Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ của thời đại?

httpv://www.youtube.com/watch?v=ofFy-J0Xu9o

Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ của thời đại?

Dù trong hoàn cảnh thuận lợi hoặc khó khăn, khỏe mạnh hay dịch bệnh, Giáo Hội, Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi mỗi người nhạy bén nhận ra dấu chỉ thời đại. Nó đang diễn ra trước mắt chúng ta. Ước gì mỗi người lắng nghe được tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang lớn tiếng trong cơn dịch này.

TÌNH YÊU, LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ ÂN SỦNG

TÌNH YÊU, LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ ÂN SỦNG

 Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

 Chúng ta mong đợi điều gì khi chúng ta quay trở về với Chúa trong Mùa Chay này?

 Hãy nghĩ xem thiên đàng khác với trái đất (trần gian) như thế nào.  Trên trần gian, tội lỗi tiếp tục làm tổn thương con người mỗi ngày.  Trên thiên đàng, không chỉ không có tội lỗi, mà còn không có cám dỗ.  Trên trái đất, các gia đình, các khu phố và thậm chí toàn bộ các quốc gia chia rẽ nhau, thường là vì những vấn đề rất nhỏ.

 Trên thiên đàng, có sự hài hòa và nền hòa bình hoàn hảo.  Trên trái đất, có bệnh tật và đau khổ.  Trên thiên đàng, mọi giọt nước mắt đã được lau khô và tất cả các rối loạn về thể chất và tinh thần đều được chữa lành.  Trên trần gian, hàng triệu người phải chịu đựng những hậu quả của nghèo đói.  Trên thiên đàng, mọi người đều được chăm sóc như nhau và rất tế nhị, ân cần.

 Thiên đàng nghe quá hấp dẫn, phải không?  Không có gì lạ khi Kinh Thánh kết thúc với lời cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!” (Kh 22,20)!  Không có gì ngạc nhiên khi tất cả chúng ta khao khát một ngày khi tội lỗi không còn nữa, và khi chúng ta được đưa vào trong sự hoàn hảo của vương quốc thiên đàng của Chúa Giêsu!  Chúng ta biết ngày đó đang đến, nhưng cho đến khi nó xảy ra, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đặt hy vọng vào Người.  Chúa không muốn chúng ta nản lòng trước tình trạng của thế giới hay tình trạng của chính cuộc sống của chúng ta.  Người muốn giúp chúng ta, chữa lành chúng ta và cứu chuộc chúng ta để chúng ta có thể đến gần hơn với sự hài hòa hoàn hảo của thiên đàng ở đây trên trần gian.  Và vì thế Chúa mời gọi mỗi chúng ta: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta” (Ge 2,12).  Lời kêu gọi trở về với Chúa này nghe có vẻ đáng sợ, đặc biệt là trong một mùa như Mùa Chay, với sự nhấn mạnh vào sự ăn năn và sự từ bỏ mình (sự hy sinh).  Do vậy, chúng ta hãy nhìn vào ba sự thật trung tâm về đức tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta dễ dàng đến gần với Chúa hơn trong Mùa Chay này.

 Hãy Hướng Về Thiên Chúa Đấng Là Tình Yêu.  Thiên Chúa đã từng nói với dân của Người rằng: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?  Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15).  Chúa đã từng nói với ông Giôsua: “Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi” (Gs 1,5).  Và Chúa Giêsu tiếp tục nói với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em cho đến ngày tận thế” (Mt 28,20).

 Đời này đến đời kia, Thiên Chúa bảo đảm với dân của Người rằng Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi họ.  Và Chúa làm điều này không chỉ bằng lời nói.  Tất cả mọi hành động của Chúa đều cho chúng ta thấy một chiều kích khác về việc Chúa yêu chúng ta sâu sắc như thế nào.  Chúa đã cho thấy điều đó khi giải cứu dân Israel khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập.  Chúa đã cho thấy điều đó khi Chúa gọi Đavít để lôi kéo dân Chúa vào một vương quốc.  Chúa đã cho thấy điều đó khi Chúa hứa sẽ đưa dân Israel trở về sau thời lưu đày ở Babylon.  Và hơn bất cứ nơi nào khác, Thiên Chúa đã cho thấy điều đó khi sai Con Một của mình đến để mặc lấy thân phận người phàm và hiến mạng sống mình trên thập giá vì chúng ta.

