CÀNH LÁ PHẢN BỘI (Mt 26,14-27,66) 

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh hoạ Rembradt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh “Ba Thập Giá”.  Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu trổi lên một cách ngạo nghễ.  Dưới chân thập giá là cả một đám đông mà gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét… Tác giả như muốn nói rằng: không trừ một người nào mà không dính líu vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.

 Nhìn kỹ vào đám đông, người ta thấy có một gương mặt như mất hút trong bóng tối, nhưng một vài nét cũng đủ cho các nhà chuyên môn chuẩn đoán rằng đó chính là khuôn mặt của danh họa Rembrandt, tác giả của bức tranh này.

 Tại sao giữa đám đông của những kẻ đằng đằng sát khí khi tham dự vào cuộc thảm sát Chúa Giêsu, Rembradt, nhà danh họa lại chen vào khuôn mặt của mình?

 Câu trả lời duy nhất mà người ta có thể đưa ra để giải thích về sự hiện diện của tác giả giữa đám người lý hình: đó là ý thức tội lỗi của chính ông.  Rembrandt muốn thú nhận rằng: chính tội lỗi của ông đã đóng góp vào việc treo Chúa Giêsu lên thập giá.  Và qua sự có mặt của ông, tác giả cũng muốn nói với mỗi người chiêm ngắm bức tranh rằng, họ cũng dự phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.

 Anh chị em thân mến,

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây hai ngàn năm.  Phêrô đã chối bỏ Ngài.  Philatô đã rửa tay để chối bỏ trách nhiệm của ông.  Những người Do Thái đã cuồng tín kêu gào đóng đinh Ngài vào thập giá.  Các binh sĩ La Mã đã đánh đập, hành hung Ngài và cuối cùng treo Ngài lên thập giá.

 Nhưng dưới cái nhìn của người có niềm tin, thì cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một mầu nhiệm.  Mầu nhiệm bởi vì chúng ta không thể hiểu được tại sao Con Một Thiên Chúa đã phải trải qua một thân phận đớn đau như thế?  Mầu nhiệm, bởi vì một cách nào đó, người có niềm tin cũng cảm thấy mình đã thực sự tham dự vào việc đóng đinh ấy.  Chúng ta tuyên xưng rằng Ngài đã chịu đóng đinh vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là chính do tội lỗi của chúng ta mà Ngài đã phải bị treo trên thập giá.  Tội lỗi của chúng ta ngày này, cho dù cách xa hai ngàn năm, vẫn là một chối bỏ, một tiếng reo hò, một xỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Ngài…

 Thử hỏi, nếu tôi là người đương thời có liên quan đến vụ án của Chúa Giêsu, tôi sẽ đứng trong nhóm người nào và với thái độ nào?

 Phải thú nhận rằng, tôi không dễ gì làm được như ông Simon thành Syrênê đã vác đỡ thập giá Chúa Giêsu.  Nhưng cũng đừng vội quả quyết rằng, tôi không thể đứng về phía đám quần chúng đả đảo Chúa, không thể là Phêrô chối Chúa, hoặc là nhóm tông đồ trốn chạy, hoặc là Philatô lên án người vô tội, hoặc là đám quân lính đánh đòn và đóng đinh Chúa.  Trái lại, kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy rõ ràng tôi rất yếu đuối, dễ đứng về phe kẻ mạnh thế, không dám can đảm bênh vực công lý và dễ dàng trung thành với Chúa trên môi miệng cũng như khi mọi sự đều xuôi chảy, nhưng lại phản bội Chúa dễ dàng trong hành động cụ thể và khi gặp nghịch cảnh, tương tự hành động của Giuđa!  Chúng ta không ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Ngài vẫn còn hấp hối cho đến ngày tận thế.

 Thưa anh chị em, với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, Tuần Thánh đã bắt đầu.  Đức Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua đem lại ơn cứu độ cho loài người.  Bề ngoài, cuộc tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông quần chúng nô nức phất cao cành lá “hoan hô Con Vua Đavit” có vẻ một cuộc toàn thắng vang dội.  Thực ra, đây là một cuộc mở màn Thương Khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó.  Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của quần chúng đã chất chứa một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng trấn Philatô, trong tiếng kêu gào và những bàn tay nắm chặt đưa lên: “Đả đảo!  Đóng đinh nó đi!  Đóng đinh nó vào thập giá!”.

 Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm.  Đi theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô chúc tụng là điều dễ dàng.  Nhưng tiếp tục đi theo Ngài khi Ngài đã bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó khó hơn nhiều.  Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba.  Nếu Kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến.  Con đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buồn.  Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành đô Giêrusalem và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.

 Trong những ngày thánh này, chúng ta phải tìm thời giờ đọc lại chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.  Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết… Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu.  Tình yêu vô cùng lớn của Đức Giêsu đối với Chúa Cha và nhân loại.  Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

 Càng suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

 Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’ của – R. Veritas

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI – Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

 Cuộc sống con người đôi lúc quá hối hả, ồn ào và bận rộn với mọi nhu cầu của cơm-áo-gạo-tiền và nhiều thứ khác, nên lắm lúc người ta chẳng còn giờ để lặng, để lắng và để nghe tiếng lòng mình.  Lắng nghe để thẩm, để thấu và để đi vào chiều sâu nội tâm của cõi lòng.  Lặng để chìm sâu vào và để tìm ra ý nghĩa hiện hữu của thân phận con người.  Người ta thường đòi hỏi mình phải được nói, được bày tỏ và được nói nhiều hơn để nghe. 

Ta đòi hỏi, nói phải có người đáp, hỏi phải có câu trả lời, phải có phản hồi thì mới thỏa mãn con người bản năng tự nhiên của mình.  Nhiều lúc người ta bị cuộc sống lôi cuốn vào những vòng xoáy của sự hấp dẫn bên ngoài, lao vào những nhộn nhịp của hào nhoáng trước mắt và rồi, khi không đáp ứng được những thỏa mãn đó, người ta dễ mất đi niềm tin vào cuộc sống, đánh mất đi giá trị và ý nghĩa của sự hiện hữu.  Người ta dễ đi vào ngõ cụt và nhìn cuộc đời với cặp mắt tiêu cực, phủ đầy cám dỗ và không lối thoát.  

Khác với con người, Thiên Chúa là Đấng yêu thích sự cô tịch và Ngài lại nói trong sự thinh lặng.  Sau những lần bận rộn với sứ vụ của mình, Đức Giêsu thường lui vào trong cô tịch, lên núi một mình để thầm thì, chuyện trò, để nguyện cầu cùng Thiên Chúa Cha.  Chính nơi sự thinh lặng đó, Ngài thường được kết hiệp một cách sâu xa với Chúa Cha và học lấy thánh ý Cha cho sứ mạng của mình. 

Với thân phận con người yếu đuối và đầy những lo toan, đôi lúc ta muốn chìm vào thinh lặng đôi chút, nhưng bên trong ta, tâm hồn ta còn đầy những vướng mắc, đầy những sóng gió đang vô vập bởi những lo lắng và hoang mang, của những sợ hãi và vô vọng.  Ta chưa thể lặng để lắng được, sóng gió trong cõi lòng ta vẫn còn cuồn cuộn của lối sống tìm kiếm để lấp đầy cho bản năng, tâm hồn ta vẫn còn ồn ào với những toan tính của cuộc sống tạm bợ này, khiến sóng lòng vẫn chưa thể ngưng và lặng được. 

Hãy cùng Giêsu trong chiều thứ Sáu Tuần Thánh này, đi vào một chiều sâu cô tịch và lặng chìm với Ngài trên đỉnh đồi Canvê hoang vu.  Lặng với Ngài để chiêm ngắm tình yêu và khám phá cùng đích của phận người là gì.  Dưới chân Thập Giá, hãy ghì chặt lấy chân Chúa Giêsu đang rỉ từng giọt máu, để kiếm tìm câu trả lời cho chính mình.  Ngài vẫn ghim chặt thân mình trên thập giá trong một sự tĩnh lặng tưởng chừng như vô vọng, nhưng kỳ thực “THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI” vĩ đại nhất của Thiên Chúa. 

