từ tứ xứ, chính là những kẻ dễ dàng bị bỏ quên nhất trong bối cảnh khó khăn chung của thành phố. Họ bị chính quyền buông xui, bỏ mặc trong các chỉ thị chạy đua theo thành tích “chống giặc” Covid.

Chính vì thế, họ chỉ mong được tháo chạy khỏi cái thành phố trống vắng và bị giãn cách này. Ít ra, dẫu có bị thiếu thốn, cơ cực, nhưng ít nhiều cũng còn có người thân, vợ chồng, cha mẹ, con cái bên cạnh.

Tiếc thay, nhà cầm quyền lại luôn độc quyền quyết đoán: chống dịch như chống giặc. Giặc chưa xong nhưng dân tình lại khổ sở, hoang mang và nghèo khổ trăm bề. Những người lãnh đạo lại chỉ hô hào những khẩu hiệu sáo rỗng, kêu gọi người dân hãy ở lại để tiếp tục “đóng góp” cho thành phố!

Đóng góp gì nữa? Những đồng tiền sau cùng hay tiếp tục bào mòn sức lực, gồng mình chịu đói để làm đẹp hình ảnh một thành phố đã “đập tan kẻ thù” dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của lãnh đạo?

Sức chịu đựng của đồng bào quả thật kinh khủng. Từ mấy chục năm qua, người cộng sản đã thành công khi áp đặt nỗi sợ hãi bao trùm toàn xã hội. Trấn áp, đàn áp và đe dọa luôn là những thứ vũ khí vô hình nhưng hiệu quả vô cùng để làm câm bặt sự phản kháng, dẫu thưa thớt và yếu ớt!

Và ngay cả khi sự đói khát cận kề, sự túng quẫn không lối thoát đe dọa toàn xã hội thì bộ máy cầm quyền vẫn an tâm tồn tại.

Cho đến bao giờ? Chỉ có người dân mới có thể có câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi thương tâm và cấp bách trên!

***

Đào Tuấn: Vì sao họ bỏ mà đi

Khu hộp tôn này là một dãy trọ ở Thủ Đức. Thứ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Hồi kể trong đợt khảo sát vừa rồi, ông gặp trường hợp có gia đình 5-6 người sống trong căn phòng chỉ 7m2.

Ảnh trên mạng

5-6 người và 7m2. Không hiểu họ ăn ở sinh sống thế nào khi mà chỉ thở thôi đã vật vã rồi. Nhưng đó chưa phải là sự tồi tệ nhất. Ông Trần Việt Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM nói: Nhiều phòng trọ chỉ 10m2, mà có tới 10 người chen nhau chung sống.

Trước phong tỏa, họ chia ca ngày đêm đi làm cũng đỡ. Bốn tháng hơn 120 ngày lockdown tất cả chui một chỗ 24/24. Không gian kín mít ở những nhà trọ ổ chuột như này chính là lý do vì sao số F0 dựng đứng suốt mấy tháng giời.

Ông Việt Anh nói một câu kinh khủng: Hàng ngày họ chứng kiến những F0 ở khu trọ đi rồi không thấy quay về nữa…

Người phụ nữ áo vàng là Huỳnh Thị Mỹ Vân (quê Trà Vinh) hôm qua đã quyết về quê bằng được.

Ảnh trên mạng

Bốn tháng, hai vợ công nhân may không một xu thu nhập, không có nguồn trợ cấp ngoài chút lương thực được các mạnh thường quân cứu giúp. Tài sản là “3 tháng tiền trọ còn nợ”, và gia đình 4 người “không còn nổi 1.000 đồng”.

“1.000 đồng, sao trụ nổi. Đợt trước, chúng tôi đã ra về nhưng bị chặn lại, giờ cỡ nào cũng phải về, phòng trọ đã trả rồi mà cũng không còn gì để ăn cả”- lời Vân.

Hai bức ảnh, đủ trả lời cho câu hỏi vì sao những đoàn người tháo chạy khỏi SG, quỳ lạy, phá rào, ném đá… làm mọi cách để được về quê.

Không biết khi ban hành một chính sách những người dấu đè chữ ký có bao giờ hình dung nổi những thân phận mà họ vẫn gọi là đồng bào như này!!!

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Bà Mai Nữa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một Bà Mai Nữa

Thứ Sáu, 10/01/2021 

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Tôi biết bà Trần Thị Mai qua một cuộc phỏng vấn của ký giả Việt Hùng, vào hôm 23 tháng 3 năm 2016, trước khi bà sang Lào để tìm xác chồng – cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương. Ông tử trận vào hôm 24 tháng 2 năm 1971, và được  người đời biết đến qua tác phẩm nổi tiếng (“Anh Không Chết Ðâu Anh”) của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh: Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương / Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu…

Tuy thế, có lẽ không ai hay biết (và cũng chả ai “thấy”) gì về cuộc sống của người cô phụ còn ở lại, cho đến khi bà lên tiếng trả lời những câu hỏi (thiết thân) trên nhật báo Người Việt :

“Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng. Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo…

“Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng.”

Mong ước của bà Nguyễn Thị Mai thì hơi khác. Tuy cũng giản dị thôi (“được chôn cất sau khi nhắm mắt”) nhưng e vẫn là điều bất khả. Tôi tình cờ gặp người phụ nữ đồng hương này trong quán cơm Ba Số Bẩy, ở khu chợ Tô Sanh (Phnom Penh) khi bà đang chào mời thực khách mua vé số – loại xổ hàng ngày – phát hành từ những tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Qua vài câu trao đổi “tâm tình,” tôi mới biết thêm được những nỗi truân chuyên trong kiếp sống tha hương của một bà Mai khác. Cũng như quả phụ Nguyễn Văn Đương, chồng của bà Nguyễn Thị Mai là một người lính miền Nam đã tử trận từ lâu. Và cả hai cùng đều đang bước vào tuổi đã xế chiều trong hoàn cảnh khốn cùng.