 Chúng ta có thể kiểm tra những lời nói và hành động của Thiên Chúa để thấy tình yêu của Người, nhưng trong phân tích cuối cùng, cho thấy rằng chỉ bằng niềm tin chúng ta có thể bắt đầu trải nghiệm tình yêu đó.  Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1).  Khi chúng ta thực hành đức tin của mình, tất cả những gì chúng ta hy vọng vào Chúa Kitô có thể trở thành hiện thực đối với chúng ta, mặc dù chúng ta không thể thực sự nhìn thấy nó.  Mỗi khi chúng ta cầu nguyện, mỗi khi chúng ta cử hành (lãnh) các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể nói: “Lạy Chúa Giêsu, con biết Chúa đang ở cùng con.  Con tin vào Chúa; xin hãy cho con thấy tình yêu của Chúa.”  Đây là một lời cầu nguyện mà Chúa thích trả lời và đôi khi theo những cách đáng ngạc nhiên!

 Hãy Hướng về Thiên Chúa Đấng Thương Xót.  Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Gioan Tẩy Giả nói rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).  Chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta.  Chúng ta công bố sự thật này vào mỗi Chúa nhật qua Kinh Tin Kính trong Thánh lễ.  Nhưng đâu là trải nghiệm sự tự do đến từ hành động của lòng thương xót của Chúa Giêsu?

 Một ngày nọ, một giáo viên môn tôn giáo đã yêu cầu một trong những sinh viên của mình lên bảng và bắt đầu viết ra những tội lỗi phổ biến nhất.  Học sinh bắt đầu viết những từ như nói dối, giận dữ, ăn cắp, ghen tuông và ham muốn.  Khi anh ta viết từng tội lỗi, giáo viên ở ngay sau anh ta với một khăn lau bảng, xóa sạch các từ.  Thầy giáo nói với các sinh viên rằng: “Đây là cách Thiên Chúa nhanh chóng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta cầu xin.  Khi Thiên Chúa tha thứ cho bạn, tội lỗi của bạn sẽ biến mất, được xóa sạch.  Tất cả những gì còn lại là tình yêu của Chúa dành cho bạn.”

 Khi chúng ta đi xưng tội, chúng ta có thể trải nghiệm điều gì đó giống như sinh viên đó đã trải nghiệm trong lớp học môn tôn giáo của mình.  Không phải lúc nào cũng dễ dàng thú nhận tội lỗi của chúng ta, đặc biệt là vì nó có nghĩa là công khai thú nhận những thất bại của chúng ta với một linh mục.  Nhưng khi chúng ta lên tiếng xưng thú tội lỗi của mình và sau đó nghe những lời tha tội, Chúa Thánh Thần đến và trút bỏ gánh nặng tội lỗi khỏi chúng ta, ngay khi giáo viên đó xóa bỏ những từ trên bảng.  Những tội lỗi đã biến mất và thay vào vị trí của chúng là sự thương xót của Đấng đã nói: “Ta cũng không lên án con đâu” (Ga 8,11).

 Hãy quay về với Thiên Chúa Đấng Chan Chứa Ân Sủng.  Con người chúng ta đầy những mâu thuẫn.  Chúng ta muốn trở nên tốt, tử tế và yêu thương, nhưng tất cả rất thường xuyên cuối cùng chúng ta đưa ra những lựa chọn làm tổn thương mọi người, đặc biệt là những người gần gũi nhất với chúng ta.  Chúng ta muốn ở gần với Thiên Chúa, nhưng nó có thể rất dễ rơi vào sự bất tuân.  Chúng ta không muốn phạm phải bất kỳ tội lỗi nào, nhưng chúng ta thường thấy mình làm điều mà chúng ta không muốn làm.

