Luyện Ngục Ở Đâu

Luyện Ngục Ở Đâu

L.m. Mark, CMC

* Kinh Thánh không nói rõ Luyện ngục ở đâu, nhưng chắc chắn phải có một nơi nào đó để giam giữ các linh hồn cần thanh tẩy trước khi vào Thiên đàng.

* Giáo hội dạy: “Luyện ngục là một nơi và là một tình trạng thanh tẩy tạm thời mà nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đó” (FCD p.482).
– Luyện ngục ở trong lòng đất:

* Theo ý kiến chung các nhà thần học như Thánh Augustinô, thánh Bêđa, Bellarminô… thì Luyện ngục ở trong lòng trái đất.

* Theo thánh Tôma Aquinô thì “Ý kiến có thể nhận được, và thấy hợp với những lời các thánh được mạc khải tư là Luyện ngục có hai nơi: một nơi dành chung cho các linh hồn, nơi này gần hoả ngục hơn; một nơi dành riêng cho một số trường hợp không thông thường, từ nơi này nhiều linh hồn được phép hiện về” (Purgatory p. 9).

* Thánh nữ Têrêsa Avila thương các linh hồn Luyện ngục cách đặc biệt. Bà hay giúp các linh hồn bằng lời cầu nguyện, hi sinh và việc từ thiện. Ðể thưởng công, Thiên Chúa thường cho bà được thấy các linh hồn lúc ra khỏi Luyện ngục về Thiên đàng. Các linh hồn này từ lòng đất đi ra. Bà thánh viết: ” Tôi được tin một Bề trên Tỉnh dòng mà tôi quen biết đã qua đời. Khi còn sống ngài đã giúp tôi nhiều. Dù vị tu sĩ này được coi là có nhiều nhân đức, nhưng tôi thấy cần cầu nguyện cho linh hồn ngài, bởi ngài làm Bề trên trong thời gian 20 năm, nên tôi e ngại nhiều về việc săn sóc các linh hồn đã được trao phó cho ngài. Phiền muộn, tôi đi tới nhà Nguyện dâng lên Chúa chút việc lành đã làm, và van nài công nghiệp vô cùng của Chúa, xin giải thoát linh hồn vị Bề trên này khỏi Luyện ngục. Trong khi tôi đang sốt sắng khẩn nài như vậy, tôi thấy vị Bề trên này từ lòng đất đi lên phía bên phải tôi, rồi lên thẳng Thiên đàng cách vui vẻ. Vị Bề trên này đã cao tuổi, nhưng tôi thấy dáng người như ở tuổi ba mươi, vẻ mặt rạng ngời ánh sáng. Thị kiến này xảy ra rất ngắn, nhưng tôi không nghi ngờ chút nào về sự thật tôi đã được thấy. Dù ở xa chô ngài qua đời, đôi khi tôi cũng cảm thấy cái chết của ngài, nước mắt ngài chảy ra và khiêm tốn phó mình cho Thiên Chúa.

“Một nữ tu dòng tôi, qua đời chưa được hai ngày, khi chúng tôi đang đọc kinh nguyện cho chị, tôi thấy linh hồn chị đi từ lòng đất lên thẳng Thiên đàng.

“Cũng trong tu viện này, một nữ tu khác quãng 18 đến 20 tuổi mới qua đời. Chị thật là một mẫu gương sốt sắng, kỉ luật và nhân đức. Ðời chị đã chịu nhiều đau khổ, bệnh nạn cách rất kiên trì. Tôi không nghi ngờ gở khi thấy cuộc sống như vậy, nghĩ rằng chắc sẽ khỏi phải vào Luyện ngục. Tuy nhiên, sau khi chị qua đời mười lăm phút, lúc chúng tôi đang cầu cho chị trong nhà Nguyện, tôi thấy linh hồn chị từ lòng đất bay thẳng về trời” (Purgatory p. 11-13).

* Theo hạnh tích thánh Lui Bertrand dòng thánh Ðaminh do cha Antist cùng dòng và sống cùng thời với thánh nhân viết trong cuốn Acta Sanctorum kể rằng: ngày 10 tháng Mười năm 1557, khi thánh Bertrand trông coi tu viện tại Valenti, cả thành phố bị ôn dịch. Cơn dịch khủng khiếp lan nhanh như vũ bão đe dọa sinh mạng mọi người. Trong tu viện của ngài có cha Clement ước ao được chết cách thật thánh thiện, đã xưng tội chung với thánh nhân, cha còn nói: Thưa cha, nếu con chết bây giờ, con sẽ hiện về cho cha biết tình trạng của con ở đời sau”. Cha Clement đã chết thật. Ðêm hôm sau ngài hiện về với thánh nhân. Cha nói rằng cha đang ở trong Luyện ngục để đền một số tội nhẹ, và nhờ thánh nhân xin cộng đồng tu viện cầu cho mình. Thánh Bertrand lập tức đi xin anh em cầu nguyện và dâng thánh lễ cho cha Clement. Sáu ngày sau, một người dân trong thành, không hay biết gì về cha Clement đã qua đời, đã tới xưng tội với cha Betrand, cho biết là linh hồn cha Clement mới qua đời đã hiện về với mình. Ông thấy đất mở ra, và linh hồn cha Clement bay thẳng về trời giống như một ngôi sao rực sáng” (Purgatory p. 13-14).

* Trong hạnh tích bà thánh Madalena de Pazzi, cha linh hồn bà là Cepari dòng Tên có ghi lại rằng: Bà thánh đã được chứng kiến một nữ tu trong dòng chết ít lâu trước. Một hôm, khi thánh nữ đang qùi chầu Mình Thánh, ngài thấy linh hồn nữ tu đã qua đời từ Luyện ngục trong lòng đất đi lên. Nữ tu khoác chiếc áo choàng lửa, bên trong là chiếc áo choàng sáng láng che chở cho nữ tu khỏi nóng rát. Nữ tu qùi hàng giờ tại chân bàn thờ, thờ lạy Chúa ẩn mình trong hình bánh. Ðây là giờ đền tội cuối cùng trước khi nữ tu được bay thẳng về trời”.

– Ðền tội tại nơi phạm lỗi:

Ngoài nơi nhất định là trong lòng đất như trên, một vài Chân phước còn cho biết thêm: Không những bị phạt trong Luyện ngục, mà có khi còn bị phạt tại một nơi nào đó, có khi gần mồ mả, gần bàn thờ Mình Thánh Chúa, có khi trong căn phòng nơi có người cầu nguyện cho mình, có khi ngay tại nơi linh hồn đã phí phạm thời giờ khi còn sống.

* Chân phước Frances Thánh Thể đã thấy linh hồn các nữ tu chịu cực hình ngay tại phòng ngủ, tại nơi hát kinh của Tu viện, nơi các nữ tu đã phạm lỗi ngày trước.

* Chân phước Benađô Colagno dòng Tên thấy một linh hồn bị phạt 43 năm tại một đường phố thành Rôma.

Bàn tay linh hồn hiện về in vào tường trước khi trở lại Luyện ngục. Hình trên hiện còn giữ tại Nhà thờ Luyện ngục tại Rôma

L.m. Mark, CMC

Anh chị Thụ & Mai gởi

Sức mạnh của lòng tin

 
Sức mạnh của lòng tin

(Suy niệm Tin mừng Mat-thêu (15, 21-28) trích đọc vào Chúa Nhật 20 thường niên.)

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Norman Vincent Peale (1898-1993) là một mục sư danh tiếng trong Giáo hội Tin lành Methodist, đồng thời cũng là nhà tâm lý trị liệu danh tiếng ở Mỹ, đã xuất bản nhiều tác phẩm thuộc hạng ăn khách nhất, trong đó có cuốn “Sức mạnh của tư tưởng tích cực” (The Power of positive thinking) xuất bản năm 1952. Tác phẩm này được dịch ra đến 41 thứ tiếng, bán ra hơn 20 triệu cuốn và còn được thu vào băng dĩa để phát hành.

sở dĩ cuốn sách nầy lôi cuốn được nhiều độc giả đến thế nó vì giúp cho người ta tìm thấy bí quyết tránh thất bại và đạt tới thành công. Bằng cách nào? Tác giả cuốn sách viết: “Người ta thất bại vì người ta thiếu lòng tin, thiếu lòng tin nơi Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào khả năng của mình. Vậy muốn thành công, hãy gầy dựng cho mình một niềm tin mạnh mẽ.”

Tác giả trích câu lời Chúa trong Tin mừng Mat-thêu làm bí quyết để thành công trong cuộc đời. Đó là: “Nếu bạn có lòng tin thì chẳng có việc gì mà bạn không làm được” (Mt 17,20).

Bí quyết đó được sáng tỏ qua sự kiện sau đây:

Khi Chúa Giê-su vượt qua biên giới Do-thái qua miền Tia và Xi-đôn, có một người đàn bà xứ Ca-na-an, là người ngoại bang đến gặp Chúa Giê-su và thống thiết nài xin Ngài: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

Thế mà Chúa Giê-su lặng thinh không đáp.

Nếu ở trong hoàn cảnh người đàn bà nầy, chắc chúng ta tức tối bỏ đi, thầm oán trách Chúa vô tâm. Đó là bức tường thứ nhất người đàn bà Ca-na-an đụng phải, nhưng bà không thối lui.

Bà cứ liên lỉ nài van, còn Chúa Giê-su thì cứ tiếp tục lặng thinh. Bà kêu xin bền bĩ đến độ các tông đồ đi theo chịu hết nổi, nên mới xin Chúa Giê-su đáp lại ước vọng của bà: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !”

Chúa Giê-su lại từ chối: “Thầy chỉ được sai đến với chiên lạc nhà Ít-ra-en.”

Sứ mạng của Chúa Giê-su vào thời điểm đó chỉ dành cho dân Ít-ra-en mà thôi, chưa đến thời đem ơn cứu độ cho mọi dân tộc.

Bị từ chối thẳng thừng, bị dụng vào bức tường thứ hai, nhưng bà không nhụt chí. Bà vẫn tiếp tục van xin. Bà bái lạy Ngài cách thành khẩn và xin tiếp: “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi.”

Lần nầy, Chúa Giê-su trả lời cách cứng cỏi và quyết liệt: “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó con.” Thế là bà lại đụng phải bức tường thứ ba, tưởng như còn cao hơn, dày hơn hai bức tường trước. Vẫn không thoái chí, bà khiêm nhường chấp nhận thân phận thấp hèn của mình và khiêm tốn cầu xin: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”  

Đến đây thì Chúa Giê-su không thể chối từ được nữa. Lòng tin mạnh mẽ và sự bền bĩ cầu xin của người phụ nữ Ca-na-an đã làm thay đổi kế hoạch cứu độ từng bước của Thiên Chúa, khiến Chúa Giê-su phải đáp ứng yêu cầu của bà ngay lúc bấy giờ, là cho con bà được ơn chữa lành, cho dù chưa đến thời kỳ mang ơn cứu độ cho người ngoài Do-thái.

Chúa Giê-su xác nhận rằng chính nhờ lòng tin vững mạnh mà người phụ nữ này đạt được điều mình mong muốn. Ngài nói: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28).

Ngoài ra, Chúa Giê-su khẳng định rằng ai có lòng mạnh tin thì có thể làm được bất cứ việc gì: “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi nầy: “Hãy rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17, 20).

Như thế,

Lòng tin là chìa khoá vạn năng có thể mở được những cánh cửa dẫn vào những kho tàng quý báu.  