Thiên Chúa nơi Đức Giêsu trên đồi Gôngôtha ấy, Ngài vẫn thinh lặng đến tột cùng, tưởng chừng như hoàn toàn bất lực trước sự dữ.  Trên đồi hiu mông quạnh đó, không một tiếng than khóc ỉ ôi thương tiếc Con Thiên Chúa vô tội, nhưng là sự thinh lặng đến nghẹt thở của sự vô ơn và trở mặt của con người.

 Nhưng sự thinh lặng của Thiên Chúa đó, không hề mở miệng than trách Thiên Chúa Cha và cũng không hề mở miệng lên án sự bất nhân, bất công và tội lỗi của con người. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trao ban ơn tha thứ, van nài Chúa Cha tha thứ cho con người “vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).  Là sự thinh lặng để Thiên Chúa cảm thông, chia sẻ phận người với nhân loại.  Là sự thinh lặng sâu thẳm để từng giọt máu giọt nước từ thánh thể Ngài thấm sâu vào tận cõi lòng của nhân gian, là để gột sạch và tẩy rửa mọi ô nhơ, tội lỗi của con người.  

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để chạm vào từng nỗi đau, từng vết thương đang rên rỉ than khóc của nhân loại, là để từng giọt nước mắt còn lăn trên gò má Ngài xoa dịu những nóng rát, cồn cào trong cõi lòng con người và để chữa lành những thương đau của kiếp người. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để máu và nước từ cạnh sườn Con Thiên Chúa trào tràn dội xuống và thấm vào lòng nhân loại, để xoa dịu những cơn đói cơn khát đang quằn quại rên siết và để ân sủng Thiên Chúa khỏa lấp sự trống rỗng trong cõi lòng con người. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trở nên sức mạnh cho ơn cứu độ và để giải thoát con người khỏi cảnh trầm luân của sự chết, mang lại sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu cho nhân loại. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để mở ra một cánh cửa mới, một lối đi mới cho con người, là khai thông ngõ cụt cho con người và để con người được tìm đến cùng đích là hạnh phúc cứu độ. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là từ cao trên Thánh Giá Ngài với xuống và đoái trông đến thân phận hèn yếu, tội lỗi của con người.  Là dang cánh tay ôm lấy trọn vẹn kiếp người và để cho con người được đi vào, được nên một và được kết hiệp vào thần tính với Thiên Chúa. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để cho Thiên Chúa có cơ hội và tự do đến với con người, chạm lấy trọn vẹn cùng khổ của con người và để con người được cảm nếm sự êm ái, dịu ngọt của Thiên Chúa. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để con người được lên núi và đi vào cô tịch, thoát ra những ồn ào của thế sự và buông bỏ những thứ không cần thiết, để làm no thỏa cơn đói sự thánh thiện của nhân loại. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là giúp con người lộ rõ được bản chất và sự trần trụi của chính mình, và cảm nhận được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa.  Để con người được sống vô biên vô diệt và đạt tới sự tự do bất diệt của chính Thiên Chúa. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để giao hòa Trời Cao với Đất Thấp, để nối kết lại tương quan giữa Trời với Đất-tương quan bị phá đổ bởi Ađam cũ và nhờ Ađam Mới, kéo Trời Cao xuống gần với Đất hơn, để Trời nhập thể và nhập thế, sống đồng kiếp phàm nhân với con người. 

Ngước nhìn thập giá, và Ngài vẫn lặng thinh – đó là câu trả lời cho mỗi chúng ta.  Ngài muốn ta chìm đắm trong cô tịch, cúi sâu lòng mình để khám phá giá trị và ý nghĩa qua từng biến cố của cuộc sống.  Ngài muốn ta học lấy sự thinh lặng và học cách đón nhận mọi sự trong thinh lặng để tìm đến cùng đích của kiếp người.  Bởi thinh lặng không có nghĩa là vô nghĩa, vô vọng; không là thất vọng, thất bại; không là chấm hết, kết thúc; nhưng là câu trả lời mở ra cho ta vô vàn lối thoát, cho ta sức mạnh để lớn lên trong ân sủng với Thiên Chúa. 

Trong những nghịch cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất, nghiệt ngã nhất, tuyệt vọng nhất mà con người phải đối diện, thì thinh lặng dường như là câu trả lời ý nghĩa hơn cả cho mỗi chúng ta.  Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại Chúa đó, Ngài vẫn ở đó và kiên trì chờ đợi ta.  Một Giêsu trần trụi trên thập giá vẫn âm thầm và lặng lẽ tiếp bước trong ta.  Lặng thinh trên thập giá, Đức Giêsu Kitô muốn ta tiếp tục khám phá chính mình, khám phá và cảm nếm sự ngọt ngào, tươi mát hòa lẫn sự bình an sâu thẳm trong thinh lặng.  Ngài mời gọi ta tiếp tục đi tìm ý nghĩa câu trả lời “Thinh Lặng” cả hôm nay, ngày mai và suốt cuộc đời ta. 

Cùng với Ngài bước lên đồi Gôngôtha của đời mình trong thinh lặng, để trên đỉnh đồi, ta được Ngài biểu lộ vinh quang phục sinh của Ngài cho cuộc đời ta. 

Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

From: Langthangchieutim

Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, / tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. (Is 42:3) – Cha Vương

Ngày Thứ 2 Tuần Thánh gần gũi với Chúa và tha nhân nhé. Xin bạn một lời cầu nguyện cho các Anh Chi Em dự tòng. Cho nhau và toàn thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 30/03/2026. (n3-4-23)

TIN MỪNG: Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, / tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. (Is 42:3)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống hằng ngày bạn không còn gì lạ với cảnh “xa thương gần thường”. Có những người rất vui vẻ, dễ dãi với người lạ nhưng lại khó khăn hùng hổ với người thương của họ. Thực chất, nguyên nhân là vì bên cạnh việc trân trọng các đức tính tốt, họ còn phải chịu đựng những điểm họ vốn luôn không thích của đối phương, mà khả năng chịu đựng của ai cũng có giới hạn. Chẳng hạn khi chung sống với nhau trong một thời gian dài, ai cũng sẽ khó chịu về những điểm không tốt của đối phương. Là con người, ai cũng có những điểm không hoàn hảo. Tuy nhiên với người xa lạ, do ít gặp và ít chung sống bên nhau, chính vì vậy mà họ dễ dàng bỏ qua những điểm vụn vặt. Một mối quan hệ gần gũi thì ngược lại, những thứ vụn vặt, những thói quen xấu, những điểm không hài lòng tích tụ lâu dài sẽ dần dần trở thành một sự khó chịu khi mỗi người vượt qua ngưỡng chịu đựng. Khi ấy là thời điểm “GIỌT NƯỚC TRÀN LY”, họ không còn chấp nhận được những điều đó và dẫn đến sự khó chịu trong cảm xúc rồi kéo theo những hành vi đối xử tệ bạc với nhau, chẳng hạn giận dỗi, cãi vã, mắng chửi,… Đối với những người xa lạ, vì phép lịch sự, họ phải giữ kẽ và kiềm chế hành vi không dễ dàng đối xử tệ bạc hoặc tỏ thái độ. Ngược lại, đối với người gần gũi quen thuộc họ không ngại nói thẳng, xả thẳng cảm xúc,… Chính vì thế những nỗi đau dần dần chạm vào nhau, khắc sâu vào ký ức và làm tổn thương nhiều hơn so với những niềm vui mang lại cho nhau. Đã gẫy rồi thì chặt luôn! Đó là cách xử lý của con người. Đối với Thiên Chúa thì khác, cây lau bị giập Ngài không nỡ bẻ gãy, tim đèn còn khói Ngài không nỡ dập tắt. Chúa thương bạn cả khi bạn đang lỗi lầm. Khả năng chịu đựng của Ngài không có giới hạn, lòng thương xót của Ngài bao la như biển hồ không có cảnh “GIỌT NƯỚC TRÀN LY”. Vậy bạn hãy đối xử với nhau như Chúa đối xử với bạn vậy nhé. Đừng để bản tính yếu đuối của  con người làm bạn xa tránh hoặc khinh thường những anh chị em đang lỡ lầm. Trái lại, xin Chúa cho mình biết luôn cầu nguyện, biết thông cảm và giúp đỡ anh em đứng dậy.

