Tảng đá bị loại bỏ…không thương tiếc

Tảng đá bị loại bỏ…không thương tiếc

 

Khổng Nhuận 

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường (Mt 21 : 42)

Tảng đá bị loại bỏ này là hình ảnh của một ngôn sứ đích thực.

Trước hết Ngôn sứ, người là ai??

Trong cuốn “Thánh Gioan Thánh Giá ”, tôi rất thích thú khi biết nguồn gốc của thuật ngữ Ngôn Sứ trong tiếng Hipri: (trang 20-21)

·                Ro’eh : Người nhìn thấy

·                Nabhi : Người công bố, Người làm chứng

Sứ điệp đầu tiên của vị Ngôn sứ là cuộc sống của ông,

là kinh nghiệm riêng tư của ông về Thiên Chúa,

chính kinh nghiệm riêng tư này chứng tỏ ông là một ngôn sứ đích thực

Như vậy, ngôn sứ đích thực phải là người nhìn thấy.

Nhìn thấy gì?

Nhìn thấy Chúa thực sự sống động trong lòng mình và niềm hạnh phúc mình đang vui hưởng,

lúc đó mình mới công bố điều mình đã khám phá, đã cảm nghiệm, đã sống ngay trong đời sống bình thường của đời mình.

Nhưng thực tế cho thấy, khi ngôn sứ chia sẻ kinh nghiệm riêng tư của mình về Thiên Chúa  ..thì hầu như chẳng ai chịu đón nhận.

Họ có thể nói thẳng ra rằng:

–  Không đủ thuyết phục, vì khác với điều họ đã được dạy từ thủa còn thơ…

  Lạ tai quá, khó có thể chấp nhận… so với niềm tin truyền thống.

  Coi chừng lạc đạo đến nơi rồi… vì nó khác với gì họ đang tin tưởng.

Tại sao vậy?

Đơn giản chỉ vì, những điều anh ta chia sẻ chẳng giống ai…thậm chí có vẻ còn khác với niềm tin của mọi người từ trước tới nay

Thí dụ như :

Ai cũng coi Chúa là đấng cao sang uy quyền, phải vừa Kính vừa Sợ (như sợ cọp)!!

Anh ta lại cảm nhận Thiên Chúa là nguồn sống Thần linh.

Hoặc là:  Ai cũng tin : Chúa ngự trên trời hoặc trong phép Thánh Thể

Anh ta lại cứ một mực quả quyết rằng : Chúa sống ngay trong lòng mình

Chính vì thế người ta hè nhau loại trừ anh ta bằng nhiều kiểu khác nhau:

Nghe cho vui, chẳng hề quan tâm..tôi cứ vừa Kính vừa Sợ Chúa… giống như người khác cho chắc ăn – ai sao tôi vậy –  có vẻ giống đàn cừu quá nhỉ???

Sau khi anh ta tuyên bố gì đó, với tư cách huynh trưởng, tôi vẫn cảm thấy có bổn phận buộc phải giáo huấn các thành viên phải tuân theo những gì đã được dạy, không thể suy nghĩ khác, không thể sống khác kẻo vi phạm truyền thống từ xưa tới nay…

Hoặc sau khi anh ta chia sẻ điều gì đó có vẻ khác với điều tôi tin tưởng, tôi lập tức đứng lên để chấn chỉnh ngay kẻo sợ rằng các thành viên đi lạc đường

Còn chuyện các thành viên có lớn lên trong Chúa hay không, tôi chẳng quan tâm.

Bằng chứng là khi mới gia nhập cộng đoàn, các thành viên có vẻ phấn khởi vì nhận được một vài điều mới mẻ.

Nhưng….sau khi gia nhập cộng đoàn 10 năm, các thành viên vẫn dậm chân tại chỗ. Chia sẻ Lời Chúa hàng tháng vẫn cứ như vịt nghe sấm hoặc chia sẻ như những anh mù sờ voi…

Cùng lắm chúng tôi chỉ có vẻ đạo đức hơn người… nhưng con người nội tâm đích thực vẫn như trẻ suy dinh dưỡng trường kỳ

Tóm lại, bỗng nhiên gặp một tay suy tư, ăn nói khác người, chúng tôi phải tìm cách triệt ngay kẻo anh ta làm rối loạn cộng đoàn, khiến cho các thành viên hoang mang

Thực vậy, với chiêu bài bảo vệ sự ổn định cộng đoàn…

Chúng tôi cùng nhau quyết chí ra tay loại bỏ tảng đá này… không thương tiếc

 

TAM VỊ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN

TAM VỊ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN

Tên các Tổng lãnh Thiên thần (TLTT) đều có tiếp vĩ ngữ “el”: Michael (Việt ngữ là Micae), Raphael, Gabriel.  “El” nghĩa là “trong Thiên Chúa” còn Angel là Thiên thần.  Tổng lãnh Thiên thần có thể xuất hiện cùng lúc ở nhiều nơi.  Trong các Tổng lãnh Thiên thần có 3 vị “nổi tiếng” là Micae, Raphael, và Gabriel được mô tả trong Kinh thánh.  Thế kỷ VIII, Kitô giáo đã biết tôn sùng các Thiên thần. 

Micae nghĩa là “Người giống Thiên Chúa” hoặc “Giống như Thiên Chúa”.  Micae là Thiên thần đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, là vị trưởng trong các TLTT, có nhiệm vụ bảo vệ, khuyến khích, về sức mạnh, sự thật và chính trực.  TLTT Micae bảo vệ chúng ta về thể lý, tâm lý và tình cảm.  Ngài cũng giám sát mục đích sống của chúng ta.  Chức năng chính của ngài là loại bỏ những điều xấu.  TLTT Micae cầm gươm lửa để bảo vệ chúng ta khỏi Satan và những điều tiêu cực.  Khi có ngài ở bên, bạn có thể thấy lấp lánh ánh sáng xanh hoặc đỏ.  Hãy cầu xin TLTT Micae nếu bạn thấy mình bị tấn công về tâm lý hoặc thiếu can đảm giữ lời hứa, thiếu động lực, thiếu lòng tin, thiếu can đảm, mất phương hướng, thiếu nghị lực, thiếu sức sống, thiếu tự tin, và cảm thấy bất xứng.  TLTT Micae giúp chúng ta nhận biết mục đích sống và giúp bảo vệ.

Micae đã chiến thắng Satan (thiên thần sa ngã), ở trong Vườn Địa Đàng để dạy cho Adam cách gieo trồng và chăm sóc gia đình, nói với Môsê trên Núi Sinai, và năm 1950 ngài được tôn vinh là Thánh Micae, “bổn mạng của cảnh sát”, vì ngài giúp can đảm và anh dũng.  Ngài cũng có “bí quyết lạ” về sửa các thiết bị điện và máy móc, kể cả máy tính và xe cộ.  Nếu xe bị hư, hãy cầu xin TLTT Micae!  Ngài giúp chúng ta hành động theo sự thật mà không thỏa hiệp với tính liêm chính và giúp chúng ta tìm ra bản chất và vẫn là chính mình.  Ngài hay giúp đỡ nên khi gặp khó khăn trong công việc, khi bị chứng nghiện nào đó, khi bị bệnh, khi đau khổ, hoặc gặp ác mộng, hãy cầu xin TLTT Micae!

Raphael nghĩa là “Sức mạnh Chữa lành của Thiên Chúa” hoặc “Thiên Chúa chữa lành”.  Chữ Rapha trong tiếng Do Thái nghĩa là “bác sĩ” hoặc “người chữa lành”.  TLTT Raphael giúp chúng ta mau lành bệnh về thể lý và tinh thần nếu chúng ta cầu xin ngài.  Kinh thánh kể chuyện ông Abraham khỏi đau sau khi ông chịu phép cắt bì.  Bạn cũng có thể cầu xin TLTT Raphael thay cho người khác.  TLTT Raphael là người dễ gần gũi và vui vẻ nhất trong các Thiên thần.  Ngài thường được vẽ là người vui vẻ nói chuyện với người khác.  Ngài rất ngọt ngào, yêu thương, tử tế và hiền từ, khi bạn thấy những tia sáng xanh là ngài đang ở gần bạn.  Ngài thường hoạt động với TLTT Micae để trừ các thực thể xấu và luôn “hộ tống” mọi người ở khắp nơi.

Là người chữa lành, TLTT Raphael là “bổn mạng của các du khách” vì ngài đã giúp ông Tôbia trong cách hành trình.  Hãy cầu xin TLTT Raphael khi bạn đi du lịch hoặc đi đây đi đó để được bình an trong chuyến đi.  Ngoài ra, ngài còn giúp việc chuyên chở, cư trú và đồ đạc an toàn.  Ngài cũng nâng đỡ các chuyến hành trình tâm linh, giúp tìm kiếm chân lý và hướng dẫn.

TLTT Raphael dạy ông Tôbia cách làm hương liệu và dầu thơm bằng cá và đã chữa khỏi mù cho người cha của ông Tôbia.  Ngài được cầu xin giúp các y bác sĩ, các thầy thuốc, các nhà trị liệu và các bác sĩ phẫu thuật.  Hãy cầu xin ngài nếu bạn là sinh viên trường y hoặc đang học chữa bệnh và xin ngài giúp bạn học tập tốt.  Ngài không chỉ giúp chữa lành về thể lý và tâm lý, mà ngài còn chữa lành các vết thương lòng từ quá khứ.

Trong các lĩnh vực khác, TLTT Raphael còn giúp tìm lại những thứ bị thất lạc, giúp cai nghiện, giúp sáng suốt, tạo tình đoàn kết. Hãy cầu xin TLTT Raphael!

Gabriel nghĩa là “Sức mạnh của Thiên Chúa” hoặc “Thiên Chúa là Sức mạnh của tôi”.

Chỉ có TLTT Gabriel được mô tả là nữ giới trong nghệ thuật và văn chương, ngài là “sứ giả” và là một trong các TLTT có tên trong truyền thống Do Thái, được coi là một trong hai Thiên thần cao cấp theo truyền thuyết Do Thái giáo và Hồi giáo.  Ngoài TLTT Micae, TLTT Gabriel là Thiên thần duy nhất được nhắc đến trong Cựu ước.  Ngài là TLTT quyền thế và mạnh mẽ, những ai kêu cầu ngài sẽ cảm thấy muốn hành động và sẽ có kết quả tốt.

TLTT Gabriel là người đã truyền sứ điệp cho Thánh Êlidabét và Đức Mẹ Maria về việc thụ thai và sinh con, là Thánh Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu thành Nadarét.  Nếu bạn sắp lập gia đình, hãy cầu xin TLTT Gabriel giúp bạn trong việc thụ thai, sinh sản và dạy dỗ con cái.

TLTT Gabriel có thể giúp chúng ta về nghệ thuật và giao tiếp.  Ngài sẽ hành động như một huấn luyện viên, gợi cảm hứng và kích thích các nghệ sĩ, các nhà báo và những người làm việc về truyền thông, ngài giúp hành động một cách can đảm và mau mắn.

Ngài cũng giúp chúng ta nhận biết ơn gọi đích thực của mình.  Hãy cầu xin ngài hướng dẫn nếu bạn đi không đúng đường tâm linh, nếu bạn muốn hiểu cuộc sống và mục đích sống.  Nếu bạn dự định chuyển nhà, mua bán công to việc lớn hoặc muốn đổi nghề, hãy cầu xin TLTT Gabriel!

Cũng hãy cầu xin ngài nếu cơ thể bạn bị ngộ độc hoặc đầu óc nghĩ về những chuyện xấu, ngài sẽ giúp bạn thanh tẩy hồn xác.  Các phụ nữ bị hãm hiếp hoặc bị quấy rối tình dục, rồi cảm thấy mình ô uế, bị dằn vặt, hãy cầu xin TLTT Gabriel!

Trầm Thiên Thu
(Chuyển ngữ từ AngelFocus.com)

Ở cũng bâng khuâng, đi chẳng đành,

Suy Tư Tin Mừng trong tuần thứ 26 thường niên năm A 01/10/2017

(Mt 21: 28-32)

            Khi ấy Đức Giêsu nói với các thương tế và kỳ mục trong dân rằng:

“Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Nó đáp: “Con không muốn đâu!” Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: “Thưa ngài, con đây!” nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Họ trả lời: “Người thứ nhất.” Đức Giêsu nói với họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”

& & &

 “Ở cũng bâng khuâng, đi chẳng đành,”

“đêm trời, sao cũ sáng long lanh.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

  Mai Tá lược dịch. 

 Bâng khuâng đi chẳng đành, nên người đời có ra đi nhưng miệng mồm nào đã nói. Đêm trời sáng long lanh, nên đời người dù có hứa, nhưng chân mình rày chẳng buớc. Chẳng bước đi, dù miệng mình vẫn cứ nói. Nói và làm, trình thuật thánh sử viết hôm nay.

Trình thuật thánh Mát-thêu nay kể về dụ ngôn hai người con có những lời lẽ và lập trường thực hiện rất khác biệt. Cả hai hành xử kiểu đối nghịch. Người con đầu nói mình sẽ không làm điều cha muốn, nhưng cuối cùng vẫn thực hiện. Còn người kia, tuy nói làm nhưng lại không thực hiện lời mình nói. Tức, một người những nói và nói, nhưng không làm. Còn người kia, vẫn làm mà không cần nói. Dụ ngôn đây cho thấy: chính hành động nói nhiều hơn lời nói, ngoài cửa miệng.

Thời của Chúa, dụ ngôn được dùng như huấn dụ để khen ngợi những người hành động thiết thực hơn là nói. Bằng dụ ngôn này, Chúa bênh vực đám người bị khích bác, chê bai như đám đĩ điếm, dân thu thuế bệ rạc hơn giới thượng lưu, Pharisêu, ký lục chỉ nói và nói chứ chẳng làm gì để đổi thay con người mình. Thời của thánh Mát-thêu sau đó, dụ ngôn còn được dùng để đề cao người ngoại đạo hơn một số người Do thái cứ tự hào mình chuyên chăm đạo hạnh. Thế kỷ 20 lại dùng dụ ngôn hôm nay nhằm nâng đỡ đám người nghiện ngập dám làm sửa đổi chính mình hơn những người chỉ những nói và nói, khiến người khác bị khùng điên.

Áp dụng vào nhà Đạo, thấy dân con Đạo mình nhiều lúc có cả hai. Tức, nhiều khi ta những nói và nói, mà không làm. Có những lúc, ta vẫn làm mà chẳng nói, lấy một lời. Điều này làm ta nhớ về nhân vật trong phim dài nhiều tập có đầu đề “Cha Phó Xứ Đạo Dibley” luôn bắt đầu câu nói của ngài bằng những tiếng “Không! không! và không!” để rồi sau đó kết thúc bằng chữ “Có”. Có làm thực. Có hợp tác. Và đôi lúc nghĩ lại thấy mình từng nói “Có! có! Nhất định sẽ làm”, nhưng cuối cùng vẫn thành: Không! Không làm. Và cũng chẳng làm điều mình từng nói từng hứa, giống nhiều người trong ta.

Đi vào thực tế, giống truyện kể về cuối buổi lễ, các vị chủ tế có thói quen đứng ở cuối nhà thờ nói năng chào hỏi hết mọi người. Có lần, vị linh mục hỏi một giáo dân: tuần sau có đi lễ không đó? Rất nhiều người cứ trơn tru trả lời: “Dạ thưa cha, có chứ!” Thưa thì thưa “có”, nhưng các tuần sau đó lại khó mà thấy mặt vì nhiều lý do. Chính đó, là hiện trạng của người đi Đạo ở trời Tây, hôm nay. Hôm nay đây, có thể cũng có người lúc đầu tình thật không dám nói, nhưng sau đó suy đi nghĩ lại, vẫn cứ đến. Có người coi đây là chuyện linh mục không nên hỏi, vì ai nào dám thưa.

Nghiên cứu khảo sát hôm nay nhiều khi cho thấy: thế hệ trẻ hôm nay, và cả người cao niên cũng thế, lại cứ tính chuyện lời lãi mỗi khi được hỏi, ở nhà thờ hay ngoài ngõ, về bất cứ chuyện gì cần lấy ý kiến. Nói chung, nhiều người chỉ muốn dính dự vào các cuộc khảo sát với phỏng vấn khi biết mình chắc chắn có được lợi lộc, nếu trả lời. Tức là, họ chỉ muốn làm người dưng, trên trời rơi xuống. Chẳng muốn dính vào chuyện gì, dù thuộc vấn đề trong Đạo. Quần chúng hôm nay ra như lạc lõng ở đâu đó. Chẳng muốn ai ngó ngàng hỏi han mình điều gì, dù là ý kiến riêng tư. Kín đáo. Hoặc ép buộc. Khi xưa, ở phương Tây, các linh mục còn có thói quen đến từng nhà thăm viếng, hỏi han về cuộc sống của mỗi người. Ngày nay, làm thế tức vi phạm đời tư, rất nguy hiểm và dễ bị ra toà.

Nhiều năm về trước, mỗi khi có đề tài cần hỏi han góp ý hay tranh luận ở giáo xứ, còn có người chủ trương phóng khoáng. Bảo thủ. Hoặc trung lập. Ngày hôm nay, lại đã thấy những người như thế đi đâu mất. Hoặc, họ còn đó nhưng chẳng thiết tha gì chuyện bàn luận hay tranh đấu cho sự sống còn của Hội thánh. Nói chung, người đạo hạnh hôm nay không còn muốn dính dự vào chuyện chung của Hội thánh. Nhiều vị vẫn lành thánh, chuyên chăm chuyện lễ lạy, đạo hạnh. Nhưng không còn thiết tha chuyện tham gia nhóm hội đoàn thể có sinh hoạt tập thể, năng nổ tích cực. Mà chỉ muốn rút vào vỏ sò, sống riêng rẽ, cho khoẻ.

Nhiều người nhận ra rằng: thế giới nhà đạo họ đang sống nay khác trước rất nhiều. Khác nhiều thế giới của người phàm thực tế luôn trong sáng. Đầy dẫy thông tin. Đủ mọi chọn lựa. Nên, họ vẫn hết mình với mọi người. Nơi sở làm, ngừời người đều hăng say trách nhiệm. Vẫn cứ làm, vì chuyện chung. Nhưng trong Hội thánh, nhiều người đã bắt đầu ít nói. Không cà kê như trước. Dù, chuyện hội đoàn.

Thế nên, khi hỏi: “Anh/chị tính sao? Có định tham dự chầu Thánh Thể thứ sáu này chứ?” Câu trả lời thường là: “Không dám đâu! Tụi này bận lắm. Chẳng kiếm đâu ra giờ, để đi chầu!” Nếu hỏi: “Anh/chị tính sao? Có định tham gia biểu tình phản đối đôi ba chuyện chính phủ làm không?” Câu trả lời, chắc cũng thế. Giống như người hành tinh vừa chợt ghé bến. Không chuyện trò, cũng không trao đổi. Chẳng bước đi về nhiều phía.

Dụ ngôn hôm nay, câu Chúa hỏi cũng tựa như thế: “Các ông nghĩ sao?” Hỏi như thế, không có nghĩa Chúa yêu cầu ta bắt chước những người chỉ biết nói chứ không làm, hoặc chỉ làm chứ không nói. Chúa không có ý khen ngợi hai lớp người nói ở trên. Ngài cũng chẳng giải thích sao Ngài lại không làm thế. Hoặc, vẫn làm như thế. Ngài chẳng nói hoặc có nói, bất cứ thứ gì. Ngài cũng không đi vào chi tiết để cho biết tại sao Ngài có lập trường như vậy. Dù, lập trường đó có là bê trễ, biếng nhác. Dù, đó có là kế hoạch, hoặc cảnh tình nào đó khó đoán. Dù, đó là chuyện đáng quên đi. Hoặc, chẳng lý gì về công kia việc nọ, cần công chúng tôn trọng. Điều Ngài hỏi chỉ là: “Các ông nghĩ sao?”

Liên tưởng chuyện này, có thể ta sẽ nghĩ mình đang đi vào loại hình nào đó của Hội thánh, vào thời buổi rất khác trong lịch sử. Một Hội thánh từng đòi rất ít ở dân con trong Đạo. Đòi và hỏi, về thời gian và thiện chí. Một Hội thánh không đòi những gì là ngoại lệ, nơi con người. Một thánh hội từng học hỏi cung cách biết tôn kính hết mọi người. Tôn và kính, chuyện riêng tư của dân con nhà Đạo. Học hỏi và trân trọng, việc phục vụ họ hơn việc sắp xếp để họ phục vụ Hội thánh, mà thôi.

Phục vụ dân con, còn có nghĩa: không dùng bạo động để dính dự cuộc sống đích thực của dân con. Phục vụ dân con, còn có nghĩa: tôn trọng phẩm cách tư riêng của mỗi người. Chính đó là nền tảng của việc yêu thương lẫn nhau. Nền và tảng, của việc trở nên cộng đoàn dân con sống thân thương như thế. Nền và tảng, để dân con sống, với lập trường hăng say đi đến mà nhận lãnh Thánh Thể Tình Yêu đích thật, ngày Chúa Nhật. Đó là những người con đang sống rất khác biệt. Sống rất đẹp, ở thế giới cuộc đời, cũng rất thực. Một đời người, luôn tham gia giùm giúp rất đắc lực.

Bởi thế nên, lời Chúa ở dụ ngôn hôm nay với câu hỏi: “Các ông nghĩ sao?” sẽ là lời nhắc nhở về động thái ta phải có trong đời, với người đời. Dù, người đó có là bạn đạo hay bạn đời, cũng như thế.

Trong cảm nhận tình Ngài thương ta qua câu hỏi ấy, cũng nên ngâm lại lời thơ trên, để còn nhớ:

“Tôi cũng chưa đi hết dặm đường,

Đời dài, mới đến nửa sầu thương.

Một đêm trở bước cho lòng nghĩ,

Sao biếc rơi tàn mộng phấn hương.”

(Đinh Hùng – Đêm Khuya Trờ Bước)

Trở bước hay cất bước, để rồi đi. Đi rồi, sẽ nhớ lời Thầy dặn. Dù đời mình ra sao đi nữa, vẫn cứ bước. Cứ ra đi rao truyền lời Thầy vẫn hỏi và vẫn răn dạy. Để rồi, mọi người tin vào Thầy. Ở đây. Bây giờ.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn – 

 Mai Tá lược dịch. 

THỰC THI Ý CHÚA

 THỰC THI Ý CHÚA

      Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con.  Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!”  Nó thưa lại rằng: “Con không đi.”  Nhưng sau nó hối hận và đi làm.  Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy.  Nó thưa lại rằng: “Thưa cha, vâng, con đi.  Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?”  Họ đáp: “Người con thứ nhất.”  Chúa Giêsu bảo họ: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông.  Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài.  Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài” (Mt 21:28-32)

 ****************************** **

Qua đoạn Tin Mừng trên chúng ta thấy Thiên Chúa đã trao ban cho con người sự tự do.  Và với sự tự do này, con người có thể bước theo Chúa nhưng cũng có thể quay lưng chống lại Ngài.  Con người có thể vâng theo thánh ý Chúa nhưng cũng có thể từ khước đường nẻo của Ngài.  Thế nhưng điều quan trọng hơn đó là Thiên Chúa sẽ xử sự với chúng ta tuỳ theo việc chúng ta có hay không thực thi thánh ý Ngài, chứ không tuỳ thuộc vào lời nói của chúng ta.

     Trong hai người con, người được coi là đã thực thi ý định của cha không phải là người đã mau mắn trả lời vâng trước lệnh truyền của cha, nhưng trong hành động thì lại không làm.  Mà chính là người tuy đã trả lời không, nhưng trong thực tế lại đi làm điều người cha truyền dạy.

     Trong xã hội thời Chúa Giêsu cũng như thời nay, vẫn có những hạng người tỏ ra ngoan đạo, công chính, siêng năng với các việc đạo đức, kinh hạt, nhà thờ nhà thánh.  Lời nói thì đầy vẻ thuần phục đối với các giáo huấn của Chúa, nhưng trong hành động lại chẳng có chút vẻ gì là ưng thuận đối với điều Chúa truyền dạy. Những người bề ngoài xem ra dễ bảo, nhưng thực chất lại là người khó dạy.  Họ đã có thể đánh lừa được dư luận vì cái mau mắn bên ngoài của họ.

     Trong xã hội thời Chúa Giêsu, những người này tượng trưng nơi hàng tư tế, đầu mục, nhóm biệt phái và thông luật.  Tuy đánh lừa được dư luận, nhưng thực ra, họ đã đánh mất chỗ của họ trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.  Thế vào chỗ của họ lại là những người thu thuế, những gái điếm, những người mà ai cũng biết là đang vi phạm ý Chúa, được bày tỏ trong lề luật và trong giới răn của Ngài.  Họ là những người qua lối sống của mình, đã nói không trước lệnh truyền của Chúa.  Nhưng một lúc nào đó, những người này đã nhận ra sự sai trái của mình, đã biết hối cải và đi làm điều Chúa truyền dạy.  Họ là những người được giáo huấn và những việc làm của Ngài lay động, làm thức tỉnh, thay đổi hẳn cuộc sống của họ.  Họ là người đàn bà xứ Samaria gặp Chúa bên giếng nước; là ông Giakêu được Chúa viếng thăm; là bà Maria xức dầu cho Chúa; là tên trộm cướp bị đóng đinh bên cạnh Chúa; là tất cả những kẻ tội lỗi biết hối cải.  Vấn đề chính yếu là làm theo ý Chúa. 

    Thế nhưng, người ta lại thường hay tự mãn với một nhãn hiệu, một dấu chỉ bên ngoài nào đó.  Chẳng hạn tự hào là người công giáo ngoan đạo, chúng ta khó mà nghĩ đến việc trở lại, mở rộng cửa tâm hồn đón nhận cái mới, cái bất ngờ, cái chưa được nghe biết bao giờ.

     Dụ ngôn cho chúng ta thấy trở ngại lớn nhất trên đường vào Nước Trời không phải là tội lỗi mà là sự ngủ mê giữa những tiêu chuẩn đạo đức được chúng ta dựng nên, sự sợ hãi phải đặt lại vấn đề những cái mà chúng ta đã xác tín.  Tuy nhiên, có đặt lại vấn đề như thế, chúng ta mới nhận biết được thánh ý Chúa và mới đi đúng con đường Chúa muốn chúng ta đi.

     Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết can đảm đặt lại vấn đề với chính mình, nhìn lại cách mình đang sống đạo để xem Chúa đang ở đâu trong đời sống chúng con.  Xin mở mắt tâm hồn để chúng con nhìn ra thánh ý Chúa và giúp chúng con hiểu rằng lắng nghe lời Chúa không chưa đủ, mà còn phải sống theo thánh ý Chúa muốn.  Amen.

 Sưu tầm

    From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

THỰC THI Ý CHÚA

THỰC THI Ý CHÚA

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con.  Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!”  Nó thưa lại rằng: “Con không đi.”  Nhưng sau nó hối hận và đi làm.  Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy.  Nó thưa lại rằng: “Thưa cha, vâng, con đi.  Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?”  Họ đáp: “Người con thứ nhất.”  Chúa Giêsu bảo họ: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông.  Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài.  Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài” (Mt 21:28-32)

****************************** **

Qua đoạn Tin Mừng trên chúng ta thấy Thiên Chúa đã trao ban cho con người sự tự do.  Và với sự tự do này, con người có thể bước theo Chúa nhưng cũng có thể quay lưng chống lại Ngài.  Con người có thể vâng theo thánh ý Chúa nhưng cũng có thể từ khước đường nẻo của Ngài.  Thế nhưng điều quan trọng hơn đó là Thiên Chúa sẽ xử sự với chúng ta tuỳ theo việc chúng ta có hay không thực thi thánh ý Ngài, chứ không tuỳ thuộc vào lời nói của chúng ta.

Trong hai người con, người được coi là đã thực thi ý định của cha không phải là người đã mau mắn trả lời vâng trước lệnh truyền của cha, nhưng trong hành động thì lại không làm.  Mà chính là người tuy đã trả lời không, nhưng trong thực tế lại đi làm điều người cha truyền dạy.

Trong xã hội thời Chúa Giêsu cũng như thời nay, vẫn có những hạng người tỏ ra ngoan đạo, công chính, siêng năng với các việc đạo đức, kinh hạt, nhà thờ nhà thánh.  Lời nói thì đầy vẻ thuần phục đối với các giáo huấn của Chúa, nhưng trong hành động lại chẳng có chút vẻ gì là ưng thuận đối với điều Chúa truyền dạy. Những người bề ngoài xem ra dễ bảo, nhưng thực chất lại là người khó dạy.  Họ đã có thể đánh lừa được dư luận vì cái mau mắn bên ngoài của họ.

Trong xã hội thời Chúa Giêsu, những người này tượng trưng nơi hàng tư tế, đầu mục, nhóm biệt phái và thông luật.  Tuy đánh lừa được dư luận, nhưng thực ra, họ đã đánh mất chỗ của họ trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.  Thế vào chỗ của họ lại là những người thu thuế, những gái điếm, những người mà ai cũng biết là đang vi phạm ý Chúa, được bày tỏ trong lề luật và trong giới răn của Ngài.  Họ là những người qua lối sống của mình, đã nói không trước lệnh truyền của Chúa.  Nhưng một lúc nào đó, những người này đã nhận ra sự sai trái của mình, đã biết hối cải và đi làm điều Chúa truyền dạy.  Họ là những người được giáo huấn và những việc làm của Ngài lay động, làm thức tỉnh, thay đổi hẳn cuộc sống của họ.  Họ là người đàn bà xứ Samaria gặp Chúa bên giếng nước; là ông Giakêu được Chúa viếng thăm; là bà Maria xức dầu cho Chúa; là tên trộm cướp bị đóng đinh bên cạnh Chúa; là tất cả những kẻ tội lỗi biết hối cải.  Vấn đề chính yếu là làm theo ý Chúa.

Thế nhưng, người ta lại thường hay tự mãn với một nhãn hiệu, một dấu chỉ bên ngoài nào đó.  Chẳng hạn tự hào là người công giáo ngoan đạo, chúng ta khó mà nghĩ đến việc trở lại, mở rộng cửa tâm hồn đón nhận cái mới, cái bất ngờ, cái chưa được nghe biết bao giờ.

Dụ ngôn cho chúng ta thấy trở ngại lớn nhất trên đường vào Nước Trời không phải là tội lỗi mà là sự ngủ mê giữa những tiêu chuẩn đạo đức được chúng ta dựng nên, sự sợ hãi phải đặt lại vấn đề những cái mà chúng ta đã xác tín.  Tuy nhiên, có đặt lại vấn đề như thế, chúng ta mới nhận biết được thánh ý Chúa và mới đi đúng con đường Chúa muốn chúng ta đi.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết can đảm đặt lại vấn đề với chính mình, nhìn lại cách mình đang sống đạo để xem Chúa đang ở đâu trong đời sống chúng con.  Xin mở mắt tâm hồn để chúng con nhìn ra thánh ý Chúa và giúp chúng con hiểu rằng lắng nghe lời Chúa không chưa đủ, mà còn phải sống theo thánh ý Chúa muốn.  Amen.

 Sưu tầm

From langthangchieutim

12 TÔNG ĐỒ CÁC NGÀI SỐNG Ở ĐÂU VÀ CHẾT NHƯ THẾ NÀO SAU NGÀY CHÚA VỀ TRỜI

12 TÔNG ĐỒ CÁC NGÀI SỐNG Ở ĐÂU VÀ CHẾT NHƯ THẾ

NÀO SAU NGÀY CHÚA VỀ TRỜI

Trần Mỹ Duyệt

Những ngày xa xưa, buổi đầu của biến cố Tin Mừng được rao giảng. Chúa Giêsu đãđích thân tuyển chọn 12 người để cộng tác với Người trong việc rao truyền Tin Mừng cứu độ. Tin Mừng ghi:

“Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm, Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ: Ðó là Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.” (Luca 6:12-16)

Ngoại trừ một vài Tông Đồ được nhắc đến về số phận và cái chết của họ trong Tin Mừng như Phêrô, Gioan, ngay cả Giuđa, số còn lại ít ai được biết tới. Chúng ta muốn biết là sau khi Chúa Giêsu về trời thì số phận của họ như thế nào?!! Theo Thánh Kinh thì sau khi Chúa chịu chết, sống lại và về trời, đặc biệt, sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thì đời sống của các Tông Đồ đã thay đổi hoàn toàn. Các ông không còn rụt rè, nhút nhát, sợ sệt, nhưng đã mạnh dạn, can đảm rađi để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Vậy họ đã làm gì? Sống và chết ra sao?

Sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ trở lại Giêrusalem và cầu nguyện 10 ngày như Chúa Giêsu đã căn dặn (Acts 1:4). Các ông nhận lãnh Thánh Thần trong lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Acts 2). Lịch sử của Giáo Hội đã khai mở, nhưng ngoài những gì được ghi trong các Phúc Âm, trong Tông Đồ Công Vụ, trong các Thánh Thư, đặc biệt là những thư của Phaolô, chúng ta biết rất ít về số phận các tông đồ, mặc dù chúng ta vẫn tin tưởng rằng các ông đã đi rất xa tận cùng tráiđất để rao giảng về Chúa Giêsu. Các ông đã đau khổ vì đức tin, và đã bị chết một cách đau đớn để trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng mà các ông rao giảng.

13 Tông Đồ gồm Matthias thay thế Giuđa, Phaolô, Tông đồ dân ngoại do Chúa Giêsu chọn trên đường đi Damas, đều được cho là đã hy sinh mạng sống mình vì danh Chúa Giêsu trong khi rao truyền danh thánh ấy cho muôn dân. Phaolô bị chặt đầu bằng gươm, vì ông có quốc tịch Rôma. Ông bị hành hình dưới thời hoàngđế Neron năm 33 AD. Cuộc đời của Phaolô, ơn gọi đặc biệt của ông, cuộc trở lại diệu kỳ của ông, hành trình truyền giáo của ông, cũng như những tư tưởng phi thường của ông đã được ghi rõ trong Tông Đồ Công Vụ và các thư do ông viết. Số còn lại:

1.Andrê – Ngư phủ từ Galilee, em của Phêrô. Nguyên thủy ông là môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mark 1:16-18). Sau khi cùng anh là Phêrô bỏ nghề chài lưới theo Chúa, ông thuộc số những tông đồ đầu tiên của Người.

Ông giảng đạo cho người Scythians và Thracians. Bị đóng đinh và an táng tại Patrae (Hy Lạp). Theo Hippolytus, Andrê giảng đạo tại Georgia/Bulgaria ngày nay, phần đất nối liền với Hắc Hải gần Thổ Nhĩ Kỳ. Ông bị đóng đinh tại Achaia, treo trên một cây Olive tại Patrae, thành Achaia, Hy Lạp và được an táng tại đây.Eusebius trong lịch sử của Giáo Hội đã dùng tài liệu của Origen để xác định rằng Andrê giảng đạo tại Scythia. Trong Chronicle of Nestor thêm rằng, ông giảng đạo dọc theo Hắc Hải (Black Sea) và sông Dnieper tới mãi tận Kiev, và từ đó di chuyển đến Novgorod. Do đó, ông trở thành Bổn Mạng của nước Ukraine, Romania và Nga. Theo tương truyền, ông lập tòa ở Byzantium (Constantinople và Istanbul sau này) năm 38 AD, mà sau này biến thành tòa thượng phụ Constantinople, và đã đặt Stachys là Giám Mục. Cả Andrê và thánh Stachys đều được coi là quan thầy của Tòa Thượng Phụ.

Andrê được miêu tả là bị đóng đinh ở Patras (Patrae) thuộc Achaea. Những tài liệu trước đó trong Công Vụ của Andrê (Acts of Andrew) như Gregory of Tours đã cho rằng ông bị trói chứ không phải bị đóng bằng đinh vào một loại thập giá gọi là thập giá Latin có hình chữ X. Cái chết của ông, theo nhà sử học thuộc thế kỷ 15, là Dorman Newman, khi ở Patras thuộc đông Hy Lạp năm 69 AD, vị Tổng Đốc Rôma là Aegeates ở đây đã tranh luận với ông về tôn giáo. Aegeates đã cố gắng thuyết phục Andrê từ bỏ Kitô giáo để tránh bị tra tấn và xử hình. Cuối cùng ông bị đánhđòn và sau đó bị đóng đinh. Ông đã sống thoi thóp trên thập giá 2 ngày, và không ngừng rao giảng Tin Mừng cho những người qua lại. Tại Hy Lạp gần Ethiopia vẫn còn dấu tích mộ của ông.

Ngoài ra, Scots cũng cho rằng Andrê cũng đã đến giảng đạo tại Picts (vì vậy họ dùng cây thập giá của Thánh Andrê trên quốc kỳ của họ).

2.Bathôlômêô – Ông là người từ Cana, Galilee với tên gọi Nathanael. Trong Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius, sau khi Chúa về trời, Barthôlômêô sang truyền giáo tại Ấn Độ. Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng ông đã truyền rao Tin Mừng tại Ethiopia, Mesopotania, Parthia, và Lycaonia. Nhưng phần đông vẫn cho rằng ông giảng đạo tại Ấn Độ, và sau này đến Greater Armenia.

Theo truyền tụng đại chúng của người Armenians, Tông Đồ Jude (Thaddaeus) là người đầu tiên đến truyền giảng Tin Mừng trong vùng này từ năm 43-66 AD. Năm 60 AD, Barthôlômêô đã đến cùng truyền đạo với ông. Khi đến nơi, ông đã mang theo Phúc Âm của Mátthêu, và đã dịch Phúc Âm này sang tiếng địa phương. Barthôlômêô tử đạo tại Albanopolis, Armenia năm 68 AD.

Nhiều tài liệu khác nhau về cái chết của ông, một số cho rằng ông bị chém đầu. Một số khác thì ông bị lột da sống và chịu đóng đinh ngược đầu do lệnh truyền của Astyages. Lý do vì ông đã cải đạo Polymius em của Astyages, vua xứ Armenia.

3.Giacôbê – Con của Alphaeus chứ không phải là con của Zebedee, và do đó, ông cũng không phải là anh em với Gioan. Tên của ông được xuất hiện trong Mt 10:1-3, Mark 3:14-19, Luca 6:13-16, và Acts 1:13. Mẹ của ông là Maria, một trong những phụ nữ ra viếng mộ Chúa Giêsu và thấy mộ trống trong buổi sáng Phục Sinh. Ôngđược gọi là Giacôbê Trẻ hay Giacôbê Hậu để phân biệt với Giacôbê Tiền hay Giacôbê Cả là anh của Gioan.

Cũng vì cha ông là Alphaeus, nên ông thường bị cho là anh em với Matthêu.

Sau khi Chúa về trời, ông truyền rao Tin Mừng trong phạm vy Giêrusalem. Ông là một trong những vị Tông Đồ sống lâu nhất, có lẽ còn hơn cả Gioan. Ông qua đời năm 94 tuổi. Trước hết bị đánh đòn, và bị ném đá. Sau đó bị đánh vào đầu bằng một cây gậy. Tuy nhiên, theo Hippolytus, thì ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem. Và ông được mai táng bên cạnh đền thờ năm 62 AD.

4.Giacôbê – Con của Zebedee người làng Bethsaida, và là anh của Gioan. Ông và em ông là anh em họ với Chúa Giêsu. Để phân biệt với Giacôbê con ông Alphaeus, ông được gọi là Giacôbê Cả. Tên của Ông không rời xa tên em Ông là Gioan trong Mark 1:19-20; Mt 4:21), và Luca 5:1-11). Ông là Tông Đồ đầu tiên bị tử đạo năm 44 AD.

Là ngư phủ sinh sống quanh Bethsaida, Capernaum và Giêrusalem. Ông cùng emđã bỏ chài lưới đi theo Chúa Giêsu khi Người gọi hai ông, lúc hai ông đang vá lưới dưới thuyền với cha mình. Ông và em ông được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh là con sấm sét.

Rao giảng tại Giuđêa và bị quận vương Herod Agrippa chém đầu và được an táng ở Giuđêa (Tông Đồ Công Vụ 12:2). Hippolytus xác nhận cái chết của Ông. Eusebius đã diễn tả chi tiết hơn. Đầu tiên là Stêphanô bị ném đá, rồi tiếp đến là Giacôbê bị chém đầu.

Lý do ông bị chết vì Herod Agrippa, quận vương mới của Judea muốn chứng tỏ mình trung thành với người Rôma bằng cách bắt bớ những thủ lãnh các tôn giáo. Sau khi Giacôbê bị bắt và bị dẫn đi hành hình, người tố cáo ẩn danh ông đã xúc động do lòng can đảm của ông, nên không những đã xin theo đạo, mà còn xin được chết chung cùng với Giacôbê. Đề nghị đã được chấp thuận và cả hai đã bị chém đầu.

5.Gioan – Em của Giacôbê con ông Zebedee. Ông và anh mình được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh “Boanerges”, có nghĩa là con Sấm Sét, khi hai ông xin Chúa cho lửa bởi trời xuống thiêu hủy dân làng Samaritan vì đã không đón tiếp Ngài (Luca 9:51-54) và tham vọng do người mẹ của hai ông muốn sắp xếp chỗ ngồi bên phải, bên trái Chúa (Mark 10:35-37). Nhưng ông cũng là người được Chúa Giêsu yêu cho dựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly, và trối Đức Mẹ lại trước khi Ngài tắt thở trên thập giá: “Này là mẹ con” (Gioan 19:24-27).

Theo Hippolytus, trong cuộc bách hại của Domitian và giữa năm 90, ông bị lưu đày qua đảo Patmos. Bị lưu đày tại đảo Patmos, nhưng ông qua đời ở tuổi già tại Ephesus khoảng 100 AD. Ông viết Phúc Âm và viết 3 lá thơ. Cũng trong thời gian lưu đày ở đảo Patmos, ông đã viết sách Khải Huyền là cuốn sau cùng chấm dứt bộ Tân Ước.

Ông là đầu của giáo hội tại Ephesus, và được diễm phúc phụng dưỡng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Theo truyền thống Latin trước đó, ông được cho là đã thoát khỏi vạc dầu sôi sau khi bị vứt vào đó tại Rôma.

6.Matthêu – Matthêu hay cũng còn gọi là Levi, con của Alphaeus, vì thế ông bị cho là anh em với Giacôbê Trẻ. Trước khi được Chúa gọi, ông là người thu thuế ở Capernaum. Ông viết Phúc Âm cho người Do Thái. Với mục đích viết Phúc Âm cho người Do Thái, nên Phúc Âm của ông được viết bằng tiếng Do Thái. Ông chết tại Hierees, một thành của Parthia (Iran). Eusebius coi ông là giám mục Papias của Hierapolis, trước năm 110 A.D.

Cũng theo một truyền thuyết, ông giảng đạo và bị tử đạo tại Persia và Ethiopia. Ông bị đâm sau lưng bằng lưỡi đòng do một tên hành quyết được vua Hertacus cử tới bởi vì ông đã phê bình đời sống luân lý của vua.

7.Simon/Phêrô – Simon sinh tại Betsaida thuộc Galilee. Xuất thân ông là một ngư phủ chuyên nghiệp. Cha của ông cũng là ngư phủ chuyên nghiệp tên là Jona. Ông có người em là Andrê cũng là Tông Đồ trong nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn. Căn nhà ông ở tại Capernaum vào thế kỷ thứ 5 người ta xây một thánh đường bao trên đó.

Sau 3 năm theo Thầy, và sau khi Chúa về trời, ông khởi đầu sứ vụ bằng bài giảng ngay trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Tông Đồ Công Vụ, Chương 2). Một bài giảng gây tiếng vang, và đã thu hút 3000 người xin chịu phép Rửa ngay ngày hồm đó. Ông chuyên chú vào người Do Thái, khác với Phaolô nhắm tới dân ngoại. Sau nhiều lần bị giam giữ tại Giêrusalem, ông đã tới Rôma, ở đó cùng với Maccô thư ký của ông đã biên Phúc Âm thứ nhất theo lời giảng của ông. Phần cá nhân, ông cũng viết 2 thư xuất hiện trong Tân Ước.

Ông được Chúa Giêsu đổi tên là Cephas (Phêrô) do lòng nhiệt thành của ông.Đó cũng là tên mà Chúa Giêsu nhắm tới việc xây dựng Giáo Hội của Ngài trên ông. “Con là Cephas nghĩa là đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội Thầy” (Mt 16:18). Irenaeus (c.180A.D) dựa theo truyền thống, cho rằng Phêrô và Phaolô đã xây dựng Giáo Hội ở Rôma. Ông là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo.

Phêrô, theo Phaolô ghi lại trong thư gửi giáo đoàn Galatians, thì cũng đã một lần viếng thăm Antioch (Galatians 2:11) và có thể ở Corinth (1 Corinthians1:12). Cũng trong Tông Đồ Công Vụ, ông đã giảng đạo cho Cornelius ở Caesarea. Người đầu tiên được ông hướng dẫn mà không phải Do Thái (Acts 10).

Theo truyền thuyết, hoàng đế Rôma là Nero đã ra lệnh giết Phêrô năm 66 AD, sau 33 năm Chúa về trời. Ông bị đóng đinh ngược và được an táng dưới hầm vương cung thánh đường Thánh Phêrô hiện nay ở Rôma.

8.Philip – Philip người Bethsaida là một trong số những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Rao giảng ở Phrygia, Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Ông bị đánh đòn, bỏ vào ngục và bị ném đá năm 80 AD tại Hierapolis, Thổ Nhĩ Kỳ.

Philip là người thứ sáu trong số 12 tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn (Gioan 1:43). Liền sau khi trở thành môn đệ Chúa, ông đã đi giới thiệu Chúa Giêsu cho Nathanael (Bartholomew). Khi khi thấy Nathanael ngần ngại, nghi ngờ, ông đã bảo bạn mình: “Hãy tới mà xem” (Gioan 1:46). Và Nathanael cũng được Chúa tuyển chọn làm Tông Đồ. Nhưng ông được Phúc Âm nhắc đến nhiều ở biến cố Chúa làm phép lạ bánh hóa nhiều, khi Người muốn thử xem ông phải làm gì (Gioan 6:5-6). Phúc Âm cũng nói đến việc những người Hy Lạp Do Thái trong dịp lễ Vượt Qua (Passover) tại Giêrusalem nhờ ông giới thiệu họ với Chúa Giêsu (Gioan 12:20-22). Nhưng xúc động nhất là câu hỏi của ông trong Bữa Tiệc Ly, khi đó ông xin Chúa Giêsu cho được thấy Chúa Cha (Gioan 14:8-11).

Sau khi Chúa về trời Tông Đồ Công Vụ ghi, ông đã tới Samaria ở đó rao giảng Tin Mừng và thực hiện những phép lạ (Acts 8:4-6). Ông đã cải đạo được cho Simon phù thủy (Acts 8:9-13). Trong khi nhận được lời truyền từ thiên thần, ông đã gặp một người Ethiopia tại Gaza, một vị hoạn quan quyền thế dưới quyền hoàng hậu Candace, và đã rửa tội cho ông này (Acts 8:26-39). Sau cùng ông sống tại Caesarea (Acts 21:8), cũng theo Tông Đồ Công Vụ thì Philip có 4 người con gái sống đời đồng trinh và đã được ơn nói tiên tri (Acts 21:9).

  1. Simon Nhiệt Thành – Giám mục Giêrusalem sau Giacôbê. Ông đến từ Cana và vì thế cũng được gọi là Simon người Canaanite, hoặc Simon Nhiệt Thành (nhưng không thuộc những người Do Thái nhiệt thành chống lại người Rôma). Ông là con của Clopas. Theo Hippolytus, ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem kế vị Giacôbê. Thánh Demetrius thành Rostov đã xác nhận ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem.

Ông qua đời hưởng thọ 120 tuổi. Ông được an táng tại Giêrusalem. Theo tài liệu thì ông đã bị đóng đinh như vị Giám Mục của Giêrusalem sau khi giảng Phúc Âm tại Samaria. Một tài liệu khác lại cho rằng khi truyền giáo tại Persia ông đã từ chối không dâng lễ vật cho thần mặt trời và đã bị giết. Cũng có tài liệu cho rằng ông bị cưa đôi khi ở Persia.

Nhưng các tài liệu không đồng nhất về những nơi nào ông đã rao giảng Tin Mừng. Có tài liệu nói là ông đã giảng đạo tại Anh. Cũng có tài liệu bằng tiếng Hy Lạp thì ông giảng đạo tại Hắc Hải (Black Sea), Ai Cập, và Bắc Phi. Nhưng tài liệu Latin “Passio Simonis et Judae”, ông làm việc tại Persia, và tử đạo tại Suanir, nhưng nơi an táng của ông không ai biết.

Truyền thống sau này cho rằng sau khi giảng đạo tại Ai Cập, ông và Juđa cùng nhau giảng đạo tại Persia và Armenia, hoặc Beirut, Lebanon. Cả hai cùng tử đạo năm 65 AD.

Giáo Hội Tây Phương kính ông cùng với Jude (Thaddaeus). Ngược lại, ở Đông Phương hai ngài được kính riêng. Ông làm quan thầy những người thuộc da.

10.Thaddaeus/Judas – Con của Giacôbê. Rao giảng Tin Mừng tới Edessa gần sông Euphrates và chung quanh khu vực Mesopotamian (Iraq, Syria, Turkey, Iran). Qua đời năm 72 AD. Ông bị bắn bằng tên tại Ararat.

Thánh Giêrônimô gọi Judas là “Trinomious” có nghĩa là người có 3 tên. Trong Mark 3:18 ông được gọi là Thaddeus. Trong Matthêu 10:3, ông được gọi là Lebbeus. Và tên Thaddeus (Trái tim được sưởi ấm). Trong Luca 6:16 và Tông Đồ Công Vụ 1:13, ông được xem như Juda anh em của Giacôbê.

Theo Hippolytus, sau khi Chúa về trời, ông ra đi rao giảng Tin Mừng cho người ở Edessa (bên trên Mesopotamica) và cả vùng Mesopotania. Qua đời tại Berytus (Lebanon, gần Syria và Thổ Nhĩ Kỳ), và được an táng tại đó.

Trong Tân Ước (John 14:22 NIV). Ông đã hỏi Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, “Tại sao Chúa chỉ tỏ mình cho chúng con mà không cho thế giới”. Qua câu hỏi này ông muốn cho mọi người được biết Chúa Kitô.

11.Thomas – Rao giảng Tin Mừng cho người Parthians/Medes/Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan). Tử đạo bằng 4 mũi đòng đâm vào người. Ông đã bị 4 người lính dùng giáo đâm chết tại Mylapore, Ấn Độ ngày 21 tháng 12 năm 72 AD.

Thomas cũng gọi là Didymus. Có thể là một ngư phủ, thường được nhớ như Thomas đa nghi. Trong lúc Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, ôngđã thẳng thắn hỏi Chúa: “Lạy Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, thì làm sao biết được đường” (Gioan 14:5). Cũng trong Tin Mừng Gioan (20:25), khi nghe các Tông Đồ nói đã nhìn thấy Chúa sống lại, ông đã thẳng thừng từ chối, và cho rằng chỉ khi nào ông nhìn những vết đinh nơi tay Chúa, và thọc tay vào cạnh sườn Ngài, ông mới tin. Nhưng Chúa đã thỏa mãn sự nghi ngờ của ông và qua đó, chúc lành cho mọi người sau này không được diễm phúc nhìn thấy Chúa như ông nhưng vẫn tin: “Tôma vì con đã thấy thầy và đã tin. Nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin” (Gioan 20:29). Cũng do thái độ hoài nghi của ông mà sau này mới được biết về cái chết và việc Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác.

Theo Hippolytus, Thomas là một nhà rao giảng nhiệt thành. Ông được biết là đã rao giảng Phúc Âm cho người Parthians (Iran), Medes (Iran), Persians (Iran), Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan), và Margians. Ông có lẽ năng động nhất ở đông Syria. Truyền thống cho là ông đã giảng dạy mãi xa tận Ấn Độ, mà những Kitô hữu Marthoma xa xưa đón nhận ông như đấng sáng lập, Theo sử sách ghi lại,Thôma tử đạo tại Ấn Độ để lại một cộng đoàn ở đó cho đến khi người Bồ Đào Nha tới.

12.Matthias – Theo tiếng Hy Lạp, Matthias có nghĩa “Ân huệ của Giavê”. Ông là một trong 70 môn đệ theo Chúa Giêsu từ đầu, lúc Người chịu phép rửa bởi Gioan Tiền Hô trên sông Jordan cho đến khi Người về trời (Acts 1:21-22).

Sau khi Chúa về trời, Phêrô đã triệu tập 11 Tông Đồ trên căn thượng lầu và đã bỏ phiếu giữa Matthias và Giuse còn gọi là Barsabus, người có tên họ là Justus. Matthias được chọn thay thế cho Giuđa Iscariot để nâng con số các Tông Đồ thành 12, nhưng ông là Tông Đồ không do chính Chúa Giêsu tuyển chọn.

Ông được coi là đã tới Syria cùng với Andrê. Theo Nicephorus (Historia eccl., 2, 40), Matthias đầu tiên giảng Tin Mừng ở Judaea, rồi sau đó ở Aethiopia (miềnColchis, thuộc Georgia ngày nay), và bị ném đá chết.

Một truyền thống khác cho rằng ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem, sauđó bị chém đầu. (cf.Tillemont, Mémoires pour servir à l’histoire ecclesiastique des six premiers siècles, I, 406-7). Cũng theo Hippolytus, Matthias chết ở Giêrusalem năm 80 AD. Ông là Giám Mục Giêrusalem. Và một truyền thống khác cho rằng ông đã rao truyền Phúc Âm trên bờ biển Caspian và Cappadocia.

Những tin tức liên qua đến cuộc sống và cái chết của ông không rõ ràng. Theo Nicephorus (Lịch Sử Giáo Hội II.40), đầu tiên ông rao giảng Phúc Âm ở Judea, rồi tới Ethiopia, và ông bị đóng đinh. Theo Dorotheus thì Matthias rao giảng Tin Mừng cho những người man khai, mọi rợ ở trong Ethiopia, và hải cảng biển Hyssus, tại cửa sông Phasis. Ông qua đời tại Sebastopolis, và được an táng gần Đền Thờ Mặt Trời. Thánh Helena đã đem hài cốt của ông về Rôma.

Tài liệu tham khảo

———–

-Ken Curtis, Ph.D.

Church History Timeline

6000-1 BCAD 1-300301-600601-900901-12001201-15001501-16001601-17001701-18001801-19001901-20002001-Now

– Hippolytus of Rome – Birth unknown, died around 236 AD.

– Eusebius – Was the Bishop of Caesarea in Palestine, known as the “Father of Church History” because he wrote about the church history. Lived around 260-341 AD.

From vuisongtrendoi

NGU DỐT MỚI TIN VÀO ĐẠO THIÊN CHÚA ???

 
 
 
From facebook:  Buoc Theo Chua Kito shared Hung Tran‘s post.
 
 
 
Image may contain: 1 person, beard and text
Hung Tran

NGU DỐT MỚI TIN VÀO ĐẠO THIÊN CHÚA ???
——————————–

“Chỉ những người ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào đạo”. Giáo sư đại học kết luận bài học.

Nghe xong câu kết luận đó, cả lớp học im phăng phắc, còn lòng tôi thì bực tức mà không nói nên lời.

Sự bực tức này có lẽ một phần vì nội dung mà vị giáo sư giảng dạy không chỉ đang đụng đến đức tin của người Công giáo như tôi mà còn xúc phạm đến người có đạo.

Phần nữa, tôi đau vì không đủ khả năng để đứng lên bảo vệ Đạo của mình.

Sau khi nghe xong phần trình bày của vị giáo sư đại học mà tôi nghĩ là ông không có thiện cảm gì với người Công giáo, tôi về nhà cố đi tìm câu trả lời cho riêng mình.

Và khi đã tìm hiểu xong, tôi quyết định tìm gặp và đối thoại với vị giáo sư này.

Câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho ông đó là

“Thưa Thầy, thầy có thể cho biết, đất nước nào hiện nay văn minh nhất, giàu có nhất, hùng mạnh nhất, tiến bộ nhất thế giới”.

Vị giáo sư trả lời ngay “ Nước Mỹ”.

Tôi nói liền “ Vậy, thầy có thể cho em biết hiện nay nước Mỹ có bao nhiều người tin vào Thiên Chúa?”

Vị Giáo sư nhìn tôi và hỏi “Em hỏi vậy là có mục đích gì?”.

Tôi đáp “Vì Thầy nói “Chỉ những ai ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào Thiên Chúa” nên em mới hỏi thầy câu này.

Ông chần chừ một lúc rồi nói “ Nước Mỹ là nước có số người tin vào Thiên Chúa khá đông”.

“ Đúng vậy. Em được biết tại nước Mỹ có tới 86% tin vào Thiên Chúa, còn 14% nhận mình là vô thần mà. Chẳng lẽ 86% này cũng là những người mê muội, ít học phải không thầy?”

Hơn nữa, em còn thấy những bác học lừng danh như Bacon, Isaac Newton, Albert Einstein, Louis Pasteur, 31-Georges Lemaître (1894-1966) Linh mục Công Giáo, người khai phá ra thuyết Big Bang.

Max Planck (1858-1947) Đoạt giải Nobel về vật lý và là cha đẻ của thuyết Quantum mechanics. Blaise Pascal (1623–1662) Thần đồng toán học, vật lý, và Lý Thuyết.

René Descartes (1596–1650) Nhà bác học về Hình học và Những con số bất biến. Người hướng dẫn cuộc Cách Mạng Khoa học của phương Tây.

Roger Bacon (c.1214–1294), người áp dụng phương pháp thực nghiệm và các phương pháp khoa học tân tiến. Viết về Luật Thiên Nhiên, cơ khí, địa lý và quang học. Johannes Kepler (1571–1630) Nhà vũ trụ học, tính toán sự di chuyển của các thiên hà. –

Isaac Newton (1643–1727) Nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại và biết bao nhiêu nhà bác học khác đều là những ki tô hữu tốt lành.

Rồi Louis Pasteur- nhà y khoa nổi tiếng nữa

Chẳng nhẽ, những nhà bác học này cũng là những người dốt nát và mê tín sao thầy? Em thấy tiền đề thầy đưa ra xem ra không ổn tí nào.

Vị giáo sư như chùng xuống một lúc rồi nói “ Tôi cũng chỉ nói những gì mà sách vở và bổn phận tôi phải nói. Vì đó là nghề của tôi”.

Tôi đáp lại “ Vâng nếu thầy nói vậy thì em hiểu rồi. Có điều em cảm thấy thầy không có tự do khi truyền giảng cho sinh viên những kiến thức thực sự của thầy.

Nhưng còn một điều nữa khiến em cũng đang thắc mắc”. Ông nhìn tôi và hỏi “ Em còn muốn hỏi điều gì”.

“ Vâng, cũng chỉ liên quan đến điều thầy nói ở lớp thôi. Em muốn hỏi thầy có cái gì giả dối, mê muội nó tồn tại được lâu không thầy”. Tôi đáp lại.

Người thầy của tôi lúc này thong thả nói “ Người ta vẫn nói sự thật trước sau gì cũng là sự thật, sự giả dối có lừa được một số người, một số lần rồi sẽ có ngày lộ diện em ạ”.

“Cám ơn thầy. Thầy nói chí phải. Sự thật ma vật không đổ thầy nhỉ. Nếu Đạo Công Giáo mà giả dối sao nó lại tồn tại lâu quá vậy.

Nó không chỉ tồn tại mà còn phát triển khắp cả thế giới và đứng vững một cách chắc chắn phải không thầy!”.

Người thầy gật đầu và nói với tôi “ Thầy cảm phục tinh thần của em. Em là người có chính kiến và dám sống cho chính kiến của mình.

Thầy tin rằng em sẽ làm được những điều tốt lành cho đất nước cho xã hội.

Chỉ tiếc những người có chính kiến và bản lãnh như em nơi sinh viên không có nhiều lắm. Chúc em thành công”.

Tạm biệt người thầy mà tôi đã làm phiền quấy rầy.

Tuy thời gian gặp gỡ không dài những tôi hiểu được phần nào nỗi đau của nhiều người, nhất là những giáo sư, thầy giáo, dẫu biết được sự thật mà không dám nói sự thật .

Ước mong sao nơi giảng đường trường đại học sẽ có những cánh cửa của tự do để tri thức thật được lên tiếng.

Mùa Xuân Hà Nội 2017
Sv Hoa Anh Đào
Nguồn:Facebook Lm Nguyễn Ngọc Nam Phong

CÒN CHẦN CHỜ GÌ NỮA MÀ KHÔNG TIN VÀO CHÚA & THÀNH TÂM CHẠY ĐẾN VỚI NGÀI ?

TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO
TÔI HÃNH DIỆN CÓ CHÚA LÀ CHA

Cùng rủ nhau về góp một thành hai

Suy Tư Tin Mừng trong tuần thứ 25 thường niên năm A 24/9/2017

(Mt 20: 1-16)  

Khi ấy Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn này:

Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.”

Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy.6 Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?”

Họ đáp: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Ông bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho! ” Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: “Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.”

 Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.”

 Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. (Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.)

 &  &   &

“Cùng rủ nhau về góp một thành hai”

“Những bước chân người góp đi làm đến.”

(Dẫn từ thơ Nguyên Sa)

Mai Tá lược dịch.

 Trình thuật nay kể, là kể về dụ ngôn có tình tiết/lớp lang rất đời thường, ở mọi thời. Một thời, có đám công nhân càm ràm về công bằng với công lý mà người chủ thực hiện. Người chủ ở đây, quyết hiện thực đường lối chi trả rất khác lạ của riêng ông. Vào cuối ngày, ông gọi những người đến làm việc vào giờ chót và cho họ trọn lương hướng của nguyên ngày.

Đám thợ này, không phản đối đã đành và mừng khen chủ mình nhân hiền, rộng lượng. Họ lẳng lặng chấp nhận. Còn, đám thợ làm nguyên ngày cũng chỉ nhận bấy nhiêu thôi. Bởi thế nên, đó mới là duyên do ta nghe có tiếng phản đối đường lối xử sự khá bất công của người chủ.

Cứ tưởng tượng tình huống trong đó có người đứng suốt ngày ở đầu đường để tìm việc. Hoặc, những người cứ lân la nơi phòng tuyển dụng hoặc cơ sở từ thiện hòng được giúp đỡ, nên nếu có ai gọi tên mình vào giờ phút chót, cũng rất cám ơn. Thế nên, mấy người này thấy mình hạnh phúc hơn bao giờ hết. Bàn cãi chi cho nhiều, ai cũng thấy là những người lâu nay để mấtđi niềm hy vọng, nay được gọi đến cho việc làm, lại được trả lương hậu hĩnh, thì quả là không hạnh phúc nào lớn hơn thế.

Hãy liên tưởng đến trường hợp khác, trong đó có người thợ suốt ngày đổ mồ hôi sôi nước mắt, sẵn sàng chấp nhận đồng lương ít ỏi để sống qua ngày. Và người đó còn phải lo cho gia đình nheo nhóc đang trông chờ mình về. Thợ như thế, hay tính toán giờ giấc, giá cả cũng như loại hình lao tác mình có thể làm. Họ suy tính công việc có thể thương lượng được với chủ, để tiền mang về đủ nuôi sống nhiều miệng ăn. Họ làm việc có hợp đồng, luật lệ công minh như thường thấy ở nhiều nơi.

Nay, hãy liên tưởng đến người kiếm đồng lương có giao kèo/thoả thuận hẳn hòi, nhưng không tính đến khoản phụ trội, tưởng thưởng hoặc phụ thu hầu thêm mắm muối cho bữa cơm hằng ngày. Nhưng, những người này vẫn trông chờ những quà tặng không tên phụ vào ngân sách gia đình như:đồng lương tăng vì vật giá, lạm phát. Tiền mất giá. Không có các khoản này, người thợ sẽ không mấy hài lòng, dù tiền thưởng không hẳn là quà ngẫu nhiên, do người chủ rộng tay độ lượng.

Cũng nên liên tưởng đến giới thợ nào thấy mình chẳng bao giờ được hưởng những thứ đó, nên vẫn lảng vảng quanh phòng tuyển dụng, hoặc chốn nhà thờ. Những người này, sẽ hiểu công bằng/chính trực theo lẽ tự nhiên. Những điều, những lẽ ít thấy trong cõi đời. Thế nên, thái độ của họ là thái độ của người thợ làm việc theo cách tiêu cực, nghĩa là: chỉ làm theo mức tối thiểu, chỉ bỏ vào đó đủ sức lao động của mình, thôi. Hoặc, những người suốt ngày cứ chống cằm lên bàn, khi thấy không có ai dò xét, để ý. Vì họ cứ nghĩ: mình dại gì mà làm cho lắm, chỉ lợi cho chủ, thôi.

Những liên tưởng ở trên, không chỉ xảy ra nơi sở làm hoặc công trường lao động, mà thôi. Nhưng nó vẫn xảy đến cả trong Hội thánh nữa. Xưa nay, nhiều người đi Đạo vẫn ao ước có được nhiều quyền, nhiều tiền và nhiều qui chế dễ thở để được hưởng thụ, nhiều hơn nữa. Với hàng giáo sĩ, thì nhiều vị phục vụ nhiều năm trong âm thầm/tăm tối, nay muốn về giáo xứ/họ đạo sung túc, hoặc đông đúc bổn đạo cho bõ công ngày tháng chôn vùi đời mình trong bóng tối. Nên, hễ thấy thế hệ trẻ mới ra trường lại có được chỗ tốt thơm, mới đem lòng căm tức và nhìn xuống đám trẻ bằng đầu mũi.

Với hàng ngũ giáo dân, có người lại chỉ muốn có chân trong hội đồng giáo xứ/mục vụ, để ưu tiên hưởng được nhiều thứ. Là thành viên ca đoàn, có người chỉ thích hát những lễ nào đông người dự. Hoặc, hát vào các giờ lễ thích hợp giờ giấc của mình thôi. Những người có kinh nghiệm mục vụ trong giáo xứ/giáo đoàn, thấy mình tài giỏi hơn người mà chẳng bao giờ được giao phó công việc tốt. Trong khi đó, những người được điều động từ nơi khác đến chưa từng có lấy kinh nghiệm lao tác/hục vụ, lại được giao phó những công việc khó,đòi nhiều kinh nghiệm, thấy cũng lạ.

Đời sống thiêng liêng, cũng thế.Nhiều vị ngỡ rằng chỉ mỗi mình là người được Chúa cho lên thiên đàng thẳng cánh. Những người như thế, những tưởng rằng chỉ mình họ, vốn nhiều năm chuyên chăm làm điều tốt, nên dễ bất bình khi thấy mình không được ưu đãi hơn người khác, nên nghĩ rằng Chúa cũng thiên vị, khi Ngài ban ơn lành cho kẻ xấu, tức cho cả những người chẳng bao giờ làm điều tốt lành hết. Thế nên, nhiều vị lại hay ganh tương/tị nạnh với kẻ biếng nhác chẳng lo chuyện đạo hạnh, mà vẫn được Hội thánh trọng dụng, bởi vì họ biết hoán cải, vào cuối đời.

Dụ ngôn hôm nay khuyên ta nên thay đổi não-trạng vẫn có xưa nay. Dụ ngôn thử thách ta cởi bỏ những động thái/tưtưởng nào không cần thiết cho Nước Trời. Thử và thách, chuyển đảo mọi giá trị, do ta đặt ra.

Nơi thế giới của những người chỉ tính chuyện làm ăn và với các thánh hội chỉ những lo toan chuyện làm ăn/ăn làm, không bận tâm gì chuyện thiêng liêng/đạo đức của dân con đi Đạo, cũng như thế. Tức, cũng suy tính về những gì hoặc những việc không có Chúa dính dự, ngự trị. Trường hợpấy, Chúa chẳng khi nào lập toà hoá giải, cũng không có toà kháng án, hoặc văn phòng công lý/khiếu kiện, để mình xin.

Khi nghĩ rằng Chúa ban ơn lành cho hết mọi người, ai cũng hiểu Ngài ban theo kiểu rủi may, giống xổ số. Cứ nghĩ rằng, có thể là ân huệ mình nhận được chắc cũng ít, hoặc rất kém. Bởi, họ lại nghĩ:Chúa đã rộng tay ban phát cho nhiều người, thì còn đâu mà cho mình. Thật ra, ân huệ Chúa ban vẫn dư dật, tràn đầy. Dư và đầy, đến độ ai cũng có phần. Chẳng ai là người thua thiệt, tủi phận hết.

Ân huệ Chúa ban là điều ta có được ngoài mức tưởng tượng, đợi trông. Rất nhưng-không. Chúa không nợ nần gì ai. Và, ta cũng chẳng có công gì để đáng được nhận nhiều hơn người khác. Lâu nay ta nhận ân huệ dồi dào, vì Chúa thương yêu hết mọi người. Ngài yêu thương vô điều kiện. Không bớt xét. Thế nên, tất cả mọi người trước sau gì cũng được. Tất cả đều là ân huệ. Tất cả đều được ơn.

Đọc dụ ngôn hôm nay, nhiều người thường hiểu vườn nho mà thánh sử đề cập ở trình thuật, chỉ là nước Do thái hoặc thánh hội rất Công giáo. Người làm vườn, là kẻ được mời đến chốn thánh thiêng, các văn phòng hoặc thánh bộ. Thật ra, không phải thế. Chúa đâu cần thợ ở vườn nho. Ngài cũng không cần công nhân lao động ở mọi chốn. Điều Ngài muốn và cần, là mọi người được mời đến để Ngài tặng ban ơn lành, cách nhưng-không. Để rồi, ta nhắn nhủ mọi người hãy trao cho nhau tình thương yêu ân huệ ấy. Chí ít, những người đang cần được ta thương yêu.

Đó là sứ mệnh phục vụ. Đó, không là món hời dễ ăn. Nhưng, là tương quan hai chiều. Và ta được mời đến để phục vụ.Phục vụ, ở nơi ta đang sống hoặc ở chốn miền ta hoạt động rất lao lực. Bất kể ta là ai. Bởi cuối cùng, rồi ra người được mời cũng sẽ ngạc nhiên/thích thú được ban và nhận ơn như thế.

Trong thời gian đợi chờ Chúa ban ơn, ta hãy trở về với công việc liên quan đến mỗi người, và mọi người. Chúa vẫn để tâm chăm sóc đến ta khi ta kết thúc một ngày lao động đường dài. Ngài chẳng kỳ thị ai, hoặc bất công với ai trong lao động. Ngài là Đấng Nhân Hiền Độ Lượng, luôn rộng ban ơn lành cho hết mọi người. Chắc chắn ta sẽ nhận dù không là những gì mình đáng hưởng vì công của mình, nhưng nhận rất nhiều. Nhiều hơn cả những điều ta dự đoán.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.

Tôi chia em trọn kho tàng

Kho tàng của chúng ta (Nguyễn Trung Cang) – Elvis Phương

httpv://www.youtube.com/watch?v=tHjz8T2-3Cc

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 25 thường niên năm A 24/9/2017

“Tôi chia em trọn kho tàng. “
Tôi chia anh trọn kho tàng.
Niềm quý mến nhau là xâu chuỗi mầu,
Buồng tim yêu thương là châu báu.”

(Nguyễn Trung Cang – Kho tàng của chúng ta)

(Thư Rôma 6: 17)

  Trần Ngọc Mười Hai

“Kho tàng của chúng ta” sao? Ối chà chà, là bài hát! Ối giời ơi, là câu ca. Ca với hát cho hay, cũng chỉ đến như thế mà thôi! Bởi, còn gì hay bằng khi nghe lại những ca-từ đầy kim-cương/vàng bạc như sau:

 “Kim cương đây là môi cười.
Tôi xin chia phần cho người.
Từng ánh mắt vui, từng câu ấm lòng,
Từng câu yêu thương hằn trên môi.

Ta sẽ chia kho tàng

tình yêu cho anh em cùng dòng máu.
Ta sẽ chia kho tàng

tình thương cho khắp quê hương.”

(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Chưa hết đâu. Chia kho tàng, tình thương khắp quê hương thôi, cũng chưa đủ. Nghệ sĩ nhà mình còn mua bán cả những “căm thù” nữa, vẫn ở đây:


“Tôi xin mua lại căm thù.

Tôi xin mua lại lao tù.

Bằng những cánh hoa cài trên áo người.

Bằng đôi tay non còn rướm máu.

 

Tôi dâng anh vạn chân tình.

Tôi dâng em trọn tim mình.

Đời sống sẽ vui dù ta có nghèo.

Người vui ta cùng vui theo.”

(Nguyễn Trung Cang – bđd)

 

Lời lẽ trên đây, chính bần đạo bầy tôi này từng nghe được vào thập niên 1950s khi nhóm nhạc trẻ ABC, Ba Con Mèo và/hoặc Ba Trái Táo cứ là nhộn nhịp với ca nhạc và hát hò, vui khôn kể.

Thế còn, niềm vui nhà Đạo thì sao? Có “chia nhau trọn kho tàng”? Hoặc: “dâng anh vạn chân tình” không thế? Điều này không rõ, chỉ rõ có một điều là các đấng bậc nhà mình đã và đang bận tâm với vấn đề “Hôn-nhân đồng giới tính” xảy ra ở đây đó, như một nhận-định trên các “Bản tin Giáo xứ”, như sau:

“Hậu quả việc Quốc hội Úc tái định-nghĩa Hôn-nhân như sự kết-nối giữa hai con người dù đồng tính: 

 -mất tự do ăn nói: Không được đả động đến chuyện này

-mất tự do tín ngưỡng: chấp nhận đám cưới cho đồng tính 

-mất tự do lập hội: không được phản đối đám cưới của họ  

-mất tự do lương tâm: vì phản đối các đám cưới như thế

-giới-tính không còn xứng-hợp trong xã-hội

-tự-vựng “Mẹ” và “Cha” sẽ biến mất trong tự-điển

-sẽ có thay-đổi trong giáo-dục giới-tính

-bất an về giới tính sẽ gia-tăng nhanh-chóng

-quyền-hạn của bậc cha mẹ sẽ bị giỡ bỏ

-trường học nào không chịu dạy về đồng-tính luyến-ái và hôn-nhân đồng-tính sẽ phải đóng cửa.

 Việc bỏ phiếu tái định-nghĩa hôn-nhân là tự-nguyện, nên Đức TGm Anthony yêu-cầu các giáo-xứ hãy tham-gia đầu phiếu. Ai mới thay đổi địa chỉ với Uỷ-Ban Bầu-Cử Úc cần cập-nhật lại từ nay đến 24/8/17 bằng không sẽ trễ tràng nếu không được cập-nhật. Có thể cập-nhật địa chỉ ở trên mạng…” (Trích Tin Vắn trên Bản Tin Giáo Xứ Fairfield, NSW Úc ngày 2/8/2017)

Đồng giọng với Lm Michael de Stoops là chánh xứ nói ở trên, còn thấy có đấng bậc vị vọng nổi cộm của Tổng Giáo Phận Sydney, NSW Úc từng giải đáp thắc mắc của bổn đạo đặt ra như thế này:

“Thưa Cha,

Con trai con đã ngưng không còn thực-thi niềm tin đi Đạo cách nay nhiều năm rồi; và nay thì cháu nó đang sống trong tội lỗi với bạn gái của cháu. Cháu còn tuyên-bố rằng cháu không còn cầu nguyện gì được và cũng chẳng muốn đi nhà thờ dự lễ gì nữa hết. Đôi khi, lại vẫn nghĩ rằng cháu đã để mất đi sự tự-do quan-hệ với Chúa rồi, phải thế không thưa cha? Xin cho con vài lời chỉ dẫn.

 Gì chứ, chỉ vài lời chỉ-dẫn từ đấng bậc thôi, sẽ có ngay lập tức, như bên dưới:

“Để trả lời chị cho đúng phép, tôi nghĩ trước tiên ta phải làm cho sáng tỏ định nghĩa thế nào là “Tự do”, mới được. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo định nghĩa: “đó là quyền-uy/sức mạnh cắm rễ sâu nơi lẽ phải và ý-chí để hành-động hoặc không hành-động, để làm việc này hoặc việc kia và có thế mới thực-hiện hành-động một cách cân-nhắc có trách-nhiệm .” (Sách GLHTCG đoạn 1731).

Loài người đều có lý-trí, thông minh và ý muốn tự do, thế nên ta có thể chọn lựa quá-trình diễn biến hành-động rất khác-biệt. Loài thú không có được những thứ này, Chúng không có trí thông minh lý-luận cũng chẳng có chút tự-do nào hết, thành ra chúng không thể có được chọn-lựa theo tự-do. Thú vật chỉ biết làm theo bản-năng của chúng, mà thôi. 

Ở nơi loài người, ta có thể nhận ra sự khác-biệt giữa tự do mang tính chất bản-thể hoặc căn bản mà mọi người, với  tư cách là bản-thể người đều có được tự-do hiện-sinh, thực-thụ như mình có. Theo định-nghĩa đầu, con người có lý-trí và ý-chí tự-do, nên ai cũng có thể hành-động một cách tự do trên nền-tảng.

 Thế nhưng, cũng tuỳ cung-cách sử-dụng tự do ấy như thế nào, con người có thể từng nấc một gia-tăng hoặc giảm sút mức-độ tự-do của mình. Theo nghĩa này, thật rất đúng để nói là nhiều người có tự-do nhiều hơn một số người khác.

 Muốn hiểu điều này cho thấu-đáo, ta cần phải làm sáng-tỏ mục-đích của tự-do, nữa. Vấn-đề là hỏi rằng: tại sao Thiên-Chúa lại dựng nên con người có tự do như thế? Ta có được làm bất cứ thứ gì bất kẻ việc ấy tốt/xấu với ta như thế nào không? Không phải thế. Thiên-Chúa để cho ta san-sẻ sự tự-do của Ngài, thành ra ta có thể chọn-lựa một cách tự-do phục-vụ Ngài, làm điều tốt đẹp và phải lẽ; và như thế mới phát-triển tính-chất nhân-loại một cách đầy đặn hơn và cuối cùng về ở với Ngài mãi mãi trên thiên-quốc.

 Công đồng Vaticăng 2 cũng đã định-nghĩa tự-do theo nghĩa bảo rằng: “Thiên-Chúa muốn để con người tuỳ thuộc lời khuyên của lương-tâm để họ có thể tự ý tìm kiếm Đấng Tạo Hoá và tự do có sự toàn-hảo/toàn-thiện bằng một lòng thuỷ-chung với Ngài.” (X. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng đoạn 17; Sách GLHTCG đoạn 1730)

Nói tóm lại, mọi người chúng ta đều có tự-do tìm-kiếm Chúa và nhờ đó có được sự toàn-thiện và hạnh-phúc. Cả hai thứ ở đây, lúc này và mãi về sau. Theo nghĩa này, thì khi nói chữ “tự-do” là ta nói đến thứ tự-do tìm kiếm Chúa, và hoàn-thành trọng-trách đạt mục đích cao-cả ấy. Đó không là “tự do xuất tự Thiên-Chúa và luật-pháp của Ngài.”

 Thế nhưng, cũng tuỳ theo cách ta có được chọn-lựa nào, ta có thể từng bước gia-tăng sự tụ-do của ta để kiếm tìm Chúa và thực-hiện thánh-ý của Ngài hoặc làm giảm bớt những thứ ấy. Bằng việc cầu nguyện, nhận lãnh bí-tích cách đều-đặn, hoặc phấn-đấu nghe theo lương-tâm của ta mà làm những gì ta biết là đúng-đắn, tốt đẹp và tránh né những gì ta biết nó sai trái, có thế mới trưởng-thành trong đạo-đức và mới thấy dễ dàng phục-vụ Chúa. Càng ngày ta càng thấy mình tự do hơn để làm thế.

 Đổi lại, ta có thể ngưng không còn nguyện-cầu và nhận các phép bí tích, phớt lờ những điều mà lương-tâm khuyên ta làm và chỉ làm những gì mình thích và rồi cứ từ từ xa rời Chúa đi vào cuộc sống đầy tội lỗi. Đây là tình-cảnh mà con trai của chị đang rơi vào trong đó. Thay vì lớn lên trong nhân-đức, thì cháu lại tăng-trưởng trong sự xấu khiến ta thấy khó mà định đoạt thế nào là phải lẽ, thế nào sai. Làm như thế, tự khắc ta giảm-suy tự do của ta. 

Cuối cùng, ta cũng nên xem lời tóm tắt ở sách Giáo lý đoạn 1733, cũng cùng một ý tưởng viết trong thư của thánh Phaolô gửi cộng đoàn tín-hữu Rôma, những lời rằng:

 “Nếu như ta làm điều tốt ngày càng nhiều,

thì ta càng trở nên tự do nhiều hơn nữa.

Không thể có tự-do đích-thật

ngoại trừ lo phục vụ những gì là tốt đẹp và phải lẽ.

Nếu ta cứ chọn bất tuân-phục,

và chỉ làm sự xấu,

thì đó là hành-động lạm dụng tự-do,

và rồi cũng làm thân nô lệ tội lỗi, thôi.”

(Rm 6: 17)

Thánh Phêrô cũng từng viết bức thư thứ hai cho cộng-đoàn tín-hữu vẫn bảo rằng: “vì miệng họ nói những lời huyênh hoang rỗng tuếch, họ dùng những ham muốn xác thịt dâm ô mà nhử những người vừa thoát tay các kẻ sống trong lầm lạc. Họ hứa cho những kẻ đó được tự do, nhưng chính họ lại làm nô lệ cho lối sống dẫn đến hư vong, vì đã thua ai thì phải làm nô lệ người ấy.” (2P 2: 18-19)

Vậy nên, quả là điều quan-trọng biết bao khi ta biết sử-dụng sự tự-do của ta một cách khôn-ngoan không sai lạc.” (X. Lm John Flader, Is it possible to become less and less free? Question Time, The Catholic Weekly ngày 13/8/2017 tr. 25)   

Hôm nay đây, trích-dẫn lời lẽ của bậc thánh hiền trong Đạo về sự tự-do rất chính-đáng, cũng chỉ để luận phiếm cho vui, hoặc cho qua ngày đoạn tháng khi người người nói quá nhiều về thứ tự-do không theo nghĩa đích-thực của đạo-nghĩa, và Đạo Chúa.

Nói thì nói thế, với người đời thời buổi này, chẳng ai có sức thuyết-phục hoặc ép buộc mọi người phải làm những gì mà Đạo Chúa khuyên dạy. Như mọi lần, thiết tưởng bạn và tôi, ta cũng nên mời nhau đi vào vùng trời truyện kể để nghe

“Trong vườn hoa nhà thờ, vị linh mục nọ lang thang đi dạo chung với một thương-gia cùng với môn đồ trẻ lẽo đẽo đi sau nghe chuyện. Xem ra, câu chuyện giữa vị linh mục và lão thương-gia có vẻ hấp dẫn. Nhà buôn nói:

-50 ngàn đôla được không, thưa ngài?

Vị linh-mục nọ đáp lại một cách gọn lỏn:

-Không được!

-Thế vậy đề-nghị với ngài là 100 ngàn đôla cũng được chứ, phải không?

 Thấy linh mục nọ chẳng nói thêm điều gì, thương-gia nhà ta bèn thưa tiếp:

Thôi được, cấp trên bảo: tôi có tự do ra giá, vậy thì tôi đề-nghị 500 ngàn đola vậy

Nghe vậy, vị linh mục vẫn chẳng trả lời thêm câu nào. Thấy thế, môn-đồ trẻ hỏi;

-Sao cha nói có tự do đề xuất giá cả cơ mà?

-Về chuyện này, cha đây không có chút tự do nào để làm hết.

-Ai mà chẳng có tự do chịu giá, cơ chứ?

-Đây thì không, vì ông ấy đề-nghị với ta là: mỗi lần đọc xong bất cứ bài nào trong thánh lễ, thay vì nói “Đó là Lời Chúa”, ngài cứ vui vẻ bảo “Đó là nguồn suối Coca-Cola” theo cách rất tự do, là xong ngay.

-Không được phạm-thượng như thế!”

(Trích truyện cười lạt lẽo lấy từ trên mạng vi-tính)        

 Hiển nhiên là, ai cũng có đủ mọi thứ tự-do, cả trong chuyện ăn nói, trả giá và giao hàng, được hết. Nhưng, ở đây hôm nay, ta không đặt thành chuyện nghiêm-chỉnh chút nào, chỉ mỗi đưa ra vấn-đề, là hỏi rằng: bậc cha/bác trong nhà Đạo, dù có quyền phép như “Đức Chúa Trời con”, các “đức ngài” vẫn chỉ có thứ gọi-là “tự do trong khuôn-khổ”, mà thôi.

Tự do, thật ra không có nghĩa: muốn làm gì thì làm. Dù chuyện đó, có là chuyện luật pháp hoặc đạo-đức hay không. Có tự-do, là có trách-nhiệm. Trách-nhiệm, về hành-động mình làm. Trách-nhiệm, cả về hậu-quả kéo theo sau đó.

Tóm lại, tự-do là nhận-lãnh trách-nhiệm khi tra tay làm việc gì đó theo đúng lương-tâm mình đòi hỏi, dù không tạo lợi/lộc gì cho chính mình cả. Tự-do, với người trong Đạo/ngoài đời, là làm điều tốt-đẹp cho mình và cho người, đúng với lương-tâm từng chỉ vẽ cách mình hành-động.

Nói cách khác, tự-do và trách-nhiệm, hoặc tự-do trong trách-nhiệm, là hai phạm-trù luôn sánh đôi, song-hành ở mọi nơi, vào mọi lúc, trong đời người.

Trong tinh-thần hãnh-tiến thực-hiện những gì được lương-tâm hoặc truyền-thống nhà Đạo khuyên-dạy, mời bạn và tôi, ta cứ thế hiên-ngang hát lại ca-từ nhạc trẻ những hát rằng:

“Tôi chia em trọn kho tàng. “
Tôi chia anh trọn kho tàng.
Niềm quý mến nhau là xâu chuỗi mầu,
Buồng tim yêu thương là châu báu.

Kim cương đây là môi cười.
Tôi xin chia phần cho người.
Từng ánh mắt vui, từng câu ấm lòng,
Từng câu yêu thương hằn trên môi.
Ta sẽ chia kho tàng

tình yêu cho anh em cùng dòng máu.
Ta sẽ chia kho tàng

tình thương cho khắp quê hương.”

 Và:

“Tôi xin mua lại căm thù.

Tôi xin mua lại lao tù.

Bằng những cánh hoa cài trên áo người.

Bằng đôi tay non còn rướm máu.

Tôi dâng anh vạn chân tình.

Tôi dâng em trọn tim mình.

Đời sống sẽ vui dù ta có nghèo.

Người vui ta cùng vui theo.”

(Nguyễn Trung Cang – bđd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc cứ ngâm nga

những câu ca tựa hồ như thế

rất tự-do.

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI CHỒNG

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI CHỒNG

Yêu thương để mang lại cuộc sống viên mãn

 Lạy Chúa Giêsu,

Con đặt đời con trong sự quan phòng mầu nhiệm của Chúa.

Con nhận ra những thiếu sót và lỗi phạm của con.

Con không dám biện minh hay tự phụ.

Chúa đã sống giữa chúng con,

chia sẻ niềm vui và thử thách trong gia đình.

vâng lời và tròn trách nhiệm của Người Con.

Ngày hôm nay, lạy Chúa,

với ơn Chúa hướng dẫn, con xin nguyện dâng lời thề hứa:

sẽ xây dựng gia đình theo gương Thánh Gia.

Con xin canh tân đời mình bằng lời thề hôn ước:

sẽ sống với vợ con hết lòng,

sẽ không bao giờ bỏ rơi nàng nhưng tôn trọng và chung thủy,

sẽ không giân dữ nhưng luôn vui hòa và tha thứ,

sẽ không làm tổn thương nhưng yêu quý và bảo vệ nàng

đến hơi thở cuối cùng.

Với ơn sủng của Chúa, xin cho con biết làm mới lời hứa:

tận tâm với con cái:

sẽ triều mến chúng như tặng phẩm Chúa ban,

sẽ trao cho chúng những gì chúng cần,

sẽ nuôi dưỡng thể xác và huấn luyện tâm hồn chúng,

sẽ dành thời giờ để chăm sóc chúng,

sẽ xây dựng cho chúng một mái ấm tình thương,

sẽ đưa chúng đi trên đường thánh thiện và ân sủng,

sẽ dạy chúng lớn khôn như những người con Chúa,

những người thừa hưởng Nước Trời.

Vì những điều nầy, xin Chúa chúc lành cho con.

Xin hướng dẫn con trong cuộc đời nầy

và tăng sức cho con chống lại cám dỗ.

Xin cho con lành mạnh xác hồn

để con sống vì vợ và vì các con.

Xin cho con luôn dâng hiến đời mình

để phụng sự Chúa và phụng vụ gia đình.

Lạy Chúa, xin hãy đến trong gia đình con.

Nhà của con cũng là nhà của Chúa.

Xin liên kết chúng con lại với nhau.

Xin sống giữa chúng con, và ban ơn cho chúng con mỗi ngày.

Lạy Chúa, là mẫu gương yêu thương của chúng con.

Amen

John Lê Mừng chuyển ngữ

Tha bảy mươi lần bảy

Tha bảy mươi lần bảy 

 Khổng Nhuận

Trích Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu 18 : 21-22

Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng :

“Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không ?”

Đức Giê-su đáp :

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đếnbảy mươi lần bảy.”

Theo tục ngữ Việt Nam : Quá tam ba bận. Ý nói chỉ tha 3 lần thôi.

Phê-rô đặt giả sử tăng lên gấp đôi… tha tới 7 lần..!!!

Còn Thầy Giêsu tăng lên gấp mười lần: bảy mươi lần bảy…

Điều này mang tính lý thuyết và đầy lý tưởng. Hầu như không ai có thể thực hiện được.

Đào đâu ra một người sẵn sàng tha thứ cho kẻ xúc phạm mình tới 5 lần thôi.!!!

Khó lắm…một là đập cho hắn một trận… khiến hắn tởn tới già.

Hai là không làm gì được thì gặm nhấm nỗi bực bội khó chịu một thời gian… dài ngắn tùy mức độ nghiêm trọng…

Vấn đề quan trọng không phải là bao nhiêu lần…

Mà là Lối nhìn trước tình huống xúc phạm tới cá nhân mình.

Phản ứng đầu tiên: Ai cũng bức rức, khó chịu, bực mình…

Sau đó, chúng ta có thể phản ứng bằng nhiều cách tùy mỗi người:

Giận dữ: Đây là cách đáp trả ít tích cực nhất bởi vì ba lý do.

Thứ nhất, nó chứng tỏ là chúng ta coi những lời sỉ nhục đó và kẻ sỉ nhục chúng ta là quan trọng.

Thứ hai, nó chứng tỏ rằng lời xúc phạm đó có vài phần đúng.

Và thứ ba, khiến chúng ta bối rối và đau đớn.

Chấp nhận: Nếu lời xúc phạm ấy là đúng, đến từ người biết lý lẽ, và người đó có động lực tốt, vậy thì đó lời trần thuật về một điều thực tế, và hơn nữa, điều này có khả năng có ích cho chúng ta. Vậy cho nên, chúng ta không nên cảm thấy bị xúc phạm trước những lời góp ý của thầy cô, ba mẹ, hay bạn thân.

Hài hước: Sự hài hước là một phản ứng cực kỳ hữu dụng với ba lý do,

thứ nhất, làm nhẹ đi sự sỉ nhục,

thứ hai, kéo người xem (nếu có) về phía chúng ta

thứ ba, khuếch tán đi sự căng thẳng của tình huống.

Ta có thể  phóng đại về sự xúc phạm như là một cách đùa giỡn với người đó có thể phù hợp,

“À, nếu cậu quen tôi từ lâu thì sẽ biết rằng tôi từng phạm phải lỗi còn lớn hơn thế này nữa kia.”

Lờ đi sự sỉ nhục:

Nếu tôi nghĩ người xúc phạm tôi chẳng đáng để tôi quan tâm.

Một câu chuyện nổi tiếng về đức Phật Thích Ca

Sau một tràng chửi rủa của Akkosina, Phật mới hỏi rằng ông ta

Khi ông biếu bánh trái hay đồ ăn để cho bạn bè mang về…nhưng nếu họ không nhận quà biếu đó, thì ai sẽ nhận?

– Nếu họ không nhận, thì tôi sẽ nhận lại chứ còn ai nữa.

– Cũng vậy, này Bà-la-môn, ông nhục mạ chúng tôi, nhưng chúng tôi không nhận. Vậy thì ông nhận lại; tất cả là thuộc về ông.

Quay về với con người đích thực của mình

Lâu lâu được nếm mùi xúc phạm. Đây cũng chính là cơ hội ngọc vàng để trở về với con người đích thực của mình.

Với Kitô hữu, tôi là con yêu dấu của Chúa, đầy Thần Khí sức mạnh của Ngài, nhờ đó tôi vượt qua cái tôi tương đối dễ dàng hơn. Thêm vào đó nhờ khối tình yêu của Chúa tôi bỏ qua, tha thứ… tương đối dễ dàng hơn.

Với Phật tử, chân tánh đích thực của tôi chính là Phật tánh…cũng  chính là tánh giác, tánh biết trung  thực… không bị mê mờ điên đảo trước sân si thế gian…

Riêng tôi, tôi phản ứng thế nào trước sự xúc phạm??? 

Tamlinhvaodoi gởi

Quyển Sách Cao Siêu Nhất

14 Tháng Chín

Quyển Sách Cao Siêu Nhất

Người ta thường mượn câu chuyện sau đây để nói đến tinh thần hy sinh, chấp nhận trong cuộc sống.

Có một người kia cứ phàn nàn trách Chúa vì đã gửi đến cho mình một thập giá quá nặng… Chúa bèn đưa người đó đến một cửa hàng có các thập giá đủ cỡ để người đó chọn lựa.

Người đó hăm hở bước vào cửa hàng và dựng cây thập giá của mình vào tường. Người đó tự nhủ trong lòng: “Ðây là chuyện cả đời người, ta phải hết sức cẩn thận”.

Thế là anh ta đi rảo khắp hết mọi lối đi của cửa hàng và thử hết cây thập giá này đến cây thập giá khác. Nhưng không có một cây nào làm anh vừa lòng. Cây thì quá dài, cây thì quá ngắn. Cây thì quá nhẹ, cây thì quá nặng… Anh lại tiếp tục tìm kiếm. Cuối cùng, anh đã tìm được cây thập giá mà anh cho là ưng ý nhất. Anh mang đến với Chúa và nở nụ cười mãn nguyện: “Lạy Chúa, đây chính là cây thập giá mà con hằng tìm kiếm. Con xin vác lấy”. Khi anh vừa hí hửng ra khỏi cửa hàng, thì Chúa mỉm cười nói với anh: “Ta rất vui mừng vì con đã chấp nhận cây thập giá. Ðây cũng chính là cây thập giá mà con đã vác vào và dựng ở tường của cửa hàng”.

Hôm nay Lễ Suy Tôn Thánh Giá, Giáo Hội mời gọi chúng ta đào sâu Mầu Nhiệm Thập Giá trong đời sống Ðức Tin của chúng ta. Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars bên Pháp, đã nói: “Thập giá là quyển sách cao siêu nhất… Chỉ có những ai yêu mến, nghiền ngẫm quyển sách này, những người đó mới thật sự là người thông thái”.

Thập giá Chúa Giêsu là quyển sách cao siêu nhất, bởi vì, đó là dấu chứng cao cả nhất của Tình Yêu. “Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người thí mạng vì người mình yêu”. Từ một khí cụ độc ác đê hèn nhất của con người đã có thể nghĩ ra để hành hạ người khác, Chúa Giêsu đã biến nó thành dấu chứng của Tình Yêu: Tình Yêu vâng phục đối với Chúa Cha và Tình Yêu dâng hiến cho nhân loại…

Suy tôn Thánh Giá Chúa, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta được đi vào Mầu Nhiệm Tình Yêu của Chúa. Trong Mầu Nhiệm ấy, cuộc sống của chúng ta không còn bị đè bẹp dưới sức nặmg của những đau khổ nữa, nhưng luôn mang lấy một ý nghĩa: đó là ý nghĩa của Tình Yêu.

Trích sách Lẽ Sống