THÁNH THẤT THIÊNG – Lm. Minh Anh -Tgp. Huế

Lm. Minh Anh -Tgp. Huế

“Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người!”.

Một trong các triết gia ảnh hưởng đến việc trở lại của thánh Augustinô là Victorinus; ông nổi tiếng đến nỗi được dựng tượng trong tòa án Rôma. Về già, ông đọc Thánh Kinh và các tác phẩm Kitô giáo. Ngày kia, ông nói với Simplicianus, “Tôi muốn ngài biết, tôi là một Kitô hữu!”; Simplicianus đáp, “Tôi sẽ không tin cho đến khi ông đến nhà thờ!” – “Nhà thờ làm cho người ta thành Kitô hữu sao?”. Sau đó, ông học đạo và công khai trở lại!

Kính thưa Anh Chị em,

 

Đúng như Victorinus nhận định, “Nhà thờ không làm cho người ta thành Kitô hữu!”. Hôm nay, lễ Cung Hiến Thánh Đường Latêranô, chúng ta không chỉ tôn vinh một công trình bằng đá, nhưng tôn vinh một “Thánh Thất Thiêng” – chính Chúa Kitô – linh hồn của mọi thánh đường!

Không có toà nhà nào đủ lớn để chứa nổi Thiên Chúa, nhưng con người vẫn cần một nơi để gặp gỡ Ngài. Ban đầu, các tín hữu tụ họp tại các tư gia để cầu nguyện và “bẻ bánh”; dần dần, các cộng đoàn sáng tạo những “ngôi nhà” dành riêng cho việc cầu nguyện, đọc Lời Chúa và cử hành phụng vụ. Từ những cuộc đàn áp đầu tiên cho đến ngày được tự do, Kitô giáo đã xây các nhà nguyện, nhà thờ và vương cung thánh đường; trong đó, quan trọng nhất là đại giáo đường Gioan Latêranô, Rôma. “Thật kỳ diệu biết bao khi thấy Sự Hiện Diện Thần Thiêng của Đấng nhìn ra ‘gần như tận’ các đường phố từ các nhà thờ!” – Henry Newman.

“Latêranô” biểu trưng cho sự hiệp nhất của mọi Giáo Hội với Giáo Hội Rôma. Trên hiên chính, Latêranô tự hào mang danh hiệu “Mẹ và Đầu của tất cả các nhà thờ trong thành phố và trên thế giới”. Nó còn quan trọng hơn cả đền thờ Phêrô – được xây trên mộ vị Tông đồ trưởng – vì Latêranô mới là nhà thờ chính toà của Giáo Hoàng, Đấng đại diện Chúa Kitô. Chính Ngài là dòng sông ân sủng ban sự sống mà bài đọc một và Thánh Vịnh đáp ca tiên báo.

Đền thờ bằng đá có thể sụp đổ, nhưng “Thánh Thất Thiêng” – Chúa Kitô và mỗi tâm hồn nên một với Ngài – thì không. Khi nói, “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa” – bài đọc hai, Phaolô không nói về nơi chốn, mà nói về một mối tương quan. Thiên Chúa không chỉ ngự trong các cung thánh, mà còn trong những trái tim biết mở ra cho Ngài.

Anh Chị em,

Nếu “Thánh Thất Thiêng” là Chúa Kitô, thì mọi không gian thánh không còn bị giới hạn bởi tường vách hay thánh điện, vì Ngài đã là nơi gặp gỡ giữa Trời và Đất, giữa Chúa và người. Từ đó, ai kết hợp với Ngài đều được thánh hiến, trở nên “đền thờ sống động”, nơi Thần Khí Thiên Chúa hiện diện và hoạt động. Vì thế, điều cốt yếu không phải là kiến trúc, nhưng là hiệp thông – với Chúa và với nhau. “Thánh Thất Thiêng” chỉ sáng rực khi được thắp sáng bởi tình yêu, đó là một trái tim được thanh tẩy, biết yêu và tha thứ – một thánh đường đẹp nhất mà Thiên Chúa luôn muốn ngự vào. Từ đó, nhịp sống mỗi người dâng lên Ngài như một phụng vụ của tình yêu. “Đền thánh thật không phải nơi những tảng đá ‘đứng’, mà là nơi tình yêu ‘chảy’ và các tâm hồn hiệp nhất!” – Thomas Merton.

Chúng ta có thể cầu nguyện:

“Lạy Chúa, xin ngăn ngừa mọi ngẫu tượng ngấp nghé, ngó nghiêng, hay ngỗ ngáo dành chỗ Chúa trong cung thánh lòng con!”, Amen.

Lm. Minh Anh -Tgp. Huế

*****************************************************************

LỜI CHÚA CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG LATÊRANÔ, 9/11, CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN 

Đền thờ Đức Giê-su muốn nói là chính thân thể Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 2,13-22

13 Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái, Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem. 14 Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. 15 Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. 16 Người nói với những kẻ bán bồ câu : “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” 17 Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh : Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.

18 Người Do-thái hỏi Đức Giê-su : “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế ?” 19 Đức Giê-su đáp : “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi ; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.” 20 Người Do-thái nói : “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao ?” 21 Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người. 22 Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.


 

Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được. (Lc 16:13)- Cha Vương

Chúc bạn ngày cuối tuần vui tươi bình an trong tinh thần chia sẻ nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 8/11/2025

TIN MỪNG: Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được. (Lc 16:13)

SUY NIỆM: Khi Chúa nói anh em không thể “làm tôi hai chủ được”, Ngài muốn nói với bạn điều gì hôm nay? Nhà thần học Scott Hahn, giải thích rằng chữ “Mammon” là “một từ tiếng Hi có nghĩa là “Tiền Của.” Điều này không có nghĩa là tiền của tự bản thân nó là xấu xa mà bạn phải từ bỏ hoàn toàn. Nhìn vào thực tế, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bạn không thể sống mà không tiền. Nhà thờ cần tiền để bảo trì cơ sở và duy trì các sinh hoạt mục vụ. Đến ngay cả người chết cũng cần tiền để được chôn cất :). 

Vậy khi nào “tiền của” của bạn trở thành điều xấu? Câu trả lời là khi bạn thấy tiền của dẫn bạn đến lòng tham lam, ghen tị và chia rẽ với người khác, và khi của cải làm bạn sao nhãng việc “mến Chúa và yêu người”, thì lúc đó bạn cần phải đặt lại vấn đề về sự lựa chọn của bạn. 

Điều gì đang ngăn cản bạn thực thi giới răn “mến Chúa và yêu người”?

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu, / Xin dạy con biết sống quảng đại, / biết phụng sự Chúa cho xứng đáng, / biết cho đi mà không tính toán, / biết chiến đấu mà không sợ thương tích, / biết làm việc mà không tìm an nghỉ, / biết hiến thân mà không mong chờ một phần thưởng nào khác hơn là biết mình đã hành động theo Thánh ý Chúa. Amen. 

(Thánh Inhaxiô Loyola)

THỰC HÀNH: Làm một việc bố thí hôm nay. 

From Do Dzung

*************************

Cho Đi Là Lãnh Nhận – Angelo Band

 CHỮ ‘BUÔNG’ TRONG ĐỜI TU-Sr Mây Trắng, SPP

Gieo Mầm Ơn Gọi

Có những ngày trong đời tu, tôi chợt nhận ra mình sống quá chặt, nắm giữ quá nhiều điều mà chính tôi không hay biết. Tôi tưởng rằng mình đã “trao hết cho Chúa”, nhưng sâu thẳm bên trong, vẫn còn những góc nhỏ tôi siết lại và sợ phó thác. Chỉ đến khi những biến động âm thầm gõ cửa lòng, tôi mới hiểu rằng: buông không phải là một quyết định duy nhất, nhưng là một hành trình dài, lặng lẽ, và cần ơn Chúa từng ngày.

Khi trái tim còn kẹt lại: Tôi nhớ những năm đầu đời tu, lòng tôi còn nhiều nỗi sợ: sợ không đủ thánh thiện, sợ không được yêu, sợ bước sai, sợ đánh mất chính mình. Nhiều đêm, tôi nằm trong căn phòng nhỏ, nghe tiếng quạt kêu đều đều, mà lòng nặng như đá. Tôi biết mình đang “giữ” điều gì đó, nhưng không có can đảm mở tay ra. Thậm chí, có những điều tôi mang theo từ thời tuổi trẻ: một lời nói vô tình làm tổn thương tôi, một thất bại khiến tôi mặc cảm, một người tôi thương nhưng phải chọn từ bỏ, một tương lai tôi từng mơ mà không còn thuộc về tôi nữa. Tôi giấu những điều đó trong sâu thẳm tâm hồn, như thể nếu không nhìn vào thì chúng sẽ biến mất. Nhưng chúng không biến mất. Chúng đợi tôi đối diện.

Khi Chúa nhẹ nhàng chạm vào những điều tôi muốn tránh: Nhiều lần trong giờ chầu, tôi không cầu nguyện được, Chúa không nói gì với tôi, mà chỉ để tôi ngồi đó với chính mình. Không có ánh sáng bất ngờ, không có cảm xúc thăng hoa. Chỉ là sự thinh lặng kéo dài cho đến khi tôi phải hỏi chính mình: “Con đang giữ điều gì vậy? Tại sao con không buông được? Tại sao lòng con còn nhiều ngổn ngang đến vậy?” Tôi đã luôn xin Chúa thay đổi hoàn cảnh, chữa lành nỗi đau, quên đi ký ức của tôi, chờ mãi vẫn không có gì khác. Nhưng rồi một ngày, tôi cảm thấy Ngài nói: “Con hãy đưa cho Cha trước đã.” Đưa cho Chúa nghe thì dễ, nhưng để đưa được, tôi cần nhận ra điều tôi nắm. Tôi cần chạm vào nỗi đau ấy. Tôi cần thừa nhận rằng tôi yếu đuối. Và rằng tôi đang cố tự chữa lành bằng sức riêng mình. Chính lúc ấy, tôi hiểu: Buông không phải là từ bỏ trách nhiệm, buông là từ bỏ sự kiểm soát, mà tôi như bao người vẫn thích kiểm soát hơn là tin tưởng.

Buông là bước vào tự do, dù chân còn run: Có những điều buông xuống làm tôi đau, có những điều buông xuống làm tôi khóc, và có những điều buông xuống khiến tôi như mất một phần mình. Nhưng đã bao lần sau khi buông, tôi thấy lòng nhẹ đi mà không hiểu vì sao mình từng ôm chặt đến vậy.

Tôi nhớ có lần mang trong lòng một hiểu lầm kéo dài nhiều tháng. Tôi chạy trốn cuộc đối thoại, tránh ánh mắt người chị em đã vô tình khiến tôi đau. Nhưng Chúa thì không để tôi chạy mãi. Trong giờ cầu nguyện, tôi cảm nhận Ngài mời gọi: “Đi đi con. Hãy nói sự thật trong yêu thương. Hãy buông sự tự ái.” Tôi run rẩy, nhưng tôi đã đi. Và chính ngày hôm đó, tôi học thêm một bài: Buông không làm ta nhỏ đi, nhưng làm ta trưởng thành trong sự thật và yêu thương.

Ở những lúc khác, Chúa lại dạy tôi buông những dự định của mình để đón nhận ý Chúa. Tôi từng có những ước mơ rất đẹp, rất tốt, tưởng rằng đó là điều Chúa muốn. Nhưng rồi Ngài lại dẫn tôi qua một hướng khác xa hơn, khó hơn, và cũng thật bất ngờ. Và khi tôi chấp nhận buông ước mơ cũ, tôi mới thấy câu này là thật: Không có gì Chúa lấy đi mà không thay bằng điều tốt hơn cho linh hồn.

Lúc tôi buông, tôi nghe được tiếng Chúa rõ hơn:  người ta nói: hai bàn tay chỉ có thể nhận khi nó trống, và lòng người cũng vậy. Khi tôi còn giữ chặt nỗi buồn, tôi không thấy niềm vui. Khi tôi còn giữ chặt kỳ vọng, tôi không thấy sự tự do. Khi tôi còn giữ chặt cái tôi, tôi không nghe được tiếng Chúa. Và khi tôi buông, không phải một lần, mà là từng chút, từng ngày, tôi khám phá một điều rất nhỏ mà rất thật: Chúa chưa bao giờ đòi tôi hoàn hảo. Ngài chỉ muốn tôi để Ngài làm Chúa của cuộc đời tôi. Buông là để Ngài dẫn, chứ không để tôi tự lèo lái. Buông là tin rằng Ngài đủ. Buông là chấp nhận rằng tôi chỉ là một trẻ nhỏ trong vòng tay Người Cha hiền.

Trong thế giới tạm bợ, buông là cách để không đánh mất chính mình: Giữa một thế giới quá nhiều tiếng ồn, quá nhiều so sánh, quá nhiều lỡ làng, tôi thấy “buông” không phải là trốn chạy, nhưng là một nghệ thuật để tâm hồn được giữ nguyên sự trong lành: buông để lòng nhẹ hơn, buông để tim được chữa lành, buông để mỗi tối ngủ bình yên, buông để sáng hôm sau sống mỉm cười, và buông để còn chỗ cho bình an của Chúa cư ngụ.

Với tôi là một nữ tu sống giữa đời tạm bợ này, buông chính là hành vi đức tin đẹp nhất mà tôi dâng lên Chúa mỗi ngày: buông chính mình, để thuộc trọn về Ngài. Buông để không còn gì chất chứa trong tôi khác ngoài Chúa và Thánh Ý của Ngài.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, con trao vào tay Chúa những điều con vẫn còn giữ chặt: những nỗi sợ, những vết thương, những kế hoạch chưa trọn, những người con thương, những người con chưa thương được và cả những điều con chưa dám gọi tên. Xin dạy con biết buông bỏ trong bình an, để con không bước đi với trái tim nặng nề. Xin cho con đủ khiêm nhường để phó thác, đủ tin tưởng để mở tay ra, và đủ tình yêu để đón nhận điều Chúa muốn cho đời con. Lạy Chúa, giữa thế giới chóng qua này, xin gìn giữ con trong sự tự do của con cái Chúa, để từng ngày, con biết buông xuống chính mình và thuộc trọn về Chúa, Đấng yêu con không mỏi mệt. Amen.

Sr Mây Trắng, SPP


 

MÙI ĐẤT, MÙI TRỜI –  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thiên Chúa thấu biết lòng các ông!”.

“Tôi làm hết sức những gì có thể. Nếu kết thúc của nó tốt đẹp, tôi an lòng, những lời chống đối sẽ không là gì cả. Nếu tôi sai, thì dẫu mười thiên thần cho rằng, ‘Tôi đúng’, điều đó vẫn không tạo nên một sự khác biệt. Chúa biết mọi sự!” – A. Lincoln.

Kính thưa Anh Chị em,

“Chúa biết mọi sự!”, xác tín của Lincoln được gặp lại qua Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói với các biệt phái, “Thiên Chúa thấu biết lòng các ông!” – những người sống theo ‘thói đất’, đánh bóng chính mình. Ngài muốn họ thanh thoát – rũ ‘mùi đất’, ngát ‘mùi trời!’.