LẮNG NGHE: CHÚA là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? CHÚA là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa? / Khi ác nhân xông vào, định nuốt sống thân tôi, ai ngờ chính đối phương, chính những thù địch ấy, lại lảo đảo té nhào. / Dù cả một đạo quân vây đánh, lòng tôi chẳng sợ gì. Dù có phải lâm vào chiến trận, tôi vẫn cứ cậy tin. (Tv 27-1-3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con cải thiện và tăng thêm sức chịu đựng cho con trước những bất toàn của anh chị em. Đừng để con rơi vào cảnh hối tiếc vì cách đối xử không tốt với những người vốn xứng đáng được trân quý nhất.

THỰC HÀNH: Trong Tuần Thánh này mời bạn hãy thay đổi cách đối xử của mình với những người thân yêu của mình nhé. 

From: Do Dzung

*********************

Chúa Giàu Lòng Xót Thương- Trình bày: Thùy Loan

MỘT MIẾNG BÁNH, MỘT ĐÊM TỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Sau khi ăn miếng bánh, Giuđa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối!”.

“Miếng bánh đó là ơn cứu độ của chúng ta, bởi nó cho biết: Thiên Chúa làm mọi điều – tất cả mọi điều – để đến với chúng ta, cả trong giờ phút chúng ta từ chối Ngài!” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một nghịch lý đau lòng: ‘một miếng bánh’ được trao như dấu chỉ tình yêu đến cùng, và ngay sau đó là ‘một đêm tối’ được chọn lựa!

Không phải đêm đến trước, nhưng chính khi tình yêu bị khước từ, bóng tối mới bắt đầu. Trong bối cảnh bữa ăn Do Thái, việc trao miếng bánh là một cách “gọi tên tình bạn”; một cử chỉ ưu ái, gần gũi của những con tim đang yêu. Với Gioan, đây là một dấu chỉ mặc khải: Chúa Giêsu trao chính tình thân ngay vào giờ phút đen tối nhất. Gioan không nhấn mạnh “ai phản bội” bằng danh tính, nhưng bằng cách thức người ấy đón nhận tình yêu. “Tội lỗi là lòng yêu bản thân đến mức khinh miệt Thiên Chúa!” – Augustinô.

Chính tại điểm này, chỉ mấy lời, Gioan mở ra một chiều sâu lạnh người: “Sau khi ăn miếng bánh, Giuđa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối!”. Không một lời giải thích, không một giằng co nội tâm, chỉ là một hành vi đã hoàn tất. Ân sủng được trao trong cử chỉ thân tình nhất không cư trú được nơi người nhận. Giuđa không phản bội vì thiếu ánh sáng, nhưng ngay sau khi đã chạm đến ánh sáng, ông vẫn chọn quay đi. Đêm không đến sau miếng bánh, đêm đến từ lòng người – từ chính bước chân rời khỏi hiệp thông; đêm không đơn thuần là trời tối, nhưng là hệ quả của một chọn lựa: quay lưng với tình yêu, Giuđa không chỉ rời khỏi một bữa ăn, mà bước vào ‘một đêm tối’ của chính mình.

Nhưng câu chuyện ấy không dừng ở Giuđa, nó soi thẳng vào chúng ta. Không chỉ ‘một miếng bánh’, nhưng “bao lần bánh”. Không chỉ ‘một đêm tối’, nhưng “bao lần đêm”. Không thiếu ánh sáng – chỉ thiếu một chọn lựa ở lại trong ánh sáng. Không thiếu ân sủng – chỉ thiếu đổi thay, thiếu một trái tim biết ở lại; và chúng ta vẫn âm thầm đi ra. “Thiên Chúa không ngừng gọi; con người không ngừng đi lạc!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Dẫu đã chinh phục những con chiên lạc như Giakêu, Matthêu, Mađalêna…, Chúa Giêsu lại “thất bại” với chính người môn đệ cận thân – Giuđa. Nhưng đó không phải là thất bại của tình yêu, mà là mặc khải tận cùng của tình yêu. “Giuđa là một trong các giám mục đầu tiên, một “chiên lạc” hoàn hảo!” – Phanxicô. Không phải vì ông đi xa nhất, nhưng vì ông đã ở gần nhất, nhận nhiều nhất, mà vẫn khước từ. Chính ở đó, Chúa Giêsu không rút lại miếng bánh, không ngừng trao ban, không đóng cửa trước tự do con người. Lời Chúa mời gọi chúng ta chiêm ngắm một tình yêu bị phản bội; cùng lúc thúc giục bạn và tôi quay về. Tuần Thánh là thời gian thích hợp nhất! “Chúng ta muốn quay về khi chúng ta chán ngán thế giới hoặc đúng hơn, khi thế giới chán ngán chúng ta!” – Louis Bourdaloue.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, nhiều lần con ở lại mà lòng đã bước vào đêm; xin cứu con khỏi sự chai lạnh với ân sủng; và dù có thể đã ở ngoài đêm, xin kéo con về hiệp thông với Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần Thánh

Một người trong anh em sẽ nộp Thầy … Gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.       Ga 13,21-33.36-38

21 Khi ấy, đang dùng bữa với các môn đệ, Đức Giê-su cảm thấy tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố : “Thật, Thầy bảo thật anh em : có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” 22 Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai. 23 Trong số các môn đệ, có một người được Đức Giê-su thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Đức Giê-su. 24 Ông Si-môn Phê-rô làm hiệu cho ông ấy và bảo : “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai ?” 25 Ông này liền nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su và hỏi : “Thưa Thầy, ai vậy ?” 26 Đức Giê-su trả lời : “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy.” Rồi Người chấm một miếng bánh, trao cho Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt. 27 Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y. Đức Giê-su bảo y : “Anh làm gì thì làm mau đi !” 28 Nhưng trong số các người đang dùng bữa, không ai hiểu tại sao Người nói với y như thế. 29 Vì Giu-đa giữ túi tiền, nên có vài người tưởng rằng Đức Giê-su nói với y : “Hãy mua những món cần dùng trong dịp lễ”, hoặc bảo y bố thí cho người nghèo. 30 Sau khi ăn miếng bánh, Giu-đa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối.

31 Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su nói : “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. 32 Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.

33 “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy ; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái : ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được’, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.”

36 Ông Si-môn Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy ?” Đức Giê-su trả lời : “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được ; nhưng sau này anh sẽ đi theo.” 37 Ông Phê-rô thưa : “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ? Con sẽ thí mạng con vì Thầy !” 38 Đức Giê-su đáp : “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư ? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.” 


 

“Chúa Giêsu không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến”

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Đức Thánh Cha Lêô XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá: “Chúa Giêsu không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến”

Trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá – cuộc Thương Khó của Chúa, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô, với sự tham dự của đông đảo tín hữu.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha suy niệm về Chúa Giêsu như Vua Hòa Bình, Đấng mạc khải chính mình ngay giữa bối cảnh bạo lực đang bao trùm.

Khi Chúa Giêsu bước đi trên con đường Thập Giá, chúng ta cũng bước theo Ngài và chiêm ngắm cuộc khổ nạn mà Ngài đã mang lấy vì nhân loại như một món quà của tình yêu.

“Ngài vẫn kiên vững trong sự hiền lành, trong khi người khác đang khuấy động bạo lực,” Đức Thánh Cha nói. “Ngài trao hiến chính mình để ôm lấy nhân loại, ngay cả khi người ta giương gươm và gậy chống lại Ngài.”

