Vọng thanh nghe rợn, hồn cô tịch

Suy Tư Tin Mừng Chúa nhật thứ 4 Phục Sinh năm B 22/4/2018

(Ga 10: 11-18) Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

 Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.”

 &    &     &

“Vọng thanh nghe rợn, hồn cô tịch”

“tôi hiểu, lòng anh chửa toại nguyền.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch.

“Chửa toại nguyền”, là bởi hồn anh còn cô tịch. “Thanh nghe rợn, là vì tâm trạng nhiều người ở Hội thánh thời tiên khởi vẫn muốn Chúa Chiên tập hợp toàn thể chiên con về chung ràn, như thánh Gioan diễn tả ở trình thuật.

Trình thuật nay thánh sử ghi, là ghi về Chúa Chiên Hiền từng khẳng định: “Người chăn chiên tốt, chính là Ta! Người chăn chiên tốt thí mạng sống mình vì chiên.” (Ga 10: 11) Nói xong, Ngài lại tiếp:“Ta còn những chiên khác không thuộc ràn này; các chiên ấy, Ta cũng phải chăn dắt.” (Ga 10: 16) Nói lên điều này, Chúa muốn nói đến các giáo hội cùng tin một Chúa vẫn ưu tư chuyện đại kết, rất hài hoà. Suy về điều ấy, tưởng cũng nên biết thêm một chút lịch sử về nguồn gốc các chiên ràn, khác chánh kiến.

Thật ra, thì sự khác biệt giữa các chiên ràn thời tiên khởi do có ly tâm phân rẽ bên trong giáo hội cũng đáng buồn. Đó, là thời mà nhiều nhóm hội/đoàn thể tuy cùng tin một Chúa, nhưng lại chủ trương phụng vụ và luật lệ theo cách khác. Các ngài đã ứng đáp với tình hình Hội thánh lúc ban đầu theo cung cách rẽ chia/phân lìa mãi hôm nay. Lịch sử Đạo còn cho thấy: Hội thánh đã có những đoạn đường lịch sử có chứng tích rất đa dạng.

Thế nên, cho đến hôm nay, đạo hữu theo chân Chúa vẫn ấp ủ đường hướng giáo dục vẫn qui về “hội thánh duy nhất, thánh thiện” chỉ mỗi Công giáo mình để rồi lại sẽ bảo rằng ngay từ đầu, Hội thánh không đấu tranh giành phần cho phe nhóm nào hết. Nhưng, sự thật không phải thế. Từ ban đầu, Hội thánh mang nhiều dạng thức rất khác biệt. Và, đó chính là lý do khiến thánh Hội của ta cứ mãi đề cập đến chuyện tập họp chiên ràn làm một để Chúa ấp ủ, suốt mai ngày.

Ở thời rất sớm, kiều dân Do thái đã phải nổi lên chống báng ngoại bang để rồi kết thúc bằng một trận chiến kéo dài từ năm 66 đến 70. Lúc ấy, là thời kỳ thành thánh Giêrusalem bị ngoại xâm phá huỷ đến tan tành. Mọi Kitô hữu, đều tản mác đi khắp chốn. Và, dấu vết các ngài để lại, đã được tìm thấy ở Galilê và Syria, cũng rất nhiều. Duy, mỗi cộng đoàn thánh Phaolô gồm kiều bào Do thái là rớt lại đến ngày nay. Và, có thể nói mà không sợ quá lời rằng: tín hữu con dân Chúa sống còn đến hôm nay là cánh tay nối dài của cộng đoàn thánh Phaolô nói đến vào thời này.

Từ ban đầu, kiều dân Do thái đã phải giáp mặt với nhiều khó khăn mới, một trong số đó là ngóng đợi ngày Chúa quang lâm vẫn muốn Ngài lại đến với họ một lần nữa mới toại nguyện. Nhưng, chuyện này xem ra không xảy đến. Phải chăng đó là niềm hy vọng viển vông, không thật? Hoặc, tín hữu dân con Chúa vẫn phải sống chuỗi ngày dài không thấy Chúa trở về lại với mình như lịch sử chứng minh, phải chăng đó là sự thật rất khách quan? Và, con dân Đạo Chúa ra như đã và đang lao mình vào với nền văn hoá của ngoại bang, vốn là chuyện rõ như ban ngày. Kết cuộc, các thánh đã đánh mất đi căn tính tư riêng của mình, cũng là điều dễ hiểu.

Kịp đến thế kỷ thứ hai, dân con/tôi tớ Chúa không còn sốt sắng sống đời thực tế mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 3 các ngài mới bắt đầu sở hữu đất đai, sinh hoạt trong các hang toại đạo, nơi phụng thờ và ở đền thánh; để rồi, biến các nơi ấy thành chốn thánh thiêng đặc biệt dành cho Chúa. Cũng mãi về sau, các thánh mới triển khai tín lý của Giáo hội mình gồm một số tín điều rất mới, như: Đức Mẹ Đồng Trinh sạch sẽ, hoặc lời khuyên bảo hãy chết đi cho tội lỗi, để rồi tất cả sẽ trỗi dậy mà đạt chốn hạnh phúc rất miên trường. Mãi về sau, ý niệm về một Hội thánh duy nhất, thánh thiện và chính thống đã từ từ hội nhập vào lòng tin qua giải thích khác biệt.

Từ buổi đầu cho đến giữa thế kỷ thứ tư, đã thấy sự xuất hiện một đế chế gọi là triều đại Constantine, vị hoàng đế khá nổi danh với lời tuyên bố sẽ châm chước cho các Kitô-hữu sống trong đế quốc của ông cả ở trời Đông lẫn phương Tây. Và, ông cho phép mọi người được tự do chọn lựa niềm tin theo ý mình. Kể từ đó, Đạo Chúa trở thành thực thể xã hội sống động. Nhưng, đó chỉ là “văn bản” niềm tin vào Chúa được Constantinechuẩn thuận, mà thôi. Trong khi đó, hầu hết mọi tôn giáo khác, dù cùng tin một Đức Kitô, đều đã phải đi vào chốn âm thầm lặng lẽ, hoặc biến dạng.

Từ quá trình nền tảng được coi như địa bàn soi dọi lối sống đạo và hành xử theo cung cách đạo hạnh, lại thấy xuất hiện một giáo phái mang nhãn hiệu “chính thống”, rất công khai. Trước đó không lâu, một số vị đã tỏ ra không ít thì nhiều đã mang tính tích cực hơn về các chủ đề có liên quan đến người Do thái. Những người khác, không nhiều thì ít, cũng chứng tỏ rằng mình thuộc cộng đoàn thánh Phaolô, nên đã ít nhiều gắn bó với thể chế có kinh nghiệm đạo hạnh khác nhau. Có nhiều bạn đạo, lại đã tham gia dấn bước nhiều hơn vào với tín điều và công thức niềm tin tư riêng. Cuối cùng thì, với triều đại Constantine, một điều khiến Đạo Chúa nối kết hài hoà với nhau, là lập trường khá chính thuần. Duy, chỉ mỗi giáo phái tự cho mình là chính thống ngay từ đầu, mới có cơ phát triển/phổ biến giáo huấn chủ trương rằng Đức Kitô vừa mang Thiên tính, vừa có tính “người” hơn ai hết. Chính Chúa là Đấng duy chỉ một, nhưng Ngài lại gồm những Ba Ngôi. Kịp đến cuối thế kỷ thứ 2, là thời mà nhóm chính thống tiên khởi tồn tại, lại thấy có nhóm khác đi vào giòng “lịch sử âm thâm/trầm lặng” đến độ không ai còn nhớ đến.   

Đôi lúc, nhiều người nhận thấy phần đông các tín hữu Công giáo hiểu rất ít hoặc chẳng sở đắc kiến thức nào về lý lịch Đạo mình. Thậm chí có vị chỉ có trong đầu vài ba ý tưởng lờ mờ về nhóm Cải Cách tách biệt khỏi Hội thánh Công giáo, thôi. Và họ coi như “chỉ mình họ” là nhóm/hội thừa hưởng tính chính thuần sau nhiều luận tranh, giành quyền rất kéo dài, và phía còn lại ở đầu bên kia Đạo Chúa, toàn những sai sót hết. Và người nhà Đạo của ta, cứ thế cho rằng Chúa Chiên HIền Lành là đặc sản/đặc trưng của nhóm Đạo mình thôi. Kỳ thực, mọi chuyện đều không phải thế.

Quả là thời đó, trong số các đạo hữu dấn bước theo chân Đức Kitô, có nhiều điều rất khác biệt. Và, có một số điều ta không tài nào hoá giải được. Thế nên, có lẽ vì vậy mà ta vẫn ước ao làm sao có được tình đại kết, gắn bó. Vẫn nguyện cầu cho đại kết thành hiện thực. Và nhất là, cố chờ cho sự thể này được xảy đến cũng rất chóng. Chừng như mọi người chỉ biết mỗi điều, là: ta vẫn chưa biết cách làm thế nào để tất cả kitô-hữu, tức các kẻ tin vào Chúa, có thể đến với nhau làm “một” mà không cần tranh giành, biện giải. Đến với nhau, để thấy rằng: thời buổi qua, các đấng bậc ở trên cao cũng rối bời đầy tranh chấp về hầu hết các vấn đề thuộc mọi khía cạnh.

Chuyện như thế, lại đã ảnh hưởng lên tâm tưởng ta vẫn có về Đức Chúa. Trên thực tế, điều đó còn ảnh hưởng lên ý tưởng mà mọi người vẫn có về Chúa. Và, phần lớn các tranh luận của cộng đoàn thánh hội thời tiên khởi, thường là: hãy nên coi lại ảnh hình ta có về Đức Chúa (hoặc Đức Giêsu) là Chúa Chiên Hiền Từ, với mọi người. Tất cả, đều có khó khăn với loại ảnh hình khá “nặng nề” về Chúa. Bởi, họ đều muốn một loại ảnh hình về Đức Chúa thôi, nhưng lại không biết rằng: định nghĩa nào dù rõ nét về ảnh hình Thiên Chúa đều phải “dễ thưong” và “cởi mở” hơn mọi thứ. Đa phần thì, điểm “khác biệt“ giữa các giáo hội là đến từ các cuộc tranh luận về chân dung Chúa, ngay từ buổi đầu của Hội thánh.

Vấn đề, nay nên hiểu là: Đức Giêsu, Chúa Chiên Hiền Lành là của tất cả mọi chiên ràn, thuộc mọi hệ cấp giáo hội. Tất cả các chiên con đều tin vào Ngài. Và, Ngài cũng tin tưởng mọi chiên con đến với Ngài. Chúng ta đây, vẫn yêu thương/tự hào về truyền thống rất thánh của Công giáo mình, nhưng cũng nên biết là: ta vẫn hằn in lý lịch thuộc truyền thống khác nhau. Có thế, ta mới có thể hiểu, chia sẻ và cảm thông với sự việc đang xảy đến với Giáo hội là quyết thay đổi lập trường về “đại kết”.

