LÀM SAO MÀ ANH EM VẪN CHƯA CÓ LÒNG TIN?

LÀM SAO MÀ ANH EM VẪN CHƯA CÓ LÒNG TIN?

Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng hôm nay thánh Maccô thuật lại một hành trình trên biển để “sang bờ bên kia” của Chúa Giêsu và các môn đệ.  Hành trình này được ví như hành trình đức tin của mỗi chúng ta.  Hành trình trên biển gặp sóng gió là chuyện không lạ lắm đối với những người thường xuyên đi biển và sống bằng nghề biển như các môn đệ.  Tuy nhiên, chiếc thuyền của Chúa Giêsu và các môn đệ hôm nay không gặp những con sóng ngọn gió hiền lành bình thường, mà là gặp “cuồng phong”… sóng ập vào”… “thuyền đầy nước”… Các môn đệ lo lắng như “chết đến nơi rồi”, còn Chúa Giêsu thì “chẳng lo gì”…  Các môn đệ kêu cầu đến Chúa và Chúa đã ra tay uy quyền, Chúa mắng các môn đệ “làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”

 Chúng ta ngắm nhìn xem, tại sao Chúa Giêsu lại mắng các môn đệ chưa có lòng tin?

    Qua trình thuật này chúng ta có thể hiểu rằng, giữa Chúa Giêsu và các môn đệ đã có một tương quan rất thân thiện với nhau rồi.  Cùng làm việc và cùng thi hành sứ vụ chung với nhau.  Tuy nhiên, chúng ta cũng dễ dàng cảm nghiệm rằng, dường như tương quan ấy chỉ mới có ở bề mặt bên ngoài, có nghĩa là các môn đệ mới chỉ gặp gỡ, gần gũi làm việc chung, mới tương quan trên bình diện công việc và cuộc sống, chứ các môn đệ chưa đi vào tương quan sâu sắc, chưa hiểu hết Chúa như thế nào, quyền năng của Ngài ra sao?

   Chúa mắng các môn đệ “chưa có đức tin” quả thật là phải lẽ, vì hành trình của các ông đang có Chúa đó, nhưng các ông chẳng ý thức về sự hiện diện đồng hành của Ngài, các ông không nhận biết quyền năng của Chúa, các ông cũng chẳng trông cậy vào Ngài…  Sóng gió ập đến, các môn đệ mới sực nhớ đến Chúa, và rồi các ông vội trách Chúa “chẳng lo gì”.

   Cuộc sống thường ngày của chúng ta dường như cũng thế, chúng ta ít khi ý thức sự hiện diện của Chúa, chúng ta thường đi với Chúa cách vô ý thức, coi như Chúa không biết gì, Chúa chẳng quan tâm.  Đến lúc nguy khó mới nhớ chạy đến Chúa và kêu la rối rít.  Thái độ sống này, chắc chắn sẽ bị Chúa mắng là “chưa có lòng tin.”  Tuy nhiên, một thái độ ngược lại cũng đáng quan tâm.  Cuộc sống đôi lúc chúng ta cũng rơi vào tâm trạng thất vọng nặng nề, chúng ta cũng chẳng còn nhớ đến Chúa, và quên rằng Ngài ở bên chúng ta và chờ chúng ta khiêm tốn lên tiếng kêu cầu Ngài.  Thái độ chỉ kêu đến Chúa khi gặp khó khăn, hoặc là thất vọng đến quên cả Chúa mà lầm lũi bước đi đó là thái độ “chưa có lòng tin.”

   Thánh Maccô thuật tiếp, sau khi các môn đệ kêu đến Chúa, tin tưởng vào quyền năng của Chúa, Chúa bắt đầu ra tay.  Nhưng sau khi Chúa ra tay truyền sóng biển im lặng, thì các ông hoảng sợ và nói với nhau:“Vậy người này là ai…?”

  

  Gặp sóng gió, các môn đệ hoảng sợ, không tin đủ vào Chúa.  Sau khi Chúa tỏ quyền năng thì các ông lại thắc mắc “Ngài là ai?”  Điều này chứng tỏ nền tảng đức tin của các môn đệ chưa vững chắc, đi bên Chúa, gặp gỡ Chúa nhưng không khao khát tìm biết Chúa là ai?  Lẽ ra các ông phải tìm hiểu về Chúa, biết Chúa là ai khi bắt đầu cất bước theo Ngài!  Còn nghi ngờ vào chính Thiên Chúa thì chắc chắn là chưa có lòng tin.  Tin Chúa là phải học cho biết Ngài là ai và đi vào trong tương quan sâu để cảm nghiệm Ngài như ta đã được học biết.  Tin vào Chúa là hiểu điều Chúa làm, mong điều Chúa muốn và phó thác cho Ngài cuộc sống của ta.

    Sau phép lạ Chúa làm truyền sóng biển im lặng, chắc chắn các môn đệ phải tìm được câu trả lời Chúa là ai khi quan sát sự kiện và khi tương quan gần gũi song hành với Chúa.  Vậy mà không hiểu sao các ông lại còn hoảng sợ và thắc mắc “ông này là ai?”  Câu hỏi này chứng tỏ lòng tin của các ông chưa có và bị Chúa mắng thì cũng không oan uổng gì.

     Bởi vì các môn đệ chưa có lòng tin, nên chưa ý thức sự hiện diện của Chúa.  Chưa có niềm tin nên còn nghi ngờ “ông này là ai?”  Chưa có lòng tin nên còn dành quyền điều khiển và kiểm soát hành trình.  Khi các môn đệ dành quyền kiểm soát và điều khiển hành trình đời mình, thì Chúa dành cho họ ưu tiên đó, Ngài nghỉ ngơi.  Giả như chúng ta tin tưởng trao phó cho Chúa để Ngài điều khiển và an tâm nghỉ ngơi, thì chính lúc ấy Chúa sẽ giang tay ra hành động, Ngài chở che, bao bọc và cứu giúp.

     Thái độ của những người “chưa có lòng tin” là thái độ của những người ưa thích đảo lộn tình thế, đứng vào vị trí điều khiển của Chúa, quên đi vai trò lệ thuộc của chính bản thân mình.

     Có lòng tin là ý thức Chúa hiện diện trong mọi nẻo hành trình; Có lòng tin là trả lời xác tín với mọi người về chính Chúa, bằng sự cảm nghiệm của chính cá nhân mình; Có lòng tin là để Chúa điều khiển và kiểm soát cuộc sống của mình; Có lòng tin là khiêm tốn kêu xin khi gặp gian nan khốn khó.

 Giờ đây, chúng ta khiêm tốn dâng lên Chúa lời nguyện xin ơn đức tin:

 Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con cám ơn Chúa vẫn hiện diện trong cuộc sống chúng con.

Xin cho chúng con tin vào quyền năng Chúa vẫn hiển trị trong cuộc đời chúng con.

Lạy Chúa, cuộc sống quanh chúng con có biết bao điều xảy đến.

Tất cả đều nằm dưới bàn tay tình thương quan phòng của Chúa.

Xin Chúa giúp chúng con biết cùng với vạn vật dâng lời ca khen quyền năng Chúa.

Xin giúp chúng con biết đón nhận ân ban của Chúa trong sự khiêm tốn thẳm sâu.

Xin dạy chúng con biết chạy đến với Chúa khi gặp những gian nan thử thách,

Xin giúp chúng con biết bám vào Chúa để đi qua những giông bão trong cuộc đời.

   Lạy Chúa, Chúa luôn nâng đỡ những ai kêu cầu Chúa.

   Chúng con xin phó dâng cuộc sống trong tình thương quan phòng của Chúa. Amen.

 Trích trong “Tin Vui Xuân Lộc”

 From: KittyThiênKim & Kim Bang Nguyen

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”

“Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

“Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.”

Lạy Chúa Giêsu,
dân làng Nazareth đã không tin Chúa
vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.
Các môn đệ đã không tin Chúa
khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự.
Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa
chỉ vì Chúa sống như một con người,

Cũng có lúc chúng con không tin Chúa
hiện diện dưới hình bánh mong manh,
nơi một linh mục yếu đuối,
trong một Hội thánh còn nhiều bất toàn.

Dường như Chúa thích ẩn mình
nơi những gì thế gian chê bỏ,
để chúng con tập nhận ra Ngài
bằng con mắt đức tin.

Xin thêm đức tin cho chúng con
để khiêm tốn thấy Ngài
tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA

CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA

Chuyện kể rằng một bà già bị đau răng, bà đã làm Tuần chín ngày để kính thánh Antôn, vì người ta nói: Thánh Antôn “chuyên trách” về bệnh này.

Hết tuần chín ngày bà vẫn còn đau.  Lúc đó một vị linh mục đến thăm.  Bà liền hỏi:

–          Xin cha nói cho con biết: có phải thánh Antôn chuyên trách bệnh đau răng không?

Vị linh mục nói:

–          Bà hãy nghe tôi: Đây là địa chỉ của nha sĩ.  Hãy đến đó và nói là tôi giới thiệu, họ sẽ làm không công cho bà.

Bà già la lên:

–          Trời đất ơi, một ông linh mục vô thần.

Thánh Antôn tự nhủ:

–          Kể ra cũng đau lòng, để nhận lời cầu nguyện của bà, chính ta đã gởi đến cho bà vị linh mục này. Thế mà…!

 ****************************** ****

Nếu bà già trong câu chuyện suy niệm bài Tin Mừng hôm nay, chắc bà sẽ không làm cho thánh Antôn phải thất vọng.  Người phụ nữ xuất huyết trong bài Tin Mừng và bà già đau răng trong câu chuyện trên, cả hai đều tin tưởng vào Chúa.  Nhưng niềm tin của họ có sự khác biệt rất lớn.  Người phụ nữ xuất huyết nghĩ mình phải làm điều gì đó chứ không chỉ tin suông.  Bà đến với Chúa chứ không chờ Chúa đến với mình.  Bà già đau răng thì cầu nguyện rồi chờ phép lạ.  Bà không chịu làm gì nữa.

Ông Giairô cũng tin rằng Chúa có thể cứu sống con gái ông.  Ông làm hết sức mình.  Con gái ông hấp hối không thể đến với Chúa được, nên ông đã xin Chúa đến chữa cho con gái ông.