 Thánh Phaolô đã nhìn thấy trận chiến này trong tâm trí của chính mình.  Thánh nhân thực sự yêu mến Chúa Giêsu và chân thành muốn phục vụ Giáo Hội bằng cả cuộc đời.  Nhưng đối với tất cả những lời rao giảng về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, Thánh Phaolô đôi khi có thể là một lực lượng của sự chia rẽ và thù địch.  Phaolô đã tranh luận với tông đồ của mình là Banaba về một quyết định truyền giáo, tranh luận rất nhiều đến nỗi hai người chia tay nhau trong giận dữ (x. Cv 15,36-40). Phaolô đã chọn cách nói chuyện với Thánh Phêrô trước mặt các tín hữu ở Antiôkia, thay vì kéo Phêrô sang một bên và nói chuyện riêng với ngài (x. Gl 2,11-14).  Phaolô thậm chí còn đi xa đến mức mong muốn một hình thức báo thù đặc biệt về kẻ thù của mình (x. Gl 5,11-12).

 Nhưng Phaolô đã nhận thức đầy đủ về những điểm yếu và những thất bại của mình.  Phaolô đã từng kêu lên rằng: “Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (Rm 7,24).  Và ngay lập tức, ngài vui mừng trong câu trả lời: “Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,25).

 Bí mật của Phaolô là gì?  Thông qua kinh nghiệm của chính mình về lòng thương xót của Thiên Chúa, ngài đã học được rằng: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).  Thánh nhân biết rằng cho dù ngài có phạm bao nhiêu tội lỗi, thì ân sủng dồi dào của Thiên Chúa sẽ luôn vượt trội hơn những tội lỗi ấy.  Ngài biết rằng ân sủng chan chứa của Thiên Chúa đủ sức mạnh để biến đổi cả tâm hồn ương bướng của mình, vì vậy ngài luôn có niềm hy vọng.  Phaolô tiếp tục xác tín lời hứa: “Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người (Chúa Kitô)” (2 Tm 2,12).  Ân sủng của Chúa Giêsu sẽ không bao giờ làm ngài thất vọng.

 Hãy tin rằng sức mạnh cứu độ của Chúa Giêsu lớn hơn sức mạnh của những thói quen tội lỗi của bạn.  Hãy tin rằng ân sủng của Thiên Chúa luôn sẵn sàng giúp bạn thay đổi.  Hãy nhớ rằng, bạn có thể thấy mình là một tội nhân khủng khiếp.  Nhưng đó không phải là cách mà Chúa nhìn thấy bạn.  Chúa xem bạn như đứa con yêu dấu của Chúa và Chúa muốn giúp bạn trở nên giống Chúa hơn mỗi ngày.

 Một Lời Mời Độ Lượng.  Tình Yêu.  Lòng Thương Xót.  Ân Sủng.  Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta quay về với Chúa trong bốn mươi ngày tới để Chúa có thể ban những món quà này cho chúng ta.  Chúa hứa rằng nếu chúng ta nhận lấy lời mời của Chúa mỗi ngày khi cầu nguyện, đức tin của chúng ta sẽ lớn lên và cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi.  Chúng ta sẽ tìm thấy một sức mạnh nội tâm từ Chúa Thánh Thần để giúp chúng ta vượt qua cám dỗ và tội lỗi.

 Lời mời này có hai mặt.  Về phần Thiên Chúa, Chúa sẽ làm sâu sắc kinh nghiệm và niềm tin của chúng ta vào tình yêu, lòng thương xót và ân sủng của Chúa.  Bởi vì Chúa quan tâm đến chúng ta, Chúa sẽ đánh động lương tâm của chúng ta khi chúng ta đối diện với cám dỗ.  Và Chúa sẽ giúp chúng ta trở nên tử tế, kiên nhẫn và yêu thương hơn.  Do đó, chúng ta hãy cố gắng sẵn sàng với Thánh Thần của Chúa trong ngày sống.  Hãy tìm những cách mà Thánh Thần đang thúc đẩy bạn và thúc giục bạn ở gần Chúa.