Trong cuộc sống, có những sai lầm khi chúng ta nghĩ về người khác, và cũng bao điều không đúng khi người khác nghĩ về chúng ta. Kết luận của Chúa Giêsu nhắm đến một khuynh hướng chung của nhiều người – tô hồng một bản ngã giả tạo – một ảo tưởng khiến con người khép kín trước chân lý, tha nhân và Thiên Chúa. Ai không dám nhìn vào lòng mình dưới ánh sáng của Ngài, người ấy chỉ lệt đệt ‘ngang đất’. “Nếu không biết mình, bạn sẽ chẳng đâm rễ nơi bản thân; bạn có thể chịu đựng một thời, nhưng khi gặp đau khổ hay bách hại, đức tin của bạn sẽ lung lay!” – Henry Newman.

Chúa Giêsu ‘biết tỏng’ lòng dạ các biệt phái, Ngài cũng ‘biết tỏng’ lòng dạ bạn và tôi! Chúng ta thường tự đề cao, tạo nên một hình ảnh lệch lạc về bản thân. Nhiều đổ vỡ khởi đi từ đó! Vì thế, mấu chốt của đời sống thiêng liêng chính là “biết mình trong ánh nhìn của Thiên Chúa” – cũng là cánh cửa nơi ân sủng đi vào. ‘Biết mình’ giúp chúng ta không còn bận tâm điều Thiên Chúa không bận tâm, nhưng bận tâm những gì Ngài nghĩ về tôi, cuộc sống tôi, linh hồn tôi. “Một khi dám để Thiên Chúa đi vào toàn bộ bản thân run rẩy của mình, bạn càng cảm nhận được rằng, Tình Yêu Ngài – tình yêu hoàn hảo – đuổi hết mọi sợ hãi!” – Henri Nouwen.

Phaolô hiểu rõ điều ấy, ngài nhận ra sự yếu hèn của mình và biết ơn những người đã nâng đỡ ngài trong sứ vụ, “Họ đã liều mất đầu để cứu mạng tôi. Không chỉ mình tôi, mà còn các Hội Thánh!” – bài đọc một. Nhờ sự cộng tác đó, danh Thiên Chúa được chúc khen, “Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Chúa biết mọi sự!”. Ngài biết chúng ta ‘từ đất’, ‘thuộc về đất’ và lòng luôn ‘dính đất’; vì thế, với những tiêu chí ‘ngang đất’, chúng ta luôn tìm cho mình những ‘trọng vọng’ theo ‘thói đất’. Không được như vậy, chúng ta chắp vá, vay mượn… chỉ để tạo nên một ‘giá trị rẻ tiền’ nào đó trước người đời. Kết quả, cuộc sống chúng ta đượm ‘mùi đất’ – nặng nề, giả tạm – hơn là toả ‘mùi trời’ – thanh thoát, chân thật. Nhưng ân sủng – không phá huỷ tự nhiên, mà kiện toàn nó – có thể thánh hoá đất ấy. Chính từ ‘phận đất’, Chúa muốn làm bừng dậy ‘hồn trời’; Ngài mơ về chúng ta luôn nhìn vào Chúa Kitô, nên giống Ngài, Đấng sẽ chỉ cho mỗi người cách sống tư cách con trai, con gái của Trời; phần còn lại, Ngài lo!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sống theo thói đất, đượm mùi đất; cho con vương hương mùi trời, xứng với phẩm tính con cái Vua Trời!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

**********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXXI Thường Niên, Năm Lẻ 

Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 16,9-15

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. 10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. 11 Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ? 12 Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ?

13 “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.”

14 Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giê-su. 15 Người bảo họ : “Các ông là những kẻ làm ra bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông, bởi vì điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa.”


 

Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. (Lc 16:8b)- Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới! Xin Chúa cùng đi với bạn trên mọi nẻo đường hôm nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 7/11/2025

TIN MỪNG: Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. (Lc 16:8b)

SUY NIỆM: Trong dụ ngôn người quản gia bất lương Chúa muốn đề cập đến hai loại khôn ngoan—khôn ngoan của Thiên Chúa và khôn ngoan của thế gian. 

    Khôn ngoan của Chúa chỉ nhắm vào một mục đích đơn giản duy nhất đó là quy mọi sự về Chúa. Nó giúp bạn nhìn thế giới từ góc nhìn của Chúa, điều này có thể giúp bạn hiểu được mục đích và kế hoạch của Ngài để rồi vui vẻ sống theo thánh ý Ngài. Người sống trong sự khôn ngoan của Chúa không cho rằng mình hiểu biết mọi sự mà là người chấp nhận những giới hạn của bản thân và cậy dựa vào ‘ơn trên’ trong mọi hoàn cảnh. 

    Còn khôn ngoan của của thế gian thì chỉ nhắm tới các mục đích trần thế, tìm mọi cách để bảo vệ mạng sống mình, chỉ lo kiếm tìm của cải và vinh quang thế gian, mà chẳng bận tâm đến gia nghiệp vĩnh cửu. Thay vì hy sinh cho người khác để được sự sống vĩnh cửu thì họ lại chà đạp nên nhân phẩm người khác để sống.

    Để có được sự khôn ngoan của Chúa, sách Khôn Ngoan có viết: “Bước đầu để đạt tới Đức Khôn Ngoan là thật lòng ham muốn học hỏi. Chăm lo học hỏi là yêu mến Đức Khôn Ngoan. Mà yêu mến là tuân giữ lề luật” (Kn 6:17-18). Ước mong bạn thể hiện sự khôn ngoan của Chúa trong cuộc sống với những hành vi cụ thể dù to hay nhỏ bé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha nhân từ, xin lấp đầy tim con khôn ngoan của Chúa để con biết phân biệt được sự lành sự dữ hầu luôn sống xứng đáng với phẩm giá mà Chúa đã tạo nên con. 

THỰC HÀNH: Nói “không” với lọc lừa gian dối của thế gian. 

From: Do Dzung

******************

Sống Một Đời Cho Chúa

TÌM HIỂU CÁC TÔNG ĐỒ – Sao Biển

Sao Biển

25/10/2021

Có lẽ chúng ta không còn là Kitô hữu khi loại bỏ các tông đồ. Không có những con người trung thành và can đảm này, chúng ta sẽ không biết Tin mừng và Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Mười hai tông đồ đầu tiên cùng với Phaolô và Mátthia là nền móng cho đức tin của chúng ta.

TÌM HIỂU CÁC TÔNG ĐỒ

D.D. Emmons

WGPNT (25.10.2021) – Có lẽ chúng ta không còn là Kitô hữu khi loại bỏ các tông đồ. Không có những con người trung thành và can đảm này, chúng ta sẽ không biết Tin mừng và Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Mười hai tông đồ đầu tiên cùng với Phaolô và Mátthia là nền móng cho đức tin của chúng ta. Chính các ngài đã loan truyền sứ điệp của Đức Giêsu, chia sẻ câu chuyện phục sinh cho hầu hết phần thế giới được biết đến vào thế kỷ I (Rôma lúc bấy giờ được xem là tận cùng trái đất). Sau lễ Ngũ tuần, các ngài kiên quyết dấn thân vì Đức Kitô, đến độ sẵn sàng chịu đau khổ và hi sinh mạng sống; thật vậy, hầu hết các ngài đã chịu tử đạo.

Về tầm quan trọng của các tông đồ, chúng ta lại ít biết về một vài vị trong số họ, và những gì chúng ta thực sự biết phần lớn dựa trên truyền thống hoặc truyền thuyết. Chúng ta có thể phỏng đoán một số điều về các tông đồ nhưng tất cả đều dựa trên văn hóa Do Thái. Chẳng hạn, vị Thầy (Giêsu) luôn lớn tuổi hơn môn đệ, nên các tông đồ có lẽ dưới 30 tuổi và một vài vị có thể đang tuổi niên thiếu. Là những người trẻ và ngư dân, có lẽ họ có sức khỏe tốt, là điều cần thiết để theo Đức Giêsu khắp miền Galilê. Hầu hết họ đều ít học, có lẽ ngoại trừ Mátthêu người thu thuế. Họ ít đi đây đi đó, chất phác, sống và lao động tại địa phương. Thánh Josemaría Escrivá đã viết về các Tông đồ như sau: “Các tông đồ chỉ là những người đánh cá… Họ ít học; thậm chí không được thông minh lắm, nếu chúng ta nhìn cách họ phản ứng trước những điều siêu nhiên… Họ nghèo và kém hiểu biết”. Thế nhưng, Đức Giêsu đã kêu gọi họ trở thành chứng nhân của Ngài cho toàn thể nhân loại.

Nêu tên các tông đồ

Trong các lớp giáo lý cho người dự tòng trưởng thành, có lúc người hướng dẫn yêu cầu học viên nêu tên các tông đồ đầu tiên. Thông thường, có người sẽ trả lời: “Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan”, rồi ngập ngừng “và Phaolô”. Nhiều học viên, và các Kitô hữu khác, phải chật vật để kể tên nhóm Mười hai và thường nghĩ rằng các tác giả Tin mừng đều là các tông đồ.

Các tông đồ gồm: Phêrô, Anrê, Giacôbê Tiền, Gioan, Philípphê, Batôlômêô (Nathanaen), Tôma, Mátthêu (Lêvi), Giacôbê Hậu, Giuđa (Tađêô), Simon và Giuđa, cộng thêm Mátthia và Phaolô là hai vị không thuộc nhóm Mười hai. Ba Tin mừng Nhất lãm, cùng với sách Công vụ Tông đồ, xác nhận việc tuyển chọn nhóm Mười hai tông đồ đầu tiên. Một số tên gọi có khác nhau đôi chút nhưng cùng chỉ một người. Theo Tin mừng thánh Mátthêu, thì Anrê, Phêrô, cùng với Giacôbê và Gioan, tiếp theo là Philípphê là những tông đồ đầu tiên được chọn. Họ đều là ngư dân; trên thực tế, hầu hết nhóm Mười hai cũng vậy. Họ có một đức tính đặc biệt nơi mọi ngư dân năng nổ, đó là đức kiên nhẫn; họ giăng câu hay quăng lưới và chờ đợi. Đức tính này sẽ hữu ích khi Đức Kitô kêu gọi họ trở thành những kẻ lưới người. Sau khi chọn năm vị đầu tiên này, Đức Giêsu tiếp tục gọi Mátthêu, một người thu thuế, và sau đó là Batôlômêô. Tin mừng không đề cập cụ thể việc Đức Giêsu gọi từng tông đồ còn lại, mặc dù họ được nêu tên cùng với nhóm tông đồ ở một số nơi trong Tin mừng.

Đức Giêsu ban ơn cho các tông đồ

Ba năm sống với Đức Giêsu, nghe giảng và chứng kiến các phép lạ Ngài làm; các tông đồ đã sẵn sàng cho một sứ mạng lớn lao. Đức Giêsu đã ban cho các tông đồ những ân huệ thần linh, bao gồm ơn tha tội, khả năng chữa lành và việc biến bánh rượu thành Mình Máu Ngài. Không một người thường nào có thể trao cho người khác những khả năng đến từ Thiên Chúa. Một tuyển thủ bóng chày xuất sắc của đội bóng lớn có thể trình diễn và giải thích cách anh ta ném bóng, nhưng không thể làm cho người khác thấm nhuần tài nghệ riêng của mình. Một giáo lý viên có thể bàn luận cách cầu nguyện, nhưng sự thành tâm phải đến từ bản thân người cầu nguyện. Tuy nhiên, Đức Giêsu là Đấng thần thiêng, còn ban cho các tông đồ những lời lẽ cần thiết để công bố Tin mừng.

Ban đầu Đức Giêsu giới hạn Nhóm Mười hai giảng dạy nơi người Do Thái mà thôi: “… đừng đi về phía các dân ngoại… hãy đến với các con chiên lạc nhà Ítraen” (Mt 10,5–6). Hai năm sau, Ngài đưa ra lệnh truyền quan trọng khi bảo các tông đồ đi đến các nơi ngoài đất Do Thái “làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19–20).

Sau khi công bố lệnh truyền quan trọng và ngay trước khi về với Chúa Cha, Đức Giêsu truyền cho các tông đồ ở lại Giêrusalem, chờ đợi  “điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới” (Cv 1,4). Tóm lại, họ chưa thể thực thi sứ mạng cho đến khi nhận lãnh Thánh Thần. Những người trở lại đầu tiên đều là người Do Thái; các tông đồ đã không khởi sự rao giảng cho những người ngoài Do Thái trong khoảng 10 năm sau đó. Họ sẽ được những người khác như Banaba và Timôthê hỗ trợ để hoàn tất công việc linh thánh này.

Những con người bất toàn

Họ là những con người bất toàn, đầy khiếm khuyết như được kể trong các sách Tin mừng: đôi lúc họ nghi ngờ, khước từ thậm chí phản bội Đức Giêsu; họ chậm hiểu và thắc mắc về một số việc Ngài làm. Giuđa phản bội Ngài và sau đó ra ngoài treo cổ tự vẫn. Phêrô thì chối Chúa ba lần. Trừ Gioan, tất cả đã bỏ rơi Đức Giêsu trong cuộc khổ nạn. Tôma khước từ câu chuyện Đức Kitô sống lại, và hầu hết các ông đều không tin các phụ nữ vào buổi sáng phục sinh rằng Ngài đã sống lại. Philípphê tỏ ra kém tin khi hỏi làm sao Đức Giêsu có thể cho 5000 người ăn với chỉ vài con cá. Chỉ sau biến cố phục sinh các tông đồ mới được ban đầy đức tin vững vàng và trọn vẹn vào Đức Giêsu.

Trước lễ Ngũ tuần, họ sợ hãi chạy trốn; giờ đây họ sẵn sàng ca tụng danh Ngài đến tận cùng trái đất, mặc dù điều đó khiến họ bị căm ghét, đánh đập và cầm tù. Hầu hết, họ đi từng người từ Giêrusalem đến Ấn Độ, qua Ba Tư, rồi Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi, Ukraina, Ai Cập, Syria, khắp Địa Trung Hải và Trung Đông. Đây chưa phải là danh sách đầy đủ các quốc gia, nhưng nếu tính thêm nỗ lực của thánh Phaolô, người đã thực hiện hành trình truyền giáo hơn 10.000 dặm, bao gồm cả châu Âu, thì các tông đồ đã làm cho Kitô giáo loan truyền hầu khắp thế giới được biết đến vào thời đó. Ngoại trừ các thành phố như Giêrusalem, Antiôkhia và Rôma, họ thi hành sứ vụ nơi các cộng đồng Kitô giáo nhỏ bé nơi họ đã bỏ cả mạng sống mình trong nhiều trường hợp. Kinh thánh chỉ kể về cái chết của hai tông đồ: thánh Giacôbê Tiền, người bị giết bởi vua Hêrôđê; và Giuđa, người đã treo cổ tự vẫn. Theo truyền thống và truyền thuyết, chúng ta biết Phêrô đã bị đóng đinh ngược ở Rôma; và gần đó vào cùng ngày, Phaolô bị chém đầu. Anrê bị đóng đinh vào thập giá hình chữ X, Batôlômêô bị lột da sống, Mátthêu bị ném đá và sau đó chém đầu, còn Tôma bị đâm bằng giáo cho đến chết. Tất cả các tông đồ đều chịu tử đạo chỉ trừ Gioan đã chết cách tự nhiên.

Chẳng bao lâu sau, Kitô giáo không còn là sản phẩm phụ của Do Thái giáo mà đã phát triển thành một Giáo hội phổ quát. Các tông đồ đã phải đi những chuyến hành trình dài và nguy hiểm, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, và biết rằng mình vẫn bị người Rôma và nhiều người Do Thái muốn bách hại. Nhưng hầu như bất cứ nơi nào họ đến, họ thu hút những người tìm hiểu về Đức Kitô phục sinh, về sứ điệp tình yêu của Ngài, về sự sống đời đời. Những con người thánh thiện này vẫn là hình mẫu cho chúng ta.

GẶP GỠ CÁC TÔNG ĐỒ

Thánh Phêrô

Phêrô chối Đức Giêsu ba lần vào đêm Ngài bị bắt, “trước khi gà gáy hai lần”, đúng như lời Đức Giêsu đã báo trước (Mc 14,30). Tuy nhiên, ngay sau lần chối từ đau thương nầy, Đấng Cứu Độ đầy thương xót đã tha thứ cho Phêrô và cắt đặt ông làm người đứng đầu Giáo hội trên trần gian. Phêrô trở thành thủ lãnh các tông đồ, và nhờ ơn Thánh Thần, là người đầu tiên rao giảng Tin mừng cho người Do Thái. Bất cứ nơi nào trong Tân ước kể tên 12 môn đệ đầu tiên, Phêrô luôn được nêu tên đầu tiên.

Trong Tin mừng theo thánh Luca, Đức Giêsu trước tiên gặp Phêrô, Giacôbê và Gioan tại hồ Ghennêxarét, nơi họ thả lưới suốt đêm nhưng không bắt được gì. Đức Giêsu đề nghị họ thả lưới thêm một lần nữa. Phêrô phàn nàn vì mẻ lưới trước nhưng rồi cũng đồng ý làm theo. Bất ngờ, họ bắt được rất nhiều cá đến nỗi lưới không thể chứa hết. Phêrô xấp mình trước Đức Giêsu và thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Đức Giêsu bảo ông đừng sợ, rồi nói với ba người ngư phủ: “‘Từ nay các anh sẽ thu phục người ta’… rồi họ bỏ tất cả mà đi theo Người” (Lc 5,8–11).

Phêrô tỏ ra thiếu lòng tin và thậm chí nhiều lần tranh luận với Đức Giêsu. Ông cho thấy một lòng tin kém cỏi khi cố đi trên mặt nước mà đến cùng Đức Giêsu; chỉ cần Phêrô chú ý đến Đấng Cứu Độ thì ông không sao, nhưng một khi rời mắt khỏi Đức Giêsu, thì ông bắt đầu chìm (x. Mt 14,28–33). Phêrô cãi lời Đức Giêsu khi Ngài bảo rằng sẽ bị người Do Thái giết, và một lần khác khi muốn rửa chân cho ông. Cùng với Giacôbê và Gioan, Phêrô ngủ quên khi Đức Kitô lo âu khắc khoải trong vườn dầu. Nhưng đối lại tất cả những khiếm khuyết nhân loại này, Đức Giêsu nhìn thấy Phêrô là người lãnh đạo Giáo hội bằng việc trở thành giáo hoàng đầu tiên. Không chỉ rao giảng cho người Do Thái, Phêrô còn làm cho người ngoại đầu tiên trở lại: ông Cornêliô, viên đại đội trưởng (xem Cv 10).

Thánh Tôma

Thánh Tôma được ghi nhớ như là vị tông đồ đã nghi ngờ khi nghe tin Đức Kitô phục sinh hiện ra với các tông đồ khác trong phòng Tiệc ly. Tôma vẫn không bị thuyết phục cho đến khi ông đặt bàn tay vào vết thương của Đức Kitô. Sự hoài nghi ban đầu của ông có thể hiểu được vì Đức Kitô đã bị đóng đinh và được đặt trong ngôi mộ kín có niêm phong. Theo thánh Giáo hoàng Grêgôriô Cả, không phải ngẫu nhiên mà Tôma vắng mặt khi Đức Kitô hiện ra với các tông đồ khác: “Với một cách kỳ diệu, lòng thương xót của Thiên Chúa đã an bài cho người môn đệ không tin này, khi chạm vào các vết thương trên thân thể Thầy của mình, sẽ chữa lành vết thương hoài nghi của chúng ta. Sự hoài nghi của Tôma đã tác động đến đức tin của chúng ta nhiều hơn là bởi đức tin của các môn đệ khác. Vì Tôma chạm vào Đức Kitô và bị chinh phục để tin, mọi ngờ vực đều được gạt qua một bên và đức tin của chúng ta được củng cố. Vì vậy, người môn đệ hoài nghi, sau đó cảm nhận được vết thương của Đức Kitô, trở thành nhân chứng cho thực tại phục sinh”. Tôma là chứng nhân cho chúng ta, đôi mắt và đôi tay của ngài cũng là đôi mắt, đôi tay của chúng ta, chúng ta không còn nghi ngờ… Đức Kitô đang sống.

Thánh Giacôbê và Gioan

Hai anh em Giacôbê và Gioan cùng với Phêrô là những tông đồ duy nhất đồng hành với Đức Giêsu trong ba biến cố đặc biệt: con gái ông Giaia sống lại, biến hình trên núi Tabo, tại vườn Giếtsêmani vào đêm trước cuộc khổ nạn. Theo đó, ba vị được coi là nhóm thân cận, gần gũi nhất với Đức Giêsu. Giacôbê được biết đến với tên Giacôbê Tiền, đơn giản chỉ để phân biệt ngài với một tông đồ khác cũng tên Giacôbê. Giacôbê Tiền là vị tông đồ đầu tiên đổ máu vì Đức Giêsu, khi bị sát hại theo lệnh vua Hêrôđê Agríppa vào năm 44, để làm “đẹp lòng người Do Thái” (Cv 12,3). Gioan là vị tông đồ duy nhất đứng bên thánh giá khi Đức Giêsu chịu đóng đinh; những người khác đều đã bỏ chạy. Từ thánh giá, Đức Giêsu đã trao Đức Maria, mẹ Ngài cho Gioan chăm sóc, để cho thấy sự gắn kết độc nhất giữa Đức Giêsu và Gioan.

Mẹ của Giacôbê và Gioan đã xin Đức Giêsu cho hai người con của bà được ngồi một đứa bên hữu và một đứa bên tả trong Nước Ngài. Đức Giêsu nói với bà: “Các người không biết các người xin gì”. Trước mặt tất cả các tông đồ, Ngài giải thích rằng quyền hành đều đến từ Chúa Cha, từ lời kêu gọi thần linh chứ không phải từ tham vọng cá nhân và Ngài nói thêm: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em”(Mt 20,22.26–28).

Thánh Philípphê và Bartôlômêô

Tại miền Galilê, Đức Giêsu đã kêu gọi Philípphê làm tông đồ. Đến lượt Philípphê tìm đến Bartôlômêô (hay Nathanaen) và nói với ông rằng Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét.

Sau đó Bartôlômêô nói những lời mà chúng ta ai cũng biết: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1,46). Bất chấp sự khước từ này, Philípphê vẫn dẫn Bartôlômêô đến với Đức Giêsu, để ông quyết tâm kiểm chứng Đức Giêsu. Nhưng không có gì để kiểm chứng cả bởi vì Bartôlômêô nhận ra Đức Giêsu là Đấng Mêsia đích thực, ngài nói: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen!” (Ga 1,49). Lời tuyên xưng này không khác gì lời tuyên xưng của Phêrô nhiều tháng sau đó: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Nhờ ơn trên mà cả Bartôlômêô và Phêrô đều nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa.

Ít nhất hai lần, qua Philípphê mà Đức Giêsu giúp các môn đồ hiểu ra vai trò và chân tính của Ngài. Lúc làm phép lạ hóa bánh ra nhiều trong Tin mừng Gioan, Philípphê lo lắng không biết làm sao cho 5.000 người ăn: “Có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (Ga 6,7). Philípphê kinh ngạc khi thấy Đức Giêsu biến ít cá và bánh đủ cho tất cả mọi người ăn. Sau đó trong Bữa Tiệc ly, Chúa quở trách Philípphê khi vị tông đồ này hỏi: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”. Đức Giêsu đáp: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư?” (Ga 14,8–9). Tất cả các tông đồ đều xem Đức Giêsu là thầy, nhưng một số chậm nhận ra Ngài là Đấng cứu độ.

Cũng cần lưu ý rằng không nên nhầm lẫn Philípphê tông đồ với Philípphê nhà truyền giáo, người đã thành công khi mang sứ điệp của Đức Giêsu đến miền Samari và làm phép rửa cho một viên thái giám người Êthióp trên con đường vắng giữa Giêrusalem và Gada (xem Cv 8,27–39).

Thánh Phaolô

Mặc dù không nằm trong số 12 tông đồ đầu tiên, nhưng Phaolô được Đức Giêsu chọn là “lợi khí [Ta chọn] để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ítraen” (Cv 9,15). Phaolô (ban đầu được gọi là Saulô) là một trong những người thù ghét Kitô giáo cực đoan nhất vào thời của ngài. Phaolô là người chứng kiến và ủng hộ việc ném đá thánh Stêphanô, và ngài đã xuất sắc bắt các Kitô hữu giải về Giêrusalem và nộp họ cho giới cầm quyền Do Thái để bị bách hại.

Lúc Phaolô đang trên đường đi Đamát để bắt thêm những người đi theo Đức Kitô. Giữa đường, ngài đã mặt giáp mặt với Đức Giêsu, bị mù và hoán cải, được đưa vào thành Đamát và đến một ngôi nhà ở phố gọi là Phố Thẳng. Tại đây, ngài được sáng mắt trở lại và chịu phép rửa. Từ đó Phaolô trở thành người vĩ đại nhất trong số những người rao giảng Tin mừng, vị Tông đồ dân ngoại. Ngài thiết lập ít nhất 14 cộng đoàn Kitô hữu và rao giảng cho hàng nghìn người khi đi qua đi lại Trung Đông và vào đến châu Âu bốn lần khác nhau. Các lá thư gửi đến các cộng đoàn do ngài đã thiết lập chiếm phần lớn Tân ước.

Thánh Giacôbê Hậu

Giacôbê Hậu là vị thủ lãnh có ảnh hưởng của giáo đoàn Giêrusalem và có tiếng nói quyết định tại Công đồng Giêrusalem (năm 50), nơi các tông đồ quyết định loan truyền giáo huấn của Đức Giêsu cho dân ngoại. Giacôbê đã ủng hộ ý tưởng không bắt dân ngoại phải trở thành người Do Thái trước khi trở thành Kitô hữu: “Vì vậy, phần tôi, tôi xét là không được gây phiền hà cho những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên Chúa” (Cv 15,19).

Giacôbê đã viết một lá thư gửi đến dân ngoại, cơ bản chỉ ra rằng dân ngoại không cần phải giữ tất cả các luật lệ về việc kiêng ăn uống của người Do Thái hoặc phải cắt bì trước khi trở thành Kitô hữu, nhưng trước hết chỉ đòi hỏi những ai đang theo Đức Kitô phải từ bỏ việc cúng tế ngoại giáo. Những hành động này đã vượt qua trở ngại lớn trong việc hoán cải và làm phép rửa cho những người ở mọi quốc gia, chứ không chỉ cho người Do Thái. Thánh Giacôbê Hậu cũng được xem là tác giả của thư Giacôbê trong Tân ước.

Thánh Mátthêu

Mátthêu là viên thu thuế cho người Rôma đang chiếm đóng ở Galilê. Người Do Thái ghét những người thu thuế, vì họ làm việc cho người Rôma và thường gian lận đối với dân chúng. Đức Giêsu thấy Mátthêu (Lêvi) “đang ngồi ở trạm thu thuế. Ngài bảo ông: ‘Anh hãy theo tôi!’ Ông đứng dậy đi theo Người” (Mc 2,14).

Trong mắt người Do Thái, Mátthêu là một kẻ đáng khinh, một kẻ bị ruồng bỏ không hơn gì một tội nhân do công việc thu thuế của ông, nhưng Đức Giêsu, với tình yêu và lòng thương xót chứa chan, đã thấu hiểu tấm lòng Mátthêu và kêu gọi ông trở thành một trong các tông đồ. Mátthêu đã từ bỏ mọi sự để đi theo và tin vào Đức Kitô. Mặc dù không có nhiều chi tiết về thánh Mátthêu, nhưng có bằng chứng cho thấy ngài đã đi truyền giáo ở Ấn Độ, và trở thành vị thánh bảo trợ của đất nước này.

Anrê, Simon, Giuđa và Mátthia

Kinh thánh có ít chi tiết về Anrê, Simon, Giuđa và Mátthia. Tuy nhiên, mỗi người đều theo Đức Kitô và đi giảng dạy Tin mừng. Anrê thuộc nhóm tông đồ được chọn đầu tiên và là người trước tiên gọi Đức Giêsu là Đấng Mêsia; do đó, ngài rất gắn bó với Đức Giêsu. Simon có thể là thành viên của một nhóm chính trị Do Thái gọi là nhóm Nhiệt thành, những người kiên quyết với đức tin Do Thái giáo và ghét người Rôma. Đức Giêsu đã chinh phục được Simon, và vị tông đồ này đã chuyển lòng nhiệt thành và sức lực của ngài vào sứ điệp của Đức Kitô.

Trong Tin mừng theo thánh Mátthêu và Máccô, Giuđa được gọi là Tađêô, và theo thánh Luca thì được gọi là Giuđa. Thánh Gioan cũng gọi ông là Giuđa trong Bữa Tiệc ly: “Ông Giuđa, không phải Giuđa Ítcariốt, nói với Đức Giêsu: ‘Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian?’” (Ga 14,22). Đây là câu hỏi mà có lẽ một số tông đồ khác cũng quan tâm, họ vẫn xem Đức Giêsu có thể trở thành một vị vua trần thế, và chưa hiểu tại sao Đức Giêsu lại đến thế gian hay điều gì sẽ xảy đến với Ngài sau đó. Đức Giêsu trả lời rằng Ngài sẽ tỏ mình ra cho những ai yêu mến Ngài và tuân giữ các giới răn “… Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).

Mátthia được chọn để thay thế Giuđa, kẻ phản bội (Cv 1,15–26). Trong khi các tông đồ ở Giêrusalem chờ đợi Thánh Thần; Phêrô trong tư cách lãnh đạo có thể đã chọn được người thay thế, nhưng ngài để cho các tông đồ lựa chọn. Phêrô đưa ra chỉ dẫn rằng bất cứ ai được chọn phải thuộc nhóm những người đã đi theo Đức Kitô kể từ khi Ngài chịu phép rửa và phải làm chứng rằng Ngài đã phục sinh. Có hai người được đề cử là Basaba và Mátthia; cuối cùng Mátthia được chọn qua việc rút thăm. Từ đây, Tân ước không nói gì thêm về Mátthia.

Giuđa Ítcariốt

Giống như một số tông đồ khác, chúng ta không biết Giuđa được chọn khi nào. Ông là người giữ túi tiền của nhóm, phụ trách về tiền bạc, có lẽ đã nỗ lực làm việc hiệu quả. Giuđa có mặt tại Bêtania khi Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất, quý giá mà xức cho Đức Giêsu và ông than phiền việc lãng phí này, tuy nhiên ông phàn nàn “không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung” (Ga 12,6). Đức Giêsu quở trách những lời nhận xét của Giuđa, và ngay sau đó Giuđa đã thông đồng với các thượng tế mà phản bội Đức Giêsu để lấy 30 đồng bạc.

Trong Bữa Tiệc ly, Đức Giêsu biết dự tính của Giuđa, và sau khi rửa chân cho các tông đồ, kể cả Giuđa, Ngài tiết lộ có người sẽ phản bội và xác định đó là Giuđa, khi nói: “Anh làm gì thì làm mau đi!” (Ga 13,27). Ngay trong đêm hôm đó, Giuđa dẫn một toán quân đến và đã chỉ điểm Đức Giêsu là thủ lĩnh của nhóm. Sau khi Đức Giêsu bị bắt, Giuđa cố trả lại tiền nhưng người Do Thái từ chối, nên ông đã “ra đi thắt cổ” (Mt 27,5).

Thánh Maria Mađalêna – Tông đồ của các Tông đồ

Vào tháng 7 năm 2016, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nâng ngày lễ nhớ buộc hàng năm của thánh nữ Maria Mađalêna lên bậc lễ kính. Ngoài Đức Mẹ, ngài là người phụ nữ duy nhất được Giáo hội tôn kính như thế. Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đã ra huấn thị nói rằng: “Thật là hợp lý để ngày lễ thánh Mađalêna có cùng bậc lễ với các thánh tông đồ trong lịch phụng vụ chung của Rôma, cũng như để nhấn mạnh sứ vụ đặc biệt của người phụ nữ này như một tấm gương và hình mẫu cho các phụ nữ trong Giáo hội”.

Như các tông đồ, Maria Mađalêna thể hiện lòng yêu mến và dấn thân theo Chúa. Bà và những phụ nữ khác đi khắp Galilê với Đức Giêsu và “lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8,3). Bà theo Đức Giêsu lên Giêrusalem, và đã hiện diện lúc Chúa chịu đóng đinh, cùng với Gioan, chứ không bỏ trốn như các tông đồ khác. Vào buổi sáng phục sinh đầu tiên Tin mừng thuật lại là Đức Giêsu đã gặp bà trước tiên. Ngài sai bà đến với anh em mình là các tông đồ và nói với họ “Tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,18). Vì vậy, bà được gọi là Tông đồ của các Tông đồ.

Ban học tập Sao Biển chuyển ngữ từ Our Sunday Visitor (15/10/2021)

Nguồn: giaophannhatrang.org

https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tim-hieu-cac-tong-do-42944


 

ĐẤNG BIẾT TỎNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi nghe người ta nói gì về anh đó?”.

“Những gì tôi có thể làm, là những gì tôi phải làm! Những gì tôi phải làm, nhờ ơn Chúa, tôi sẽ làm! Và tôi ước không bao giờ phải nghe Ngài phàn nàn, ‘Tôi nghe người ta nói gì về anh đó?’” – Edward Hale.

Kính thưa Anh Chị em,

 

“Tôi nghe người ta nói gì về anh đó?”. Đây là nghi vấn ông Chủ dành cho người quản gia và cho cả chúng ta hôm nay. Thực ra, Thiên Chúa không cần ‘nghe’ gì về một ai, vì Ngài là ‘Đấng biết tỏng!’.

Chúa biết hết mọi sự! Tuy nhiên, khi xem lại hồ sơ cuộc sống mỗi người, rất có thể Ngài vẫn hỏi như thế – không để kết án, mà để đánh động – hầu mời chúng ta nhìn lại mình dưới ánh sáng của tình yêu. Chắc hẳn, không ai có thể đứng vững trước ánh nhìn của Chúa và sẽ không có một ‘thủ thuật lươn khươn’ nào trước Ngài! Liệu bạn và tôi có bị buộc tội là ‘phung phí’ ân sủng, ‘hoang phí’ thời gian và ‘lãng phí’ cơ hội? Những gì Chúa ban – đức tin, Lời Chúa, các Bí tích, gương thánh nhân, tài năng, của cải – liệu chúng ta là những kẻ ‘hoài của?’. “Sự xấu hổ trước mặt Thiên Chúa chính là chuyển động đầu tiên của ân sủng!” – Jean Vanier.

Như người quản gia, chúng ta được chất vấn; như anh ta, bạn và tôi có dám đánh cược vào ‘canh bạc xót thương’ của Đấng vừa biết hết, vừa tha hết? Khiêm tốn nhìn nhận và bắt đầu lại, khẩn xin ơn tha thứ để sống liêm chính, xa lánh tinh thần thế tục… là những gì thật cấp thiết. Ước gì như Phaolô, chúng ta có thể nói một cách an lòng khi nhìn lại, “Trong Đức Kitô Giêsu, tôi có quyền hãnh diện về công việc phục vụ Thiên Chúa!” – bài đọc một – và có thể xác tín, qua chúng ta, “Chúa đã mặc khải ơn Người cứu độ trước mặt chư dân!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Lời Chúa cảnh báo mỗi người chúng ta về ‘thói thời thượng thiêng liêng’ vốn có thể len lỏi vào đời sống mọi đấng bậc. ‘Thói thời thượng thiêng liêng’ đó bộc lộ qua thái độ tham nhũng quyền lực, khoe mẽ chức danh, trí tráo ngôn từ, vay mượn tri thức… vốn sẽ kiến tạo một nhân cách ‘nghèo’ – nhân bản, tu đức, thần học – một bản ngã ‘cùn’ mà sớm muộn thiên hạ đều biết tỏng. Con đường ấy chỉ dẫn đến những ngõ cụt, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. “Quyền lực, nếu không được lương tâm chế ngự, sẽ ăn mòn linh hồn trước khi làm hư thế giới!” – C.S. Lewis.

Anh Chị em,

“Tôi nghe người ta nói gì về anh đó?”, câu hỏi của Chủ dạy chúng ta khiêm tốn, biết xấu hổ và thống hối. Ai nhận ra mình ‘được biết’ từ trong ra ngoài mà vẫn được yêu, người ấy không thể coi thường người khác. Chính từ đó, chúng ta học biết thế nào là phải hoán cải. Chỉ khi nhìn tha nhân bằng ánh mắt của ‘Đấng biết tỏng’, chúng ta mới biết thế nào là yêu trong sự thật và khiêm tốn chu toàn mọi sự trong sự thật. “Thật là một nỗi hổ thẹn diễm phúc khi con người cảm thấy sức nặng của ‘sự thật chính mình’ trước mặt Thiên Chúa!” – Henry Newman.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã không công bố bản “tổng kết quản lý” của con cho thiên hạ, vì nếu như thế, có lẽ con sẽ phải rao bán cả linh hồn để bịt miệng thế gian!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

*******************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXXI Thường Niên, Năm Lẻ 

Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 16,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. 2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo : ‘Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa !’ 3 Người quản gia liền nghĩ bụng : ‘Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. 4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ !’

5 “Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : ‘Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ?’ 6 Người ấy đáp : ‘Một trăm thùng dầu ô-liu.’ Anh ta bảo : ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.’ 7 Rồi anh ta hỏi người khác : ‘Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy ?’ Người ấy đáp : ‘Một ngàn giạ lúa.’ Anh ta bảo : ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.’

8 “Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.”


 

Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; (Rm 14:7,8b) – Cha Vương

Một ngày tràn đầy yêu thương trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 6/11/2025

TIN MỪNG: Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình… Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; (Rm 14:7,8b)

SUY NIỆM: Thiên Chúa không tạo ra sự chết. Thiên Chúa chỉ tạo ra sự sống, với tất cả vinh quang và tốt lành của nó. Chính con người, đôi khi, lại từ chối sự sống đó qua tội lỗi và sự ích kỷ của mình. Khi bạn chọn sự thù hận thay vì yêu thương, trả thù thay vì tha thứ, tìm kiếm lạc thú thay vì nhân đức, chiến tranh thay vì hòa bình, bạn đã chọn cái chết thay vì sự sống. Dù bạn có chọn cái chết với những tội lỗi của nó nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi và để bạn sống trong bóng tối của sự chết. Ngài luôn tìm kiếm bạn bằng cách đã sai Chúa Giê-su đến, không chỉ như một gương mẫu cho đời sống, mà còn là Đấng chiến thắng sự chết qua cây thập giá. “Ngài ngồi đó chờ mong con đến bến yêu thương Chúa ban niềm tin… với đôi bàn tay luôn rộng mở. Về cùng Chúa xót thương hải hà lệ tràn mi sướng vui chan hòa. Và hồn con ước mơ cung điện thiên tòa.” 

(Chờ Con Chúa Nhé—Lm. Nguyễn Văn Tuyên)

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha nhân từ, chỉ có tình yêu của Chúa mới chiến thắng sự chết, xin cho con biết tin tưởng và quyết tâm chọn Chúa mỗi ngày để được sống hạnh phúc và bình an trong Chúa. 

THỰC HÀNH: Cố gắng tập bỏ một thói quen xấu không đẹp lòng Chúa. 

************************

 Lời tâm sự với Chúa khi cuộc đời bơ vơ..

CHỈ CẦN LẶNG YÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai!”.

Mỗi khi ngã quỵ, bạn đừng quên Thánh Vịnh 46, 11, “Hãy lặng yên và biết rằng, Ta là Chúa!”. Cuối đời, Hudson Taylor, yếu đến mức thều thào, “Tôi yếu đến độ không thể cầu nguyện, không thể đọc Thánh Kinh. Tôi chỉ có thể lặng yên trong tay Chúa, đợi Ngài vác về!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Đợi Ngài vác về!”. Lời cuối của Taylor cũng là chi tiết mà chỉ một mình Luca có trong dụ ngôn Chiên Lạc với những tình tiết thật ly kỳ! Nào ‘người đó vui mừng vác trên vai, đem về nhà’; ‘mời bạn bè, hàng xóm’ chung vui; và nhất là, ‘giữa triều thần, ai nấy vui mừng!’. Phần con chiên, nó ‘chỉ cần lặng yên!’.

Con số “99” biểu tượng cho những ai đã thuộc về Vương Quốc – đại diện cho triều thần thánh; con chiên lạc đại diện cho toàn thể nhân loại, và đại diện cho từng con người lạc lối. Người Chăn Chiên, chính Chúa Giêsu, luôn tìm kiếm một nhân loại sa ngã; trong đó, có bạn và tôi – mỗi người lạc mỗi cách, mỗi kiểu – để vác về. Ngài không đi tìm chiên vì tiếc của hay giận giỗi, nhưng chỉ vì quan tâm và xót thương. Về phần chiên, đừng nổi loạn, nó ‘chỉ cần lặng yên’, vì “Đôi khi điều thiêng liêng nhất bạn có thể làm là nghỉ ngơi!” – Craig Groeschel.

Thông thường, chúng ta có thể rơi vào cạm bẫy khi nghĩ rằng, tôi phải tìm đường trở lại với Chúa bằng những nỗ lực riêng; nhưng sự thật là, Thiên Chúa luôn ngược chiều, Ngài hối hả, dáo dác dõi mắt tìm kiếm mỗi người. “Ân sủng tìm thấy ta ở nơi ta đang ở, nhưng không để ta nguyên chỗ ấy!” – Max Lucado. Thánh Vịnh đáp ca hôm nay nói, “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban!”. Ân lộc Chúa ban là niềm tin của người để Chúa kiếm tìm và vác về giữa quãng đường còn xa. Như vậy, “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” – bài đọc một. Vậy thì còn phải lo chi? ‘Chỉ cần lặng yên’ để Ngài bước tiếp phần đường của chính mỗi người. “Ân sủng là sức mạnh dịu dàng vác ta về nhà khi đôi chân ta không còn bước nổi!” – John Stott.

Anh Chị em,

Như vậy, ‘chỉ cần lặng yên’ không phải là buông xuôi, nhưng là để cho ân sủng hành động. Khi con người thôi vùng vẫy, Thiên Chúa mới có thể ôm lấy và vác về. Chính trong bất lực, chúng ta chạm đến quyền năng cứu độ của Chúa. “Ân sủng tuôn tràn mạnh nhất qua những vỡ vụn của con người!” – Philip Yancey. Vì thế, lặng yên không là trốn chạy, mà là tin rằng, Ngài biết đường về. Như chiên yên ắng trên vai Mục Tử – không cựa quậy, đạp chọi – nó không biết, đó chính là giây phút cứu độ của nó. Nói cách khác, khi linh hồn đã kiệt sức, chẳng còn cầu nguyện, chẳng còn suy tư, chỉ còn lặng yên trong Chúa, thì đó không phải là thất bại, mà là điểm chạm giữa ân sủng và sự bất lực. Ở đó, ơn cứu độ bắt đầu! “Đôi khi Thiên Chúa để bạn chạm đáy, để bạn khám phá ra Ngài chính là Đá Tảng nơi đáy sâu ấy!” – Tony Evans.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không xin sức mạnh, chỉ xin ơn bình an, để khi Ngài băng qua sa mạc lòng con, con đủ tin để không cựa quậy, và để Ngài làm phần còn lại!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

*************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXXI Thường Niên, Năm Lẻ

Trên trời ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.     Lc 15,1-10

1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này :

4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? 5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. 6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ 7 Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.

8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? 9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay : giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”


 

 “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa!” – Cha Vương 

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé.

Cha Vương 

Thứ 3: 4/11/2025

TIN MỪNG: Tôi nói cho các anh biết: Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi. (Lc 14:24)

SUY NIỆM: Một trong những lý do tại sao người Công Giáo lại coi thường việc tham dự Thánh Lễ là vì họ chưa nhận thức được Thánh Lễ là một ân sủng lớn lao nhất Thiên Chúa ban tặng cho những ai tin vào Chúa! Thánh Maximilian Kolbe nói, “Nếu các Thiên thần mà ganh tị với con người, thì chắc các ngài ganh vì một lý do duy nhất: Thánh thể.” Tầm quan trọng của bàn tiệc Thánh Thể là trọng tâm và đỉnh cao của toàn bộ đời sống đức tin, là một cuộc gặp gỡ thực sự với Thiên Chúa Thật. Nếu hiểu được như vậy thì bạn không bao giờ tìm ra cả ngàn lý do để bỏ một Thánh Lễ. Chúa nói: “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa!” 

Ai trong chúng ta đang từ chối lời mời đến dự tiệc thiên đàng?

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha nhân từ, nhờ mầu nhiệm Thánh Thể Chúa lên kết tim con với Chúa, xin tuôn đổ vào tim con lòng yêu mến quà tặng Mình và Máu Chúa để được sống với Chúa đến muôn đời.

THỰC HÀNH: Cố gắng tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn. 

From: Do Dzung

*************************

Chúng Con Cần Đến Chúa – Nguyễn Hồng Ân

SỰ CHẾT – Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J  

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J  

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.


Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai.  Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy.  Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì?  Đâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm?  Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Đức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi.”

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng!  Hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải.”

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Đoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta: Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó: Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả.  Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Đấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Đấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa.  Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn.  Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an.  Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa.  Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Để khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.

Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá.  Con không biết con can đảm đến đâu.  Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi.  Đi xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết.  Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J

– Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

 From: Langthangchieutim