Cộng tác với ơn Chúa là điều kiện để Chúa ban ơn.  Chúng ta không thể chỉ thụ động chờ Chúa làm phép lạ, nhưng hãy sử dụng hết những phương tiện bình thường Chúa ban.  Phần còn lại tùy Chúa định liệu cho ta.  Thánh Ignatio de Loyola đã cho chúng ta lời khuyên bất hủ này: “Hãy làm như thể mọi việc tùy thuộc chúng ta, và hãy cầu nguyện như thể mọi việc tùy thuộc Thiên Chúa.”  Mc Kenzie nói: “Khi ta cố gắng làm những gì có thể, Thiên Chúa sẽ làm những điều ta không thể.”

Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền tự do, Người không thể thúc ép, nhưng để chúng ta toàn quyền sử dụng tự do của mình.  Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như những con bù nhìn, nhưng luôn coi trọng chúng ta như những cộng tác viên của Người.

Trong các phép lạ Chúa làm, Người đều cần sự cộng tác của con người.

– Trong tiệc cưới Cana, Chúa chỉ làm phép lạ khi người ta đã “múc nước đổ đầy các chum” (Ga 2,7).

– Trong phép lạ về bánh, Người chỉ làm cho bánh hóa nhiều khi “có 5 chiếc bánh và 2 con cá” (Mc 6,35-43).

– Khi chữa mắt cho người mù, Người chỉ thoa bùn vào mắt anh, còn phần anh phải đi rửa ở hồ Silôê mới được sáng mắt (Ga 9,1-40).

Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng hết các khả năng của mình, và Người sẵn sàng can thiệp khi cần. Ngạn ngữ Tây phương có câu: “Hãy tự giúp mình trước rồi Trời sẽ giúp sau.”

***********************

Lạy Chúa, Chúa yêu thương chúng con với trái tim của người cha người mẹ, Chúa để chúng con hoàn toàn tự do đáp lại tình yêu Chúa.  Xin cho chúng con luôn biết sống ngoan ngoãn, thảo hiếu, đẹp lòng Chúa.  Xin dạy chúng con biết cộng tác với ơn Chúa, để được Chúa ban thêm ơn trợ giúp trong những cơn gian nan khốn khó.  Amen!

Thiên Phúc – Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”

From: Langthangchieutim

“Sao bông phượng nở trong màu huyết,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 13 thường niên năm B 01/7/2018

(Mc 5: 21-43)

 Đức Giêsu xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi? ” Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: ÀAi đã sờ vào tôi?” Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giêsu còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.41 Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha kum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

&  &  &

“Sao bông phượng nở trong màu huyết,”

“Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

            Phượng vẫn đỏ, nhỏ một màu huyết. Nhỏ xuống lòng người những giọt châu! Có lẽ, đây cũng là ý tưởng được thánh Máccô đưa vào trình thuật kể về hoạt động của Chúa, đầy trân châu!

Trình thuật, thánh Máccô nay nói về đời hoạt động của Chúa rất công khai, sinh động. Hoạt động của Ngài, là sinh hoạt sống động rất tính người, mở ra với mọi người; để rồi sẽ đánh động những người quẩn quanh bên Chúa. Chí ít, là các tông đồ, thừa tác viên, và nữ phụ. Tất cả đều hợp lòng cùng Chúa ra đi rao báo Nước Trời ở trần thế.

Trích đoạn hôm nay có nói về cháu bé nhỏ là con gái ông Giaia sắp ra đi hoặc đã chết. Câu chuyện được phối kết với truyện kể về một nữ phụ không rõ danh tánh đang bị chứng xuất huyết. Và phối hợp với truyện người cha của cô gái nhỏ đang lâm bệnh khiến ông cứ tìm cách luẩn quẩn gần bên Chúa. Vai trò cùng chức năng của ông được thánh sử tả là chức sắc lo việc ở đền thờ, tuy không là đấng bậc lừng lẫy ở huyện thành, nhưng cũng được Chúa đoái hoài.

Sở dĩ Đức Giêsu quyết định đến thăm ông, là vì tình trạng nguy ngập của người con nhỏ. Khi tin tức loan về cái chết của cháu bé này, người thân cận với Giaia đã khuyên Chúa đừng đến chữa cho cháu bé còn nhỏ kẻo gặp rắc rối. Có điều lạ, là: theo ngôn ngữ của người phương Đông, thì đó là cách hay nhất để khích bác Chúa hãy ra đi tìm đến những nơi nào nhiều rối rắm mà giải quyết theo cung cách của Đấng Bậc cao cả. Kết quả là, Chúa quyết đến với những nơi nào thường gây phiền toái hầu chữa trị cho cháu bé còn nhỏ tuổi, dù là con của chức sắc đền thờ. Quả là, ngôn từ của người Đông phương thích chọn cung cách nghịch ngạo chống cưỡng những gì mình mong muốn, tựa như câu nói mà nhiều người vẫn nghe như: “Anh cứ hẹn, nhưng anh đừng có đến…” Hoặc: “Xin Chúa hãy rời xa nơi tôi…”, nhưng kỳ thực vẫn muốn.

Cũng tựa như thái độ của nữ phụ bị xuất huyết những muốn đạt điều gì mình mong được Chúa đoái hoài mà chấp nhận lời van nài, khẩn khoản. Nhằm đạt kết quả, bà lại đã sử dụng phương cách khích bác của người Đông phương và sự khôn khéo của nữ giới với kỹ năng khác người, là sờ chạm gấu áo của Ngài. Bà thừa biết rằng bà không thể đạt những gì bà cầu mong mà lại không đánh động lòng xót thương của Chúa. Nói cách khác, bà muốn Chúa biết sự việc bà đang làm. Và, biết cả ước nguyện của bà là đạt thành quả từ Ngài không chỉ mỗi việc chữa chạy thể xác nhưng điều bà cần hơn cả, là: sự chữa lành niềm tin khiến bà lành lặn trở lại, để yên hàn. Điều này chứng tỏ là bà biết cách hành xử sao cho kết quả hầu đạt trọn vẹn lòng thương xót, vẫn có từ Chúa.         

Cách kể truyện theo kiểu trên là văn phong độc đáo của thánh Máccô. Ở đây, cũng nên biết, là: động thái Chúa vẫn làm cho các nữ phụ trong Tin Mừng thánh Máccô thường thánh sử kể về động thái cho thấy rõ sự khôn khéo của nữ phụ phương Đông quyết làm những chuyện lạ kỳ để đạt kết quả mình mong ước, như: ở đoạn trước đó thánh sử kể về tài khéo léo của Hêrôđia là lấy được đầu của thánh Gioan Tiền hô đặt trên dĩa, và phân nửa đất nước do Hêrôđê chiếm giữ. Chương 7 Tin Mừng thánh Máccô còn kể về sự kiện nữ phụ người Syro-phênixy bị quỉ ám cũng có tài thuyết phục Chúa ra tay chữa lành cho con gái của bà, tức những điều Chúa không định làm vào lúc đầu.

Nhiều truyện kể tương tự trong Cựu Ước cũng đã nhấn mạnh đến uy lực và tài khéo léo của phụ nữ giúp các bà đạt kết quả về những gì các bà có quyết tâm. Sách Giuđita kể truyện dân Chúa chọn đã chiến thắng quân thù nhờ vào sự can thiệp của phụ nữ. Bà Giuđita đã vượt thắng tính hèn nhát của dân con trong xứ sở, đã dám quở trách lãnh tụ lúc đó thiếu lòng tin. Bằng vào lời nguyện cầu, bà chạy đến cùng tướng Hôlôphênê dùng nhan sắc cùng tài trí khôn ngoan của nữ giới đã cắt được đầu của ông tướng. Bà Esther cũng từng làm thế, khi tướng A-man tìm cách bóp nghẹt sự sống của dân Do thái đang sống đời lưu lạc xứ Syria. Thoạt thấy bà, nhà vua nói: “Thiên Chúa đã biến đổi lòng trí ông, đem thần khí sống động đến khiến dân con đất nước của ông được an lành…”

Ở đây nữa, cũng nên nhìn vào diện mạo của Đức Giêsu được thánh Máccô tả ở Tin Mừng. Thánh sử không hề viết đến một chữ việc Chúa giáng hạ. Với Tin Mừng thánh sử Máccô, người đọc chỉ biết Chúa vào lúc Ngài công khai hoạt động vì con người, với con người. Đó là lúc Ngài trưởng thành, phát triển và học được tính chất rất “người” từ hoàn cảnh của đời người. Ngài không là hữu thể trên cao nay mặc hình hài bên ngoài của con người, nhưng đã sống thực tận trong con người, Ngài nhận thức rõ những gì đang xảy đến và những gì Ngài sắp phải làm. Ngài rất mạnh, nhưng đôi lúc cũng không nắm chắc cả đôi điều. Tức, Ngài không rõ những gì Ngài làm có khiến người khác khuynh loát được Ngài theo cung cách không định trước, hay không. Nhiều người thấy Ngài giống người bình thường như ta.

Có thể nói, ở nơi Ngài, có cả tính duy thực lẫn tâm tánh dịu hiền trong cung cách. Đức Giêsu ở Tin Mừng thánh Máccô là nhân vật thánh thiêng sống trong hoàn cảnh dẫy đầy bão táp, mưa sa rất hiện thực. Ngài không có vóc dáng của bậc vĩ nhân ở trần thế. Ngài là Đấng Bậc chẳng mang dáng vẻ của vị anh hùng cái thế giống giòng dõi La Mã, Hy Lạp hoặc Do thái. Ngài ít khi là người thắng cuộc, rất thẳng thừng. Với ai trông mong ở Ngài tính chất cao cả của bậc vĩ nhân, thì Ngài lại mang đến cho họ sự thất vọng, chán chường, cả đến sững sờ vì Ngài không có khả năng khống chế mọi người. Với họ, ngôn từ Ngài sử dụng ra như bối rối, phức tạp. Ngài như khiến cho đồ đệ mình lẫn lộn nhiều thứ đến tận cùng.