Bà Nguyễn Mai quê ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nơi mà chỉ cần vài giờ xe là đã vượt sang xứ khác – xứ Chùa Tháp. Tuy thế, bà chưa bao giờ trở lại cố hương vì không còn thân bằng quyến thuộc gì nơi chốn cũ.

Bà chấp nhận Cambodia làm mảnh đất dung thân. Quê hương thứ hai – may thay – đủ bao dung cho một người Việt lâm vào bước đường cùng (không chồng, không con, không tiền, không nhà, và không cả manh giấy tùy thân) nên kẻ tha phương vẫn sống được lây lất qua ngày.

Mặc dù không còn có thể đi đứng được dễ dàng vì sức khỏe và tuổi tác, bà Mai vẫn còn kiếm được mười lăm/hai mươi ngàn đồng riels mỗi ngày, nghĩa là khoảng trăm hai đến trăm năm mươi Mỹ Kim hàng tháng. Chỉ cần nửa số tiền này cũng đã đủ để thuê được một chỗ tắm rửa, và ngủ nghỉ qua đêm :

  • Tui đi lòng vòng suốt ngày mà, mệt thì ngồi, được cái người Miên họ dễ lắm chú à. Họ cho mình ngồi trong quán nghỉ, cho xài cầu tiêu cầu tiểu thoải mái, và có khi còn cho đồ ăn dư luôn nữa.

Khi nghe hỏi về ước nguyện hiện tại của mình, bà Mai nhỏ giọng :

  • Tui không có mong ước gì hết trơn, hết trọi. Bây giờ còn đi bán được ngày nào thì hay ngày đó thôi. Có điều tui lúc nào cũng thấy khuây khoả vì có lũ nhỏ bao quanh, và đứa nào cũng sẵn sàng “bán dùm vé ế cho ngoại Mai kẻo tội.” Đêm về thì có chỗ để nằm, không ai đụng chạm phiền phức gì mình. Chỉ sợ khi chết bỏ xác ở đây, không ai chôn cất, chú ơi!

Năm rồi tôi không có dịp trở lại Nam Vang. Không biết bà Nguyễn Mai xoay trở ra sao trong những ngày tháng dịch bệnh nơi xứ lạ. Cầu mong cho bà chị vẫn được an lành, dù biết đây chỉ là một lời … cầu âu. Đời vẫn vốn không nương người thất thế mà. Nói chi đến thân phận nắng mưa thui thủi quê người một thân của một người già góa bụa! 

Tuần rồi thì tôi biết thêm một bà Mai nữa, qua bài tường thuật (“Trở Về Nhà Chăm Chồng Bệnh Nặng Là Lý Do Không Chính Đáng”) trên báo Công Luận, phát hành vào hôm 15 tháng 09 năm 2021, của phóng viên Hoàng Tuấn :

Nhận tin báo mẹ ở quê bị bệnh, ngày 28/6, bà Trương Thị Tuyết Mai (SN 1967) từ nhà ở quận Bình Tân, TP. HCM đi xe máy về xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để chăm sóc…

Dự tính đến ngày 15/9, khi TP. HCM hết giãn cách thì bà Mai sẽ trở về nhà. Nhưng nghe tin chồng …bị bệnh nặng, không ai chăm sóc, nên ngày 11/9 bà đã Mai đã đến Văn phòng UBND tỉnh Bến Tre để xin giấy đi đường.

Tại đây đã cấp cho bà Mai một Giấy xác nhận với nội dung gửi: Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 các cấp; các trạm, chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid-19 các địa phương hỗ trợ, tạo điều kiện cho bà Trương Thị Tuyết Mai được rời khỏi Bến Tre đến phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM…

Khi đến tại một chốt kiểm soát ở khu vực Tân An, Long An, lực lượng ở đây không cho bà Mai đi tiếp với lý do: Giấy xác nhận của UBND tỉnh Bến Tre không có số hiệu. Yêu cầu quay lại xin cấp giấy khác. 

“Trình bày hoài mà họ không cho, họ yêu cầu phải bổ sung nội dung nên tôi phải chạy xe máy quay lại Bến Tre xin cấp giấy khác để kịp về trong ngày,” bà Mai nói… 

Đinh ninh lần này sẽ được trở về nhà suôn sẻ, không ngờ khi tới chốt kiểm soát đầu tiên thuộc địa bàn huyện Bình Chánh, TP. HCM, nơi đây cách Bến Tre gần 100km, bà Mai bị lực lượng kiểm soát nơi đây chặn lại. Sau khi kiểm tra giấy tờ, những cán bộ tại chốt kiểm soát không cho bà Mai đi tiếp, mà yêu cầu quay về nơi xuất phát với lý do: Chăm chồng bệnh là lý do không chính đáng. 

“Tôi trình bày, năn nỉ mà anh công an mặc áo vàng khăng khăng không cho, anh ấy bắt tôi quay lại, nếu không sẽ lập biên bản xử phạt”, bà Tuyết Mai bức xúc.

Nhiều vị thức giả cũng “bức xúc” không kém!

  • Bỉnh bút của Tạp Chí Luật Khoa, Yên Khắc Chính: “Có thể thấy trong hầu hết các quyết sách chống dịch của chính quyền, chỉ có người dân là chịu tác động trực tiếp và phải gánh hậu quả, các quan chức thì không. Điều này vi phạm một trong những nguyên tắc nền tảng nhất của mọi xã hội văn minh: nguyên tắc đối xử công bằng (equal treatment principle)… Khi xã hội xuất hiện khủng hoảng, sự bất bình đẳng này càng lộ rõ.”
  • Blogger Trân Văn(VOA): “Trong đại dịch, công dân có còn là con người hay không phụ thuộc vào việc viên chức hữu trách của các địa phương có… thích hay không!”
  • Mạc Văn Trang: Sao họ coi dân như những kẻ nô lệ dưới thời thực dân phong kiến, như anh Pha, chị Dậu vậy?
  • Nhà văn Nguyễn Viện: “Không biết từ bao giờ, người ta đã không còn nhận ra phẩm giá của mình bị chà đạp. Và vì thế, người ta chấp nhận bị chà đạp như một điều hiển nhiên. Không thắc mắc, không phản đối. Ai sao mình vậy.  Đấy là một tâm thức khốn cùng của kẻ nô lệ.”