Ngài nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu đến để mang lại sự sống và ánh sáng cho thế gian, ngay cả khi bóng tối và cái chết đang vây phủ lấy Ngài.

Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng Chúa Giêsu mong muốn dẫn đưa thế giới vào vòng tay của Chúa Cha và phá bỏ mọi rào cản ngăn cách con người với Thiên Chúa và với nhau.

Lặp lại nhiều lần danh xưng “Vua Hòa Bình”, Đức Thánh Cha nhấn mạnh các hành động của Chúa Giêsu trong cuộc Thương Khó như chứng tá cho khát vọng đem lại hòa bình của Ngài.

Khi một môn đệ chém đứt tai người đầy tớ của thượng tế, Chúa Giêsu đã truyền hãy xỏ gươm vào bao, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”.

Khi bị đóng đinh và chịu chết, Chúa Giêsu không chống trả hay tự vệ, nhưng để mình bị dẫn đi như con chiên bị đem đi giết.

“Ngài tỏ lộ khuôn mặt hiền lành của Thiên Chúa, Đấng luôn khước từ bạo lực,” Đức Thánh Cha nói. “Thay vì cứu mình, Ngài chấp nhận bị đóng đinh, ôm lấy mọi thập giá của con người trong mọi thời đại và mọi nơi.”

Đức Thánh Cha cũng nhắc lại lời ngôn sứ Isaia:

“Dù các ngươi có dâng nhiều lời cầu nguyện, Ta cũng không nghe, vì tay các ngươi đầy máu” (Is 1,15).

“Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, Đấng khước từ chiến tranh, và không ai có thể lợi dụng Ngài để biện minh cho chiến tranh,” ngài khẳng định.

“Ngài không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng loại bỏ chúng.”

Đức Thánh Cha bày tỏ đau buồn trước những vết thương của gia đình nhân loại hôm nay, khi con người kêu lên với Thiên Chúa bằng “những tiếng rên xiết đau đớn của tất cả những ai bị áp bức bởi bạo lực và là nạn nhân của chiến tranh”.

“Đức Kitô – Vua Hòa Bình – lại kêu lên từ thập giá: Thiên Chúa là tình yêu! Xin thương xót! Hãy hạ vũ khí xuống! Hãy nhớ rằng anh em là anh chị em của nhau!”

Kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha nhắc lại lời của Đức cha Tonino Bello, suy niệm về Đức Trinh Nữ Maria đứng dưới chân thập giá của Con mình:

“Lạy Mẹ Maria chí thánh, người phụ nữ của ngày thứ ba, xin ban cho chúng con niềm xác tín rằng, bất chấp tất cả, cái chết sẽ không còn thống trị chúng con; rằng những bất công của các dân tộc sẽ đến hồi kết; rằng những tia lửa chiến tranh đang tàn lụi trong hoàng hôn; rằng những đau khổ của người nghèo đang dần chấm dứt.

Và sau hết, xin cho nước mắt của mọi nạn nhân của bạo lực và đau khổ sớm được lau khô, như sương giá tan biến dưới ánh mặt trời mùa xuân.”

(Nguồn: Vatican News)


 

CHO PHÉP LINH HỒN QUỲ GỐI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy để cô ấy yên!”

“Bất kể trạng thái tâm thần của bạn ra sao, hãy luôn cho phép linh hồn quỳ gối! Bởi lẽ, thờ phượng và yêu mến luôn cần cho sự thánh thiện và hạnh phúc của bạn!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đáng để đánh đổi mọi sự, kể cả ‘phẩm giá’. Ngài là Đấng cần thiết cho sự thánh thiện và hạnh phúc. Maria là kiểu mẫu của một người luôn ‘cho phép linh hồn quỳ gối!’.

Vậy mà Chúa Giêsu đã để cô ấy quỳ gối như một cách ‘tỏ tình’ – giữa phòng tiệc – thậm chí để cô lấy một cân dầu thơm hảo hạng đổ lên chân mình và lau bằng tóc. Điều lý thú là, Giuđa bất bình; nhưng lý thú hơn, Ngài trách ông và nói, “Hãy để cô ấy yên!”. Nhiều lúc, chúng ta chỉ muốn đứng để giữ chút tự trọng; nhưng chỉ khi quỳ, bạn và tôi mới ở đúng chỗ. Maria “phung phí” điều người khác cho là quá đáng, Chúa Giêsu gọi là đúng lúc. Nhỏ bé, cô ‘cho phép linh hồn quỳ gối’ và đã chạm tới điều lớn lao nhất. “Trừ khi đó là tình yêu điên cuồng, say đắm và phi thường, nếu không thì bạn đang lãng phí!” – Tiffanie DeBartolo.

Thật lạ! Việc quỳ trước Chúa Giêsu không hạ thấp, mà nâng con người lên. Hương dầu không chỉ toả lan trong căn phòng, nhưng còn lan toả vào lịch sử cứu độ: một cử chỉ thờ phượng đi trước mai táng. Maria không chỉ yêu, cô “hiểu” bằng con tim. Khi linh hồn được phép quỳ gối, nó nhìn bằng đôi mắt Thiên Chúa – nơi mất mát thành hiến dâng, nơi chết chóc hé mở sự sống – phục sinh!

Chúng ta có thể làm nhiều điều “đúng”, nhưng hiếm khi “quỳ”. Giữ đạo, nhưng không cúi mình trong thờ phượng; làm nhiều việc, nhưng thiếu một cử chỉ ‘vô ích’ – đó là điều chúng ta còn thiếu trước Chúa. Vì thế, nội tâm khô cứng, đức tin thành bổn phận, tình yêu mất hương. Một linh hồn không quỳ, sớm muộn cũng cúi mình trước những điều thấp hơn. “Nếu bạn không thờ phượng Thiên Chúa, bạn sẽ thờ một điều gì đó, và chín lần trong mười, đó sẽ là chính bạn!” – Fulton Sheen.

Kể lại câu chuyện này, Gioan mời chúng ta như Maria, dám “đổ” hết cho Chúa Giêsu. Không gì quá đắt! Thờ phượng là điều đáng giá nhất, vì nó làm bạn và tôi trở nên con người Chúa muốn chúng ta trở thành. “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Ngài là Ánh Sáng, là Sự Sống; “Đấng sáng tạo và căng vòm trời, ban hơi thở cho dân trên mặt đất” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Kitô! Ngài không chỉ dạy chúng ta quỳ, chính Ngài đã sống điều đó. Linh hồn Ngài luôn hướng về Cha trong sự vâng phục trọn vẹn; và đỉnh cao của sự “quỳ gối” ấy là thập giá. Trên thập giá, Con Thiên Chúa như cúi mình đến tận cùng, trao phó tất cả trong tay Cha; để từ đó, cùng Cha, nâng con người lên. Vì thế, mỗi lần quỳ xuống trong thờ phượng, chúng ta được cuốn vào chuyển động của Chúa Kitô: từ hiến dâng đến phục sinh, từ hạ mình đến sống niềm hạnh phúc trong chính mình – cứu độ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đầy tội, Chúa đầy tình; giữa những ồn ào và tính toán, xin cho con dám “phung phí” tình yêu trước Ngài; giúp con tìm lại hương thơm của trái tim biết quỳ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần Thánh

Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 12,1-11

1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 2 Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su ; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. 3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. 4 Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói : 5 “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo ?” 6 Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp : y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. 7 Đức Giê-su nói : “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. 8 Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có ; còn Thầy, anh em không có mãi đâu.” 9 Một đám đông người Do-thái biết Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 10 Các thượng tế mới quyết định giết cả anh La-da-rô nữa, 11 vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.

NGAI ÂN SỦNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Trước khi thấy thập giá là điều Chúa làm cho ta, phải thấy đó là điều ta làm cho Chúa!” – John Stott.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một nghịch lý: thập giá – điều con người làm cho Chúa, trong đó có chúng ta – lại trở thành điều Chúa làm cho con người: cứu độ! Nơi sự dữ tưởng như thắng thế, ân sủng lại lên ngôi. Thập giá quả là ‘ngai ân sủng’.