Với nhiều người hằng trông mong Ngài trở thành người con dễ thuần thục hoặc theo đúng qui ước vẫn sáng chói trong chiến thắng lẫy lừng đầy dũng cảm, thì họ không dễ dàng gì mà chấp nhận con người như Đức Giêsu được. Nhưng, Ngài lại là người có óc thực tế rất cao vời, như chưa có người như thế. Ngài nhìn thẳng mặt vào uy lực của sự chết, nhưng không nhất quyết chinh phục lực hút ấy. Thật ra, ta thấy nơi Ngài có sự hiền dịu, nhào quyện với sự bất toàn trong việc đứng lên hành động chống đối, vào nhiều lúc. Nơi Ngài, ta thấy chính sự hiền dịu trỗi dậy từ sự chết… Nơi Ngài, chừng như có hai diện mạo, và Ngài ra như không biết cách hoà quyện hai diện mạo ấy thành chính Ngài…

Ở Tin Mừng thánh Máccô, Đức Giêsu vừa “chạnh lòng thương” (tiếng Hy Lạp là Splanchnistheis) những người bị ngã qụy (Mc 6: 34, 8: 2 và 9: 22-23) và dễ “nổi giận” (tiếng Hy Lạp là “orgistheis”) khi con người không tin vào Ngài (Mc 3: 5 và 9: 23)Và tiếng Hy Lạp tả về động thái “chạnh lòng thương” nếu dịch từng chữ là “thấy xúc động tận tâm can”. Còn “dễ nổi giận” nếu dịch sát là ở vào trạng thái bùng nổ đến điên cuồng mà tiếng Việt mình gọi là “giận điên” không thực sự kềm chế được.  

Có điều lạ, là người cuối cùng chép lại Tin Mừng theo thánh Máccô lại bỏ đi các cụm từ ấy, có lẽ vì họ không muốn Đức Giêsu mang tâm tính đó. Và, cũng chẳng muốn đấng bậc thần thánh như Ngài mà lại có thái độ như thế, cũng không nên. Xem thế thì, nhiều dân con Đạo Chúa thấy có nhu cầu biến Đức Giêsu ít đúng thực và cũng ít chất “người” hơn là Ngài vẫn thế. Họ cũng muốn Ngài “hội nhập” nhiều hơn. Họ chẳng bao giờ muốn để các nữ phụ cứ khuynh loát, lèo lái tính nhân hiền tử tế của Ngài hết. Thành thử, rất nhiều khi, Ngài cũng chẳng biết sau đó phải làm thế nào cho vừa lòng mọi người.

Ở Tin Mừng thánh Máccô, Đức Giêsu là ngôn sứ “chuyền chéo” rất Galilê, và Ngài thăm Giuđêa coi như động thái quyết đạt đến giai đoạn thách thức lại thập giá của La Mã. Khi viết Tin Mừng, thánh sử không gộp chung các sự kiện này vào với nhau. Nhưng, điều mà thánh sử cần tả là việc Ngài hoà trộn với chúng dân và nhiều lúc đã để họ dẫn đưa Ngài vào con đường mà Ngài không có khả năng đảm trách chỉ một mình. Đấng biết mình chết cho con người không nhất thiết phải là người cần hội nhập cuộc sống đầy cảm xúc của Ngài.

Thật ra, đó không là đòi hỏi hỏi của phục sinh. Là, con dân của Chúa, chúng ta cũng không buộc phải làm thế. Như Đức Giêsu, ta vẫn có thể đến với mọi người bằng tư cách của chính mình, mà vẫn được cất nhắc khỏi sự chết. Nói cho cùng, theo văn phong thể loại của thánh sử Máccô, thì chừng như Đức Giêsu vẫn mở rộng ra để nữ giới lãnh đạo và dẫn dắt. Thật ra, có thể nói, Ngài bị giới hiền dịu và tử tế đã hơn một lần từng khuynh loát Ngài. Nhưng có khuynh loát hay không, điểm tới vẫn ở trước mặt cho cả lãnh tụ lẫn người bị dẫn dụ, và khuynh loát.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên cùng với nhà thơ ngâm nốt câu ca, mà rằng:

            “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

            Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

            Sao bông phượng nở trong màu huyết,

            Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

            (Hàn Mặc Tử – Những Giọt Lệ)

Giọt châu hay giọt máu cũng vẫn là giọt lệ. Của giới nữ vẫn đem nhà thơ bỏ “dưới trời sâu.” Ở nơi đó, nhà thơ cùng người người lại sẽ thấy bông phượng nở trong màu huyết, có Đấng Hiền Dịu cũng một  tâm trạng như đàn con từng nhỏ giọt châu đỏ, lẫn máu đào, để thương nhau. Mãi một đời.           

                             Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –            

                           Mai Tá lược dịch

“Em không nghe mùa thu”

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 13 Thường niên năm B 01-7-2018

 “Em không nghe mùa thu”
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực,
Hình ảnh kẻ chinh phu,
Trong lòng người cô phụ?”

(Tùng Giang – Nam Lộc/ Phạm Duy/Lưu Trọng Lư –

Anh Đã Quên Mùa Thu & Tiếng Thu)

 Trần Ngọc Mười Hai

Cụm từ thơ văn “Chinh phụ”, “lòng người cô phụ”, có “khói sương mù thổn thức”, “Hàng cây khô sầu úa, hiu hắt đứng trong mưa”, phải chăng tất cả đều nói lên tiếng nói hoặc âm vang của “lặng thinh”? Của, cái mà người xưa vẫn cứ bảo “lặng thinh là tình đã thuận”?

Vâng. Có thể là như thế. Có lẽ, là như vậy. Tức: như người thời nay lại cứ quen ồn ào, náo động mà quên mất thứ “tình thuận” của lặng thinh.

Vâng. Mới đây, người bạn thân trong chốn văn-chương nghệ-thuật của bần đạo là anh Nguyễn Văn Tạ có đến thăm bần đạo rồi “thảy” cho cuốn sách của tác giả Diarmaid MacCulloch  có nhan đề là “Silence: A Christin History”với lời nhắn nhủ bảo rằng: “Anh cầm mà đọc cuốn này xem có nhiều ý-tưởng hay lắm!”

 Vâng. Ý-tưởng của tác-giả Diarmaid MacCulloch lâu nay có ý bảo nhỏ với người đọc rằng: thời buổi hôm nay, thiên hạ cứ là hay “lào xào” với những chuyện vẩn vơ, nho nhỏ và vô bổ, chứ chẳng biết thế nào là “tình đã thuận” của một lặng thinh.

Vâng. Đành rằng, lặng thinh là tình đã thuận. Thế nhưng mà, thuận đây là thuận cái nỗi gì? Thuận nhĩ, thuận thảo hay thuận tình?

Thế, sao còn gọi là lặng tình để rồi phối hợp với bài “Tiếng Thu” rồi sẽ hát thêm:

“Bây giờ là mùa Thu,

Trời vắng khói sương mù
Hàng cây khô sầu úa
Hiu hắt đứng trong mưa
Mưa như lệ tình xưa
Lệ thấm mấy cho vừa
Lệ vương hoa phượng rũ.

Em có nghe mùa thu.”

(Phạm Duy? Lưu Trọng Lư ­– bđd)

“Thu mang cho tình yêu một thời đã qua.
Thu mang cho tình yêu một thời xót xa.
Mùa thu đã xóa hết cơn mong chờ.
Mùa thu đã cất dấu chân ơ thờ.
Một người bước đi lệ tình ướt mi.
Hôm nay trời vào đông.
Tình đã chết trong lòng.
Niềm cô đơn chợt đến.
Em đã quên mùa thu.”

(Tùng Giang/Nam Lộc – Anh đã quên Mùa Thu)

Vâng. Mới rồi đây, quán nhạc “Hát Cho Nhau Nghe” ở Sydney có màn trình diễn những hát hò, trong đó người trẻ chơi nhạc đã gom gộp tình/ý hai bài Tiếng Thu và Anh Đã Quên Mùa Thu làm một để rồi sẽ yêu cầu người hát kết thúc ý/tình của buổi tối vui bằng câu ca mà rằng:

“Em không nghe rừng thu

Con nai vàng ngơ ngá

Đạp trên lá vàng khô…

 Anh đã quên mùa Thu?

Mùa Thu! Không Em?”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Lư/Tùng Giang/Nam Lộc – bđd phối hợp)

Vâng. Có một điều, mà người đời thời nay cứ là hay lẫn lộn sự “lào xào” với chuyên thâm/cao” ở nhà Đạo, chính ra phải là “lặng thinh”. Bởi, có lặng và có thinh, thì tình mới thuận.

    Vâng. Ngày hôm nay, cả “Anh” lẫn “Em” đều không thể quên mất mùa Thu nào đó; mà còn quên cả thứ “tình đã thuận” của “lặng thinh”, nữa đấy chứ.

Vâng. Nói thì nói thế, chứ nào ai hiểu rõ được thứ “lặng thinh” đích-thực của mọi sự, trước khi nhận ra được thứ “tình” và “ý” ấy!

Vâng. Vậy thì, lặng thinh là gì? Lặng thinh có giá-trị ra sao? Tại sao cứ phải lặng thinh thay vì tự do lào xào, náo-nhiệt, hoặc lăng xăng cho “tới bến”?

Vâng. Hôm nay đây, xin mời bạn và mời tôi, ta đi vào tìm hiểu tuy thoáng chốc, nhưng cũng là một dẫn-nhập cho lập-trường nào đó, rất mai sau! Thế nhưng, trước khi đi vào phần khô cứng của lý-luận và luận giải, xin đề-nghị tôi và bạn, ta nghe thử câu truyện ngụ ngôn nhè nhẹ, sau đây:

Mèo và Cáo giống như hai vị tiểu thánh gia đang trên lộ trình hành hương. Đó là hai kẻ đạo đức giả chân chính, hai lão đệ huynh, trong liềm hân hoan được đi du hành, kẻ đã chén không biết bao là gia cầm, người đã từng xơi nhiều pho mát. Vì đường đi quá dài và mệt mỏi, để rút ngắn lộ trình, hai con vật bày ra cách tranh luận cho quên quãng đường xa nhọc nhằn và cũng quên đi cơn buồn ngủ. Hai kẻ hành hương ra công kêu đến khản cổ lý lẽ của mình. Cuối cùng Cáo nói với Mèo.

 -Có thể Anh cũng khéo léo đấy nhưng tài anh sao bằng tôi được? Tôi luôn có trăm mưu ngàn kế trong đầu.