 Về phần mình, chúng ta cần dành thời gian cho việc cầu nguyện, sao cho nó thành chương trình trong giờ cầu nguyện hàng ngày, ngay cả khi đó chỉ là mười hoặc mười lăm phút mỗi ngày – nhờ đó chúng ta có thể chạm vào ân sủng của Chúa.  Sau đó, trong suốt ngày sống, chúng ta cần cố gắng hết sức để nói không với cám dỗ và thưa vâng với các mệnh lệnh của Thiên Chúa và lời hứa của Chúa để trợ giúp chúng ta.  Như thánh Phaolô đã viết, chúng ta phải cố gắng “cởi bỏ con người cũ” với lối sống xưa kia của chúng ta và “mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22.24).

 Có thể khó thay đổi cuộc sống của chúng ta.  Nhưng chúng ta không đơn độc.  Với sự trợ giúp đỡ tràn đầy ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta có thể tiến bộ trong Mùa Chay.

 Điều đó có thể mất thời gian.  Bạn có thể không luôn luôn thành công.  Nhưng khi thời điểm Phục Sinh đến, bạn có thể chắc chắn bạn sẽ thấy một số thay đổi tích cực, đáng khích lệ trong cuộc sống của bạn.  Có lẽ bạn sẽ có nhiều khát vọng cầu nguyện hoặc đi Lễ.  Bạn có thể tiếp cận một tình huống căng thẳng hoặc khó khăn với sự bình an hơn.  Hoặc có thể Chúa sẽ làm mềm lòng bạn để bạn sẵn sàng và có thể tha thứ.

 Vì thế, chúng ta hãy quyết định phải hết lòng trở về với Chúa trong Mùa Chay này.  Chúng ta hãy cầu xin Chúa đến và lấp đầy chúng ta bằng tình yêu, lòng thương xót và ân sủng của Chúa.  Chúng ta hãy làm những gì chúng ta có thể để mở cánh cửa trái tim của chúng ta và thưa lên rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con sẽ tiếp đón Chúa”.

 Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Theo The Word Among UsLent 2019 Issue

 From: Langthangchieutim

TRĂM LỐI ĐI CHỈ MONG MỘT ĐƯỜNG VỀ!

TRĂM LỐI ĐI CHỈ MONG MỘT ĐƯỜNG VỀ!

 Anthony Vũ Ga, fmsr

Đời là một cuộc ra đi không ngừng.  Sinh ra là giã từ cái ấm êm của lòng mẹ để đi vào thế giới xa lạ.  Lớn lên là từ bỏ tuổi thơ đầy mơ mộng để đi vào cuộc đời với biết bao bấp bênh và thử thách.  Cuộc đời có bao giờ là một dòng sông êm ả, vì không ngừng phải trải qua biết bao đổi thay.

Ra đi bước vào cuộc đời với trăm ngàn lối đi mới, những lối đi mời mọc con người không ngừng vươn xa, đi mãi tới chân trời mới, để rồi lúc nào đó làm cho chính con người không biết mình đi đâu về đâu.  Bởi trên muôn vàn lối đi ấy có biết bao thử thách mời gọi: danh, lợi, thú, ba ham muốn chi phối toàn bộ đời sống con người.  Đó cũng chính là ba nguyên nhân gây nên biết bao khổ đau cho nhân thế.  Kẻ được người thua cũng đều có thể phải đau khổ vì nó, đều cảm nghiệm rằng những bất hạnh mà mình đang phải gánh chịu đều vì tiền, lạc thú, và quyền lực.  Ở nơi này nơi kia trong xã hội đang xảy ra những bất hoà, tranh chấp, có khi giết hại lẫn nhau và làm khổ cuộc đời nhau cũng chỉ vì tiền, vì tình và vì quyền.  Ngay trong gia đình, con cái bỏ cha mẹ, cha mẹ từ chối con cái, vợ chồng ruồng bỏ kết án nhau, anh em bạn hữu bất hoà với nhau cũng không thoát khỏi cái nghiệp chướng này.  Vì nó mà người ta chà đạp lên nhau, người ta làm khổ và làm hại lẫn nhau.