Lòng tin cũng là bí quyết để thành công.

Đây là bài học quý báu mà Chúa Giê-su dạy chúng ta qua Tin mừng hôm nay. Tiếc thay chúng ta không biết tận dụng bài học này để thu hoạch những thành quả tốt đẹp trong cuộc đời.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa thường đề cao lòng tin, khen ngợi những người mạnh tin và chê trách các môn đệ yếu lòng tin. Xin ban thêm Đức tin cho chúng con để nhờ đó, chúng con có thể vượt qua mọi gian nan thử thách trong đời và giành lấy những thành tựu tốt đẹp trong cuộc đời cũng như trong đời sống tâm linh.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Mát-thêu 15, 21-28

21 Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn,22 thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm! “23 Nhưng Người không đáp lại một lời.

24 Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.”25 Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi! “26 Người đáp: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.”27 Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”28 Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.

Cố Gắng Làm Điều Lành Sẽ Đạt Tới Thành Quả Rực Rỡ!

Cố Gắng Làm Điều Lành Sẽ Đạt Tới Thành Quả Rực Rỡ!

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

… Cha thánh Pio thành Pietrelcina (1887-1968) là Linh Mục dòng Anh Em Hèn Mọn Cappuccino mang Năm Dấu Thánh.

Lúc sinh thời, có một sự kiện như hằn sâu trong con tim của Cha thánh: đó là bảo vệ gia đình và bảo vệ sự sống. Các tội phạm chống lại sự sống thường làm Cha nổi giận và lớn tiếng la rầy. Gia Đình, Hôn Nhân, Luân Lý Tính Dục là ba môi trường mà Cha thánh Pio quyết liệt bảo vệ. Cha đòi buộc các tín hữu Công Giáo phải kính trọng và quan tâm chú ý đến 3 thực tại nòng cốt này bởi vì đó là các thực tại thể hiện chương trình của THIÊN CHÚA trên việc tăng trưởng của nòi giống loài người.

Gia Đình hiệp nhất, Hôn Nhân bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ là nền tảng đầu tiên của sự sống nhân loại. Đã có không biết bao nhiêu gia đình được Cha thánh Pio cứu gỡ khỏi tình trạng phân tán và ly dị! Cha thánh Pio thường gào to hét lớn:

– Ly Dị là hành vi phá hoại đến từ con người. Và như thế, Ly Dị là đại lộ thênh thang đưa con người xuống thẳng Hỏa Ngục!

Cha thánh Pio đặc biệt yêu thương, khuyến khích và hỗ trợ các gia đình đông con. Cha thường lập đi lập lại: “Hôn nhân là để sinh sản con cái” và như lời Thánh Vịnh 127(126) khẳng định:

– Này con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban. Bầy con sinh hạ thời son trẻ tựa nắm tên người dũng sĩ cầm tay. Hạnh phúc thay người nào đeo ống đầy loại tên như thế! Họ sẽ không nhục nhã khi phải đến cửa công tranh tụng với địch thù (3-5).

Với các đôi vợ chồng mới cưới, Cha thánh Pio luôn luôn cầu chúc:

– Một xâu hột trang sức thật đẹp với đàn con đông đúc!

Rồi Cha khuyên:

– Hãy gia tăng con số dân cư cho mặt đất và cho Thiên Đàng.

Vì thế, người ta ghi nhận có rất nhiều gia đình đông con – từ 10 người con trở lên – là của những cặp vợ chồng được Cha thánh Pio hướng dẫn đường tu đức. Chẳng hạn gia đình ông Settimio Manelli (1886-1978) và bà Licia Gualandris (1907-2004) người Ý. Ông Bà sinh hạ tất cả 21 người con, chết 8 còn 13. Trong số 13 người con này đặc biệt có Linh Mục Stefano Maria Pio Manelli sáng lập dòng Các Tu Sĩ Phan-sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm vào năm 1990 tại thủ đô Roma. Hiện nay Dòng có mặt tại nhiều nơi trên thế giới. Và ngày 20-12-2010 Tổng Giáo Phận Roma đã chính thức mở hồ sơ xin phong chân phước cho cặp vợ chồng Settimio và Licia Manelli.

Cha thánh Pio quyết liệt chống đối viên thuốc ngừa thai, vì nó là sản phẩm đến từ âm phủ! Như thế, Cha thánh Pio luôn luôn bài trừ các tệ nạn lạm dụng tính dục trong hôn nhân, biến hôn nhân thành thị trường buôn bán tính dục và tìm kiếm thỏa mãn xác thịt.

Không biết bao nhiêu lần người ta chứng kiến cảnh Cha thánh Pio từ chối ban ơn xá giải cho những tội nhân nằm lỳ trong tội lỗi và nhất là các tội ngừa thai, phá thai. Cha thánh Pio thường giảng dạy:

– Khi anh chị em có Đức Tin thì con cái không hề đặt nặng vấn đề cho sức khoẻ, cho tài chánh cũng không làm cho anh chị em phải bực bội khó chịu.

Ngoài ra Cha thánh Pio cũng khẳng khái chống lại các tội lỗi nhân đức trong sạch. Người ta cũng lưu ý thấy Cha thánh Pio chống lại việc các phụ nữ ăn mặc khêu gợi, hở hang mất nết. Cha khuyên các phụ nữ ăn mặc kín đáo như dấu chứng lòng kính sợ THIÊN CHÚA và kính trọng tha nhân.

Sau cùng cuộc chiến của Cha thánh Pio cũng nhằm bài trừ tội đồng tính luyến ái, trợ tử và phá thai. Đó là những tội ác chống lại nhân loại và phá vỡ tất cả các giá trị vừa nhân bản vừa Kitô giáo.

… Những Tràng Chuỗi Mân Côi của một bậc Cha Mẹ tha thiết dâng lên Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA để cầu cho đứa con bất hạnh. Câu chuyện xảy ra tại thủ đô Roma.

Bé Ugo Angelilli chào đời với đôi mắt bị mù. Tất cả các bác sĩ và các giáo sư mà Cha Mẹ bé đến tham khảo ý kiến đều quả quyết là không có phương thức chữa trị nào có thể mang lại ánh sáng cho đôi mắt mù lòa của bé Ugo.

Là những tín hữu Công Giáo tràn đầy Đức Tin, Cha Mẹ bé Ugo liền chạy đến cùng Đức MARIA Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Ông Bà xin cử hành tam nhật trọng thể nơi bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Cùng lúc ông bà cũng đọc rất nhiều Tràng Chuỗi Mân Côi dâng lên Đức Mẹ.

Và dĩ nhiên Đức Mẹ không thể làm ngơ trước các lời khấn xin tha thiết của bậc cha mẹ đáng thương. Chỉ vỏn vẹn 4 tháng sau khi sinh ra, vào tháng 10, tháng dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, Cha Mẹ của bé Ugo vui mừng nhận ra sự kiện bé Ugo bắt đầu phân biệt các người và các vật chung quanh. Sau đó thì bé Ugo được khỏi hẳn chứng mù lòa. Muôn vàn tạ ơn Đức Mẹ MARIA Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi.

… “Phúc thay người son sẻ mà tinh tuyền, không chung chạ bất chính. Đến thời THIÊN CHÚA viếng thăm, họ sẽ được sinh hoa kết quả. Phúc cho hoạn nhân không làm điều bất chính, không suy tưởng nghịch cùng THIÊN CHÚA. Vì trung tín, họ sẽ được một đặc ân là hưởng phần rất hậu nơi Đền Thờ THIÊN CHÚA. Quả vậy, cố gắng làm điều lành, sẽ đạt tới thành quả rực rỡ, vì lẽ trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại. Nhưng con cái bọn ngoại tình sẽ chẳng ra chi, giống nòi kẻ chung chạ bất chính rồi sẽ lụi tàn. Dầu chúng có sống lâu trăm tuổi, thì cũng kể bằng không không vậy; khi cuộc đời xế bóng, chúng cũng chẳng danh giá gì .. Chẳng thà không con cái mà sống đời đức hạnh! Người đức hạnh lưu danh muôn thưở, vì được cả THIÊN CHÚA lẫn người đời biết đến. Họ còn sống, người người noi gương, họ khuất đi, ai ai cũng thương tiếc. Trong cõi đời đời, đầu đội triều thiên, họ khải hoàn vinh hiển, vì đã chiến thắng trong cuộc tranh đua giành phần thưởng tuyệt vời .. Trong ngày xét xử, những đứa con hoang sẽ là bằng chứng buộc tội những người sinh ra chúng” (Khôn Ngoan 3,12-18/4,1-2,6)

(“La Mia Messa”, volume IV, 1 Ottobre – 31 Dicembre 2014, Anno VIII/A/B, Casa Mariana Editrice, trang 87-88/515)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 20/10/2014

TỈNH NGỘ

TỈNH NGỘ 

Khi suy tư về sự chóng qua cuộc đời, nhà thơ Bùi Giáng đã thốt lên: “Ta cứ ngỡ trần gian là cõi thật. Thế cho nên tất bật đến bây giờ?”  Khi nói lên điều cảm nhận trên đây, nhà thơ như một người mộng du tỉnh ngộ, nhận ra cuộc sống này thật ngắn ngủi và vô nghĩa, mà trước đó, ông lại tin rằng nó hoàn hảo và tồn tại vĩnh viễn.

Trong cơn lốc của cuộc sống hiện đại và trào lưu hưởng thụ hôm nay, nhiều người trong chúng ta vẫn nghĩ rằng “trần gian là cõi thật”, nên tìm mọi cách để làm giàu hoặc thăng tiến trong con đường danh vọng.  Để đạt được tham vọng, họ dùng mọi thủ đoạn, kể cả loại trừ người khác.  Khi không đạt được điều họ muốn, họ cay cú, tiêu cực, hằn học không yên.  Nhưng nếu đạt được điều mơ ước, thì họ cũng chẳng thoả mãn, và tiếp tục tìm cách leo cao hơn trong bậc thang danh vọng bổng lộc.  Tiền bạc bao nhiêu cũng chẳng đủ.  Danh vọng cao mấy cũng chẳng vừa.  Tham vọng đã làm cho họ tối mắt.  Của cải làm họ quên hết bạn bè.  Đến một lúc nào đó, giật mình nhìn lại bản thân, họ thấy rằng, những thứ mà họ say sưa tìm kiếm cuối cùng chỉ như đám mây buổi sáng, như đoá hoa phù dung.  Thì ra bấy lâu nay, cữ ngỡ một khi mình đạt được những điều theo đuổi, thì sẽ hạnh phúc sung sướng.  Giờ mới ngộ ra một điều, hạnh phúc đích thực lại không dựa trên những điều chóng qua ấy.  Của cải không phải lúc nào cũng đem lại niềm vui.  Danh vọng chẳng phải bao giờ cũng giúp ta hạnh phúc.  Những tất bật đôn đáo ngược xuôi bấy lâu nay chỉ là cuộc đuổi hình bắt bóng vô nghĩa.  Nhiều khi giàu có về của cải, mà ta lại nghèo nàn về tình người.  Có khi đạt được đỉnh cao của danh vọng, nhưng nghiệt ngã trong trận chiến loại trừ nhau.

Trong Kinh Thánh Cựu ước, tác giả sách Giảng viên  đã thốt lên:  Mọi sự là phù vân (tức là mây bay), nay còn mai mất (x. Gv 1,2-8).  Đây cũng là những suy tư đúc kết kinh nghiệm sau một đời lận đận gian nan chạy theo những danh vọng của cải trần thế.  Tác giả kêu gọi, nếu nhận ra cuộc đời này là phù vân, thì hãy cậy dựa trên những gì là vĩnh cửu, để rồi cuối đời, chúng ta không ân hận, vì đã để thời gian trôi đi một cách uổng phí.

Trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh một người phú hộ để dạy chúng ta biết chọn lựa những giá trị sống lâu bền (x. Lc 12,16-21).  Người phú hộ chuyên cần làm lụng, tích trữ được nhiều hoa lợi.  Anh phá kho nhỏ, xây kho lớn.  Anh  là người có tầm nhìn xa, sau một thời gian vất vả làm lụng, tự cho phép mình được nghỉ ngơi và hưởng thụ.  Nhưng, chính lúc anh nghĩ mình được nghỉ ngơi và hưởng thụ, thì đó cũng là ngày tận số của anh.  Những gì anh vất vả làm lụng và tích trữ, giờ đây trở thành vô nghĩa trước một cái xác không hồn.  Chúa Giêsu đã đưa ra kết luận: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó”.  Đây cũng là thông điệp mà Chúa Giêsu muốn gửi đến mọi người.  Ai cũng hiểu “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” là tu thân tích đức, tạo một mối tương quan tốt lành với Chúa và với anh chị em, tức là mến Chúa và yêu người.  Người phú hộ không có thời gian để làm lại cuộc đời.  Anh ta giỏi về làm ăn, nhưng bị quở trách là đồ ngốc.  Anh khôn trong suy tính cho cuộc đời hiện tại, nhưng lại dại trong cái nhìn về tương lai.  Anh như người mộng du, đi mà không biết đi về đâu, tích trữ mà không biết để làm gì, để rồi anh phải đón nhận một kết cục cay đắng.  

Tin Mừng cũng nói đến một tỉnh ngộ khác, đó là nhân vật người con thứ trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (x. Lc 15).  Khi rơi vào cảnh khốn cùng, anh đã dốc quyết trỗi dạy, trở về với cha mình.  Anh chỉ tỉnh ngộ sau khi nếm trải bất hạnh và khổ đau, nhưng muộn còn hơn không.  Người cha vẫn đợi chờ anh với tình thương vô bờ bến, và dang rộng vòng tay đón anh trở về.  Anh chỉ muốn được như người ăn kẻ ở trong nhà, nhưng người cha vẫn dành cho anh vinh dự của người con, với tình thân thương trìu mến.  Người cha trong dụ ngôn là hình ảnh Thiên Chúa.  “Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta là những người luôn cảm thấy mệt mỏi xin tha thứ.  Những ai có can đảm để tiếp cận Chúa, sẽ tìm thấy niềm vui lễ hội nơi Thiên Chúa, vì Ngài luôn luôn chờ đợi và tha thứ” (Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô tại nhà nguyện Thánh Marta, ngày 28-3-2016).  Tỉnh ngộ đã giúp người con thứ tìm lại mái ấm gia đình và tình thương trời bể của người cha.  Cánh cửa tương lai đã mở ra cho anh với biết bao hứa hẹn tốt lành.

Sinh ra làm người, mỗi chúng ta chỉ có một cuộc đời.  Vì thế, mỗi người được đề nghị chọn cho mình một hướng đi.  Đó là chọn lựa một lần cho tất cả.  Chọn lựa này sẽ tác động ảnh hưởng trong suốt hành trình trần thế của chúng ta.  Có người chọn cho mình lý tưởng ưu tiên là nghề nghiệp chức vụ;  người khác lại chọn dấn thân phục vụ tha nhân.  Chọn lựa nào cũng đáng tôn trọng, nhưng không được quên, mọi định hướng phải được xây nền trên lương tâm đạo đức và tình người.  Sự thành đạt nhờ mưu mô mánh lới sẽ chẳng tồn tại lâu dài.  Không có chọn lựa rõ ràng và dứt khoát, ta như bước đi trong vòng luẩn quẩn, đến khi tỉnh ngộ thì đã thấy mình đầu bạc, gối mỏi, muốn làm lại cuộc đời nhưng bất lực vì đã quá muộn màng.

Người tín hữu sống giữa cuộc đời chao đảo, giằng co bởi biết bao nhiêu toan tính, dễ bị chìm đắm trong những đam mê.  Lời Chúa nhắc bảo chúng ta hãy tỉnh ngộ để nhận ra đâu là thánh ý Chúa để biết sống đẹp lòng Ngài.  Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để chúng ta tỉnh ngộ.  Nhờ ơn Chúa, chúng ta thay đổi cuộc đời, trở nên con người mới.  Cảm nhận tình Chúa yêu thương và cộng tác với Ngài làm cho lòng nhân ái lan rộng nơi trần thế.  Nhận ra nơi những người anh chị em xung quanh hình ảnh của Chúa để cùng nhau cổ võ tình huynh đệ, đỡ nâng những ai bất hạnh khốn khó trong cuộc đời, đó chính là sự tỉnh ngộ Chúa mong chờ nơi mỗi chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Langthangchieutim gởi

Các con đã bỏ quên mẹ trong luyện ngục!

Các con đã bỏ quên mẹ trong luyện ngục!

Ngày 3-2-1944, một cụ bà gần 80 tuổi qua đời. Cụ bà đó không ai khác là thân mẫu tôi.

Tôi lặng lẽ chiêm ngắm gương mặt Mẹ dịu hiền nơi nhà nguyện nghĩa trang, trước khi hạ huyệt. Trong tâm tình con thảo và nhất là, trong tư cách Linh Mục, tôi thì thầm với Mẹ: “Mẹ à, từ ngày có trí khôn đến giờ, con chưa bao giờ thấy Mẹ lỗi phạm nặng nề một luật nào của Chúa!”

Và tôi hồi tưởng những chặng đường qua của cuộc đời Mẹ.

Mẹ tôi có một đời sống thật gương mẫu. Sở dĩ tôi được làm Linh Mục phần lớn là nhờ công lao của Mẹ hiền.

Mỗi ngày, Mẹ tôi tham dự Thánh Lễ rước lễ, kể cả vào những năm cuối đời, tuổi đã cao. Khi đi cũng như lúc về, Mẹ tôi đều cầm tràng hạt trong tay. Mỗi khi rỗi rãnh, Mẹ thường lần hạt, đọc kinh Mân Côi.

Mẹ tôi rất có lòng bác ái, thương người đến độ mất một con mắt, chỉ vì liều mạng cứu sống một người đàn bà nghèo.

Chưa hết. Mẹ tôi luôn chấp nhận thánh ý THIÊN CHÚA. Ngày thân phụ tôi qua đời, Mẹ tôi hỏi: “Trong lúc này đây, Mẹ có thể than thở gì với Đức Chúa GIÊSU để làm đẹp lòng Ngài?” Tôi trả lời: “Mẹ cứ lập đi lập lại câu: Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa được thực hiện.”

Trên giường bệnh, Mẹ tôi lãnh các Bí Tích sau cùng với Đức Tin sâu xa.

Mấy giờ trước khi tắt thở, Mẹ tôi đau đớn vô cùng. Nhưng Mẹ không ngừng lập đi lập lại: “Lạy Đức Chúa GIÊSU, con muốn xin Chúa giảm cơn đau cho con. Tuy nhiên, con không dám áp đặt ý con trên thánh ý Chúa. Trái lại, xin cho thánh ý Chúa được thể hiện.”

Với lời sau cùng này, Mẹ tôi – người phụ nữ đã cưu mang, sinh hạ và dưỡng dục tôi nên người – trút hơi thở cuối cùng.

Sau khi Mẹ tôi qua đời, ai ai cũng nức lời khen ngợi Mẹ, người đàn bà đức hạnh. Tuy nhiên, tôi không để ý đến lời ca tụng của người đời cho bằng nghĩ đến sự phán xét công minh của THIÊN CHÚA. Do đó, tôi làm nhiều việc lành, sốt sắng dâng Thánh Lễ và không ngừng cầu nguyện cho Linh Hồn Mẹ sớm tận hưởng Thánh Nhan THIÊN CHÚA.

Ngoài ra, mỗi khi có dịp giảng, tôi đều nhắn nhủ các tín hữu Công Giáo hãy năng nhớ giúp đỡ các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Giúp đỡ bằng nhiều cách: tham dự Thánh Lễ, rước lễ và làm việc lành phước đức, bố thí giúp đỡ người nghèo.

THIÊN CHÚA Nhân Lành cho phép Mẹ hiện về với tôi.

Đúng hai năm rưỡi sau khi qua đời, Mẹ tôi bỗng xuất hiện trong phòng, dưới hình dạng con người. Mẹ trông thật buồn bã. Mẹ tôi nói: “Các con đã bỏ quên Mẹ trong Luyện Ngục!”

Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Ủa, cho tới bây giờ mà Mẹ còn ở trong Luyện Ngục hay sao?”

Mẹ tôi đáp: “Đúng thế! Mẹ vẫn còn ở trong Luyện Ngục. Bóng tối vây phủ Linh Hồn Mẹ, khiến Mẹ không thể trông thấy Ánh Sáng là THIÊN CHÚA .. Mẹ đang ở ngưỡng cửa Thiên Đàng, gần nơi an vui vĩnh cửu và Mẹ nồng nhiệt ước muốn được vào, nhưng Mẹ không thể nào vào được! Không biết bao nhiêu lần Mẹ tự nhủ: Nếu các con biết mình đang bị dằn vặt khốn khổ khôn lường, hẳn là chúng đã cấp tốc ra tay cứu giúp mình!”

Tôi hỏi tiếp: “Sao trước đây Mẹ không hiện về báo cho chúng con biết?”

Mẹ tôi buồn bã trả lời: “Mẹ đâu có được phép!”

Tôi lại hỏi: “Mẹ vẫn chưa được trông thấy THIÊN CHÚA sao?”

Mẹ tôi giải thích: “Khi vừa tắt thở, Mẹ đã được trông thấy Chúa nhưng chưa được trông thấy trọn Ánh Sáng Vinh Quang của Chúa.”

Tôi hỏi tiếp: “Chúng con có thể làm được gì để giúp Mẹ ra ngay khỏi Luyện Ngục?”

Mẹ tôi nói: “Mẹ chỉ cần duy nhất một Thánh Lễ. Chúa cho phép Mẹ hiện về để xin con điều đó.”

Tôi không quên dặn dò Mẹ: “Khi nào được vào Thiên Đàng, Mẹ nhớ hiện về ngay báo tin cho con biết.”

Mẹ tôi trả lời: “Nếu Chúa cho phép Mẹ hiện về .. Ôi Ánh Sáng thật tuyệt đẹp!”

Vừa nói Mẹ tôi vừa biến mất.

Chúng tôi dâng 2 Thánh Lễ cầu cho Linh Hồn Mẹ.

Một ngày sau, Mẹ tôi hiện về nói: “Mẹ đã được vào Thiên Đàng rồi!”

Chứng từ của Cha Giuseppe Tomaselli, người Ý, Dòng Don Bosco.

“Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi?

Gọi Người Yêu Dấu (Vũ Đức Nghiêm – Ngọc Lan)

httpv://www.youtube.com/watch?v=eVix516ukRQ

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 20 thường niên năm A 20/8/2017

“Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi?
Người yêu dấu ơi, thu về tim vẫn đơn côi.
Người yêu dấu ơi, khi ngàn sao đêm lấp lánh.
Tâm hồn bâng khuâng, nhớ ngày vui đã qua nhanh.”

(Vũ Đức Nghiêm – Gọi người yêu dấu)

(Mt 17: 5)

 Trần Ngọc Mười Hai

Dẫn nhập bài phiếm hôm nay, có bạn đề nghị bần đạo nên ghi lại một lần nữa bài “Gọi Người Yêu Dấu” của nhà soạn nhạc họ Vũ tên Nghiêm nhân ngày “N” đặc biệt ghi dấu sự kiện ông quá vãng. Ghi lại bài hát ấy ở đây, hôm nay, còn“Gọi người yêu dấu” của bạn và của tôi, nay đi vào vùng trời vĩnh-cửu, có thần hồn còn phảng phất đâu đây. Gọi “người yêu dấu”, là gọi thế này:

“Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương.

Thương đôi mắt sao trời lung linh.
Thương yêu ngón tay ngà xinh xinh.
Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh.
Thương yêu vòng tay ghi xiết ân tình.

 Thương yêu dáng em buồn bơ vơ.
Thương yêu nét môi cười ngây thơ.
Thương yêu tóc buông lơi dịu dàng…
Thương em mong manh như một cành lan.”
(Vũ Đức Nghiêm – bđd)

Như thế có nghĩa: cứ ới và gọi người yêu dấu của tôi và của bạn, để rồi ta“thương em mong manh như một cành lan”“Thương đôi mắt sao trời”, “thương yêu ngón tay ngà”, “vòng tay ghi xiết ân tình”, “nét môi cười”, “tóc buông lơi”, và nhiều thứ.

Thương yêu và gọi như thế, còn là thương và yêu những người “yêu dấu muôn đời”, dù “nghẹn ngào không nói thành lời”, rồi cứ hát như sau:

“Gọi người yêu dấu xa vời.
Mà lòng lưu luyến bồi hồi.
Ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi khi chiều nhẹ rơi…


Gọi người yêu dấu muôn đời.
Nghẹn ngào không nói thành lời.
Tình yêu xưa ngày tháng phai phôi biết bao giờ nguôi…”

(Vũ Đức Nghiêm – bđd)

Hãy cứ “yêu” và cứ “gọi” như thế mãi, ắt sẽ thấy những chuyện gọi nhau ơi ới nơi sự kiện “Biến Hình” trên chốn cao núi thánh vào hôm ấy, rất “Hiển Dung” như lời hỏi/đáp ghi lại ở bên dưới:

“Thưa Cha,

 Có thể nào xin cha kể cho chúng con đây biết về Lễ lạy Phụng vụ có câu hỏi là: tại sao khi đi lễ, chúng con thấy nhiều năm có lễ Chúa Biến Hình Trên Núi” còn gọi là lễ “Hiển Dung” vào hôm 6/8 vừa qua lại được cử-hành vào Chúa Nhật? Thêm vào đó, nói về lịch-sử, thì các Lễ này lại được mừng kính vào buổi xưa hay chỉ mới đây thôi? Rất biết ơn cha.” (Thắc mắc của một giáo dân vẫn thường đi lễ trọng-thể và Chúa Nhật)

Như ta thừa biết, bổn đạo nào một khi đã siêng năng dự các lễ trọng-thể hay còn gọi là “lễ buộc”, thì được nhiên là đấng bậc vị vọng nhà ta rất lấy làm vui mà lấy giấy bút ra mà giải đáp. Giải đáp thắc mắc hôm nay, tuy hơi nặng phần chuyên môn về Phụng vụ; nhưng cũng đề cập chuyện giáo-sử nhất là về chuyện phụng-tự.

Thế nên, cũng xin chuyển đến bạn đọc/người thân đôi lời giải đáp, rất như sau:

“Để đáp trả câu đầu anh/chị hỏi, xin nói ngay ở đây, là: có nhiều Lễ đặc-biệt nói về Chúa cũng quan-trọng không ít khiến Thánh Bộ Phụng Vụ phải sắp xếp thay thế cho lễ ngày Chúa Nhật, như: Lễ Chúa Biến Hình (hay còn gọi là Lễ Hiển Dung), là một ví-dụ cụ-thể.

 Khi tôi nói chữ “lễ trọng” là tôi đang sử-dụng ngôn-ngữ phụng-tự theo nghĩa chặt-chẽ để phân-biệt với các Lễ trọng-thể hoặc các lễ kính, lễ nhớ, vv.. Gọi là “Lễ trọng” vì được xếp vào hạng cao trọng nhất trong nghi-thức Phụng-vụ. Trong số các Lễ như thế, phải kể đến Lễ Đức Mẹ Về Trời, Lễ Truyền Tin, Lễ Thánh Cả Giuse, vv… Các lễ này, luôn được đặt tầm quan-trọng trước hoặc trên các lễ Chúa nhật.

 Điều ta cần ghi nhớ là: khi các thánh-lễ phụng-vụ được cử hành vào ngày thường trong tuần, thì vào lễ ấy chỉ có 2 bài đọc gồm một bài Thánh Thư và 1 bài Phúc Âm thôi. Nhưng, khi lễ ấy lại rơi vào ngày Chúa Nhật thì thường bao gồm 3 bài đọc, tức 2 bài thánh thư và 1 Phúc Âm.

 Ở Lễ Chúa Biến Hình mừng kính sự việc Chúa tỏ-hiện bản-chất thánh-thiêng của Ngài ở trên núi Tabor, trước mặt các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan, lại có sự xuất-hiện của ông Môsê và Êlya nữa.

 Khi ấy, diện-mạo Đức Kitô chói sáng như mặt trời, áo Ngài trở nên trắng toát, lòng lánh như tuyết. Khi ấy, lại có tiếng từ trời cao bảo rằng:

 “Này là Con Ta yêu dấu,

đẹp lòng Ta mọi đàng,

các người hãy nghe lời Ngài.”

(Mt 17: 5)

Sự-kiện này thật là quan-trọng, lâu nay được Hội thánh cho phép cử-hành từ thời rất sớm, cả ở Phương Đông lẫn Phương Tây. Riêng Giáo hội Đông Phương còn coi đây là Hội lễ trọng thể, nên được phép cử-hành một cách hoành-tráng, long trọng cả với Chính Thóng Giáo lẫn Công giáo theo nghi-thức Đông Phương.

 Không mấy ai biết chắc lễ này khởi sự mừng kính từ bao giờ. Bách Khoa Tự Điển của Đạo Công Giáo có ghi như sau: “Giám mục người Armenia là Đức Grêgôriô Archarumi có ghi chép rằng: vào năm 609 thánh Grêgôriô Đấng Soi Sáng được coi là vị thánh đầu tiên cử hành lễ này; và thánh-nhân qua đời trước đó vào niên-đại trước hoặc sau năm 337.

 Đức Giám mục thành Arsharuni là người từng thay thế lễ hội của dân ngoại tôn-sùng thần Aphrodite mang tên là “Ánh Lửa Hồng” Giáo hội vẫn duy-trì tên gọi ấy vì Đức Kitô cũng đã công-khai mở rộng vinh-quang của Ngài như đoá Hồng Thiêng trên núi Tabor vậy.

 Dù không mấy chắc chắn,Bách Khoa Tự Điển cũng có nói rằng: lễ này được mừng kính lần đầu vào thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm ở đâu đó thuộc châu Á, để thay cho lễ hội nào đó của dân ngoại.  Với Giáo hội nói tiếng La-tinh, thì lễ Chúa Biến Hình không được nhắc tới trước năm 850.

 Và vào thế kỷ thứ 10, lễ hội ấy được du nhập vào phụng-vụ tại nhiều địa-phận và cử hành phần lớn vào ngày 6 tháng 8 như ta đang làm, ngày hôm nay.

 Có điều chắc chắn là: vào năm 1456, Đức Giáo Hoàng Calixtô đệ Tam đã nới rộng ngày lễ này cho Giáo hội hoàn-vũ cốt để tưởng nhớ ngày quân Thổ Nhĩ Kỳ bao vây Belgrade vào mồng 6 tháng 8 năm ấy. Chính Đức Giáo Hoàng Calixtô là đấng cảm-tác sáng-chế ra Kinh Thần Vụ cho lễ này.

 Đến năm 2002, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị lại đã đưa lời kinh ở Lễ Biến Hình vào Chuỗi Mân Côi Năm Sự Sáng để tăng thêm tính-cách quan-trọng của sự-kiện này.

 Lễ Chúa Biến Hình được là một trong 12 Lễ Trọng-thể ở Giáo hội Chính thống, đến độ các đấng bậc bến đó còn thiết-lập một ngày vọng kính trước Lễ và sau đó còn kéo dài thêm tuần bát nhật nữa. Bởi lẽ, theo sự hiểu biết/tính toán của Giáo hội Chính thống, thì Lễ này được cử-hành 40 ngày trước khi Lễ Suy tôn Thánh giá được tổ-chức vào ngày 14 tháng 9 để cho mọi người thấy là Đấng đã hy-sinh cuộc đời Ngài trên thập-tự chính là Đức Chúa.

 Được coi là Lễ trọng, không chỉ vì những điều nói đến Đức Kitô mà thôi, nhưng cả đến Ba Ngôi Thiên Chúa nữa; bởi lẽ cả Ba Ngôi đều hiện-diện: vào hôm ấy có tiếng Chúa Cha vọng từ trời cao, có Ngôi Con đã biến hình và có Thánh Thần Chúa ngự trong đám mây vần vũ, nữa.

 Theo nghĩa này, thì Chính Thống Giáo coi Lễ Biến Hình như Lễ Ngũ Tuần thu gọn, hoặc như Lễ HIển Linh, Chúa tỏ mình cho dân ngoại và Lễ Chúa chịu Phép Rửa hôm ấy có đủ Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện. Với Giáo hội Chính thống cũng như Giáo hội nói tiếng La tinh, thì Phụng vụ ngày Lễ Biến Hình thay thế thánh lễ Chúa Nhật khi rơi vào ngày Chủ nhật.

 Thánh sử Mátthêu còn ghi lại là: Lế Chúa Biến Hình xảy ra vào 6 ngày sau khi Đức Ki tô cho các tông đồ Ngài biết rằng Ngài phải đi Giêrusalem chịu nạn, chịu chết nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ trổi dậy, Ngài muốn các môn đệ sửa-soạn cuộc thương khó và nỗi chết của Ngài bằng việc tỏ cho các vị ấy biết Ngài chính là Thiên Chúa thật.

 Ngài còn cho biết: những ai muốn thành môn đệ Ngài, thì phải biết vác thánh-giá của Ngài mà theo Ngài; còn ai để mất sự sống vì Ngài sẽ tìm lại được sự sống ấy (Mt 16: 21; 24-25).

 Vào lễ Chúa Biến Hình ta còn học được bài học quí giá nếu như ta bằng lòng vác thánh giá của mình và theo Đức Kitô, chắc chắn ta sẽ được diện-kiến Ngài vinh-hiển trên thiên-quốc.“ (X. CNS, A Portrait of the Universal Church, đăng trên The Catholic Weekly ngày 25/7/2017 tr.12)

Bàn về trình thuật Lễ Chúa Biến Hình (hoặc Hiển Dung), cũng là, theo cách nào đó, ta “Gọi Người Yêu Dấu” rất thân thương, gọi mọi người bằng tinh thần Biến Hình, Hiển Dung, trong mọi tình-huống. 

Bàn về lời mời Gọi Người Yêu Dấu rất “Hiển Dung”, tưởng cũng nên cùng bàn với đấng bậc nhà mình, kèm thêm đôi chút về lời lẽ ở trình-thuật rất hay, rất đẹp và sâu-sắc, như sau:

“Trình thuật Chúa hiển dung mà chúng ta suy niệm hôm nay đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình của người môn đệ. Đức Giêsu cho các môn đệ ‘nếm một chút’ ánh sáng vinh hiển của Người. Ánh sáng đích thật này chỉ được tỏ bầy trọn vẹn qua biến cố Phục sinh, đó chính là cao điểm hành trình làm Con Thiên Chúa của Người. Nhưng trong phút giây này, trước mắt Người vẫn là hành trình khổ nạn chứ chưa phải là vinh quang.

 Có như vậy, chúng ta mới nhận ra việc Chúa yêu thương, săn sóc và lo lắng cho các môn đệ và chúng ta đến độ nào. Người hiểu các nỗi yếu đuối của chúng ta, Người biết lòng trí không ngay thẳng của những ai đang theo Người, Người còn biết rõ ý định sai lạc muốn tìm kiếm địa vị của Gioan và Giacôbê, v.v…

 Nhưng Người lại không hề thất vọng về họ. Người chuẩn bị cho các môn đệ và chúng ta đủ sức để đối diện và CÙNG ĐỒNG HÀNH với cuộc khổ nạn của Người bằng cách cho họ và chúng ta ‘nếm một chút’ vinh quang của Con Thiên Chúa. Kinh nghiệm độc nhất vô nhị này vô cùng quí giá, nó sẽ nâng đỡ chúng ta khi gặp nhưng hòan cảnh tuởng như là quá sức của mình.

 Thật vậy, kinh nghịệm ‘Hiển Dung’ sẽ nâng đỡ các môn đệ và chúng ta hiên ngang tiến vào vườn Giệt-si-ma-ni và sau cùng là đồi Can-vê để đồng hành với Đức Giêsu trên đường Thương Khó của Người. Và chúng ta tin rằng tất cả không dừng lại ở đó, nhưng còn mở ra một chân trời hạnh phúc và vinh hiển trong ngày Phục Sinh.

 Trong hành trình đức tin, những trải nghiệm ‘Chúa Hiển Dung’ rất quan trọng và cần thiết. Việc chiêm ngưỡng dung nhan rạng ngời sáng chói hơn ánh mặt trời của Đức Giêsu không làm chúng ta bị chóa mắt, hay quáng gà rồi không còn nhìn thấy những thực tại của trần gian nữa. Chúa không chỉ Thần Hiện như kinh nghiệm của Maisen và dân Israel xưa kia, Ngài đã trở thành người và cư ngụ giữa chúng ta. Đây cũng là chủ đề chính mà Đức Giêsu trong Matthew muốn trình bầy. Người chính là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi nơi mọi lúc.

 Vì thế, với những kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa – qua cầu nguyện, các biến cố xẩy đến trong đời – đều là hồng ân giúp chúng ta trở về với đời sống, đối diện với muôn ngàn thử thách, đắng cay bằng ánh sáng và con tim mới. 

Với sự hiện diên của Đức Giêsu, không chỉ ở trên núi (Thánh), nhưng ở mọi giây phút của cuộc đời; chúng ta sẽ chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, sẵn sàng chiến đấu mà không ngại gian khổ, chấp nhận những bất toàn của chính bản thân để có thể thông cảm các nỗi yếu đuối và không hoàn hảo của người khác; rồi cùng đồng hành với nhau trên con đường mà Chúa đã đi qua.

 Xin dung nhan của Chúa hiển dung hôm nay và nhất là Ánh Sáng Phục sinh của Đức Kitô luôn dẫn lối chỉ đường cho chúng ta, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn vẹn những phút giây của cuộc sống và tiếp tục ‘bước theo’ và ‘cùng bước vào’ dấu chân của Đức Kitô đã bước qua.” (X. Lm Joe Mai Văn Thịnh CSsR, Bản Tin Giáo xứ Đức Mẹ Mân Côi, Chúa Nhật Hiển Dung 06/8/2017)

Xem thế thì, “Gọi người yêu dấu” một cách thực tế trong đời, đôi lúc cũng làm cho người được gọi lại cứ ngơ ngẩn/vẩn vơ, như cậu truyện kể để minh-hoạ ở bên dưới:

“Theo lệ ngày xưa, ai làm quan thì mua món gì cũng chỉ phải trả nửa giá tiền, trừ mua vàng phải trả đủ.

 Một ông quan nọ vừa đến nhậm chứa, bảo hiệu vàng đem hai lạng đến bán cho ngài.

Chủ hiệu vàng nghe tiếng quan dữ như cọp, mới bẩm:

– Vàng mỗi lạng thực giá sáu chục đồng, song quan lớn thì trả một nửa cũng được.  Quan cầm hai lạng vàng xem, rồi ung dung bỏ một lạng vào túi. Chủ hiệu tưởng quan chỉ mua có một lạng, còn lạng kia trả lại, nên khi quan vào nhà trong, anh ta vẫn đứng đấy đợi trả tiền.

 Hồi lâu quan ra, thấy vậy mới hỏi:

– Mua bán xong rồi, còn đứng đấy làm gì? 

Chủ hiệu vàng đáp:

– Con chờ quan lớn trả tiền cho. 

Quan bảo:

– Tiền trả rồi, còn đòi gì nữa? 

Chủ hiệu vàng đáp:

– Hai lạng, quan trả lại một lạng, lấy một lạng. 

Quan nổi giận:

– Nhà ngươi lạ thật! Nhà ngươi bảo ta trả một nửa cũng được. Ta mua hai lạng, nhưng chỉ lấy một, trả lại một chẳng phải là đã trả một nửa là gì!!! (Trích truyện cười dân gian đăng trên mạng vi tính)

“Trả một nửa cũng được”, thực tế có thể xảy ra ở tình-huống dân gian mua bán vàng bạc hoặc thứ gì cũng thế. Với chuyện “Gọi người yêu dấu” không thể gọi một nửa hoặc yêu một nửa được. Đã yêu và đã gọi, là phải thực hiện trọn vẹn, suốt một đời người. Của bạn, của tôi và của bất cứ ai còn sống trên cõi đời, rất con người.

Thật ra thì, “Trả một nửa cũng được”, có thể trả bằng tiền bạc hoặc bằng tình tiết rất yêu thương, ta vẫn biết. Trả gì thì trả, hãy cứ trả hết mọi chuyện, chứ đừng trả, đừng trao “thánh-giá” mình đang gánh/vác cho người khác. Chí ít, là người mình không ưa, không thích suốt chuỗi đường dài cuộc đời.   

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc cũng tơ tưởng

Về thánh-giá

Người khác đang gánh vác

Chứ chẳng chơi.

“Đàn rơi phiếm rũ, sầu mưa gió,”

Suy Tư Tin Mừng trong tuần thứ 20 thường niên năm A 20/8/2017

Tin Mừng (Mt 15: 21-28)

Khi Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở vùng ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” Nhưng Người không đáp lại một lời.

Các môn đệ lại gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” Người đáp: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh.

  •    *       *       *        *

“Đàn rơi phiếm rũ, sầu mưa gió,”

“Nguyệt khuất mây mờ, lạnh khói sương”

(dẫn từ thơ Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân)

Mai Tá lược dịch. 

Sầu mưa gió. Lạnh khói sương. Có thể, đó là cảnh tình của người đời. Đàn rơi phiếm rũ. Nguyệt khuất mây mờ. Nhưng, cũng chưa hẳn là tình tự của người trong Đạo, bấy lâu nay.

Tình tự nhà Đạo, nay thánh Mát-thêu kể về nữ phụ xứ Canaan gặp Chúa, rất cảm kích mới có lời xin. Xứ Canaan, có thủ phủ Ty-a và Si-đôn là đất miền cận duyên, bên bờ Địa Trung Hải. Hai thị trấn cách đất liền đến 80 cây số, phía Nam Phênixia. Hôm nay, thánh sử kể về các sinh hoạt khác thường của Chúa, ngoài đất nước Do thái, ở xứ Canaan.

Về sinh hoạt Chúa làm, ngoài xứ miền Do thái, thánh sử kể cũng khá nhiều. Nhưng, không nói lý do tại sao Chúa đi xa như thế. Có thể, Chúa đã mệt vì đường xa xứ lạ, thế mà khi nữ phụ xa lạ lại đón Chúa vào thôn làng. Cũng có thể, luận cứ ở truyện kể còn quan yếu hơn chi tiết địa dư, khoảng cách.

Trình thuật nay là truyện kể nữ phụ “ngoài Đạo” và con gái bà lâm bệnh. Đúng ra là, mẹ con bà sinh sống ở xứ miền Phênixia. Với người Trung Đông, Canaan là một trong những địa danh có tên rất xấu, gồm toàn những người lạ kỳ, về nhiều thứ ít thấy trong Thánh Kinh.

Nói gì thì nói, nữ phụ Canaan đây, thuộc lớp người ngoài Đạo, là người dưng khách lạ mà lại được Chúa đón nhận như người trong cuộc. Bởi thế nên, luận điểm đề cập nơi trình thuật hôm nay là để nhấn mạnh lối hành xử rất nhân lành hầu đón nhận người ngoài vào với cộng đoàn Hội thánh mình.

Trình thuật, nay nhấn mạnh khuynh hướng gọi họ bằng những tên rất xấu, để loại bỏ. Loại và bỏ, như người thời nay khi nói đến dân con Ả Rập/Hồi giáo, người người có thói quen chụp lên người họ bằng những mũ chụp thiếu thanh tao/lịch sự, như: dân Rệp hoặc đám Hồi giáo khủng bố. Và, trình thuật nay cũng nói đến cung cách Chúa dung nạp những người mang tai tiếng, xấu đến như thế.

Mặt khác, nữ phụ này lại có người con vướng mắc một thứ tật bệnh mà người thời ấy gọi là “quỷ tha ma bắt” khiến bà phải gào thét đến cuồng điên, cốt để Đức Chúa Nhân Hiền nghe biết đến với bà, để chữa trị cho con gái bà. Ngài có chữa kẻ ngoài Đạo mắc chứng dơ bẩn hay không, đó mới là vấn đề. Và, dân thường thời bấy giờ vẫn còn thắc mắc.

Kể ra, thì nữ phụ Canaan dù ngoài Đạo, nhưng đã tin Đức Kitô, nên bà gọi Ngài là “Con Vua Đavít“. Với thánh Mát-thêu, bà là người đầu tiên trong kinh thánh, dám tuyên xưng Ngài là Chúa, bằng miệng lưỡi. Chính bà là người dùng lời khẩn cầu phụng vụ và thánh vịnh của các đấng bậc từng tuyên tín vào Đức Kitô, như lời kinh phụng vụ lâu nay vẫn nhắc: “Xin Chúa thương xót chúng tôi.”, một lời kinh bằng tiếng Hy Lạp, rất “Kyrie eleison”, trong thánh lễ. Bà còn bái gối lạy quỳ trước mặt Ngài, một động thái khẩn nài ít thấy nơi người Do thái, khi nhắc nhớ điều gì với Giavê Thiên Chúa.

Nói rõ hơn, nữ phụ ngoài Đạo đã van xin Chúa một ân huệ, rất khó thực hiện: là, xin Ngài vượt lằn ranh thói tục luôn chê bai kẻ hạ cấp/thấp hèn như mẹ/con bà, những kẻ bị đào thải khỏi mọi chọn lựa trở nên dân riêng của Giavê. Bà xin Ngài thực hiện điều mà Giavê Đức Chúa không có chọn lựa nào khác ngoài việc đưa toàn thể mọi người về với tình thương. Cả khi đồ đệ Ngài bày tỏ: “Hãy bảo bà ấy đi đi, đừng đến mà làm phiền Thày.”

Nơi trình thuật, chừng như Đức Giêsu đã thách thức lời kêu cầu của nữ phụ bằng lời từ chối. Đây là việc ít thấy ở Tin Mừng, mà các thánh vẫn ghi. Bởi lẽ, kinh nghiệm cho thấy, hễ ai kêu cầu Chúa điều gì, Ngài vẫn đáp ứng bằng đáp ứng trọn vẹn cho người ấy.

Trường hợp ở đây, không giống thế. Ngài không ứng đáp lời kêu cầu của nữ nhân ngoại Đạo là bởi vì Chúa Cha gửi Ngài đến với dân con được chọn thôi. Sứ vụ Ngài thực viện, chỉ dành cho dân con người Do thái, rất đích thực. Chính vì thế, mà người đọc mới nghe thấy những câu so sánh cũng khá lạ:“Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con (ở ngoài).”(Mt 15: 26). Bằng vào lời này, ta thấy người Do thái xưa vẫn coi dân “ngoài Đạo”, rất thấp hèn. Thách thức ở đây, còn có nghĩa: Chúa phản ứng như người Do thái bình thường sống theo luật, không để lời nài van từ ngoài, áp lực Ngài hành xử ngoài ý định của Cha.

Nhưng, nữ phụ Canaan vẫn thưa:”Đúng thế, thưa Ngài, nhưng lũ chó con cũng được hưởng vụn bánh trên bàn chủ, rơi xuống.” (Mt 15: 27) Điều mà bà goá xứ Canaan muốn nói đến, là: loài chó nuôi trong nhà, tuy chạy rong ngoài đường, nhưng cũng được hưởng ơn lành như thú đã thuần hoá. Tức, phải được hưởng công bằng cần thiết. Bên tiếng Hy Lạp, mỗi khi nói đến loài chó nuôi, là nói đến gia súc sống gần gũi với chủ, do đó ít nhiều cũng được đối xử như người nhà, gần chủ nhà. Tức, cũng có chỗ đứng/ngồi gần bàn tiệc, dù dưới gầm. Và đây là trọng điểm mà vấn đề trình thuật đặt ra.

Ngay đó, Chúa thay đổi cung cách Ngài đối thoại bằng ngợi khen niềm tin của người đàn bà. Trình thuật không nói rõ đó có là niềm tin vào Ngài, vào Chúa hay không. Nhưng, nữ phụ Canaan lại đã chứng tỏ rằng bà vẫn là bản vị hiện hữu cần được đối xử như người trong cuộc. Xem thế thì, qua việc khen ngợi niềm tin của bà goá, Chúa muốn bảo cho mọi người biết: nữ phụ “ngoài luồng” này, nay đã là người trong cuộc. Tức, đã có trọng trách khiến cho người dưng khách lạ thấy được sự công bằng cần có như khi đối xử với người trong Đạo. Tức, cần dân con trong Đạo yêu thương, đón nhận họ để họ trở nên thành viên Hội thánh, như mọi bản vị biết thương yêu nhân hiền, cởi mở.

Cũng có thể, thánh Mát-thêu đã ghi lại tâm tình của Chúa muốn nói đến các chủ thể lâu nay vẫn bị coi rẻ như loài chó, cốt để thử thách niềm tin, thôi. Kịp khi nữ phụ Canaan sẵn sàng chấp nhận thân phận thấp hèn lâu nay của mình, bị đối xử tồi tệ như loài thú, nhưng vẫn muốn được yêu thương/trọng đãi như người nhà. Bởi, loài chó lâu nay vẫn được coi là gia súc rất trung thành với chủ mình. Vậy thì, loài gia súc đã thuần hoá, có thuỷ chung với người trong nhà, hay không? Nữ giới trong cuộc, có được đối xử đồng đều như nam nhân không? Có được yêu thương kính trọng không thua kém nam nhân không?

Đó là qui cách mà nữ phụ Canaan dùng đến, cốt để thuyết phục Chúa. Chính bà là người dám bộc lộ với Chúa tâm trạng của người “ngoài Đạo”. Và, kêu cầu của bà, chính ra là để mọi người trong Đạo nên coi lại mà đối xử bà ngang bằng như người trong Đạo, một khi dân con của Chúa tin vào tình thương và sự lương thiện. Đây còn nói lên một đặc trưng yêu thương là không bao hàm yếu tố “lằn ranh/biên giới”, trong với ngoài!

Ngay đến ý định của Chúa Cha khi chọn lựa con dân trong hoặc ngoài Đạo để cứu rỗi, giống như thế. Chúa có tự do thực hiện việc chữa lành cho bất cứ ai, kể cả những người trong hay ngoài Đạo. Họ vẫn là những hữu thể, cũng tử tế, ngang bằng nhau. Và, họ cởi mở, ăn ở phải phép hệt như nhau. Lời nài van của nữ phụ, tuy không nói rõ, nhưng đã chứng minh được điều đó. Và, kết quả là: Chúa đã ban cho bà những gì bà khẩn nài. Con gái bà được chữa lành. Vậy, ý của trình thuật thánh sử muốn nhấn mạnh, là: hãy coi khách lạ người dưng, như người nhà vậy.

Điều khác nữa, là: thông thường thì, loài thú ít được nhắc đến ở Tin Mừng. Nhưng, khi đã được nhắc nhở, chúng đều có tên. Ta biết được tên loài thú vào hôm kiệu lá, lễ Vượt Qua, là: chú lừa. Và, loài thú được nói đến, khi thánh Phêrô chối bỏ Thầy mình, là gà trống. Ngoài ra, còn có: chiên lạc, dê hiền, đàn heo sạch vv…

Có vị giáo lý viên nọ người Pháp, vẫn quen thói đặt tên cho một số loài thú được nhắc đến ở Tin Mừng, như: chú lừa vào lễ Vượt Qua gọi là: lừa Placiđô. Gà trống hôm thánh Phêrô chối Chúa, là gà “Archibald”, vv… Còn chó nuôi trong nhà, ở trình thuật hôm nay, nên đặt tên gì đây?

Còn một điều cần kể thêm, là: ở trình thuật các thánh ghi, bất cứ ai được Chúa chữa lành, đều đã trở thành đồ đệ đắc lực, quyết theo chân Ngài, mà rao giảng. Con gái nữ phụ xứ Canaan đây, có làm những việc như thế không?

Tựu trung thì, bài học mà thánh Mátthêu để lại nơi người đọc hôm nay, là: khi nghe ai đó gọi người Ả Rập bằng những tên rất xấu, như “dân Rệp”, hoặc “bọn Hồi giáo chuyên khủng bố”, vv… thiết tưởng người nghe/đọc Tin Mừng cũng nên liên tưởng đến chú chó vẫn nằm chực dưới gầm bần của chủ, để được hưởng ơn mưa móc của người trong nhà. Suy cho cùng, thì: loài chó nuôi trong/ngoài nhà, vẫn là gia súc được yêu thương, nể trọng. Không phải vì chúng sở hữu đặc tính trung thành với chủ. Mà, vì chúng được coi như thành viên như người nhà không là người dưng nước lã, nữa.

Sở dĩ Đức Giêsu là Đấng chữa lành mọi người, trong ngoài nhà Israel, vì Ngài là Đấng Nhân Hiền trong cuộc rất cao cả. Học được bài học quý giá rút tỉa từ trình thuật hôm nay, hẳn người nghe/đọc, sẽ quyết tâm noi gương lành của Chúa mà xử thế, xử giống như Ngài vẫn dạy.

Với tâm tình đó, cũng nên ngâm nga lời ca mà người nghệ sĩ trích dẫn ở trên, từng bộc bạch:

“Gương hờn tủi phận, vùi son phấn,

Lược trách buồn duyên, lỡ đá vàng!

Hương sắc đắm chìm, thân mệnh bạc,

Thương lòng xót liễu, rụng đài trang!”

(Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân – Thương Tiếc)

Thương và tiếc, không chỉ “xót liễu, rụng đài trang” thôi, mà còn “trách buồn duyên, lỡ đá vàng”. Trách và thương, những ai vẫn cứ coi dân “ngoài luồng” như chú chó chạy ngoài đường, không thương tiếc. Mà quên rằng, Chúa vẫn tiếc và thương hết mọi người, mọi loài, vào mọi thời.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch. 

ĐƯỢC GỌI VÀO CON ĐƯỜNG THÁNH GIÁ

ĐƯỢC GỌI VÀO CON ĐƯỜNG THÁNH GIÁ 

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

  1. Năm nay, tôi được 62 năm tuổi linh mục. Làm linh mục được 62 năm, thời gian đó phải coi là quí. Tôi rất cảm tạ Chúa về ơn quí trọng đó Chúa đã thương ban cho tôi.
  2. Nhìn lại 62 năm linh mục, tôi thấy ơn gọi của tôi là: “Hãy theo Chúa”. Chúa Giêsu đã gọi tôi, như xưa đã gọi các môn đệ đầu tiên của Người (Mt 4, 18-24). Chính Chúa Giêsu đã chủ động gọi tôi.
  3. Khi tôi đi theo Chúa Giêsu, thì Chúa nói điều kiện tôi phải có để theo Chúa “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”(Mt 16, 24).
  4. Theo Chúa Giêsu là gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu. “Thầy là cây nho, các con là cành nho… Ai ở lại trong Thầy, thì người ấy sinh được nhiều hoa trái” (Ga 15, 1-6).
  5. Ở lại trong Chúa Giêsu, kết hợp mật thiết với Người trong những hoàn cảnh vinh quang của Người, thì tương đối dễ. Nhưng sẽ không dễ chút nào, trong những hoàn cảnh Người chịu khổ đau.
  6. Tôi có kinh nghiệm đó. Kinh nghiệm sâu sắc nhất là hoàn cảnh Chúa Giêsu bị rơi vào cảnh đau đớn, cô đơn tột độ, rồi Chúa gọi tôi hãy chia sẻ với Người.
  7. Tối thứ Năm tuần thánh, Chúa Giêsu cầu nguyện ở Vườn Cây Dầu. Tại đó, Người đã rơi vào cảnh buồn phiền, sợ hãi và cô đơn ghê gớm. Đến nỗi Người đã phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”. Rồi Người nói với Chúa Cha: “Nếu có thể, xin cho con khỏi phải uống chén đắng này”(Mc 24, 34-36).
  8. Trong 62 năm qua, tôi đã được Chúa Giêsu gọi tôi vào cảnh đau buồn, sợ hãi, cô đơn đó của Người. Chỉ trong những thời gian ngắn. Tôi đã cảm thấy rất thấm thía đau khổ đó ghê gớm thế nào. Chia sẻ với Chúa Giêsu đau khổ trong tinh thần gắn bó mật thiết với Người, quả là điều không dễ. Phải nhờ ơn Chúa.
  9. Nhất là trên cây Thánh Giá, Chúa Giêsu với những đau đớn ghê gớm trong thân xác và trong tâm hồn, Người đã lại thốt lên một lời than thở diễn tả sự cực khổ của Người: “Lạy Cha sao cha nỡ bỏ con”. (Mc 15, 34).
  10. 10. Tôi cũng đã được Chúa gọi chia sẻ nỗi đau cô đơn cùng độ đó của Người. Chỉ một chút mà thôi. Nhưng quá đủ để tôi cảm thấy là bước theo Chúa, nên giống Chúa, không dễ chút nào. Phải nhờ ơn Chúa.
  11. 11. Trong những trường hợp như vậy, tôi mới nhận ra rằng: Cái gía Chúa phải trả, để cứu Hội Thánh và cứu nhân loại, là tình yêu hy sinh đến tận cùng.
  12. Rồi từ đó tôi lại hiểu thêm. Trong suốt 62 năm đời linh mục của tôi, Chúa cũng đã dùng tình yêu hy sinh đó, mà cứu tôi. Trong tình yêu đó cũng có phần đóng góp của nhiều người. Họ đang cùng với Chúa, mà cứu tôi, bằng những hy sinh đầy đau đớn. Tôi chịu ơn họ.
  13. 13. Và rồi cũng từ đó, tôi hiểu rõ hơn ơn gọi của tôi, đó là: Hãy cùng với Chúa Giêsu mà cứu đoàn chiên và đồng bào tôi, bằng tình yêu hy sinh cho đến cùng độ.
  14. Do đó, tôi hiểu những việc tôi đã làm trong 62 năm linh mục một cách chính xác hơn theo ánh sáng mầu nhiệm Thánh Giá.

Nghĩa là, nếu không tỉnh thức, thì nhiều việc tôi làm, bề ngoài coi như có giá trị cứu rỗi các linh hồn, làm sáng danh Chúa. Nhưng thực sự là không có giá trị đó.

  1. Đến đây, tôi mới hiểu rõ hơn những lời Chúa Giêsu đã phán xưa:“Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Thầy, mà nói tiên tri, mà trừ quỉ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Nhưng bấy giờ Thầy sẽ nói với họ rằng: Ta không biết các ngươi. Hãy xéo đi cho khuất mắt ta, hỡi bọnlàm điều gian ác”. (Mt 7, 22-23).
  2. Tôi thấy đời linh mục phải rất tỉnh thức, kẻo có những khổ đau mà không phải hy sinh vì Chúa. Cũng như có những tình yêu lại thiếu vắng hy sinh có giá trị của Thánh Giá.
  3. Nhìn lại 62 năm linh mục, tôi nhận thấy tôi có bổn phận phải bước theo Chúa Giêsu trên đường Thánh Giá một cách chân  thực và trung tín.
  4. Tôi phải quan tâm cách riêng đến những người đau khổ, cô đơn. Có thể họ đang là những của lễ, Chúa dùng để cộng tác với Chúa trong chương trình cứu độ hiện nay.
  5. Nhiều khi chúng ta tưởng chúng ta cứu họ, nhưng thực sự họ mới là những kẻ cứu chúng ta, do những đau khổ hy sinh họ chịu vì Chúa.
  6. Vinh dự của chúng ta là Thánh Giá Đức Kitô (1Cr 2,2). Thánh Giá đó là những khổ đau, những nhọc nhằn, những cô đơn, những nhục nhã, những cuộc chiến nội tâm cam go, những từ bỏ mình hằng ngày, vác Thánh Giá mà vẫn vui, vì được hy sinh cho người khác.

Thực là xấu hổ, nếu tôi bỏ vinh dự của Thánh Giá, để tự hào về những hưởng thụ.

  1.  Trong suốt 62 năm qua, khi sống mầu nhiệm Thánh Giá, tôi đã nhớ rất nhiều đến gương sáng của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, của Thánh Gioan Vianey cha sở xứ Ars, của cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Ký ức về 62 năm linh mục vang lên những bài ca về Thánh Giá.
  2. Những ngày này khi sống mầu nhiệm Thánh Giá, tôi nhớ cách riêng đến các chứng nhân của Thánh Giá tại Việt Nam hôm nay.
  3. Họ hiện đang sống chung quanh tôi. Họ được Chúa yêu thương. Họ được Chúa dùng để cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với những bước nhỏ, âm thầm mà dũng cảm, nhất là trong sự họ chu toàn bổn phận của mình. Thánh giá của họ là rất nhiều.
  4. Cách riêng, với các linh mục tại Việt Nam hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi họ hãy là chứng nhân của Thánh Giá một cách khôn ngoan theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.

Tình hình càng phức tạp, các linh mục càng cần phải cầu nguyện và tình thức, để nghe được Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần đang muốn các chủ chăn hãy vác Thánh Giá thay cho đoàn chiên, chứ đừng bắt họ vác Thánh Giá thay cho mình, hoặc là gây cho họ những đau khổ không cần thiết.

Long Xuyên, ngày 6.8.2017

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

From vongtaysongnguyen gởi

KINH CẦU CHO TUỔI GIÀ

 KINH CẦU CHO TUỔI GIÀ

Nguồn: Dòng Ba Carmelo

Lạy Chúa, xin ban cho con một tuổi già an bình và thanh thản.

Xin gìn giữ con khỏi một tuổi già tự khép mình trên con và trên những nuối tiếc vô ích.

Và nếu sự ngờ vực tấn công con, xin Chúa hãy soi sáng con.

Nếu sự cô đơn làm tâm hồn con sầu buồn, xin Chúa viếng thăm con.

Nếu bệnh tật hành hạ thân xác con, xin Chúa ban sức mạnh cho con.

Nếu giờ chết tới gần làm con kinh hoàng, xin Chúa hãy làm lắng dịu sự kinh hãi cho con.

Dù sự chết chộp con cách bất ngờ hay tiến tới từ từ, xin Chúa đừng bỏ rơi con.

Nếu một mai bệnh tình xâm phạm tới trí óc con, khiến con mất sự minh mẫn, thì ngay từ bây giờ, trước mặt Chúa đây, con xin hứa trước sẽ vâng chịu, và vâng chịu trong thái độ yên lặng kính thờ.

Nếu mai này con bị chìm đắm trong tình trạng hôn mê kéo dài, thì con mong rằng mỗi giờ phút còn lại của cuộc dời con sẽ đều là những thời gian liên tục chúc tụng tri ân Chúa, và chớ gì hơi thở sau hết của con cũng sẽ là một hơi thở của lòng mến yêu.

Con ước ao cậy trông rằng, vào giờ đó, con sẽ được Đức Mẹ nắm tay dẫn dắt đến trình diện trước Thiên Nhan để ca tụng ngợi khen Chúa đến muôn dời. Amen. 

Chị NguyễnKim Bằng gởi

Tôi có vẻ như bị quỷ ám… khổ sở lắm

 Tôi có vẻ như bị quỷ ám… khổ sở lắm

 Khổng Nhuận

Tin mừng theo Mat-thêu 15 : 22

Một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng :

“Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !

Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm !”

Hầu hết các bài suy niệm đều xoáy vào vài ý sau đây:

Đức tin, đức cậy, khiêm tốn phó thác…

với những cách cầu nguyện sao để  được Chúa nhận lời…

Chuyện kể về đứa con gái của một người đàn bà Ca-na-an…

Nhưng ở đây, chúng tôi muốn chỉ thẳng vào tâm mình, nên chúng tôi phải thú nhận đã có thời gian dài…

Tôi có vẻ như bị quỷ ám khổ sở lắm

Quỷ ám ở đây không hiểu theo nghĩa đen như:tóc dựng đứng, sùi bọt mép, mắt trợn trừng, quần áo hôi hám rách bươm..!!! suốt ngày đi lang thang, nói lảm nhảm hay la hét toáng lên giữa chợ đời…

Mà quỷ ám hiểu theo nghĩa bóng:

Suốt cả năm trời giữ đạo, ngày cuối năm kiểm điểm nội tâm.

Tôi vẫn đi lễ, rước lễ đều đặn, ham đọc sách đạo đức, tĩnh tâm  nhiều nơi..

thỉnh thoảng còn đi theo đoàn từ thiện…

Thế mà tôi vẫn thấy mình sao cứ làng nhàng, nóng chẳng ra nóng, lạnh chẳng ra lạnh. Nguyễn Y Vân – Vẫn y nguyên !!! chẳng tiến bộ chút nào…

Thậm chí có một khoảng thời gian tôi còn cảm thấy mình lùi đi cả trăm bước!!!

Nguội lạnh hơn…Lòng mến Chúa vơi đi khá nhiều..!!!

Chẳng biết cách nào làm cho mình tiến bộ hơn trên con đường sống đạo.

Tôi có vẻ như bị quỷ ám…khổ sở lắm

Không khổ sở sao được… khi mà…

Một đàng tôi rất muốn tiến lên đỉnh trọn lành…

Một đàng tôi cứ như bị lạc trong bát quái trận đồ… chạy loanh quanh cho đời mỏi mệt… để rồi lần nào cũng như đụng phải cửa tử !!!

Đến nỗi tôi đã nhiều lần thét lên giống như Phao-lô:

Tôi thật là một người khốn nạn !

Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ? (Rm 7 : 24)

Quả thật, tôi có vẻ như bị quỷ ám…khổ sở lắm

From tamlinhvaodoi gởi

Đức Giêsu cầu nguyện như thế nào

 Đức Giêsu cầu nguyện như thế nào

  Khổng Nhuận

Đức Giêsu cầu nguyện như thế nào?

Mới nghe câu hỏi, các đấng các bậc có lẽ sẽ bĩu môi mà phán rằng:

Thế… mà cũng hỏi!!!

Vậy xin hỏi lại: Đức Giêsu cầu nguyện như thế nào?

Này nhé trong Kinh Thánh kể rất rõ 3 lần… bằng lời rõ ràng:

Lần thứ nhất: Đức Giêsu cầu nguyện công khai trước công chúng:

   Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Mt 11:25 

Lần thứ hai: Lời nguyện Hiến Tế hay Kinh Lạy Cha đại thể

Nói thế xong, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện : “Lạy Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha……….(Ga : 17)

Lần thứ ba: Đức Giêsu cầu nguyện nơi vườn cây dầu:

  Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” Mt 26:39 

Đó là những lần cầu nguyện lớn tiếng..nhưng còn những lần một mình cầu nguyện thâm trầm khác thì sao???

Được, anh vểnh tai lên mà nghe

Kinh Thánh ghi rõ ràng :

  Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Mt 14:23 

  Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Mc 1:35 

  Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Lc 6:12 

Theo ngài, ba lần một mình cầu nguyện âm thầm này, Thầy Giêsu nói gì vậy??

Chà, quả thật là bí hiểm..Ai mà biết được Ngài cầu nguyện điều gì !!!

 Đúng là bí hiểm thật. cách đây hơn 30 năm, trong lúc mò mẫm tìm chân lý, trong lúc miệt mài tìm hiểu Thầy Giêsu, tôi cũng đã từng thắc mắc:

 Tại sao không một ông môn đệ nào hỏi thử xem Thầy lên núi một mình cầu nguyện như thế nào??

Thì ra lúc ấy các ông còn ngu muội – nói theo ngôn ngữ của Mac-cô – chỉ biết lẽo đẽo theo Thầy, chẳng bao giờ biết đặt vấn đề Thầy mình cầu nguyện ra sao – trừ những vấn đề tương đối dễ như xin Thầy cắt nghĩa những dụ ngôn…

Có một điều rất lạ: Lẽ ra với tư cách là Thiên Chúa, Đức Giêsu phải luôn chìm đắm trong Cha.. với một độ sâu thăm thẳm…

Nhưng không luôn luôn như vậy, vì mang thân xác mỏng dòn, Đức Giêsu vẫn trải qua những giây phút xao lãng, đặc biệt là nhưng giây phút yếu lòng. Cụ thể nhất đó là lời nguyện trên núi cây dầu:

“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này.

Nhưng ngay lúc đó như chợt thức tỉnh, Đức Giêsu nguyện tiếp ngay:

Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.

Nhờ điều này, tôi mới hiểu rằng khi Đức Giêsu một mình lên núi cầu nguyện.

Chắc chắn Ngài chẳng lải nhải đọc Kinh.

Chắc chắn Ngài chẳng ngêu ngao hát Thánh Vịnh

Chắc chắn Ngài chẳng đọc đi đọc lạimột đoạn Kinh Thánh nào đó

Chắc chắn Ngài chẳng xin bất cứ một ơn gì cho Ngài..

Vậy thì Ngài làm gì???

Ngài chỉ làm mỗi một việc.

Đó là: để lòng mình chìm đắm vào trong Chúa Cha.

Và trong những giây phút ngọc ngà này,

Đức Giêsu sống nên một trong Cha trọn vẹn nhất

Từ nguồn sống Thần Linh đó, Đức Giêsu rao giảng, chữa bệnh, đặc biệt là chia sẻ rất thân tình với các môn đệ về mối tương quan thân mật này giữa Ngài và Chúa Cha, giữa Ngài và các môn đệ.

Có rất nhiều câu Kinh Thánh nói về tương quan thân mật này.

Chúng tôi xin trích một vài câu mà thôi

Tương quan giữa Đức Giêsu và Chúa Cha:

Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14:10).

Tôi và Chúa Cha là một. (Ga 10:30)

Tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ:

 Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. (Ga 15:4)  

 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (Ga 14:20)

 Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28:20) 

Tóm lại, chúng ta có nhiều cách để cầu nguyện:

Cầu nguyện chung:

–         Đọc kinh chung với nhau.

–         Đọc kinh Thần Vụ với nhau.

–         Hát Thánh vịnh với nhau.

–         Cầu nguyên tự phát.

–         Chầu Thánh Thể chung.

Cầu nguyện riêng:

–         Theo phong cách cổ điển: Ngợi khen, cảm tạ, xin ơn cần thiết…

–         Theo Lectio Divina…Đọc, Suy niệm, Cầu nguyện, Chiêm ngưỡng, Hành động…

–         Viết nhật ký tâm hồn.

–         Một mình chầu Thánh Thể theo mẫu nào đó.

–         Thinh lặng chìm vào trong Ngàibằng cách :

hoặc chỉ yên lặng chiêm ngắmChúa trong nhà tạm;

hoặc chỉ yên lặng chìm vào trong Chúa;

hoặc lắng nghe sự sống của Chúalan tỏa trong mình, thấm vào lòng mình…

đến nỗi nên một trong Ngài.

Đây chính là đỉnh cao của cầu nguyện mà Đức Giêsu đã từng áp dụng khi một mình lên núi để kết hiệp nên một với Chúa Cha…

Tamlinhvaođoi gởi

THEO ĐỨC MẸ LÊN TRỜI

THEO ĐỨC MẸ LÊN TRỜI

GM GB. Bùi Tuần

Sắp đến lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời.  Lên Trời là lên thiên đàng.  Mẹ Maria lên trời là một sự kiện đầy hân hoan.  Sự kiện vui mừng này gợi lên trong chúng ta khát vọng chính chúng ta cũng được lên trời. 

Nhưng, để theo Đức Mẹ lên trời, ta không thể tự mình lên được.  Ta phải tuân theo chỉ dẫn của Mẹ.  Chỉ dẫn của Mẹ rất đơn sơ:  Hãy sống vâng phục thánh ý Chúa (Lc 1,18).  Thánh ý Chúa về ta là thế nào?  Tôi thiết nghĩ:  Trong một nơi đặt truyền giáo là ưu tiên như tại đây, thì thánh ý Chúa về ta là lời Chúa Giêsu truyền dạy các môn đệ Người, trước khi Người về trời: “Các con hãy là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem… cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Lời truyền dạy đó phải được coi là rất cần hiện nay.  Nó phải được áp dụng một cách sống động.   Nghĩa là đối với mỗi người chúng ta, ai cũng phải làm chứng về Chúa tại nơi mình đang sống, trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống mình.  Làm chứng cho Chúa tại nơi mình sống phải được coi như một nhiệm vụ sống còn.  Vì thế tôi thường nghĩ: “Làm chứng cho Chúa” tại đây lúc này là con đường tôi phải đi, để được lên trời với Đức Mẹ.

Với ý nghĩ đó, tôi xin phép chia sẻ vài suy tư, để xét mình, nhân dịp mừng lễ Mẹ lên trời.

Làm chứng cho Chúa

 Làm chứng cho Chúa là làm chứng cho Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu phán: “Các con hãy là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8).  Làm chứng cho Chúa Giêsu là làm chứng Người là Đấng Cứu thế.  Người cứu độ nhân loại bằng chịu khổ hình và sống lại.  Phúc Âm ghi rõ nội dung làm chứng: “Bấy giờ Người mở trí cho các môn đệ hiểu Kinh Thánh, và bảo: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.  Chính các con là chứng nhân của những điều này” (Lc 24,45-48).

Chắc chắn chúng ta có làm chứng cho Chúa Giêsu theo chứng từ trên đây.  Làm chứng như thế cũng đã là việc tốt.  Nhưng điều tốt hơn, mà mục vụ và truyền giáo mong muốn nơi ta, là chúng ta làm chứng Chúa Giêsu đã và đang cứu độ ta, trong chính cuộc sống cụ thể của ta, một cuộc sống có vô vàn phức tạp.  Hơn nữa, ta cũng làm chứng rằng: chính ta cũng đã và đang cộng tác với Chúa Giêsu trong việc cứu độ những người xung quanh, cả đồng bào ta.

Hôm nay, nếu tôi và nhiều người khác biết sám hối, bỏ được tội lỗi, trở về đàng lành, giải quyết được nhiều vấn đề, thì chính là nhờ ơn cứu độ của Chúa, Đấng đã chịu nạn và phục sinh cho tôi và cho mọi người.  Tin Mừng qui chiếu vào hiện tại, vào hôm nay, vào cuộc sống và vấn đề của chúng ta.  Tôi có kinh nghiệm như vậy.  Những bước đường làm chứng một cách cụ thể như thế sẽ không dễ dàng.  Nhưng chúng ta sẽ thực hiện được nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Với sức mạnh của Chúa Thánh Thần

 Khi sai các tông đồ đi làm chứng, Chúa Giêsu đã hứa: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần” (Cv 1,8).

Kinh nghiệm cho tôi hiểu lời đó thế này: Chúa Giêsu cứu độ thường đến với ta qua sức mạnh của Chúa Thánh Thần.  Sức mạnh ấy được thể hiện nhiều cách, nhất là ơn đổi mới tâm hồn.

Chẳng hạn, trước đây có những người dễ chạy theo những thú vui hưởng thụ thế gian, thì nay họ trở thành dửng dưng với những thứ đó, để hăng say chìm đắm trong sự bình an của ơn Chúa hiện diện.  Trước đây, có những tính tình rất tự phụ tự mãn, coi như đã xi măng-hoá rất vững trong chất kiêu căng, nhưng nay họ trở thành khiêm tốn nhã nhặn, từ các suy nghĩ, đến các cử chỉ thái độ và lời nói.  Các đổi mới như thế thường rất sâu xa, nhưng lại rất âm thầm.  Nơi từng cá nhân, nơi cả một tập thể.  Tôi coi những đổi mới như thế là sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Nhiều khi, nhìn thấy những sự lạ lùng mà Chúa Thánh Thần đã và đang thực hiện tại đây trong các tâm hồn giữa những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, tôi có cảm tưởng công việc Ngôi Lời nhập thể vẫn đang tiếp tục.  Rất lặng lẽ, rất ẩn dật, nhưng Chúa Thánh Thần đang đưa ơn cứu độ vào lịch sử từng người và từng địa phương.

Chính tôi đã cảm nghiệm được sự kiện đó. Chúa hiện diện trong đời tôi, nhất là trong những giai đoạn tăm tối nhất. Người hiện diện để ủi an, để nâng đỡ, để soi sáng, để thứ tha, để chia sẻ, để cải hoá, để thanh luyện.

Từ kinh nghiệm bản thân, tôi có thể tiên đoán được sự chuyển biến tốt của lịch sử đang diễn ra âm thầm, qua những đổi mới các tâm hồn, do sức mạnh của Chúa Thánh Thần.  Tôi càng có lý để tin điều đó, khi nghĩ đến sự Đức Mẹ đang đồng hành với chúng ta trên đường truyền giáo.

Nhờ Mẹ Maria cầu bầu

 Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã trối Đức Mẹ cho thánh Gioan: “Này là mẹ con” (Ga 19,26).  Tôi coi lời trối quí giá đó cũng dành cho mọi người sẽ được sai đi làm chứng cho Chúa.  Xin tạm bỏ qua lý thuyết cắt nghĩa lời đó.  Tôi chỉ xin dựa vào kinh nghiệm.  Kinh nghiệm làm chứng điều này:  Đức Mẹ giữ một địa vị rất quan trọng trong việc chúng tôi làm chứng cho Chúa.

Nhiều người biết Đức Mẹ trước khi biết Chúa.  Nhiều nơi cầu nguyện với Đức Mẹ trước khi cầu nguyện với Chúa.  Đức Mẹ là nơi ẩn náu của những ai tội lỗi, là nguồn an ủi cho những ai lo buồn.   Đặc biệt, Đức Mẹ là hy vọng của những ai bé nhỏ, mọn hèn.

Riêng với những người làm chứng cho Chúa, Đức Mẹ dạy cho họ cách riêng tinh thần khiêm tốn, khó nghèo.  Bởi vì, để làm chứng cho Đấng cứu thế là Đấng rất khiêm tốn, khó nghèo, người ta không thể phản chứng bằng đời sống của mình trái ngược với khó nghèo khiêm tốn.

Hơn nữa, Chúa chỉ ban ơn biết làm chứng về Chúa cho những ai có tinh thần khiêm tốn.  Như lời Chúa Giêsu đã nói với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn.  Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10,21).  Người sống bé mọn với Chúa, luôn là người sống bé mọn với Đức Mẹ và với Hội Thánh của Chúa.

Trên đây là một thoáng nhìn về con đường tôi theo Mẹ lên trời.  Tôi thấy rõ tôi không đi một mình.  Chúng tôi đi với nhau, trong tình hiệp thông và phấn đấu, luôn tìm vâng phục thánh ý Chúa, để làm chứng cho Đấng Cứu độ.  Người là Tin Mừng cho mọi người.  Loan báo Tin Mừng, sống Tin Mừng là con đường Mẹ đã đi để lên trời.  Con cái Mẹ cũng theo Mẹ mà đi trên con đường đó, để về trời.

GM GB. Bùi Tuần

From: Langthangchieutim