Người kia đáp

-Thế ư? Tôi thì không, tôi chỉ có một kế thôi nhưng tôi chắc nó còn ăn đứt cả trăm kế sách của anh.

 Cứ thế cả hai lại thi nhau cãi và về cái lý của mình kẻ nói có người nói không cho đến khi bất thình lình cơn nguy khốn xảy ra khiến cả hai im bặt, Mèo bảo Cáo:

-Hãy lấy một trong số hàng trăm kế của anh ra đi, bạn thân mến. Hãy tìm trong đầu anh một mưu chắc chắn ấy còn tôi, đây là kế của tôi.

 Nói dứt lời, Mèo nhảy tót lên cây cao còn Cáo giở đủ các ngón mà chẳng ăn thua. Nó chui vào các hang khác nhau hòng lừa lũ chó nhưng đều bị thất bại. Khói xông vào trong hang buộc nó phải nhảy ra ngoài. Ngay lập tức hai con Chó nhanh chân nhảy bổ vào Cáo và xé xác nó ngay cú vồ đầu tiên.”

Và, dưới đây là “lời bàn Mao Tôn Cương” của người kể ở đâu đó:

Câu chuyện cho thấy kẻ lắm mưu mẹo đôi khi vẫn bị thất bại trong công việc vì mải lựa chọn kế sách, cái gì cũng muốn làm, muốn thử xem kế nào hay? Cho nên đôi khi chỉ cần một cách hay thôi cũng đủ giúp thành công rồi.” (trích và dịch do một người giấu tên trên mạng) 

Đang bàn về “lặng thinh” mà lại kể truyện Cáo và Mèo, thì có lẽ không mấy hợp lý cho lắm. Tuy nhiên, điểm nhấn ở truyện kể là hai chú Cáo và Mèo giải quyết “công chuyện” theo hướng “lặng thinh là tình đã thuận”, cơ đấy!

Thành thử, vấn đề lặng thinh mà người kể ở trên gọi là “cô tịch” lại cũng đi đôi với điều mà người ấy gọi là “hiện-diện” hoặc “hiện-hữu” cũng là chuyện “thường ngày ở huyện” rất đời người. Một đời, có những nhận-định rất ư chính-đáng, như sau:

Hiện diện và cô tịch. Một cặp bài trùng không thể tách lìa trong bí mật con người, nhưng không có vế nào tự mình là đầy đủ.

Tính chất có vẻ lưỡng diện này là một biểu hiện của cấu trúc căn bản của con người, và như chúng ta đã thấy, nó cần phải có một nhịp hai thì, ra khỏi mình và trở về mình. Nhưng đó cũng là thảm kịch hiện sinh của con người. Hữu thể kỳ lạ này luôn bất an, chẳng có thể tìm được bình an trong cô tịch vì sẽ bị sợ hãi tấn công, cũng như trong hiện diện với người khác. Vì họ sẽ nhanh chóng thất vọng bởi lẽ sự hiện diện đó cũng không làm cho họ mãn nguyện. Họ không thể tìm thấy trong chính mình lẫn nơi người khác sự viên mãn mà họ tìm kiếm.

Thảm kịch này không phải là một tai nạn tình cờ nhưng biểu hiện sự bổ túc thiếu sót căn bản, và đấy là một lời mời gọi âm thầm của Đấng Tuyệt Đối. Một sự bổ túc thiếu sót tự căn bản, thôi thúc họ phải tìm kiếm liên tục, khi thì trong cô tịch khi thì trong quan hệ, để có được sự nghỉ ngơi, hạnh phúc, là những điều luôn vượt tầm tay họ. Vì sự cô tịch hoàn toàn đòi hỏi phải có một sự viên mãn, một sự tự túc, nhưng đấy không phải là bản chất của con người! Và quan hệ của họ cũng không làm cho nỗi khát khao về tuyệt đối nơi họ được mãn nguyện, vì đấy không phải là bản chất nơi người khác! Aristote đã cảm thức rằng sự cô tịch chỉ có thể là một hồng phúc đối với Thiên Chúa vì Người tự Mình là viên mãn, đầy đủ.

Chính đây là nơi mà mặc khải Kitô Do Thái giáo đem đến một ánh sáng quyết định cho bí ẩn con người.

 Thật vậy, nhân vật Kitô, Đấng công bố rằng Ngài là Con của Chúa Cha, được Thần Khí linh hứng, đã mặc khải rằng Thiên Chúa không phải là một hữu thể cô tịch nhưng là có tương quan, Người là một sự hiệp thông tình yêu giữa Ba Ngôi. Kitô giáo tin một Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi. Sự bộc lộ về mầu nhiệm nội tại của Thiên Chúa, dù cho vượt quá mọi ngôn ngữ, thì tình yêu đòi buộc phải có qua lại một quan hệ giữa các ngôi vị.

Hệ quả là một mặc khải liên quan đến con người. Thật vậy, trong chiều hướng mà con người được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, con người tự bản chất đã là một hữu-thể có quan-hệ. Họ chỉ có thể hiện hữu, triển nở, trở thành “người” nhờ và trong các tương quan: “yêu và được yêu”. Tương quan ấy là yếu tố kết tinh nên bản chất, căn tính của họ.


Toàn bộ con người họ như thể hướng về cùng đích này: 
Đó là sự Viên Mãn của tình yêu Thiên Chúa.

 Chẳng phải là đặt nền tảng trên mặc khải ấy, một mặc khải được chứng thực nhờ công cuộc nhập thể của Đức Kitô, mà các Kitô hữu nghĩ rằng ta chỉ gặp được Thiên Chúa không phải chỉ bằng cách “trốn vào sa mạc”, nhưng bằng cách chia sẻ kiếp người trong mạng lưới các quan hệ hằng ngày sao? Tình yêu nhân loại, việc mở lòng và hiến mình cho tha nhân, đối với họ, là những nơi ưu tiên để Thiên Chúa ngỏ lời và tự mặc khải.

Thế nhưng, dù không phải ai ai cũng được kêu gọi sống ẩn tu, thì tất cả chúng ta cần phải nhận định ý nghĩa về hấp lực của sự cô tịch, được thể hiện từ ngày đầu của Kitô giáo trong những truyền thống Đan Viện lớn, ở Phương Đông cũng như ở Phương Tây, và hoa quả của các truyền thống ấy trong đời sống các Thánh thì quá hiển nhiên đến độ không thể nào phủ nhận được. Sự cô tịch mà những nhà linh đạo lớn đã từng đồng lòng công nhận vai trò quan trọng đối với cấu trúc con người. Ôi cô tịch hồng phúc! (O Beata Solitudo!).

Nhưng, như chúng ta đã thoáng nhìn, chúng ta sẽ thấy rằng vấn đề không được đặt ra dưới dạng đối nghịch mà là bổ túc lẫn nhau. Con người là một hữu thể cô tịch và cộng đoàn, cần đến sự cô tịch và mối tương quan để tìm thấy mình và tìm thấy Thiên Chúa.

Một nhà văn như St. Exupéry đã hiểu rõ điều đó, vì ông đã ca tụng tình bạn trong tác phẩm Terre des Hommes (Vùng đất con người), và biểu dương sự cô tịch trong tác phẩm “Thành trì”. Và Cha De Foucauld, mất hút trong sa mạc, vẫn xem mình là “Người anh em của mọi người!”.

Chắc hẳn chúng ta cũng sẽ thấy rằng sự cô tịch cũng như đời sống tương quan, có những ảo ảnh và cạm bẫy riêng. Nhưng sự hàm hồ luôn khởi sự từ con người. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng: rốt cuộc, thì: tiêu chuẩn duy nhất để phân đinh vẫn mãi mãi là phẩm chất của tình yêu. Các quan hệ cũng như sự cô tịch là để phục vụ cho con người, và cho con người biết học tập yêu thương. “Tình yêu và bác ái hiện diện ở đâu, thì Thiên Chúa hiện diện ở đấy!”.

 Hai con đường, đường cô tịch và đường tương quan, chỉ có thể đi vượt qua giới hạn nội tại của mình khi đón nhận sự Viên Mãn của Chúa.

Đối với một tín hữu, sự cô tịch tiên vàn không phải là một nơi; mà là một phẩm chất của cõi lòng. Và sự cô tịch không bao giờ là cô lập, hay thoát ly, hay chạy trốn, mà là một sự chú tâm mới; đối với một Đấng Hiện Diện đang cư ngụ cả trong sự cô tịch của sa mạc, lẫn trong các tương quan giữa người với người.” (lại cũng trích và dịch từ tập sách “Những Nẻo Đường Thinh Lặng” của Michel Hubault)

 Với người nhà Đạo, mà lại là Đạo Chúa, thì cô đơn, cô tịch và ồn ào là như thế. Còn, với người đời mà lại là thi-nhân, nhạc sĩ, thì lặng thinh/cô-tịch lại sẽ được diễn tả bằng ngôn-ngữ thi-ca nhiều nghĩa như lời ca được hát tiếp ở bên dưới:

 “Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Lư ­– bđd)

Chuyện lặng thinh ở đời còn được diễn nghĩa bằng nhiều cách thức. Có một cách rất lạ kỳ, và ít ai dám nói hoặc kể, rất như sau:

“Về nhà thơ Anh John Milton, hôm ấy Giáo sư hỏi cả lớp:

– Ai có thể nêu hai sự kiện lớn trong cuộc đời của nhà thơ Anh John Milton?

Một nam sinh viên nhanh nhẩu phát biểu:

– Sau khi kết hôn, nhà thơ viết tác phẩm “Thiên đường đã mất”.  Đến khi vợ ông mất, ông viết tác phẩm “Thiên đường trở lại“.

 Tương-tự như vậy, còn có truyện kể nhẹ nhưng rất thật như sau: 

 “Nhân dịp nhạc sĩ Từ Công Phụng đến Melbourne trình diễn chương trình ca nhạc “50 năm Tình ca – một lần nhìn lại.  Có một người đã hỏi: 

– Hình như nhạc sĩ Từ Công Phụng đã từ chối không chịu làm suôi với cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phải không??

Từ công Phụng mỉm cười rồi gật đầuNhạc sĩ cho biết lý do là vì con trai của nhạc sĩ Từ Công Phụng tên Từ Công Nghĩacòn con gái của cố nhạc sĩ Trần thiện Thanh tên Trần thị Trang.  Do đó khi đăng báo chúc mừng sẽ viết như sau:

Chúc mừng hai họ TỪ – TRẦN

và  Chúc hai cháu NGHĨA – TRANG

Trăm Năm Hạnh Phúc

Như vậy chắc không ổn rồi.  Có mời thì cũng chẳng ma nào dám đi đám cưới!!

 Theo giới khoa bảng ở nhà Đạo, thì “Lặng thinh” trong lịch sử Đạo Chúa là chuyện rất quan-trọng như Gs Diarmaid MacCulloch từng tâm tình như sau:

“Lặng thinh là thành-phần sống còn đã từng biến mất trong lịch-sử; bởi thế nên ta không có đủ lợi khí để tạo ý-nghĩa cho những gì mình biết và cũng không có chứng cớ nhãn-tiền cho những gì mình sở-đắc…

 Hiện nay, đang có thứ văn-chương chữ nghĩa rất đáng kể của đạo-giáo nói về lặng thinh. Tôi tiếp cận đề-tài này từ một đời bỏ ra để giảng dạy và kiếm tìm lịch-sử đồng thời cũng nhờ vào tình huống đối đầu giáp mặt mang nhiều kết-quả đầy hoa trái với Giáo hội và đời sống tín-hữu Đức Kitô. Các mẫu mã, mô-hình của đạo-giáo là những sự việc xảy đến trong khung/mành của xã-hội loài người mà ta truy-tầm được và chúng là trung-tâm của cuộc sống đầy doanh thương, tính toán. Ngang qua nghề-nghiệp mang tính sử-học của riêng mình, tôi đã có được kinh-nghiệm bản thân biết rõ tầm quan-trọng của lặng thinh trong mọi sự-kiện cuộc sống của con người…

 Tôi lại may mắn có cơ hội đối đầu với nhiều thách-thức trong cuộc sống ngay từ tuổi chớm trưởng-thành, nên có nhiều dịp thuận để vui hưởng cuộc sống như mình hằng mong ước. và nhờ thế mới có được cuộc đời khá ổn-định. Kinh-nghiệm sống trong đời đầy huyên náo đã dạy tôi biết tỉnh táo trước những mờ-ám nơi ý-nghĩa của nhiều văn bản, cùng ánh mờ nhạt nơi ý-nghĩa khác biệt nơi hành-xử của những người sống quanh tôi. Và rồi, tôi cũng tự chỉnh sửa phù hợp để nghe được tiếng lặng thinh và nhờ đó tìm ra chìa khóa cần-thiết để hiểu biết nhiều tình huống khác nhau trong đời mình…

 Kinh-nghiệm bản thân nguyên khởi đã dẫn tôi đối đầu với lặng thinh trong đạo trước nhất là như một tránh né thoát khỏi mọi ràng buộc của sự thật. Đúng thế. Kinh-nghiệm đã dạy tôi biết nhận thức và vui hưởng sự thật cho thấy lặng thinh có thể mang dáng dấp tích cực cũng như tiêu-cực. Dù trên bình-diện trần-tục của cuộc sống con người, vẫn có những lời nói dối trắng trợn và nhiều sự việc không được nói ra bởi lẽ có những điều mình không nên nói. Nhưng, nhiều hơn thế, cuốn sách tôi viết đây có đầu đề là: “Lặng thinh: lịch-sử của Đạo Chúa”, sẽ đặt ra rất nhiều điều về lặng thinh với các biện-luận khác nhau, nhưng rất tích cực.

 Tóm lại, niềm tin ở Đạo Chúa đặt nền-tảng trên một khẳng-định quyết bảo rằng ta có nhiều thông hiểu về ý-nghĩa của lặng thinh hơn là chỉ mỗi sự giao-dịch/tương-tác giữa con người với con người, hoặc tương-tác giữa con người với xã-hội hoặc bối cảnh phủ trùm chung quanh họ. Dù tôi và nhiều bạn đạo của tôi có tin vào Thiên Chúa hay không, dù kinh nghiệm của con người nhỏ bé hoặc nghèo nàn cách mấy đi nữa, thì ta vẫn nên đối xử với khẳng định của người tin tưởng về sự hiện-hữu của Thiên-Chúa , và vai trò của bất cứ sử-gia nào tìm hiểu về đạo-giáo cũng vẫn là các nỗ-lực trong quá khứ tạo thiện-cảm và sự thông hiểu niềm tin ấy.

 Và nhiều người sẽ  thấy được rằng “lặng thinh” đã và vẫn còn nằm ngay bên trong trọng-tâm kinh-nghiệm về đạo-giáo và tất cả mọi người rồi cũng mong khẳng-định rằng họ đều đã tạo hiệu-quả và ảnh-hưởng sâu sắc lên lịch-sử của Đạo Chúa.”  (X. Gs Diarmaid  MacCulloch,Silence, A Christian History, nxb Penguin 2014 tr. 2-5)

Và, đấng thánh hiền nhà Đạo khi xưa lại cũng lên tiếng về sự lăng thinh, mà rằng:

“Khi Con Chiên mở ấn thứ bảy,

thì cả bầu trời thinh lặng chừng nửa giờ…
Rồi tôi thấy bảy thiên thần

đứng chầu trước nhan Thiên Chúa…”

(Khải Huyền 8: 1)

Và ở đoạn khác, cũng thấy nói:

“Ý muốn của Thiên Chúa là

anh chị em hãy làm điều thiện

khiến những kẻ vô tri ngu xuẩn phải thinh lặng.16

Anh chị em hãy hành động như những người tự do,

không phải như những người lấy sự tự do làm màn che sự gian ác,

nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa.”

(1Phêrô 2: 15)

Thành ra, muốn xử sự như người tự-do-con-cái-Chúa, có lẽ điều quan trọng hơn cả bao giờ cũng là “Hãy lặng thinh như tình đã thuận”. Thuận thảo với Chúa, với nhau và với chính mình. Đó chính là điều lành, tốt đẹp chỉ người lành thánh mới biết tuân thủ.

Để minh họa chuyện này, cũng nên đi vào vùng trời gồm toàn những câu truyện để kể cho nhau nghe hầu mỗi người và mọi người có thể thụ-hưởng giây phút thư giãn, “lặng thinh”, như sau:

Ngày xưa tôi có xem một phim với tựa đề tiếng Anh là “Into the Great Silence.” (tức: Vào với lặng thinh lớn lao”.  Đây là phim tài liệu nói về đời sống trong tu viện cổ Grande Chartreuse trên vùng núi Alps ở Pháp.  Cuốn phim quay lại các sinh hoạt hằng ngày của các tu sĩ dòng kín Carthusian trong thinh lặng.

 Người đạo diễn của cuốn phim đã phải sống trong tu-viện suốt nửa năm, và chỉ quay phim bằng ánh sáng thiên nhiên.  Và để tránh gây ảnh hưởng đến đời sống thinh lặng của tu sĩ, ông không được phép tiếp xúc hoặc nói chuyện với bất cứ ai trong tu viện, và không được mang theo người nào khác vào làm phim với ông.

 Dĩ nhiên là, sự lặng thinh trong tu viện không phải hoàn toàn tuyệt đối.  Cũng có lúc các tu sĩ nói chuyện và phát biểu, như trong lễ hoặc khi sinh hoạt này khác, hay vào cuối tuần khi đi dạo bên ngoài.  Nhưng cốt-thiết của thực tập vẫn đặt nền tảng vào sự lặng thinh.

 Cuốn phim nói đây, mở đầu bằng cảnh mùa đông, khi toàn vùng núi Alps và tu viện phủ đầy tuyết trắng, vạn vật chừng như đông đá.  Giữa thinh lặng, ngồi trong tu-viện nhìn ra khung cửa, ta như nghe được âm vang của bông tuyết rơi xuống đất.  Trong lặng thinh, ta còn cảm nhận được sự hiện-diện của những chuyện tầm thường vây quanh mình, cách sâu sắc.  Thời gian từ từ xoay quanh không gian, tiếng cây cỏ chuyển mùa và giọt nước đá tan trên cỏ, những áng mây tuôn trôi ngang đầu, bầu trời về khuya làm vụn vỡ trăng sao, tất cả đều vận hành tự nhiên trong thế giới lặng yên.

 Điều ta cần nghe ngóng là lắng nghe chính mình. uộc sống hằng ngày của ta, so với phim, là một thế giới hoàn toàn khác lạ.  Những bận rộn chung quanh đều khiến ta không có giờ để ngồi yên, và thật sự tiếp xúc với những gì đang hiện diện.

Trên đường đi, chắc bạn chẳng bao giờ nghe được âm thanh của chiếc lá rơi rụng, hoặc đêm khuya tạt ngang cửa sổ chợt dừng lại nhìn sân trước nhà tràn ngập ánh trăng…  Thật ra, trong cuộc sống ngày, ta ít có cơ hội để sống với lặng thinh, mà theo tôi dù có đi nữa, ta có khả năng tiếp xúc được chúng khôăng?

 Tôi có người quen kể rằng: có lần anh đi ăn trưa với một người bạn.  Anh chọn một quán ăn nhỏ thật vắng vẻ để hai người có dịp trò chuyện.  Trong tiệm vắng, chỉ những âm thanh hỗn tạp bình thường của chén/dĩa xục xạo trong nhà bếp, tiếng máy tính tiền và tiếng thực khách nói chuyện ở bàn bên, hoặc tiếng nhạc nhẹ êm, vv…  Bất chợt, mọi đèn đóm trong phòng ăn bị cúp!  Không gian như dừng đứng, căn phòng trở nên im ắng cách lạ kỳ.  Anh bạn tôi cho biết sự thinh lặng đây bất chợt thật khó chịu làm anh đinh tai nhức óc.

 Nhưng giây phút nói ở đây khiến anh chợt dừng lại trong phút chốc và ý thức rằng, mọi ồn ào náo nhiệt trong cuộc sống giúp ta tạm khỏa lấp khoảng trống trong chính con người mình.  Có lẽ vì thế mà người ta lại tìm cách trốn tránh thinh lặng để khỏi phải đối diện với sự trống vắng ở trong ta…

 Tôi nhớ một đoạn trong phim, trình chiếu cảnh trí cuối tuần ở bên ngoài, mọi người cùng ngồi với nhau bàn thảo về nghi thức xảy ra trong buổi lễ ban sáng.  Một tu sĩ phát biểu: “Không phải mục đích của hoạt động tiêu biểu là để ta tìm ra ý-nghĩa của mọi thứ, nhưng chính ta mới là người cần được tìm hiểu.” Thật ra, mọi hình thức lễ lạy chỉ cốt giúp ta quay về lại và nhận ra được chính mình, mà thôi.  Các tu sĩ, không hề vấn-nạn về lặng thinh, nhưng chính sự thinh lặng đặt câu hỏi cho ta và mọi người.

 Và bạn cũng như tôi, chớ nghĩ rằng lặng thinh không có nghĩa là ta chẳng làm gì hết, nhưng khi ta có được lặng thinh vây quanh, chắc chắn sẽ tiếp xúc được các yếu tố nhiệm mầu tự nhiên đang hiện-diện quanh ta với cái nhìn sâu sắc. Vẫn cứ là nhiệm mầu. Nhưng mầu nhiệm không mang ý-nghĩa chứng-tỏ mọi việc sẽ xảy đến theo ý mình, nhưng vẫn có nghĩa vì nó trong sáng tự nhiên.  Có thể đối với ta, trời xanh mây trắng chính là mầu nhiệm; nhưng với người khác, có thể đời họ đang cần ngày mưa tươi mát, dễ chịu.  Buổi sáng bước ra ngoài, trong làn nắng ấm, tâm thân của ta ra vui khỏe; hoặc, vào lúc xế, khi ta âm thầm lê bước đôi chân từ sở làm, tâm ta đầy lo lắng, mệt mỏi.  Phài chăng, hai giây phút ấy thật sự nhiệm mầu giống như nhau?

 Tôi nhớ có vị thiền sư nọ thường ca ngợi cái phút giây hiện tại đầy nhiệm mầu.  Lại có thiền-sinh kia cho biết: giây phút này, anh đang gặp nhiều khó khăn, đau khổ. Đời sống con người đâu có gì là nhiệm mầu?  Vị thiền sư nghe thế bèn đáp: cuộc sống con người tuy có lúc khó khăn, không mảy may dễ chịu, nhưng vẫn là mầu nhiệm!

 Nhiệm mầu, là vì ta vẫn có điều kiện để tiếp xúc được thực tại, và thấy được những gì thật sự đang xảy ra, hầu buông bỏ mọi vướng mắc của mình thấy sự vận hành của pháp, biết được sự hiện-diện của tuệ giác và tình thương ở quanh ta. Tất cả những điều ấy, chỉ có thể như thế trong giây phút hiện-tại mà thôi!

 Thênh thang như bầu trời. Hạnh phúc không là sự việc xảy ra theo ý muốn của ai khác, mà do thái độ buông xả của ta, mà thôi.  Trong tu-luyện, con người sẽ học được bài học về hạnh phúc. Và, người đạt được như thế vẫn thấy chuyện ấy xảy ra bất kể tình-huống xảy ra ở bên ngoài, dù trời  mưa gió hoặc nắng ấm. Mong sao mọi sự trong tôi và bạn không mang tính thù nghịch, nhưng vẫn yên ổn, lặng thinh và hạnh phúc. Hãy buông bỏ mọi khổ đau không cần thiết, bởi trong ta tất cả đều an vui, hạnh phúc, nhẹ nhàng.  Mỗi giây mỗi phút mặc-niệm đều như mũi tên buông thả, bay vào bầu trời cao rộng, nơi nào nó đến cũng là mục đích.  Bởi, trong thinh lặng, mọi sự đều trong sáng và tự nhiên.” (trích dẫn đôi giòng mặc-niệm từ điện-thư do bạn bè gửi, để suy-tư).

Suy tư, mặc niệm lại vẫn là điều-kiện của lặng thinh là tình đã thuận, trong phúc hạnh cuộc đời, của con người.   

Trần Ngọc Mười Hai

Và những nghĩ suy mọn hèn

vào ngày êm ả

và tươi mát.

HAI CUỘC ĐỔI ĐỜI

HAI CUỘC ĐỔI ĐỜI

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ.  Các ngài là cột trụ của Hội Thánh.  Các ngài là những viên đá tảng, đá quý để xây dựng toà nhà Hội thánh vững chắc và toả rạng cho khắp năm châu.

Các ngài là cột trụ của niềm tin cho toàn thể Hội thánh.  Một niềm tin không gì có thể lay chuyển đến nỗi “ma quỷ cũng không thắng nổi.”  Một đức tin can trường đến nỗi dầu có chịu nhiều thiệt thòi, dầu có phải trải qua những gian truân cùng khốn: tù đầy, đói rét hay phải bôn ba rày đây mai đó, phải vượt qua biết bao phong ba bão tố, các ngài vẫn vui lòng chấp nhận vì được thông phần đau khổ với Thầy Giêsu.

Hai con người này tuy được sự giáo dục khác nhau, và hấp thụ hai nền văn hoá khác nhau, nhưng họ lại đi chung một đường, và cùng chung một lý tưởng.  Cuộc đời các ngài đều phải lội ngược dòng để làm lại cuộc đời, để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với niềm tin của mình.

Thực vậy, nhìn vào đời sống hai trụ cột của Hội thánh, chúng ta thấy: một Phêrô đã từng sa ngã.  Ông đã từng can ngăn không muốn cho Chúa nộp mình chịu chết.  Ông đã đi đến tận tùng của sa ngã là hành vi chối Chúa đến ba lần trong cùng một đêm.  Một Phaolô đã hăng say lùng bắt các môn đệ của Chúa.  Chính ông đã đồng loã với những người quá khích ném đá vị tử đạo đầu tiên là Stephano.  Thế nhưng, ý Chúa nhiệm mầu.  Tình yêu của Chúa đã thắng vượt những yếu đuối của Phêrô và Phaolô.  Chúa đã dùng muôn nghìn cách để đổi đời các ngài.  Chúa đã tạo cho các ngài cơ hội để chuộc lại lỗi lầm.  Chúa đã nói cùng Phêrô: “một khi con trở lại hãy củng cố đức tin của anh em con.”

Theo Thánh Kinh kể lại: Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô, Ngài biết hết!  Phêrô chột dạ.  Phêrô nhớ lại lời Thầy: “Nội trong đêm nay, trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần.”  Tức thì, Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn nặng trĩu, một cái gì đó đã chết trong ông.  Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức.  Còn lời nào biện mình cho hành động hèn nhát của ông.  Còn đâu lời khẳng khái: “mọi người có bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ.”  Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, hèn yếu và rất dễ sa ngã.  Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã “đổi mới” tâm hồn Phêrô.  Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.

Còn Phaolô thì sao?  Sau khi ngã ngựa đau đớn bởi một luồng sáng chói loà.  Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày.  Nhưng thật ra, tâm hồn ông lại sáng.  Ông đang thấy và thấy rất rõ.  Đó là Đức Giêsu, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha.  Đó là sự thật mà ông phải chấp nhận.  Một sự thật mà từ nay ông phải làm chứng về những điều đã nghe, đã thấy, và đã biết.

Vâng, có thể nói, nhờ sự đổi mới cuộc đời của Phêrô và Phaolô mà cả thế giới được đổi mới.  Văn hoá Kitô giáo đã làm mới lại bộ mặt địa cầu.  Có thể nói ở đâu đó vẫn có những người chưa tin vào Chúa nhưng họ đã được thấm nhuần văn hoá Kitô giáo, vẫn còn có những người được đổi mới cuộc đời nhờ vào lời Chúa và sức mạnh của Tin Mừng.  Ở đâu đây vẫn còn những tâm hồn thất vọng, lầm than nhưng họ đã bừng lên niềm hy vọng nhờ những giá trị tin mừng mà Kitô giáo mang lại cho họ.

Mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mỗi người chúng ta được mời gọi tiếp nối truyền thống của các tông đồ mang Tin Mừng đến khắp cùng trái đất.  Mỗi người chúng ta cũng là những viên đá sống động, góp phần xây dựng toà nhà Hội thánh.  Dù nhỏ bé, yếu hèn và bất lực, nhưng Chúa sẽ dùng tuỳ theo nhu cầu của Ngài.  Chính Ngài sẽ đổi mới cuộc đời chúng ta bằng ân sủng và tình thương của Ngài, để nhờ đó chúng ta cũng có khả năng đổi mới môi trường chúng ta đang sống.  Đồng thời chúng ta hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Đức Thánh Cha, cho các giám mục là những Đấng kế vị thánh Phêrô và các tông đồ.  Xin Chúa ban thêm sức mạnh, nghị lực và ơn khôn ngoan, để các ngài luôn là điểm tựa cho niềm tin của chúng ta. Amen!

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

From Langthangchieutim gởi

GIEO LỜI YÊU THƯƠNG

GIEO LỜI YÊU THƯƠNG

Malcolm Dolkoff là một cậu bé nhút nhát, dễ bị tổn thương.  Cậu có rất ít bạn và luôn phải lủi thủi một mình.

 Một lần, cô giáo đọc cho cả lớp một đoạn truyện ngắn.  Loài vật là bạn thân của con người, sau đó phân công mỗi học sinh tự viết đoạn kết cho câu chuyện.  Dolkoff thích lắm, ngay chiều hôm ấy cậu đã hoàn thành bài viết của mình.  Nhưng mãi cậu mới có đủ tự tin đem nộp truyện của mình cho cô giáo vào buổi học tuần sau.

 Những gì cậu viết cũng như điểm số mà cô giáo đã cho không hề quan trọng.  Đối với cậu, điều quan trọng nhất mà cũng là điều cậu nhớ nhất lại chính là 4 chữ cô giáo đã phê: “Em viết hay lắm!”  Chỉ 4 chữ mà cũng đủ thay đổi toàn bộ cuộc đời cậu bé.  Trước khi nhận được 4 chữ đó, cậu chưa bao giờ có khái niệm về bản thân hay những điều mình đã làm.  Còn sau buổi học hôm ấy, cậu đã chạy thật nhanh về nhà, ngồi ngay vào bàn và bắt đầu viết một câu truyện ngắn, một câu truyện về tất cả những điều cậu đã từng mơ tới và không bao giờ dám nghĩ mình có thể biến những giấc mơ đó thành hiện thực.