Trước muôn vàn lối đi mà con người đang lựa chọn cho chính mình, trong một khía cạnh nào đó cần có một cái mốc, cần có một sự hướng dẫn: một lối về cho những ai lầm đường lạc bước mất định hướng để nhận ra đường về.  Thiết lập Mùa Chay, Giáo Hội muốn chỉ cho nhân loại một lối về, một bảng chỉ đường chính xác nhất là kinh nghiệm sa mạc của Chúa Giêsu.  Giáo Hội mời gọi ta vượt qua sa mạc của những thử thách ấy một cách can đảm và dứt khoát.  Dứt khoát với nếp sống cũ khiến ta lê lết trong ích kỷ nhỏ nhoi.  Cùng với Chúa Giêsu, Giáo Hội mời gọi chúng ta phó thác tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa.  Hãy trở về như người con Thứ trong dụ ngôn người con hoang đàng (Lc15).  Nó đã dùng tự do để quyết định ra đi, và người cha tôn trọng quyết định đó.  Tuy nhiên, ông vẫn ngóng chờ con.  Tình thương trào dâng khiến bước chân cha vội vã.  Vòng tay cha lớn quá, nụ hôn cha nồng nàn.  Sám hối là trở về với tình cha, trở lại với tình yêu, sự sống.  Nhưng trở về chẳng phải là chuyện dễ dàng.  Chẳng ai muốn nhận là mình đã đi lầm đường.  Trở về với Chúa!  Đôi khi qùy trước mặt Chúa, ta chẳng biết nói gì, thưa gì với Chúa.  Cầu nguyện không phải là mình nói thật nhiều với Chúa, hay là tìm những lời thật hay để nói với Chúa, nhưng điều quan yếu là biết dành một thời gian cho Chúa.  Điều quan trọng không phải là cầu nguyện như thế nào, hay bao nhiêu lần mà là tấm lòng chúng ta dành cho Chúa như thế nào?  Cầu nguyện vì lòng yêu mến Chúa hay chỉ là thói quen, qua lần chiếu lượt cho xong.

Có trăm ngàn lối đi xin kéo con một lối về là trở về với Cha mỗi ngày, và giúp con điều chỉnh những đam mê lệch lạc.  Xin nâng con đứng lên trong niềm vui vì tin rằng tình Cha lớn hơn tội con gấp bội.  Ước gì những vấp ngã sẽ khiến con lớn lên, thấy mình mong manh, thấy Cha rộng lượng.  Ước gì ta sống Mùa Chay với tấm lòng chân thành ước muốn sửa đổi bản thân.  Từ bỏ thì đớn đau nhưng hạnh phúc thật tuyệt vời.  Hạnh phúc lớn nhất không phải là tài sản vật chất, mà là khám phá ra mình có chỗ trong trái tim Cha nhân lành.  Hãy hi vọng đi, chỉ cần biết trên đoạn đường dương thế vẫn còn có Cha bên cạnh nhất định ta sẽ vượt qua.

M.Anthony Vũ Ga, fmsr

Đức tin Công Giáo giúp gì giữa cơn dịch Corona?

httpv://www.youtube.com/watch?v=fa9d8om2h9w

Đức tin Công Giáo giúp gì giữa cơn dịch Corona?

Với đức tin, chúng ta thấy tương lai tươi sáng hơn. Nơi đó, Thiên Chúa vẫn đang hoạt động để cùng với các nhà khoa học tìm ra phương thuốc. Nơi đó, Chúa vẫn thôi thúc các nhà chức trách phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với dân. Nơi đó, Chúa mời gọi tôi trở về để: “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cor 13,7). Hóa ra giữa cơn dịch này, các tín hữu phải nên nguồn động viên tinh thần lớn lao. Chúng ta có Thiên Chúa, Đấng an bài mọi sự. Chúng ta có đức tin, là món quà để giúp người ta vượt qua mọi bão táp phong ba. Giả như mỗi người gieo một chút đức tin cho mình, cho người thân, xã hội (cả trên Internet), khi ấy, chắc là ai cũng được an bình trước bức tranh ảm đạm này.

KÍN ĐÁO ĂN CHAY VÀ CẦU NGUYỆN

  
KÍN ĐÁO ĂN CHAY VÀ CẦU NGUYỆN

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Triết gia David Hume từng phân biệt giữa cái ông gọi là đức hạnh chân thật, và cái ông đặt tên là đức hạnh giống tu sĩ.  Ông nói, đức hạnh chân thật là những phẩm chất bên trong chúng ta mà có ích cho người khác và bản thân chúng ta.  Còn các đức hạnh giống tu sĩ là những phẩm chất không nâng cao đời sống con người, đối với xã hội cũng như bản thân người thực hành những phẩm chất đó.  Ông liệt kê các đức hạnh giống tu sĩ như việc sống độc thân, ăn chay, sám hối, hành xác, tiết dục, nhún nhường, thinh lặng và cô tịch.  Ông chứng minh những điều đó chẳng đóng góp gì cho xã hội và thậm chí còn làm giảm đi sự tốt lành thịnh vượng của con người.  Do vậy, ông quả quyết rằng những điều đó bị chối bỏ bởi “những người hiểu biết.”  Điều này xem ra khó nghe đối với người có đạo.

Nhưng những gì tiếp theo đó còn khó nghe hơn.  Những người thực hành những đức hạnh giống tu sĩ phải trả một giá đắt, ông nói, sức khỏe của họ không tốt và họ bị loại ra khỏi cộng đồng con người: con người nhiệt tình nông nổi và ảm đạm đó, sau khi chết, có thể có tên ghi trong cuốn lịch, nhưng khi còn sống thì khó có thể được ai chấp nhận vào vòng thân thuộc và vào xã hội, trừ những người cũng mê sảng và chán ngắt như vậy.

Mặc dù điều này nghe tàn nhẫn, nhưng nó mang một lời cảnh cáo lành mạnh, nhắc lại rõ ràng điều Chúa Giê-su đã nói khi người cảnh cáo chúng ta phải kín đáo ăn chay, cầu nguyện, đừng có mang bộ mặt ảm đạm tu hành khổ hạnh, bảo đảm rằng lòng mộ đạo của chúng ta không quá lộ liễu trước đám đông.  Nếu Chúa Giê-su có nói rõ ràng về điều gì, thì đây chính là điều người đã nói rõ.

Tại sao?  Tại sao chúng ta phải tránh mọi việc phô diễn trước đám đông về việc ăn chay, tu hành khổ hạnh, và cầu nguyện riêng tư của chúng ta?

Một phần cảnh cáo của Chúa Giê-su là chống thói đạo đức giả và giả dối, nhưng còn hơn vậy nữa.  Vấn đề là việc bên ngoài chúng ta trông như thế nào và chúng ta được cảm nhận ra sao.  Khi chúng ta bộc lộ sự khổ hạnh và mộ đạo trước đám đông, dù có chân thành đi nữa, thì điều chúng ta muốn toát ra và điều người khác cảm nhận về chúng ta (mà không chỉ là những David Humes của thế giới này) là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.  Chúng ta có thể bày tỏ đức tin vào Chúa và sự trung tín đối với những gì vượt xa hơn kiếp sống này, nhưng những người khác dễ dàng diễn giải quan điểm và hành động của chúng ta như một tình trạng yếu đuối, u sầu, phiền muộn, khinh khi những chuyện thông thường, và là một sự bù đắp chẳng-đáng-kể-gì cho việc phải mất đi sức sống.

Và đó chính xác là điều ngược lại với những gì chúng ta cần tỏ ra.  Tất cả các đức hạnh giống tu sĩ (mà chúng là những đức hạnh thật sự) nhằm làm cho tâm hồn chúng ta mở ra để tiếp cận thân mật sâu sắc hơn với Chúa và vì vậy, nếu lời cầu nguyện và tu hành khổ hạnh là lành mạnh, thì những gì chúng ta sẽ tỏ ra chính là an mạnh, vui vẻ, thương yêu thế giới này, và cảm nhận những niềm vui bình thường của cuộc sống là phước lành Chúa ban.

Nhưng không dễ gì làm được điều đó.  Chúng ta không toát ra được đức tin của mình nơi Chúa và toát ra là đang an mạnh bằng cách chấp nhận một cách không suy xét hay hô hào cổ vũ mọi nỗ lực để vui vẻ của thế giới này, cũng không phải bằng cách gượng cười giả tạo trong khi sâu thẳm bên trong chúng ta đang khó lòng kiểm soát được trầm uất.  Chúng ta toát ra đức tin nơi Chúa và an mạnh qua việc toát ra tình thương, bình an và thanh thản.  Và chúng ta không thể làm điều đó nếu toát ra sự khinh khi đối với cuộc sống hay đối với cái cách những con người bình thường kiếm tìm hạnh phúc trong cuộc sống này.

Và đó là một thách thức khó khăn, đặc biệt ở thời buổi này.  Trong một nền văn hóa như nền văn hóa này, chúng ta dễ dàng nuông chiều bản thân mình, thếu hiểu biết sâu sắc về sự hy sinh, đắm chìm trong đời sống và bản thân đến mức đánh mất tất cả ý thức về cầu nguyện, và sống không hề tiết dục chút nào, đặc biệt về mặt tình cảm.  Bên cạnh những chuyện khác, chúng ta còn thấy điều đó trong căn bệnh bận rộn của mình, trong tình trạng mất khả năng duy trì đời sống cầu nguyện riêng tư, ngày càng mất đi năng lực trung tín với những gì mình cam kết, và với những nỗ lực gắng gỗ chống lại mọi thể loại nghiện ngập: thức ăn, rượu chè, tình dục, thú vui giải trí, công nghệ thông tin.  Khiêu dâm trên internet đã là bệnh nghiện lớn nhất của toàn thế giới.  Cầu nguyện và ăn chay (ít nhất trong tình cảm) đang thiếu hụt.  Những đức hạnh giống tu sĩ giờ đây đang cần có hơn bao giờ hết.

Nhưng chúng ta phải thực hành các đức hạnh đó mà không phô diễn trước đông người, không khinh khi tính chất tốt lành vốn được Chúa ban cho trong mọi thứ của thế giới này, không ám chỉ rằng sự thánh thiện riêng tư là quan trọng đối với chúng ta và với Chúa hơn những điều tốt lành thông thường của thế gian này, và không ngụ ý rằng Chúa không muốn chúng ta vui vẻ với tạo vật của người.  Thực hành khổ hạnh và cầu nguyện của chúng ta phải thực chất, nhưng chúng phải toát ra sự an mạnh, chứ không phải là sự bù đắp cho việc không an mạnh.

Và như vậy, một sự an mạnh chứng tỏ sự tốt lành của Chúa, chính xác là điều tôi thấy ở những ai thực hành các đức hạnh giống tu sĩ theo cách lành mạnh.  Cầu nguyện và ăn chay, nếu làm đúng đắn, sẽ toát lên sự an mạnh, không phải là khinh khi. Nếu David Hume đã chứng kiến sự an mạnh và tình thương yêu của Chúa Giê-su trong việc cầu nguyện và thực hành khổ hạnh của ông thì hẳn là, tôi nghĩ, ông đã viết khác đi về đức hạnh giống tu sĩ.

Vì vậy chúng ta cần xem xét nghiêm túc hơn lời dạy của Chúa Giê-su rằng việc thực hành khổ hạnh và cầu nguyện riêng tư phải được làm “trong kín đáo”, đằng sau cánh cửa đóng kín, để vẻ mặt chúng ta bộc lộ ra trước đông người toát lên an mạnh, vui vẻ, thanh thản và thương yêu những điều tốt lành Chúa đã tạo ra, người mà cầu nguyện và thực hành khổ hạnh đã đưa chúng ta đến gần hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

NÚI TABOR HÔM NAY

NÚI TABOR HÔM NAY

 ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt

Chúa Giêsu dẫn các môn đệ đi Giêrusalem. Trên đường, Chúa lên một ngọn núi để cầu nguyện. Có lẽ đó là núi Tabor ở Galilê. Có ba môn đệ thân tín theo Chúa. Chúa đã hiển dung trước mặt các ông.

Trước núi Tabor, Chúa Giêsu đã từng lên hai ngọn núi khác. Trước hết là Chúa giảng Hiến Chương Nước Trời trên núi quen gọi là núi Bát Phúc. Sau khi cho hoá bánh ra nhiều nuôi dân, họ muốn tôn Chúa làm vua, Chúa đã lên núi cầu nguyện một mình. Sau núi Tabor, Chúa cũng lên hai ngọn núi khác: núi Sọ là nơi Chúa chịu chết trên thập giá và núi Ôliu là nơi Chúa từ biệt các môn đệ mà lên trời. Có thể nói núi Tabor đã được chuẩn bị bằng hai ngọn núi trước và chuẩn bị cho hai ngọn núi sau. Hiển Dung là cao điểm của cuộc đời rao giảng và là khởi điểm của cuộc Vượt Qua.

Người xưa tin rằng Thiên Chúa ở trên trời; núi cao, nên gần trời; vì thế người ta lên núi sẽ dễ gặp Chúa hơn. Tổ phụ Abraham lên núi hiến tế Isaac. Ông Môsê lên núi nhận bia giao ước. Ngôn sứ Êlia lên núi gặp Thiên Chúa.  Thực tế là lên núi dễ gặp Chúa hơn thật:

– Thanh vắng, yên tĩnh, xa gia đình, bạn bè, phố chợ;

– Trên cao, thấy rõ công trình của Thiên Chúa trong thiên nhiên hùng vĩ hơn: mặt trời, bầu trời, trăng sao, núi sông, bình minh, hoàng hôn…

– Trên cao, thấy công trình của con người nhỏ bé hơn, vì thế dễ từ bỏ hơn.

Lên núi là điều không dễ, nhưng đem lại cho chúng ta những niềm vui mà chỉ những ai lên núi mới cảm nghiệm được. Hôm nay Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta lên núi để chiêm ngắm Chúa hiển dung: ngay bên cạnh chúng ta, Chúa vẫn đang yêu thương người đau khổ, tha thứ cho kẻ tội lỗi, hy sinh cho người mình yêu.  Đồng thời Chúa cũng mời gọi chúng ta trở nên núi Tabor mới để Chúa hiển dung. Thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu mặc lấy Đức Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.  Trong cuộc Vượt Qua, khuôn mặt thể lý của Chúa không còn hình dạng con người, nhưng khuôn mặt của Thiên Chúa tình yêu lại chói sáng trước mắt mọi người trong mọi thời đại.

Một thường dân Nhật Bản được Nhật Hoàng mời vào hoàng cung dùng cơm chung vì đã lấy máu mình vẽ chân dung Nhật Hoàng. Chúa Giêsu lấy máu mình để vẽ chân dung Thiên Chúa và được hưởng vinh quang Phục Sinh. Xin Chúa giúp chúng ta dùng cuộc sống của mình để vẽ chân dung Chúa trong thế giới hôm nay.

 ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt