TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH- Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

 Nếu ai đã từng xem cuốn phim “Đức Giêsu thành Na-da-rét” của đạo diễn Franco Zeffirelli (sản xuất năm 1977) chắc còn nhớ phân cảnh Thánh Giuse nằm mơ thấy Đức Maria bị ném đá chết vì tội ngoại tình.  Nếu không thì cũng đã có lần được xem một vở kịch diễn lại bài Tin Mừng hôm nay, trong đó có cảnh Thánh Giuse khắc khoải, lo âu, dằn vặt, thậm chí xấu hổ, trước sự kiện Đức Maria mang thai mà ông chẳng biết nguyên do.  Đó là những tình tiết lâm ly, bi đát, đầy kịch tính, làm khán thính giả bồi hồi xúc động, nhưng có nằm trong nhãn giới của tác giả Tin Mừng chăng?  Ngoài ra, ý tưởng “tố giác” (ám chỉ Giuse nghi ngờ – mà nghi bậy – Maria ngoại tình, chửa hoang) nằm bên cạnh ý tưởng “công chính” (một danh hiệu vinh quang, hiếm người được Kinh Thánh trao tặng) đã khiến nhiều học giả phải lý luận vòng vo đủ cách, trưng dẫn bản văn đủ kiểu để hòa hợp hai ý tưởng này.  Tất cả những cái đó, theo nhiều nhà chú giải hiện đại, là do cách dịch chưa đúng về một vài từ ngữ trong văn bản.

 Khúc Mắc Tâm Tư 

Mở đầu bản văn bằng câu “Đây là gốc tích Đức Giêsu Ki-tô” và bằng chi tiết “Trước khi hai ông bà về chung sống, Maria đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần,” Mát-thêu đã muốn chứng minh cho độc giả Do-thái của mình thấy làm sao Đấng Cứu Thế sinh ra thiếu cha trần gian mà vẫn thuộc về dòng dõi Do-thái và con cháu Đa-vít được (trong lúc Lc 1, 26-38 thì chỉ trình bày mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho độc giả lương dân hiểu).  Việc lạ lùng này, chắc hẳn Đức Maria đã tỏ lộ cho người bạn đời yêu quý (bà chị họ Ê-li-sa-bét mà còn được biết nữa là, vì thiên thần đâu có cấm Maria tiết lộ: x. Lc 1,39-45).  Với hai lý do: xin ông thông cảm cho quyết định của bà là vâng phục thánh ý lạ lùng lẫn bất ngờ của Thiên Chúa, và như thế sẽ chấm dứt kiểu chung sống chồng vợ thông thường; hai là chia sẻ niềm vui và vinh dự của bà được chọn làm mẹ Con Đấng Tối Cao.  Ngoài ra, việc Mát-thêu khẳng định đầy đủ sự kiện nhiệm mầu ấy ngay từ đầu bài Tin Mừng (ông chẳng viết đơn giản: “Maria đã có thai”) hàm ý Giuse đã biết rõ công chuyện.  Thế nhưng việc tỏ lộ này đặt ông vào một hoàn cảnh khó xử. 

Theo nhiều nhà chú giải Công giáo hiện đại, khi kết hôn với nhau, hai ông bà Giuse Maria chắc dự tính sẽ có con với nhau một cách bình thường (Cựu Ước luôn cho hôn nhân là tốt đẹp và con cái là hồng ân cao cả, còn không có chồng hoặc có chồng không con là tủi nhục lớn lao, tương tự quan niệm Á đông: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”), đồng thời cầu mong con họ sẽ được Thiên Chúa chọn làm Đấng Thiên Sai (Mêsia) như bao mộng ước của mọi gia đình và mọi thiếu nữ Do-thái thời đó.  Thế nhưng, đang lúc chưa chung sống như vợ chồng, Maria đã được sứ thần báo tin cho biết Thiên Chúa đã chọn bà làm mẹ Đấng Thiên Sai, nhưng bà sẽ sinh con một cách nhiệm lạ – do quyền năng Chúa Thánh Thần – vì thai nhi đó chính là Con Thiên Chúa!  Đây là điều mà Cựu Ước cũng như hai ông bà không thể ngờ nổi. 

Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, Giuse đâm băn khoăn.  Từ nay, Thiên Chúa đã can thiệp vào mối dây liên hệ của đôi bạn, đã sử dụng Maria như phương tiện để thực hiện kế hoạch lớn lao của Người.  Từ nay Maria đã trở thành một vật thánh, thuộc quyền sở hữu của Đấng Tối Cao.  Giuse tự nghĩ mình đâu có quyền động đến nàng nữa.  Và dù không động đến nhưng nếu tiếp tục chung sống trong một nhà, tới lúc con nàng sinh ra, chắc thiên hạ sẽ nói là con của đôi bạn.  Để cho ai nấy lầm tưởng như thế là một sự bất công với Thiên Chúa, vì Hài nhi là con của Người mà.  Công bố chuyện này cho thiên hạ ư?  Ai mà tin nổi và hiểu nổi!  Có dấu chứng nào về một chuyện lạ lùng xưa nay chưa từng gặp như vậy?  Vả lại đây là bí mật giữa Thiên Chúa với Maria mà Người đâu đã tỏ ý định hãy loan truyền nó cho bá tánh.  (Phải 30 năm sau, chính Đức Giêsu mới làm rõ được chuyện này)!  Thế là Giuse dự tính ra đi, ra đi âm thầm, để mặc Thiên Chúa đích thân giải quyết mọi chuyện.  Ông xử sự như bao người công chính trong Cựu Ước là run khiếp trước sự hiện diện của Đức Chúa và không dám đoạt lấy một thành quả bởi tay Người.  Vả lại, hiểu cách tự nhiên tức thời, công chính, công bình – hay just, juste trong tiếng Anh tiếng Pháp – có nghĩa là của ai thì trả cho người ấy, không vi phạm quyền lợi và sở hữu của tha nhân.  Ngoài ra, từ Hy-lạp dùng ở đây là “deigmatisai”, cùng gốc với từ “paradeigmatisai”.  Nhưng trong lúc “paradeigmatisai” có nghĩa là “tố giác, bêu nhục” thì “deigmatisai” lại chỉ có nghĩa là “tiết lộ, bày tỏ”, theo nhiều Giáo phụ (Origène, Eusèbe de Césarée…) và nhiều học giả hiện đại (Lm Paul Joüon, SJ, thành viên Viện Kinh thánh Giáo hoàng, Lm Nil Guillemette, SJ, giáo sư Kinh thánh lỗi lạc…).  Thành ra, chính cách dịch mới: “Giuse là người công chính và không muốn tiết lộ chuyện bà” hoàn toàn hợp lý đồng thời hỗ trợ cho lối giải thích vừa nói trên đây. 

Lối giải thích cho rằng Giuse công chính chiếu luật (vâng lời Lề luật) là không ổn, vì chả có luật nào buộc phải ly dị hôn thê mới bị coi như ngoại tình cả (x. Đnl 22,13-21.23-27 chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng).  Đàng khác, nếu âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì việc ly dị chỉ được phép và mang giá trị pháp lý nếu có chứng thư ly dị rõ ràng và đưa ra công khai (Đệ Nhị Luật có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành).  Thành ra đây là sự công chính tôn giáo, sự công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm ông không được đoạt lấy công lao của một hành động từ trời.