 Cậu viết ngày càng nhiều hơn và cứ được một truyện cậu lại mang ngay tới cho cô giáo của mình nhận xét.

 Nhiều năm trôi qua, Malcolm Dalkoff đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thay cho cậu bé tự ti ngày nào.  Cậu trở về thăm trường cũ và thăm lại cô giáo ngày xưa của mình.  Điều cậu phải cảm ơn cô không phải vì cô đã trở thành một người bạn của cậu mà chính là 4 chữ đầu tiên cô đã từng phê “Em viết hay lắm!”, bởi những chữ ấy đã có thể thay đổi cả một cuộc đời.

Có những lời nói, cử chỉ tưởng như vô tình lại trở thành nguyên nhân thay đổi cho cả một đời người.  Biết bao con cái rơi vào sự tự ti mặc cảm khi cha mẹ vô tình lặp lại lời chê trách đối với con.  Biết bao con người trở thành hung dữ khi cha mẹ luôn gieo vào tâm trí trẻ thơ những lời nói việc làm chất chứa đầy hiềm khích, bất công.  Và ngược lại, biết bao con người đã bẻ gãy ổ khoá tự ti mặc cảm để can đảm vào đời, khi nhận được một sự khích lệ, một sự cảm thông từ những người thân.  Biết bao con người đã hoàn thiện nhờ vào gương lành của tha nhân đã gieo vào lòng họ những lời nói, những việc làm tốt. Những lời nói, những việc làm của ta tưởng như vô tình nhưng thực ra nó vẫn âm thầm gieo vào lòng những người chung quanh ta để có thể biến đổi họ theo cách sống của chúng ta.

Cha ông ta vẫn thường nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua – Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”  Nói cho vừa lòng nhau không phải để lấy lòng nhau hay lừa dối lòng mình.  Nhưng là lựa lời để nói.  Nói để xây dựng con người.  Nói để giúp họ thăng tiến.  Đừng dùng lời nói làm đau lòng người khác, và cũng đừng dùng lời nói để kết án anh em.  Một lời nói có thể thay đổi cả đời người.  Hãy trao tặng cho anh em những lời nói thật chân tình và đầy ắp yêu thương.  Lời nói không mất tiền mua, không phải để chúng ta phung phí bừa bãi, nhưng biết quý trọng từng lời.  Lời nói thể hiện nét đẹp văn hoá nơi con người.  Hãy biết chắt lọc ngôn ngữ.  Hãy làm cho lời nói của ta có giá trị bằng cách biết dùng lời cho vừa lòng nhau.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ra đi gieo vãi Lời Chúa.  Gieo trong kiên trì.  Dù đêm hay ngày.  Người gieo giống luôn gieo vào nhân thế hạt giống của tin mừng, hạt giống của yêu thương và hạnh phúc.  Nếu cô giáo của Malcolm Dolkoff không gieo vào lòng cậu bé lòng tin và nghị lực thì không có một nhà văn tài ba.  Người Kitô không gieo Lời Chúa thì làm sao có cánh đồng lúa bát ngát bông lúa vàng là tâm hồn các tín hữu?

“Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống này nảy mần và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết.”  Sự kỳ diệu của hạt giống là vẫn âm thầm lớn lên theo quy luật tự nhiên và sẽ có một ngày nó trở thành cây cao bóng cả cho đàn chim trú ngụ.  Người Kitô hãy gieo trong kiên trì, gieo với niềm cậy trông để nhờ ơn Chúa lời ta nói, việc ta làm sẽ sinh hoa kết trái nơi môi trường chúng ta đang sống.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn gieo vãi yêu thương trong hành trình cuộc sống của chúng ta, để mỗi bước chân chúng ta đi luôn để lại dấu ấn của yêu thương và hy vọng cho nhân thế.  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim

Thân chúc mọi người một ngày Father’s Day , thanh bình vui vẻ và hạnh phúc.

Sonny Doan

CÔ ĐƠN VÀ TĨNH MẠC

CÔ ĐƠN VÀ TĨNH MẠC

Từ ít lâu nay, trong Hội thánh Công giáo đã xuất hiện một phong trào tu đức nhằm vào sự cô đơn.

Phong trào này đào tạo nên những con người:

  • Coi sự cô đơn của Chúa Giêsu là một yếu tố quan trọng của thân phận Đấng cứu Thế được sai vào đời.
  • Quan tâm cách đặc biệt đến những người cô đơn trong xã hội và Giáo Hội.
  • Biết dùng bất cứ cảnh cô đơn nào xảy đến cho chính mình, để thêm cậy tin và phó thác nơi Chúa giàu lòng thương xót.
  • Biết phân biệt cảnh cô đơn không cần thiết và cảnh tĩnh mạc cần thiết cho việc đạo đức.

Với mấy nhận thức trên đây, tôi xin kính mời mọi tín hữu nói chung và mọi môn đệ được gọi vào chức thánh nói riêng, hãy nhìn vào Chúa Giêsu của tuần thánh.  Hãy ngắm nhìn kỹ và suy nghĩ thực sâu, để chia sẻ đôi chút tâm tình của Người.  Bởi vì cô đơn và tĩnh mạc đang và sẽ là vấn đề lớn cho ta và cho cộng đoàn của ta.

  1. Sự cô đơn của Chúa Giêsu

Trong tuần thánh, cảnh nổi bật vây phủ Chúa Giêsu là cảnh cô đơn.

  1. a) Quần chúng trước đây tung hô Người, nay quay lại nguyền rủa Người thậm tệ.  Sự thay lòng đổi dạ đó đã gây cho Chúa Giêsu một sự cô đơn đầy sát khí.  Nó đổ trên Người những bất hiếu, bất trung, vô ơn, độc ác.
  2. b) Sự cô đơn của Chúa Giêsu do quần chúng gây nên lại càng nặng thêm do thái độ các môn đệ thân tín bỏ rơi Người.  Kẻ thì bán Người, kẻ thì bỏ mặc Người bị bắt, kẻ thì chối Người.
  3. c) Sự cô đơn của Chúa Giêsu càng trở nên bi đát, khi Người bị xét xử trước tòa đạo, tòa đời hồi đó.  Những kẻ được nắm quyền do ơn trên, nay lại dùng chính quyền đó để kết án Người với sự hãnh diện của thứ đạo đức giả sành nghề.
  4. d) Sự cô đơn coi như đẩy Chúa Giêsu xuống vực thẳm sâu nhất chính là khi Người cảm thấy như mình bị Chúa Cha từ bỏ.  Chính Chúa Giêsu đã thốt lên một lời diễn tả nỗi khổ đó:“Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Người bỏ rơi con” (Mc 15,34).
  1. Sự tĩnh mạc của Chúa Giêsu

Khi Chúa Giêsu bị các nỗi cô đơn đè nặng trên mình, Người đã đối phó bằng sự đi vào cõi tĩnh mạc.

Trước hết là tĩnh mạc địa lý.  Người đi vào vườn Cây Dầu là nơi vắng vẻ.  Khi cầu nguyện, thì chỉ đi với ba môn đệ.  Nhưng rồi Người cũng không cùng với ba môn đệ cầu nguyện chung.  Người cầu nguyện một mình ở một chỗ tĩnh mạc, xa ba môn đệ.

Trong tĩnh mạc địa lý, Chúa Giêsu đi sâu vào tĩnh mạc nội tâm.  Sự tĩnh mạc này giúp Người cầu nguyện, thêm sức cho Người được chịu mọi đau khổ về thể xác và tinh thần.

Sự tĩnh mạc nội tâm này đã được nhận thấy ở sự rất ít nói của Chúa Giêsu, khi bị nhục mạ, bị vu khống, bị kết án.  Ban đầu, Người còn trả lời vắn tắt những câu tra vấn.  Sau đó, Người trả lời bằng sự im lặng.  Trên Thánh giá, Người chỉ nói mấy lời với nội dung yêu thương đối với loài người, và phó thác đối với Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”(Lc 23,46).

Trong sự cô đơn và tĩnh mạc nội tâm, Chúa Giêsu đã rất quan tâm đến những người khác bằng tình yêu thương. 

3. Sự quan tâm của Chúa Giêsu đối với những cảnh cô đơn

  1. a) Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã an ủi các môn đệ: “Thầy không để các con phải mồ côi”(Ga 14,18).  “Thầy để lại bình an cho các con.  Bình an mà Thầy ban cho các con không giống bình an mà thế gian ban tặng”(Ga 14,27).  “Nếu Thầy không đi, Đấng Bảo trợ sẽ không đến với các con.  Nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con” (Ga 16,7).  Hơn nữa, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh để ở lại với nhân loại một cách gần gũi đầy an ủi.
  2. b) Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã nghĩ tới cảnh cô đơn của mẹ Người.  Nên Người đã trối thánh Gioan cho Đức Mẹ, và trối Đức Mẹ cho thánh Gioan và nhân loại.
  3. c) Trên thánh giá, Chúa Giêsu thấy rõ cảnh con người bị tội lỗi xiềng xích là cảnh cô đơn đáng phải sợ nhất, nên Người đã xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ làm khổ Người, đặc biệt là Người nhận lời kẻ trộm chịu đóng đinh bên hữu Người.  Ông sẽ được cùng Người vào chốn trường sinh.

Trên đây là vài chia sẻ vắn tắt cho một vấn đề đã xưa, nhưng hiện đang là thời sự chi phối bầu khí đạo đức trong xã hội và trong Giáo Hội.

Thực vậy, theo các nhà khảo sát xã hội và quan sát tình hình tôn giáo, thì hiện nay:

  • Số người rơi vào cảnh cô đơn càng ngày càng đông.
  • Số người bị loại trừ cũng đang có chiều hướng gia tăng.

Cảnh cô đơn và cảnh bị loại trừ diễn ra ngay trong gia đình, trong các cộng đoàn xã hội, cả trong những cộng đoàn tôn giáo.

Động cơ đẩy người ta vào cảnh cô đơn và loại trừ càng ngày càng phức tạp.

Nếu chúng ta không tỉnh thức và cầu nguyện, thì cảnh cô đơn và loại trừ sẽ phát sinh và phát triển mạnh trong Hội Thánh Việt Nam ta.  Đang khi đó, cảnh tĩnh mạc sẽ lại bớt đi.  Lỗi phần nào là do các phong trào không lành mạnh trong xã hội, nhưng cũng một phần do chính những nhẹ dạ hoặc ác ý của một số thành phần thuộc nội bộ Giáo Hội ta.

Xin nhớ rằng: Ác quỷ Satan rất khôn khéo trong việc phá Hội Thánh Chúa.  Phá dưới mọi hình thức. Hiện nay hình thức Satan ưa dùng, là gây nên cảnh cô đơn và loại trừ trong chính nội bộ, đang khi đó chúng lại gây nên cảnh náo động hướng ngoại, thay cho tĩnh mạc cầu nguyện.  Nếu đúng như vậy, thì vấn đề chúng ta nên để tâm nhiều hơn trong tu đức là hãy đón Chúa Giêsu chịu tử nạn vào tâm hồn ta. 

Khi Người là sự sống của ta, thì chính Người sẽ đổi mới ta.  Nhờ Người, ta sẽ biết khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ nắm được một phần nhỏ của các sự thực, để ta sẽ sống bé nhỏ trong việc góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong Hội Thánh có nhiều khác biệt, trên đường hành hương nhiều khi cô đơn và tĩnh mạc. 

Dù cô đơn, dù tĩnh mạc, chúng ta tuyệt đối phó thác cuộc đời chúng ta nơi Chúa tình yêu. “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa” (Dt 10,9).

 Gm. G.B. Bùi Tuần

From: Langthangchieutim

THÁNH ANTÔN PADUA, LINH MỤC-TIẾN SĨ HỘI THÁNH

THÁNH ANTÔN PADUA, LINH MỤC-TIẾN SĨ HỘI THÁNH

Lòng tôn sùng rộng rãi và mạnh mẽ đối với thánh Antôn Padua thật lạ lùng so với những sự kiện đời Ngài. Ngài sinh năm 1195 có lẽ gần Lisbonne, với tên gọi là Fernandô. Cha Ngài là hiệp sĩ và viên chức tại triều đình hoàng đế Alphongsô thứ II, vua nước Bồ Đào Nha. Fernadô được gởi đi học trường nhà thờ chánh tòa tại Lisbonne. Nhưng vào tuổi 15, Ngài gia nhập dòng thánh Augustinô.

Sau hai năm tại nhà dòng, Ngài xin được chuyển về Coimbra vì bạn bè đến thăm quá đông. Tu viện Coimna có một trường dạy Thánh kinh rất danh tiếng. Tám năm trời Fernadô nỗ lực học hỏi và đã trở thành học giả sâu sắc về thần học và kinh thánh.

  1. Biến cố thay đổi

Ngày kia với nhiệm vụ tiếp khách, Ngài săn sóc cho 5 tu sĩ Phanxicô đang trên đường tới Morocco. Về sau họ bị tàn sát dã man và thi hài họ được đưa về Coimbra để tổ chức quốc táng. Fernadô mong ước hiến đời mình cho cánh đồng truyền giáo xa xăm. Nôn nóng với ước vọng mới, Fernadô phải tiến một bước bất thường đầy đau khổ là rời bỏ dòng Augustinô để nhập dòng Phanxicô. Nhà dòng đặt tên Ngài là Antôn và chấp thuận cho Ngài tới Moroccô. Nhưng vinh dự tử đạo không được dành riêng cho Ngài. Ngài ngã bệnh và phải trở về nhà, Trên đường về, con tàu bị bão thổi bạt tới Messina ở Sicyly. Thế là An tôn nhập đoàn với anh em Phanxicô nước Ý. Có lẽ thánh nhân có mặt trong cuộc họp ở Assisi. Năm 1221, và gặp thánh Phanxicô ở đây. Ít lâu sau Ngài được gởi tới viện tế bần ở Forli gần Emilia để làm những công việc hèn hạ.

  1. Biến cố tiếp theo

Dầu vậy một biến cố bất ngờ khiến người ta khám phá ra khả năng đặc biệt của thánh nhân. Trong một lễ nghi phong chức ở Forli nhà giảng thuyết đặc biệt vắng mặt. Không ai dám thay thế. Cha giám tỉnh truyền cho An tôn lên tòa giảng. Antôn làm cho khán giả kinh ngạc. Người ta thấy ngay trước được rằng: Ngài là một nhà giảng thuyết bậc nhất. Hậu quả tức thời Ngài được chỉ định làm nhà giảng thuyết trong cả Atalia. Đây là một thời mà Giáo hội cần đến những nhà giảng thuyết hơn bao giờ hết để chống lại các lạc thuyết. Kể từ đó nhà tế bần Forli không còn gặp lại Antôn nữa. Ngài du hành không ngừng bước từ miền nam nước Ý tới miên Bắc nước Pháp, hiến trọn thời gian và năng lực cho việc giảng dạy. Sự đáp ứng của dân chúng đã khích lệ Ngài nhiều, các nhà thờ không đủ chỗ cho người đến nghe. Người ta phải làm bục cho Ngài đứng ngòai cửa. Nhưng rồi đường phố và quảng trường đã lại chật hẹp quá và người ta lại phải mang bục ra khỏi thành phố tới những cánh đồng hay sườn đồi, nơi có thể dung nạp những 20, 30, 40 ngàn người đến nghe Ngài. Nghe tin Ngài đến đâu, thì nơi đó tiệm buôn đóng cửa, chợ hoãn phiên họp, tòa ngưng xử án. Suốt đêm dân chúng từ khắp hướng đốt đuốc tụ về. Dường như bất cứ ai một lần chịu ảnh hưởng của thánh Antôn thì không có gì chống lại được sự lôi cuốn bởi các bài giảng của Ngài.

Ngài thường mạnh mẽ chống lại sự yếu đuối của hàng tu sĩ qua những tội nổi bật trong xã hội đường thời như: tính tham lam, nếp sống xa hoa, sự độc đoán của họ. Đây là một giai thoại điển hình: khi Ngài được mời để giảng ở hội đồng họp tại Bourges, dưới sự chủ tọa của tổng giám mục Simon de Sully. Với những lời mở đầu “Tibi loquor cornute” (Tôi xin thưa cùng Ngài đang mang mũ giám mục trên đầu), thánh nhân tố giác vị giám mục mới tới, làm mọi thính giả phải kinh ngạc.

Cũng tại Bourges, nên ghi lại một phép lạ lừng danh về một con lừa thờ lạy bí tích cực trọng. Với một người Do thái không tin phép Bí tích Mình Thánh. Thánh nhân nói:

– Nếu con lừa ông cưỡi mà quỳ xuống và thờ lạy Chúa ẩn mình dưới hình bánh thì ông có tin không?

Người Do thái nhận lời thách thức.  Hai ngày ông ta không cho lừa ăn rồi dẫn tới chỗ họp chợ, giữa một bên là lúa mạch và bên kia thánh Antôn kiệu Mình Thánh Chúa đi qua, con vật quên đói quay sang thờ lạy Chúa.

Mùa chay cuối cùng thánh Antôn giảng ở Padua.  Và người ta còn nhớ mãi sự nhiệt tình mà thánh nhân đã khơi dậy.  Dân địa phương đã không thể nào tìm ra thức ăn lẫn chỗ ở cho đoàn người đông đảo kéo tới.  Nhưng sau mùa chay này, thánh nhân đã kiệt sức.  Ngài xin các bạn đồng hành đưa về nhà thờ Đức Maria ở Padua để khỏi làm phiền cho chủ nhà trọ.  Không nói được nữa.  Ngài dừng chân ở nhà dòng Đức Mẹ người nghèo ở Arcella.  Tại đây, người ta đặt Ngài ngồi dậy và giúp Ngài thở.  Ngài bắt đầu hát thánh thi Tạ ơn và qua đời giữa tiếng ca ngày 13 tháng 6 năm 1231 khi mới 36 tuổi.  Ngài được phong thánh một năm sau, ngày 30-5-1232.  Năm 1946, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.

Năm 1263, trong ngày lễ thánh nhân, hài cốt Thánh Antôn được đưa từ tu viện đến nhà thờ mới, dưới sự điều khiển của thánh Bonaventura.  Khi khai quật phần mộ, da thịt ngài đã tiêu tan hết, đặc biệt lưỡi thì còn y nguyên. Thánh Bonaventura hôn kính “lưỡi đáng kính trọng” ấy, rồi thốt lên: “Bởi lưỡi thánh này đã ngợi khen Thiên Chúa và khuyên dụ nhiều người ngợi khen Thiên Chúa, nên Ngài đã gìn giữ lưỡi này còn nguyên vẹn cho đến bây giờ.” Lưỡi ấy được đặt vào một bình bạc để trên cao cho mọi người tôn kính.  Từ đó, khách hành hương từ khắp nơi đến viếng nhà thờ và mộ thánh để cầu nguyện và xin ơn.  Thánh Antôn hằng ban ơn giáng phúc, chẳng những về thể xác mà nhất là về phần linh hồn.  Chính thánh Bonaventura đã chứng kiến và ca ngợi rằng: “Ai muốn nhờ phép lạ thì phải chạy đến cùng Thánh Antôn.  Người cứu chữa lúc gian nan, giúp đỡ khi túng cực.  Hãy hỏi dân thành Pađua, hãy hỏi các khách hành hương, họ sẽ nói lên sự thật ấy.” 

 Người ta thường vẽ Thánh Antôn bế Hài Nhi Giêsu vì Ðức Giêsu đã hiện ra với ngài.  Thánh Antôn là người hiểu biết thâm sâu, nhất là về Kinh Thánh, do đó Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên xưng ngài là “Tiến Sĩ Tin Mừng” hay Tiến Sĩ Kinh Thánh.

Thánh Antôn Padua đã hiến trọn thời gian và năng lực cho việc giảng dạy về tình yêu Chúa.  Ước gì mỗi chúng ta cũng biết noi gương thánh nhân, can đảm hiến thân cho tha nhân, cho Tin Mừng nước Cha.

Tổng hợp

Xin xem thêm sách Thánh Antôn Padua

http://suyniemhangngay.net/ 2016/09/04/thanh-anton-padua/

From: Langthangchieutim