Thay đổi đây, không theo nghĩa cho rằng: giáo hội bạn xưa nay có sai sót, sẽ phải về lại với ta, là “văn bản” chính thống rất mực, bởi ta mới là thành phần đích thực có đạo đức/chức năng rất đúng, mà thôi. Nay, một khi biết rằng mình không như thế, để rồi ta lại sẽ học hỏi để sống khiêm nhu, tự hạ coi mình chỉ nhỏ bé trước mọi người. Thật ra, ta vẫn chung một khuôn thước giống như cũ, vẫn ở mức độ quan trọng như bao giờ. Nhưng, cũng đừng nên cho mình quan trọng hơn như phần đông các nhóm hội đối tác. Thành thử ra, ta sẽ biết được chính mình không chỉ nhờ vào quá khứ, nhưng bằng cả cuộc sống hiện tại, để nhận chân ra sự thật rằng: tất cả chúng ta là “một”, trong muôn người.

Thay đổi được như thế, ta ắt biết lý lẽ của ưu tiên hàng đầu trong hội thánh không do sự thể là ta có thuộc nhóm “chính thuần” hay không, mà là: ta chỉ có duy nhất Một Chúa Chiên Hiền, thôi. Từ đó, toàn thể dân con Chúa sẽ tái xác định ơn gọi làm con Chúa, kể từ lúc này, hoặc khi ấy. Và, ta sẽ thấy mình là nhóm/hội bé nhỏ có đời sống nội tâm đáng quý; và, có ảnh hưởng lớn trên thế giới của đạo giáo khác cũng như của trần thế, quanh ta. Ta không là lời đáp trả cho yêu cầu mọi người đặt, nhưng sẽ luôn nguyện cầu cho mọi người tìm ra câu giải đáp cho lời cầu đích thực, đối với họ.

Thành thử, có thể tương lai sẽ không ra như ta ao ước. Cũng có thể, là ta sẽ không có thêm thời vàng son nào khác trong đó Công giáo mình sẽ lại chế ngự mọi cung cách giải quyết hết mọi việc. Có thể, ta sẽ lại học được nhiều cung cách trở thành chiên con hiền lành, dù không thuộc một ràn như trước đó. Tin Vui mau đến với ta, là: Chúa Chiên Hiền rày sẽ không khác trước, nhưng vẫn như thế mãi.

            Nếu để chiên con đứng trụ trên chân của chúng, rồi tìm cách sống riêng tư/biệt lập, e rằng sẽ khó mà trông coi chăn dắt được chúng. Hãy nâng chúng lên mà quàng cổ, rồi thì chúng cũng ổn định thôi. Rồi thì, người người sẽ có lông chiên mịn màng, dư dả để giải quyết. Và, Chúa Chiên Hiền sẽ biết cách xử sự với chiên con chỉ thích tách lìa, tự cho mình chính thống, độc lập vì chúng sẽ trở về chốn cũ, những cãi tranh, giành quyền rồi rã đám.

Trong tinh thần phấn đấu cho tình đại kết, cũng nên ngâm nga lời thơ đầy ý nhị, rằng:

“Tôi lạc hồn Xuân giữa Cố Đô,

Hỏi giăng, giăng mọc nước Tây Hồ.

Hỏi hoa, hoa vẫn thôn đào liễu,

Lòng hỏi riêng lòng: Đâu bạn xưa?”

(Thơ Đinh Hùng – Cặp Mắt Ngày Xưa)      

Có hỏi hoa và giăng, cũng đâu ngờ rằng hoa-giăng giờ đây đã xum vầy, để mọi người tìm gặp “Cặp Mắt Ngày Xưa” yêu thương mềm mại, tình đại kết. Rất nên duyên.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn

 Mai Tá lược dịch.

Bao lâu nữa anh rời xa tôi?

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 4 Phục Sinh năm B 22-4-2018

“Bao lâu nữa anh rời xa tôi?”
Bao lâu nữa chúng mình chia phôi?
Sao chẳng đến với nhau nụ cười?
Để tình người còn chút luyến lưu?”

(Miên Du Đà Lạt – Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười)

(Lc 2: 10-11)

 Trần Ngọc Mười Hai

 “Cho nhau nụ cười” ư? Có lẽ đây là đòi hỏi cốt-thiết của anh và của tôi, trong đời người! Trong đời người, hễ có câu hỏi ở bài ca những hát rằng:“Bao lâu nữa chúng mình chia phôi?” thì chắc chắn đây không là câu hát hoặc lời hát khá tình-tứ, mà là lời nhắn nhủ xin được gửi đến với mọi người, hôm nay.

Hôm nay đây, bạn và tôi, ta sẽ còn nhiều lời nhắn nhủ gửi đến cho nhau rất “hay ho” hơn thế nữa, chứ? Thôi thì, ta cứ coi mọi sự như thế. Thế nhưng, trước khi đọc tiếp những lời phiếm rất Đạo/đời xục xạo ở đây đó, cũng xin bạn và tôi, ta hãy nghe tiếp đôi ca-từ còn tha-thiết hơn, như sau:

“Mai tôi sẽ xa rời nơi đây.
Mai tôi sẽ nói lời chia tay.
Xin hãy thức với tôi một ngày.
Một ngày dài chỉ có niềm vui.

Xin hãy đến cho nhau nụ cười!
Xin hãy đến cho nhau tình người!
Xin hãy nói yêu thương một lời!
Xin hãy tốt cho đời nở hoa!

Xin hãy tốt cho đời nở hoa!
Khi anh đến hai bàn tay không.
Khi tôi đến đôi chân trụi trần.
Ta chẳng có chút gì đeo mang.

Sao bây giờ nặng gánh trần gian.
Xin hãy đến cho nhau nụ cười!
Xin hãy đến cho nhau tình người!
Xin hãy nói yêu thương một lời!
Xin hãy tốt với nhau cho đời nở hoa.
Tôi chỉ muốn cuộc đời nở hoa.

(Miên Du Đà Lạt – bđd)

“Hãy đến cho nhau nụ cười”, vì đó là một trong những thứ quí giá nhất trên đời, lại miễn phí. Quí giá và miễn phí, như nhiều thứ khác trên đời, chẳng hạn như những thứ được kể ở bên dưới:

“Trên đời này, những thứ quý giá nhất đều là miễn phí.

Trên cuộc đời này, nhiều người hay than thở rằng cuộc đời thật bất công, rằng “Ông trời không có mắt” nhưng bạn có biết rằng, nếu ông trời “không có mắt”, không yêu thương nhân loại, thì nhân loại đã chết từ lâu rồi không? Ông đã ban rất nhiều thứ miễn phí cho con người, chỉ có điều bạn coi đã coi nó là hiển nhiên và không nhận ra mà thôi.

 Ánh sáng mặt trời là miễn phí.

Trên thế gian này, không sinh vật nào có thể sống sót nếu thiếu ánh mặt trời. Thế nhưng có ai từng phải trả một đồng nào cho thứ ánh sáng kỳ diệu đó chưa?

Không khí là miễn phí.

Một người chỉ cần là đang sống trên Trái đất này, có ai mà có thể không hít thở mà có thể sống được? Thế nhưng từ xưa đến nay, đã có ai từng phải trả tiền cho thứ không thể thiếu này chưa?

 Tình yêu là miễn phí.

Đoạn tình cảm sâu đậm cùng nhau vượt sóng gió đó, cuộc tình hoạn nạn có nhau đó, sự hòa hợp của hai tâm hồn cùng đồng điệu đó, chính là sự đồng cảm sâu sắc nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất trong cuộc đời chúng ta. Tất cả những điều này, đều là miễn phí hết và là thứ mà có tiền bạc cũng không thể mua được.

 Tình thân là miễn phí.

Mỗi người chúng ta đều trần trụi khi đến với thế gian này và đều nhận được sự che chở vô bờ bến của cha mẹ, một thứ tình thương không mong báo đáp in sâu trong máu thịt. Nhưng không có người cha mẹ nào nói với con mình rằng: “Con cho mẹ tiền mẹ mới thương con”.

 Tình yêu thương này của cha mẹ, sẽ không giảm giá trị vì bạn đã trưởng thành, càng không mờ nhạt vì họ đã già đi, chỉ cần cha mẹ còn sống ở trên đời này, bạn vẫn nhận được tình yêu thương này trước sau như một.

 Tình bạn là miễn phí.

Người âm thầm ở bên cạnh bạn khi bạn cô đơn, người giơ cánh tay ra đỡ bạn khi bạn ngã, người cho bạn dựa vào vai an ủi bạn khi bạn đau lòng, người luôn sẵn sàng xuất hiện mỗi khi bạn cần giúp đỡ, thế nhưng người đó có bao giờ đổi những thứ đã cho đi thành tiền mặt, sau đó kêu bạn trả không?

 Mục tiêu là miễn phí.

Bất luận là hoàng tử ăn sung mặc sướng, hay là người lang thang ăn mặc rách rưới, bạn đều có thể đặt ra mục tiêu riêng cho cuộc đời mình.. Mục tiêu này có thể là vĩ đại, cũng có thể là bình thường, vừa có thể là huy hoàng và cũng có thể là giản dị, chỉ cần bạn cảm thấy bằng lòng với nó là đủ rồi.

 Tín ngưỡng là miễn phí.

Mỗi một cơ thể máu thịt đều nên có một tín ngưỡng chính xác và kiên định để dựa vào. Đó là nơi nương dựa tốt nhất của linh hồn, là ngọn đèn soi sáng giúp chúng ta vượt qua được mọi khó khăn, trắc trở trên đường đời.

 Còn có gió xuân, thì còn có mưa phùn, còn có ánh trăng trong vắt, thì còn có các vì sao lấp lánh trên trời…

 Vậy nên bạn đừng có than thở với ông Trời nữa, ông Trời không những rất công bằng mà lại còn rất hào phóng. Từ lâu ngài đã đem mọi thứ quý giá nhất, ban tặng miễn phí cho mỗi người rồi, chỉ có điều là bạn có nhận ra hay không mà thôi. (Theo ĐKN – Châu Yến)

Chuyện tình đời thì như thế. Còn, chuyện nhà Đạo thì ra sao?

Chuyện nhà Đạo ư? Nhà Đạo mình ít khi nói thẳng/nói thật về những vương vấn/khúc mắc tiền bạc hoặc quỹ tài trợ như bài báo viết trên tờ Tuần Báo Sydney, như sau:

“Sau lần bất mãn về tin tức Vatican “có chịu tài trợ $33 triệu đô hay không” bị lọt ra ngoài cho báo giới biết, giới lãnh đạo Quỹ Tài Trợ của Tòa thánh đặt cơ sở ở Hoa kỳ đã kêu gọi mọi người có thời-gian để suy nghĩ và đánh giá lại sứ-vụ này, về phương-án chấp-thuận việc tặng-dữ và quan-hệ giữa các tổ-chức này với Tòa thánh”.

 Và trong khi Quỹ này vẫn định ngày hành hương Rôma từ 11/4/18 đến 14/4/18, chắc chắn là chuyến đi này sẽ không bao gồm việc diện-kiến thông-thường với Đức Giáo Hoàng, theo tin của Quỹ này cho biết vào ngày 22/3/18 vừa qua. Lại có tin là Tòa thánh Vatican đã đồng ý dời ngày diện kiến Đức Giáo Hoàng cho đến khi công-tác của Quỹ này hoàn-tất và các thành-viên của Quỹ và các vị quản-lý đồng ý về sứ-vụ này cũng như về cơ-cấu quản-trị và quan-hệ với Tòa thánh được hoàn-tất…

 Được biết, Quỹ Giáo-hoàng nói ở đây, được thành-lập vào năm 1988. Và từ năm 1990 đến nay, Quỹ này đã tặng-dữ số tiền hơn $157 triệu đô Úc bằng hiện kim và qua học bổng. Thành-viên của Quỹ được gọi là “nhân-viên phục-vụ” cũng hứa tặng $1.3 triệu đô Úc trong vòng 10 năm liền với số tiền là $130.000.00 đô, mỗi năm. Tháng Hai/2018 vừa rồi, nội bộ Quỹ có rò rỉ cho công chúng biết thư-từ qua lại, có liên-quan đến yêu-cầu của Tòa thánh cung-cấp $33 triệu đô Úc cho Cơ-quan có tên là “Dermopatico dell’Immacolata, tức bệnh-viện hàng đầu ở Rôma chuyên trị bệnh ngoài da cũng như ung-thư da cho các bệnh-nhân nghèo/túng.

 Nhiều tài-liệu quan-trọng của Quỹ Giáo-hoàng này lại được tải lên mạng truyền-thông đại chúng có đính kèm một bài viết của James Logon là chủ-tịch Ủy Ban Thanh Tra Quỹ bảo rằng “Bệnh viện IDI nói trên từng có nhân viên truyên-thông/báo chí bị thất-sủng đã tham-ô/biển-thủ đến phá sản “, và có tin đồn nói rằng ban Giám-đốc Quỹ này đã phê-chuẩn số tiền tặng-dữ lên đến $33 triệu mà không theo nguyên-tắc nghiệp-vụ và bất cẩn.” Sau đó, chủ tịch Longon đã từ-nhiệm chức chủ-tịch Ủy ban nói trên.

 Trong báo cáo đề ngày 05/01/2018 gửi cho các thành-viên của Quỹ này, sau đó lại cũng tải lên mạng, có nói rằng: các lãnh-đạo của Quỹ có nhận rằng yêu cầu trị giá $33 triệu đô, cả về tầm-cỡ lẫn dụng-đích.

 Thế nhưng, bức thư này lại cũng bảo rằng: cuối cùng thì, “ban Giám đốc đã đồng loạt đi đến kết-luận không một ai bất-đồng quan-điểm chủ-trương yêu cầu ấy là từ Đức Giáo Hoàng đương-nhiệm” trong khi đó, Ủy ban là đòi bệnh viện nói trên là: cứ ba tháng một lần, bệnh viện nói trên phải tường-trình tài chánh cho rõ rệt về tình-trang hành-chánh quản-trị,  và giao dịch cho phù hợp với trách-nhiệm giải-trình của ủy-ban.

 Thật sự thì bản-chất và tầm-kích của yêu cầu này dẫn đến số-lượng các cuộc bàn-bạc ngoại-thường trong phạm-vi nội bộ của Quỹ. Theo nguồn tin này, thì: từ tháng 6 đến tháng 12 vừa qua đã có các buổi tái xét xảy ra liên-tục và, theo yêu cầu của Quỹ, thì các lãnh-đạo Hiệp hội Y-tế Công-giáo đã nghiên-cứu tình-trạng của bệnh-viện và các ấn-phẩm nói về chuyện này… 

Quỹ nói ở đây lại cũng đã bảo-đảm sẽ “thường xuyên cập-nhật tình-trạng của bệnh-viện, cũng nhiều thông-tin hơn là Quỹ này nhận được về các số tiền tặng-dữ khác xứng hợp hơn.”                (X. Cindy Wooden, Vatican Request Perplexes US Fund, The Catholic Weekly 08/4/2018 tr. 23)

Trong tinh thần “Vui, là tất cả”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng từng dấy lên giòng chảy tư-tưởng khuyến-khích con dân trong Đạo cứ sống vui, sống khỏe, như sau:

 “Niềm vui là đức hạnh nền tảng của đời sống kitô hữu, là hoa quả, là dấu hiệu có sự hiện diện của Thần Khí trong tâm hồn của người tin, Tin Mừng cho thấy, khi thiên thần báo tin cho Đức Mẹ đã nói: “Vui mừng lên hỡi Maria!”, khi thiên thần báo tin cho các mục đồng khi Chúa Giêsu sinh ra. Như thế không có gì là không phù hợp với chủ đề bây giờ trở thành chủ đề “tủ” của Đức Phanxicô.

 Thêm nữa, Đức Phanxicô đặc biệt nhạy cảm với tác động của Thần Khí, ngài hay lặp lại: “Thần Khí là món quà của Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng luôn làm chúng ta ngạc nhiên: Thiên Chúa của những chuyện ngạc nhiên.” Ngài thấy sự sáng tạo vui tươi của Thần Khí là liều thuốc giải độc cho sự cứng rắn tinh thần, một căn bệnh tật thực sự mà ngài liên kết với buồn bã.

 Trong một bài giảng tuyệt vời vào ngày lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh, Đức Phanxicô đã nêu lên hai hình thức vui: vui của đức tuân thuận và vui của ngôn sứ. Mẹ Maria và Thánh Giuse là các cha mẹ trẻ tuân thuận, họ vui tuân theo lề Luật của Chúa và hoàn tựu những gì đã được định để sinh con. Ông Simêon và bà Anna, các ngôn sứ nhảy múa hân hoan vì lòng họ tràn ngập Thần Khí. Xin anh chị em vui lòng, đừng bao giờ là các nữ tu, các linh mục với khuôn mặt chua như giấm, đừng bao giờ! 

Với mức độ riêng tư, Đức Phanxicô là người chọn lựa niềm vui. Và đó cũng là một ơn. Sự quân bình giữa ân sủng và quyết tâm của mình luôn là điều huyền bí. Điều này thể hiện rõ ở nụ cười của Đức Phanxicô khi ngài tiếp xúc với giáo dân trong các buổi tiếp kiến chung, khi ngài đứng trước “dân” mình, vậy mà trước khi được bầu chọn, gần như ít khi thầy ngài cười, ngài luôn có khuôn mặt buồn và khắc khổ. Hay trong lời ngài nhắn nhủ với các linh mục, nam nữ tu sĩ khi năm 2013, ngài xin họ đừng là “các cô gái già, các chàng trai già”, hay khi ngài nói với các chủng sinh cũng năm 2013: 

“Không có sự thánh thiện trong buồn bã! Khi bạn thấy một linh mục, một nữ tu, một chủng sinh có khuôn mặt dài thườn thượt, không vui vẻ thì bạn biết đã có một cái gì không chạy! Xin anh chị em vui lòng, đừng bao giờ là các nữ tu, các linh mục với khuôn mặt chua như giấm, đừng bao giờ!” 

Cách đây một năm ngài còn gắn tấm bản “Cấm than phiền” ở cửa văn phòng mình. Theo Đức Phanxicô, vui vẻ là trên tất cả, nhưng không phải là chuyện ngọt ngào! Đó là điểm đặc biệt của các vị thánh. Một kỷ luật. Hay đúng hơn đó là hoa trái của cuộc chiến thiêng liêng.” (Marta An Nguyễn trích dịch và tải lên mạng vi tính tháng 4/2018) 

Nói gì thì nói, giữ Đạo cách vui tươi, hài-hòa đã là tập-trung sống thánh-thiện cả đời mình rồi. Và, ngày nay, người đi Đạo và giữ Đạo lại có thể quả quyết một cách không sai lầm rằng: Hễ thấy đồng Đạo mình sống vui, sống lành và rất mạnh”, tựa hồ Lời Đấng Thánh Hiền khi xưa từng quả quyết:

“Anh em đừng sợ.

Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại,

cũng là tin mừng cho toàn dân…”

(Lc 2: 10-11)

Người Đạo Chúa, nay đã đạt niềm vui “khôn tả”, nên không còn sợ bất cứ thứ gì, dù “anh có rời xa tôi”, và dù “chúng mình chia phôi?” và “chẳng đến với nhau nụ cười” như phải có. Nói tóm lại, một khi niềm vui “ta đã đạt”được rồi thì “con đường thánh-thiện chẳng xa là bao”, nhất định là như thế.

 Nhất-định thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào vùng trời tuyện kể để đưa ra một kết-luận “có hậu” bằng đôi ba giòng nhè nhẹ/vui vui có đầu đề là “Thưa cha, con không đi nhà thờ nữa!”, như sau:

Hôm 31 tháng Giêng 2018, tại xứ đạo Vianney de Villaret, bên Pháp có truyện kể hỏi rằng:

-Có ai chưa bao giờ cảm thấy bực mình vì ca đoàn hát sai, vì linh mục giảng quá dài, vì người bên cạnh dám nghe điện thoại cầm tay không? Cám dỗ quá lớn đối với một số người, họ tức tối và bỏ nhà thờ ra đi không trở lại! 

 Lm Matthieu Lefrançois, cha xứ họ đạo Thánh Antôn ở Angers tìm được một bài trên Facebook của “Giáo hội Công giáo Guinea” để kêu gọi chúng ta chỉ tập-trung nhìn Chúa Kitô thôi, như sau:

“Có thanh niên trẻ nọ đến gặp linh mục chánh xứ rồi thưa:

– Thưa cha, con sẽ không đi nhà thờ nữa!

Linh mục hỏi:

– Vậy à, con có thể cho cha biết lý do được không?

Người thanh niên trả lời:

– Lạy Chúa tôi, ở đây con thấy cô này nói xấu cô kia; anh đọc Sách Thánh đọc quá dở; ca-đoàn thì: vừa chia rẽ vừa hát sai; người đi xem lễ: thì chỉ chăm chăm chú chú nhìn điện-thoại, đó là không nói đến chuyện sống ngoài nhà thờ, họ là những người ích kỷ, cao ngạo…

Linh mục bèn nói với anh:

– Con có lý. Nhưng trước khi dứt khoát rời bỏ nhà thờ, con có thể làm cho cha một việc này được không? Con rót một ly nước đầy, rồi đi quanh nhà thờ ba vòng mà không làm đổ một giọt nào đấy nhé! Sau đó, con có thể bỏ nhà thờ mà ra đi. Người thanh niên tự nhủ: quá dễ! Và anh đi ba vòng như cha xứ dặn. Đi xong, anh về thưa với cha xứ:

–Rồi, con đi xong rồi.

Cha xứ hỏi:

-Khi con đi, con có thấy cô này nói xấu cô kia không?

Người thanh niên trả lời:

–Thưa cha không.

-Thế, con có thấy người này người kia thờ ơ với nhau không?

Người thanh niên đáp:

–Thưa cha không.

-Thế, con có thấy người này người kia chúi mũi vào điện thoại không?

Người thanh niên lại cũng đáp:

– Không, con không thấy gì hết.

–Thế, con có biết vì sao con không thấy gì hết không? Đó là vì con mải tập-trung để ly nước không bị đổ. Con có biết là: cuộc đời cũng vậy không? Khi tâm hồn chúng ta tập trung vào Chúa Kitô, thì chúng ta không có thì giờ để thấy được các sai lầm của người khác. Ai ra khỏi nhà thờ vì các kitô hữu đạo-đức-giả, thì chắc-chắn họ cũng không vào nhà thờ vì Chúa Giêsu”.(Truyện kể do Giuse Nguyễn Tùng Lâm trích dịch và đăng tải cho mọi người cùng thưởng-thức).

Truyện kể trên, tưởng chừng kể như thế cũng đủ. Chẳng cần thêm thắt gì nữa. Bởi, kể như thế cũng đã đạt, tức: như mọi câu chuyện Phiếm Đạo/đời, có viết hoặc có kể ra đây cũng chỉ để mọi người vui, chứ không có mục-đích nào khác. Kể như thế, thì đương nhiên là người viết cũng như người đọc hôm nay, đều mãn nguyện mà xếp bài/báo này lại mà nghỉ ngơi cho nhẹ người, sau chuỗi ngày căng-thẳng vì nhiều thứ chuyện, trên đời này.

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn quyết tâm rằng:

Lâu nay có viết lai rai, dài dài 

cũng chỉ để mọi người cũng như mình,

gặp được niềm vui

mà thôi. 

Đức Thánh Cha an ủi cậu bé có người cha quá cố là người vô thần

 Đức Thánh Cha an ủi cậu bé có người cha quá cố là người vô thần

Chúa yêu chúng ta, dù chúng ta tội lỗi!

Trong chuyến viếng thăm giáo xứ Thánh Phaolô Thánh giá, trong khu phố Corviale của Rôma, Đức Thánh Cha đã gặp các tín hữu trước khi cử hành Thánh Lễ chiều Chúa Nhật 15 tháng Tư, Chúa Nhật thứ Ba mùa Phục sinh.

Như thường lệ trong các chuyến viếng thăm các giáo xứ trong giáo phận Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến nơi trước thánh lễ khoảng 2 tiếng đồng hồ để gặp gỡ anh chị em giáo dân. Ngài đến giáo xứ Thánh Phaolô Thánh giá lúc 4 giờ chiều. 

Trước thánh lễ, Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ các trẻ nhỏ trong các lớp học giáo lý, cũng như những người cao tuổi, người nghèo, và các thành viên bị bệnh trong giáo xứ; và sau đó giải tội cho nhiều người.

Những người quẫn bách phải ở vị trí trung tâm của giáo xứ

Trong cuộc gặp gỡ với người cao tuổi, Đức Thánh Cha nói về “bổn phận” của giáo xứ phải có mặt để giúp đỡ người dân” vì những người quẫn bách là trung tâm của giáo xứ, và trung tâm của Tin Mừng. Mọi người đều phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc đời, nhưng nỗi buồn và những khó khăn của chúng ta không cho phép chúng ta đánh mất đi niềm hy vọng hay niềm vui của chúng ta, bởi vì Chúa Giêsu đã đến để “cứu chuộc” những vết thương của chúng ta bằng những vết thương của Ngài.” Điều này, Đức Thánh Cha nói, là niềm vui của chúng ta, “Chúa Giêsu đã trả giá cho chúng ta, Ngài gần gũi chúng ta, Ngài muốn những gì là tốt lành cho chúng ta.”

Khả năng hoán cải con tim của Chúa Giêsu

Đức Thánh Cha Phanxicô đã bắt đầu chuyến viếng thăm của ngài với phần hỏi đáp cùng với một số trẻ em của giáo xứ. Trong một trao đổi thú vị, Đức Thánh Cha hứa sẽ trả lời câu hỏi “đoạn Kinh Thánh nào ngài yêu thích nhất” nếu như các trẻ con trong giáo xứ hứa đọc đoạn Kinh Thánh này khi về nhà. Đức Thánh Cha cho biết câu chuyện hoán cải của Thánh Matthêu, trước khi theo Chúa Giêsu là một người thu thuế là một trong những câu chuyện ngài thích thú nhất. Câu chuyện này “cho thấy quyền năng hoán cải con tim của Chúa Giêsu.”

Tất cả đều là con của Thiên Chúa

Đức Thánh Cha cũng trả lời câu hỏi của một em bé gái: “Chúng ta ở đây là những người đã chịu phép rửa tội, chúng ta là con cái Thiên Chúa. Nhưng những người không chịu phép rửa thì sao?”. Đức Thánh Cha đáp: Tất cả chúng ta đều là con cái Chúa, dù là được rửa tội hay không, người tốt hay người xấu. Cả những người theo mafia, cho dù họ thích hành động ‘như con cái ma quỉ’. Chúa tạo dựng nên tất cả mọi người. Ngài yêu thương tất cả mọi người, và đặt trong con tim tất cả mọi người lương tâm để họ nhận ra điều gì là tốt, và phân biệt nó với những gì là xấu xa.”  Nhưng khi chúng ta chịu phép rửa tội, Ngài nói, “Thánh Thần Chúa bước vào lương tâm đó, và củng cố sẽ thuộc về Thiên Chúa của con”, và trong một nghĩa nào đó, “ngài làm cho con trở nên một người con gái của Thiên Chúa hơn”.

Thiên Chúa có “trái tim của một người cha”

Cuối cùng, một cậu bé, quá xúc động ràn rụa nước mắt, đã không thể đặt câu hỏi của mình – vì vậy Đức Giáo Hoàng kêu cậu bé đến gần và nói thầm trong tai ngài. Sau đó ngài hỏi cậu bé có cho ngài lặp lại câu hỏi của cậu không. Đức Thánh Cha tóm tắt lại câu hỏi của cậu:

“Cậu bé khóc vì cha mình”, là người vừa mới chết cách đây không lâu, “và cậu bé đã có can đảm để nói về điều đó trước mặt chúng ta, vì tình yêu mà cậu dành cho cha mình trong tâm hồn”, cậu bé hỏi liệu cha cậu, một người không có niềm tin, có được lên thiên đàng không. “Cha con là một người đàn ông tốt”, cậu bé nói với Đức Thánh Cha.

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nghĩ như cậu. Ngài nói: “Đây là một chứng tá thật đẹp” khi con trai của một người đàn ông có thể gọi ông là người tốt. 

Trả lời câu hỏi của cậu bé, Đức Thánh Cha nói chỉ có Thiên Chúa mới có thể biết ai là người được lên thiên đường. Tuy nhiên, người cha của cậu bé dù là người vô thần đã cho cả 4 người con của mình được rửa tội. Một tín hữu cho con mình được rửa tội là điều dễ hiểu, một người vô thần cho cả 4 người con của mình được rửa tội thì hẳn phải là người tốt. Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “Thiên Chúa có trái tim của một người cha nhân hậu sẽ không để cho một người tốt như vậy bị lìa xa khỏi Ngài.”

From: Do Tan Hung & Nguyen Kim Bang

Con chỉ biết tạ ơn Chúa,

Lạy Chúa,

Chúa là thức ăn, thức uống của con.
Càng ăn, con càng đói;
càng uống, con càng khát;
càng sở hữu, con lại càng ước ao.

Chúa ngọt ngào trong cổ họng con
hơn cả tầng mật ong,
vượt quá mọi thứ ngọt ngào khác trên đời.

Lúc nào con cũng thấy đói khát và ước ao,
vì con không sao múc cạn được Chúa.

Ngài nghiền nát con hay con nghiền nát Ngài?
Con chẳng rõ; vì ở thẳm sâu lòng con,
con cảm thấy cả hai.

Chúa đòi con nên một với Ngài,
đòi hỏi đó làm cho con đau đớn,
vì con không muốn từ bỏ
những thói quen của con
để ngủ yên trong tay Chúa.

Con chỉ biết tạ ơn Chúa,
ca ngợi và tôn vinh Chúa,
bởi đó là sự sống đời đời cho con.

(Ruy Broeck)

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

MƯỜI ĐIỀU RĂN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong số Mười Điều răn, có một điều bắt đầu bằng chữ ‘Giữ’ Giữ ngày chúa nhật.  Nó nhắc cho chúng ta nhớ về một điều mình đã biết.  Có các giới răn của lòng thương xót ghi sẵn trong DNA của chúng ta. Chúng ta đã biết, nhưng cần phải nhớ rõ ràng hơn.  Đó là gì?

Mười Điều răn của Lòng thương xót

  1. Nhớ rằng lòng thương xót nằm sâu thẳm nhất trong trái tim Thiên Chúa.

Hiếm có điều nào thể hiện yếu tính Thiên Chúa hơn là lòng thương xót.  Lòng thương xót là yếu tính của Thiên Chúa.  Kinh thánh dùng những từ ngữ như trìu mến yêu thương và cảm thương để cố gắng định nghĩa lòng thương xót Chúa, nhưng khái niệm kinh thánh trọng tâm, nắm bắt từ khái niệm hesed của Do Thái, bao hàm một mối quan hệ yêu thương, ôm lấy và tha thứ ngay cả khi và nhất là khi chúng ta không thể vươn đến hay xứng đáng với những gì Chúa ban cho chúng ta.

  1. Nhớ rằng lòng thương xót là yếu tính của mọi tôn giáo.

Bên trong tôn giáo và linh đạo, bên trong mọi đức tin, có ba điều cần phải nằm ở vị trí trọng tâm, là hành đạo đúng hợp, vươn đến người nghèo, và lòng cảm thương.  Xét tận cùng, chúng không đối nghịch nhau, nhưng là những mảnh bổ trợ của một lòng đạo toàn diện.  Nhưng việc hành đạo và vươn đến người nghèo là sự mở rộng của tình yêu Thiên Chúa chứ không phải của bản ngã con người, chúng cần được căn cứ trên cảm thương, trên lòng thương xót.  Sâu thẳm bên trong mọi tôn giáo là một lời mời: Hãy động lòng thương, hãy thương xót như Thiên Chúa thương xót.

  1. Nhớ rằng tất cả chúng luôn mãi cần lòng thương xót.

Thiên đàng sẽ nhảy mừng vì một người có tội ăn năn hoán cải hơn là vì chín mươi chín người công chính.  Liệu Thiên Chúa yêu mến người có tội hơn là người công chính?  Chẳng có ai là công chính.  Đúng hơn là, chúng ta cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa rõ ràng hơn khi thú nhận mình là người có tội.  Không một ai trong chúng ta đủ tầm.  Nhưng, như thánh Phaolô đã không ngừng dạy rằng, chúng ta không cần phải đủ tầm.  Đó chính là ý nghĩa của lòng thương xót.  Lòng thương xót dành cho những người không xứng đáng.

  1. Nhớ rằng, khi được nhận lòng thương xót, chúng ta phải thương xót người khác.

Chúng ta chỉ đón nhận và cảm kích lòng thương xót của Chúa và của người khác, khi chúng ta cũng thực hiện lòng thương xót đó với người khác.  Lòng thương xót phải đổ tràn qua chúng ta.  Nếu chúng ta không chuyển lòng thương xót đến với người khác, thì chúng ta sẽ trở nên nuông chiều bản thân và khắc nghiệt với người khác.

  1. Nhớ rằng chỉ có thực hành lòng thương xót mới cho chúng ta tự do.

Đón nhận và trao đi lòng thương xót, là điều duy nhất giải thoát chúng ta khỏi chiều hướng bẩm sinh của mình là mưu cầu bản thân, tự bào chữa cho mình và phán xét người khác.  Không có gì giải thoát chúng ta khỏi bạo chúa bản ngã cho bằng thực hành lòng thương xót.

  1. Nhớ rằng lòng thương xót không mâu thuẫn với công lý, nhưng là thành toàn cho công lý.

Như hồng y Walter Kasper đã nói rất khôn ngoan, “Lòng thương xót là một dạng nước làm mềm vải, xói mòn giáo lý và giới răn, xóa bỏ ý nghĩa trọng tâm và nền tảng của chân lý.”  Đây chính là những gì mà người Pharisiêu cáo buộc Chúa Giêsu.  Lòng thương xót là khi công lý phải nhường bước.

  1. Nhớ rằng chỉ có thực hành lòng thương xót mới làm cho Nước Chúa trị đến.

Chúa Giêsu hứa với chúng ta rằng người hiền lành sẽ thừa hưởng địa cầu, người nghèo sẽ được ăn uống dư dật, và mọi nước mắt sẽ được lau khô.  Chuyện này chỉ có thể xảy ra khi lòng thương xót thế chỗ của tư lợi.

  1. Nhớ rằng lòng thương xót cần phải được thực hành chung.

Sống lòng thương xót trong đời mình mà thôi, thì không đủ.  Lòng thương xót bị đẩy ra ngoài rìa khi xã hội không để tâm đủ đến những con người yếu đuối hay túng quẫn, và cũng bị đẩy ra rìa khi giáo hội xét đoán.  Chúng ta phải tạo một xã hội thương xót và một giáo hội thương xót.  Chỉ mình lòng thương xót mới có thể cho người yếu đuối được sống.

  1. Nhớ rằng lòng thương xót kêu gọi chúng ta làm việc cả mặt thiêng liêng lẫn vật chất.

Đức tin Kitô giáo đòi buộc chúng ta biểu lộ lòng thương xót song song, vừa cụ thể vừa thiêng liêng.  Những việc làm lòng thương xót phần xác kinh điển là: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho khách đậu nhà, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng người bệnh, thăm kẻ tù rạc, và chôn cất kẻ chết.  Những việc thương xót phần hồn kinh điển là: dạy bảo kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn dạy kẻ có tội, tha kẻ dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều ơn khác nhau và tất cả chúng ta đều hơn người khác ở một điểm nào đó, nhưng lòng thương xót thì được biểu lộ trong mỗi một người chúng ta, không chừa một ai.

  1. Nhớ rằng cuộc sống của chúng ta là đối thoại giữa lòng thương xót của Thiên Chúa và sự yếu đuối của con người.

Điều duy nhất làm chúng ta xứng đáng là vì chúng ta bất xứng.  Chúng ta luôn mãi bất toàn, dù cho có mạnh mẽ, chân thành, thiện ý đến đâu chăng nữa.  Chỉ có lòng thương xót, khi đón nhận và trao đi lòng thương xót, chúng ta mới có thể ra khỏi những lo lắng, băn khoăn và vô vị cuộc đời mình.  Chỉ khi biết lòng thương xót, chúng ta mới biết tri ân.

Năm 2016 Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn tất cả chúng ta sống một năm của lòng thương xót, để suy ngẫm mầu nhiệm lòng thương xót là “giếng nước niềm vui, thanh thản và bình an.”  Đức Giáo hoàng tin rằng Lòng thương xót là bí mật để cho thế giới thấy dung nhan đáng tin của Thiên Chúa, gương mặt khả tín của Giáo hội, và để cho chúng ta bước đi vững vàng trong cuộc sống.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Lạy Chúa Giêsu xin ban cho con có lòng thương xót và biết thực hành lòng xót thương như Cha trên trời là Đấng đầy lòng xót thương.  Amen!

From Langthangchieutim gởi

NGHE-BIẾT-THEO

NGHE-BIẾT-THEO

Lm Trịnh Ngọc Danh

Những dấu hiệu để nhận ra người thân quen là gương mặt và giọng nói.

Tuy cách nhau, nhưng nhớ đến ai, ta vẫn hình dung ra được gương mặt người ấy; nghe giọng nói qua điện thoại, ta nhận ra ngay người thân quen của ta là ai.

Chính Chúa Giêsu đã xác nhận: “Các chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga. 10,27), hay “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta” (Ga. 10,14).

Động từ “biết” trong Kinh Thánh có một ý nghĩa đặc thù diễn tả tình yêu thương kết hợp nơi thân xác của vợ chồng để cả hai trở nên một như Chúa Cha biết Chúa Con và Chúa Con biết Chúa Cha.  Khi nghe Thiên Thần báo tin: “Này Trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu…”, Trinh nữ Maria đã trả lời: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”

Như thế “biết” là không chỉ có ý nghĩa thuần túy thuộc phạm trù nhận thức mà còn bao gồm cả về phương diện tình cảm.  Biết là thân thương, trìu mến, gắn bó, kết hợp.

Ta biết các chiên Ta

Chúa Giêsu đã tự xác nhận mình là Mục Tử.  Ngài là chủ đàn chiên chứ không phải người chăn thuê và là một Mục Tử Nhân Lành.  Khác với chủ chăn đích thực, người chăn thuê, vì đàn chiên không thuộc về anh ta, anh ta không thiết gì đến đàn chiên, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy, mặc cho sói vồ lấy chiên và làm cho chúng chạy tán loạn.

Người Chăn Chiên Nhân Lành ấy biết đàn chiên của mình là con cái cùng một Cha, cùng chung một mái nhà, là anh em, là bạn hữu chứ không phải là tôi tớ…, biết từng con chiên một, biết đàn chiên yếu đuối hay sa ngã, biết chúng đang phải sống một kiếp sống hủy diệt vì tội lỗi, biết chiên đang khát vọng tìm một đồng cỏ xanh tươi, một dòng suối mát cho cuộc sống để nghỉ ngơi…

Vì yêu thương đàn chiên, muốn giải cứu chúng khỏi kiếp sống diệt vong ấy để được sống hạnh phúc viên mãn nơi Nhà Cha trên trời, người Mục Tử Nhân Lành đã xuống thế mang thân phận thấp hèn của con chiên, đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên để từ sự phục sinh của người Mục tử Nhân Lành, đàn chiên được sống trong an bình và hy vọng.

Chúa Giêsu chịu chết và phục sinh, Mục Tử Nhân Lành đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, cho từng con người.  Ngài muốn chăn dắt, gìn giữ, nuôi sống từng con chiên một trong đàn chiên.  Mục Tử Nhân lành biết các chiên của mình là như thế đó!  Và dung mạo của Chủ Chăn ấy là nhân lành, yêu thương, biết các chiên, hy sinh mạng sống vì đàn chiên và bảo vệ đàn chiên là như thế đó!”

Là con chiên thuộc đàn chiên của Mục Tử Nhân Lành, ta đã biết chủ chăn, nghe tiếng Đấng ấy như thế nào?  Đã cảm nhận được sự hy sinh, bảo vệ, chăm sóc qua cái “ biết” của Mục Tử ấy chưa?

và các chiên Ta biết Ta, chúng nghe tiếng Ta

Nhờ dấu hiệu nào giúp chúng ta “ biết” Chủ Chăn?

Qua Kinh Thánh và nhất là qua Tin Mừng và phép Thánh Thể, ta biết Ngài, nghe tiếng Ngài kêu gọi. Ngài là Đấng Phục Sinh, nghĩa là Đấng Hằng Sống.  Ta sẽ biết rõ Ngài hơn, nhiều hơn, thân mật hơn, nếu ta sống và đi vào cuộc sống với, sống cùng các chiên khác.

Chúng ta đọc Kinh Thánh để nhận biết Người Chăn Chiên, để nghe tiếng Đấng ấy kêu gọi, nhưng ta nhận biết và nghe được tiếng gọi ấy bằng cách nào?  Bằng phân tích, lý luận hay bằng tình cảm tin yêu?

Ba người ngồi trao đổi với nhau về bản dịch Kinh Thánh.

Ông thứ nhất nói:

– Tôi thích bản dịch A.  Nó sáng sủa hơn những bản dịch trước.  Bản dịch này đọc dễ hiểu hơn.

Ông thứ hai nhận định:

– Tôi thì thích bản dịch B hơn.  Bản dịch vừa rõ ràng lại vừa văn chương, rất thích hợp cho chúng ta cầu nguyện.

Ông cuối cùng nhỏ nhẹ nói:

– Phần tôi, tôi thích bản dịch của mẹ tôi nhất.  Mẹ tôi dịch Thánh Kinh ra thực thế, làm cho Thánh Kinh dễ dàng áp dụng vào đời sống hằng ngày.

 Mỗi ngày, có thể ta sẽ viết thêm một trang mới vào cuốn sách Tin Mừng sống của thời đại bằng chính những việc ta làm, bằng những lời ta nói.  Nếu những lời nói và hành động của ta không phản ảnh được những giá trị của Tin Mừng, thì những lời nói và hành động ấy cũng chẳng nói lên được gì cả.

Sống và thực hành lời Chủ Chăn kêu gọi: hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, nhiệt thành tham dự Thánh Lễ để từ đó sống kết hợp với Ngài là ta biết và nghe tiếng Mục Tử Nhân Lành kêu gọi.  Bổn phận của con chiên là biết nghe tiếng của chủ chăn.  Chỉ có một tiếng thôi, không có tiếng nào khác để chiên nghe theo mà được yên ổn, an vui, sống hạnh phúc ngoài tiếng Giêsu.  Nhưng chỉ có thế thôi thì chưa đủ, chưa trọn vẹn bổn phận mà còn phải bước theo sự dìu dắt của Mục Tử nhân lành.

và chúng theo Ta” (Ga. 10, 27)

Đã biết Chủ Chăn, và đã phân biệt được tiếng gọi của Ngài với tiếng gọi của người chăn chiên thuê, ta phải mau mắn, tin tưởng đi theo.  Đi theo để được chăm sóc, được bảo vệ khỏi mọi hiểm nguy trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Không như người chăn thuê, khi thấy sói rừng đến thì bỏ mặc đàn chiên mà chạy thoát thân; trái lại, Mục Tử Nhân Lành của ta sẵn sàng thí mạng sống mình vì đàn chiên.  Đi theo và tin tưởng phó thác vào sự bao bọc chở che của Chủ Chăn đã lấy mạng sống Ngài để bảo vệ, cứu thoát ta khỏi tội lỗi và cái chết hủy diệt, để đưa ta vào sự sống Phục sinh vĩnh cửu như tác giả Thánh vịnh 22 đã cảm nghiệm:

Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Ngài cho tôi nằm nghỉ.

Ngài đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.

Ngài dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính, vì danh dự của Ngài.

Lạy Chúa, dầu qua thung lũng tối tăm,

con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.

Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm…

 Thế nhưng, ta có sẵn sàng chịu nghe tiếng của Chủ Chăn để tìm về với Ngài mỗi khi đi lạc đường, có sẵn sàng đi theo Ngài để cho Ngài bảo vệ, chăm sóc hay lại tìm cách tách rời đàn chiên để đi tìm những bãi cỏ tiền tài, danh vọng, bãi cỏ ý riêng… thay vì gặm cỏ xanh tươi, uống nước dòng suối mát nơi đồng cỏ Tin Mừng và Thánh Thể!

Phải coi chừng chủ chăn giả hay người chăn thuê, vì đàn chiên không thuộc về ngưới ấy, nên họ thiếu trách nhiệm với đàn chiên, ích kỷ sợ nguy hại đến bản thân mình hơn đến số phận của đàn chiên.  Ngược lại, Mục Tử nhân lành là người yêu thương, bảo vệ, chăm sóc đàn chiên, biết từng con chiên một.

Tiêu chuẩn cuối cùng để phân biệt chủ chăn đích thực và người chăn chiên thuê là thí mạng sống vì đàn chiên.  Chỉ có Mục Tử Nhân Lành Giêsu là Đấng đã làm như thế cho đàn chiên của mình.

Là chiên trong đàn chiên của Chúa, có ba điều ta cần phải suy xét và thực hành trong cuộc sống của mình là:

Chiên Ta nghe tiếng Ta, chúng biết Ta và chúng theo Ta.  Sống và thực hành ba điều đó không phải chỉ để mưu tìm hạnh phúc cho riêng mình mà còn phải cùng Mục Tử nhân Lành thực hiện một sứ vụ khác, một nỗi trăn trở khác là: “Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này, cả những chiên đó ta cũng phải mang về đàn, chúng sẽ nghe tiếng ta.  Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên.”

Khi gặm cỏ, gặp những chiên khác chưa thuộc đàn chiên của Chủ Chăn Giêsu, chúng ta có thái độ nào?  Đố kỵ hay thân thiện, nhường nhịn chia sẻ hay ganh ghét tranh phần, yêu thương hay thù hận, tiếp đón giúp đỡ hay làm ngơ bỏ mặc, cộng tác hay dửng dưng, đối thoại hay khép kín?

Ghen ghét, đố kỵ, phân cách, tự mãn, tự kiêu, ích kỷ… có giúp gì được cho mong ước quy tụ những chiên khác chưa thuộc về đàn chiên của Mục Tử Giêsu thành một đàn chiên duy nhất và chỉ một chủ chiên mà thôi không?

Lm Trịnh Ngọc Danh

From Langthangchieutim

NỖI LÒNG NGƯỜI CHĂN CHIÊN 

NỖI LÒNG NGƯỜI CHĂN CHIÊN 

Lm Nguyễn Tầm Thường

Tình thương thúc đẩy, chàng chuẩn bị lương thực, với cây gậy gỗ, chàng dẫn chiên lên đường. Ðường lên núi chỉ có mình chàng.  Trên trườn núi mênh mông, chàng tiếp tục đi, can đảm.  Chàng chỉ có một niềm vui: tình thương cho bầy chiên.  Bầy chiên gặp cỏ non thì hớn hở.  Chúng ham ăn, quên người chăn.  Chàng ngồi đó, trên bờ đá.  Ánh nắng làm bóng chàng đổ dài trên nền cỏ. 

Nghĩ đến những ngày sắp tới dài dằng dặc.  Có thể là mưa.  Có thể là gai góc.  Và có thể là mệt mỏi.  Chàng ngần ngại cho cuộc sống.  Nhưng còn bầy chiên thì sao?  Tình thương dành cho bầy chiên lại níu kéo chàng về với bổn phận.  Cõi lòng chàng, can đảm, trìu mến lại trải rộng theo bầu trời. 

Chàng chấp nhận tất cả sương gió, nguy hiểm, vì bầy chiên.  Chàng chấp nhận hy sinh, nỗi vắng và nỗi đắng vì bầy chiên.  Nhưng bầy chiên chẳng biết nỗi lòng chủ mình.  Chúng cứ thản nhiên như lạnh lùng với chủ.

****************************** *****

Sau những ngày đầu bình yên. Chàng đã nghe tiếng sói rừng sủa văng vẳng đâu đó.  Bây giờ là chiến đấu với giao tranh.  Ðêm đêm, chàng thức giấc một mình nhìn núi lặng lẽ mà nghe xao xuyến.  Riêng chiên cứ ngủ yên vô tư.  Mỗi khi gió trời chuyển mưa là chàng ướt lạnh.  Lạnh cả thân xác và lạnh cả tâm hồn vì yêu thương chiên.

Sói đã đến vào một tối. 

Chiến đấu nào mà không cam go.  Bởi thế, chẳng mấy ai là người chấp nhận gian nan vì kẻ khác. “Kẻ làm công thì không màng đến chiên, khi thấy sói đến thì bỏ chiên mà chạy trốn.  Chỉ có người chăn chiên thương chiên mình thì mới thí mạng sống vì chiên” (Yn 10,1-14).  Chàng chiến đấu bảo vệ chiên.  Chân rướm máu vì núi đá.  Tay ê ẩm vì phải chống cự.  Trận chiến nào cũng có phần thua thiệt.  Lời Kinh Thánh đã loan báo: “Cứ chủ chiên mà giết thì đàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26,31).  Biết thế, sói tấn công chàng, sói muốn ăn thịt chiên.  Nỗi đau của chàng không phải là thương tích chàng phải mang, mà là những tiếng kêu của chiên con bị thương.  Nhìn vài con chiên nhỏ phải đi tập tễnh, lòng chàng như tơ chiều chùng xuống.  Thương yêu quá đỗi.  Chiên thì chẳng biết tâm sự chủ mình.  Chúng cứ vô tư.

 Ðó có là tâm tình của Chúa đối với con người? 

****************************** *****

Người chăn chiên biết đâu là cỏ non.  Nơi nào có suối trong lành.  Chiên chẳng biết gì.  Nhưng làm sao để chiên nghe lời chủ.  Ðấy là nỗi khổ tâm của người chăn chiên.  Ðó là nỗi khổ tâm của Chúa đối với nhân loại. 

Khi chợt thấy bãi cỏ xanh trước mắt, mầu xanh quyến rũ.  Bầy chiên nôn nao ùa tới.  Cũng như con người trong lúc hoang vu, buồn chán, chợt thấy bóng hạnh phúc mờ ảo, cứ ngỡ là cơn mưa tươi mát, đã sa ngã.  Người chăn chiên thì biết đám cỏ xanh kia tuy có đẹp nhưng nó mọc trên đám bùn, nơi đó đầy đỉa độc và rắn xanh.  Nếu chiên đến ăn sẽ sa lầy, sẽ bị đỉa cắn, sẽ bị rắn độc giết chết.  Ðằng sau mầu xanh đẹp mắt là thuốc độc.  Nhưng chiên đâu biết thế.  Chiên cứ muốn xuống.  Chiên chẳng nghe lời chủ.  Và người chăn chiên se sắt cõi lòng khi thấy chiên mình chết. 

Chúa cũng vậy, bao lần con người đã đi tìm hạnh phúc giả trong tội lỗi.  Những hạnh phúc giả vì bất trung trong tình nghĩa vợ chồng.  Những hạnh phúc giả vì gian tham bất chính, vì những rung cảm trái phép.  Chẳng ai muốn hạnh phúc giả.  Chỉ vì lười biếng đi tìm hạnh phúc thật nên thấy bất cứ đám cỏ xanh nào cũng chạy lại.  Chúa biết rõ đâu là hạnh phúc đem bình an.  Chúa cản ngăn và con người đã than trách.  Chúa đau lòng.  Nhưng biết làm sao.  Vì thương chiên mình nên vẫn phải ngăn cấm.  “Chúa thương ai Người mới sửa dạy, Người nhận ai làm con, Người mới cho đòn.  Vì còn gì là con nếu người cha không dạy” (Hr 11,5-10).  Sửa dạy thì có đau đớn.  Nhưng nếu không sửa dạy thì người cha không còn là cha nữa. 

****************************** *****

Trên đường dẫn chiên đi, bao lần chiên kêu gào oán than chủ.  Chiên cứ muốn dừng nghỉ, nhưng chủ biết phải đi nữa mới có cỏ tốt, suối lành.  Chủ cũng biết chẳng mấy chốc nữa mùa đông lại về.  Phải vội vã mà lên đường.  Chiên nào có hiểu vậy.  Chúng mỏi chân.  Chúng chán nản.  Nhìn lịch sử cứu độ, khi Maisen dẫn dân qua sa mạc về Ðất Hứa, đã chứng minh rõ ràng điều đó. 

Cũng trên đường đi ấy, có những liên hoan của bầy chồn, bầy heo đứng ca múa bên đường.  Có những con chiên nghe tiếng cười đùa của bầy chồn, vui tai, xuôi lòng muốn ở lại.  Nhưng chủ biết rằng nếu con chiên nào ở lại với bầy chồn, bầy cáo, chúng sẽ suốt đời cô đơn.  Bầy chồn sẽ chẳng bao giờ săn sóc chúng, mà chúng phải nô lệ bầy chồn.  Trên đường đời của con người cũng thế.  Bao lần đi với Chúa, những tông đồ của Chúa đã muốn rẽ lối, phân vân ở ngã ba đường.  Họ thấy con đường theo Chúa sao mà dài.  Họ chẳng thể nhìn thấy đồi cỏ ở xa xa.  Họ muốn theo lối rẽ để ở lại vui chơi theo tiếng mời gọi của thần tượng ảo ảnh.  Trên đường về Ðất Hứa, dân Chúa đã bao lần than trách Maisen, họ đã dừng lại để thờ các tượng thần mà họ nghĩ là sẽ cho họ khoái lạc.

Sói rừng bao giờ cũng khôn ngoan.  Chúng mang bộ mặt của những con thỏ hiền từ.  Chờ chiên đến gần, chúng sẽ vồ bằng răng nhọn.  Chúng đứng bên đường nhởn nhơ nô đùa.  Bầy chiên phải theo chủ hoài thì nản lòng, muốn bỏ đồi cỏ xanh ở đàng kia.  Chúng muốn đến làm bạn với bầy sói.  Riêng chủ thì biết đằng sau tiếng cười là nước mắt.  Bên này là nỗi vui, bên kia là chết chóc.  Người chăn chiên thương chiên mình thì phải ngăn cản.  Nhưng bầy chiên đâu hiểu thế.  Không nghe lời thì người chăn chiên phải dùng roi mà đánh.  Mỗi vết roi là lòng chủ lại thêm đau.  Tâm hồn chủ chiên thì tan tác mà chiên cứ oán than. 

Ðời người cũng vậy.  Có người cha nào không lo âu khi thấy con mình đùa với vực thẳm.  Chúa biết con người nghèo đói hạnh phúc.  Chúa biết trong thực tế, cuộc sống của con người có nhiều nỗi đắng, con người dễ bị cám dỗ ăn những đám cỏ dại.  Chúa biết con người không muốn bị sửa trị vì có đau đớn.  Biết vậy, Chúa đã căn dặn: “Bị sửa phạt thì chẳng có vui, chỉ có buồn, nhưng nhờ đó mà được luyện tập và về sau mới thấy sinh lợi: tức hoa quả của bình an” (Hr 11,11).

 ****************************** *****

Tuy nhiên vẫn có những con chiên bỏ đàn, ở lại với bầy chồn, bầy cáo và nhận quê hương đó làm của mình.  Ðã bao lần Chúa ngậm ngùi xót thương mà chẳng làm gì được.  Khi một tâm hồn muốn bỏ chiên đàn mà đi, Chúa xót thương cho Chúa vì đã mất một người con.  Ðể cứu vãn, Chúa dùng gậy mà đe dọa.  Nhưng Chúa không thể đánh chết chiên mình được.  Nó quyết định đi thì Chúa chỉ biết đứng nhìn, nuối tiếc mà thôi.  Người chăn chiên thật thì thương chiên của mình. 

Người chăn chiên bao giờ cũng khôn ngoan.  Biết nơi nào có thể cho chiên dừng nghỉ, uống nước. Người chăn chiên biết từng con suối: “Ta đến để chiên Ta có sự sống và có một cách dồi dào” (Yn 10,10).  Khi bất hạnh làm con người khổ thì bất cứ an ủi nào cũng như suối trong.  Người ta dễ bị cám dỗ bỏ đời sống đức tin, muốn bám víu vào thú vui của trần thế.  Chỉ có Chúa thấy rõ, đấy không phải là bóng mát hạnh phúc, suối trong bình an.  Ðấy chỉ là bóng đen của những cơn mưa sắp đổ xuống.  Thay vì phải đi nhanh, phải chạy trốn, con người lại muốn ẩn trú trong những bóng đen ấy.  Rồi từ đó, bất hạnh lại nẩy sinh bất hạnh.  Túng thiếu lại nẩy sinh túng thiếu. 

Vì bản tính của chiên là chiên, nên những con chiên bỏ đàn đi, nó sẽ chẳng bao giờ tìm được căn tính của mình.  Từ đó, cuộc đời sẽ trôi dạt, hạnh phúc sẽ là những bóng mây chợt qua.  Khi tôi lìa xa Giáo Hội là đàn chiên Chúa, tôi sẽ thao thức, bất an. 

****************************** *****

Trên đường đi đến đồng cỏ, chắc chắn sói sẽ đến.  Chắc chắn có giao tranh, Nhưng hạnh phúc của bầy chiên là chủ chiên không bao giờ bỏ bê.  “Chiên của mình, Ta gọi tên từng con một” (Yn 10,3).  Sói rừng chỉ bắt được những con chiên bỏ đàn đi rong chơi một mình.  Giáo Hội là nhiệm thể có lửa của Chúa Thánh Thần sưởi ấm.  Những viên than nằm riêng rẽ chẳng bao lâu gió sẽ làm nguội tắt.  Nó tự làm cho đời sống mình nên khô cằn và cũng làm cho bếp than kém hồng vì mất đi một phần tử. 

Cũng trên đường đi đến đồng cỏ, núi đá có thể làm đau chân chiên con.  Nó có thể mang thương tích và chẳng thể kịp với đàn chiên.  Nhưng chỉ cần cất tiếng kêu là chủ sẽ đến và bồng nó trên vai mà dẫn đi.  Người chủ thương chiên mình thì chẳng bao giờ vì chiên con yếu đuối không đi kịp đàn chiên mà bỏ rơi nó.  Chủ chiên hãnh diện vì những con chiên khỏe mạnh nhưng lại thương những con chiên bé bỏng, yếu sức.  Chúa cũng vậy, một tâm hồn mang nhiều thương tích là tâm hồn được Chúa yêu thương đặc biệt: “Có cần lương y, hẳn không phải là người lành mạnh, mà là người đau ốm” (Lc 5,13).  Khi người ta trách Chúa tại sao lại ngồi chung bàn ăn với người tội lỗi.  Chúa đã trả lời như thế.  Câu trả lời ấy cho tôi nhiều an ủi. 

Trong cuộc sống, Chúa chẳng bao giờ quên những tâm hồn lạc lõng. “Ai trong các ông giả sử có một trăm con chiên và lạc mất một con, há người ấy lại không bỏ 99 con còn lại mà đuổi theo con lạc cho đến khi tìm ra con chiên lạc đó sao?” (Lc 15,4-7).  Chính vì thế mà Chúa đã đến.  Chỉ cần cất tiếng kêu, Chúa sẽ đến như người chăn chiên bồng chiên mình trên vai mà đi.  Trong vòng tay chủ chiên, con chiên đã mang thương tích sẽ được ngủ bình yên vì người chăn chiên quá thương nó. 

Người chăn chiên mừng vui biết bao khi tìm thấy chiên mình.  Nhưng nếu chiên không về thì sao?

– Nỗi nhớ thương sẽ hằn sâu trong tim và người chăn chiên sẽ mãi mãi thao thức.  Sợ nó chết trên đường cô độc, người chăn chiên sẽ dõi theo vết chân nó, vì nó vẫn thuộc đàn chiên mình.

 Ðó là nỗi lòng của Chúa, người chăn chiên tốt lành. 

Lm Nguyễn Tầm Thường 

trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc 

From Langthangchieutim 

PHÊ-RÔ TRẢI NGHIỆM LÒNG THƯƠNG XÓT

PHÊ-RÔ TRẢI NGHIỆM LÒNG THƯƠNG XÓT

Những giọt nước mắt hổ thẹn và hối hận lăn dài trên khuôn mặt của Phê-rô, khi ông vội vã thoát khỏi sân dinh vị thượng tế, là nơi Chúa Giê-su đang bị giam giữ.  Một tiếng nói bên trong nội tâm tra khảo ông: “Làm sao ông lại chối bỏ thầy Giê-su cách công khai như vậy?”  Cách đây ít lâu, ông không bao giờ có thể tưởng tượng là mình có thể quay lưng với Chúa Giê-su một cách nhẫn tâm như vậy.  Những lời khẳng định đầy hiên ngang mà ông vừa nói với Chúa Giê-su, nay lại quay về ám ảnh ông: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng” (Lc 22,33).  Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi Chúa Giê-su tiên báo, thì đêm hôm ấy, ông đã chối Chúa đến ba lần.  Phê-rô thầm nghĩ, mọi sự xảy ra quá nhanh.  Trước hết, ông cẩn thận tìm mọi cách để đi theo Chúa vào trong sân.  Rồi khi ông thấy mình đã bị nhận diện là môn đệ của Chúa Giê-su, ông chợt nhận ra là mình đang gặp nguy hiểm.  Đó là khi người ta bắt đầu lớn tiếng cáo buộc ông: “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với cái ông người Na-da-rét, ông Giê-su đó chứ gì?” (Mc 14,67).  Ông cảm thấy hồi hộp.  Người ta càng thúc ép ông trả lời cho câu hỏi đó, thì ông càng cương quyết phủ nhận.  Trong chốc lát, thái độ nhún vai phủ nhận đã biến thành một lời thề công khai, khi ông bắt đầu thốt lên những lời độc địa mà quả quyết rằng: “Tôi thề là không biết người ấy” (Mt 26,74).

Ngay khi ông nhớ lại một chuỗi những sự kiện xảy ra quá nhanh, thì lòng ông quặn đau như thắt vì thất bại và ông cảm thấy hết sức chán nản.  Sau này, Phê-rô nhận thức rằng khi Chúa Giê-su quay lại nhìn ông, thì chính cái nhìn ấy – một cái nhìn đầy lòng thương xót – đã lay động tâm hồn ông, để ông nhận ra điều khủng khiếp mình vừa làm, đồng thời ông cũng nhận biết là Chúa đã thông cảm và tha thứ cho ông.  Khi ông nhận ra điều đó, ông đã khóc lóc thảm thiết.  Sertillanges đã chia sẻ như sau: “Đức Giê-su hướng về Phê-rô, mặc dầu ông ở rất xa, nhưng vẫn cảm được cái nhìn của Thầy, cái nhìn làm tan biến sự yếu đuối của trái tim con người, thâm nhập sâu vào tình yêu của nó và ban sức mạnh cho sự yếu đuối ấy.  Tảng đá đã chao đảo.  Nhưng chính trên tảng đá này mà nền móng của công trình đời đời được thiết lập.  Nơi đâu mà xác thịt loài người tỏ ra yếu đuối, nơi đó quyền năng của Thượng Đế được biểu lộ rõ ràng.  Phê-rô vấp ngã, nhưng ông là người thứ nhất tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, rằng Ngài là Đấng Thiên Sai Thượng Đế hứa”.[1]  Câu chuyện Phê-rô chối Thầy được Trình thuật cả trong bốn Tin Mừng, chỉ cho thấy Giáo Hội tiên khởi đã công bố khuyết điểm của vị thủ lãnh đầu tiên của mình, chứ không che đậy.  Dù vậy, họ được thêm vững mạnh, chứ không bị vấp phạm.  Kinh nghiệm của thánh Phê-rô xác nhận với họ rằng, thất bại là điều có thể chấp nhận được, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng ban ơn tha thứ.  Rất có thể là chính thánh Phê-rô đã phổ biến câu chuyện thất bại của mình, khi người không ngừng cố gắng khích lệ anh chị em mình phấn đấu – như Chúa Giê-su đã yêu cầu Phê-rô: “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Sa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.  Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.  Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,31-32).

Như Giáo Hội tiên khởi đã xem sự sa ngã của Adam là một “tội hồng phúc”, vì nhờ đó mà xuất hiện Đấng Cứu Thế, Giáo Hội cũng xem sự trượt ngã của Phê-rô là “tội hồng phúc”, vì nhờ đó mà Giáo Hội có được một vị thủ lãnh vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ.  Phê-rô bị bó buộc phải đối diện với bóng tối của mình, và điều đó đã làm cho ông trở nên con người khiêm nhường đầy lòng thương xót.[2]  Qua hình ảnh của thánh Phê-rô, Giáo Hội được mời gọi luôn là Giáo Hội của lòng thương xót, và cần phải là Giáo Hội của lòng thương xót hơn bao giờ hết, vì Giáo Hội chính là thân thể mầu nhiệm và sống động của chính Chúa Giê-su, Đấng là mục tử nhân lành, Đấng là nguồn mạch của lòng thương xót.  Chính Ngài luôn yêu thương con cái của Ngài, và mời gọi tất cả những ai sống trong khổ đau và bất hạnh hãy đến với Ngài: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-29).  Không chỉ dừng ở nơi đó, mà trong chiều sâu của tình yêu thương, Chúa Giê-su còn trao mọi người con của Chúa cho Mẹ Maria, người Mẹ của lòng thương xót.

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế, SJ

****************************** ****

Lạy Chúa, Đấng đầy lòng thương xót.
Xin thương đoái nhìn đến những góc khuất tăm tối, những yếu đuối mỏng dòn,
và những xáo động ồn ào trong con,
Xin thương đoái nhìn đến những phút giây bội thề, những yếu hèn nhát đảm,
cùng những lơ đễnh thoái thác trong con.
Con không đòi Chúa ban cho con bất cứ điều gì, ngoại trừ lòng thương xót của Người.
Trong cuộc sống thế trần, mọi sự chỉ như hoa cỏ sớm nở tối tàn.
Những gì con cho là cao quý cũng chỉ là phù vân hư ảo
và những gì con bận tâm lo lắng rốt cuộc cũng chẳng ý nghĩa đáng giá gì.
Lạy Chúa, xin thương xót và dắt dìu con,
Xin biến đổi con một lần nữa để con lại khao khát sống cuộc đời thánh thiện,
và trở nên người của Chúa cho dẫu trong con còn nhiều hoang mang cùng bối rối.
Con không cầu xin để biết rõ ràng và chắc chắn phải làm gì,
ngoại trừ mong mỏi một điều là được Ngài dẫn dắt theo nẻo đường tình yêu của Ngài,
để có thể dõi bước và tín thác vào lòng thương xót của Ngài.
Vì được như thế, con mới tìm thấy điều con hằng khắc khoải chờ mong.

Nguyễn Thế Anh, SJ, chuyển ý
Nguồn: Thomas Merton, A Year with Thomas Merton: Daily Meditations from His Journals, (Selected and edited by Jonathan Montaldo), (New York: HarperCollins e-books, 2007), 247.

[1] Sertillanges A.D., What Jesus saw from the cross – Từ trên thập tự, Fr. Thomas Tuý OP.  Chuyển ngữ, chương 7. Người thân yêu. Nguồn: www.nguoitinhuu.org.

[2] Wikie Au và Norren Cannon, Những thôi thúc trong tim, Nguyễn ngọc Kính OFM. chuyển ngữ, NXB. Phương Đông 2012, t. 246-247.

LỜI NGUYỆN

LỜI NGUYỆN

Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới :
Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này
là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.
Con mơ ước
không còn những La-da-rô đói ngồi ngoài cổng,
bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.
Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp,
không còn những cô gái đứng đường
hay những người ăn xin.

Con mơ ước
những ngưòi thợ được hưởng lương xứng đáng,
các ông chủ coi công nhân như anh em.
Con mơ ước
tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình,
các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.

Lạy Chúa của con,
con ước mơ một thế giới đầy màu xanh,
xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển,
và xanh của bao niềm hy vọng
nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.

Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ,
thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

NGĂN CẢN

NGĂN CẢN

Trong buổi tối ngày Chúa nhật Phục Sinh, các tông đồ tụ họp trong một căn phòng ở tầng trên, các cánh cửa đều đóng kín.  Trong căn phòng này, tâm hồn các ông đầy nỗi ám ảnh vì sự vắng mặt của Đức Giêsu, và đầy những ký ức đắng cay – ngọt ngào về Người.  Chính tại nơi đây, vị Thầy đã rửa chân cho họ, và cử hành bữa Tiệc Ly với họ.  Nhưng cũng chính tại nơi đây, họ đã thề hứa trung thành với Người, một sự trung thành mà thậm chí ngay trong đêm hôm đó họ đã vi phạm.

Các tông đồ đều bị thương tích theo tính cách cá nhân – do nỗi sợ hãi, hoài nghi, tội lỗi, đau khổ và thất vọng.  Nhưng họ cũng bị thương tích theo tính cách tập thể nữa, bởi vì sự hiệp nhất giữa họ đã bị phá vỡ: có hai người trong số họ vắng mặt, một người bị chết (Giuđa), người kia thì đang bị khủng hoảng đức tin (Tôma).  Giống như tất cả những người đang đau khổ, họ đã tạo ra một hàng rào chung quanh họ.

Đức Giêsu không chờ đợi họ đến với Người.  Người đã đến với họ, trong khi họ vẫn còn đang sợ hãi và đầy tội lỗi (do sự hèn nhát và phản bội của họ).  Bằng một động tác mạnh mẽ, Người đã bẻ gãy hàng rào đó, và đến đứng giữa họ.  Người không la rầy, hoặc thậm chí quở trách họ, vì đã không làm tròn phận sự đối với Người.  Ở đây không hề có cảnh la rầy, buộc tội.  Người biết cảm giác của họ ra sao, do đó, Người không hề đụng chạm vào những vết thương của họ.  Thay vào đó, Người đã mang lại cho họ điều mà họ cần một cách tuyệt vọng.  Người nói với họ “Bình an cho anh em.”  Người nói câu này không chỉ một lần, mà đến hai lần, để đảm bảo rằng câu nói đó thấm sâu vào tâm hồn họ.  Trong khi đón nhận sự bình an của Người, thì họ cũng được đón nhận cả ơn tha thứ nữa.

Đột nhiên, một điều vĩ đại nhất và tuyệt vời của ơn bình an đánh động tâm hồn họ: cái chết, sự dữ, và sự phản bội đã bị chế ngự.  Lòng tốt, tình yêu, sự sống đã chiến thắng.  Đức Giêsu khiêm tốn đã chiến thắng, vượt lên trên tất cả những sức mạnh của sự dữ đã từng dàn hàng chống lại Người.  Một cuộc khởi sự tươi mới có thể diễn ra.  Kết quả là tâm hồn họ được tràn đầy niềm vui.

Phương pháp của Đức Giêsu thật êm dịu.  Nơi Người, không hề có nét khắc nghiệt.  Đức Giêsu khiêm tốn, Đấng chiến thắng vượt lên trên cái chết, đã ban lòng can đảm cho các tông đồ hiện đang bị nghiền nát của Người, chữa lành những vết thương, đổi mới niềm hy vọng của họ, ban sự sống và sức mạnh cho họ.  Từ tình trạng hoàn toàn sụp đổ và thất bại, xuất hiện một nét gì đó mới mẻ một cách và dứt khoát. Kết quả là họ không chỉ tin tưởng nơi Đức Giêsu, mà còn có lòng tự tin nữa.  Thật là một niềm vui khi đồng thời vừa được nhận biết, vừa được yêu mến một cách trọn vẹn.

Biến cố Phục sinh không lấy đi nỗi đau khổ, hoặc loại trừ nỗi sợ hãi của chúng ta.  Nhưng sự Phục sinh giới thiệu một yếu tố mới cho cuộc sống, đem lại ý nghĩa và soi sáng cho nỗi đau khổ của chúng ta bằng niềm hy vọng.  Tất cả đều trở nên khác biệt, bởi vì Đức Giêsu đang sống động và nói những lời nói ban bình an cho chúng ta, giống như Người đã từng nói với các tông đồ.  Khi bị sa ngã vì những thử thách và cám dỗ, chúng ta có thể rút ra được lời động viên từ câu chuyện các môn đệ của Đức Giêsu, tất cả họ đều đã từng bị sa ngã trong suốt cuộc khổ nạn của Người.

Do đó, giữa chúng ta có một niềm vui âm thầm và một cảm giác an bình, bởi vì chúng ta biết rằng sự sống mạnh mẽ hơn cái chết.

Sưu tầm

****************************** **********

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh,

Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.

Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.

Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.

Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.

Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

From Langthangchieutim gởi

5 LÝ DO YÊU MẾN ĐỨC MẸ

5 LÝ DO YÊU MẾN ĐỨC MẸ

Tôi tin rằng chúng ta không nên sợ việc đào sâu mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Maria qua 5 lý do dưới đây. 


1) Người Công giáo không thờ phượng Đức Maria

Để giúp người Tin Lành đi đúng hướng: Người Công giáo không thờ phượng Đức Maria. Chúng ta tôn kính bà vì bà là Mẹ của Chúa Giêsu. Chúa Kitô đến với chúng ta thông qua bà. Thiên Chúa có thể làm bất cứ thứ gì ngài muốn, và đây là ngài đã chọn để đến với chúng ta.

Vậy thật là thích hợp, khi người Mẹ ấy giúp chúng ta đến với Con của bà. Người Tin Lành có thể dễ dàng tôn kính thánh Phaolô, như đánh giá cao vai trò của thánh nhân, khuyên mọi người nên biết về các tác phẩm của ngài. Tương tự thế, người Công giáo cũng kính trọng Đức Maria. Rõ ràng bà không phải là Thiên Chúa, nhưng là một thụ tạo được Đấng Tạo Hóa ban nhiều ân sủng.

2) Tình yêu không có tính trắng đen rõ ràng
 


Chúng ta có cảm tưởng rằng, nếu chúng ta yêu mến Đức Maria, thì chúng ta không yêu mến Chúa Giêsu đủ. Nhưng mối liên hệ trong gia đình không có tính trắng đen như thế. Chẳng lẽ lại có một người con phẫn nộ, khi bạn của anh yêu mến mẹ anh? Và chẳng lẽ lại có người mẹ cảm thấy phiền não khi con cái bà yêu mến cha của chúng? Trong một gia đình, tình yêu thì dồi dào và bao la.

3) Chúa Giêsu không ghen tị với mẹ Ngài

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết, “Mặt trời sẽ không bao giờ bị lu mờ bởi ánh trăng.” Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, sẽ không cảm thấy bị đe doạ bởi việc Mẹ ngài được yêu thương và tôn kính. Ngài tin tưởng, yêu mến bà và biết rằng ý chí giữa họ luôn hiệp nhất. Đức Maria, bởi vì nó là một thụ tạo, chứ không phải là Đấng Tạo Hoá, sẽ không bao giờ vượt trội Chúa Ba Ngôi, nhưng luôn là sự phản chiếu ánh hào quang của Thiên Chúa.
 

 

 

 

 

 

 

4) Đức Maria là Mẹ chúng ta

Đức Maria là Mẹ thiêng liêng của chúng ta. Bởi khi bị đóng đinh trên Thánh giá, Chúa Kitô đã trao Mary cho thánh Gioan, và trao thánh Gioan cho Mẹ người. Khi ấy vai trò của làm mẹ của Đức Maria được mở rộng cho toàn thể nhân loại. Tình yêu của Mẹ không chỉ giới hạn đối với các Kitô hữu. Bà biết rõ Con mình đã phải trả giá đắt như thế nào để cứu độ chúng ta, nên bà sẽ không để điều ấy lãng phí.

5) Xem quả thì biết cây

Kinh Thánh có nói đến việc xem quả thì biết cây (xem Mátthêu 7:16). Đức Maria đã làm phát sinh vô số hoa trái trong lịch sử Giáo Hội, địa lý chính trị, và cả văn hoá. Không những Đức Maria can thiệp để chấm dứt các nạn đói, chiến tranh, dị giáo và bức hại, nhưng bà con truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ và nhà tư tưởng đỉnh cao như – Mozart, Botticelli, Michelangelo, thánh Albert Cả, và những nhà xây dựng bậc thầy đã xây nên Nhà thờ Đức Bà, đó là chỉ đề cập đến một số ví dụ.
 

 

 

 

 

 

Ngoài ra, còn có vô vàn lời chứng của các thánh về lời chuyển cầu đầy sức mạnh của Đức Maria. Rất nhiều vị thánh cao rao về bà, và bạn sẽ không bao giờ tìm thấy được một ai nói xấu được về Đức Maria. Đức Hồng Y John Henry Newman, là người Anh giáo cải sang Công giáo, nhận thấy rằng, khi Đức Maria bị lãng quên, thì không lâu sau đó những thực hành đức tin đúng đắn cũng sẽ bị lãng quên.

Nguồn: Aleteia

From: Do Tan Hung & Nguyen Kim Bang gởi

Vì Chúa đã phục sinh

Lạy Chúa phục sinh,
vì Chúa đã phục sinh
nên con thấy mình chẳng còn gì phải sợ.

Vì Chúa đã phục sinh 
nên con được tự do bay cao,
không bị nỗi sợ hãi của phận người chi phối,
sợ thất bại, sợ khổ đau,
sợ nhục nhã và cái chết lúc tuổi đời dang dở.

Vì Chúa đã phục sinh
nên con hiểu cái liều của người Kitô hữu
là cái liều chín chắn và có cơ sở.
Cái liều của những nữ tu phục vụ ở trại phong.
Cái liều của cha Kolbê chết thay cho người khác.
Cái liều của bậc cha ông đã hiến mình vì Đạo.

Sự Phục Sinh của Chúa là một lời mời gọi
mang một sức thu hút mãnh liệt
khiến con đổi cái nhìn về cuộc đời :
nhìn tất cả từ trên cao
để nhận ra giá trị thực sự của từng thụ tạo.

Sự Phục Sinh của Chúa
giúp con dám sống tận tình hơn
với Chúa và với mọi người.
Và con hiểu mình chẳng mất gì,
nhưng lại được tất cả.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