 Gỡ Mối Tơ Vò

  “Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông.”  Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp: “Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng sợ [Hy ngữ: phobethes] đón Maria vợ ông về.”  Đến đây, các nhà chú giải hiện đại đề nghị cách dịch khác cho từ Hy-lạp gar mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “vì” (“Vì người con bà cưu mang…”) và cho từ Hy-lạp mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “và” (“và ông phải đặt tên…”).  Từ “gar” còn có nghĩa: “vẫn biết, quả thật, hẳn nhiên, phải rồi”, và thường gặp trong Tân Ước (x. Mt 18,7; 1Cr 9,19; 1Tx 2,20…); từ “dé” cũng còn có nghĩa “nhưng”: “Vẫn biết/hẳn nhiên người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai, nhưng ông phải đặt tên con trẻ.”  Từ “vẫn biết/hẳn nhiên” nói lên một sự thật mà Giuse đã rõ (nên không có chuyện thiên thần mặc khải mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho ông lúc này).  Maria sẽ sinh con, “nhưng” Giuse sẽ đặt tên cho con trẻ.  Đặt tên (quyền của người cha theo pháp luật Do-thái) là thừa nhận kẻ được đặt tên như con của mình.  Rồi con đẻ hay con nuôi đều có giá trị như nhau trước pháp luật Do-thái, nghĩa là con nuôi cũng hoàn toàn thuộc về dòng dõi cha nuôi với mọi quyền lợi và nghĩa vụ y như con đẻ.  Cách giải quyết của Thiên Chúa thật tài tình: lợi dụng một điều khoản trong luật pháp Do-thái (con nuôi # con đẻ, mà chắc Người đã từ lâu xui khiến cho có), Thiên Chúa hoàn tất lời Thánh Kinh: Đấng Thiên Sai sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít dù là con của một trinh nữ, với Thiên Chúa là Cha. 

Còn một lý do thực tế: cần phải tạm thời che giấu mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể (khó chấp nhận khi chưa có ngôn hành khẳng định của chính Đức Giêsu) bằng cách để thiên hạ lầm tưởng Giuse là cha đẻ của Người.  Sự hiện diện của Thánh Giuse trong ngôi nhà Na-da-rét còn cần thiết để bảo vệ thanh danh Đức Trinh Nữ cũng như để chăm sóc nuôi dưỡng Ấu Chúa và Mẹ Người.

 Đến đây, ta có thể hiểu rõ thêm nữa về sự công chính của Thánh Giuse: đó là sự thức tỉnh nội tâm đối với Thiên Chúa, một sự thức tỉnh vốn giúp người có khả năng đón nhận và hiểu rõ sứ điệp, dẫn người tức khắc tới chỗ vâng phục.  Dẫu cho đến nay người đã bối rối trước các chọn lựa khác nhau của mình, giờ đây người biết đâu là đường lối hành động đúng đắn.  Là một người công chính, người vâng theo các mệnh lệnh Thiên Chúa truyền dạy. 

Hiểu Ra Mầu Nhiệm

 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa đã phán qua miệng ngôn sứ: ‘Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’.  Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.”  Vậy là bên cạnh Đức Maria, bà Ê-li-sa-bét, Thánh Giuse nay cũng hiểu: vừa là con Thiên Chúa, vừa là con loài người, Đức Giêsu đúng là Em-ma-nu-en thật (x. Is 7,14).  Ngay cả cho dù không thực sự mang cái tên độc đáo này, Người vẫn là Em-ma-nu-en, như toàn bộ Tin Mừng sẽ cố gắng minh chứng, là Thiên-Chúa-ở-cùng-nhân-loại trong chính bản thân Người.  Hai bản tính trong một ngôi vị này khiến Người có thể đền tội xứng đáng, đầy đủ cho chúng ta và nhất là có thể thần hóa chúng ta, làm chúng ta nên con Thiên Chúa, thông phần bản tính Người: “Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa” (thánh Athanasiô), “Thiên Chúa đã làm người, để biến chúng ta thành thần linh” (thánh Irênê).  (Tương tự chúng ta vì là vật chất và tinh thần nên có thể tinh thần hóa vật chất vậy).

 Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

 From: Langthangchieutim 


 

Cuộc Cách Mạng về Phim Đạo được công chiếu ở Việt Nam năm 2025

  • Cuộc đời của Chúa Giê Su được công chiếu ở các rạp chiếu bóng lớn ở Việt Nam ngay trong thời XHCN.
  • “Vua của các Vua” diễn tả trung thực Kinh Thánh bằng ngôn ngữ hoạt hình 3D.
  • Phim được quảng bá ở những nơi trang trọng nhất
  • Phim được lồng tiếng Việt với các diễn viên thượng thặng: Hứa Vĩ Văn và Thành Lộc.
  • Dù phim  bị cấm cho trẻ em dưới 13 tuổi xem, nhưng lại có  con số khán giả đông đảo  trong mùa giáng sinh 2025.

Câu chuyện sử dụng một thủ pháp kể chuyện độc đáo :
Charles Dickens cố gắng kể lại câu chuyện Giáng Sinh nhưng cuối cùng lại thuật lại cuộc đời của Chúa Giê-su cho con trai mình là Walter. Thông qua trí tưởng tượng phong phú, Walter và chú mèo của cậu cùng tham gia vào hành trình của Chúa Giê-su—chứng kiến ​​sự giáng sinh, các phép lạ và cuộc Khổ nạn. Bộ phim nhấn mạnh đức tin, sự cứu chuộc và tình yêu thương , khiến nó trở nên dễ tiếp cận với gia đình và trẻ em.

ĐỒNG TRINH SINH HẠ – Ronald Rolheiser, OMI

Ronald Rolheiser, OMI

 Truyền thống Kitô luôn luôn nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu được sinh ra do một trinh nữ.  Đấng Thiên sai chỉ được sinh ra từ dạ người đồng trinh.  Đương nhiên lý do chính cho sự nhấn mạnh này là để nêu bật Chúa Giêsu không có người cha thế gian và việc Ngài được sinh ra là do Thần Khí.

 Nhưng cũng có một nghĩa thứ hai, ít được nói đến trong Thánh Kinh.  Thường thường trong nghĩa này, ý tưởng cho rằng Chúa Giêsu sinh từ một trinh nữ vì dục tính là cái gì không tinh khiết, quá phàm tục so với một sự việc thiêng liêng như vậy.  Thiêng liêng phải được tách bạch ra khỏi cái gì phàm tục. 

Không những Chúa Giêsu được sinh ra từ một trinh nữ, vì Người không có cha trần thế, mà Người còn được sinh ra từ trinh nữ vì sự sinh ra này đòi hỏi phải tinh tuyền, mà theo định nghĩa, tinh tuyền là loại trừ dục tính.  Khái niệm của chúng ta về đồng trinh sinh hạ đã chịu sự thấm nhuần của lòng mộ đạo, mà với tất cả lý do có thể có, không thể nào chấp nhận dục tính đi với thiêng liêng.

 Có cái gì sai ở đây?  Vượt ra ngoài sự chê bai cái tốt đẹp do Chúa ban của dục tính, ở đây thiếu một trong những khía cạnh chủ yếu của sự mặc khải trong việc đồng trinh sinh hạ.  Có một thách đố mang tính luân lý trong việc đồng trinh sinh hạ, một điều gì đó mời gọi bắt chước hơn là thờ phượng. 

Truyền thống Kitô nhấn mạnh đến đồng trinh sinh hạ (cũng như nhấn mạnh đến hầm mộ chưa từng chôn ai, nấm mộ trinh khiết đi đôi với tử cung còn trinh) không phải vì truyền thống cho rằng dục tính là không tinh khiết và quá thế tục nên không thể sinh ra một cái gì thiêng liêng. 

Ngược lại, ngoài khía cạnh nhấn mạnh Chúa Giêsu không có cha trần thế, truyền thống Kitô muốn nhấn mạnh đến quả tim và tâm hồn cần có một khoảng không gian linh thiêng để một cái gì đó có tính cách linh thiêng có thể được sinh ra.  Vấn đề ở đây không phải là chuyện độc thân thay vì dục tính, nhưng là kiên nhẫn thay vì hấp tấp, tôn trọng thay vì không tôn trọng, chấp nhận sống trong căng thẳng thay vì đầu hàng và bù đắp cho một ước muốn không được đáp ứng.  Quả tim tinh khiết sẽ để cho tình yêu đi theo tiếng gọi của nó chứ không lèo lái nó.  Quả tim tinh khiết để cho quà tặng là quà tặng chứ không cưỡng bức nó, dù theo cách tinh vi đến đâu đi nữa.  Quả tim tinh khiết chấp nhận đau khổ của khiết tịnh thay vì ngủ với cô dâu trước ngày cưới.  Rốt cuộc, đó là điều tạo nên khoảng không gian tinh tuyền, là khoảng không gian trong đó Chúa có thể sinh ra.

 Cách đây ba mươi năm, trong ý hướng muốn diễn tả điều này, tôi viết một bài thơ có đầu đề là Đồng trinh sinh hạ.  Bây giờ tôi mắc cỡ bởi vì lý tưởng của tuổi thanh xuân trong bài thơ này, nhưng, trong những ngày đẹp đẽ của tôi, tôi lại nhận lấy lời khuyên từ những dòng thơ của chàng trai trẻ năm nào:

 Đồng trinh sinh hạ

Nghịch lý đời đời, đặc biệt cho cả hai Đấng Cha và Con
Những vị đã kết hợp đặc biệt minh triết con người từ điều kỳ diệu.
Một trinh nữ sinh hạ
Không phải ra một chủng tử vô sinh
Mà là một Đấng Cứu Thế.

Đồng trinh thì liên quan gì tới việc hạ sinh?  Không gì cả!
Khi minh triết phí phạm lời lẽ để đi mông lung
tìm một sự thật sẽ không giải thoát chúng ta.

Đồng trinh và không ăn nằm: quả tim chưa trọn đủ và thân xác,
Vật lộn với một vị Chúa không có thịt da
Người không để xác thịt gặp xác thịt
cảm thấy đớn đau, vẫn mong chờ sự trọn đủ
Để tránh hiếm muộn, một tội lỗi thật sự không thể tha thứ chống lại tinh thần của sự sống
Nhưng hiếm muộn đã mang thai lòng khao khát cái tinh thần đã ngủ với Thiên Chúa trong đêm
đã mang thai tinh thần cứu thế – những ai đã kiên nhẫn đợi chờ và thà một mình khóc thầm
hơn là làm hư món quà
vì thiếu kiên nhẫn.

Chỉ dạ của các trinh nữ mới cưu mang được Đấng Cứu Thế
vì chỉ các trinh nữ mới sống một mình trong chờ đợi
chờ đợi một chàng hôn phu
khuya khoắt, đã sau mười một giờ đêm, không còn hy vọng gì.
Không nản lòng, dạ người trinh nữ vẫn chờ đợi
Khước từ tất cả những người tình giả dối và tất cả nôn nóng
cái đòi hỏi xác thịt trên xác thịt và
một Xứ sở thần tiên theo điều kiện của con người

Đấng Cứu Thế chỉ được sinh hạ
từ trong dạ người trinh nữ
từ trong kiên nhẫn của người trinh nữ
cái làm cho
Thiên Chúa là Thiên Chúa
tình yêu là quà tặng.

 Ronald Rolheiser, OMI
14, tháng mười hai, 1981


 

2 ĐỨA TRẺ CHỊU CHẾT CHỨ QUYẾT KHÔNG NHỔ NƯỚC BỌT LÊN KINH THÁNH

Cộng Đoàn CGVN Birmingham

Câu chuyện này diễn ra vào thời Thế chiến thứ II, ngay trước lúc Đức quốc xã tiến hành cuộc thảm sát hàng loạt người Do Thái tại các trại tập trung của phát xít…

Khi đó, một sĩ quan Đức quốc xã bước ra, cầm cuốn Kinh Thánh ném xuống đất. Hắn đảo mắt nhìn nỗi hoảng sợ đang hiện rõ trên khuôn mặt của những nạn nhân người Do Thái và nói:

“Ai trong số các người muốn sống sót thì hãy nhổ nước bọt lên cuốn Kinh Thánh này rồi đứng vào hàng người được phép sống sót ở phía bên phải. Nếu muốn đứng vào chỗ người sẽ bị xử chết ở hàng bên trái thì không cần khạc nhổ lên cuốn sách này!”.

Một người đàn ông Do Thái đầu tiên bị tên lính Đức quốc xã gọi tên, người này đến chỗ cuốn Kinh Thánh rồi dang hai tay ra ôm cuốn sách vào ngực và tha thiết cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin tha thứ cho con, con là kẻ có tội”. Sau khi cầu nguyện, anh nhẹ nhàng đặt cuốn Kinh Thánh lại chỗ cũ, nhổ nước bọt lên, và đứng vào hàng người được sống ở bên phải theo đúng chỉ định của tên sĩ quan Đức quốc xã.

Tiếp theo – dù là phụ nữ hay nam giới, họ đều lặp lại hành động giống hệt như vậy, không có sai khác gì. Họ ôm Kinh Thánh trước ngực, sùng kính cầu nguyện rồi nhổ nước bọt lên cuốn sách và đứng vào hàng người được sống. Đám binh lính và sĩ quan Đức quốc xã đứng chứng kiến cảnh tượng này mà cảm thấy thích thú.

Lúc này, một bé gái 8 tuổi người Do Thái, tên Esther, đã đi xuyên qua đám đông tới thẳng vị trí trước mặt đám lính Đức quốc xã, cô bé cầm cuốn Kinh Thánh đầy nước bọt rồi lấy tóc lau sạch và dùng hai tay nâng cuốn sách lên trước trán cầu nguyện: “Lạy chúa, xin tha thứ cho họ, xin hãy nhận lấy linh hồn của con”. Sau đó, cô bé bước sang bên trái theo chỉ định của lính Đức quốc xã và đứng một mình trong hàng người chết.

Những người Do Thái tiếp theo lại tiếp tục khạc nhổ lên cuốn Kinh Thánh mà Esther vừa lau sạch, rồi tiếp tục đứng về hàng người sống.

Tiếp đó, một cậu bé 10 tuổi tên là David bước ra. Cậu học theo hành động của Esther, lấy mặt lau sạch nước bọt trên cuốn sách rồi thành kính cầu nguyện. Sau đó, cậu tiến đến bên Esther theo chỉ định của lính Đức quốc xã, David nắm chặt tay Esther và thì thầm: “Dưới Chúa, bạn không đơn độc”.

Giờ hành quyết đã đến, đám lính Đức quốc xã nói cười ầm ỹ và bắn điên cuồng vào hàng người Do Thái ‘chọn sống’ đang đứng ở phía hàng bên phải. Những người này tỏ ra tuyệt vọng ngã xuống đất với vẻ mặt méo mó. Sau đó, một tên lính Đức bước đến chỗ Esther và David, hắn giơ tay lên trán tỏ ý thành kính. Và rồi… tiếng súng vang lên, Esther cùng David nắm chặt tay nhau mỉm cười ngã xuống vũng máu.

Đây đúng là câu chuyện làm rung động tâm hồn người đọc. Khi đối mặt với thế lực xấu xa tà ác, nếu đã không thể sống thì dù có thỏa hiệp cũng không tránh khỏi cái chết. Người ta có thể không lựa chọn được giữa sống và chết nhưng lại có thể chọn được cách chết như thế nào. Người chọn thỏa hiệp thì chết một cách hèn nhát; còn người giữ vững đức tin, không chịu khuất nhục thì sẽ chết giống như một anh hùng. Và lẽ dĩ nhiên, nếu có trở về Thiên Đàng, họ sẽ chắp tay và mỉm cười trước Chúa.

San San biên dịch | Theo Vision Times

Hình minh hoạ

Cảnh trong phim ‘Schindler’s List’

Nữ diễn viên đóng vai “Cô bé mặc áo khoác đỏ” trong phim ‘Schindler’s List’ hiện đã 32 tuổi và đang giúp đỡ những người Ukraine vào Ba Lan tị nạn


 

NGAY LÀNH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông”.

“Khủng hoảng bạn gặp – có thể gọi là ‘tai ương’ – thường mang lại những cơ hội lớn hơn. Chúng thúc đẩy trưởng thành tâm linh, chứng tỏ sự chính trực, và chuẩn bị bạn cho một sứ vụ đáng kinh ngạc… với điều kiện, bạn phải ngay lành!” – Kin Hubbard.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhận định trên ứng nghiệm tuyệt đẹp nơi thánh Giuse. Tin Mừng hôm nay hé lộ một tiểu tiết ít ai chú ý, nhưng rất đáng suy nghĩ: thiên thần chỉ hiện ra với Giuse ‘sau khi’ ông đã quyết định làm một điều tốt. Dường như Thiên Chúa chỉ mặc khải sâu hơn kế hoạch của Ngài cho ai – trước khủng hoảng – biết phản ứng cách ‘ngay lành!’.

Đối diện với việc Maria có thai – một bất thường nơi người phụ nữ vốn được biết là không thể chê trách – Giuse không vội phản ứng. Ông nghĩ suy, cầu nguyện và phân định. Về pháp lý, Giuse có quyền công khai “chuyện tình buồn” của mình; nhưng ông đã không làm vậy. Trái lại, Giuse chọn rút lui lặng lẽ, như để giao phó cho Chúa phần còn lại. Đặc biệt, Giuse dường như ‘ưu tiên’ cho Maria trong mối ngờ vực này. Nghĩ điều tốt cho người khác – nhất là khi có lý do để nghi ngờ – luôn là một nhân đức hiếm hoi; nó được gọi là ‘ngay lành’. “Tình yêu chọn tin điều tốt nhất ở người khác!” – Marvin J. Ashton.

Bao xung đột bùng nổ, bao tình bạn vỡ tan, chỉ vì người ta dễ kết luận, “Không phải do tôi!”. Giuse không đi con đường ấy. Và chính trong sự ‘ngay lành’ đó, Thiên Chúa lên tiếng, “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu!”. “Ở giữa khó khăn là cơ hội!” – Albert Einstein. Từ một khủng hoảng tưởng chừng bế tắc, Thiên Chúa mở ra cho Giuse một mầu nhiệm vĩ đại – Đấng Cứu Thế sẽ được trao vào tay ông. Người Con ấy là “Chồi non chính trực” – bài đọc một; và “Triều đại Người đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị đến muôn đời” – Thánh Vịnh đáp ca.

Giuse đã tin, vâng theo – dù tất cả chỉ đến qua một giấc điệp. Đó không phải là một giấc điệp mơ hồ; nhưng là giấc điệp được đỡ nâng bởi một đức tin quảng đại và một con tim ‘ngay lành’ đủ chín. Nhờ thế, Giuse ôm lấy Hài Nhi và trung thành với sứ vụ đến cùng. “Nếu phán xét người khác, bạn không còn thời gian để yêu thương họ!” – Mẹ Têrêxa.

Anh Chị em,

“Bạn phải ngay lành!”. Với chọn lựa ấy, tai ương của Giuse đã trở thành cơ hội lớn hơn. Mùa Vọng, mùa con tim được đào tạo và chữa lành, hầu chúng ta biết sống chính trực, tín thác trọn vẹn vào Chúa; nhờ đó, có thể đi qua khủng hoảng mà không đánh mất điều lành. “Mỗi nghịch cảnh, mỗi thất bại, mỗi nỗi đau đều mang trong nó mầm mống một lợi ích ngang bằng hoặc lớn hơn!” – Napoleon Hill. Và kìa, như với Giuse, Thiên Chúa cũng đang âm thầm chuẩn bị cho bạn và tôi một sứ vụ đáng kinh ngạc!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con vuột mất những ‘cơ hội lớn hơn’, cho con luôn ngay lành trong thử thách, để ôm lấy sứ vụ không tưởng Chúa đang âm thầm chuẩn bị!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Ngày 18/12, Thứ Năm Tuần III Mùa Vọng

Đức Giê-su sinh làm con bà Ma-ri-a. Bà đã thành hôn với ông Giu-se, con cháu vua Đa-vít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.    Mt 1,18-24

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ : 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. 24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.


 

 Niềm vui Giáng Sinh là niềm vui cứu độ – Cha Vương

 Nào ta hãy chúc tụng và tạ ơn Chúa vì tình yêu bao la của Ngài đã dành cho chúng ta.

Cha Vương

Thứ 3, T3MV: 16/12/2025.  (n17-24)

TIN MỪNG: Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:… từ ông Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.  (Mt 1:1,17)

SUY NIỆM: “Nước có Sử, nhà có Phả.”, “Chim có tổ, người có tông.” Là hai câu bạn thường thấy trong những quyển sách nói về gia phả của gia đình. Vào những ngày cuối của Mùa Vọng bạn được nghe đến gia phả của Đức Giê-su Ki-tô. Con người ta sinh ra ai cũng có nguồn cội. Chúa được sinh ra và cũng có cội nguồn vậy. Trong Tân Ước, Đức Giê-su được coi là một Đavít mới. Vậy Đavít mới có liên hệ gì đến Đavít cũ. Phúc Âm thánh Matthêu tuy trình bày một cách đơn giả nhưng cũng giúp bạn hiểu được mối liên quan của Đấng Cứu Độ và sự cần thiết của ơn cứu độ đối với con người. Mátthêu muốn bạn lưu ý đến con số 14 trong cách trình bày gia phả của Đức Giêsu: “Từ Abraham đến Đavít có 14 đời; từ Đavít đến thời lưu đày Babylon có 14 đời; từ thời lưu đày Babylon đến Đức Giêsu có 14 đời” (1:17). Tại sao lại là con số 14? Cách giải thích đơn giản và dễ hiểu nhất là bạn hãy đặt mình vào não trạng người Do Thái thời bấy giờ – bởi họ là những độc giả trực tiếp tác phẩm của Matthêu. Theo quan niệm của họ, con số 14 là con số ám chỉ Đavít. Thật vậy theo mẫu tự tiếng Hipri thì Đavít gồm ba chữ: Đ W Đ (Đawiđ). Đ tương đương với số 4, W số 6 và Đ số 4. Cộng chung lại, ta có số 14. Như thế, có thể nói, khi trình bày gia phả Đức Giêsu trong tương quan với con số 14, ngay từ đầu, Matthêu đã muốn so sánh và gắn liền Đức Giêsu với Đavít. Đức Giêsu là Đavít mới xuất hiện trong lịch sử dân Người. Đối với người Do Thái, Đavít là nhân vật nổi bật trong lịch sử của họ, không những trên bình diện chính trị xã hội, mà còn trên bình diện tôn giáo nữa. Đó là một khuôn mặt rất tiêu biểu của Israel trong Cựu Ước. Vậy, khi trình bày Đức Giêsu là Đavít mới, Matthêu cũng nhắm trình bày Người là khuôn mặt tiêu biểu, là trung tâm của Dân Chúa trong Tân Ước. Ý tưởng này, được Matthêu nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm của ngài. Thí dụ: Mt 9:27 có viết: “Đang khi Đức Giê-su ra khỏi nơi đó, thì có hai người mù đi theo kêu lên rằng: “Lạy Con Vua Đa-vít, xin thương xót chúng tôi!”; và Mt 21:9: “Dân chúng, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” (Nguồn: WHĐ) 

   Niềm vui Giáng Sinh là niềm vui cứu độ. Ơn cứu độ trước hết và trên hết là công trình của Thiên Chúa, Đấng tự đi vào trong lịch sử nhân loại, thông qua mạc khải trong cựu ước và cuối cùng với lòng từ bi vô biên của Thiên Chúa ơn cứu độ ấy được mạc khải trọn vẹn nơi chính Đức Giêsu Kitô. Ơn cứu độ là một ân ban như không của Thiên Chúa dành cho con người. Ngài không đòi hỏi nơi con người một điều kiện nào hết mà Ngài chỉ cần con người đáp lại lời mời gọi của Ngài mà thôi. Trong sự cứu độ này Thiên Chúa đã đích thân đến cắm lều cư ngụ giữa con người, Ngài tìm kiếm, hiện diện và trao ban chính Ngài cho bạn. Bạn có sẵn sàng chưa?

LẮNG NGHE: Hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em; Lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. (Gc 1:21bc)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy đến và ở lại với con luôn mãi.

THỰC HÀNH: Dọn đường cho ngay thẳng để đón Chúa Cứu Độ nhé. 

From : Do Dzung

***********************

Niềm Vui Ơn Cứu Độ – Vũ Phong Vũ

CỘI NGUỒN BẤT TỬ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria; bà là mẹ Đức Giêsu, cũng gọi là Đấng Kitô”.

“Trong đức tin, chúng ta được tháp nhập vào gia đình của Chúa Kitô. Ơn cứu độ đã thay đổi gốc gác hiện sinh của bạn và tôi: từ một cội nguồn chết chóc, nay trở thành cội nguồn bất tử – vì tất cả phát xuất từ tình yêu!” – Branon.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tưởng như khô khan tựa một “danh bạ điện thoại”. Nhưng không! Đó là gia phả của Chúa Kitô: Thiên Chúa đi vào lịch sử, Ngài đã làm người. Ơn cứu độ không chỉ giải thoát tội lỗi, mà còn đổi mới gốc gác hiện sinh, ban cho chúng ta một ‘cội nguồn bất tử’.

Vậy mà ngoài gia phả của Chúa Kitô, Thánh Kinh còn có một gia phả khác: gia phả của Ađam – St 5. Hai gia phả ấy tạo nên một tương phản sâu sắc. Gia phả của Ađam là hồ sơ của sự chết – “rồi chết, rồi chết…”. Gia phả của Chúa Giêsu là hồ sơ của sự sống – “sinh ra, sinh ra…”. Trong gia phả của Chúa Kitô, tuyệt nhiên không có chữ “chết”. Một bên là cội nguồn dẫn tới hư nát; bên kia là cội nguồn khai mở sự sống.

Nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài, chúng ta được làm con Thiên Chúa. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta không chỉ được tha tội, nhưng được tháp nhập vào một gia phả mới, mang một căn tính mới, có cùng một cội nguồn và một sứ mệnh. Chính điều đó làm cho đời sống Kitô hữu có một ý nghĩa sâu xa nhất – trở nên con người mới trong Chúa Kitô và cùng Ngài mở rộng Vương Quốc. “Nhờ Bí tích Rửa Tội, chúng ta được nhận dạng mãi mãi là con cái Thiên Chúa, được yêu thương trong tình yêu Ngài!” – Chloe Murphy.

Thiên Chúa là tình yêu. Ngài đã hứa với Abraham, “Ngươi sẽ là tổ phụ nhiều dân tộc”; “Vương trượng sẽ không rời khỏi Giuđa” – bài đọc một; và “Triều đại Người, đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị đến muôn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca. Tất cả những lời hứa ấy được hoàn tất trong Chúa Kitô. Chính Ngài là Đấng mà Phêrô tuyên bố, “Ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ!”. Hưởng nhận ơn cứu độ ấy, chúng ta bước vào sự sống không hư nát. “Chúng ta không phải là sản phẩm ngẫu nhiên và vô nghĩa, nhưng bắt nguồn từ ý định yêu thương của Thiên Chúa. Mỗi người đều được Ngài mong đợi và yêu mến!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

“Tên bạn được ghi trong gia phả nào?”. Gia phả của Chúa Kitô! Mùa Vọng, mùa tạ ơn Thiên Chúa đã làm người để con người được làm con Chúa; mùa trở về với ‘cội nguồn bất tử’ của mình; và cũng là mùa ‘chọn sống’ như những con người mới trong Chúa Kitô. Bởi lẽ, không chỉ được rửa tội, chúng ta được tái sinh vào một đời sống yêu thương, vui mừng và phục vụ tha nhân như Ngài chờ mong. Gần lễ Giáng Sinh, hãy để Thiên Chúa viết lại câu chuyện đời bạn bằng những gì thanh cao, thánh thiện nhất mà bạn có thể thực hiện để vui lòng Ngài. “Rửa Tội khích lệ chúng ta bỏ lại những lối sống cũ đằng sau!” – John Piper.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, nhìn lại gốc gác mong manh đời con, cho con nhớ, con đã được đổi đời, được tái sinh từ tình yêu Chúa, và được gọi để sống cho sự sống không hư nát!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Ngày 17/12, Thứ Tư Tuần III Mùa Vọng

Gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít.

✠Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.    Mt 1,1-17

1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu ông Áp-ra-ham :

2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác ; I-xa-ác sinh Gia-cóp ; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này ; 3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác ; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron ; Khét-xơ-ron sinh A-ram ; 4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp ; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son ; Nác-son sinh Xan-môn ; 5 Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át ; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết ; Ô-vết sinh Gie-sê ; 6 Gie-sê sinh Đa-vít.

Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn ; 7 Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am ; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia ; A-vi-gia sinh A-xa ; 8 A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát ; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram ; Giô-ram sinh Út-di-gia ; 9 Út-di-gia sinh Gio-tham ; Gio-tham sinh A-khát ; A-khát sinh Khít-ki-gia ; 10 Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se ; Mơ-na-se sinh A-môn ; A-môn sinh Giô-si-gia ; 11 Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này ; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.

12 Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên ; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven ; 13 Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút ; A-vi-hút sinh En-gia-kim ; En-gia-kim sinh A-do ; 14 A-do sinh Xa-đốc ; Xa-đốc sinh A-khin ; A-khin sinh Ê-li-hút ; 15 Ê-li-hút sinh E-la-da ; E-la-da sinh Mát-than ; Mát-than sinh Gia-cóp ; 16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

17 Như thế, tính chung lại thì : từ ông Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời ; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời ; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.


 

Tĩnh tâm ở Giáo Triều Roma với Đức Thánh Cha

Giảng Thuyết: Linh mục dòng OFM , Roberto Paosolini.

Roberto Pasolini O.FM Cap. ( Milan , ngày 5 tháng 11 năm 1971) là một nhà thần học người Ý và là tu sĩ dòng Phan xi cô của Giáo hội Công giáo , Giảng thuyết viên cho Phủ Giáo hoàng .

Tiểu sử

Đang khi là một kỹ sư máy tính trẻ,  tham gia điều hành lĩnh vực máy tính, cũng như hoạt động chính trị, anh Roberto chợt khám phá ra rằng các hệ tư tưởng không làm cho con người tự do hơn. Tự do duy nhất chỉ có thể đến từ Chúa vì “tự do thực sự là giải thoát bản thân khỏi cảm giác tội lỗi, bởi vì sự cứu chuộc của Chúa Kitô đã khôi phục lại mối liên hệ tốt đẹp với Chúa”. Rồi ơn gọi của Chúa đến …

Cha Roberto khấn trọn đời trong Dòng Phanxicô của các anh em Capuchin vào ngày 7 tháng 9 năm 2002 và được thụ phong linh mục vào ngày 23 tháng 9 năm 2006. Sau khi lấy bằng tiến sĩ thần học Kinh Thánh tại Đại học Giáo hoàng Gregorian ở Rome, Ngài là giáo sư ngôn ngữ Kinh Thánh và Kinh thánh tại Studio Teologico Laurentianum Interprovincial của dòng Phan xi cô khó khăn,  Capuchin ở Milan và Venice.

Cha Roberto PasoliniNgày 20 tháng 12 năm 2024, Cha Roberto Pasolini, giảng thuyết cho Giáo hoàng, đã kêu gọi các nhà lãnh đạo Giáo hội hãy trân trọng phẩm chất “khiêm nhường” trong dịp tĩnh tâm Giáng sinh, kêu gọi các tín hữu noi gương Chúa Kitô và phản đối nhu cầu phải cảm thấy “quan trọng trong mắt người khác”. | Nguồn: Ảnh do Festival Bíblico cung cấp

Tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy (Mt 21:24)-Cha Vương

Một ngày bình an trong yêu thương tha thứ nhé.

Cha Vương

Thứ 2 T3MV: 15/12/2025  (n16-24)

TIN MỪNG: Đức Giê-su đáp: “Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. (Mt 21:24)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống, bạn không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót. Vì sự bất toàn này cho nên bạn cũng không tránh khỏi những lời chỉ trích của những người xung quanh. Có những lời chỉ trích đôi khi khó nghe nhưng nó sẽ giúp bạn phát hiện ra khuyết điểm và biết cách hoàn thiện bản thân hơn mỗi ngày. Bạn thử nghĩ coi cuộc sống sẽ như thế nào nếu tất cả mọi người đều không phê bình hay chỉ trích những lỗi sai của nhau? Cũng giống như một người không thèm đứng trước tấm gương soi để coi hình dáng bên ngoài của mình như thế nào. 

   Trong bài Tin Mừng hôm nay bạn thấy các thượng tế và kỳ mục hạch hỏi Chúa về quyền bính của Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” Có lẽ họ đã quên đi Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và do đó Ngài có thẩm quyền trên mọi sự. Chúa Giê-su đáp: “Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” Họ mới nghĩ thầm: “Nếu mình nói: “Do Trời”, thì ông ấy sẽ vặn lại: “Thế sao các ông lại không tin ông ấy?”Còn nếu mình nói: “Do người ta”, thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ.” Họ mới trả lời Đức Giê-su: “Chúng tôi không biết.” Người cũng nói với họ: “Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.” (Mt 21:24-27)

   Chúa biết câu trả lời “không biết” là không thành thật, “giả nai” vì họ lo sợ dân chúng nói ra sự thật mà họ không đồng ý cho nên Ngài cũng không trả lời họ. Đúng là họ đã mất đi một cơ hội vàng ngọc để đến gần với Chúa. Hôm nay, bạn hãy xin Chúa ban cho một quả tim khiêm nhường đủ để biết lắng nghe những lời chỉ trích phê bình của người khác. Vẫn biết rằng đôi khi nó khó nghe thật đó, nhưng nó có khả năng giúp bạn phát hiện ra những khuyết điểm và biết cách hoàn thiện bản thân để đến gần Chúa mỗi ngày.

LẮNG NGHE: Kẻ giấu tội mình sẽ không thành đạt, nhưng ai xưng thú và chừa tội sẽ được xót thương. (Cn 28:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết nhận ra những khuyết điểm của bản thân và cải thiện đời sống để sống tốt đẹp hơn mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Tập đừng phản kháng mạnh hay tỏ ra tức giận đến những lời chỉ trích. Lắng nghe, cầu nguyện và phân định coi sự thật ở chỗ nào. “Nụ cười có thể hàn gắn mọi thứ, còn sự tức giận có thể giết chết hàng triệu điều. Cái bắt tay có thể động viên hàng chục người, trong khi cái chỉ tay khiến hàng ngàn người rời xa bạn.” (Israelmore Ayivor) 

From: Do Dzung

*********************

PEACE IN SOUL – Fr. Xuan Duong, CSsR

TRẬT TỰ XÓT THƯƠNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông!”.

“Điều Chúa muốn tôi dâng Ngài là một tâm hồn tan nát và một trái tim bầm tím. Mãi cho đến khi lòng kiêu hãnh tan vỡ, bạn mới hiểu được những sâu nhiệm của Ngài. Bởi lẽ, Chúa chỉ làm được những điều vĩ đại ngang qua những con người đã từng để Ngài vùi dập đến tan nát. Thật không thể tin được!” – Charles Spurgeon.

Kính thưa Anh Chị em,

“Để Ngài vùi dập đến tan nát!” – đó cũng là nghịch lý của Lời Chúa hôm nay vốn đảo lộn mọi thước đo quen thuộc. Và Thiên Chúa có thể mặc khải một trật tự khác – ‘trật tự xót thương!’.

Sôphônia phơi bày sự phản loạn của Giêrusalem – thành thánh không nghe lời. Thế nhưng, Thiên Chúa không kết thúc lịch sử bằng sự huỷ diệt, Ngài hứa sẽ thanh luyện môi miệng chư dân, để họ cũng kêu cầu và phụng thờ Ngài; đồng thời, Ngài sẽ giữ lại một nhóm nhỏ Israel – khiêm tốn, nghèo hèn – bài đọc một. Chính nhóm nhỏ ấy sẽ trở thành hạt giống của một dân mới – Giáo Hội. Từ đáy sâu ấy, Thánh Vịnh đáp ca vang lên không như tiếng kêu của kẻ mạnh nhưng là tiếng thở dài của những ai không còn gì để bám víu ngoài Chúa, “Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhậm lời!”. “Thiên Chúa có hai ngai: một trên trời cao nhất, và một nơi trái tim bé nhỏ nhất!” – D.L. Moody.

Tin Mừng đưa chúng ta đi xa hơn. Chúa Giêsu công bố một lời gây choáng – những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước! Ngài không tôn vinh tội lỗi, nhưng vạch trần một ảo tưởng nguy hiểm – ảo tưởng “công chính tự thân”. Những con người bị xã hội loại trừ đó biết mình trống rỗng; vì thế, họ hoán cải. Trái lại, những kẻ tự cho mình đạo đức lại khép kín trước ân sủng. Với dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho, một người thưa “không” rồi hối hận đi vào vườn; người kia thưa “vâng” lại không đi. Nước Thiên Chúa không dành cho những lời nói đẹp, mà cho hành động quay đầu với những ‘chọn lựa mới’; dành cho ai sám hối, chứ không dành cho ai có ‘lời hứa hay vị thế’. “Chỉ có hai loại người: kẻ công chính nghĩ mình là tội nhân, và hạng tội nhân nghĩ mình công chính!” – Blaise Pascal.

Anh Chị em,

“Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông!”. Lời ấy đang ngỏ với bạn và tôi, những con người đang sống trong một nền “văn hoá son phấn”, theo cách nói của Đức Phanxicô – nơi vẻ ngoài dễ che khuất con người thật bên trong. Mùa Vọng, mùa mời gọi chúng ta dừng lại, chiêm ngắm “sự an tĩnh của hang đá” để tự hỏi, tôi đang thuộc nhóm nào? Kẻ tự mãn hay người biết mình nghèo nàn, cần được cứu? Nhìn lên thập giá, chúng ta thấy sự khủng khiếp của tội lỗi, nhưng cũng nhận ra sự vĩ đại của tình yêu. Mùa Vọng, vì thế, còn là mùa để Chúa “vùi dập con tim đến tan nát” khỏi những lớp vỏ che đậy, hầu được chữa lành trong lòng xót thương của Ngài. “Kitô hữu là người cổ cứng được bẻ gãy, trán bướng bị vỡ nát, trái tim đá bị đập tan!” – John Piper.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con nhận ra con người thật của con, cho dù phải vỡ vụn khi con nghe những lời ‘không thể tin được’ Chúa dành cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần III Mùa Vọng

Ông Gio-an đã đến, và những người tội lỗi đã tin.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.    Mt 21,28-32

28 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông nghĩ sao ? Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất : ‘Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.’ 29 Nó đáp : ‘Con không muốn !’ nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. 30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp : ‘Thưa ngài, con đây !’ nhưng rồi lại không đi. 31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ?” Họ trả lời : “Người thứ nhất.” Đức Giê-su nói với họ : “Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy ; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”


 

NHỮNG LÁ THƯ CHẾT – Thiên Phúc

Cách đây ít năm, một thành phố nước Anh có thanh niên tên là Fred Armstrong. Chàng làm ở bưu điện và người ta gọi chàng là trưởng ban thư chết vì chàng có nhiệm vụ giải quyết những lá thư đề sai địa chỉ hoặc thiếu sót hay khó đọc. Chàng sống trong một ngôi nhà cũ với cô vợ nhỏ nhắn. Một đứa con gái nhỏ và một cậu con trai còn bú sữa. Sau cơm tối, chàng thích phì phèo tẩu xì gà rồi kể cho cả nhà nghe những kỹ thuật mới nhất trong việc khám phá địa chỉ của những cánh thư lạc. Chàng tự coi mình như một người thám tử. Trong khung trời hiền hòa của chàng chẳng có gợn mây mù nào.

Cho đến một sáng kia, cậu con trai của chàng ngã bệnh. Thoạt nhìn thấy đứa bé, bác sĩ có vẻ suy tư. Và chỉ trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ là cục cưng của chàng không còn nữa.

Fred Armstrong buồn bã, tâm hồn chàng tan nát điếng nghẹn. Bà mẹ và cô bé Maria cũng khổ sầu không kém, nhưng họ quyết tự kiềm chế và vui sống với những gì còn lại. Nhưng ông bố thì không vậy. Cuộc đời của chàng bây giờ quả là một cánh thư chết không định hướng. Mỗi sáng đi làm việc như một người mộng du, ai hỏi chàng mới nói, mà nói rất ít. Chàng làm việc trong yên lặng, ăn một mình, ngồi như tượng đá ở bàn cơm, và đi ngủ thật sớm. Nhưng người vợ biết là chàng thức gần trắng đêm, mắt mở thao láo ngó lên trần nhà. Ngày lại ngày, tháng năm qua, tháng chạp đến, chàng càng tỏ ra thờ ơ suy nhược hơn nữa.

Bà vợ cố gắng thuyết phục chồng. Nàng bảo: “Tuyệt vọng như vậy là bất công đối với kẻ chết cũng như với người sống.” Nàng sợ thái độ lầm lì đó sẽ đưa chàng tới bệnh viện tâm thần.

Giáng Sinh đã gần tới. Một buổi chiều xám ngắt. Fred đang phân loại thư từ thì thấy có một lá thư dứt khoát là không thể chuyển được. Địa chỉ của người nhận nguệch ngoạc bằng bút chì như sau:

“Kính gởi Ông già Noel Bắc Cực.”

Armstrong định xé vất nó vào sọt rác nhưng có một thúc đẩy nào đó khiến chàng mở thư và đọc:

“Ông già Noel thân mến,

Năm nay nhà cháu buồn lắm. Vậy ông khỏi mang quà tới cho cháu nữa. Mùa xuân vừa rồi, thằng cu nhà cháu về trời. Cháu chỉ xin mỗi điều là khi ông tới nhà cháu, ông mang dùm đồ chơi về trời cho em cháu. Cháu để đồ chơi của nó ở gần lò sưởi góc bếp: con ngựa gỗ, cỗ xe lửa và hết mọi thứ khác. Em cháu thích phi ngựa ghê lắm, ông mang hết về cho nó và đừng để gì cho cháu cả, Nhưng xin ông cho ba cháu cái gì để ba cháu giống như hồi trước. Xin ông làm cho ba cháu lại hút xì gà và tiếp tục kể chuyện cho cháu. Cháu nghe ba nói với má là chỉ có “đời đời” mới làm cho ba cháu lành được thôi. Vậy xin ông gởi cho ba cháu một ít cái “đời đời” nhé. Cháu hứa sẽ rất ngoan ngoãn.

Ký tên

Marian.

Tối hôm đó, trên những con đường phố sáng rực đèn. Fred Armstrong rảo bước thoăn thoắt. Vào đến sân nhà chàng bật quẹt châm xì gà. Khi vừa mở cửa, chàng xả một hơi thuốc dài. Làn khói giống như một vòng hào quang quanh đầu hai mẹ con Marian đang trố mắt ngạc nhiên. Chàng lại tươi cười như trước.

***

Cuộc sống của mỗi người chúng ta đều phải trải qua những thăng trầm không thể tránh khỏi. Có những tháng ngày xem ra vô vọng không còn thiết sống. Có những lúc mây mù bao phủ khiến chúng ta không còn thấy đâu là lối thoát. Đôi khi qúa tuyệt vọng, chúng ta tự hỏi: tại sao Thiên Chúa để xảy ra nhiều đau khổ và bất công như thế ? Thực ra, Thiên Chúa không tạo ra đau khổ, cũng không gây ra bất công, bởi vì Ngài là tình yêu thương và là sự công bằng vô biên.

Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng Thiên Chúa không nhận lời mình cầu xin. Nhưng chúng ta quên rằng cầu nguyện không phải là xin Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, mà là tự đặt mình trong tư thế sẵn sàng thực thi ý Chúa. Chương trình của Ngài vượt quá trí hiểu hẹp hòi và cái nhìn thiển cận của chúng ta.

Kitô giáo có một nghịch lý rất lớn, đó là kêu gọi con người nhìn vào Thập giá như biểu tượng của hy vọng, nhìn vào đau khổ và cái chết như khởi đầu của ơn phúc. Chắc chắn, Chúa Giêsu không phải là người rao giảng sự chết chóc.

Kitô giáo không phải là đạo của khổ đau. Đức Kitô cũng không tự mình đi tìm cái chết; mãi mãi cái chết ấy vẫn là một bản án bất công của con người dành cho Thiên Chúa. Ngài cũng không đòi chúng ta phải đi tìm thập giá, Ngài chỉ khuyến khích: Hãy vác lấy thập giá mình mỗi ngày.”

Mà kỳ thực, có cuộc sống nào mà không có đau khổ. Có ai thóat khỏi khổ đau? Từ khi Ngôi Hai giáng sinh và cứu chuộc, thập giá đã biến thành nguồn ơn cứu rỗi, cái chết đã trở thành Tin Mừng. Tin Mừng chính là Thiên Chúa luôn yêu thương dìu dắt con người trong mọi nghịch cảnh của cuộc sống.

Từ đây, thất vọng đã bừng sáng lên niềm hy vọng. Những đau khổ của chúng ta sẽ không đi vào quên lãng, nhưng mang lại cho chúng ta niềm hạnh phúc mai sau.

C. Delavigne đã nói: “Sống là chiến đấu mà phần thưởng ở trên trời”. Cervatès còn xác quyết: “Ở đâu có đời sống thì ở đó có niềm hy vọng.” Chính trong niềm hy vọng mà chúng ta nhìn thấy hoa trái của hạt giống mình đã gieo vãi. Bên kia những vất vả, mất mát, thử thách đau khổ, người Kitô hữu luôn được mời gọi để nhìn thấy những ánh sao của niềm hy vọng, như Ba Vua tìm lại ánh sao sau khi lạc mất.

***

Lạy Chúa Hài Đồng, Chúa đã Giáng Sinh để chia sẻ những khổ đau của nhân loại chúng con. Xin cho con đừng bao giờ thất vọng, ngã lòng vì những đau khổ thử thách, nhưng cho con luôn cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương và được lớn lên trong niềm tin tưởng phó thác. Xin ban thêm cho con niềm hy vọng và nâng đỡ con trong cuộc sống. Xin củng cố trong con niềm tin tưởng, lạc quan, để mỗi khi tiếp xúc với con, mọi người sẽ thấy bừng sáng lên niềm hy vọng vào cuộc sống. Amen!

Thiên Phúc

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

THÔNG ĐIỆP KÉP CỦA GIÁNG SINH – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Tôi cực kỳ hạnh phúc khi một số bạn bè là nhà hoạt động xã hội gửi cho tôi các tấm thiệp Giáng Sinh với lời chúc: “Nguyện xin Bình an Chúa Kitô làm phiền bạn!”  Chẳng lẽ chúng ta không thể có một ngày trong năm để vui vẻ ăn mừng mà không để cái tôi vốn đã chẳng vui vẻ gì giờ lại gánh thêm cảm giác tội lỗi sao?  Chẳng phải Giáng Sinh là thời gian để chúng ta tận hưởng cảm giác làm trẻ thơ lần nữa sao?  Hơn nữa, như Karl Rahner từng nói, chẳng phải Giáng Sinh là thời gian Chúa cho chúng ta được phép vui vẻ sao?  Thế thì sao lại không vui vẻ?

 À, chuyện này phức tạp lắm.  Giáng Sinh là thời gian Chúa cho chúng ta được phép vui vẻ, là thời gian như lời Chúa nói qua ngôn sứ Isaia: “Hãy làm khuây khỏa dân Ta.  Hãy nói những lời khuây khỏa!”  Nhưng Giáng Sinh cũng là thời gian cho thấy khi Thiên Chúa sinh ra cách đây 2000 năm, chẳng nhà nào có chỗ cho Ngài.  Chẳng có chỗ cho Ngài trong nhà trọ.  Cuộc sống bận rộn và những kỳ vọng của mọi người đã ngăn họ dành cho Ngài một nơi để ra đời.  Và điều đó vẫn không thay đổi. 

Nhưng trước hết, tôi xin nói đến sự khuây khỏa Chúa Giêsu đem lại khi ra đời.  Nhiều năm về trước, tôi có tham gia hội đồng của một giáo phận lớn.  Trong giờ sinh hoạt, người điếu hành chương trình chia chúng tôi thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm được yêu cầu trả lời một câu hỏi: Một điều duy nhất, quan trọng nhất mà Giáo hội cần thách thức thế giới thực hiện ngay lúc này?

 Các nhóm gửi lại câu trả lời, mỗi nhóm lại nêu ra một thách thức đạo đức hoặc thiêng liêng quan trọng: “Chúng ta cần thách thức xã hội biết thực thi công lý hơn!”  “Chúng ta cần thách thức thế giới biết có đức tin thật và đừng nhầm lẫn Lời Chúa với ý muốn của riêng mình.”  “Chúng ta cần thách thức thế giới biết nghiêm túc hơn về đạo đức tình dục.  Chúng ta đã lạc lối rồi!”  Đây đều là những thách thức cần thiết, và tốt đẹp.  Nhưng không nhóm nào nói: “Chúng ta cần thách thức thế giới đón nhận sự khuây khỏa của Thiên Chúa!”  Cứ cho là thế giới hiện nay đang có nhiều bất công, bạo lực, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, tham lam, ích kỷ, tình dục bừa bãi, và giả danh đức tin vì lợi ích riêng, nhưng hầu hết những người trưởng thành cũng đang sống trong đau đớn, lo âu, thất vọng, mất mát, trầm cảm, và mặc cảm tội lỗi không cách nào cởi bỏ.  Nhìn đâu cũng thấy những tâm hồn nặng trĩu.  Hơn nữa, quá nhiều người đang sống với tổn thương và thất vọng, họ chẳng thấy Thiên Chúa và Giáo hội là lời giải cho nỗi đau của mình, mà thậm chí còn là một phần gây nên nỗi đau đó.

 Thế nên, khi rao giảng Lời Chúa, Giáo hội trước hết phải cam đoan với thế giới về tình yêu thương, sự quan tâm và sự tha thứ của Thiên Chúa.  Lời Chúa, trước hết là sự khuây khỏa cho chúng ta, thật sự là nguồn tối hậu của mọi khuây khỏa.  Chỉ khi nào thế giới biết đến sự khuây khỏa nơi Lời Chúa, thì thế giới mới đón nhận các thách thức kèm theo.

Và thách thức đó, trong mọi thách thức khác là dành chỗ cho Chúa Kitô trong nhà trọ, nghĩa là mở rộng lòng mình, nhà mình và thế giới mình sao cho Chúa Kitô có thể đến và sống ở đó.  Với khoảng cách 2000 năm, chúng ta dễ dàng phán xét gay gắt những người đồng thời với Chúa Giêsu đã không nhận ra thánh Giuse và Đức Mẹ đang cưu mang ai, đã không tạo một nơi xứng đáng để Ngài hạ sinh, đã không nhận ra Ngài là Đấng Thiên sai.  Sao họ có thể mù tối như thế?  Nhưng chính phán xét đó có thể áp dụng trên chúng ta.  Chúng ta đâu hẳn đã dành chỗ cho Chúa trong nhà trọ của mình. 

Khi có một người mới sinh ra trên đời, thì người đó chiếm lấy một chỗ vốn trước đây chưa từng có ai.  Đôi khi, con người mới đó được chào đón nồng hậu, được có ngay một không gian yêu thương và được mọi người xung quanh mừng vui vì sự hiện diện mới này.  Nhưng không phải lúc nào cũng thế, đôi khi, như hoàn cảnh của Chúa Giêsu, người ta chẳng tạo một không gian yêu thương và cũng chẳng chào đón sự hiện diện mới này. 

Thời nay chúng ta thấy chuyện này trong sự miễn cưỡng chào đón người nhập cư, một chuyện xảy ra gần như khắp thế giới và sẽ là lời phán xét sau này cho thế hệ chúng ta.  Liên hiệp quốc ước tính có 19,5 triệu người tị nạn trên thế giới, những người chẳng được ai hoan nghênh.  Tại sao lại không hoan nghênh?  Chúng ta đâu phải người xấu, và hầu như lúc nào chúng ta cũng có thể quảng đại rộng rãi vô cùng mà.  Nhưng để làn sóng nhập cư này tràn vào sẽ gây phiền toái cho cuộc đời chúng ta.  Cuộc đời của chúng ta sẽ phải thay đổi.  Chúng ta sẽ mất đi nhiều tiện nghi hiện thời, mất nhiều thứ vốn đã quen thuộc, và mất đi phần nào cảm giác an toàn.

 Chúng ta không phải là người xấu, các chủ quán trọ hai ngàn năm trước cũng thế, họ không biết mình đang làm gì khi bỏ mặc, quay lưng với thánh Giuse cùng Đức Mẹ.  Tôi luôn có một lòng cảm thông dành cho họ.  Có lẽ bởi tôi, cũng đang vô thức làm hệt như họ.  Một người bạn của tôi thích nói rằng, “Tôi phản đối cho thêm người nhập cư vào… Vì tôi đã vào rồi mà!” 

Bình an của Chúa Kitô, thông điệp tiềm ẩn và bối cảnh không êm đẹp trong việc Chúa Kitô xuống thế, nếu hiểu được, chắc chắn sẽ làm phiền chúng ta.  Và mong sao chúng cũng đem lại sự khuây khỏa sâu sắc cho chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: NguyenNThu