“Đóng đinh nó vào thập giá!” – tiếng gào của đám đông không chỉ ở ngoài kia, nhưng vang trong chính cõi lòng mỗi người chúng ta – những tấm lòng đổi thay chóng vánh, nhiệt thành hôm nay, phản bội ngày mai. Nhưng chính giữa sự lật mặt ấy, ân sủng không đổi thay: Con Thiên Chúa vẫn ở lại, vẫn hiến mình. ‘Ngai ân sủng’ không được dựng bởi lòng trung thành của con người, nhưng đứng vững ngay trong sự phản bội của lòng người. “Chúa Giêsu quyết tâm cứu tội nhân đến mức… chính Ngài tạo nên cây thập giá và cả những kẻ đóng đinh Ngài!” – Octavius Winslow.

“Hãy xuống khỏi thập giá đi!” – một đề nghị hợp lý kiểu con người, nhưng Chúa Giêsu không xuống; Ngài chọn ở lại trong thất bại để thực hiện chiến thắng mạnh mẽ nhất: cứu độ! Và ở đó, thập giá do tội lỗi dựng nên lại trở thành nơi ân sủng tuôn trào. Không phải bằng cách né tránh sự dữ, nhưng bằng cách đi xuyên qua nó, ôm lấy nó, Thiên Chúa biến chính nơi tối tăm nhất thành nguồn sáng – ‘ngai ân sủng’. “Thập giá là cột thu lôi của ân sủng!” – A.W. Tozer.

Như vậy, Chúa Giêsu đã chọn ở lại trên thập giá để hoàn tất số phận của Người Tôi Trung: không kêu than, không phản kháng, nhưng hiến mình – bài đọc một – đến nỗi Ngài cảm thấy như bị Chúa Cha bỏ rơi, “Muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” – Thánh Vịnh đáp ca. Từ sự vâng phục ấy, vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá – bài đọc hai – Con Thiên Chúa biến nơi bị huỷ diệt thành nguồn sống.

Ai đã nhận ra điều này? Không phải các môn đệ, không phải đám đông, nhưng là một anh trộm: “Xin nhớ đến tôi!”. Giữa nơi xử án, Chúa Giêsu tha thứ; không hỏi công trạng, chỉ mở ra ân sủng. Người tội lỗi chạm tới điều mà kẻ tự cho mình công chính lại bỏ lỡ. Để ngay trong giờ phút tưởng như mất tất cả, một lời xin khiêm hạ đã mở ra thiên đàng – thập giá trở thành nguồn cội thứ tha đầu tiên.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu không xoá bỏ bóng tối, nhưng đi vào tận đáy của nó; không né tránh cái chết, nhưng biến nó thành lối mở của sự sống. Nơi con người dựng nên kết án, Ngài dựng nên tha thứ; nơi chỉ có chết chóc, Ngài khơi lên nguồn sống. Vì thế, thập giá không còn là điểm kết, nhưng là khởi đầu – một nghịch lý chỉ có tình yêu mới thực hiện được. Và Hội Thánh đã cất tiếng hát đêm Vọng Phục Sinh: “Ôi tội hồng phúc… đã đem lại cho chúng con một Đấng Cứu Độ cao cả!” – để từ nơi thập giá, chúng ta nhận ra: ‘ngai ân sủng’ đã được dựng lên để ban muôn phúc cho muôn người qua muôn ngàn đời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra thập giá không chỉ là điều Chúa làm cho con; nhưng còn là điều con đã góp phần; để con biết cúi đầu than khóc tội và đón nhận ơn tha thứ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT LỄ LÁ, NĂM A

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

✠ Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.  Mt 27,11-54 

11nk Khi ấy, Đức Giê-su bị điệu ra trước mặt tổng trấn ; tổng trấn hỏi Người : m “Ông là vua dân Do-thái sao ?” nk Đức Giê-su trả lời : ✠ “Chính ngài nói đó.” 12nk Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố Người, thì Người không trả lời một tiếng. 13 Bấy giờ ông Phi-la-tô hỏi Người : m “Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao ?” 14nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên.

15nk Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý họ muốn. 16 Mà khi ấy có một người tù khét tiếng, tên là Ba-ra-ba. 17 Vậy khi đám đông đã tụ họp lại, thì tổng trấn Phi-la-tô nói với họ : m “Các người muốn ta phóng thích ai cho các người đây ? Ba-ra-ba hay Giê-su, cũng gọi là Ki-tô ?” 18nk Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người.

19nk Lúc tổng trấn đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông : m “Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy.”

20nk Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha tên Ba-ra-ba mà giết Đức Giê-su. 21 Tổng trấn hỏi họ : m “Trong hai người này, các người muốn ta tha ai cho các người ?” nk Họ thưa : dc “Ba-ra-ba !” 22nk Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp : m “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây ?” nk Mọi người đồng thanh : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 23nk Tổng trấn lại nói : m “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác ?” nk Họ càng la to : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 24nk Tổng trấn Phi-la-tô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói : m “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy !” 25nk Toàn dân đáp lại : dc “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi !” 26nk Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá.

27nk Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. 28 Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, 29 rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : dc “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !” 30nk Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. 31 Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

32nk Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn ; chúng bắt ông vác thập giá của Người. 33 Khi đến nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, 34 chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống. 35 Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau. 36 Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.

37nk Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội viết rằng : “Người này là Giê-su, vua dân Do-thái.” 38 Cùng bị đóng đinh với Người có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

39nk Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu 40 vừa nói : m “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” 41nk Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói : 42m “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền ! 43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn ! Vì hắn đã nói : “Ta là Con Thiên Chúa !” 44nk Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.

45nk Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. 46 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng : ✠ “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nk nghĩa là ✠ “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” 47nk Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói : m “Hắn ta gọi ông Ê-li-a !” 48nk Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. 49 Còn những người khác lại bảo : m “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không !” 50nk Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.

51nk Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung, đá vỡ. 52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. 53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người. 54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói : m “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”


 

Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24) – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay thứ 7, xin Mẹ Maria đoái thương đến nhân loại đang bị chiến tranh, đại dịch đe doạ. Nhớ nhau trong lời kinh nguyện nhé.

Bạn có được 1 quả tim giàu lòng từ bi và nhân hậu để mang yêu thương vào nơi oán thù.

Cha Vương

Thứ 7: 28/03/2026. (t3-23)

TIN MỪNG: Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24)

SUY NIỆM:  Chúa nói: muốn hiểu và tin lời Chúa thì phải ngước tầm nhìn lên cao: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông mới biết là Tôi Hằng Hữu.” Và chỉ khi nào tin Chúa Giêsu Hằng Hữu, lúc đó mới khỏi “mang tội lỗi mình mà chết.” Nhiều lúc cuộc đời bạn giống như chiếc xe bị lún xuống vũng lầy: càng gầm rú lại càng bị lún sâu. Mải mê làm ăn, mong có một cuộc sống thoải mái. Nhưng khổ nỗi, đã có rồi lại muốn hưởng thụ thêm; và vì thế có khi lại vướng mắc vào những đam mê tội lỗi, muốn tháo gỡ ra thì lại bị đắm sâu hơn. Bạn ơi, nếu cứ để mình bị sa đà trong việc hưởng thụ, thì không bao giờ bạn thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những sự hạ giới. Đừng để mình phải chết trong tội như thế, nhưng hãy ngước nhìn lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá để Chúa nâng bạn lên với Ngài.

LẮNG NGHE: Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? / Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA là Đấng dựng nên cả đất trời. / Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. / Chính CHÚA là Đấng canh giữ bạn, chính CHÚA là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. (Tv 121:1b,2,3,5)

CẦU NGUYỆN: Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn, / tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài. / Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt, / trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe / và mau mau đáp lời. (Tv 102:1-3) Đừng để con chết trong vũng lầy tội lỗi.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Ăn Năn Tội và cố gắng tránh xa dịp tội nhé.