Ba bà Mai kể trên thuộc hai thế hệ. Cả ba đều đã trải qua một kiếp nhân sinh mà “phẩm giá” người dân bị chà đạp một cách rất tự nhiên.” Nếu may mắn mà “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam” vào cuối thế kỷ này, như kỳ vọng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chả hiểu sẽ phải cần thêm bao nhiêu bà Mai (tiếp tục) sống “với tâm thức khốn cùng” như thế nữa?

Những nữ tu gốc Việt mang sứ vụ ‘đổi đời’ cho người vô gia cư

Những nữ tu gốc Việt mang sứ vụ ‘đổi đời’ cho người vô gia cư

September 30, 2021

Đoan Trang/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV) – “Mama, hôm nay đem gì cho chúng tôi đấy?” “Sister, hôm nay có món nào nóng nóng không?,” “Soeur có vớ không, tôi cần mấy đôi, trời trở lạnh rồi”… Những câu hỏi tới tấp từ nhóm người vô gia cư góc đường Beacon và James M. Wood, Los Angeles, khi vừa thấy chiếc xe của soeur Thúy Vũ dừng lại.

Soeur Thúy Vũ (phải) gọi mọi người ra và trao tận tay những món ăn hay vật dụng cho người vô gia cư (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Soeur Thúy Vũ là nhân viên làm việc tại Good Shepherd Center (GSC) – một chương trình của trung tâm Catholic Charities – nơi phục vụ bác ái cho người nghèo thuộc Tổng Giáo Phận Los Angeles.

Phục vụ hết tình, hết mình

Hoạt động của GSC chỉ dành cho nữ giới, với khu nhà Languille và Hawkes Residence; và giúp đỡ cưu mang phụ nữ có con nhỏ ở Farley Residence và Angel Guardian Home. GSC không có người vô gia cư là nam giới.

Nhiệm vụ của soeur Thúy là tìm nguồn thực phẩm và các vật dụng cần thiết cho người vô gia cư ở Languille, hiện có 30 phụ nữ đang cư ngụ. Không những thế, soeur còn đến những khu vực có người vô gia cư sống ngoài đường để tặng đồ ăn, thức uống, và những vật dụng cần thiết khác. Đó là chương trình Outreach Program.

“Trước kia mỗi khi ra ngoài, tôi thường đi với một thiện nguyện viên, nhưng thời đại dịch COVID-19, tôi chỉ đi với Chúa,” soeur Thúy trả lời khi chúng tôi hỏi soeur có sợ không, những lúc gặp những người vô gia cư ngoài đường.

Soeur kể: “Khi ra đường cho thức ăn, đôi khi cũng gặp khó khăn và nguy hiểm, nhưng cứ mỗi lần lên xe, tôi lại nhủ lòng ‘Chúa ơi đi với con nhé.’ Mỗi khi gặp người vô gia cư, tôi hay nói với họ: ‘Tôi thấy Chúa trong bạn’ (I see God in you). Vì thế, nếu có ai muốn gây sự với mình, chính những người vô gia cư đứng ra bảo vệ tôi.”

Có lần đến khu vực người vô gia cư sống ở vỉa hè, soeur Thúy thấy có nến và hoa ở một góc trên đường số 6. Một phụ nữ nhìn thấy soeur, chạy ra nói: “Soeur này, tôi biết soeur thương chúng tôi, chúng tôi cũng thương các soeur, nhưng thôi, soeur đừng xuống đây nữa, vì nguy hiểm lắm. Ngày hôm qua ở chính chỗ này có người bị chặt đầu đó!”

Soeur Thúy kể lại với chúng tôi như vậy, và nói soeur không sợ, cả khi biết một ngày nào đó, soeur sẽ chết ở ngoài đường. Và cứ thế, soeur gắn bó với người vô gia cư ở ngay trung tâm thành phố Los Angeles đã 17 năm qua.

“Mình làm việc với tinh thần phục vụ. Mà đã phục vụ thì phải hết tình, hết mình. Tôi thương họ. Họ thương tôi. Nên tôi chỉ biết làm hết sức mà thôi,” soeur nói.

Soeur Thúy Vũ (phải) đem thức ăn đến cho người vô gia cư ở Los Angeles. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Đại dương cần nhiều giọt nước

Theo soeur Anne Lành Trần, giám đốc GSC, mấy chục năm về trước, ở Los Angeles không có nhiều người vô gia cư như hiện nay. Nhưng từ khi ấy, GSC đã mang sứ vụ tông đồ, là giúp người phụ nữ đơn thân và con cái của họ, để họ có thể vượt qua khó khăn, và tự lập. Nghĩa là, trung tâm sẽ giúp người từ chỗ không nhà cho đến lúc họ tự tìm được việc làm và có chỗ ở ổn định.

Soeur Lành là người lập ra chương trình Outreach Program, soeur Thúy chính là hình ảnh của soeur Lành cách đây hơn 30 năm. Khi ấy, soeur Lành cũng mỗi tuần ba lần, đem thức ăn, quần áo, vật dụng cần thiết cho người vô gia cư. Soeur làm công việc này từ năm 1985 đến năm 2002.

Nhưng mục đích chính của trung tâm không phải đi “nuôi” người vô gia cư ở ngoài đường, mà là đi gặp gỡ, tiếp xúc, và khuyến khích họ về trung tâm để ở.

Soeur Anne Lành Trần, giám đốc Good Shepherd Center. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Khóe mắt của soeur Lành rơm rớm nước mắt khi nhắc tới những người sống ở ven đường: “Lúc gặp những người vô gia cư nằm trong thùng tre, mở ra mới biết họ bị bệnh, tôi liền chở đến nhà thương.”

Rồi gương mặt người nữ tu lại sáng lên, khi kể về một trong những người từng được soeur giúp. Cô ấy là “con nghiện” rất trẻ. Khi được soeur thuyết phục về trung tâm ở, rồi đi cai nghiện, cô quay trở lại làm việc cho trung tâm cả chục năm, cho đến khi nghỉ hưu.

“Mấy chục năm gắn bó với người vô gia cư, niềm vui nhất của tôi là thuyết phục được ai đó về trung tâm ở,” soeur Lành cho biết. “Nhiều người ở ngoài đường rất lâu, sau một, hai năm chúng tôi kiên trì thuyết phục, họ bằng lòng về trung tâm. Những lúc như thế, tôi vui lắm!”

Từ năm 2002 đến 2010, soeur Lành nhận nhiệm vụ làm Tổng Phụ Trách Hội Dòng Mến Thánh Giá Los Angeles, trước khi quay trở lại làm giám đốc GSC cho đến nay.

Soeur Anne Lành Trần thăm hỏi người vô gia cư năm 1985. (Hình: Good Shepherd Center cung cấp)

“Trạm dừng chân” của những cô gái, bà mẹ và trẻ em không nhà

Theo soeur Lành, hằng năm, các cơ sở của GSC giúp được từ 700 đến hàng ngàn phụ nữ độc thân hoặc bà mẹ đơn thân, cùng với cả trăm trẻ em là con cái của những bà mẹ này.

Gặp chúng tôi trong khu nhà Farley Residence, cô Canelis Monero, 35 tuổi, tâm sự: “Mẹ con tôi ở đây được các nữ tu giúp đỡ nhiều lắm. Không kể nơi ăn, chốn ở, các soeur còn giúp liên lạc các nơi để con cái tôi được chăm sóc sức khỏe rất tốt. Hai đứa còn được vô trường học đàng hoàng. Ở đây, tôi cảm thấy rất yên lành.”

Mới 19 tuổi, cô Nubia Solano đã là một “bà mẹ đơn thân.” Cậu bé con của cô Solano sắp tròn 2 tuổi. Hai mẹ con hiện đang được các nữ tu chăm sóc chu đáo.

Cô Solano nói: “Gia đình tôi ở Nebraska. Tôi cũng có vài người thân ở California, nhưng không muốn nói chuyện với họ. Đó là lý do tôi vào đây. Hiện tại tôi đang kiếm nhà để ổn định trước, rồi mọi chuyện tính sau. Ở đây tôi cũng có quen được với mấy chị. Họ rất dễ thương.”

Cô Nubia Solano và con trai 2 tuổi đang được Good Shepherd Center cưu mang. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Cô Karla Torres, nhân viên của GSC, cho biết: “Tôi thấy thương cảm những bà mẹ đơn thân vô cùng, nhưng cũng thích thú để làm công việc giúp người này.”

Cô Torres làm việc tại GSC được ba năm, và cho biết sẽ gắn bó với công việc này lâu dài, vì thích tiếp xúc và giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội, là phụ nữ và trẻ em.

Theo quy định, những người vô gia cư sống ngoài đường, nếu đồng ý vào trung tâm, sẽ được tư vấn riêng từng người, cho đến khi họ có được việc làm và nhà ở ổn định.

Soeur Trần Diễm Mai là người phụ trách việc phỏng vấn và tư vấn, cũng như theo dõi từng trường hợp từ khi người vô gia cư vào trung tâm cho đến khi họ có cuộc sống ổn định.

Theo soeur Mai, những người vô gia cư cũng là người… vô sản, chẳng có bất cứ thứ gì. Trung tâm cũng không có gì để cho họ, trừ chỗ trú chân, thức ăn và vật dụng trong nhà. Nhưng GSC lại có những đối tác khác, hoặc các chương trình của chính phủ để giới thiệu cho họ đi học, tìm việc làm và nhà cửa.

“Đa số những phụ nữ này đều không có chuyên môn và học dở dang, có vấn đề về gia đình, bỏ nhà đi khi còn rất trẻ. Chúng tôi gửi các cô đến các chương trình huấn huyện việc làm, tôi cũng khuyến khích các cô trở lại trường để hoàn tất chương trình trung học. Đó là trình độ tối thiểu để các cô đi xin việc. Sau khi có việc làm ổn định, họ mới nghĩ đến việc học thêm chuyên môn.”

Cô Karla Torres, nhân viên của Good Shepherd Center. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Soeur Mai cho biết, hơn 80% các cô gái vô gia cư đến trung tâm, lập gia đình và đổi đời. Nhiều cô gái trẻ “có vấn đề” với gia đình, sau khi được các nữ tu đứng ra hòa giải, lại trở về với cha mẹ.

Nhưng không phải ai vô gia cư cũng không có chuyên môn hoặc ít học. “Có người từng là bác sĩ, y tá, họ bị mất việc, hoặc gặp khủng hoảng trong cuộc sống, nên trở thành người vô gia cư,” soeur Mai nói. “Những người này gặp cơ hội vào đây với chúng tôi, họ đứng lên dễ dàng lắm.”

Nhưng những người như soeur Mai nhắc tới không nhiều. Và vì thế, ngoài đường vẫn là “nhà” của nhiều người vô gia cư.

Soeur Trần Diễm Mai. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Những giọt nước giữa đại dương

Vậy trung tâm sẽ lấy kinh phí ở đâu để giúp người vô gia cư? Soeur Lành cho biết: “Trước nay trung tâm hoàn toàn tự lập và nhờ đóng góp của các cá nhân, tổ chức, hội đoàn. Hằng năm chúng tôi gửi thư đi các nơi, ít nhất vào hai dịp, Thanks Giving và Christmas, cùng Mother’s Day. Sau này trung tâm có ký hợp đồng với thành phố và quận hạt, ba năm một lần, được chính phủ trợ cấp phần lớn kinh phí.”

Nhưng có vẻ như “muối bỏ bể” khi số người cần được giúp đỡ khá nhiều.

Theo soeur Lành, toàn bộ nhân viên ở GSC có trên dưới 40 người, gồm nhân viên làm toàn thời gian và bán thời gian.

Với người vô gia cư, vì theo quy định họ chỉ được ở trong một thời gian nhất định, sau đó sẽ được giúp kiếm việc làm và rời đi. Kẻ đi, người đến. Cứ thế, trung bình mỗi năm GSC giúp cho hàng ngàn người.

Soeur Thúy Vũ thoăn thoắt đến tận nơi người vô gia cư sinh sống bên đường. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Nhưng một thực trạng hiện nay là đa số người vô gia cư vẫn thích sống ngoài đường, cho được tự do. Trong số họ có người tốt, có người không phải xấu, nhưng gì họ quá đói, thì làm bậy, ngay cả phải đi ăn cắp.

“Khi nhận được thực phẩm, có người ngồi ăn ngấu nghiến, xong hỏi: ‘Soeur thấy tui ăn giống heo không? Là vì ba ngày nay tôi không có gì bỏ bụng. Cảm ơn soeur, nếu không có soeur, hôm nay tôi lại phải đi ăn cắp.’ Nghe họ nói thế thì mình rất thương,” soeur Thúy kể.

Soeur Lành cho rằng những việc của các nữ tu ở đây là, “nhỏ như giọt nước.” Nhưng như lời Mẹ Theresa: “Đúng là những gì chúng ta thực hiện chỉ là một giọt nước giữa đại dương. Nhưng nếu thiếu nó, đại dương sẽ thiếu một cái gì đó.”

Chính vì thế, soeur Lành nói: “Nếu nhiều người làm, sẽ cứu được nhiều người hơn.”

Và sứ vụ của các nữ tu ở Good Shepherd Center sẽ không bao giờ kết thúc, khi vẫn còn người vô gia cư sống vất vưởng bên đường. [qd]

—–
Liên lạc tác giả: doantrang@nguoi-viet.com

Tâm Sự Một Đảng Viên : Ai giải phóng ai?

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Mac Phi Hoang  

Tâm Sự Một Đảng Viên

Tôi đã biết mình lầm đường lạc lối

Từ sau cái ngày “giải phóng” Miền Nam

Một mùa xuân tang tóc bảy mươi lăm

Đi giữa Sài Gòn, tôi nghe mình thầm khóc

Tôi khóc Miền Nam tự do vừa mất

Và khóc cho mình, chua xót đắng cay

Nửa đời người theo đảng đến hôm nay

Tưởng cứu nước đã trở thành tội ác

Bởi tôi quá tin nghe theo lời bác

Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin

Là nhân phẩm, là lương tri thời đại

Rằng tại Miền Nam, nguỵ quyền bách hại

Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn

Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn

Đang rên siết kêu than cần giải phóng

Tôi đã xung phong với bầu máu nóng

Đi cứu Miền Nam ruột thịt nghĩa tình

Chẳng quên mang theo ký gạo để dành

Biếu người bà con trong nầy túng thiếu

Người dân Miền Nam thật là khó hiểu

Nhà khang trang bỏ trống chẳng còn ai

Phố phồn hoa hoang vắng tự bao giờ

Giải phóng đến sao người ta chạy trốn?

Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng

Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin

Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình

Trước thành phố tự do và nhân bản

Tôi tìm đến người bà con trong xóm

Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi

Kí gạo đem theo nay đã mốc xì

Tôi vội vã giấu vào trong túi xách

Anh bà con tôi- một ngươi công chức

Nét u buồn cũng cố gượng làm vui

Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ

Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ

Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo

Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi

Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về

Một chút tình người bà con Nam bộ”

Trên đường về, đất trời như sụp đổ

Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam

Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm

Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.

http://fdfvn.wordpress.com

May be an image of 3 people, monument, outdoors and text that says 'BIERE BEER Ai giải phóng ai?'

NGƯỜI MẸ GIÀ BỊ LẪN…!

NGƯỜI MẸ GIÀ BỊ LẪN…!

Cuối tuần, con trai cả tạt qua biếu mẹ hộp sữa. Mẹ đang hỏi:

 “Sữa gì đó…, mẹ uống được không, đó có mắc lắm không con…?” 

Chưa nghe rõ lời mẹ đang hỏi chưa dứt câu, con trai đã lao ra xe:

“Thôi thôi… con bận lắm, con đi đây, mẹ cứ uống đi…, sữa tốt đó!” 

Giữa tuần, con gái ghé, cô thảy cho mẹ ký táo Mỹ, vừa vào nhà đã quát ầm ĩ: “Mẹ ơi… sao mẹ bầy hầy vầy, lần nào còn đến cũng phải dọn.” 

Mẹ nói: “Mẹ muốn mua cái ấm nước siêu tốc mới vì cái ấm này mua lâu rồi, giờ đã cũ lắm”  

Con gái lại lớn tiếng: “Mẹ lại lẫn nữa rồi. Ai bảo mẹ cái ấm này mua lâu rồi.” Mẹ im bặt, nhìn con gái dọn dẹp mà thái độ có vẻ càu nhàu, hành động không được nhẹ nhàng. Mẹ lại rụt rè bảo: “Cái ấm nó cũ…” Con gái đùng đằng tiếp: “Thôi, mẹ già yếu mẹ ngồi yên cho con nhờ, có mua ấm mẹ cũng đâu có dùng.”  

Nói đoạn con gái đi ra xe, còn lầm bầm: “Người ta đã bận còn nhì nhằng phát mệt…!”.

Có lần mẹ già buột miệng: “Nhà này mẹ thương nhất thằng Út, mẹ mong gặp thằng Út nhất.” Các con hậm hực bảo: “Mẹ cưng thằng Út nhất, muốn gặp nó nhất là đúng rồi. Nó không cho mẹ được đồng nào bánh nào, vậy mà mẹ vẫn thích và thương nó nhất…!” 

Nhưng các con của mẹ không hiểu lòng mẹ…, bởi mẹ già thích gặp Út nhất là vì mỗi lần Út đến thăm mẹ, tay chẳng mang gì làm quà nhưng nó luôn thân yêu bóp vai mẹ, kể cho mẹ nghe chuyện của nó, hỏi thăm bao điều về mẹ về các anh chị, nó luôn sà xuống cạnh bên mẹ, vui vẻ bảo: “Mẹ có chuyện gì vui kể con nghe đi…!” Vậy là mẹ ngồi kể liên tu bất tận chuyện xưa chuyện nay, chuyện nọ rồi chuyện kia, vừa kể xong, mẹ quên rồi kể lại… Út chỉ ngồi chăm chú nghe, thỉnh thoảng ghẹo: “Ơ, chuyện này mẹ vừa kể rồi, mẹ kể chuyện khác đi…” 

 Anh vẫn ngồi vài tiếng đồng hồ nghe mẹ kể chuyện, gật gù và mỉm cười. Mẹ kể chuyện đến mệt, rồi anh mới xin phép ra về…

Quà của con cả, con gái chất đống mẹ chẳng dùng vì tuổi già sức yếu đâu ăn uống được gì nhiều. Mẹ cũng không dám nhiều lời vì sợ con bảo là mẹ đã lẫn…, quên trước quên sau…

Mẹ chỉ thích gặp Út…, nó vì món quà quý nhất của mẹ lúc này vì có một người thân chịu ngồi lắng nghe và trò chuyện với mình…! 

Rất nhiều quãng thời gian còn lại, khi vắng các con, mẹ chỉ biết ngồi nhìn bức tường trắng lặng câm. Vì chị giúp việc cũng uể oải với cái lẫn khi tuổi tác của mẹ đã cao, mỗi khi nghe mẹ cất tiếng…, là cô ấy bỏ đi mất…

Đôi lúc mẹ buồn… mẹ nhớ các con, mẹ nhớ chuyện xưa…, rồi mẹ lẩm bẩm nói chuyện một mình như đang nói cho chính mẹ nghe…! 

Quà cho người già, không gì quý giá hơn là ân cần chia sẻ, chịu ngồi xuống trò chuyện và lắng nghe của từng đứa con mà mẹ đã sinh ra, đã cưu mang, dạy dỗ nuôi nấng cho đến ngày khôn lớn…! 

Sưu tầm

From: TU-PHUNG

Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu (1873-1897)

01/10/2021

1 Tháng Mười

Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu
(1873-1897)

“Tôi thích sự buồn tẻ của việc hy sinh âm thầm hơn là những trạng thái xuất thần. Nhặt một cây kim vì tình yêu cũng có thể hoán cải một linh hồn.” Ðó là những lời của Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu, một nữ tu dòng Camêlô thường được gọi là “Bông Hoa Nhỏ,” người đã sống một đời âm thầm trong tu viện ở Lisieux, nước Pháp. Và quả thật, những hy sinh âm thầm của ngài đã hoán cải các linh hồn. Không mấy vị thánh của Thiên Chúa nổi tiếng như vị thánh trẻ trung này. Cuốn tự truyện của ngài, Chuyện Một Linh Hồn, được cả thế giới đọc và yêu chuộng. Tên thật của ngài là Thérèse Martin, gia nhập tu viện năm 15 tuổi và từ trần năm 1897 lúc 24 tuổi.

 Ðời sống tu viện dòng kín Camelô thật buồn tẻ và phần lớn chỉ gồm sự cầu nguyện và làm các công việc trong nhà. Nhưng Thánh Têrêsa có được sự hiểu biết sâu sắc thánh thiện để chuộc lại quãng thời gian ấy, bất kể có nhàm chán đến đâu. Ngài nhìn thấy sự đau khổ cứu chuộc trong sự đau khổ âm thầm, sự đau khổ là đời sống tông đồ của ngài. Thánh nữ nói ngài gia nhập tu viện Camêlô là “để cứu vớt các linh hồn và cầu nguyện cho các linh mục.” Và không lâu trước khi chết, ngài viết: “Tôi muốn dùng thời gian ở thiên đàng để làm những điều tốt lành cho trần gian.”

Vào ngày 19-10-1997, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh, là người phụ nữ thứ ba trong Giáo Hội được công nhận về sự thánh thiện và về ảnh hưởng tinh thần của những gì ngài viết.

Lời Bàn

Thánh Têrêsa có nhiều điều để dạy chúng ta về quan niệm, về thể diện, về cái “tôi.” Chúng ta bị nguy hiểm khi nghĩ nhiều về bản thân mình, bị đau khổ khi nhận thức những nhu cầu cần phải thỏa lấp, dù biết rằng không bao giờ chúng ta thỏa mãn. Thánh Têrêsa, cũng như bao vị thánh khác, đã tìm cách phục vụ người khác, thực hiện những gì không phải cho chính mình, và quên mình trong những hành động âm thầm của tình yêu. Ngài là một trong những thí dụ điển hình của sự mâu thuẫn trong phúc âm mà khi hiến thân là khi được nhận lãnh, khi chết đi là khi vui sống muôn đời.

Sự bận rộn với bản thân đã tách biệt con người thời nay với Thiên Chúa, với đồng loại và thực sự xa rời với bản thể. Chúng ta phải học cách quên mình, để suy niệm về một Thiên Chúa là Ðấng mời gọi chúng ta thoát ra khỏi sự ích kỷ để phục vụ người khác. Ðây là cái nhìn sáng suốt của Thánh Têrêsa Lisieux, và ngày nay cái nhìn ấy có giá trị hơn bao giờ hết.

Lời Trích

Thánh Têrêsa phải chịu đau khổ vì bệnh hoạn trong suốt cả cuộc đời. Khi còn nhỏ, ngài phải trải qua ba tháng đau từng cơn, mê sảng và ngất xỉu. Sau đó, dù yếu ớt nhưng ngài làm việc vất vả trong phòng giặt quần áo và phòng ăn của tu viện. Về phương diện tâm linh, ngài phải trải qua một thời kỳ tăm tối khi ánh sáng đức tin dường như tắt ngúm. Năm cuối cùng của cuộc đời, ngài chết dần vì ho lao. Tuy nhiên, không lâu trước khi chết vào ngày 30-9, ngài thì thào, “Tôi không muốn bớt đau khổ.”

Thực sự ngài là một phụ nữ dũng cảm, không rên rỉ vì bệnh tật và lo âu. Ðây là một người nhìn thấy sức mạnh của tình yêu, mà sự biến đổi của Thiên Chúa có thể thay đổi mọi sự–kể cả sự yếu đuối và bệnh tật–thành sức mạnh phục vụ và cứu chuộc cho người khác. Không lạ gì ngài là quan thầy của công cuộc truyền giáo. Còn ai có thể thay đổi thế giới ngoài những người ôm ấp sự đau khổ của mình với tình yêu?

Trích từ NguoiTinHuu.com

TẠ LỖI CÙNG CON

May be a black-and-white image of 1 person, child and standing
Miền Nam Việt Nam – Trước 1975  · 

Quan Duong   

TẠ LỖI CÙNG CON

Trong hình là vợ và đứa con gái đầu lòng của tôi chụp vào năm 1977. Vợ tôi từ một cô nữ sinh khuê các xinh đẹp của Trường Trung học Quang Trung Bình Khê Bình Định nhưng chỉ hai năm sau ngày 30/04/75 đã trở thành một cô thôn nữ nhìn già hẳn đi vì mỗi ngày phải ra ruộng và chiều về ôm con để đợi chồng mà không biết ngày tháng nào chồng mình được thả về.

Đứa bé trong hình tên Lục Bình Hạ Uyên. Tháng 5/75 khi tôi bị bắt vào trại lao động khổ sai của bên thắng trận thì Lục Bình lúc đó mới chỉ là bào thai năm tháng còn đang nằm trong bụng mẹ .

Tháng 9/75 Lục Bình được sinh ra đời trong lúc tôi mặc áo tù nhân phá rừng làm đường ở trại Đồng Găng thuộc tỉnh Khánh Hoà .

Tháng 4/76 vợ tôi ẳm con chưa đầy 7 tháng tuổi lặn lội đường xa đi thăm tôi ở Đồng Găng . Đó là lần đầu hai cha con tôi được nhìn thấy nhau . Gọi là nhìn thấy nhau vì đám cán bộ cai tù không cho phép tôi được ôm con mình .

Tháng 6/76 tôi được chuyển từ Đồng Găng ra trại A.30 Tuy Hòa . Mỗi một chiếc GMC là 50 tù binh ngồi chồm hổm chen chúc nhau . Phía trên là hai khẩu AK 47 chĩa thẳng với tư thế sẳn sàng nhả đạn nếu tụi tôi có động tịnh gì . Khi đi ngang thị trấn Ninh Hòa là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, nhìn qua thành xe tôi thấy lại những con đường mà mới ngày nào tôi còn cắp sách đi trên đó đến trường. Nhưng con đường gần gũi đến thế mà giờ đây chừng như xa vời vợi .

Tháng 12/77 vợ tôi ẳm Luc Bình thăm tôi lần nữa tại trại A30 . Lúc này Lục Bình đã biết đi chập chững và tôi được phép ôm con. Đó là lần duy nhất trong cuộc đời tôi được ôm con trong vòng tay . Nhìn vợ tôi xơ xác , nhìn Lục Bình ốm tong teo vì thiếu dinh dưởng lòng tôi đau như cắt mặc dù hình hài tôi cũng chẳng ra gì sau hai năm cuốc đất làm ruộng bất kể nắng mưa cùng những cơn đói triền miên

Tháng 4/78 tôi được đưa ra tổ nuôi heo của trại . Khu chăn nuôi nằm ngoài vòng rào . Công việc của tôi mỗi ngày đến tổ xay giả để sàng cám gánh về nấu cháo cho heo . Tôi có người bạn thân chí cốt tên Cao Điền ở trong tổ thợ mộc . Mỗi lân đi gánh cám tôi thường mon men đến tổ thợ mộc để tán dóc với hắn . Hai đứa thân nhau từ nhỏ sống cùng quê đi lính ngày, ở tù cùng chỗ cho nên tuyệt đối tin tưởng với nhau . Hai thằng thường nghe ngóng tin tức để thắp cho nhau hy vọng là có một ngày nào đó thoát được ra ngoài . Vào một ngày như mọi lần khi đang nói chuyện thì Cao Điền buột miệng hỏi tôi

– con mày sao bị mất vậy

Tôi nghe như đất trời xung quanh sụp đổ . Tôi hỏi ngược lại hắn

– ai nói với mày

Hắn biết mình vừa hớ miệng nhưng đã lỡ nên trả lời

– bữa trước bà xã tao thăm nuôi có nói và gia đình dặn là giấu mày vì sợ mày ngã quị

Hắn còn nói thêm

– con mày mất vào ngày mồng 10 tết

Tính ra từ ngày con tôi mất đến ngày tôi biết tin là bốn tháng . Tôi không nói tiếng nào lẳng lặng gánh hai thùng cám trở về tổ nuôi heo. Ngang đám rẫy mì thấy không có ai, tôi chui vào đó ngồi và nước mắt không biết từ đâu tuôn xối xả . Tôi khóc ngon lành

Mới ngày nào cuối tháng 4/75 trên đường di tản của một chiến binh thất trận trong lòng tôi có rất nhiều điều muốn gửi gấm đến con mình . Tôi định mai này khi con tôi ra đời và lớn lên tôi sẽ kể cho con mình nghe lịch sử của một đất nước vừa bị xoá tên trên bản đồ đầy đau thương và bi tráng . Nay điều đó đã không còn ý nghĩa nữa vì con tôi đã bỏ ra đi . Rồi tôi liên tưởng đến tiếng búa đóng đinh lên nắp hòm nhốt kín con mà không có tôi bên cạnh . Thắt lòng .

Đất nước tôi đã không chu toàn trách nhiệm để gìn giữ và con . Xin tạ lỗi

TẠ LỖI CÙNG CON

Thôi nhé con không có ba đưa tiễn

Ngày con đi về cuối trời miên viễn

Trời cũng buồn ảm đạm mưa tuôn

xám cả đất trời xám cả Qui Nhơn

Con lặng lẽ không một lời than thở

Rớt lạnh lùng một cơn bão nhỏ

Từ quê nhà theo bước con đi

Ngày xa con xiềng xích cột chân tay

Trong song sắt ba ngậm hờn vong quốc

Viết sẳn cho con một tờ di chúc

Con đi rồi ba biết gửi cho ai

Nụ hôn đầu theo gió gửi vào nôi

thành nụ cuối theo mây về nẽo vắng

Thế là hết. Nay đã thành quá vãng

Tờ di chúc buồn theo năm tháng không quên

Những yêu thương không kịp gửi về con

Những rướm máu trong lòng ba quặn thắt

Con có trách sao ba không về vuốt mắt

Không ôm con ủ lạnh dưới trời mưa

Chỉ một lần thôi cũng đủ ấm con thơ

Chỉ một lần thôi là điều con ước nguyện

Những tiếng búa thay tiếng lòng đau điếng

Gọi ba về khẩn thiết con mong

Mà ba thì đang quị ngã bên đường

Vẳng bên tai tiếng đinh trên nắp hòm tê tái

Thế là hết đâu mong gì trở lại

Những nhát búa buồn vọng mãi trong đêm

Theo thời gian ôm nỗi nhớ gọi tên

Con có trách ba cúi đầu nhận tội

Thế là hết ba đã không trở lại

Cho trọn tình con dù chỉ một lần

Ngày con đi ba quị té bên đường

Tay run run đánh rơi tờ di chúc

Trại A 30 1979

Quan Dương

Chuyện để đời

Le Tu Ngoc

Chuyện để đời

Chuyện xảy ra trong buổi lễ tốt nghiệp cho các Bác sĩ ở Anh năm 1920, có sự tham dự của Thủ tướng Anh thời đó. Trong buổi lễ, như thông lệ, trưởng khoa đứng lên chia sẻ kinh nghiệm với những sinh viên mới ra trường. Lần này ông kể về một sự cố đã xảy ra với ông:

“Lần ấy đã quá nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng gõ cửa nhà mình. Khi mở ra tôi thấy một phụ nữ lớn tuổi đang hoảng hốt và bà nói với tôi: “Ôi bác sĩ ơi, con tôi đang bệnh rất nghiêm trọng, xin ông hãy cứu nó”!

Tôi vội chạy ra theo bà ta đến nhà họ mà không kịp nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra. Hôm đó là một đêm giông bão và rất lạnh, trời mưa như trút, lái xe rất nguy hiểm nhưng tôi không kịp lo cho mình nữa.

Nhà bà ta ở ngoại ô Luân Đôn, và sau một hành trình khó khăn, chúng tôi mới tìm đến nơi. Bà sống trong một căn phòng nhỏ với con trai. Khi bước vào phòng, tôi thấy cậu bé nằm trên giường kê ở góc phòng và đang rên rỉ vì đau đớn.

Sau khi tôi khám và kê đơn cho đứa trẻ người mẹ đưa cho tôi một ít tiền. Tôi từ chối và nhẹ nhàng nói với bà rằng tôi không thể nhận vì họ cần chúng hơn tôi nhưng tôi sẽ chăm sóc con bà cho đến khi cậu bé khỏe lại. Trưởng khoa kết thúc bài diễn văn bằng câu:

“Đây chính là cách hành nghề y thực sự vì trở thành Bác sĩ tức là đến gần nhất với Lòng Nhân Ái và là một trong những nghề nghiệp gần gũi nhất với Thiên Chúa”!

Ngay khi Bác sĩ trưởng kết thúc bài phát biểu của mình, Thủ tướng đã bước ra khỏi chỗ ngồi và tiến lên bục giảng.

Ông nói với Trưởng khoa: “Hãy cho phép tôi được hôn tay ông. Tôi đã tìm ông suốt hai mươi năm nay vì tôi chính là đứa trẻ mà ông đã cứu trong câu chuyện vừa rồi. Ôi, mẹ tôi sẽ hạnh phúc và yên lòng yên nghỉ. Trước khi lâm chung bà đã tha thiết yêu cầu tôi đi tìm ông để cảm tạ lòng tốt của ông với chúng tôi khi chúng tôi rơi vào cảnh nghèo khổ”.

Đứa trẻ đáng thương ngày nào chính là Sir Lloyd George, người đã trở thành Thủ tướng Anh!

#Gota chia sẻ từ FB Luong Nguyen

***

Ảnh Wikipedia

David Lloyd George

May be an image of 1 person