Đau khổ và Sự chết

 Đau khổ và Sự chết

Dongten.net

      Đau khổ và sự chết, một thực tại hiển nhiên mà không ai dám chối cãi, nhưng tâm lý chung thì ai cũng sợ và muốn quên nó. Chân lý hiển nhiên nhất lại là chân lý dễ quên nhất, để đến khi con người đối diện với sự chết thì mới giật mình tỉnh thức, như một khẩu ngữ trong dân gian: “chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ”. Đau khổ và Sự chết gắn liền với nhau như hình với bóng, nó là mối dây hệ lụy với nhau như nhân với quả hoặc như quả với nhân. Vậy con người nói chung nhìn vào đau khổ và sự chết như thế nào, nó có ý nghĩa và giá trị ra sao, cũng như con người cần phải chấp nhận đau khổ và sự chết bằng cách nào?

Alzheimer's patient in an emergency room near death while suffering from pneumonia
Alzheimer’s patient in an emergency room near death while suffering from pneumonia

NHẬN THỨC CHUNG CỦA CON NGƯỜI

Với cách nhìn nhận thông thường, chết là một cuộc vĩnh biệt đơn độc và hãi hùng nhất. Không ai có thể đau khổ và chết thay cho nhau, cho dù đó là người thân yêu nhất. Các triết gia xưa nay đều mải miết đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Con người từ đâu đến và đi về đâu? Tại sao con người lại đau khổ và phải chết? Nhiều triết thuyết ra đời để lý giải cho câu hỏi này. Những triết thuyết mang chữ “duy” không giải đáp rốt ráo về nguyên lý của sự chết. Những thuyết không tìm ra ý nghĩa đích thực của đau khổ và sự chết thì thấy cuộc đời chỉ toàn bế tắc, có muôn vàn  mâu thuẫn và xáo trộn. Khi con người không nhận thức đúng đắn về nó thì tất nhiên họ chỉ lao vào danh  lợi, lao vào sự tranh chấp để được thỏa mãn những khát vọng thống trị và hưởng thụ, hoặc khinh thường sự sống đi đến sự khắc kỷ lệch lạc mất quân bình. Dù là tổng thống, là tỉ phú hay ăn mày thì cũng chỉ là kiếp người, để khi đối diện với sự chết cũng phải run giùng sợ hãi trở về tay không với bao tiếng khen chê, tốt xấu hay đáng nguyền rủa.

Đời được gắn liền với nước mắt:”Thoắt sinh ra thì đà khóc choé / Trần có vui sao chẳng cười khì” (Nguyễn Công Trứ) – ngay từ lúc sinh ra là đã phải đối diện với đau khổ rồi. Có lẽ không có sách nào suy xét, phân tích kỹ lưỡng và sâu sắc về đau khổ của con người cho bằng “Tứ Diệu Đế” trong kinh điển nhà Phật, nó xoay quanh một kiếp sống trong “Sinh-lão-bệnh-tử”, để rồi phải kết luận bằng một câu bất hủ: “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn đại dương”. Con người luôn luôn gặp đau khổ hằng ngày, trong mọi nơi mọi lúc, và đau khổ tột cùng là sự chết. Đau khổ do mình bị lầm lỡ, do con người làm khổ lẫn nhau, do không được như ý muốn, do bị chia lìa người thân yêu, do tính toán thất bại, thất vọng, do bị hiểu lầm, bị phản bội, do tai nạn, do Tham-Sân-Si hoành hành… Đau khổ do nghèo đói, bệnh tật, thiên tai, động đất, chiến tranh, do quy luật sinh tồn, luật đào thải, do muôn vàn những khắc nghiệt của nhiều sự dữ đang hiện diện.

Có sống được trăm tuổi cũng chẳng ra sao: Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy / cảnh phù du trông thấy cũng nực cười (C.B.Quát).  Như Hoàng đế Napoleon bị đày ở đảo St. Helena, chỉ có con rùa làm bạn với ông, cuối đời ông thốt lên: “Ôi nước Pháp ! Ôi Josephine”. Đau khổ dẫn ông về cõi ngàn thu. Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của ông đã tiêu ma. Lev Tolstoi, nhà qúy tộc, đại văn hào Nga, chết trên bãi tuyết, trong túi ông có mảnh giấy ghi câu: “Đừng để tôi gặp mặt vợ tôi”. Ôi thảm thương biết bao! Cũng như vua Salômôn, một Hoàng đế giàu sang, quyền thế, khôn ngoan và được toàn dân kính trọng, khi về cuối đời đã phải thốt lên: “phù vân, quả là phù vân, tất cả chỉ là phù vân – Vanitas vanitatum, ommia, vanitas”(GV 1, 2-3). Salômôn đã cảm nghiệm được cuộc đời chỉ có đau khổ và tất cả chỉ là ảo vọng, ông đã “ngộ” ra chân lý đời đời.

Xưa nay, con người  tìm đủ cách để chấp nhận hoặc để giải thoát đau khổ. Đạo gia Á đông đã thấy quy luật tổng quát và tương đối: “Hữu sinh tất hữu diệt; Hữu thành tất hữu huỷ”, và “Thuận thiên tri thiên mệnh”. Đức Phật muốn giải thoát chúng sinh qua biển khổ bằng cách tiêu diệt mọi ước muốn (diệt dục) để vào Niết Bàn, vì Ngài thấy rằng sự vật, sự việc ở đời chỉ là “giả huyễn”, để rồi sinh sinh tử tử nối tiếp nhau trong một đại dương đầy nước mắt do bị nô lệ vào dục vọng. Trang tử nhìn cuộc sống hư hư thực thực, ông thấy mình là bướm rồi lại thấy bướm là mình. Khi vợ chết, Trang tử lấy đàn ra gảy, ông thấy có cũng như không và không cũng như có. Lão tử lại thấy cuộc sống đầy rẫy những mầm loạn trong cái mê muội, nên ông chống lại mọi ý chí đấu tranh để chủ trương một đạo “vô vi”, tìm đến một lẽ sống tự nhiên về đạo an tịnh, để sống cũng như chết, mọi sự không thể tác động để gây đau khổ cho con người. Còn Khổng tử thì chủ trương một lối sống thực tế rất nhân bản và cao đẹp, một lối sống quân tử, vì “quân tử bất ưu bất cụ” (người quân tử không buồn lo, không sợ) và “quân tử thản đãng đãng” (người quân tử có sự bằng an thanh thản lồng lộng), nhờ đó tạo nên một trật tự mang lại an hoà cho con người và xã hội. Hiền triết Sorcates suốt đời tranh đấu cho sự thật, mong muốn cho con người thoát khỏi mê muội bằng cách “hãy tự biết mình”, ông rất thản nhiên trước đau khổ và sự chết. Ông tình nguyện (bị ép) uống thuốc độc rồi nhìn cái chết đến từ từ như nhìn một công việc đến hồi kết thúc phải có trong cái quy luật của nó.

Và dĩ nhiên, còn nhiều cá nhân, tín ngưỡng, tôn giáo từ đông tây kim cổ có những quan điểm hoặc niềm tin khác nhau về đau khổ và sự chết qua những ý niệm với nhãn quan riêng biệt.

ĐAU KHỔ VÀ SỰ CHẾT CÓ Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ KHÔNG

Con người đã tốn rất nhiều nước bọt và giấy bút để bàn về vấn đề này, nhưng đề tài vẫn không có đoạn kết. Xét rằng con người hầu như bất lực để hiểu thấu hay ít ra cũng không thể nói về nó một cách rốt ráo, dù rằng qua lịch sử, nhiều triết thuyết, nhiều tôn giáo đã tung hứng đủ lý lẽ để lý giải về vấn nạn này. Con người chỉ biết rằng nó đang hiện diện, như một chân lý không thể chối cãi. Người ta chưa biết rằng hai với hai là bốn từ đâu mà có, hoặc như bóng tối xuất hiện vì không có ánh sáng, đau khổ hiện diện vì thiếu hạnh phúc, sự dữ có mặt vì vắng bóng sự thiện… Nào ai có thể chứng minh được nó từ đâu mà có? Nó xuất hiện với mục đích gì? Có phải để tàn phá hay hủy diệt, hoặc để tồn tại và phát triển? Để làm quân bình như trong quy luật đào thải? Và muôn vàn vấn nạn trong những chuyện tương tự.

Con người nhận thấy rõ rằng, quy luật sinh tồn, quy luật đào thải là vô cùng khắc nghiệt, sinh muôn vàn đau khổ và sự chết cho mọi sinh vật. Ngay cả vũ trụ được ổn định cũng nhờ tiếng nổ vĩ đại làm vỡ tung khối hỗn mang (Big Ben), và thiên nhiên cũng chẳng khác: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn. Mỗi bước chuyển tiếp là một cơn đau đớn, trong cái đã đến, đang đến và sẽ đến. Từ vi sinh vật, côn trùng, thú vật cho tới con người đều nằm trong quy luật sát phạt này. Nhưng đặc biệt, ai cũng nhận thấy rằng quy luật này rất hợp lý và hữu ích, vì nếu chỉ có yên lặng trong sự tĩnh mịch thì đồng nghĩa với sự chết, chẳng sản sinh ra được điều gì. Cá lớn nuốt cá bé, sinh vật này giết sinh vật kia để sống, nhờ thế hệ sinh thái mới được quân bình. Ai cũng thấy rằng, muốn đạt được điều gì tốt, phải vượt qua những khó khăn thử thách. Mỗi cá nhân muốn đạt được ước mong nào thì buôc phải trải qua gian nan thử thách, sau đó mới gặt hái được hạnh phúc của điều mà mình đã trả giá (ai nên khôn không khốn một lần). Người giàu có, người thành công hay thành đạt thì buộc phải chiến đấu qua gian khổ. Thế giới được nhiều thành quả và tốt đẹp như hôm nay, chính nhờ vào bao cố gắng, bao gian nan, bao đau khổ của nhiều cá nhân, của những cộng đồng tập thể qua nhiều thế hệ…

Nếu không có đau khổ, chắc rằng con người không cần cải thiện để bất chấp tất cả, sẽ tự bị hủy diệt, vì đâu còn lý do để khắc phục và xây dựng nữa. Nhất là không có đau khổ và sự chết thì con người sẽ mặc sức sống theo thú tính để thỏa mãn mọi ngạo mạn của mình, tất cả dục vọng nơi con người sẽ ngự trị, và như thế con người trở thành nô lệ, tàn sát lẫn  nhau, và như thế lại có sự nghịch lý không thể chấp nhận được.

Song song với nó là những dục vọng nơi con người, mà nhà Phật cho rằng đây là nguyên nhân chính tạo nên mọi nghiệp, mọi kiếp. Những thất tình (hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục), lục dục-lục tặc (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) dẫn con người đến đau khổ và sự tiêu ma.

Quy luật sinh tồn và đào thải từ đâu mà ra, cũng như dục vọng nơi con người từ đâu mà có? Có thể nói đó là một bí nhiệm. Bí nhiệm như ánh sáng và bóng tối từ đâu. Chỉ biết chắc rằng quy luật mâu thuẫn luôn phải có thì mới sản sinh ra được điều kỳ diệu, nó nương tựa và đun đẩy nhau để phát triển (âm thịnh dương suy và dương thịnh âm suy). Đối cực này giải nghĩa và làm rõ cho đối cực kia chứ không thể lý giải hơn được. Triết lý Á đông nhận rằng đây là sự khiếm khuyết của trời đất nhưng lại mang được ý nghĩa để chấp nhận cặp đối lập trong niềm lạc quan tích cực. Nếu đứng ở góc độ lý trí con người, thì Đức Phật được xưng tụng là đại trí, Khổng tử là “vạn thế sư biểu”, Lão tử có trí huệ nhìn xuyên suốt được mọi quy luật để  thấy được cái “Đạo” là nguyên ủy và cứu cánh của mọi sinh vật, dù rằng bản thể của “Đạo” chưa ai giải thích và hiểu thấu được… Con người suy tư chỉ biết rằng đau khổ và sự chết bởi chính cặp mâu thuẫn mà ra, chứ không nhất thiết phải giải thích, càng không thể giải thích hơn được nữa, “ra sống thì vào chết; vào chết thì ra sống” (Lão) chính là vậy. Cũng như“Vật cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” (kinh dịch) là như thế.

KITÔ GIÁO CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ VÀ SỰ CHẾT BẰNG CÁCH NÀO

Như trên đã đề cập đến sự nhận thức và quan điểm của con người xuyên qua những cảm nhận và lý lẽ trong triết lý, trong đạo học cũng như trong những sắc thái của tôn giáo Á đông. Dù sao ta cũng nên nhìn nhận tính chất ưu việt từ trong các tôn giáo, vì chỉ có tôn giáo mới có đủ uy tín và thế giá để xác nhận những vấn đề thuộc tâm linh như việc chấp nhận đau khổ và sự chết bằng niềm tin nào đó, nhờ vào đấy biến nó thành niềm vui cho cuôc sống, còn hơn thế nữa, là tìm được hạnh phúc trong chính cái đau khổ và sự chết.

Dù chủ quan hay khách quan (theo niềm tin tự nhiên hay lý trí phân tích), nếu tìm hiểu kỹ lưỡng, ta nhận thấy rằng, đức tin trong Kitô giáo rất coi trọng giá trị của đau khổ và sự chết. Coi đây là một ân huệ, một phúc lộc của Thiên Chúa ban cho con người. Đau khổ và sự chết là hậu quả của tội lỗi: “lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta là cái chết” (Rom 5, 12).Nhưng chính nhờ đau khổ, cái chết và sự phục sinh, Đức Kitô đã biến nó thành hy vọng, thành niềm vui, thành niềm hoan lạc trong sự sống đời đời cho tất cả nhũng ai theo Người: “Ai muốn theo thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt, 24). Trong niềm tin, qua đau khổ và sự chết, chắc chắn con người sẽ được vinh quang và hưởng phúc lạc đời đời, vì “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống minh, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.(Ga 12,24-25).Trong cựu ước, ông Giop là người đau khổ tột cùng khó ai có thể chịu đựng được, nhưng ông vẫn vui lòng chấp nhận nó trong niềm tin yêu vững bền:  “Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ. Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi. Xin chúc tụng danh Chúa (G 1:21), và kết quả là ông  gặt hái được những thành quả mỹ mãn không ngờ được.  Bởi vậy một trong những điều kiện để đo lường sự thánh thiện trong đạo Chúa là xem người đó có bằng lòng chịu đau khổ hay không. Thiếu điều kiện này là chưa thể bảo đảm được sự thánh thiện.

Đau khổ và sự chết không ai có thể trốn tránh và chống lại nó, nếu chống lại, con người sẽ trở nên trống rỗng trong mọi sự, vì:“Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa” ( 1 Cr 1, 18). Khi chống lại đau khổ, con người chỉ tìm cách ngủ yên trong cái vỏ ốc để bảo vệ cho mình được thoải mái, tránh mọi phiền phức bất cứ từ đâu đến. Lúc đó con người biến thành ích kỷ vô cùng, là điều nguy hiểm dẫn con người đến sự hư mất.

Người Kitô hữu dễ dàng chấp nhận những đau khổ và sự chết nhờ tin vào Đức Kitô và biết được mục đích cuộc sống ở trần gian này để làm gì (Sinh Ký Tử Quy là như vậy). Nếu con người bám vào tiền tài, danh vọng và chạy theo nó thì sẽ mắc vào sự mù tối (vô minh) tai hại, lúc đau khổ và thần chết đến, họ sẽ vô cùng hoảng hốt kinh hãi.

Sự sống đời đời nếu sánh với đời này thì như thánh Giacôbê nói: “Đời người chỉ như một chút hơi nước bay đi rồi biến mất”. Bởi vậy không lạ gì các thánh rất coi thường danh lợi thế gian, các ngài coi đau khổ và sự chết đời này là một phương tiện cần thiết quý báu để đến được cõi hoan lạc viên mãn. Thật cũng không lạ gì có bao vị thánh sung sướng chịu chết vì đạo, các ngài biết rõ”Quê hương chúng ta ở trên trời”(Pl3,20). Vì thế, chết là thay đổi chứ không mất đi, được biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác tốt hơn, hoàn hảo hơn, có được hạnh phúc bất diệt : “Tôi nói anh em biết mầu nhiệm này là, không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi”(1 cr 15, 51).

Đức tin của người Kitô hữu vượt trên lẽ thường tình đến nỗi người ta nhận thấy một sự nghịch lý : “khi Chúa thương gọi con về, lòng con hân hoan như trong một giấc mơ”. Đó là nhờ Đức Kitô đã dành cho những ai tin và sống trong người. Đau khổ và sự chết trở thành một bí nhiệm nên “bất khả tri”, như bác học Newton nói: “Điều tôi biết như giọt nước, điều tôi chưa biết như đại dương”.  Thiên Chúa đã gieo vào lòng con người những mối cảm thức tư duy để ít nhiều con người có thể cảm nghiệm được về đau khổ mang lại ơn ích và sinh ơn cứu rỗi cho họ, dù rằng nó khá mơ hồ và mênh mang. Khi cảm nhận được giá trị của nó thì đau khổ và sự chết trở thành vui mừng, vì được thanh lọc nên tinh tuyền và là giờ được huởng kiến Thiên Chúa là đấng toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, toàn ái, gốc của mọi hạnh phúc. Thánh nhân đều nhận thấy như thế, như Thánh Têrêsa Avila mỗi khi nghe thấy đồng hồ đổ một giờ qua đi là ngài cảm thấy sung suớng vì giờ chết lại gần hơn để về với Chúa. Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu cũng vậy, ngài nói:”với ý nghĩ được chết, tôi sung sướng lắm”.

Nếu con người nhìn nhận được giá trị, và nhất là có được niềm tin vào một Đấng là nguồn của sự thiện, là cứu cánh thông qua đau khổ và sự chết, thì chắc rằng con người sẽ được thanh thản trước cuộc sống trong bất cứ hoàn cảnh hay tình huống nào. Khi đó con người đã được giải thoát và tìm được hạnh phúc ngay từ cuộc sống đời này rồi. Nếu không nó sẽ làm cớ vấp phạm cho con người, để rồi đau khổ trở thành án phạt, từ đau khổ này chồng chất lên đau khổ khác, cho đến lúc phải quằn quại trong sự chết để chấm dứt một kiếp sống nô lệ và đọa đày.

Chung quy, người có đức tin và theo chân Đức Kitô thì dễ dàng đón nhận đau khổ và sự chết bằng niềm lạc quan và hy vọng, trong an bình và thanh thản.

Hàn Cư Sĩ

Giác Ngộ

  Giác Ngộ

Msgr. Petrus Nguyển Văn Tài

Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì?”… Lời thách thức này của Tin Mừng đã khiến cho một vị giáo sư  trẻ tuổi bỏ tương lai đầy hứa hẹn, bỏ tất cả để chỉ còn đeo đuổi một mục đích duy nhất trong cuộc đời: sự sống đời đời của chính mình và của người đồng loại.

Vị giáo sư trẻ tuổi đó chính là Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng của các xứ truyền giáo, mà hôm nay Giáo Hội kính nhớ… Chưa tròn 25 tuổi, Phanxicô đã nổi tiếng như một giáo sư triết học tài ba tại đại học Paris . Giữa lúc danh vọng đang đến, Phanxicô Xaviê đã nhận được những lời thách thức trên đây từ người bạn thân Inhaxiô Loyola.

Không còn chống cưỡng lại với lời Chúa, Phanxicô Xaviê đã đến Montmartre để cùng với Inhaxiô sống đời khó nghèo, khuyết tịnh và phục vụ tông đồ, theo những chỉ dẫn của Ðức Thánh Cha.

Năm 1537, nghĩa là 3 năm sau khi đã tuyên khấn, Phanxicô lãnh chức linh mục. Từ Italia, ngài sang Lisboa của Bồ Ðào Nha để lên đường đi truyền giáo tại Ấn Ðộ. Trong 10 năm ngắn ngủi, Phanxicô Xaviê đả rảo bước đi khắp nơi để đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật Bản, Mã Lai và Ấn Ðộ. Cuộc sống của ngài là một chia sẻ cảm thông sâu xa với những người nghèo khổ nhất… Chưa đạt được giấc mơ đặt chân đến Trung Hoa và Việt Nam, thánh nhân đã qua đời trong kiệt sức, tại một hải đảo cách Hồng Kông 100 cây số. Bị những người lái buôn Bồ Ðào Nha bỏ rơi trên bãi cát, thánh nhân đã qua đời trong sự trơ trụi nghèo nàn.

Danh vọng, tiền tài, ngay cả sức khỏe… tất cả đều được đốt cháy để tìm được niềm vui đích thực cho tâm hồn và mang niềm vui đó đến với mọi người: đó là sứ điệp mà thánh Phanxicô Xaviê đã để lại cho tất cả chúng ta…

“Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”… Có lẽ người ta thường dùng câu nói trên đây không những để nói lên tính cách tương đới của đau khổ, mà còn để nói lên ngay cả sự tương đới của hạnh phúc.

Sau những tháng năm ăn độn, ăn rau, những người nghèo có thể hớn hở reo vui khi được bữa cơm trắng với chút thịt cá. Sau những tháng năm tù đày, một người vừa mới được phóng thích sẽ reo hò sung sướng khi được đi lại tự do, khi được thở không khí trong lành…

Những người giàu có, ngày nào cũng yến tiệc linh đình sẽ thèm khát đôi chút cá kho, mắm cà của người nghèo khổ… Những đứa trẻ giàu có ở đô thị có lẽ sẽ thèm khát những giây phút được cưỡi trâu hay tắm ao của những chú bé nghèo ở nhà quê…

Tựu trung, vấn đề cơ bản nhất của con người vẫn là đi tìm hạnh phúc. Và cuối cùng, sau những miệt mài tìm kiếm, ai cũng nhận thấy rằng mình sẽ không bao giờ đạt được hạnh phúc đích thực và trường cửu trên trần gian này. Kẻ đứng ở núi này sẽ luôn nhìn sang núi nọ…

Chúa Giêsu đã đề ra cho chúng ta một bí quyết của hạnh PhúcAi muốn cứu mạng sống mình, sẽ mất và ai mất  mạng sống mình vì Ta sẽ gặp lại… Chỉ có một niềm vui đích thực đó là sống trọn vẹn cho Chúa. Chỉ có một điều quan trọng nhất trong cuộc sống: đó là lắng nghe lời Chúa.

Msgr. Petrus Nguyển Văn Tài

Anh chị Thụ & Mai gởi

TRÁCH NHIỆM

TRÁCH NHIỆM

Thiên Phúc

Có một ông phú hộ rất khô đạo, thường hay nói với người vợ mỗi sáng Chúa nhật khi bà và các con sửa soạn đi lễ:

– Em hãy đến nhà thờ dự lễ và cầu nguyện cho anh với nhé.

Mỗi lần gặp gỡ bạn bè nói về chuyện đạo, ông thường khoe với họ là ông không cần đến nhà thờ, cũng không cần phải đọc kinh dự lễ, vì đã có vợ ông dự lễ, đọc kinh và cầu nguyện cho cả hai rồi.

Ngày tháng trôi qua, một hôm ông nằm mơ thấy ông và vợ đứng xếp hàng trước cửa thiên đàng đợi đến lượt mình bước vào. Cửa trời mở ra và mọi người tuần tự vui vẻ tiến vào. Khi đến lượt ông thì thiên thần giữ cửa làm hiệu cho ông dừng lại. Thiên thần quay sang mỉm cười nói với vợ ông:

– Chị hãy vào thiên đàng thay cho cả chồng chị nữa!

Thế là chỉ có vợ ông tiến vào còn ông thì phải bơ vơ đứng ngoài. Vừa tủi thân vừa tức giận đã làm cho ông thức giấc. Ông không dám thuật lại giấc mơ cho vợ, nhưng điều làm cho bà vợ ngạc nhiên hơn cả là sáng Chúa nhật hôm đó, thay vì nói với bà như thường lệ, người phú hộ đến gần vợ và nói bên tai bà:

– Từ hôm nay, anh sẽ cùng với em đến nhà thờ dự lễ và cầu nguyện cho chính anh nữa.

 ***

Giây phút hiện tại chính là thời điểm Thiên Chúa đi vào cuộc đời ta và qua ta đi vào lòng thế giới. Thế nhưng Thiên Chúa không thể đi vào cuộc đời ta nếu không có sự đồng ý của ta. Thánh Augustino đã nói: “Khi tạo dựng nên ta, Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến của ta, nhưng Người không thể cứu rỗi ta nếu ta không cộng tác với Ngài”.

Điều đó nói lên trách nhiệm của mỗi người về niềm hạnh phúc và phần rỗi cá nhân. Vốn biết rằng “không ai là một hòn đảo”, cũng không ai có thể sống riêng rẽ một mình. Việc tốt cũng như hành động xấu của người này có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với người kia. Thế nhưng, không phải vì thế mà chúng ta có thể ỷ lại vào việc lành phúc đức của người khác để trốn trách nhiệm của mình.

Mỗi giây phút hiện tại sẽ lần lượt qua đi mà không bao giờ trở lại. Mỗi người chúng ta đang đứng trước tương lai của mình, đang đối diện với vận mệnh mà Thiên Chúa đã trao tặng. Chúng ta phải sáng suốt lựa chọn sự sống hay cái chết, hạnh phúc bất diệt hay thú vui tạm bợ, Thiên Chúa và tình yêu hay cái tôi và tính ích kỷ.

Tất cả tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của ta. Không ai có thể sống thay cho ta hoặc chết thay cho ta. Thánh Phaolô đã viết: “Mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa” (Rm 14, 12). Phải chấp nhận sự thật này là mỗi người chỉ sống một lần và chết cũng chỉ một lần. Ta phải chủ động chứ không thể đề cử ai thay thế ta được.

***

Lạy Chúa, xin giúp con xác tín rằng chính con phải lo phần rỗi con, không ai có thể sống đạo thay con. Chính con phải tuyên xưng lòng tin bằng đời sống và việc làm của con, để qua con, người khác sẽ nhận biết Chúa, và cảm nghiệm tình thương cứu độ của Ngài. Amen 

Thiên Phúc

Anh chị Thụ & Mai gởi

Anh Hề Ngây Ngô

Anh Hề Ngây Ngô

Kho truyện cổ tích Tây Phương có kể chuyện một anh hề được vua cho là ngây ngô khờ dại.  Anh ở ngay trong cung điện vua, được vua thương mến vì anh đã giải buồn phiền cho vua hằng ngày.  Nhà vua sống trên nhung lụa, chung quanh có cung tần mỹ nữ để vui chơi, có cao lương mỹ vị không còn làm vua thấy ngon miệng nữa.  Vua cũng có các quan trung tín lo chuyện quốc sự khiến vua chẳng phải làm gì mà cũng chẳng nghĩ được điều gì có lợi cho dân, cho nước.  Kho báu của cung điện vua chất chứa biết bao của quý, trong khi người nghèo trong nước túng thiếu cơ khổ.  

Một hôm, nhà vua gọi anh hề lại và nói: “Này là phủ việt của ta, đó là biểu tượng của vương quyền.  Ta cho phép ngươi giữ phủ việt này để làm trò hề cho ta vui… Khi nào ngươi tìm được một người ngây ngô, khờ dại hơn ngươi thì ngươi hãy trao lại cho nó”.

Từ đó, mỗi khi có thết đãi tiệc trong triều, anh hề đến với phủ việt trong tay, dáng điệu vênh váo, ngông nghênh, cốt chọc cười mua vui cho nhà vua.

Mấy năm sau, nhà vua lâm bệnh nặng. Biết mình sắp chết, nhà vua cho gọi anh hề lại.  Vua buồn bã nói với anh hề: “Ta sắp sửa đi du lịch ở một nơi xa lắm”.

Anh hề hỏi: “Nhà vua đi tận đâu lận?”

Nhà vua trả lời: “Ta chẳng biết nữa”.

Anh hề hỏi tiếp: “Nhà vua đi có lâu không?”.

Nhà vua đáp: “Đi hoài và không trở về đây nữa”.

Anh hề hỏi “Nhà vua đã chuẩn bị hành trang chưa?”

Nhà vua trả lời: “Chưa hề”.

Anh hề liền cười hóm hỉnh và lễ phép tâu:“Vậy xin Hoàng Thượng cầm lấy phủ việt nầy.  Hạ thần xin trao lại cho Hoàng Thượng, bởi vì nay hạ thần đã tìm được một người ngây ngô và khờ dại hơn hạ thần rồi”.

Từ xưa đến nay, con người những hăm hở chạy theo danh vọng bạc tiền là những thứ khiến tâm hồn ra u mê tăm tối không còn biết nghĩ đến cái gì là tốt hơn cho mình ở thế giới bên kia sự sống.  Những người không có đời sống tâm linh an bình thì dễ bị lôi cuốn vào hướng đi của những người chỉ khát khao đời sống vật chất danh vọng, giầu có…

Người Kitô-hữu không quên bài học trong Tin Mừng Luca (12: 13-21).  Chúa Giêsu cũng gọi những kẻ giầu có là ngu dại.  Cái ngu dại của người phú hộ trong dụ ngôn (Luca 12: 16-21) là không thể nhìn xa hơn cái kho lẫm mà ông tự xây cất để giam hãm mình vào; cái ngu dại của ông là không biết mình có đem theo được của cải nào sau khi chết hay không?

Kẻ ngu dại nói chung là kẻ sống mà không biết mình đang đi về đâu, không biết đâu là ý nghĩa và hướng đi của cuộc đời.  Kẻ ngu dại là kẻ lấy phương tiện cuộc sống làm cùng đích đời người; họ chạy theo quyền lợi, danh vọng, tiền bạc, họ chối bỏ tiếng lương tâm để làm điều phi pháp; họ chà đạp người khác để đạt danh vọng, quyền bính.

Cuộc sống hiện tại có thể là một cạm bẫy.  Những giành giựt mưu sinh có thể biến chúng ta thành kẻ ngu dại, chỉ nhìn thấy chén cơm manh áo mà quên đi ý nghĩa và cùng đích của cuộc sống.  “Cái khó không những bó cái khôn”, mà còn trói buộc lòng quảng đại của chúng ta.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điều chỉnh hướng đi.  Hướng đi của những người có niềm tin phải là hướng đi về những giá trị của Tin Mừng và cùng đích của cuộc đời. Giữa chợ đời tranh chấp bon chen, người có niềm tin sẽ bị xem là kẻ mát mát, khờ dại, ngây ngô; nhưng điều mà người đời cho là khờ dại chính là lẽ khôn ngoan, là luận lý của Thiên Chúa.

Dù phải lội ngược dòng để trung thành với những giá trị Nước Trời, chúng ta cũng hãy can đảm tiến bước và tín thác vào Chúa.

Sưu Tầm và Tổng Hợp

From: KittyThiênKim 

Giọt nước mắt thương con, con ngủ mẹ mừng,

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 21 mùa thường niên C 21/8/2016 

“Giọt nước mắt thương con, con ngủ mẹ mừng,”
“Giọt nước mắt thương sông, ấp ủ rêu rong.
Giọt nước mắt thương đất, đất cằn cỗi bao năm.
Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong.”

(Trịnh Công Sơn – Nước mắt cho quê hương)

 Trần Ngọc Mười Hai

Video Khánh Ly https://www.youtube.com/watch?v=DQy-rmCmphU

 httpv://www.youtube.com/watch?v=DQy-rmCmphU

(Mt 10: 34-36) 

Nếu như “quê hương” mà bạn hát ở đây là Nước Trời trong đó mọi người trên thế-giới đang nhỏ những giọt nước mắt thương-yêu, thì sao? Và, giả như “giọt nước mắt” mà mọi người đang nhỏ từng giọt và từng giọt, thì bạn đọc và bầy tôi đây, ta nghĩ sao về điều ấy?

Vâng. Nước mắt nhỏ giọt cho bất cứ ai, khóc cho quê hương nào đi nữa, thì người Tây/người Tầu hoặc dân ta vẫn cứ tiếp-tục nhỏ hoài/nhỏ mãi, như ca-từ còn hát tiếp ở bên dưới:

“Giọt nước mắt thương mây, mây ngủ trên ngàn
Giọt nước mắt thương cây, cây ngả trên non
Giọt nước mắt thương anh, khô giòng máu châu thân
Giọt nước mắt quê hương, ôi còn chảy miên man.

Ôi! giòng nước mắt chảy hoài
Giòng nước mắt đời đời
Giọt nước mắt thương ai

Ôi giòng nước mắt trong tim
Chảy lai láng vào hồn
Nửa đêm gọi đến mình”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Vâng. Những giọt nước mắt như thế, vẫn còn nhỏ ở đây đó xuống mọi miền trên quê hương Nước Trời ở trần-gian, thôi. Cũng mới đây, hôm 27/7/2016 ở trời Tây bên ấy, chốn “Phú-Lăng-xa” đất miền rất Pháp Quốc, nhà Đạo mình lại đã nhỏ thêm nhiều giọt nước mắt còn nóng hổi cho vị linh-mục cao-niên bị giết chết ngay trong nhà thờ ở miền Bắc nước này.

Vâng. Nước mắt và nước mũi nhiều người vẫn nhỏ mãi không ngừng, chí ít là những người cùng thờ Thiên-Chúa nhưng khác phái lại cứ báng-bổ/kình-chống nhau, để rồi dẫn đưa nhau về cõi chết, rất buồn bực.

Vâng. Hôm nay ở chốn miền cùng cực phía Nam bên này, lại cũng thấy những người và người vẫn kình-chống nhau chỉ vì khác nhau điều gì đó. Khác, về niềm tin đi Đạo. Khác, hệ-cấp trên/dưới, khác cả hình-thức tổ-chức, lẫn cung-cách đối-xử với nhau và cho nhau, không còn mang tính đích-thật của chọn lựa ban đầu, nữa.

Vâng. Hôm nay đây, người người lại cứ nhân-danh điều này/chuyện nọ để ra tay hành-xử cách nào đó không còn mang tính từ-bi/hỷ-xả như nguồn-gốc của đạo-giáo mình chủ-trương.

Đúng thật thế. Hôm nay và có thể cả mai ngày, người người lại cũng chưa giải quyết được những xung-khắc do có khác-biệt về Đạo và đời; cả ý-thức-hệ lẫn đạo-đức/chức-năng… nay cũng khác.

Vâng. Vì có khác-biệt này/nọ ở nhiều địa-hạt, nên khi sự xấu xảy đến, lại có tình-huống chất đầy nước mắt như ca-từ hát thêm, ở bên dưới :

“Giọt nước mắt thương chim, chim bỏ xa rừng.
Giọt nước mắt thương đêm, đêm đẩy xe tang.
Giọt nước mắt thương em, trên vận nước điêu linh.
Giọt nước mắt không tên, xin để lại quê hương.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Khác-biệt đến độ, đã phải nhỏ những giọt nước mắt không tên để “thương em, thương vận nước điêu-linh”,thương đạo-giáo lình-xình nhiều tranh-chấp, vẫn là “Giọt nước mắt thương dân, đêm đẩy xe tang”, rất làng nhàng.

Vâng. Giọt nước mắt ấy, cứ nhỏ mãi khi có nguồn tin cũng rất “tức” gửi về từ chốn miền nhà Đạo rất Nước Trời, những hỏi rằng:

“Có chăng mối đe-doạ khủng-khiếp cho nền an-ninh thế-giới? Phải chăng đe-doạ ấy là từ ISIS ? 

Câu hỏi này, được đưa ra từ tháng 11 năm 2015 trên trang mạng MercatorNet, rất phổ-biến. Thế nhưng, trước đó từ tháng Bẩy/2015, Chánh Văn Phòng Hỗn Hợp của Hoa-Kỳ là Hải-quân Thiếu-tướng Joseph Dunford cũng từng đưa câu trả lời tương-tự gửi đến Quốc-Hội trả lời rằng: mối đe-doạ không lai ai khác ngoài Nước Nga.

Thế, Trung-Quốc thì sao? Và, Bắc Hàn nữa? Cả hai nước này, lâu nay, vẫn bị mọi người coi là mối đe-doa thật cho Tây Phương. Văn-minh Phương Tây luôn đối đầu với các “đe-doạ thực-sự” cả từ thay-đổi khí-hậu cho đến các hành-tinh nhỏ, từ nạn-dịch toàn cầu đến sự thông-minh nhân-tạo và cả chiến-tranh hạt-nhân, nữa. Đại-học Cambridge ở Anh đã nhận được đầy-đủ tài-trợ để lập nên Trung-tâm Nghiên-cứu về Nguy-cơ đích-thực hầu báo-động mọi người về các mối nguy-hiểm của các ngành Kỹ-thuật mới. Chừng như ta đã bị quấn chặt để biến các tai-hoạ nhỏ thành nguy-cơ hiện-hữu đối với con người. Có lẽ vì thế mà bộ phim “Zombie” và các bi-kịch thành chuyện bình dị ở đời… 

Thành thử, cũng không nên tỏ ra quá nhát gan hoặc ngây thơ đến độ phải lưu-ý đến việc chính-phủ Obama kêu-gọi đừng tỏ ra hãi sợ đối với Nhà Nước Hồi-giáo (IS) sau ngày Thứ Sáu 13 vừa rồi ở Paris . Tổng-thống Obama có nói: “Họ là một mớ các sát-nhân được giới truyền-thông xã-hội hỗ-trợ. Chuyện này cũng không kém ‘nguy-hiểm’, nhưng lối sống của ta lại mạnh hơn thế. Ta có nhiều thứ để đưa ra đề-nghị mà giải-quyết…” Và rồi, Phó Tổng thống Hoa-kỳ Joe Biden còn nhấn mạnh: “ ISIS không là mối đe-doạ cho sự sống còn của Nước Mỹ bao giờ hết…” (X. Michael Cook “Is ISIS an existential threat?” MercatorNet 23/11/2015)

Nói về “mối đe-doạ cho sự sống còn của thế-giới” phải chăng phát-xuất từ đạo Hồi? Theo kiểu của chính-trị-gia. Còn, quan-điểm chính rất công-khai của nhà Đạo mình về mối “đe-doạ” này, được Đức Phanxicô bày tỏ trong cuộc phỏng-vấn trên chuyến bày từ Krakow Ba-Lan về Rôma hôm 31/7/2016, như sau:

“Hỏi: Người Công giáo chúng ta đã bị cú “sốc” sau vụ sát-hại dã-man Linh-mục Hamel. Cha nói chúng con rằng tất cả mọi tôn-giáo đều kiến-tìm hòa bình, nhưng Linh mục Hamel bị giết dưới danh-nghĩa Hồi giáo. Tại sao cha không bao giờ nhắc đến Hồi giáo khi nói về chủ nghĩa khủng bố? 

Đáp: Cha không thích nói về bạo-lực Hồi-giáo, bởi ngày nào cha cũng thấy xảy ra bạo-lực mỗi khi điểm-báo ở Ý, đọc thấy chuyện ai đó giết bạn gái hay mẹ vợ, và đó là bạo-lực của những người Công-giáo đã rửa tội. Nếu Cha nói về bạo-lực Hồi-giáo, thì Cha cũng phải nói về bạo-lực Công-giáo nữa chứ?

Không phải người Hồi-giáo nào cũng tàn-bạo hết. Nó như món salad trộn hoa quả, đều có cái này cái kia. Và anh chị em thấy có những người tàn-bạo trong các tôn giáo khác nhau. Chỉ một điều chắc-chắn mà thôi, là luôn có một nhóm nhỏ gồm những người cực-đoan trong tất cả mọi tôn-giáo. Chúng ta cũng có những người cực-đoan/tàn-bạo như thế. Và, khi những người cực-đoan đi xa hơn đến độ tra tay giết người, có thể bằng miệng lưỡi mình, không phải Cha mà là tông-đồ Giacôbê đã nói vậy. Người ta cũng có thể giết người bằng gươm bằng giáo; thế nên thật không đúng chút nào khi đồng-hoá Hồi-giáo với bạo-lực. 

Cha từng đàm-đạo dài giờ với một giáo-chủ ở Đại học Al Azhar, họ tìm-kiếm hòa-bình và thông-hiểu nhiều chuyện. Sứ-thần tòa-thánh ở nước châu Phi nọ từng bảo với Cha rằng: ở thủ đô nước ông, có người luôn xếp hàng để đi qua cửa thánh, rồi có một số đi xưng tội. Nhưng hầu hết đều đi thẳng đến bàn thờ để cầu nguyện với Đức Mẹ; và đó là những người Hồi-giáo muốn mừng Năm Toàn xá. Khi đến Trung Phi, Cha có đi thăm một cộng-đồng Hồi-giáo, và vị Giáo-chủ Hồi-giáo ở đó cũng lên xe ngồi chung với Cha. Chung sống hòa-bình là chuyện có thể thực-hiện được. 

Nhưng các nhóm tàn-bạo cực-đoan có tồn tại không lại là chuyện khác. Cha tự hỏi vì sao nhiều người trẻ của chúng ta sống an-thân ổn-định, lại bị cướp mất đi lý-tưởng sống, đến độ họ đã chạy theo thuốc phiện, bia rượu, hoặc thậm chí đi đầu quân cho nhóm khủng bố, nữa. Đúng. Chúng ta có thể nói: ISIS là một nhà nước Hồi giáo, và đặc tính của ISIS là bạo-lực, bởi nó khoe với ta toàn những chuyện giết người. Nhưng, đây chỉ là một nhóm nhỏ, anh chị em không thể, không đúng, và cũng quan-niệm không thật lòng khi gọi Hồi-giáo là những người có đức tin khủng bố.’ 

Hỏi: Ngoài việc cầu nguyện và đối thoại ra, ta còn có sang-kiến cụ thể nào để đương đầu với bạo lực Hồi giáo không? 

Đáp: Chủ nghĩa khủng-bố có mặt ở khắp nơi, chỉ cần nghĩ đến chủ-nghĩa khủng-bố bộ lạc ở một vài nước châu Phi thôi cũng sẽ thấy. Chủ-nghĩa khủng-bố lớn lên khi không họ có chọn-lựa nào khác. Và giờ đây, Cha sẽ nói về chuyện có vẻ đầy những hiểm họa gây cho thế-giới. Khi anh chị em biến “thần tài” thành trọng-tâm kinh tế thế giới, chứ không phải con người, thì đó là hình-dạng đầu-tiên của chủ-nghĩa khủng-bố. Anh chị em đã xóa đi nét vẻ nguy-nga của tạo-vật, và thay vào đó, đặt tiền bạc vào vị-trí trọng tâm. Đây là cơ sở tiên-quyết của chủ-nghĩa khủng-bố. Anh chị em cứ nghĩ về chuyện ấy cho nhiều rồi sẽ thấy…’ (X. Phỏng-vấn Đức Phanxicô trên chuyến bay trở về Rôma hôm 31/7/2016, theophanxicovn.net)

Lời Đức Phanxico6 quả cũng rất thẳng-thắn, mạnh-bạo, nhất là trong tình-huống có nhiều khủng-bố/bạo-động đang diễn ra. Tuy vậy, dù Cha hoặc con ở nhà Đạo, có nói mạnh-bạo thế nào đi nữa cũng sẽ không thay-đổi được tình-hình an-ninh/an-toàn trên thế-giới được. An-ninh/an-toàn cuộc đời với người nhà Đạo, có lẽ sẽ nằm ở chỗ khác, ở lập-trường khác vẫn âm-thầm chứ không ầm-ĩ, như ta tưởng. Đó, có lẽ là ý-tưởng của bạn đọc nọ sau khi suy-tư rất nhiều về kết-quả của kinh Lạy Cha áp-dụng cho mọi người ở đời. Chí ít, là đời đi Đạo, lại sẽ diễn-tả cách nhẹ-nhàng hơn, như sau:

“Ðể đọc kinh Lạy Cha mà không lừa dối Chúa và tự lừa dối mình:

Bạn đừng thưa “Chúng con”…
nếu bạn sống cau-có trong ích kỷ.
Bạn đừng gọi Ngài là “Cha”
nếu mọi ngày bạn không sống như người con.
Bạn đừng kêu Ngài là “Ðấng ngự trên Trời”
nếu bạn luôn nhắm toàn những chuyện dưới đất.

Bạn đừng nói “Xin cho Danh Cha cả sáng”
nếu bạn không kính-trọng từng con người.
Bạn đừng nói “Xin cho Nước Cha trị đến”
nếu bạn lầm-tưởng nó với những tham-vọng của riêng bạn.
Bạn đừng nói “Xin cho Ý Cha được thể hiện”
nếu như bạn không chấp-nhận thử-thách xuất tự nó.
Bạn cũng đừng thưa “Dưới đất cũng như trên Trời”
nếu bạn chỉ lo nhìn lên trời mà không thấy ai khác chung quanh bạn.
Bạn đừng nói “Cho chúng con” nếu bạn không cho người khác điều bạn có.

Bạn đừng nói “Hôm nay”
nếu như bạn chỉ hối-tiếc quá-khứ hoặc chỉ đeo-đuổi tương lai nào khác, tốt hơn thế.
Bạn đừng nói “Lương thực hằng ngày”
nếu bạn không chạnh lòng thương những người đang đói khát.
Bạn cũng đừng “Xin tha tội cho chúng con”
nếu bạn không thấy lỗi của chính mình với tha nhân.
Bạn đừng nói “Như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con”
nếu bạn chậm trễ không tha-thứ cho kẻ đã xúc-phạm bạn.
Bạn đừng nói “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”,
nếu bạn không sẵn-sàng chống lại sự dữ ấy.
Bạn đừng kết thúc bằng lời “Amen”
nếu bạn không trân-trọng những điều ghi trên đây ở Kinh Lạy Cha.”

(Sưu-tầm trên Facebook)

Và, nói đến và nói về an-ninh/an-toàn trong đời người, theo tâm-tưởng của nhà Đạo mình, cũng rất đúng với có thể là như thế. Nhưng, với người thường ở đời, có lẽ nên nói theo truyện kể, thì thích-hợp hơn.

Nhưng trước khi nói bằng truyện kể rất cụ-thể, tưởng cũng nên đi vào vườn hoa Lời Vàng của bậc thánh-hiền để có được những “cột/mốc” suy-tư, rồi đem áp-dụng cho đời mình. Một trong các Lời Vàng ấy gặp được ở sách Tin Mừng sau:

“Anh em đừng tưởng

Thầy đến đem bình-an cho trái đất;

Thầy đến không phải để đem bình-an,

nhưng để đem gươm giáo.

Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ

giữa con trai với cha,

giữa con gái với mẹ,

giữa con dâu với mẹ chồng.

Kẻ thù của mình chính là người nhà.”

(Mt 10: 34-36)

Kẻ thù của mình là chính mình, như ai đó từng hát những câu như: “Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai!” Phạm Duy – Kẻ thù ta).

Vâng. Chính thế. Kẻ thù là chính mình mà giết nó đi thì cái “mình” đâu còn nữa mà nói chuyện an-ninh với an-toàn. Đó, là chưa đổ tội cho người Hồi-giáo cực-đoan, bạo-loạn để đòi giết, hoặc tố-khổ.

Kẻ thù ta, hay kẻ thù của nền an-ninh/an-toàn trên thế-giới, chính là chính-sách/chiến-thuật của ai đó, hoặc sức mạnh hùng-hổ nào đây từng dấy lên cốt tạo sự bất-ổn trong mọi sự để còn khống-chế với cầm cân nảy mực, quyết thực-hiện cho bằng được.

Kẻ thù ta, hôm nay, chắc-chắn không phải và không bao giờ là thế-lực Hồi-giáo-khủng-bố hoặc mãnh-lực của ác-thần/sự-dữ hiện-thân nơi ai đó, bên ngoài con người mình.

Nhận-định thế rồi, nay mời bạn và mời tôi ta đi vào vùng trời truyện kể để minh-hoạ cho lập-trường sống rất dễ dàng.

Nếu để ý, người đọc sẽ nhận ra rằng: cả hai truyện kể chẳng đi sâu/đi sát gì đề-tài ta bàn-luận, nhưng nếu nghĩ “trệch” khi bảo rằng: mọi chuyện trên đời xảy ra có lợi cho nền an-ninh/an-toàn của đời người hay không là tuỳ góc cạnh mình nhìn mà thôi. Nhìn theo góc cạnh ấy rồi, mình và người sẽ nhận ra một hay nhiều nhân-sinh-quan cuộc đời rất khác biệt. Thôi, xin mời bạn/mời tôi, ta bắt đầu kể:

“Truyện rằng: 

Ở nước Mỹ, trong một cửa hàng bách hóa, bởi trời đột nhiên đổ cơn mưa lớn, một bà lão ăn mặc giản dị, khắp người ướt sũng đi vào tránh mưa, gần như toàn bộ nhân viên bán hàng đều không muốn để mắt đến bà lão này. Có một chàng trai rất thành kính nói với bà rằng:

“Chào bà, tôi có thể giúp gì cho bà đây?”

Bà lão cảm thấy mượn chỗ của người khác để tránh mưa, trong lòng cũng có chút khó chịu, liền muốn mua một vài món đồ, nhưng đi vòng quanh mãi mà không biết mua gì nữa. Chàng trai này nhìn thấy liền nói với bà lão rằng:

“Bà không cần cảm thấy khó xử! Tôi đã để một chiếc ghế ở trước cửa, bà cứ yên tâm ngồi ở đó là được rồi.” 

Sau hai tiếng đồng hồ thì mưa đã tạnh, bà lão xin danh thiếp của chàng trai này rồi đi mất. Mấy tháng sau, chàng trai này đã được một cơ hội hiếm có, chính là được chỉ định làm đại biểu cho công ty bách hóa này đàm phán nghiệp vụ với công ty gia tộc lớn khác, lợi nhuận rất lớn. Về sau mới biết là bà lão đó đã cho cậu một cơ hội này, hơn nữa bà lão này không phải ai khác, mà chính là mẹ của “Vua Thép” Carnegie tỷ phú của nước Mỹ. 

Thế là, chàng trai này từ đây đã thuận buồm xuôi gió, một bước lên mây, trở thành trợ thủ đắc lực của “Vua Thép” Carnegie, đồng thời cũng là một trong số nhân vật trọng yếu giàu có bậc nhất, địa vị chỉ đứng sau Carnegie mà thôi.

 – Chẳng cần lời ngon tiếng ngọt, chỉ cần chân thành là tốt rồi;      

– Chẳng cần thề non hẹn biển, chỉ cần thật sự làm được là tốt rồi; 

– Chẳng cần oán trách lẫn nhau, chỉ cần hai bên hiểu nhau là tốt rồi;   

 – Chẳng cần ngờ vực lẫn nhau, chỉ cần tin tưởng lẫn nhau là tốt rồi; 

– Chẳng cần phải tức giận cả ngày, chỉ cần hiểu được bao dung là tốt rồi; 

– Chẳng cần gắn bó chẳng rời, chỉ cần trong lòng có nhau là tốt rồi. 

Giữa người với người, điều cần nhất chính là một tấm lòng chân thành kia vậy!

(Tiểu Thiện, dịch từ Cmoney.tw (VIETSTAR MEDIA) 

Và câu truyện kể thứ hai cũng dễ nể, như sau này:

“Lão là người duy nhất phải chăm lo từng “miếng ăn giấc ngủ” cho bà ở nhà nữa. Người chồng già nua này đang hãnh diện với công việc. Chăm sóc người vợ không còn một chút khả năng, nói đúng hơn là một “gánh nặng” đối với cách nghĩ của người khác. Riêng tôi, mọi dịp gặp hai vợ chồng này trên chuyến xe buýt, chưa bao giờ tôi thấy người chồng ra vẻ bực dọc bên chiếc xe lăn.

Có điều lão nói hơi nhiều!

Khi chiếc xe lăn được cột yên vào vị trí chỉ định, là lúc lão bắt chuyện ngay với người khác. Lão nói đủ thứ chuyện. Ai cũng nhận ra chút gì đó hưng phấn,vui vẻ, niềm hạnh phúc quá dễ dàng bắt gặp trên gương mặt xương xẩu , khô khốc kia. Phẩm chất một người chồng tận tụy, chung thủy đang thể hiện qua sự phục vụ cho một bà lão, khó tánh, hay gắt gỏng, do không còn một khả năng di chuyển, phải ngồi mãi trên chiếc xe lăn.

Người ta còn thêm một cảm nghĩ rằng: lão phục vụ người vợ, là niềm vui duy nhất,không thể thiếu và dường như lão “cần vậy” là đằng khác. Vui vẻ trên xe với mọi người; thỉnh thoảng lão cúi thấp, nho nhỏ nói vài câu với bà như “dỗ dành đứa trẻ”. Giọng ngọt ngào, mơn trớn. Hai hàm râu bên má lão rung rung theo lời nói, đôi khi tôi cảm thấy động lòng.

-Ước gì mình có một ít tính “kiên trì và chịu đựng” như lão! 

Có thể tôi sai, có phần xúc phạm với lão, giá như lão biết rằng tôi dùng hai chữ “chịu đựng”.

Hai vợ chồng đó hay xuống xe vào nửa đường, gần downtown San Jose . Bà tiếp tục càu nhàu ngay khi xuống trạm. Tôi ngoái theo nhìn. Dáng lão vừa đẩy xe cho vợ đi nhanh vừa chỉ trỏ như làm trò “con rối” cho bà vui. 

Mùa xuân năm nay, cũng trên chuyến xe 64 này tôi thấy vắng hình bóng vợ chồng kia cùng chiếc xe lăn. Bỗng một hôm, có một ông già lên xe. Sau vài phút để ý, tôi nhận ngay chính là lão già năm ngoái. 

Nhưng lần này lão lên xe một mình. Khuôn mặt ông già năm nay co rúm nhiều hơn. Màu râu nay bạc hơn, rậm rạp, lởm chởm đến mức độ “gớm ghiếc”! Hai con mắt ti hí đen thẩm, như một vũ trụ đen tối, sâu thẳm, càng khó đoán ông đang nhìn ai? 

Tôi nhận ra lưng lão gù hơn trước. Tay xách thêm một cái túi cũ mèm đựng những thứ lỉnh kỉnh, lão ngồi co ro đằng góc xa của dãy ghế trống do toán học sinh vừa xuống. Lão thỉnh thoảng nói lẩm bẩm, không ai nghe. Thỉnh thoảng lão húng hắng ho; có khi lão cố gắng dằn cơn ho lại sợ phiền lòng người khác.

Tôi cầm lòng không được:
-Chào ông , ông còn nhớ tôi không?

Lão ngẩng lên một lát:
– À…à! tôi nhớ anh… anh hay đi vè downtown; tôi thuờng gặp mà.

Tôi có cảm giác thân mật hơn khi lão nhận ra mình.
Ngần ngừ ít giây, tôi đánh bạo hỏi:
-thế thì vợ ông đâu?
Lão chợt chỉ ngón tay lên trời:
-bà ấy mất rồi.
-Ô! xin chia buồn cùng ông.
-Bà ấy ra đi ngay mùa Christmas năm ngoái anh à.
Tôi an ủi:
-Tôi tin bà lên thiên đường rồi ông ạ.

Bắt chước ông ta, tôi vừa nói vừa chỉ ngón tay lên trời. Bỗng lão chợt vui, đôi mắt như sáng hơn, rồi lại đưa ngón tay lên trời thêm lần nữa. Có điều tôi tin, ông già này hiện đang sống cô độc. Lão từng vui với công việc là người tự nguyện đẩy xe và săn sóc vợ. Giờ người vợ bệnh hoạn kia bỏ lão một mình để “lên thiên đường ” trước, thì sao lão tránh được buồn rầu và suy sụp?

Hôm nay tôi là người duy nhất bắt chuyện với lão. Trong tiếng ho kia, lão tự biết thân phận ngồi chỗ nào xa, kín đáo, để khỏi khó chịu cho ai. Tôi chào lão, nắm chặt song vịn sát trần, bước lui ít bước để khỏi làm phiền lão. 

Chiếc xe hàng ngày vẫn đón vài người tật nguyền đi xe lăn như người vợ quá cố của lão. Có những người già, những đứa bé, bị bệnh đi xe lăn. Anh tài xế vẫn kiên trì làm công việc thuờng nhật là móc dây an toàn cho từng người khách bệnh hoạn này khỏi chao chạnh lúc xe chạy. Giờ lão là ngườ “hết nhiệm vụ”. Người thân yêu nhất kia đã vĩnh viễn chia ra đi. Lão là người “ở lại” trên cõi trần này buồn nhiều hơn vui. Giờ con người này thật sự cô độc, trong một xã hội không có thứ văn hoá “tam đại, tứ đại đồng đường”. Bà lão còn sống, lão là người chăm sóc. Nay bà lão ra đi, để lão một mình trơ trọi, không ai săn sóc, không ai ở kề. 

Lão lại tiếp tục húng hắng ho, tiếp tục che miệng hay cúi gầm xuống lẩm bẩm nói một mình. Có thể ông già đang tâm sự với bà trong chốn vô hình nào chăng?

Nửa đường, ông già xuống xe. Cái túi đựng thức ăn của lão chợt lộ lên hàng chữ “Cơ Quan Cứu Tế CITY TEAM San Jose”; bên trong chắc hẳn là một số đồ hộp thức ăn cấp phát cho người nghèo. 

Chiếc xe tiếp tục chạy. Tôi ngoái lại nhìn , hình bóng con người cô đơn kia lảo đảo bước về huớng khác để lại cái bảng hiệu ngừng xe bơ vơ bên đường.” (Đinh Hoa Lư)

Kể như thế, cốt bảo rằng: an-ninh/an-toàn trong đời người cũng đều tuỳ tâm-trạng của người đời khi sống với người và với chính mình. Đó, cũng là đôi điều xin được đến bạn, đến tôi hôm nay và trong những ngày sắp tới của đời mình.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày

Cứ suy-nghĩ nhiều

Về Hồi-giáo, bạo-lực và sự tàn-bạo

trong tâm-khảm của chính mình.

CỨ CỬA HẸP MÀ ĐI ĐỂ VÀO

 CỨ CỬA HẸP MÀ ĐI ĐỂ VÀO

Tác giả:  Huệ Minh

Ở đời, người ta vẫn thường nói với nhau : “Cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền !”

Dù muốn dù không thì cái thực tế ê chề này nó vẫn đúng bởi đơn giản con người dù mạnh, dù lớn, dù khỏe cỡ nào đi chăng nữa cũng khó đứng vững trước sức mạnh của đồng tiền. Đồng tiền không chỉ mua được nhiều thứ mà nó có một sức mạnh có thể phá tất cả các cửa mà người ta muốn vào.

Là người dân, ta vẫn thường quen với các thủ tục hành chính mà người ta cũng hay đùa “hành là chính”. Đúng như vậy, để có một tờ giấy nào đó thì người dân phải đi qua các cửa. Là một bệnh nhân, khá kinh nghiệm về chuyện qua các cửa. Nếu vào các bệnh viện hay các cơ quan mà không quen biết hay không có tiền thì sẽ chậm chạp biết là dường nào. Khi đó, muốn qua các cửa dù hẹp cỡ nào đi chăng nữa thì chỉ cần xì tiền ra là có thể qua được hết.

Đời là như vậy, xã hội trần thế là như vậy nhưng Thiên Đàng, Nước Trời lại là khác. Cửa vào Thiên Đàng như Chúa Giêsu nói ngày hôm nay muốn vào thì phải qua cửa hẹp. Cửa ở trần gian có thể mua bằng quyền, bằng tiền hay người ta gọi là nhất thân nhì thế nhưng cửa Thiên Đàng thì đừng trông mong. Dù có tiền, dù có quyền đi chăng nữa cũng không thể nào qua được. Cửa này phải qua bằng nẻo đường duy nhất là tự lực cánh sinh của mỗi người và như Chúa nói cửa hẹp nên phải phấn đấu để mà vào. Phấn đấu này, chiến đấu này không phải chiến đấu với người khác mà là chiến đấu với chính bản thân mình.

Và, người ta cũng thường hay nói chiến thắng ai cũng được, chiến thắng cái bên ngoài thì dễ nhưng chiến thắng chính bản thân của mình không phải là chuyện đơn giản. Tề gia – trị quốc – bình thiên hạ. Muốn tề gia thì phải tề chính cái bản thân của mình trước đã.

Với thao thức được cứu độ, ta thấy có kẻ hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?” Phải nói rằng ta phải thán phục người này bởi lẽ người này vẫn có một nỗi lòng canh cánh về ơn cứu độ.

Nhìn lại xã hội, tôn giáo thời Chúa Giêsu, ta vẫn thấy man mác một cảm thức tôn giáo, một tâm thức được cứu độ. Chính vì lẽ đó nên người ta mới hỏi Chúa Giêsu.

Ngày hôm nay, thật tình mà nói, cảm thức về tôn giáo, cảm thức về ơn cứu độ dường như nó nhạt nhòa ngay trong chính những người có đạo và thậm chí lãnh đạo tôn giáo nữa. Nói ra xem có vẻ đụng chạm nhưng trong thực tế thì không thể nào phủ nhận được một sự thật phũ phàng như thế này.

Giữa một thế giới vật chất là hàng đầu, hưởng thụ là hàng thứ nhất thì xem ra ơn cứu độ bị nhạt nhòa, xem nhẹ và thậm chí chẳng cần quan tâm.

Có một thực tế nói ra có thể đụng chạm nhưng cũng phải nói rằng đó là khi nhìn vào những gia đình giàu có, gia đình có địa vị một chút thì các đấng các bậc thường xuyên lui tới hơn. Và, kèm theo đó là những bữa tiệc xem ra hoành tráng và chúc tụng nhau. Còn những người nghèo thì dường như gia đình của họ chẳng bao giờ thấy bóng dáng của một vị mục tử, của các đấng các bậc trong Giáo Hội.

Nhiều gia đình khá giả không ngần ngại khoe những tấm hình lẽ ra không cần khoe về những tấm hình chung với những bậc vị vọng, có khi những tấm hình đó được ghi lại nơi những bàn tiệc sang trọng.

Dù muốn dù không, dù lấp liếm, dù che đậy nhưng các đấng khó có thể trả lời được sự hiện diện của mình nơi những gia đìng giàu có.

Tôi đã từng chứng kiến một người phụ nữ tạm gọi là quyền lực, bà có số tất cả các đấng các bậc và có thể gọi bất cứ lúc nào ngay trong khi các linh mục muốn gặp hay phone cho các vị chủ chăn còn e ngại ! Vì sao mà lại lộng như vậy ? Không cần nói nhiều thì ai ai cũng biết nguyên nhân là vì sao ?

Và, chính các vị chủ chăn làm luật đã đạp lên luật khi giỗ của mẹ một vị nhà giàu có đến 8 giám mục và ngoài 100 linh mục ! Trong khi đó,  đau đớn lòng mà nói những người nghèo thì đừng có mơ thấy hình dáng của các đấng.

Có người tự hào rằng quen gần hết các đấng trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Có người tự hào khoe rằng thích mời cha nào là cha đó phải đến nhà !!!??? Sự hiện diện như vậy dựa vào lý do nào ắt hẳn mọi người đã hiểu vì thật dễ hiểu. Nhà nghèo như nhà của tôi thì dù có nằm mơ 3 giấc cũng không thấy bóng dáng sự hiện diện của các đấng.

Chính vì thế, nhiều người đã lầm tưởng rằng nhà nào có các đấng hay đến, lễ nào các đấng đồng tế đông là người thân của mình sẽ được phần phước như người đời thường nghĩ. Nhưng không, trước mặt Chúa là phải vào cái cửa hẹp mới được vào chứ không phải chuyện là chết xong nhiều cha đồng tế là lên thiên đàng.

Nhiều người đã bé cái lầm khi nhìn và suy nghĩ rằng cửa thiên đàng sẽ rộng mở cho những người có quyền và có tiền. Người đời thì nghĩ vậy nhưng điều kiện vào Nước Trời của Chúa lại chính là sự hãm mình, là sự khổ chế bước theo Đức Kitô trên con đường thập giá.

Ngày hôm nay, người ta tục hóa đời tu, tục hóa tôn giáo để rồi cảm thức vào Thiên Đàng, cảm thức ơn cứu độ không còn nữa. Chính vì xem thường giá trị cứu độ nên rồi người ta ầu ơ ví dầu với việc đạo nghĩa, với việc tham dự Thánh Lễ, các bí tích.

Còn nhớ thời bao cấp, thời khó khăn thì nhiều nơi như Kỳ Đồng, Bình Triệu, Đền Thánh Martino Ba Chuông … tấp nập người đến đó để học giáo lý, để tìm hiểu, bồi đắp thêm kiến thức và bồi bổ đức tin. Nhưng rồi, dường như thời buổi kinh tế khá ổn người ta không bận tâm đến Giáo Lý, đến đức tin nữa. Có chăng đến những nơi đó để xin xỏ mà thôi.

Ngày hôm nay, người ta không còn cảm thức đức tin để không còn phấn đấu để bước vào cửa hẹp nữa. Chính vì đi theo chủ nghĩa tương đối cũng như lý luận rằng sao cũng được để rồi người ta không còn thao thức, không còn bận tâm cửa hẹp nữa.

Đó là quan niệm chung chung, đó là quan niệm tự do của mỗi người nhưng chúng ta nên chăng nhìn lại cuộc đời của chúng ta. Chúa Giêsu hơn một lần nói với chúng ta : “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì ?”. Câu nói đó dường như vẫn còn đâu đó văng vẳng bên tai của ta để nhắc nhớ ta rằng khi ta nằm xuống cuộc đời ta chẳng còn gì cả, còn chăng là ơn cứu độ, còn chăng là Nước Trời mà ta phải phấn đấu để bước vào.

Trang Tin Mừng ngày hôm nay nhắc nhớ phận người chúng ta và đặc biệt nhắc nhớ thái độ sống, tâm tình sống của chúng ta trước ngưỡng cửa Thiên Đàng. Thiên Chúa vẫn mở ngỏ, Thiên Chúa vẫn để cho ta tự do bước vào hay không và ta nên nhớ cửa vào vẫn là cửa hẹp.

Nhớ lại hình ảnh của các cửa trong Kinh Thành Cố Đô Huế, ta thấy các cửa đều hẹp để rồi ai muốn qua đó mà trước giờ đóng cửa hay sát giờ đóng cửa thì mọi người phải chạy và tranh thủ ép mình để được vào bởi cánh cửa rất hẹp. Muốn qua đó, con người phải bỏ lại những thứ cồng kềnh bên mình.

Cũng vậy, muốn vào Thiên Đàng, ta phải thao thức, phải có tâm thức hướng lòng về Thiên Đàng để rồi từ đó ta vất bỏ cái tôi nặng nề của ta, cái lòng hận thù, tham sân si của ta. Khi và chỉ khi tâm hồn ta thanh thoát, nhẹ nhõm thì ta mới có thể bước vào và qua cửa hẹp như Chúa mời gọi mà thôi.

Và rồi nhìn lại mình, ta vẫn thấy ta là con người mỏng dòn và yếu đuối, ta lại xin Chúa thêm ơn cho ta nhất là ơn can đảm để ta từ bỏ những gì vướng víu ạnh ta như cái tôi, cái tính nóng nảy, cái tính ương ương dở dở của ta để ta thanh thoát bước vào cửa hẹp và vào Thiên Đàng như Chúa mời gọi.

Tác giả:  Huệ Minh

CHUYỆN NHÂN GIAN

CHUYỆN NHÂN GIAN

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Theo bản tin của Vatican (news.va  được Tìn Mừng cho Người Nghèo (GNsP) dịch lại, thứ năm 11.8.2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dùng bữa trưa với 21 người tỵ nạn Syria tại khu Nhà Khách Santa Marta. Trong bữa ăn trưa, cả người lớn và trẻ em đều có dịp được trò chuyện với Papa Phanxicô về cuộc sống họ mới khởi sự tại Ý. Những người tỵ nạn này hiện đang sống ở Roma và được cộng đoàn Thánh Egidio bảo trợ. Trong dịp Đức Phanxicô viếng thăm hòn đảo Lesbos vào ngày 16.4.2016 ( ảnh chụp ), ngài đã mang họ về Roma cùng với ngài. Nhóm đầu tiên đã đến Roma với ngài trên cùng chiếc bay dành riêng cho Giáo Tông, còn nhóm thứ hai đến Roma sau đó, vào giữa tháng 6 theo đề nghị của ngài.

Một lần nữa qua hình ảnh của một vị Giáo Tông, chứ không phải là một vị “Giáo Hoàng” như lâu nay vẫn quen gọi sai, chúng ta học được bài học yêu thương, đơn sơ, bình dị và chân tình rất cụ thể của một vị Cha chung như cách mọi người gọi ngài là Papa, Pape, Pope… Kể từ ngày nhận sứ vụ ngai tòa Phêrô, Papa Phanxicô đã có những chọn lựa cung cách sống gần gũi với mọi người, đặc biệt người nghèo, để nói lên tinh thần của Phúc Âm là Tin Mừng cho người nghèo.


Như chúng ta biết, vị Giáo Tông này đã không vào biệt điện dành riêng cho ngài nhưng đã sống ở nhà nghỉ Santa Marta. Từ đó ngài có dịp sống chung với những người cư trú tại đây, sinh hoạt với những người giúp việc, rồi mỗi sáng nếu không đi đâu, ngài sẽ dâng Thánh Lễ với họ, giảng dạy Lời Chúa cho họ. Không tách biệt với cộng đồng, Papa Phanxicô di chuyển đến văn phòng làm việc bằng chuyến xe buýt chung với các nhân viên của Vatican.

Với các phương tiện truyền thông hiện đại, vô tình ống kính đã ghi lại hình ảnh cổ tay áo của Papa Phanxicô đã bị sờn vải trong chuyến viếng thăm Mehico. Chắc chắn với cương vị của ngài, chuyện thay một chiếc áo mới chẳng phải là xa vời không với tới, thậm chí đó là chuyện quá nhỏ, nhưng vị Giáo Tông này đã sống một cách giản dị ngay cả trong những điều nhỏ nhặt nhất.

Chiếc cặp cầm tay trong mọi cuộc di chuyển đã là một hình ảnh trong chuỗi những hình ảnh đánh động mọi người. Tự tay ngài cầm lấy vật dụng cá nhân, mặc dầu ở cương vị của mình, có thể nhờ một tùy viên mang giúp.

Địa chỉ năng lui tới thăm viếng và cử hành Thánh Lễ của Papa lại là nhà tù, chứ không phải Đại Giáo Đường với đông đảo quần chúng, với cờ hoa rợp trời, kèn đồng vang dội. Đó là một ngôi nhà của tội nhân, với những căn phòng đơn sơ mộc mạc được canh gác nghiêm ngặt, ở đó ngài gặp gỡ những kẻ phạm pháp, những kẻ hèn mọn bị khinh miệt và tách biệt khỏi xã hội con người. Ngài đến đấy với tâm tình “mỗi khi bước qua ngưỡng cửa nhà tù, tôi ý thức chính mình là tội nhân, nơi đây phải là chỗ dành cho mình, nhưng Chúa thương tôi, tôi đến đây để tạ ơn Chúa và chia sẻ với những người ngồi tù thay tôi”, ngài đã trả lời như vậy khi được hỏi về lý do tại sao lại hay viếng thăm nhà tù.

Và nhiều hành động với cung cách sống như vậy nữa nơi vị Giáo Tông của thời đại này. Không cần nói nhiều chúng ta đều biết, thế gian đã chọn lựa khác ngài, chọn sự vinh quang, hưởng thụ, sang trọng cho có đẳng cấp, họ không chọn phục vụ, không chọn khó nghèo đơn sơ, không chọn gần gũi cộng đồng, đặc biệt là người nghèo khi họ có quyền có chức, cho dẫu chính họ xuất thân từ hạng người nghèo khổ. Cứ nhìn vào cuộc sống của các quan chức ở Việt Nam sẽ thấy rất rõ, chức và quyền cộng với tinh thần thế tục đã gây biết bao đau khổ cho người khác, đặc biệt là người nghèo. Trên các phương tiện truyền thông, vụ bắn chết viên Bí thư Tỉnh Ủy và Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Yên Bái vào ngày 18.8 vừa qua đã góp thêm những hình ảnh phơi bày sự tệ hại của tinh thần thế tục.

Đó là thế gian, đó là những người từ chối hoặc không có dịp tiếp cận Tin Mừng, nhưng chúng ta thì sao ? Hàng ngày chúng ta nghe đọc Lời Chúa, hằng ngày chúng ta lên tòa giảng, lên lớp giáo lý nói Lời Chúa, chúng ta chọn cung cách sống như thế nào ? Hãy nhìn vào những trang thiết bị, những cơ sở vật chất, những phương tiện di chuyển, những cách xử dụng phòng ốc, những chọn lựa trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta chọn điều gì ? Tu Viện hay pháo đài khi chúng ta xây dựng tường rào ? Tu Viện hay khách sạn khi chúng ta chọn lựa kiểu dáng và vật liệu xây dựng ? Nơi ở của những người tự đánh giá là “con cáo có hang, con chim có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu” hay biệt điện dành riêng cho ông hoàng bà chúa ?

Đừng tiếp tay với thế gian vốn đã quá gian xảo và lọc lừa, trước mặt Chúa chúng ta hãy thật lòng tự vấn lương tâm, thực hành sám hối và thay đổi cách sống trước khi những tai họa sẽ giáng xuống trên đầu chúng ta, nếu cứ… “đi lại làm điếm” với thế gian này.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

19.8.2016

Mẹ Teresa va` Hillary Clinton

Mẹ Teresa va` Hillary Clinton

Người có Thiên Chúa thì có sự khôn ngoan, dù người đó chỉ là một đứa bé không biết chữ, cũng khôn ngoan vượt bực, hơn xa các Tổng thống, Khoa trưởng đại học, hoặc người có bằng cấp đầy mình… mà không có Thiên Chúa trong linh hồn.

Kẻ không có Thiên Chúa thì không có khả năng nhận biết đâu là chân lý. Tương tự, tên tướng cướp nói, thì lâu la của nó hoan hô, mặc dù tướng cướp đang ra kế hoạch cướp của giết người.

Người có Thiên Chúa trong linh hồn, mới có khả năng nhận biết đâu là chân lý; bởi khả năng nhận biết đâu là chân lý là do Thiên Chúa ban cho những ai tôn thờ Ngài.

Nhân dịp ĐTC Phanxicô phong thánh Mẹ Têrêsa, ôn lại câu chuyện giữa Mẹ Thánh và Bà Hillary ClintonĐại Hội Đảng Dân Chủ (ĐDC) tổ chức tưng bừng tại Philadelphia vài tuần lễ trước đã đồng loạt quyết định chọn Bà Hillary Clinton làm ứng cử viên (UCV) chính thức của ĐDC ra tranh chức vụ Tổng Thống (TT) Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đánh dấu một sự kiện chưa từng có trong lịch sử nước này, đó là có một phụ nữ ra tranh cử–và rất có thể–sẽ đắc cử vào chức vụ tối cao này. Bà Clinton là cựu Đệ Nhất Phu Nhân, cựu Nghị Sĩ Tiểu Bang New York, cựu ƯCV tranh chức TT cùng với đương kim TT Obama, và cựu Ngoại Trưởng. Bậc nữ lưu như thế dễ có mấy ai!

Chúa Nhật 4 tháng 9 năm 2016 sắp tới lại chính là ngày Đức Thánh Cha (ĐTC) Phanxicô ấn định cử hành đại lễ phong hiển thánh cho Mẹ Têrêsa Calcutta (xem tin trên trang VietCatholic ngày 8/8/2016). Đây là vị thánh của thời đương đại, tưởng chừng như không ai không biết đến, đó là chưa nói tới biết bao nhiêu người đã được nhìn thấy, chạm tay vào, hưởng nhận những giúp đỡ cụ thể từ chính bàn tay Mẹ, hoặc từ Hội Dòng Mẹ đã sáng lập, nơi con cái Mẹ nối bước tiếp nhận và xoa dịu những con người khốn khổ trong nhân loại hôm nay. Bậc nữ lưu như Mẹ tưởng cũng chẳng có ai!

Trước khi ôn lại câu chuyện giữa hai bậc nữ lưu nổi bật này, tưởng cũng nên biết rằng Hillary Clinton là người cầm chịch phong trào “phò chọn lựa” (pro-choice) nghĩa là chủ trương người phụ nữ có toàn quyền quyết định giữ lại hay phá bỏ thai nhi còn trong bụng mình. Lý do đơn giản là vì cái bào thai ấy—vốn chỉ là một cái bọc nhầy nhụa—không hề có một chút nhân quyền gì ráo trọi. Thành ra, sau khi “dính bầu,” người phụ nữ được hoàn toàn tự do quyết định về số phận cái bào thai ấy: nếu cho nó sống thì giữ nó lại, còn muốn cho nó chết thì đẩy nó ra. Nếu không đẩy được bằng cách này, thì cứ tự nhiên tìm cách khác–đừng đặt vấn đề về phương pháp hay kiêng dè vì độ non già của bào thai–miễn sao là tống khứ cái của nợ đó—có khác chi một thứ ung nhọt tai quái—ra khỏi cái cơ thể mà người phụ nữ hoàn toàn làm chủ là được. Đứa nào ngăn cản hay cấm đoán thì đã có pháp luật trừng trị. Phá thai hợp pháp cơ mà! Điều này đã được (các “Đấng) Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ công bố vào ngày 22 tháng 1 năm 1973 qua phán quyết ‘Roe vs. Wade.’

Trong khi đó, Mẹ Têrêsa–với tấm lòng khoan dung nhân hậu, giầu tình xót thương—đã nỗ lực tối đa để cứu các bào thai đó, trước khi các thai phụ thực hiện quyền tự quyết của mình. Đó là bối cảnh xẩy ra câu chuyện giữa hai người phụ nữ lừng danh.

Ngày 22 tháng 1 năm 1994, trong dịp gọi là “National Prayer Breakfast,” Mẹ Têrêsa được mời làm diễn giả chính. Ngay trước mặt TT Bill Clinton và Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton cùng quan khách, Mẹ Têrêsa dõng dạc vạch trần sự thối nát về mặt văn hóa nẩy sinh từ những tội ác chống lại các thai nhi. Mẹ Têrêsa nói như sau: “Tôi tin rằng thủ phạm tồi tệ nhất đang phá hoại nền hòa bình của ngày hôm nay chính là nạn phá thai, bởi vì đó chính là cuộc chiến tranh chống lại trẻ em, việc trực tiếp giết hại trẻ thơ vô tội, mà kẻ giết người lại chính là người mẹ của chúng. Nếu chúng ta đành tâm chấp nhận để cho người mẹ có thể ra tay sát hại con mình, thì làm thế nào chúng ta có thể nói cho người khác là đừng giết hại lẫn nhau? Làm cách nào chúng ta có thể thuyết phục một người phụ nữ đừng có phá thai? Lúc nào cũng thế, ta phải dùng tình yêu để thuyết phục họ, bởi vì tình yêu có nghĩa là sẵn sàng cho đi đến khi nào thấy nhói đau mới thôi. Quốc gia nào chấp nhận cho phá thai thì quốc gia ấy không hề dậy cho dân mình biết yêu thương, mà trái lại dậy cho họ cứ sử dụng bạo lực để đạt tới điều mình mong muốn. Đó là lý do tại sao thủ phạm tồi tệ nhất đang phá hoại tình yêu và nền hòa bình chính là nạn phá thai.”

Mẹ còn nói thêm: “Phá thai là chối bỏ giáo huấn của chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã dậy rằng ‘ai đón tiếp một em nhỏ, tức là đón tiếp chính Ta vậy.’ Rồi Mẹ kết luận: “Phá thai đúng là từ chối không tiếp nhận trẻ nhỏ, và do đó, cũng từ chối đón nhận chính Chúa Giêsu.”

Mẹ dừng lại giây lát để đón nhận những tràng pháo tay từ phía cử toạ đang nhất loạt đứng lên biểu tỏ lòng ngưỡng phục.

Chỉ có điều là cả Ông lẫn Bà Clinton đều không hề đứng lên và cũng chẳng hề vỗ tay.

Mẹ Têrêsa vẫn dõng dạc: “Tôi xin nói cho quý vị một điều đẹp đẽ. Chúng tôi chiến đấu chống nạn phá thai bằng việc tiếp nhận–tức là chăm sóc cho người mẹ và đón nhận thơ nhi…Xin đừng giết hại thơ nhi. Tôi muốn nhận thơ nhi. Hãy trao nó cho tôi. Tôi sẵn sàng đón nhận bất kỳ thơ nhi nào đang chờ bị phá bỏ để trao em cho một đôi vợ chồng đang sẵn lòng thương yêu trẻ thơ và được trẻ thơ yêu thương lại. Chỉ từ mái ấm tại Calcutta, chúng tôi đã cứu được hơn ba ngàn trẻ em khỏi bị phá bỏ. Các thơ nhi này đã đem lại tình yêu thương và niềm hân hoan vui sướng đến cho các cha mẹ nuôi của chúng. Chúng đã lớn lên đầy ắp yêu thương và hân hoan rạng rỡ.”

Tuy trong bụng không vui, nhưng Bà Clinton vẫn phải thốt lên: “Lời nói của Mẹ Têrêsa thật thẳng thắn, cho thấy rõ ràng Mẹ không cùng quan điểm với tôi.”

Nhưng cho dù nói năng thẳng thừng như thế, Mẹ vẫn cống hiến một điều gì đó mà Bà Clinton không thể chối từ, đó là đồng ý với Mẹ Têrêsa rằng việc tiếp nhận trẻ em chính là một chọn lựa khác, một chọn lựa tối hảo. Sau đó Mẹ Têrêsa đến gặp Bà Clinton để ngỏ ý xin thiết lập tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn một trung tâm tiếp nhận các trẻ thơ không ai muốn, các trẻ em côi cút và bị bỏ rơi. Mẹ đã nhờ Đệ Nhất Phu Nhân tiếp tay với Mẹ để làm việc này và mời Bà Clinton sang Ấn Độ để chứng kiến các công cuộc Mẹ làm tại xứ sở nghèo khổ này.

Cuộc vận động của Mẹ Têrêsa không hề vô ích. Sau khi về lại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Bà Clinton đã khởi sự giúp Mẹ xây dựng “Trung Tâm Têrêsa Nuôi Dậy Trẻ Thơ” vào năm 1995 tại vùng ngoại ô Hoa Thịnh Đốn. Bà Clinton đã mời Mẹ Têrêsa đến khánh thành cơ sở này hai năm trước khi Mẹ qua đời. Thế là trước khi về trời, Mẹ Têrêsa đã tỏ cho người phụ nữ đầy quyền lực này nhìn thấy một nét gì đó thật đáng chú ý nơi con người nhỏ thó của một nữ tu khiêm hạ tầm thường, và cũng đã gây cảm hứng cho Bà Clinton thực hiện một công trình tốt đẹp, cho dù vẫn cương quyết chủ trương “phá thai an toàn và hợp pháp,” điều mà nhóm “Cha Mẹ Có Kế Hoạch” (Planned Parenthood) vẫn đang thực hiện hàng ngày.

Rất tiếc, “Trung Tâm Têrêsa Nuôi Dậy Trẻ Thơ”—vốn được tưng bừng khai trương thế nào không rõ—đã “âm thầm đóng cửa” vào năm 2002.

Tháng Chín tới, Mẹ Têrêsa sẽ được tôn phong lên bậc hiển thánh. Tháng 11 sắp đến, liệu Bà Clinton có làm nên lịch sử khi đắc cử chức vụ Nữ Tổng Thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hay không? Điều này đang được nói đến hàng ngày, nhất là trên các phương tiện truyền thông xã hội. Chưa bao giờ có cuộc tranh cử nào kỳ quái đến thế, khi hai đối thủ chửi nhau ra rả, bới móc nhau một ngàn lẻ một chuyện, từ đời tư ra đến đời công, không trừ một ngõ ngách nào! Trong khi chờ đợi lịch sử sang trang, thôi thì ta cứ ôn lại bài học lịch sử giữa hai người phụ nữ lừng danh mà ta đang nói tới: Mẹ Têrêsa Calcutta và Bà Hillary Clinton, qua giai thoại nhỏ để kết thúc câu chuyện hôm nay:

“Trong một bữa ăn trưa được khoản đãi long trọng tại Toà Bạch Ốc, Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton hỏi nhỏ một thực khách cùng bàn: ‘Bà nghĩ sao khi mãi đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có được một người phụ nữ lên làm tổng thống?’ Người phụ nữ nhỏ thó đồng bàn với Bà Clinton không chần chừ trả lời: ‘Có lẽ bởi vì người phụ nữ ấy đã bị bóp chết ngay từ lúc còn là bào thai.”

Đúng là câu trả lời của một vị thánh. Phải, người phụ nữ đồng bàn nhỏ thó ấy chính là Mẹ Têrêsa Calcutta.

Vọng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

08/14/2016

Nguyễn Kim Ngân

Anh chị Thụ Mai & gởi

Giáo Lý về Lòng Thương Xót Chúa trong Năm Thánh Thương Xót 2016

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ – BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG HẰNG TUẦN

THỨ TƯ NGÀY 10-8-2016

DUC TC 10-8

 

 

 

 

 

 

 

     

Giáo Lý về Lòng Thương Xót Chúa trong Năm Thánh Thương Xót 2016

Bài 21

DUC TC 2

 

 

 

 

 

 

Lòng thương xót là con đường bắt đầu từ con tim đến bàn tay,

tức là đến các công việc của lòng thương xót”.

Xin chào Anh Chị Em thân mến!

DUC T C 3

Đoạn Phúc Âm của Thánh ký Luca chúng ta vừa nghe (7:11-17) cho chúng ta thất một phép lạ thực sự là lớn lao của Chúa Giêsu, đó là phép lạ hồi sinh một nam nhân trẻ trung. Tuy nhiên, tâm điểm của trình thuật này không phải là phép lạ mà là lòng êm ái dịu dàng của Chúa Giêsu giành cho mẹ của nam nhân trẻ ấy. Ở đây lòng thương xót mang danh nghĩa là một tấm lòng cảm thương cao cả đối với một người phụ nữ đã mất chồng và bấy giờ lại đang mang đứa con trai duy nhất của mình ra nghĩa địa. Chính nỗi sầu thương lớn lao này của bà mẹ đã tác động Chúa Giêsu và thúc đẩy Người làm phép lạ hồi sinh ấy.

Khi dẫn nhập vào trình thuật này, vị Thánh ký đã kể đến nhiều điều đặc biệt. Gặp nhau ở cửa ngõ của một tỉnh lỵ nhỏ bé, một thôn làng là hai đám đông qua lại ngược chiều nhau chẳng có gì là chung đụng nhau. Chúa Giêsu, theo sau là các môn đệ và một đám rất đông dân chúng, đang sắp vào thôn tỉnh ấy, trong khi đó thì một đoàn rước buồn thảm đang tiến ra khỏi cổng, một đoàn rước đang đưa đám kẻ chết, bao gồm người đàn bà góa ấy cùng với nhiều người khác. Gần cổng có hai nhóm người vừa băng ngang qua nhau, một nhóm theo chiều hướng của mình, nhưng vào chính lúc bấy giờ Thánh Luca ghi nhận cái cảm xúc của Chúa Giêsu: Nhìn thấy thế (thấy người phụ nữ góa) Chúa cảm thấy hết sức xót xa cho bà “mà nói cùng ba rằng: ‘Đừng khóc nữa’. Và Người đến gần chạm tới quan tài, khiến những ai khiêng quan tài đứng nguyên tại chỗ” (câu 13-14). Lòng cảm thương sâu xa đã hướng dẫn tác hành của Chúa Giêsu: Người đã chặn đám tang lại và chạm đến quan tài, để rồi được tác động bởi một lòng xót thương sâu xa đối với người mẹ, Người đã quyết định ra tay trực tiếp đối mặt với tử thần. Và Người đã trực diện đương đầu với nó một cách vĩnh viễn ở trên Thánh Giá.

Trong Năm Thánh Thương Xót này, thật là tốt đẹp, khi bước qua Cửa Thánh, Cửa Thương Xót, những ai hành hương hãy nhớ đến trình thuật Phúc Âm này, một câu chuyện xẩy ra ở cổng thành Naim. Khi Chúa Giêsu thấy người mẹ này khóc lóc thì bà đã động chạm đến lòng của Người! Mỗi người đi đến Cửa Thánh đều mang theo đời sống của mình, kèm theo những niềm vui của nó cùng với các nỗi đau của nó, những dự tính cùng với những thất bại, những nghi ngờ cùng với những sợ hãi, để dâng chúng lên cho lòng thương xót Chúa. Chúng ta tin rằng, ở tại Cửa Thánh, Chúa đến gần để gặp gỡ từng người chúng ta, để mang đến cho chúng ta và cống hiến cho chúng ta lời an ủi mãnh liệt của Người: “Đừng khóc nữa!” (câu 13). Đó là Cửa hội ngộ giữa nỗi đau đớn của nhân loại và lòng cảm thương của Thiên Chúa. Chúng ta hãy luôn nghĩ đến điều này: một cuộc hội ngộ giữa nỗi đau đớn của nhân loại và lòng cảm thương của Thiên Chúa. Bằng việc bước qua ngưỡng cửa này chúng ta hoàn trọn cuộc hành hương của chúng ta trong lòng thương xót Chúa là Đấng lập lại cùng tất cả chúng ta, như Người đã phán cùng nam nhân trẻ trung: “Ta truyền cho anh hãy chỗi dạy!” (câu 14). Hãy chỗi dậy! Thiên Chúa muốn chúng ta đứng. Ngài đã tạo dựng nên chúng ta để đứng: bởi thế, lòng cảm thương của Chúa Giêsu mới tiến đến cử chỉ chữa lành, để chữa lành chúng ta, nên chữ chốt yếu ở đây là: “Hãy chỗi dậy! Hãy đứng lên, như Thiên Chúa đã tạo dựng nên anh chị em!” – Đứng. “Thế nhưng thưa cha chúng con thường hay sa ngã lắm” – “Cứ chỗi dậy!” Đó là những gì Chúa Giêsu luôn nói. Khi bước qua Cửa Thánh, chúng ta hãy tìm cách nghe lại lời này trong lòng của chúng ta: “Hãy chỗi dậy!” Lời nói quyền lực này có thể làm cho chúng ta chỗi dậy và thực hiện nơi chúng ta cuộc vượt qua sự chết mà vào sự sống. Lời của Người làm cho chúng ta hồi sinh, cống hiến cho chúng ta niềm hy vọng, phấn khởi những tấm lòng mệt mỏi, mở rộng nhân sinh quan vượt lên trên đau khổ và chết chóc. Đối với mỗi người chúng ta thì kho tàng khôn dò của lòng thương xót Chúa được ghi khắc ở trên Cửa Thánh!

Nghe thấy lời Chúa Giêsu, “người chết đã ngồi lên và bắt đầu nói. Và Người đã trao anh ta cho mẹ của anh ta” (câu 15). Câu này thật là tuyệt vời: nó cho thấy nỗi êm ái dịu dàng của Chúa Giêsu: “Người đã trao anh ta cho mẹ của anh ta”. Người mẹ này được lại con của mình một lần nữa. Lãnh nhận con từ bàn tay của Chúa Giêsu, bà trở thành mẹ một lần nữa, nhưng người con trai bấy giờ được hồi sinh đã không nhận lãnh sự sống từ bà. Như thế bà mẹ và đứa con nhận được cái căn tính tương xứng của mình nhờ lời nói quyền năng của Chúa Giêsu cùng với cử chỉ yêu thương của Người. Bởi vậy, nhất là trong Năm Thánh, Mẹ Giáo Hội nhận lãnh con cái của mình, nhìn nhận nơi chúng sự sống được ban cho chúng xuất phát từ ân sủng của Thiên Chúa. Do bởi ân sủng này, ân sủng Phép Rửa, mà Giáo Hội trở thành Mẹ và từng người chúng ta trở thành con cái của Giáo Hội.

Trước nam nhân trẻ trung được hồi sinh và được trao trả về cho mẹ của anh ta như thế, “tất cả mọi người đều kinh sợ; và họ đã tôn vinh Thiên Chúa mà rằng: ‘Một vị đại tiên tri đã sống lại giữa chúng ta’ và ‘Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài!'” Bởi thế, những gì Chúa Giêsu đã làm không phải chỉ là một hành động cứu độ nhắm đến người mẹ góa và người con trai của bà mà thôi, hay là một cử chỉ nhân lành chỉ hạn hẹp cho thôn tỉnh này thôi. Trong việc phục hồi thương xót của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đến để gặp gỡ dân của Ngài; nơi Người tất cả ân sủng của Thiên Chúa tỏ hiện và sẽ tiếp tục tỏ hiện cho nhân loại. Khi cử hành Năm Thánh này, một năm thánh tôi muốn được sống động nơi tất cả mọi Giáo Hội riêng, tức là nơi tất cả mọi Giáo Hội trên thế giới, chứ không phải chỉ ở Roma, toàn thể Giáo Hội khắp nơi trên thế giới liên kết với nhau trong cùng một bài hát duy nhất chúc tụng Chúa. Cả hôm nay đây, Giáo Hội nhìn nhận bản thân mình được Thiên Chúa viếng thăm. Bởi thế, khi đến Cửa Thương Xót, mỗi người nên biết rằng họ tiến đến với tấm lòng nhân hậu của Chúa Giêsu: thật vậy, Người là Cửa đích thực dẫn chúng ta tới ơn cứu độ và phục hồi sự sống mới cho chúng ta. Lòng thương xót, nơi Chúa Giêsu ở nơi chúng ta, là con đường khởi đi từ con tim tới đôi tay. Nghĩa là gì? Chúa Giêsu nhìn anh chị em, Người chữa lành anh chị em bằng lòng thương xót của Người, Người nói cùng anh chị em rằng; “Hãy chỗi dậy!” – và tâm can của anh chị em được đổi mới. Đâu là ý nghĩa của việc theo con đường từ con tim đến đôi tay? Nghĩa là với một con tim mới mẻ, một con tim được Chúa Giêsu chữa lành, tôi có thể thi hành các công việc của lòng thương xót nhờ đôi bàn tay của tôi, cố gắng giúp đỡ, chăm sóc cho tất cả những ai đang cần đến tôi. Lòng thương xót là con đường bắt đầu từ con tim đến bàn tay, tức là đến các công việc của lòng thương xót.

(Trước khi chào các phái đoàn hành hương trong ngày đang tham dự buổi triều kiến chung hằng tuần này, ĐTC đã dẫn giải thêm về mối liên hệ giữa con tim và đôi tay vừa được ngài đề cập tới ở phần kết bài giáo lý hôm nay, như sau:)

Tôi nói rằng lòng thương xót là con đường đi từ con tim đến đôi tay. Chúng ta lãnh nhận được trong con tim của chúng ta lòng thương xót của Chúa Giêsu, Đấng tha thứ cho chúng ta hết mọi sự, vì Thiên Chúa tha thứ hết mọi sự và hồi sinh chúng ta; Ngài ban cho chúng ta một sự sống mới và làm cho chúng ta nhiễm lây lòng cảm thương của Ngài. Từ con tim được tha thứ ấy và với lòng cảm thương của Chúa Giêsu, con đường này bắt đầu đến đôi tay, tức là đến các hoạt động thương xót. Một ngày kia có một vị Giám Mục nói với tôi rằng ngài đã thực hiện việc vào qua và đi ra các cửa thương xót ở Vương Cung Thánh Đường của ngài cũng như ở các nhà thờ khác. Tôi đã hỏi ngài: “Tại sao huynh làm như thế?” – “Vì một cửa để đi vào, để xin ơn tha thứ và lãnh nhận lòng thương xót của Chúa Giêsu; cửa kia là cửa lòng thương xót đi ra, để mang lòng thương xót cho người khác, bằng các công việc thương xót”. À thì ra vị Giám Mục này tinh khôn! Chúng ta cũng cần phải làm như thế bằng con đường đi từ con tim đến đôi tay, ở chỗ chúng ta tiến vào nhà thờ qua cửa thương xót, để lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa Giêsu, Đấng nói với chúng ta rằng: “Hãy chỗi dậy! Hãy đi, đi!” – và với cái “đi” này – cái đứng – chúng ta đi ra qua ngõ thoát. Đó là Giáo Hội ra đi, là con đường thương xót đi từ con tim đến đôi tay. Hãy thực hiện đường lối này!

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-text-on-crossing -the-holy-door-like-the-widow- of-nain/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và những chỗ tự ý nhấn mạnh

From: daminhmariacaotantinh

MẸ LÊN TRỜI

MẸ LÊN TRỜI

 GM GB Bùi Tuần

ME LEN TROI
Ngày 1.11.1950 Đức Thánh cha Piô XII đã long trọng công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời như sau: “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đức Maria Vô nhiêm trọn đời đồng trinh, sau khi đã đi trọn cuộc đời trần thế, được triệu vời cả hồn lẫn xác trong vinh quang thiên quốc.”   Đặc ân hồn xác lên trời vừa như hoa trái vinh quang của trọn vẹn cuộc đời hoàn toàn thuộc về Chúa, vừa là kết thúc và bao gồm mọi đặc ân Thiên Chúa đã ban cho Mẹ Maria.  Khi tuyên dương công trạng đầy tràn của Mẹ Maria bằng việc triệu vời Mẹ về trời, Thiên Chúa đã biểu dương chính hồng ân Chúa ban cho Mẹ.  Và như vậy Thiên Chúa muốn đề cao Mẹ Maria như thành quả tuyệt vời có một không hai của ân sủng, để mọi người ở mọi thời ngợi khen Mẹ diễm phúc, và nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, chí thánh chí tôn đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả.

  1.  “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?”

Bà Êlisabét được đầy tràn Thánh Thần đã lớn tiếng tuyên xưng thiên chức Thánh Mẫu của Mẹ Maria.  Thiên chức Thánh Mẫu cao cả giờ đây đang bày tỏ ra nơi chính con người thiếu nữ Maria bằng xương bằng thịt, bình thường, giản dị và khiêm nhường thẳm sâu.  Chỉ bằng việc có mặt khi đến thăm, và chỉ bằng một lời chào đơn sơ của Đức Maria, bà Êlisabét lại nhận ra thiên chức Thánh Mẫu của Mẹ.  Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa bằng cả hồn cả xác của mình.

1.1.Mẹ Thiên Chúa bằng tâm hồn

Trong khi Chúa Giêsu đang giảng thì có một người phụ nữ đã lên tiếng nói với Chúa:“Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm (Lc 11, 27).  Thuộc giới phụ nữ và trong tư cách làm mẹ, người phụ nữ ở đây cảm phục và yêu mến Chúa Giêsu bao nhiêu, thì lại muốn đề cao và hết lòng ca ngợi hồng phúc của người mẹ đã sinh ra Chúa bấy nhiêu.  Đó là cái nhìn thường tình.  Nhưng Chúa Giêsu cho thấy cần phải vượt lên trên quan niệm tự nhiên mới có thể đánh giá được hồng phúc làm Mẹ của Đức Maria, và hồng phúc đó trước hết và cốt yếu là ở trong tâm hồn: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”

Một lần kia Mẹ Maria và anh em họ hàng đến thăm Chúa Giêsu và khi nghe biết thế, Chúa Giêsu đã đề cao Mẹ Maria trong chiều sâu thẳm của thiên chức Thánh Mẫu: “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 2).  Như vậy căn bản thiên chức Thánh Mẫu của Đức Maria, không chỉ do ngài được làm Mẹ Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người – tại tâm hồn của Mẹ đã hoàn toàn mở ra cho lời Chúa, và lời Chúa thành sự sống và lẽ sống của Mẹ.  Mẹ Maria đã cưu mang lời Chúa trong tâm hồn trước khi cưu mang Lời trong thân xác.  Thánh Augustinô còn nhận định tư cách môn đệ nơi Đức Maria (Mẹ trong tâm hồn) trổi vượt hơn tư cách làm mẹ nơi Đức Maria (Mẹ trong thân xác).

1.2. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa

Khi Lời Thiên Chúa đã đi vào và thấm nhuần trọn vẹn tâm hồn Đức Maria tới mức sung mãn, thì Lời Thiên Chúa đi vào trong thân xác vô nhiễm của Đức Maria.  Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa theo một nghĩa trọn vẹn (cả hồn xác).  “Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người.”   Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa bằng con người toàn diện, cả hồn lẫn xác.  Có nghĩa là hồn xác Mẹ vốn đã thuộc về Chúa, dành riêng cho một mình Chúa.  Và như vậy thân xác Mẹ không phải hư nát là dấu thuộc về trần gian cát bụi.  Mẹ xứng đáng lên trời cả hồn xác.  Đó là điều đã được tiền định do ý định khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa khi tuyển chọn Mẹ làm Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể.

  1. “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới”

Trong ngày Truyền tin, Đức Maria đã thưa lời xin vâng với Thiên Chúa, một lời xin vâng toàn vẹn và tuyệt hảo, bao gồm cả quá khứ, hiện tại, và tương lai.  Mẹ đã không ngừng “Xin vâng” với mọi lời Thiên Chúa đến với Mẹ từ trước đến nay.  Và giờ đây tiếng xin vâng thốt ra ngoài miệng là âm vang và kết quả của tâm hồn Mẹ đã hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa.  “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa” là một lời xác định rằng: từ trước đến nay và mãi mãi sau này, tôi là nữ tỳ của Chúa, hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.  Hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa cả hồn xác trong mọi lúc, là một cách giải thích đặc ân Vô nhiễm nguyên tội và trọn đời đồng trinh của Mẹ Maria.
2.1. Mẹ Maria Vô Nhiễm nguyên tội

Vô nhiễm nguyên tội là không mắc tội nguyên tổ.  Có nghĩa là ngay từ giây phút đầu tiên thụ thai trong lòng thân mẫu, con người (hồn xác) của Mẹ hoàn toàn đóng kín, không một kẻ hở nào cho tội lỗi và cho tất cả những gì thuộc trần gian đã bị tội lỗi làm hư thối.  Mẹ cũng hoàn toàn đóng kín với chính bản thân của mình, cái “tôi” của mình.  Đóng kín với tất cả, để Mẹ có thể trọn vẹn mở ra cho Thiên Chúa, và chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi.  Đó là đặc ân Vô Nhiễm của Mẹ Maria.  Với đặc ân này, Mẹ Maria dù vẫn sống cuộc đời trần thế của một con người, Mẹ có thể qui hướng tất cả, và trọn vẹn từng chi tiết của bản thân và từng giây phút của đời sống về cho Chúa.  Nói cách khác, đặc ân Vô Nhiễm ban cho Mẹ Maria có khả năng không ngừng thuộc về Chúa cả hồn lẫn xác.  Mẹ xứng đáng lên trời cả hồn xác để mãi mãi thuộc về Chúa.

2.2. Mẹ Maria trọn đời đồng trinh

Hội Thánh tuyên xưng Mẹ Maria trọn đời đồng trinh trước khi, đang khi, và sau khi sinh Chúa Giêsu.  Và Phụng Vụ đã giải thích như sau: “Khi Người giáng sinh, đức đồng trinh của Thánh Mẫu đã không vì thế mà bị tổn thương, nhưng đã được thánh hiến” (Lời nguyện tiến lễ, lễ chung Đức Mẹ).  Đức đồng trinh của Mẹ rất thánh không thể được nhìn theo thường tình mà phải được nhìn theo đức tin, nghĩa là như ý định nhiệm mầu và khôn ngoan của Thiên Chúa.  Thiên Chúa ban cho Mẹ ơn đồng trinh trọn đời có mục đích là để con người toàn vẹn của Mẹ, cả hồn cả xác, hoàn toàn thuộc về Chúa, không sứt mẻ, không biến chất, trái tại luôn luôn nguyên tuyền và mãi mãi toàn vẹn.  Do đó khi Con Một Thiên Chúa được thụ thai và được sinh ra bởi Mẹ, thì không những không làm tổn thương hồn xác nguyên tuyền của Mẹ, mà trái tại còn làm cho hồn xác thuộc về Chúa hơn nữa.  Thuộc về Chúa trọn vẹn hồn xác nguyên tuyền, và suốt cả cuộc đời từng giây từng phút như vậy, nên việc Mẹ được Chúa đưa lên trời cả hồn cả xác là kết quả đương nhiên và hợp tình hợp lý.

Kết luận

Con đường Thánh Mẫu Maria Vô Nhiễm trọn đời đồng trinh đã đi để được lên trời cả hồn cả xác, là con đường Tin Mừng đã ghi tại: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” và “Riêng Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 9-5).  Mẹ hằng đón nhận Lời Chúa, ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng, cho tới khi Lời Chúa thành máu thịt, thành hơi thở, thành sự sống cho mình.  Và lúc đó hồn xác Mẹ được thánh hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa, thuộc về Chúa từ trong ra ngoài, từ đầu đến chân.
Con đường đưa lên trời cả hồn cả xác của Mẹ Maria được mở ra cho mọi người như Tin Mừng đã ghi tại.  Tất cả mọi tín hữu đều được mời gọi đi con đường Mẹ Maria đã đi, để đến nơi Mẹ đã đến.

GM GB Bùi Tuần

Trời reo nắng thì chim reo tiếng sang

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 20 thường niên năm C 14/8/2016

                        Tin Mừng (Lc12: 49-53)

Hôm ấy Đức Giêsu nói với các môn đồ rằng: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!

 Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?

Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.53 Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.”

* * * * * *

 “Trời reo nắng thì chim reo tiếng sang”

Xuân có hồng thì tôi có tình tôi.

Tiếc nhau chi, mai mốt đã xa rồi.

Xa là chết, hãy tặng tình lúc sống.

Chớ chia rẽ, dễ gì ta gặp mộng,

Những giòng đời muôn kiếp đã chia trôi.”

(Dẫn từ thơ Xuân Diệu)

Nói giống nhà thơ: xa là chết. Chết về tinh-thần. Chết, cả về thể xác. Nhưng, dẫu có chết như thế nào đi nữa, tình mình đâu đã hết. Tình chỉ hết, khi người mình cứ thế rẽ chia như nghịch lý/nghịch thường Chúa vẫn nói, mãi lâu nay.

Lời Chúa nói hôm nay, thoạt nghe như có vẻ mâu-thuẫn, khó khăn. Khó, nhưng nên nhớ trình-thuật Tin Mừng luôn được thần-hứng như kinh-nghiệm sống của cộng-đoàn các kẻ tin. Cụ-thể hơn, nội-dung Lời Chúa hôm nay nói về việc vẫn có rẽ chia trong cộng đoàn dân Chúa. Chí ít, là cộng-đoàn gia-đình tình-thương, vẫn vui sống. Tin Mừng Lời Chúa cũng nói đến Lửa mà Chúa đem đến cho trái đất. Lửa đây, nên hiểu như yếu-tố rẽ chia chăng?

Lửa ở đây, trước tiên không phải là thứ lửa của dịch hành đốt phá rừng nhiệt-đới, mỗi mùa khô. Lửa đây, là sức nóng bừng bừng; là, ánh sáng và là yếu-tố gột rửa những thanh-thoát. Lửa gột tẩy Chúa gửi đến, vẫn cháy bừng nơi bụi rậm xưa Môsê đã nhìn thấy, và là lửa gột tẩy cháy nóng từng cột và từng cột vốn tháp-tùng chúng dân  chốn sa-mạc lưu-đày. Lửa, mà Chúa nói còn mang hình lưỡi với khí thế bừng bừng ngày Thánh Thần đến, rất tâm-giao.

Và, Lửa lại là tình-yêu nóng cháy Chúa đến với môn-đệ, với Hội-thánh, với tất cả mỗi người chúng ta. Lửa của Ngài, dù không ở dạng đốt phá hoặc mang hình-hài tẩy xoá, vẫn là lửa ngọn lung-linh đưa dẫn con người về với đổi thay, giải-thoát.

Tin Mừng hôm nay, nhắc lại sự rẽ chia ngày Chúa đến. Đây, là khẳng-định dễ kích-động tranh-luận, làm sống lại các xung-đột bên trong tôn-giáo cùng tin vào một Chúa, vào thần-linh. Như, Do-thái-giáo và đạo Hồi ở Trung Đông; như Công giáo, Chính thống-giáo lẫn đạo Hồi ở Nam Tư; hoặc tệ hơn nữa, như Ấn giáo Hồi giáo và Thiên Chúa giáo ở Ấn-Độ.

Thoạt nhìn, tưởng chừng như Tin Mừng nhắc là những gì đi ngược lại điều Chúa nói trong Bài Giảng Trên Núi; hoặc, buổi Tiệc Tạ Từ trước ngày Ngài chịu nạn, và khác hẳn bức thư tâm-tình thánh Phao-lô gửi giáo-đoàn Ê-phê-sô. Xét cho cùng, đây không là sấm Trạng hoặc mặc-khải nào đó tỏ-bày ý-định của Chúa ở trên cao. Mà, chỉ là văn-phong miêu-tả kinh-nghiệm rất thực mà Giáo-hội thời xưa sống. Thánh Luca hôm nay chỉ muốn viết lại Lời Ngài nói ngay từ đầu, áp-dụng cho hôm nay.

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế-giới, nhiều cá-nhân riêng rẽ cũng như các cộng-đoàn theo chân Chúa vẫn bị coi là mối đe-doạ lớn đối với các chính-quyền trần-gian như nhiều nhóm quyền-lực ở trần-gian cũng như tôn-giáo khác đã hành-xử như thế. Cụ-thể như, vào thế-kỷ thứ 20, có những chế-độ độc-tài vẫn muốn chia-rẽ, bách-hại khối Công-giáo, chỉ vì những người anh em này cứ đoàn-kết chung lưng thành một lực-lượng để giúp nhau sống niềm tin của mình.

Với các chính-phủ này, dân con Đạo Chúa vẫn là bè nhóm đáng ngờ vực gây nhiều hãi sợ. Cụ thể hơn, có lần Stalin dám nhạo bang hỏi Đức Giáo Hoàng thời đó: “Phía các ông được bao nhiêu sư-đoàn?” Kể ra thì, họ hãi sợ người Công-giáo thật cũng phải. Bởi, con dân nhà Đạo dù chẳng dùng đến sung đạn chỉ cậy vào niềm tin thôi cũng đã làm sụp đổ cả khối chính-trị ở Đông Âu.

Ngược giòng lịch-sử đạo-giáo, người người đều thấy có quá nhiều tín-hữu Đức Kitô và gia-đình họ chịu khổ-hình chỉ vì quyết tuân theo đường-lối hy-sinh bác ái Chúa dạy. Bằng chứng là, biết bao vị thánh đã hy-sinh tánh-mạng để bảo-vệ đức tin. Từ đó, sống Đạo theo đúng Tin Mừng dạy còn khó hơn nhiều. Và vì thế, con số các vị tử-đạo ngày nay có thể còn nhiều hơn các thế-kỷ trước.

Dù có tử vì đạo hay không, sứ-điệp mà tín-hữu Đức Kitô đưa ra, luôn là chủ-trương bất bạo-động. Tín-hữu Đức Kitô quyết một lòng mang tình yêu, lòng thương xót, niềm an-ủi hài-hoà đến với hết mọi người, bất kể họ là Do-thái hay Hy-Lạp, nô-lệ hay tự-do, nam hoặc nữ, và bản-chất người Kitô-hữu luôn luôn bất bạo-động. Sứ-điệp làm nhân-chứng cho Tình-yêu Chúa vẫn luôn thách-thức đánh thẳng vào những bất-công tham ô, kỳ-thị, lạm-dụng, bất lương. Và, vào cả những ai xúc phạm đến phẩm-giá con người nữa.

Và, vai-trò của người rao-truyền Lời Chúa, vẫn luôn là “làm hoà với những người khốn-khổ gây khó với những người chỉ biết ăn chơi, hưởng-lạc. Khi Hội-thánh Chúa đã quyết-tâm rao-giảng và sống đúng như Tin Mừng Ngài dạy, thì mọi tranh-chấp rẽ chia vẫn là chuyện khó tránh. Hội-thánh chẳng bao giờ muốn có tranh-chấp, rẽ chia. Và, dân con nhà Đạo chẳng bao giờ có ý-định phân-ly rẽ đám một ai.

Nói cho cùng, tôn-giáo không chia rẽ. Chỉ có phe nhóm giả-dạng tôn-giáo hoặc giáo-phái tà-đạo mới tính chuyện phân rẽ. Các tôn-giáo này luôn đề-cập đến trang-thái “nó và ta” hoặc lúc nào cũng nghĩ “phe ta và phe nó”. Đạo đích-thật, không khi nào chia rẽ cũng chẳng tạo khổ đau cho bất cứ ai. Chỉ những người tự cho là giáo-dân ngoan đạo hoặc giáo-phái “chính-thống” có lẽ là người gây chia rẽ. Vì, chính họ luôn vỗ ngực tự-hào là mình chính quy, đạo-đức. Mình giữ đầy-đủ luật-lệ, và chỉ mình mình mới là người làm đúng. Còn lại, mọi người khác đều đi trật đường rầy, đều lạc đạo, cấp-tiến. Và cuối cùng, những kẻ chủ-trương chia rẽ chính là ngư ông hưởng lợi.

Tóm lại, Đạo của Chúa không chia rẽ, nhưng luôn bảo-vệ sự thật. Luôn rao truyền sự công-chính. Lúc nào cũng quyết bảo-vệ phảm-giá và sự tự-do của con người. Chủ-trương ấy, đường-lối kia dĩ nhiên sẽ kéo theo nhiều đối-kháng, tị nạnh. Chính vì thế, mới có quả-quyết của Chúa nơi hiến-chương được ban-bố khi Ngài khởi-đầu cuộc đời rao-giảng : “Phúc cho ai bị bách-hại vì Tin Mừng.” Hiến-chương tuy hơi lạ nhưng là hiến-pháp luôn có sự thật song-hành.

Chung vui Tiệc Thánh hôm nay,ta cảm tạ và biết ơn các vị thánh đã xả-thân để bảo-vệ sự sống. Bảo-vệ lối sống có niềm tin và yêu thương. Cảm-tạ và biết ơn các đấng bậc đã chiến-đấu cho sự thật. Cho, công-bằng và lẽ phải. Các ngài chiến-đấu để duy-trì phẩm-giá con người và bảo-tồn tự-do làm con cái Chúa. Đó, là quyền của họ. Và, cũng là bổn-phận làm nhân-chứng cho Tình Yêu của Chúa.

Thành thử, với gương lành Đức Kitô, Đấng từng là đối-tượng của nhiều khích-bác, bạo-động, ta được khích-lệ duy-trì bảo vệ sự đoàn-kết và an-bình nội-tâm. Một an-bình chỉ có Đức Ki-tô và đường-lối Ngài dạy mới giúp ta vững tâm tiến-bước.

Trong hân-hoan tiến bước theo chân Chúa, ta hãy cùng bầu bạn hãy hát vang bài ca bừng sáng thuở nào cho thêm nhựa sống mới. Bừng sáng lên, để không ai phải hãi-sợ lửa ngọn rẽ chia, nhưng vui mừng tiếp đón ngọn Lửa tin yêu kết-đoàn mà Chúa sáng soi, cho hết mọi người. Với lửa ấm cúng ngọt ngào ấy ta sẽ biết “tặng tình lúc còn sống”, dù “Giòng đời muôn kiếp chia trôi”.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn  –

Mai Tá lược dịch.