From: Do Dzung

*********************

Hãy Đưa Con Trở Về – Trung Quân 

 Đức Hồng y Văn Thuận: Niềm hy vọng tồn tại trong mọi hoàn cảnh

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Nhân kỷ niệm 50 năm xuất bản cuốn sách Đường Hy Vọng, một hội nghị đã suy tư về cuộc đời và di sản của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – vị mục tử đã trải qua 13 năm tù đày tại Việt Nam.

Sau 13 năm bị giam giữ như một tù nhân chính trị – trong đó có 9 năm biệt giam – cuốn sách Đường Hy Vọng của Đấng Đáng Kính Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vẫn tiếp tục mang lại niềm hy vọng và nguồn cảm hứng cho nhiều người trên khắp thế giới, sau 50 năm kể từ ngày xuất bản.

Được thụ phong và sống đức tin Công giáo giữa bối cảnh chế độ Cộng sản chống Công giáo tại Việt Nam trong những năm 1970–1980, khi còn là Giám mục Nha Trang, ngài đã bị bắt và giam giữ mà không qua xét xử. Năm 2002, ngài qua đời tại Roma, và 15 năm sau, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên phong ngài là Đấng Đáng Kính.

Ngày nay, tại chính nơi – Hội trường Hiệp ước Lateran thuộc Điện Lateran – nơi đã ký kết kết thúc giai đoạn cấp giáo phận trong tiến trình phong chân phước cho ngài vào năm 2013, một hội nghị kỷ niệm 50 năm cuốn sách đã làm nổi bật tầm quan trọng của tác phẩm này cũng như di sản lâu dài của vị Hồng y.

Những điểm nổi bật của hội nghị

Ngay khi khai mạc, người điều phối chương trình – nhà báo Vatican Media Alessandro De Carolis – cho biết ĐGH Lêô XIV đã gửi sứ điệp chúc mừng. Trong sứ điệp do Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin ký, Đức Thánh Cha bày tỏ lời chúc tốt đẹp và nhấn mạnh rằng sự kiện này giúp khám phá lại “chứng tá Kitô hữu nhiệt thành” của một “mục tử quảng đại”, mà tấm gương của ngài “vẫn còn rất актуal hôm nay”.

Đức Thánh Cha khẳng định: “Niềm hy vọng Kitô giáo phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và được thể hiện qua một đời sống hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân.”

Dâng hiến cho một dân tộc bị chia cắt

Suy tư về cuộc đời của vị Hồng y Việt Nam, Đức Hồng Y Michael Czerny nhận định rằng ngài không chỉ cổ võ công lý và hòa bình, mà còn là hiện thân sống động của những giá trị ấy trong lời nói và hành động.

Cuộc đời ngài phản ánh chính sứ mạng của mình: phục vụ như một tuyên úy tại bệnh viện, nhà tù và các trại phong; khởi xướng nhiều sáng kiến giáo dục và xã hội; đồng thời dấn thân cổ võ hòa giải trong một đất nước bị chia rẽ.

Ngay cả trong thời gian bị giam cầm, thái độ ấy vẫn không thay đổi. Ngài đối xử với mọi người – từ các tù nhân, dù là Kitô hữu hay không, cho đến các cai ngục – bằng tình yêu thương và sự tôn trọng.

Sau khi được trả tự do năm 1988, và từ năm 1991 sống tại Roma mà không thể trở về quê hương, ngài vẫn tiếp tục thực hiện những công việc đáng kinh ngạc: nâng đỡ người tị nạn Việt Nam trên toàn thế giới cả về nhân bản lẫn thiêng liêng, xây dựng mạng lưới trợ giúp quốc tế và nhiều sáng kiến mục vụ khác.

Di sản của ngài còn được thể hiện qua sự đóng góp vào việc hình thành Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo hội, nhằm đáp lại tiếng kêu đòi công lý xã hội dưới ánh sáng đức tin Công giáo.

Ký ức của người em gái

Bà Élisabeth Nguyễn Thị Thu Hồng – em gái của Đức Hồng y – chia sẻ rằng ngày nay “tất cả chúng ta đều chứng kiến quyền năng của sự hiện diện của Thiên Chúa qua câu chuyện của vị mục tử bị tách rời khỏi đoàn chiên, nhưng vẫn hiệp nhất sâu xa nhờ Lời Chúa”.

Bà nhắc lại truyền thống gia đình: ngay cả trước thời của anh mình, gia đình đã bị bách hại, thậm chí có người bị giết vì đức tin. Từ năm 1845 đến 1862, các cuộc bách hại nhằm làm cho người Công giáo từ bỏ đức tin đã khiến nhiều Kitô hữu hy sinh mạng sống.

Thế nhưng, người Kitô hữu Việt Nam không chối bỏ đức tin. Họ vẫn trung thành, gắn bó với Lời Chúa và những lời kinh được viết trên những mảnh giấy nhỏ giấu kín trong tư trang. Nhiều thế kỷ sau, vào năm 1975, điều đó vẫn tiếp diễn khi các tín hữu kiên vững trong đức tin giữa bách hại.

Chính trong hoàn cảnh ấy, “1001 suy niệm” của Đức Hồng y Văn Thuận được chuyền tay trong các gia đình, trong phòng giam và các trại học tập. Đến thập niên 1980, những suy niệm này được tập hợp thành cuốn Đường Hy Vọng.

Những lời suy niệm ấy đã mang “sự hiện diện của Chúa Giêsu đến với những người đang đau khổ” và trở thành di sản thiêng liêng cho nhiều người trên thế giới, đặc biệt tại châu Á.

Một mẫu gương đích thực của đời sống Kitô hữu và linh mục

Dù cuộc đời gặp nhiều gian truân thử thách, Đức Hồng y Văn Thuận vẫn luôn kiên vững trong đức tin. Đức Hồng y Lazzaro You Heung-sik, Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ, nhấn mạnh rằng sau khi mất tất cả, vị Hồng y Việt Nam đã “đưa ra một chọn lựa mới mẻ và rất sâu xa cho Chúa: chọn chính Thiên Chúa, chứ không phải những công việc của Thiên Chúa.”

Ngài được mô tả là một con người hiền hòa, bình an và tự do nội tâm, luôn thao thức cho đời sống linh mục, và có khả năng loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh – kể cả những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Ngay trong tù, ngài đã cảm hóa nhiều người. Một cai ngục sau này đã xin lãnh bí tích Rửa tội, và chia sẻ: “Gặp Đức cha Thuận là cuộc gặp gỡ quan trọng nhất đời tôi. Ngài đã dẫn tôi đến con đường trở thành công dân Nước Trời, công dân của công lý và hòa bình.”

Từ Việt Nam đến Hoa Kỳ: sứ điệp cho hôm nay

Trong bối cảnh thế giới đầy xung đột và bạo lực, Đức Giám mục phụ tá Nguyễn Thái Hành (Orange, California) nhấn mạnh rằng cuốn Đường Hy Vọng nhắc nhở rằng niềm hy vọng không đến từ bên ngoài.

Cuốn sách mời gọi con người suy tư về nguồn gốc của hy vọng. Cuộc đời của Đức Hồng y Văn Thuận chứng minh rằng hy vọng phát sinh từ niềm tin rằng không có gì trên thế gian có thể tách chúng ta khỏi đức tin.

Ngài từng nói với một tù nhân Phật giáo: “Người Cộng sản có thể lấy đi mọi thứ, nhưng không thể lấy đi đức tin của anh.”

Và để trả lời cho câu hỏi: sau 50 năm, thế giới có thể rút ra điều gì từ cuốn sách này, Đức Cha Nguyễn Thái Thành khẳng định:

“Không có gì có thể đánh bại niềm hy vọng ấy, nếu chúng ta thực sự tin vào Đức Giêsu Kitô và bước theo Người cách trung thành và chân thành.”

Kielce Gussie

Nguồn: Vatican News


 

NỤ HÔN KHÔNG TÌNH YÊU – Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

Nụ hôn diễn tả tình yêu.
Nụ hôn gửi gắm muôn điều thân thương.

Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu.  Nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người.  Chữ hôn được ghép với nhiều chữ khác như hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tái hôn.  Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn.  Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước.  Và chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện đau buồn, cô đơn như tiêu hôn. 

Tân Ước có mô tả về hai nụ hôn khá tương phản.  Một của Giuđa, một của người phụ nữ tội lỗi trong Lc 7, 37. 

Trong mái nhà Nagiaret, Mẹ Maria và thánh Giuse chắc chắn đã hôn Chúa Giêsu nhiều lần khi Ngài còn bé thơ, những lúc ẵm bồng âu yếm con trẻ trên tay, nhưng phúc âm đã không nhắc gì đến điều này.  Phúc âm chỉ kể lại có hai lần thôi Đức Giêsu được hôn trong cuộc đời rao giảng công khai.

 Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nói đến cái hôn của Giuđa (Mt 26, 48-49; Mc 14, 44-45; Lc 22, 47-48).  Nét tinh tế của các tác giả Tin Mừng là ở chỗ này: Các ngài kể rằng Giuđa đã cho đám người đi bắt Đức Giêsu một dấu hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó” (Mt 26, 48//Mc Mc 14, 44//Lc 22, 47); chữ “hôn” ở đây là phileô.  “Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: ‘Rabbi, xin chào Thầy!’, rồi hôn Người” (Mt 26, 49//Mc 14, 45); chữ “hôn” ở đây lại là kataphileô, “hôn thắm thiết, nồng nàn.”  Giuđa đã dùng một cử chỉ để diễn tả “tình yêu thương tha thiết, trọn vẹn,” “cái hôn thắm thiết,” để phản bội Đức Giêsu là Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể!  Một trái tim phản bội che giấu hành vi bất lương dưới một cái hôn nồng nàn… 

Cái hôn của người phụ nữ vô danh.  Đây là một “người phụ nữ tội lỗi trong thành”, nghĩa là “tội lỗi công khai” (Lc 7, 36-50).  Chị đã “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người.  Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7, 38).  Chữ “hôn” ở đây là kataphileô, “hôn thắm thiết.”  Một tâm hồn tội lỗi đến gặp Đức Giêsu để thú nhận tình trạng bất chính của mình cùng với lòng kính trọng và tâm tình biết ơn sâu xa bằng những nụ hôn thắm thiết đặt lên chân Người…(Lm Vũ Phan Long, ofm; kinhthanh.org). 

Giuđa hôn má của Thầy, ông đang đứng ở một khoảng cách rất gần trong tương quan với Chúa Giêsu.  Người phụ nữ tội lỗi hôn chân Thầy để biểu lộ lòng sám hối, cô ấy tự đặt mình ở một khoảng cách rất xa trong tâm hồn. 

Nụ hôn của môn đệ nộp Thầy và nụ hôn của người đàn bà thống hối biểu tỏ lòng ăn năn.  Cùng một nụ hôn nhưng khác nhau về nội dung.  Hai nụ hôn này không chỉ khác về vị trí mà ánh mắt cũng rất khác lạ.  Kinh Thánh không mô tả thần thái của hai gương mặt này trong khi hôn.  Chỉ có Chúa mới đo được tình yêu của hai nụ hôn này và Ngài hiểu thấu tâm can của mọi hành vi, ngay cả khi hai người ấy chưa hành động. 

Giuđa nói với đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26, 48).  Cái bi đát của tình yêu là dùng chính cử chỉ âu yếm nhất để phản bội tình yêu.  Nụ hôn của Giuđa đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu.  Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước thái độ của Giuđa nên hỏi: “Giuđa ơi!  Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao? (Lc 22, 48).  Chúa Giêsu không tưởng tượng được một môn đệ sau ba năm chung sống, bây giờ dùng nụ hôn chỉ điểm cho đám người đến bắt Ngài.  Nếu Giuđa dùng cái tát tai hoặc cú đấm để làm dấu chỉ thì Chúa đỡ đau lòng hơn.  Cái bi đát ở đây là Giuđa dùng chính cái hôn để phản bội tình yêu, dùng chính cái hôn để chà đạp sỉ nhục tình yêu.  Có nhiều cách phản bội, nhưng Giuđa đã chọn cách phản bội đau lòng nhất. 

Giuđa đã dùng nụ hôn vốn là “ngôn ngữ yêu thương” để “chỉ điểm” và bán Thầy với giá “ba mươi đồng” (Mt 26, 15; Mt 27, 3.9).  “Ba mươi đồng” chỉ là số tiền nhỏ so với “ba trăm quan tiền” giá chiếc bình bạch ngọc đựng dầu cam tùng hảo hạng (Mc 14, 5; Ga 12, 5) mà người phụ nữ tội lỗi đã đập bể và lấy dầu xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon (Mt 26, 6-13; Mc 14, 3-9; Ga 12, 1-8).  Bán Thầy giá “ba mươi đồng” so với bình dầu “ba trăm quan tiền,” nên Giuđa tiếc nuối cho rằng cô kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26, 8; Mc 14, 4).  Giuđa không ngay thẳng khi mượn danh người nghèo để trách lòng quảng đại của người phụ nữ: “Phí phạm dầu để làm gì?  Sao không bán để giúp cho người nghèo?”  Thánh Gioan nhận định: “Hắn nói thế không phải vì thương người nghèo đâu, nhưng vì hắn giữ tiền chung, hay bớt xén tiền của anh em.”  Khi lòng người đã không ngay thẳng, không thật thà, thì những hành động hoặc lời nói bên ngoài cũng sẽ không trung thực.

 Hai nụ hôn bởi hai con người khác nhau, mang hai tâm tình khác nhau.  Hai nụ hôn bắt nguồn từ hai trái tim: một trái tim chất ngất yêu thương, còn một trái tim lừa lọc, bội phản.  Từ đó, hai trái tim đưa về hai nẻo lối khác nhau: một lối đi về mênh mông thiên đường, còn lối kia dẫn về ngục tù hun hút. 

Chúa xét đến tâm tư thầm kín của từng người.  Giuđa đến hôn lên má Thầy, làm dấu hiệu cho người khác đến bắt Thầy.  Còn người phụ nữ tội lỗi đến hôn chân Chúa để tỏ lòng thống hối bên trong, xin ơn làm lại cuộc đời.  Bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất.  Chọn chân để hôn nhằm chứng minh tình yêu, lòng khiêm cung, người hôn muốn nói lên sự bất tương xứng trong tình yêu của mình. 

Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bên ngoài, hợp với phong tục tập quán.  Người môn đệ hôn thầy mình đúng luật xã giao và hợp tình nghĩa, nhưng ý hướng bên trong thì thật xấu xa.  Còn nụ hôn của cô ấy bên ngoài không được thích hợp, nhưng bên trong chất chứa những ý hướng tốt đẹp. 

 Cuộc sống với giá trị bên trong mới đáng kể: nếu thấy một người có những hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, chúng ta đừng vội nghi ngờ và lên án.  Họ có thể không được xã hội đồng ý, không được đám đông chấp nhận, nhưng biết đâu trước mặt Chúa họ không có gì phải hổ thẹn và thua kém ai.  Điều mà mỗi người cần lo sợ đề phòng hơn hết là thái độ như Giuđa, dùng cái hôn, dùng việc đạo đức tốt lành bên ngoài để nộp Chúa, bán Chúa.  Đó là trường hợp người ta lợi dụng việc từ thiện việc đạo đức để kiếm tiền, dùng thế giá tôn giáo để xây dựng uy tín riêng mình, viện cớ tôn giáo để bắt nạt kẻ khác.  Nêu ra lý do đạo đức để khoe khoang bôi nhọ, nói xấu người khác….  Thiếu gì những người nhân danh Chúa để loại trừ Chúa và làm hại anh chị em xung quanh.  

Nụ hôn Giuđa đã khiến cho cái chết của Chúa Giêsu vốn đã đau đớn lại thêm tê tái hơn.  Nụ hôn của Giuđa để lại một kỷ niệm buồn.  Hơn hai nghìn năm lịch sử vẫn không phai mờ, bởi Giuđa đã hôn Thầy bằng một nụ hôn không chút tình yêu.  Nếu mỗi nụ hôn trao nhau là một đóa hoa hồng, thì nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa trở nên vòng gai nhọn trao cho Chúa Giêsu.

 Suy ngẫm về nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa là dịp cho ta nhìn lại chính mình: Giuđa đã phản bội Chúa bằng môt nụ hôn khéo léo lọc lừa, còn chúng ta thì sao?  Trong lời nói, suy nghĩ và hành động, có khi nào ta phản bội Chúa không?  Trong tương quan với tha nhân nhiều lần ta thiếu vắng tình yêu chăng?

 Ngày thành hôn, đôi bạn trẻ thề non hẹn biển, nhưng không chừng ngày nào đó lời thề hứa ấy lại bay theo tiếng gọi của gió ngàn.  Yêu đòi phải hy sinh cho nhau.  Hy sinh là bảo chứng của tình yêu.  Khi chấp nhận đau đớn vì nhau thì tình yêu mới trọn vẹn, nụ hôn trao nhau mới thực sự là bằng chứng của tình yêu. 

Linh mục tu sĩ cũng đã có những cái ôm hôn trong ngày khấn dòng hay trong ngày lễ phong chức.  Nghi thức trao hôn bình an của giám mục, của bề trên hay của người anh em cũng bào hàm một lời mời gọi yêu thương và trung thành với những điều đã khấn hứa, đã tuyên thệ.  Thế nhưng lời thế ấy vẫn dang dở đôi lần vì bất trung, tình yêu ấy đã có lúc mai một. 

Ba năm theo Chúa, Giuđa luôn đi trong ánh sáng của sự bình an, tình yêu và hy vọng.  Nhưng cuối cuộc đời lại trở nên kẻ tối tăm phản bội.  Cuộc sống của chúng ta luôn có những người thân, những người bạn, những người đồng nghiệp… có ai ngờ được một lúc nào đó cũng là những kẻ phản bội chúng ta.  Thực tế cuộc sống xã hội hôm nay đã cho thấy cảnh gia đình tan nát khi vợ chồng phản bội nhau, con cái dối gạt cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp vì một mối tình, cạnh tranh làm ăn… mà đánh mất tình bạn, tình yêu, đưa đến những thảm họa đau thương.  Chúa Giêsu biết rõ tận tâm can của con người: “kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 14,18).  Hãy nhớ lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12).  Và lời Thánh Phêrô căn dặn: “ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8). 

Đừng trách Giuđa phản thầy của mình, nếu có trách thì trách ông đã để cho ma quỉ bước vào cuộc đời và dẫn lối đời mình (x. Lc 22,3).  Mà nếu trách như vậy thì thử hỏi ai trong chúng ta không đáng trách!  Ai trong đời cũng có đôi lần để ma quỉ dẫn lối đi về miến u tối của bất trung. 

Lạy Chúa, xin dạy con sống trung thành với Chúa và chân thành với anh chị em, luôn biết sống yêu thương với hết mọi người.  Xin dạy con sống quảng đại và luôn là khí cụ bình an của Chúa. Amen!

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim


 

LƯƠNG TÂM TRONG SÁNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Có nhiều kẻ đã tin vào Người”.

“Nhìn từ đỉnh đầu Nữ Thần Tự Do, tôi kinh ngạc trước mái tóc. Nhà điêu khắc biết chi tiết ấy hầu như không ai thấy – ngoại trừ loài mòng biển. Vậy mà ông vẫn chăm chút cho mái tóc cô ấy như cho khuôn mặt, vóc dáng và ngọn đuốc – với lương tâm trong sáng của một người nghệ sĩ!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, trước Chúa Giêsu, không ai đứng ngoài: ‘lương tâm trong sáng’ sẽ dẫn đến tin Ngài, hoặc khước từ Ngài; đứng về phía sự thật, hoặc giết chết sự thật – chính Ngài!

Bối cảnh là phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lazarô đã chết bốn ngày sống lại. Trước mồ Lazarô, không chỉ một người chết bước ra, mà lương tâm con người cũng được gọi tên để bước ra. Có người tin, vì họ thấy quyền năng của Thiên Chúa; nhưng cũng có kẻ khép lòng, vì họ sợ mất chỗ đứng của mình. Phép lạ không trung lập; nó phơi bày. Và chính lúc ấy, ‘lương tâm trong sáng’ trở thành thước đo và sẽ làm lộ ra những sâu kín của lòng người – ai dám để sự thật chạm vào mình, và ai tìm cách quay lưng? “Sự thật sẽ giải thoát bạn, nhưng trước hết nó sẽ làm bạn đau đớn!” – James A. Garfield.

Một khi lương tâm bị bóp nghẹt bởi toan tính, người ta có thể đi đến những quyết định lạnh lùng: thà giết chết sự thật còn hơn để sự thật làm xáo trộn đời mình. Và như thế, họ không chỉ từ chối phép lạ, mà còn khước từ chính Đấng ban sự sống! Và quả họ đã làm thế: giết chết Con Thiên Chúa và quyết định sẽ giết luôn cả Lazarô. “Tìm ra sự thật thì dễ… đối diện đã khó, sống theo còn khó hơn!” – Fulton Sheen.

Nhưng Thiên Chúa vẫn tận dụng những ý đồ đen tối của lòng người! Con Thiên Chúa “chết thay cho dân” sẽ dẫn đến ơn cứu độ cho muôn dân! Và logic ‘đầy tính tiên tri’ của thượng tế Caipha có thời hiệu vĩnh viễn. Gioan thật sâu sắc, “Không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Chúa tản mác khắp nơi về một mối”. “Thiên Chúa là một, Chúa Kitô là một, Hội Thánh là một!” – Cyprianô.

Đây là điều Thiên Chúa đã hứa hằng trăm năm trước, “Ta sẽ quy tụ chúng lại từ bốn phương và đưa chúng về đất của chúng!” – bài đọc một; vì “Chúa canh giữ chúng ta như mục tử canh giữ đàn chiên!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Không ai ép buộc Chúa Giêsu chọn thánh giá; cũng không buộc ai phải theo Ngài. Con Thiên Chúa hoàn toàn tự do với một ‘lương tâm trong sáng’ trước Chúa Cha và trước con người. Ngài không né tránh sự thật, không thoả hiệp với bóng tối, nhưng yêu Cha đến cùng, vâng phục đến cùng. Đi theo Chúa Kitô cũng thế: không phải bị ép buộc, nhưng là chọn để lương tâm mình được soi sáng, dám sống sự thật, dám yêu sự thật – dẫu phải trả giá, dẫu phải bước qua thập giá! “Tình yêu muốn là thật, phải trả giá – phải đau – phải làm ta trống rỗng chính mình!” – Mẹ Têrêxa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con sợ hãi và toan tính, xin giữ lòng con ngay thẳng; khi con chao đảo và nghi ngờ, xin neo con vào sự thật; khi con đối diện thập giá, cho con trung tín đến cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần V Mùa Chay

Để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 11,45-57

45 Khi ấy, sau khi ông La-da-rô sống lại ra khỏi mồ, trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người. 46 Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. 47 Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói : “Chúng ta phải làm gì đây ? Người này làm nhiều dấu lạ. 48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta.” 49 Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng : “Các ông không hiểu gì cả, 50 các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là : thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” 51 Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, 52 và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. 53 Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su. 54 Vậy Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa ; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ.

55 Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Giê-ru-sa-lem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ. 56 Họ tìm Đức Giê-su và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau : “Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không ?” 57 Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh : ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt.