CHÚA CÓ TÁC ĐỘNG QUA THÁNH LỄ ONLINE KHÔNG?

CHÚA CÓ TÁC ĐỘNG QUA THÁNH LỄ ONLINE KHÔNG?

Một số ít người không tin vào thánh Lễ online.  Nhất là khi thánh Lễ trực tuyến đã kết thúc, sau ấy vài tiếng Bạn mới “xem lại online” thì sao?  Để trả lời cho thắc mắc trên, xin kể cho quý ông bà anh chị em nghe câu chuyện sau đây về cha Tardif.

[Cha Emiliano Tardif MSC (1929-1999) được Chúa ban ơn chữa lành bệnh tật qua thánh Lễ.  Ngài luôn rao giảng: Chúa GIÊSU đang sống và dẫn chứng bằng những dấu chỉ chữa lành các bệnh nhân, giống như Giesu đã từng chữa các người bệnh cách đây 2000 năm.  Bởi thế cha đi đến đâu nhà thờ cũng chật ních người.  Vì số giáo dân và cả người không Công giáo tham dự quá đông, có lần cha phải tổ chức thánh Lễ chữa lành ở một sân vận động lớn, có sức chứa tới 100.000 người.]

Mùa hè 1982 đài truyền hình CHOT ở Ottawa, Canada đã hỏi cha Tardif, họ muốn thâu một chương trình dài 30 phút về “Canh Tân Đặc Sủng.”  Chương trình sẽ ghi hình vào băng Video Cassette, để trình chiếu trên đài truyền hình vào mùa thu năm đó.  Trong lúc cầu nguyện cho bệnh nhân thì cha được linh ứng rằng Chúa Giêsu đang tác động chữa bệnh.  Và cha nói: “NGAY TRONG LÚC NÀY một người bệnh đang nằm một mình trong phòng bệnh viện.  Cô bị đau lưng nặng.  Nhưng Giêsu đang ở bên để chữa lành cho cô.  Cô cảm thấy một luồng điện ấm loan tỏa khắp lưng.  Giờ cô có thể đứng dậy và đi được.”

Khi cha Tardif về nhà, ngài suy đi nghĩ lại sự việc và cảm thấy ngạc nhiên về điều ngài đã nói trong lúc cầu nguyện: Chương trình thâu hôm nay cho mấy tháng sau mới được chiếu trên tivi cơ mà, sao lại nói “NGAY TRONG LÚC NÀY…”  Cha thầm nghĩ: Có lẽ cô ấy hiện tại còn chưa được đưa vào bệnh viện nữa.  Thế mà cha đã nhân Danh Thiên Chúa nói trước về sự chữa lành của cô ấy.

Cuối tháng 1 năm 1983 cha nhận một lá thư của B.G., cô viết ngày 16.1.1983:

“Vì bị bệnh nặng nên con phải nghỉ làm việc.  Hai đốt sống sau lưng bị lật sang bên gây đau buốt kinh khủng.  Có những đêm con ngủ không được.  Những bài tập trị liệu không thuyên giảm được cơn đau.  Do đó, vào tháng 12 bác sĩ đã thực hiện giải phẫu kéo dài 4 tiếng đồng hồ.  Kết quả là chân phải của con có thể đi lại được chút, nhưng cái lưng thì vẫn rất đau.

Ngày 18.12 con mệt mỏi không còn sức mà vẫn phải nằm ở bệnh viện.  Đức tin của con vào Chúa như đã mất.  Lúc 18 giờ 35phút con mở tivi lên.  Chương trình “TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI” vừa kết thúc và con nghe, cha nói những lời cuối: “Một bệnh nhân đang nằm một mình trong phòng bệnh viện, cô bị đau lưng rất nặng.  Ngay trong lúc này Giêsu đang hiện diện ở bên để chữa lành.  Cô bắt đầu cảm nhận, Chúa chạm vào lưng cô…  Sau này cô sẽ làm chứng về việc chữa lành này.”

Đúng như cha nói, một luồng điện ấm chạy dọc nơi cột sống, tỏa ra trên lưng con…  Trước ấn tượng bất ngờ ấy nước mắt con cứ tuôn chảy.  Con hối lỗi tự hỏi mình: Sao Giêsu có thể đón nhận một tâm hồn đau khổ khép kín và thất vọng này?  Nhưng không phải chính vì những tâm hồn tan nát như con mà Ngài đã chết trên Thánh Giá sao?

Hôm nay, sau một tháng, con muốn kể cho cha nghe về việc chữa lành lạ lùng nơi con.  Lần đầu tiên trong cuộc đời con cảm nghiệm được sự BÌNH AN vô tận.”

Ơn chữa lành lạ lùng này đã được kiểm chứng ở Tahiti, nơi cô B.G. sống và được xác nhận là sự thật.  Từ Lời Chứng ở trên chúng ta biết được một điều rất quan trọng: Giêsu đã thật sự sống lại.  Chúa GIÊSU không bị giới hạn bởi không gian, thời gian hay Internet.  Ngài có thể linh ứng cho biết, điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, vì với Ngài “Tương Lai” cũng là “NGAY TRONG LÚC NÀY…” Thiên Chúa không có xài đồng hồ, Ngài không xài cuốn lịch.  Bởi NGÀI là Đấng HẰNG HỮU, Ngài hiện diện ở bất kỳ nơi nào Ngài muốn cách trực tiếp.

Fatima Biến cố Lịch sử Thế Giới và Giáo Hội Công Giáo trong Thế kỷ XX

Lễ Kính Ðức Mẹ Fatima – 13/5

Fatima Biến cố Lịch sử Thế Giới và Giáo Hội Công Giáo trong Thế kỷ XX

(Radio Veritas Asia – 14/05/2002) – Ngày Mùng 5 tháng 5 năm 1917, lúc Ðệ nhị Thế chiến (1914-1918) bước vào giai đoạn khốc liệt, Ðức Thánh Cha Benoit XV (1914-1922) kêu gọi các Tín đồ Công giáo trên cả Thế giới tham dự Chiến dịch Cầu nguyện cách riêng trong Tháng 5, Tháng Dâng kính Mẹ Thiên Chúa, để xin Ðức Maria cứu giúp chấm dứt những cuộc tàn phá, đau khổ, chết chóc ! Ngoài ra, Ngài còn đặt tượng Ðức Mẹ bế Chúa Con bằng cẩm thạch trong Ðền Thờ Ðức Bà Cả, với hàng chữ : “Regina Pacis “ (Nữ Vương Hòa Bình).

Tám ngày sau, tức 13 tháng 5/1917, tại thung lũng Cova da Iria (Fatima) bên Bồ Đào Nha, Ðức Trinh Nữ Maria hiện ra với ba em Mục đồng : Lucia, Phanxicô  và  Giaxinta.  Phanxicô và Giaxinta là hai anh em ruột, đã qua đời sau ít năm. Mộ của hai em hiện nay trong Nhà Thờ Fatima.

                  ĐGH Gioan Phaolô II và Soeur Lucia

Ngày 13 tháng 5, trong Năm Ðại Toàn Xá 2000, ÐTC Gioan Phaolô II đã đích thân đến Hành Hương lần Thứ ba tại Fatima, để Tôn phong hai em lên Bậc Chân Phước. Ðây là hai vị Thánh trẻ nhất, không Tử đạo, được cất nhắc lên danh dự Bàn thờ. Cũng trong dịp này, vào cuối Thánh Lễ, nhân danh Ðức Thánh Cha, ÐHY Angelo Sodano – Quốc Vụ Khanh đã tiết lộ : Sau khi đã tham khảo ý kiến  Nữ Tu Lucia (95 tuổi) trong Tu Viện Kín ở Coimbra (vẫn thỉnh thoảng còn được Ðức Mẹ hiện ra), “Phần Thứ ba của Bí mật Fatima” được giữ kín trong nhiều Năm, gây thắc mắc và lo sợ trong Dân chúng, bởi vì có một số người đã giải thích như một “biến cố kinh khủng”, giống những hiện tượng và dấu hiệu  được báo trước về Ngày Tận Thế !  Nhưng thực sự không phải vậy ! “Phần thứ ba của Bí mật Fatima” theo sự tiết lộ chính thức của Tòa Thánh trong ngày 13 tháng 5 năm 2000, là việc bách hại đẫm máu dữ dội, xẩy đến trong Thời chế độ Cộng sản Liên Xô cầm quyền, nhất là “vụ mưu sát Vị Lãnh đạo Tối cao Giáo Hội” ! Bí mật Thứ ba đã nói đến hình ảnh : “Một vị Giám Mục mặc áo trắng bước qua những xác chết ngổn ngang và chính Vị đó cũng bị mưu sát” ! Việc tiết lộ bí mật Thứ ba của Fatima hôm ngày 13/5/2000,   không thuyết  phục một số người, nhất là những người đã giải thích “Bí mật Fatima” theo cái nhìn riêng của Họ, căn cứ trên hình ảnh “Vị mặc áo trắng bị mưu  sát” ! Thực ra, nếu không có Phép lạ Ðức Mẹ Fatima, thì “Vị Giám Mục mặc áo trắng này không thể thoát chết”! Chính tên sát thủ Mehmet Ali Agca, người đã bắn những phát chí tử vào Ðức Gioan Phaolô II, đã hết sức ngạc nhiên tại sao bị thương như vậy mà ÐTC đã không chết! Việc ÐTC không chết là vì có bàn tay Ðức Mẹ Fatima. Chính ÐTC đã công nhận như vậy vào ngày 12 -13/05/1982, Ngài đã đến Fatima Hành Hương để Tạ ơn Ðức Mẹ và tuyên bố rõ ràng : “Ðức Mẹ Maria đã cứu sống Tôi”.

        ĐGH Gioan Paul II  vào tù thăm Ali Agca (người bắn Ngài)

Một trong những viên đạn được lấy ra lúc giải phẫu cho ÐTC tại Bệnh viện Bách Khoa Gemelli ở Roma, đã được ghép vào Triều Thiên của Ðức Mẹ tại Ðền Thánh Fatima, trong dịp ÐTC đến Hành hương Tạ ơn 13/05/1982. Trong Cuộc hành hương Năm Thánh 2000, ÐTC còn để lại một kỷ niệm khác nữa đặt dưới chân Mẹ chiếc nhẫn Giám Mục cao quý, do Ðức Cố Hồng Y Stefan Wyszynski – Giáo Chủ Ba Lan (TGM Varsovie) tặng cho Ngài khi được bầu làm Giáo Hoàng (16/10/1978).  Còn chiếc giây lưng trắng bị đẩm máu trong vụ mưu sát tại Quảng Trường Thánh Phêrô  lúc 17giờ 10 phút  – ngày 13/05/1981, đã được để lại làm kỷ niệm tại Czestochowa – Ðền Thánh Quốc Gia Ba Lan, nơi ÐTC đã đến hành hương nhiều lần trong những năm sinh sống tại Ba Lan và cả sau khi đã làm Giáo Hoàng.

Nhưng hành thể có tính cách Hoàn vũ để nhớ ơn Mẹ Maria Fatima trong muôn Thế hệ Tương lai, là việc ÐTC lập Lễ Kính các lần Ðức Trinh Nữ Maria hiện ra tại Fatima. Năm 2002 ngày 13/05 là lần Thứ nhất Lễ kính này được cử hành trên cả Thế giới Công giáo. Nhật báo “Người đưa Tin (Il Messaggero), một trong các Tờ báo  lớn xuất bản ở Roma, số ra ngày Chúa nhật 12/03/2002, đã viết nơi Trang nhất với Tựa đề khá lớn như sau : “ÐTC Thánh Hiến Niên Hiệu của vụ mưu sát”. Bên nhật báo Roma viết : “Trong năm 1981, ngày 13 tháng 5, ngày mà những phát đạn của Ali Agca bắn vào Ðức Gioan Phaolô II, được Dâng kính Ðức Mẹ Fatima”.

Từ nay theo Lịch Phụng vụ, ngày 13/05 Lễ kính Ðức Mẹ Fatima sẽ được Cử hành trong Toàn Giáo Hội. Cũng như ngày 11 tháng 2, kính nhớ những lần Ðức Mẹ hiện ra với Cô Bernardette (từ 11 tháng 2 năm 1858 đến ngày 16 tháng 7 cũng năm 1858), trong 18 lần tại Hang đá, kế bên sông Gave, thuộc Thành phố Lourdes (Lộ Đức), miền Nam nước Pháp.

From: Le Ngoc Bich & KimBang Nguyen

Mời nghe nhạc:

Như Một Vầng Trăng

 SỰ SỐNG MỚI

 SỰ SỐNG MỚI

TGM Ngô Quang Kiệt

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, thì Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô.  Thánh Gioan là người sống sau cùng.  Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.

Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sàng suốt của lý trí.   Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể.  Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.

Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin.  Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.

Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên.  Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người.”  Cũng như kiến thức y khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc của nhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những lọai cây cỏ, tin và yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.

Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.

Với đức tin và tình yêu, người môn đệ Chúa không còn thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật.  Với đức tin và tình yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta. 

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dấn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.

Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh.  Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa.  Sự sống đó là hiệp thông, như lời Chúa Giêsu nói: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy.  Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến.”

Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta.  Ở trong người nào tức là được người ấy yêu thương.  Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lãnh sự sống.  Nhờ Tin và Yêu, ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung mãn, sự sống vĩnh cửu.

Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi.”  Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nhìn thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi.  Ai đóng cửa tình yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc.  Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và tình yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi.  Và như thế việc ra đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà còn ích lợi cho ta.  Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sung mãn, sự sống dồi dào.

Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đã hứa, ta hãy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các giới răn của Thầy.”  Đức tin được thể hiện bằng tình yêu.  Tình yêu được chứng minh qua hành động.  Đó là chìa khoá của đời sống Kitô hữu.

 TGM Ngô Quang Kiệt

  From: Langthangchieutim

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Trong những ngày đầu tháng 02 năm 1990, có một con đường ở huyện ngoại thành đã được báo chí làm cho nổi tiếng.  Con đường ấy một đầu là giăng ngang biểu ngữ khai trương phòng vật lý trị liệu trá hình, còn đầu kia là sừng sững một khách sạn mini sang trọng làm nhà riêng của người biển thủ, chức danh là giám đốc.  Con đường ấy chợt nổi tiếng vì những vụ tai tiếng.

Từ hai mươi thế kỷ nay, trong Giáo Hội, người ta biết có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng.  Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc.  Con đường ấy trải dài tin yêu để lâng lâng vươn lên sự sống.  Con đường ấy thấp sáng hy vọng để dẫn tới Nhà Cha trên trời.  Đường mở về miên viễn, Đường dẫn đến vĩnh hằng.  Đó là đường mang tên Chúa Giêsu.

  1. Đường hy vọng tin yêu.

Nếu có một câu hỏi được các Tông đồ đặt ra nhiều nhất thì đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn.  “Thầy ở đâu?” là câu hỏi của Gioan đặt ra trong lần đầu gặp gỡ, để được gọi đến xem và bước vào ơn gọi; “Thầy muốn chúng con dọn lễ Vượt Qua ở đâu?” là câu hỏi của các Tông đồ đặt ra để có được địa chỉ chính xác cho Bữa Tiệc Ly; và hôm nay lại là Tôma nôn nóng bật ra câu hỏi “Thầy đi đâu?” trước một tương lai vẫn còn ẩn khuất.

Bận tâm về nơi chốn là bởi vì trong đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành trình, mà cuộc hành trình cuối cùng là tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy mình chịu chết.  Có khối ông đã coi đây là con đường thất bại của Chúa để trở thành con đường thất vọng của mình.  Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Người lại bị đóng đinh như tên tử tội.  Công dã tràng!  Khi mọi vốn liếng hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bỗng dưng lật ngửa trắng tay, người ta như rớt từ trên cao quay cuồng chao đảo.  Thế mới hay ước vọng thì rộng lớn nhưng khung đời lại chật hẹp mà thực tế lại phũ phàng!

“Thầy đi đâu?” Ẩn sâu dưới câu hỏi ấy là một tâm trạng hoang mang trước một quá khứ vừa mới khép lại mà tương lai chưa kịp mở ra.  Tương lai ấy mới mẻ hay chỉ là quá khứ đươc lặp lại ở thì sẽ đến?  Đã một lần vỡ mộng, các Tông đồ băn khoăn là chuyện thường tình.  Giống như đứa trẻ lỡ một lần phải bỏng, hễ thấy lửa là tự nhiên rụt tay lại.  Vì thế, nghe trong câu hỏi “Thầy đi đâu?” có âm hưởng lo âu tự hỏi “mình đi đâu?”

Thất vọng về quá khứ và hoang mang trước tương lai, đó là những con đường các Tông đồ đã nếm trải.  Nhưng mở đầu Tin Mừng hôm nay lại là lời của Chúa Giêsu: “Các con đừng xao xuyến.”  Đó là lời an ủi vỗ về, đồng thời cũng là lời cắt băng khai mở một con đường mới trong hy vọng tin yêu.

  1. Đường mang tên Giêsu.

“Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.”  Trả lời cho Tôma, cùng lúc Chúa Giêsu để lộ cho biết từ nay chỉ có một con đường duy nhất được mở ra trong ơn cứu độ, và tên gọi con đường ấy lại chính là Người.

Người là Đường Sự Thật bởi Người là Chân Lý, một chân lý sống động khả tín làm nền tảng và hướng đi cho mọi cuộc đời, một thực tại năng động đầy Thần Khí làm sức mạnh giải thoát cho mọi kẻ tin.  Đường Sự Thật không phải là một hệ thống tín điều do Chúa Giêsu thiết định, nhưng là toàn thể cuộc sống lời nói việc làm của Người trong ý nghĩa cứu độ.  Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra?  Giữa phiên tòa dịp lễ Vượt Qua, trước mặt Chúa Giêsu, Philatô đã hỏi một câu ngớ ngẩn: “Sự Thật là chi? – Quid est Veritas?”  Chúa Giêsu không trả lời, vì Sự Thật hiện thân chính là Người đứng đó.  Có biết đâu hỏi là đã trả lời, chỉ cần sắp xếp lại thứ tự các mẫu tự sẽ thành hàng chữ: “Est Vir qui adest” (x. Tihamet Toth, Chúa Cứu Thế Với Thanh Niên, p. 95).

Người là Đường Sự Sống bởi Người là Sự Sống thượng nguồn phát sinh các sự sống khác trong công trình sáng tạo, và là Sự Sống cội nguồn mà mọi sự sống khác phải tìm về trong công cuộc tái tạo của ơn cứu độ.  Người thông ban sự sống cho mọi sinh linh, và luôn đi bước trước để lôi kéo mọi người về với Sự Sống của Thiên Chúa.  Người chịu chết để nhân loại được sống, và Người sống lại để mãi mãi mở ra nẻo đường dẫn vào cõi sống.  Mọi sự sống trần gian có thể đổi thay tan biến, nhưng Sự Sống Người là vĩnh cữu trường tồn.  Người hằng sống hằng trị muôn đời.

Người là Đường dẫn tới Nhà Cha bởi Người và Cha không thể tách lìa: Chúa Con ẩn mình trong Chúa Cha, và Chúa Cha tỏ hiện trong Chúa Con.  Vẫn là Một từ ngàn xưa và mãi là Một tới ngàn sau.  Thế nên Đường mang tên Giêsu tất yếu cũng là địa chỉ Nhà Cha, và ngược lại tìm đến Nhà Cha cũng là hành trình vào Đường Sự Thật và Sự Sống.

  1. Đường con đi.

Dẹp bỏ con đường cũ của thất vọng hoang mang để khai mở con đường mới bằng toàn diện con người mình, Chúa Giêsu muốn truyền lại cho các Tông đồ cái kinh nghiệm hiện sinh phong phú liên kết với Cha qua Chân Lý và Sự Sống; đồng thời đó cũng chính là lời mời gọi Giáo Hội cất bước lên đường với những hành trang đi về hạnh phúc.

Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những con người biết mình có một lý tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lý tưởng ấy.  Trút bỏ những hành trang cồng kềnh của danh lợi thú, đoạn tuyệt với những ngõ cụt lối mòn sao gợn sỏi đá của cuộc sống khô khan, chấp nhận canh tân để có được bước đi vừa thanh thót vừa thanh thản của đời nhân đức chính là hát lên khúc ca mới trên con đường mới.  Vì lý tưởng ấy chính là lẽ sống, cũng chính là vinh dự một đời: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, Dân riêng của Chúa…” (bài đọc thứ hai).

Đi trên Đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững.  “Thầy đi dọn chổ cho các con.”  Vận mệnh tương lai đã mở ra.  Không còn xa xôi tít tắp, nhưng đã châm rễ từ cuộc đời này.  Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại Nhà Cha đã được định hình ngay từ bây giờ trong bước đường lữ thứ của Hội Thánh ở giữa lòng đời.  Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng về một cứu cánh, được tái sinh trong giới hạn nhưng không ngừng hướng về vô hạn.  Thiết tưởng lời kinh của Thánh Augustinô có thể là tóm kết của bước đi hy vọng đã biến thành khát vọng: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con để cho Chúa, nên con mãi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Ngài.”

Đi trên Đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ.  Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới.  Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ bàn thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em.  Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành.  Có thể nói được rằng tình yêu và phục vụ là đôi chân của Giáo Hội lữ hành đặt bước chân mình trong dấu chân Chúa.  Và cũng có thể hiểu được rằng cách nhìn “con người là con đường của Giáo Hội” (Gioan Phaolô II) chính là tốc độ mới của tình yêu chan hòa phục vụ trên Đường Giêsu hôm nay.

Và lời cuối cùng sẽ là một lời kinh, dệt nên khúc hát hy vọng cho những ai đang băn khoăn tìm kiếm một con đường sống, và biến nên hành khúc tin yêu cho những ai đã một lần cất bước hành trình: “Chúa muốn nhận con đường con đi, nên Ngài đã sinh xuống dương gian.  Chúa đã nhận đôi bàn tay con, dìu từng bước, bước đi trên đường.  Chúa ôi, khi nhìn đời con, con không hiểu từng giọt lệ sầu.  Chúa ôi, khi nhìn đời Ngài, con đã gặp đường hướng con đi.”

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống (trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

TẢNG ĐÁ LỚN VÀ CÁNH CỬA BỊ KHÓA   

TẢNG ĐÁ LỚN VÀ CÁNH CỬA BỊ KHÓA   

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Triết gia Soren Kierkegaard đã từng viết, bản văn Tin Mừng mà ông thấy rõ mình trong đó, là câu chuyện kể các môn đệ sau khi Chúa Giêsu chết, họ tự giam mình trong phòng vì sợ, rồi họ trải nghiệm Chúa Giêsu đi qua cánh cửa bị khóa để ban bình an cho họ.  Kierkegaard muốn Chúa Giêsu làm như vậy với ông, đi qua các cánh cửa bị khóa của ông, sự cự lại của ông và để ông được hít thở sự bình yên trong Ngài.

Hình ảnh các cánh cửa bị khóa là một trong hai hình ảnh đặc biệt thú vị trong câu chuyện về ngày Phục sinh đầu tiên.  Hình ảnh kia là hình ảnh tảng đá lớn đã chôn Chúa Giêsu.  Các hình ảnh này nhắc chúng ta nhớ những gì thường tách chúng ta ra khỏi ơn sống lại.  Đôi khi để ân sủng này đi tìm chúng ta, thì ai đó “phải lăn tảng đá” và đôi khi sự sống lại đến với chúng ta qua cánh cửa bị khóa.

Trước hết, về “tảng đá:

Các Tin mừng cho chúng ta biết rằng vào sáng sớm Phục sinh, ba phụ nữ đang trên đường đến mộ Chúa Giêsu, họ mang theo dầu thơm để ướp xác Ngài nhưng họ lo lắng không biết làm sao lăn tảng đá đã bít chặt mộ Ngài.  Họ hỏi nhau: “Ai sẽ lăn hòn đá cho chúng ta?”

Và như chúng ta biết, hòn đá đã được lăn.  Cách nào?  Chúng ta không biết.  Không có ai ở đó khi Chúa Giêsu sống lại.  Không ai biết chính xác hòn đá đó đã lăn đi như thế nào.  Nhưng điều mà Kinh thánh làm rõ là: Chúa Giêsu không tự sống lại.  Chính Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại.  Chúa Giêsu không lăn hòn đá, đó là điều chúng ta thường nghĩ như vậy.  Tuy nhiên, và vì lý do chính đáng, cả Kinh Thánh và truyền thống Kitô giáo đều khẳng định mạnh mẽ, Chúa Giêsu không tự mình sống lại từ cõi chết, Chúa Cha đã làm cho Chúa Giêsu sống lại.  Điều này có vẻ như là điểm không cần thiết để nhấn mạnh; nhưng rốt cuộc, nó có gì khác biệt?

Điều này làm một sự khác biệt rất lớn.  Chúa Giêsu không tự mình sống lại từ cõi chết và chúng ta cũng không thể.  Đó là mục đích.  Để sức mạnh của sự sống lại thấm nhập vào chúng ta, một thứ gì đó từ bên ngoài chúng ta phải loại bỏ tảng đá khổng lồ bất động của sự cự lại của chúng ta.  Đây không phải để phủ nhận chúng ta không có thiện chí và sức mạnh cá nhân; nhưng những điều này, dù quan trọng, không còn là điều kiện tiên quyết để nhận được ân sủng của sự sống lại, mà chính do sức mạnh của sự sống lại, luôn đến với chúng ta từ bên kia.  Chúng ta không bao giờ tự mình lăn được tảng đá!

Ai có thể lăn tảng đá?  Có lẽ đây là câu hỏi chúng ta đặc biệt quan tâm, nhưng chúng ta nên hỏi… Chúa Giêsu đã bị táng xác và bất lực không thể tự dậy, cũng vậy đối với chúng ta.  Giống như các phụ nữ trong ngày Phục sinh đầu tiên, chúng ta cũng lo lắng hỏi: “Ai sẽ là người lăn tảng đá cho chúng ta?” Chúng ta không thể tự mở mộ cho mình.

Thứ hai, các cánh cửa của chúng ta đã bị khóa:

Thật thú vị khi thấy các tín hữu của ngày Phục sinh đầu tiên này trải nghiệm Chúa Kitô phục sinh trong cuộc sống của họ.  Các Tin mừng cho chúng ta biết, họ bị hãi sợ và hoang mang bao trùm nên họ ở trong phòng khóa cửa lại, chỉ muốn tự bảo vệ mình, Chúa Kitô đi qua cánh cửa bị khóa của họ, cánh cửa của sợ hãi, của tự bảo vệ và truyền bình an cho họ.  Họ họp nhau lại trong sợ hãi không phải là họ không có ý chí hay không có đức tin. T rong thâm tâm, họ thật lòng mong mình không sợ, nhưng thiện ý này không phải lúc nào cũng mở cánh cửa của họ.  Chúa Kitô bước vào và ban bình an cho họ dù họ cự lại, dù nỗi sợ hãi và cánh cửa bị khóa của họ.

Các điều này không thay đổi gì từ hai ngàn năm nay.  Là cộng đồng Kitô hay cá nhân, chúng ta vẫn đang loay hoay trong sợ hãi, lo lắng về bản thân, không tin tưởng, không được bình an, cánh cửa của chúng ta bị khóa, ngay cả khi trái tim chúng ta mong muốn hòa bình và tin tưởng.  Có lẽ, giống như triết gia Kierkegaard, chúng ta muốn được đặc ân như đoạn Sách Thánh này, khi Chúa Kitô sống lại đi qua các cánh cửa bị khóa do con người cự lại, và thổi bình an đến cho chúng ta.

Hơn nữa, năm nay, vào thời điểm đặc biệt khi coronavirus Covid 19, đã khóa các thành phố và cộng đồng chúng ta và chúng ta cách ly trong ngôi nhà riêng của mình, đối diện với các tâm trạng hụt hẫng, mất kiên nhẫn, sợ hãi, hoảng loạn và buồn chán.  Và đây, lúc này chúng ta cần một chút gì đó để sống phục sinh, một hòn đá cần phải được lăn đi để cuộc sống được hồi sinh, để có thể đi qua cánh cửa bị khóa của chúng ta và để mang bình an đến cho chúng ta.

Vào cuối ngày, hai hình ảnh, “tảng đá phải được lăn” và “các cánh cửa của nỗi sợ chúng ta” hàm chứa trong chính nó sự thật an ủi nhất của mọi tôn giáo bởi vì chúng tiết lộ điều này về ân sủng của Chúa: Khi chúng ta không thể giúp chính mình, chúng ta vẫn có thể được giúp đỡ và khi chúng ta bất lực để vươn ra, ân sủng vẫn có thể đi qua các bức tường cự lại của chúng ta và mang bình an đến cho chúng ta.  Chúng ta cần phải bám lấy điều này mỗi khi chúng ta bị đổ vỡ không thể cứu vãn được trong cuộc sống chúng ta, khi chúng ta cảm thấy bất lực trong các vết thương và nỗi sợ hãi, khi chúng ta cảm thấy bị tổn thương về mặt tinh thần và khi chúng ta đau buồn vì người thân yêu bị nghiện ngập hoặc tự tử.  Chúa Kitô phục sinh có thể đi qua các cánh cửa bị khóa và đẩy đi bất cứ hòn đá nào chôn chúng ta, nhốt chúng ta, dù vô vọng đối với chúng ta như thế nào.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nguồn: http://ronrolheiser.com/tang-da-lon-va-canh-cua-bi-khoa/#.Xq5U0ahKguU

From: Langthangchieutim

MỜI ÔNG Ở LẠI VỚI CHÚNG TÔI

MỜI ÔNG Ở LẠI VỚI CHÚNG TÔI

Dưới dáng dấp một người khách lạ, Chúa Giêsu phục sinh đến với hai môn đệ Emmau.  Ngài đến đúng lúc, đúng lúc họ đang bỏ cuộc, quay quắt và ray rứt vì chuyện đã qua.  Ngài đi cùng với họ, đi gần bên họ, khiêm tốn trở thành một người bạn đồng hành.  Ngài gợi chuyện, hay đúng hơn, Ngài muốn tham dự vào câu chuyện dở dang của họ.

Chúa Giêsu không nản lòng trước câu trả lời lạnh nhạt: “Chắc chỉ có ông mới không biết chuyện vừa xảy ra…”  Ngài không cắt đứt cuộc đối thoại: “Chuyện gì vậy?” Ngài giả vờ không biết để họ nói cho vơi nỗi buồn.  Chúa Giêsu kiên nhẫn lắng nghe lời họ tâm sự.  “Trước đây, chúng tôi hy vọng rằng…” Như thế niềm hy vọng này chỉ còn là chuyện quá khứ.  Cả niềm tin cũng trở nên chai lì, họ đâu có tin vào lời của các bà ra thăm mộ.

Khi lắng nghe, Chúa Giêsu nhận ra cái gút của vấn đề, những câu hỏi mà họ không tìm ra lời giải đáp.  Tại sao một người của Chúa, người mà họ tin là Đức Kitô lại bị đóng đinh như một kẻ bị Thiên Chúa chúc dữ?

Chúa Giêsu vén mở ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ.  Đau khổ là nhịp cầu mà Đức Kitô phải vượt qua để sang bờ bên kia là vinh quang bất diệt.  Đau khổ không phải là chuyện xui xẻo, rủi ro, nhưng nó có chỗ đứng trong chương trình cứu độ.

Lời của Chúa Giêsu là Tin Mừng ngọt ngào, khiến nỗi đau của họ dịu đi, lòng họ như ấm lại.  Họ cố nài ép Ngài ở lại dùng bữa chiều.  Và chính lúc Ngài cầm bánh bẻ ra trao cho họ thì họ nhận ra vị khách lạ chính là Thầy Giêsu.

Kinh nghiệm của hai môn đệ Emmau cũng là của chúng ta.  Lúc ta tưởng Ngài vắng mặt, thì Ngài lại đang ở gần bên.  Lúc ta nhận ra Ngài ở gần bên, thì Ngài lại biến mất rồi.  Nhưng chính lúc Ngài biến mất, ta lại cảm nghiệm sâu hơn sự hiện diện của Ngài.

Ngài đến lúc ta không ngờ.  Ngài đi mà ta không giữ lại được.  Ngài ở lại với ta cả khi ta không thấy Ngài nữa.

Đấng Phục Sinh vẫn đến với ta hôm nay qua một người bạn hay một người lạ ta gặp tình cờ.  Qua họ, Ngài thổi vào lòng ta niềm hy vọng tin yêu.

Ngài vẫn đến với ta qua từng thánh lễ.  Ngài đích thân giảng Tin Mừng và bẻ bánh trao cho ta.  Sống như Chúa phục sinh là tập đến với tha nhân, tập đồng hành, tập gợi ý, tập lắng nghe, tập soi sáng…

Hôm nay vẫn có nhiều người bạn đang lê gót về Emmau.

*******************************************

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần có Chúa hiện diện để con khỏi quên Chúa.  Chúa thấy con dễ bỏ Chúa biết chừng nào.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ.  Không có Chúa, con đâu còn nồng nhiệt hăng say.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn, cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến. Con cần được thêm sức mạnh để khỏi ngừng lại dọc đường.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời.  Con không dám xin những ơn siêu phàm, chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.

Xin ở lại với con vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa và không đòi phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu Chúa hơn.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J (trích trong ‘Manna’)

From: suyniemhangngay1 & NguyenNThu

NIỀM TIN CÓ TÍNH TOÁN CẨN THẬN

NIỀM TIN CÓ TÍNH TOÁN CẨN THẬN
  
“Ngài thổi hơi vào các ông và nói với họ: Hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22)
 
Để xác định một người đã chết, ngày xưa người ta thường đặt một tấm gương dưới hai lỗ mũi của thi hài người chết để xem người đó còn thở hay không.  Ngày nay, với phương pháp đo điện tâm đồ và kiểm tra hoạt động của phổi, người ta sẽ kết luận một người đã chết thực sự khi họ ngưng thở hoàn toàn.  Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Kitô Phục Sinh đã “thổi hơi sự sống” vào buồng phổi nhỏ bé của cộng đoàn những người tin, giải thoát họ khỏi sợ hãi, làm cho họ được lưu thông huyết mạch đức tin để họ có thể cùng nhau “thở” và sống cách sung mãn cho sứ mệnh được gửi trao.
 
Các môn đệ đầy sợ sệt đang co rúm lại với nhau trong căn phòng đóng kín cửa vì “sợ người Do Thái.”  Sau khi Đức Giêsu bị hành quyết, nỗi khiếp sợ này cũng dễ hiểu, vì họ sợ sẽ đến lượt mình.  Trong Tin Mừng của Thánh Gioan, từ ngữ “Người Do Thái” đồng nghĩa với những con người không tin vào Đức Giêsu, và chống đối Ngài, cho dầu chính Đức Giêsu và những học trò đầu tiên của Ngài cũng là người Do Thái.  Đối tượng sự sợ hãi nơi các môn đệ, chính là những người cũng giống họ về người gốc dân tộc, nhưng khác họ ở niềm tin vào Đức Giêsu.
 
Đôi khi, điều làm chúng ta khiếp sợ nhất là phải trực diện những gì chúng ta không muốn xảy ra cho mình như đã từng xảy ra cho người khác.  Giữa lúc sợ hãi cao điểm như thế nơi các tông đồ, Chúa Giêsu đã hiện ra và đến với họ, mời gọi họ đón nhận sự bình an mà Ngài mong muốn đem đến cho họ.  Đó không phải là sự bình an cất giấu đi sự tàn bạo hằn sâu nơi thân thể Ngài, khi Ngài vạch mở cho họ thấy những vết thương lồ lộ vẫn còn nguyên trạng nơi xác thân Ngài.  Nhưng đó là sự bình an với nhận thức đầy đủ về sự khủng khiếp đối với những gì đã xảy ra nơi cái chết của Chúa, nhưng bình an sẽ đến trong tiến trình chữa lành những vết thương đó, trong tinh thần tha thứ và hòa giải chứ không phải là bạo lực hay oán thù.  Ngắm nhìn những vết tích nơi thân thể Chúa, phải có một cái nhìn khác.  Không phải là một cái nhìn mang tính hận thù, nhưng là một cái nhìn được Chúa Kitô khởi dẫn để chữa lành, với tinh thần và bình an của Ngài, để giúp các môn đệ thoát vượt sợ hãi, vươn tới niềm vui thực sự.
 

Kết quả, chính là sự hồi sinh của cộng đoàn.  Cũng giống như Đấng Tạo Hoá ban đầu đã thổi hơi vào lỗ mũi của nguyên tổ để trao ban sinh khí (St 2,7), Đức Kitô Phục Sinh cũng đem lại sự sống cho cộng đoàn những kẻ theo Ngài, đang trong cơn khiếp sợ.  Đây không phải là một tiến trình dễ dàng, không gây nhức nhối.
 
Tôi có một người bạn bị viêm phổi nặng, sự đau đớn ghê gớm mà người bạn đó đã kinh qua khi buồng phổi đang bị tàn phá khủng khiếp, làm tôi liên tưởng gần sát với những khó khăn mà những học trò của Đức Giêsu đã trải qua trong tiến trình biến đổi đức tin.  Trước khi thụ nạn, Đức Giêsu đã nói với họ về những thống khổ như là nỗi đau quặn của một phụ nữ khi sinh nở, để sau đó có được niềm vui khi một mầm sống mới được khai sinh (Ga 16, 20-22).
 
Đối với vài người trong nhóm họ, sự tái sinh này xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần sau khi Đức Kitô Phục Sinh.  Nhưng không phải tất cả đã hiện diện ngày hôm ấy và đã cảm nghiệm được giai điệu huyền nhiệm này.  Tuần sau, vài người trong họ vẫn còn sợ và đóng kín cửa.  Họ vẫn đưa ra những điều kiện dường như bất khả thi để có thể tin.  Tôma đã lên tiếng bộc lộ sự nghi ngại “Tôi cần phải thấy tận mắt, sờ tận tay, mới tin.”  Đây không phải là một sự phản kháng ngoan cố trước những gì các bạn hữu khác đã trải nghiệm và truyền đạt lại, nhưng thực sự Tôma muốn nói lên rằng mọi người và từng mỗi người cần được tiếp cận trực tiếp với Đức Kitô để có thể tin.
 
Ở đây, không có chuyện Tôma đã thể hiện một thứ đức tin hạng hai.  Chứng tá của các bạn khác dẫn ông đến với Đức Giêsu, nhưng không thay thế cho kinh nghiệm của chính bản thân ông để có thể thấy được nhãn tiền, khi ông cần phải gặp gỡ Đức Giêsu một cách trực tiếp, cũng như từng người một trong nhóm họ.  Tin Mừng cho phép người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau để có được đức tin.  Một vài người có thể thủ đắc đức tin bằng việc nhìn thấy, những người khác có thể không cần.  Cả hai thái độ này đều tốt và được Chúa chúc lành.  Cách thức đến với đức tin, điều đó không quan trọng, trong một cộng đoàn mà đức tin luôn được toan tính cẩn thận, nhưng trong đó mọi người cùng “thở” chung với nhau bằng hơi thở của Thần Khí, Đấng sẽ đẩy lùi mọi sợ hãi bằng khí cụ của bình an, của sự tha thứ và của sự giao hoà.

 (Barbara E. Reid, O.P – Nữ Tu Đaminh thuộc cộng đoàn Đaminh ở Grand Rapids, Michigan, Giáo sư môn Tân Ước tại Đại Học Công Giáo ở Chicago, Illinois, và là phó trưởng khoa tại Đại Học này. – Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

BÀI GIẢNG LỄ VỌNG PHỤC SINH CỦA ĐTC PHANXICÔ

BÀI GIẢNG LỄ VỌNG PHỤC SINH CỦA ĐTC PHANXICÔ

Sau ngày Sabbath (Mt 28: 1), những người phụ nữ đã đi đến ngôi mộ.  Đây là cách Tin Mừng của Đêm Vọng thánh thiêng này bắt đầu: với ngày Sa-bát.  Trong Tam Nhật Thánh, chúng ta thường có xu hướng bỏ qua ngày này bởi ta đang háo hức chờ đợi bước chuyển từ mầu nhiệm Thánh Giá của ngày Thứ Sáu sang lời hoan ca Alleluia của Chúa Nhật Phục Sinh.  Tuy nhiên, năm nay, chúng ta đang trải nghiệm, hơn bao giờ hết, sự im lặng lớn lao của Thứ Bảy Thánh.  Chúng ta có thể tưởng tượng mình ở vị trí của những phụ nữ vào ngày đó.  Giống như chúng ta bây giờ, trước mắt họ là một thảm cảnh đau thương, một bi kịch xảy ra quá bất ngờ.  Họ đã nhìn thấy sự chết và nó đè nặng lên trái tim họ.  Nỗi đau xen lẫn nỗi sợ hãi: liệu họ có chịu chung số phận với Thầy mình?  Rồi sau đó là nỗi sợ về viễn tượng tương lai và tất cả những gì cần phải được xây dựng lại.  Một ký ức đau đớn, một niềm hy vọng bị cắt cụt. Giống như chúng ta bây giờ, đối với họ, đó là giờ phút đen tối nhất.

Tuy nhiên, trong tình huống này, những người phụ nữ không cho phép mình bị tê liệt.  Họ không chịu khuất phục trước sự ảm đạm của đau khổ và tiếc nuối; họ không tự thu mình lại, hay trốn chạy khỏi thực tại.  Họ đang làm một việc rất đơn sơ nhưng lại phi thường: chuẩn bị các hương liệu ở nhà để xức xác Chúa Giê-su.  Họ không ngừng yêu thương; từ trong đêm tối của cõi lòng, họ thắp lên một ngọn lửa thương xót.  Mẹ Maria của chúng ta đã trải qua ngày Thứ Bảy đó.  Đó là ngày xứng đáng dành để tôn vinh mẹ, trong tâm tình nguyện cầu và hy vọng.  Mẹ đã đáp lại nỗi buồn bằng niềm tin vào Thiên Chúa.  Những người phụ nữ này không thể ngờ được rằng, từ trong bóng tối của ngày Sa-bát đó, chính họ đang thực hiện những sự chuẩn bị cho “Bình minh của ngày thứ nhất trong tuần,” ngày sẽ thay đổi lịch sử.  Như hạt giống bị chôn vùi trong lòng đất, Đức Giêsu chuẩn bị làm cho đời sống mới được nở hoa trong thế giới này; và những người phụ nữ đó, bằng lời cầu nguyện và tình yêu, đã giúp tạo nên đóa hoa hy vọng đó.  Trong những ngày buồn thảm này, có biết bao người cũng đã và đang làm những điều mà những phụ nữ kia đã thực hiện, đó là gieo hạt mầm hy vọng, với những cử chỉ bé nhỏ của lòng quan tâm, của tình thương và lời cầu nguyện.

Rạng sáng, những người phụ nữ đi đến ngôi mộ.  Thiên thần nói với họ: “Đừng sợ.  Ngài không ở đây; vì Ngài đã sống lại.” (câu 5-6).  Họ nghe thấy những lời của sự sống ngay cả khi họ đang đứng trước một ngôi mộ…  Và sau đó họ gặp Đức Giê-su, đấng ban tặng tất cả mọi niềm hy vọng, Đấng xác chuẩn thông điệp và nói: “Đừng sợ” (câu 10).  Đừng sợ, đừng lui bước trước sợ hãi: Đây là thông điệp của hy vọng.  Nó được gửi đến chúng ta hôm nay.  Đây là những lời mà Thiên Chúa lặp lại với chúng ta ngay trong đêm nay.

Đêm nay, chúng ta được trao một quyền cơ bản mà không bao giờ bị lấy mất: quyền hy vọng.  Đó là niềm hy vọng hy sống động và mới mẻ đến từ Thiên Chúa.  Đó không phải là thứ lạc quan tếu; nó không phải là một cái vỗ nhẹ vào lưng hay một lời khích lệ trống rỗng.  Đó là một món quà từ thiên đường, thứ mà chúng ta không thể tự mình kiếm được.  Trong những tuần này, chúng ta đã lặp đi lặp lại rằng “tất cả sẽ ổn thôi.”  Đó là những lời nói bén rễ từ nét đẹp nhân bản và thúc đẩy những câu khích lệ nổi lên từ cõi lòng chúng ta.  Nhưng khi ngày tháng trôi qua và nỗi sợ hãi tăng lên, ngay cả niềm hy vọng táo bạo nhất cũng có thể tan biến.  Niềm hy vọng của Đức Giê-su mang lại thì rất khác.  Ngài gieo vào lòng chúng ta niềm tin rằng Thiên Chúa có thể biến mọi thứ trở nên tốt lành, vì chưng ngay cả từ ngôi mộ Ngài cũng đã mang lại sự sống.

Ngôi mộ là nơi không ai bước vào.  Nhưng Chúa Giêsu trỗi dậy vì chúng ta; Ngài đã sống lại cho chúng ta, để mang lại sự sống từ nơi của sự chết, để khởi đầu một lịch sử mới ở chính nơi bị chèn bởi tảng đá.  Đấng đã lăn hòn đá bịt kín lối vào ngôi mộ cũng có thể loại bỏ những viên đá trong trái tim chúng ta.  Vì vậy, chúng ta đừng nhụt chí; chúng ta đừng đặt tảng đá chắn mất niềm hy vọng.  Chúng ta có thể và phải hy vọng vì Thiên Chúa là Đấng thành tín.  Ngài không bỏ rơi chúng ta; Ngài đã viếng thăm ta, và đã bước vào những cảnh huống đau thương, thống khổ và chết chóc của chúng ta.  Ánh sáng của Ngài xua tan bóng tối của ngôi mộ; hôm nay Ngài muốn ánh sáng đó xuyên qua cả những góc tối nhất trong cuộc sống chúng ta.  Thưa quý anh chị em, ngay cả khi chúng ta đã chôn vùi niềm hy vọng trong trái tim mình, chúng ta cũng đừng từ bỏ, vì Thiên Chúa vẫn luôn lớn hơn.  Bóng tối và sự chết không có lời cuối cùng.  Hãy mạnh mẽ lên, vì với Chúa không có gì là hư mất!

Lòng can đảm.  Đây là một cụm từ thường được Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng.  Chỉ một lần những người khác dùng cụm từ này để khích một người đang cần giúp đỡ: Hãy can đảm đứng dậy, Ngài đang gọi anh đó! (Mc 10:49).  Chính Người, Đấng Phục Sinh, đã nâng chúng ta lên trong những lúc cần thiết.  Trên hành trình cuộc sống, nếu ta cảm thấy yếu đuối, mỏng dòn, hoặc sa ngã, xin đừng sợ, Thiên Chúa sẽ đưa tay giúp đỡ và nói với ta: “Dũng cảm lên!”  Tựa như Don Abbondio (trong tiểu thuyết của Manzoni), chúng ta cũng có thể nói “can đảm chẳng phải là điều gì bạn có thể tự trao cho mình” (I Promessi Sposi, XXV).  Đúng, ta không thể tặng nó cho chính mình, nhưng ta có thể nhận nó như một món quà.  Tất cả những gì ta phải làm là mở lòng cầu nguyện và nhẹ nhàng lăn đi tảng đá chặn lối vào trái tim của ta để ánh sáng của Chúa Giê-su có thể rọi vào.  Ta chỉ cần kêu cầu Ngài: “lạy Chúa Giêsu, hãy đến với con giữa nỗi sợ hãi này, và nói với con rằng: Hãy can đảm!”  Có Ngài, ôi lạy Chúa, chúng con sẽ chịu thử thách nhưng không bị lung lay.  Và, dù cho bất cứ nỗi buồn nào, chúng con sẽ được củng cố trong hy vọng, vì có Ngài, thập giá cũng dẫn đến sự phục sinh, bởi Ngài ở cùng chúng con trong màn đêm u tối; Ngài chính là sự vững vàng giữa những điều không chắc chắn của chúng con; Ngài là lời nói phát ra trong cơn thinh lặng của chúng con; và không gì có thể lấy đi tình yêu Ngài dành cho chúng con.

Đây là sứ điệp Phục Sinh, sứ điệp của hy vọng.  Sứ điệp này chứa một phần nữa, đó là sứ mạng được sai đi.  Đức Giê-se bảo các phụ nữ: “Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê” (Mt 28:10).  Thiên thần đã báo trước: “Người đi Ga-li-lê trước các ông” (câu 7).  Chúa đi trước chúng ta.  Thật đáng khích lệ khi biết rằng Ngài đi trước chúng ta trong cuộc sống và trong cái chết; Ngài đến Galilê trước chúng ta.  Với Đức Giê-su và các môn đệ, nơi này gợi nhớ tới cuộc sống hàng ngày, tới gia đình và công việc.  Chúa Giêsu muốn chúng ta mang lại hy vọng ở đó, cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta.  Đối với các môn đệ, Galilê cũng là nơi đáng nhớ, vì đó là nơi đầu tiên họ được kêu gọi.  Trở về Galilê có nghĩa là nhớ rằng chúng ta đã được Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi.  Chúng ta cần tiếp tục cuộc hành trình, nhắc nhở bản thân rằng chúng ta được sinh ra và tái sinh nhờ một lời mời gọi được trao tặng nhưng không cho chúng ta vì tình yêu.  Đây luôn là điểm mà chúng ta luôn có thể làm mới lại, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng và thử thách.

Nhưng còn hơn thế nữa.  Galilê là khu vực xa nhất tính từ chỗ họ đang ở, tức từ Jerusalem.  Và không chỉ về mặt địa lý.  Galilê cũng là nơi cách xa sự thánh thiêng của Thành Thánh nhất.  Đó là khu vực của những người thuộc các tôn giáo khác nhau sinh sống: đó là “Galilee của Dân Ngoại” (Mt 4:15).  Chúa Giêsu sai họ đến đó và yêu cầu họ bắt đầu lại từ đó.  Điều này nói gì với chúng ta?  Nó nói rằng thông điệp hy vọng không nên bị giới hạn vào những chốn thánh thiêng của riêng chúng ta, mà cần được mang đến cho mọi người.  Bởi vì tất cả mọi người đang cần sự trấn an, và nếu chúng ta, những người đã chạm được vào “Lời của sự sống” (1Ga 1: 1), không trao ban sự trấn an đó thì ai sẽ làm thay?  Đẹp biết bao khi trở thành những Kitô hữu mang đến sự an ủi, trở thành người mang vác gánh nặng của người khác, và thành người khích lệ: đó là những sứ giả của sự sống trong thời điểm chết chóc!  Ước gì chúng ta có thể mang lời ca sự sống đến mọi thứ ‘Galilee’, mọi khu vực của gia đình nhân loại mà tất cả chúng ta thuộc về và là một phần của chúng ta, vì tất cả chúng ta đều là anh chị em.  Chúng ta hãy làm cho những kêu gào của sự chết phải im lặng; cho mọi thứ chiến tranh phải dừng lại!  Ước gì chúng ta có thể ngừng sản xuất và buôn bán vũ khí, vì chúng ta cần lương thực chứ không phải súng ống!  Hãy kết thúc việc phá thai và giết hại người vô tội.  Ước gì trái tim của những người dư dả có đủ sự cởi mở để trao ban các nhu cầu thiết yếu vào những đôi tay trống trơn của người nghèo.

Sau hết, những phụ nữ đó đã níu giữ chân Chúa Giê-su (Mt 28: 9).  Đó là đôi chân đã đi rất xa để gặp gỡ chúng ta: đến tận mức đi vào và trỗi dậy từ ngôi mộ.  Những phụ nữ ôm lấy đôi chân đã giẫm đạp cái chết và đã mở ra con đường hy vọng.  Hôm nay, như những người lữ hành tìm kiếm hy vọng, chúng con muốn bám vào Ngài, lạy Đức Giê-su Phục Sinh!  Chúng con quay lưng với cái chết và mở rộng trái tim cho Ngài, vì chính Ngài là Sự Sống.

Chuyển dịch: Khắc Bá, SJ – CTV Vatican News

Nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-04/toan-van-bai-giang-le-vong-phuc-sinh-dtc-phanxico.html

From: Langthang chieutim

CHỜ MONG NHỮNG PHÉP MÀU


CHỜ MONG NHỮNG PHÉP MÀU

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Tin Mừng thánh Luca “quay lại” quang cảnh chiều tối ngày thứ Sáu Tuần Thánh như sau: “Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày Sa–bát, các bà nghỉ lễ như Luật Truyền.” (Lc 23,56).

Những người chứng kiến cái chết của Đức Giêsu ra về, mỗi người một ý nghĩ.  Có những người sợ hãi.  Không ít người lắc đầu nhìn ông Giêsu thất bại ê chề trên đỉnh đồi Canvê.  Có những người đấm ngực.  Các thượng tế giết được Đức Giêsu rồi vẫn chưa hả hê ngồi yên.  Nhóm môn đệ thì rút về nhà, cửa đóng then cài, tự cách ly.  Đối với các ông, giấc mộng theo Chúa Giêsu lúc này dường như chấm hết.  Bầu không khí thê lương ngột ngạt đè lên các môn đệ…  Trong khi đó, số đông những người Do Thái khác vẫn hân hoan mừng Lễ Vượt Qua.

Ngày Chúa yên nghỉ trong mồ, truyền thống Giáo Hội dành thời gian thinh lặng thánh để chờ mừng Chúa Phục Sinh.

Nếu ghép đoạn phim năm xưa trên đây vào bối cảnh lúc này trong đại dịch, chắc chúng không khác nhau nhiều.  Người ta phải ở nhà, cách li phòng chống dịch.  Không ít người hoang mang, sợ hãi và buồn sầu.  Sầu buồn vì đã có biết bao người thân yêu ra đi.  Hiện có cả triệu người phải điều trị căn bệnh virus này.  Khả năng người nhiễm vẫn có nguy cơ tăng.  Những điều ấy buộc nhiều quốc gia ban hành lệnh phong tỏa.

Là người Công Giáo, bầu không khí ấy không thể lấy đi niềm tin và hy vọng của mỗi người.  Chúng ta đang chờ đợi phép mầu.  Cùng với Chúa Giêsu trong mồ, chúng ta vẫn thấy nơi đó phép lạ có thể xảy ra.

  1. Chờ mong Chúa phục sinh

Dĩ nhiên Đức Giêsu đã chiến thắng tử thần trong biến cố phục sinh.  Hằng năm Giáo Hội cử hành tưởng nhớ biến cố này để người tín hữu thêm tin tưởng vào Chúa.  Trong cảnh chết chóc và sầu buồn, Giáo Hội luôn khơi lên cho con cái mình lòng mong chờ một phép mầu sẽ xảy đến.  Đặc biệt, nếu không có đại dịch Covid–19, chúng ta sẽ được cùng nhau tham dự đêm canh thức phục sinh.  Đó là khoảng thời gian vô cùng thánh thiêng để trông đợi Chúa Kitô sống lại.

Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh luôn cho người ta sức mạnh.  “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, thì…đức tin của bạn cũng vô ích.” (1Cr 15,14).  Phép màu Phục Sinh là “bảo bối và bí kíp” để chúng ta vượt qua đại dịch lần này.  Hoặc nói như Đức Bênêđictô XVI: “Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người.”[1]

Cụ thể trong ngày Thứ Bảy này, hẳn là có bao người tin tưởng chờ mong một ngày rất gần: dịch bệnh sẽ chấm dứt.  Đó là thời khắc cả nhân loại được phục sinh, được sống lại những dự định, ước mơ và tiếp tục tiến bước.  Thời khắc đó sẽ đánh tan mọi nỗi buồn sầu sợ hãi.  Mỗi người đều tin khoa học sẽ tìm ra lời giải cho bài thuốc chủng ngừa và phương thuốc chữa trị căn bệnh này.

Là người Công Giáo, chúng ta vẫn hằng tin Chúa đã, đang và sẽ làm những phép mầu nơi cuộc đời mỗi người.  Trong đức tin, ta có thể đón nhận đau khổ và chia sẻ với đau khổ của những người khác.  Bằng cách đó, đau khổ loài người được hội nhập vào tình yêu cứu chuộc của Chúa Kitô; nhờ đó đức tin trở nên thành phần hấp dẫn của sức mạnh thần linh lôi kéo thế giới tới hạnh phúc. (x. Youcat số 102).

Với đức tin, chúng ta thấy tương lai tươi sáng hơn.  Nơi đó, Thiên Chúa vẫn đang hoạt động để giúp các nhà khoa học tìm ra phương thuốc.  Nơi đó, Chúa vẫn thôi thúc các nhà chức trách phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với dân.  Nơi đó, Chúa mời gọi tôi trở về để: “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cor 13,7).

Hóa ra giữa cơn dịch này, các tín hữu phải nên nguồn động viên tinh thần lớn lao.  Chúng ta có Thiên Chúa, Đấng an bài mọi sự.  Thiên Chúa không chết như triết gia Friedrich Nietzsche tuyên bố.  Ngay cả trong cái chết, người tín hữu luôn tin sự sống sẽ hồi sinh.  Đó là món quà để giúp người ta vượt qua mọi bão táp phong ba.

  1. Hy vọng những phép màu

Trong cảnh loạn lạc chiến tranh, đau thương chết chóc, tuyệt vọng là điều khó tránh.  Người ta cũng có thể mường tượng ra các môn đệ đang cạn dần hy vọng.  Truyền thống Giáo Hội sơ khai tin rằng chính Đức Mẹ là chỗ dựa để các ông không bỏ cuộc.  Mẹ động viên, nâng đỡ và gợi lại những gì Con của Mẹ đã nói năm xưa về cái chết và sự phục sinh.  Hôm nay, Mẹ Maria và mẹ Giáo Hội cũng đang “xốc” lại tinh thần cho con cái mình.

Thực vậy, Chủ tịch Liên Hội đồng Giám mục Á Châu vừa ban hành Thông điệp Phục sinh trong thời kỳ âu lo.  Trong đó ngài thấy niềm hy vọng của toàn thể nhân loại bị bóp nghẹt bởi bóng đêm tuyệt vọng của Covid–19.  Ngài so sánh tình cảnh lúc này như “Đêm Tối của Linh Hồn” mà thánh Gioan Thánh Giá đã trải nghiệm.[2]  Ai cũng hiểu và chấp nhận đây là những thời điểm khó khăn, thời điểm bất thường, hy vọng của chúng ta đối với tương lai bị lu mờ.  Tệ hơn nữa việc chối bỏ Thiên Chúa cũng có thể xảy ra trong thời gian này.

Bạn nghĩ sao khi lời Thánh Vịnh nhắc với từng người rằng:

“Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi,
tôi còn sợ người nào?
Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,
tôi khiếp gì ai nữa? Ngày tôi gặp tai ương hoạn nạn,
Người che chở tôi trong lều thánh,
đem giấu tôi thật kín trong nhà,
đặt an toàn trên tảng đá cao.” (TV 27, 1.5)

Chúng ta đừng đánh mất khả năng kinh ngạc và niềm mong chờ Chúa sống lại.  Đó là sự kiện đã xảy ra và là trọng tâm đức tin của chúng ta lúc này.  Nơi bệnh viện, đã có biết bao người đang nỗ lực cứu chữa bệnh nhân.  Có biết bao người đã khỏi bệnh, có bao quốc gia đồng lòng chống dịch.  Biết bao con người đang giúp người già yếu, nghèo khổ.  Biết bao chuyên gia y tế miệt mài nghiên cứu thuốc men.  Hàng triệu, hàng tỷ người đang cùng nhau nguyện cầu.  Dịch càng tăng nhanh, dòng người ấy càng không bỏ cuộc.  Đó chẳng phải là những điều kỳ diệu đang diễn ra đó sao?

  1. Lời nguyện cầu xin ơn

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
Chúa là nơi chúng con ẩn náu khi gặp hiểm nguy,
là Đấng chúng con tìm đến trong cơn hoạn nạn;
chúng con tin tưởng nài xin Chúa
thương nhìn đến những người đang đau khổ,
cho kẻ đã qua đời được nghỉ yên,
và an ủi những ai đang ưu phiền,
xin Chúa chữa lành các bệnh nhân
và ban bình an cho người đang hấp hối,
xin ban sức mạnh cho các nhân viên y tế,
ơn khôn ngoan cho các nhà lãnh đạo
và lòng can đảm để đến với mọi người trong yêu thương,
nhờ đó chúng con được cùng nhau tôn vinh Danh thánh Chúa.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa, Chúa chúng con,
Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa,
trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời
[3].  Amen

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/04/11/cho-mong-nhung-phep-mau/

[1] x. Youcat 105

[2] Thông điệp Phục sinh trong thời kỳ âu lo, Đức Hồng Y Charles Maung Bo, Tổng Giám mục Yangon, Myanmar (Chủ tịch Liên Hội đồng Giám mục Á Châu – FABC).

[3] Trích: Thánh lễ trong thời đại dịch, phần Lời nguyện nhập lễ.

From:Langthangchieutim

Chia Sẻ với anh em Linh Mục về nội dung các bài giảng về Sự Đau Khổ

Chia Sẻ với anh em Linh Mục về nội dung các bài giảng về Sự Đau Khổ

LM Matthêu Nguyễn Khắc Hy PSS

05/Apr/2020

Trong tình trạng đại dịch coronavirus đang hoành hành khắp thế giới, và Giáo Hội đang chuẩn bị bước vào tuần thánh mừng mầu nhiệm Thương Khó, Chết, và Sống Lại của Đức Giêsu Kitô qua nghi thức phụng vụ chưa từng có trong lịch sử, đó là, giáo dân tham dự phụng vụ qua màn hình của truyền thông hiện đại, tâm tư giáo dân xoay quanh câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa để những đau khổ này xảy ra? Ngài có thật sự yêu thương con người không? Hay Thiên Chúa có trừng phạt con người vì tội lỗi của họ không?

Một số người còn thêm kịch tính khi cho rằng bí mật thứ Ba của sứ điệp Fatima chưa được tiết lộ… Vì thế, đại dịch covid-19 này là bí mật thứ ba được Đức Mẹ báo trước từ năm 1917.

Anh em linh mục có trách nhiệm giúp giải thích những thắc mắc này trong các bài giảng lễ, nhất là trong tuần thánh này, để giáo dân tăng thêm kiến thức đức tin, và tin tưởng hơn vào Thiên Chúa.

Linh mục chúng ta thường hay bị mắng là trả lời những câu không ai hỏi… Và chúng ta cũng phải thú nhận là nhiều câu trả lời của chúng ta thiếu rõ ràng hay không đúng trọng tâm những gì người khác hỏi. Một số những giải thích thiếu rõ ràng, ngay cả thậm chí sai trái, khiến giáo dân hoang mang.

Tôi muốn chia sẻ với anh em vài điểm đáng chú ý khi chúng ta giải thích tương quan giữa Sự dữ (evil) và Thiên Chúa trong các bài giảng.

Thứ nhất, cần nhấn mạnh: sự dữ và đau khổ là một huyền nhiệm (mystery) . Ta không biết nó đến cách nào, và tại sao nó tồn tại. [2] Ngay cả khoa học cũng không biết tại sao, vì khoa học chỉ cắt nghĩa được những hiện tượng xảy ra mà thôi. Cũng như ta đọc Kinh Thánh, tác giả không hề nói tại sao hay cách nào con rắn đến với con người, mà chỉ đơn giản nói việc con rắn xuất hiện cám dỗ hai ông bà nguyên tổ, một biểu tượng của sự dữ trong đời sống con người.

Thánh Phao lô đã nói: “Điều tôi muốn tôi không làm, và tôi làm điều tôi không muốn” (Rm 7:15), như một thú nhận trước mầu nhiệm cuộc sống. Sự dữ là một huyền nhiệm. Vì thế, ta không thể chấp nhận những câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi hóc búa, hay những câu trả lời từ chối trách nhiệm cá nhân (như Satan khiến tôi làm…) hay cho rằng sự dữ không có thực, hay ta không đánh giá đúng mức sự thương khó (đau khổ) của Đức Kitô, Đấng đồng cảm với những đau khổ của con người.

Thứ hailoại bỏ tư tưởng vô cảm khi cho rằng sự dữ và đau khổ là ý niệm tương đối, nghĩa là, nó không thật sự là sự dữ nếu không gây đau khổ cho ta. Ví dụ, động đất là động đất, và nó không thật sự là sự dữ hay gây đau khổ nếu xảy ra trong vùng hoang vu, không bóng người. Rắn độc tự nó là rắn độc, nhưng không là sự dữ nếu không cắn ta. Ngay cả những lý luận gần hơn như bệnh nhân ung thư chết hàng ngàn người trong một ngày, nhưng ta không quan tâm đơn giản vì ta không biết họ, hay sự dữ không trực tiếp ảnh hưởng đến ta. Chỉ khi nào “xui xẻo” đến với ta hay gia đình, người thân… lúc đó ta mới cho nó là sự dữ (và đau khổ).

Ta cần khơi dậy ý thức cộng đoàn, nghĩa là, tất cả đều là con Thiên Chúa. Đức tin Công Giáo không cho phép ta vô cảm trước những đau khổ của tha nhân, bất kể người đó ở đâu hay đến từ đâu. Chỉ có Đức Giê su mới dạy môn đệ Ngài “hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho ai ngược đãi con” mà thôi (cf. Mt 5:44).

Thứ bata luôn tìm thấy “may trong rủi” . Vì ta không có kiến thức tương lai, và ta bị hạn chế trong những khủng hoảng đang có, nên ta quên những cái tốt do những khủng hoảng này mang lại. Ví dụ, cái chết một người có thể đem lại bình an cho gia đình; việc phong tỏa và cách ly trong thời gian gần đây giúp con người ý thức hơn về giá trị cuộc sống, về những hoang phí thời gian hay tiền bạc họ đã làm, về sự cần thiết gần gũi nhau trong gia đình giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái… Tính lạc quan giúp ta luôn tìm được lý do để tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1 Tx 5,18). Ta luôn nhớ rằng sự dữ tự nó không có cái kết, mà cuối cùng nó sẽ bị đánh bại, rằng chúng ta không bao giờ bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì thế, hãy nhìn những sự kiện diễn ra trong đức tin vào Thiên Chúa, hơn là tìm Thiên Chúa trong lăng kính của những diễn tiến này.

Thứ tưcẩn thận khi cắt nghĩa rằng mọi sự xảy ra đều là Ý Chúa. Dĩ nhiên điều này không đúng (nếu hiểu là Thiên Chúa muốn đau khổ cho con người). Cần phân biệt sự khác nhau giữa “Ý Chúa muốn” và “Chúa cho phép xảy ra”. Ý của Thiên Chúa rõ ràng là cho thế gian được cứu chuộc, tuy nhiên Thiên Chúa cho phép chúng ta và vũ trụ được tự do đáp trả lời mời gọi này trong nhiều cách. Không phải mọi sự xảy ra đều là Ý Thiên Chúa, vì còn có tự do của con người đóng góp đưa đến những kết quả này. Vì thế, nếu nói Ý Chúa dẫn đến những đau khổ, liệu ta có vẽ lên một Thiên Chúa độc ác không? Và nếu Thiên Chúa muốn những điều ác độc như thế, Thiên Chúa đó không đáng cho ta tôn thờ.

Thứ nămtránh từ ngữ Thiên Chúa trừng phạt con người. Quan niệm trong dân gian về sự thưởng phạt nhãn tiền của thần thánh khiến nhiều khi ta dùng từ ngữ cắt nghĩa những hiện tượng trước mắt như sự trừng phạt của Thiên Chúa. Nhiều người còn trích dẫn các câu chuyện Kinh Thánh trong Cựu Ước để chứng minh Thiên Chúa “thưởng phạt nhãn tiền” những ai chống lại Ngài. Giáo lý Công Giáo dạy rằng có sự Thưởng – Phạt ở đời sau. Tuy nhiên, nếu kết án Thiên Chúa (Thưởng) – Phạt thì ta trốn trách nhiệm tự do con người sử dụng. Nếu một người sống đời tội lỗi, và kết quả sau này là phải bị xuống hỏa ngục trầm luân, liệu đây là hình phạt Thiên Chúa áp dụng cho họ, hay chính họ tự chọn cái kết cho chính mình? Trong một đất nước dân chủ và sống theo pháp luật như Hoa Kỳ, những ai ở trong tù không phải bị chính phủ Phạt, cho bằng họ có hành động gì sai, và tự họ Phạt họ trong tù qua sự can thiệp của chính quyền.

Thứ sáu là Số phận. Đây là quan niệm Phật giáo, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân Việt nam, và nhiều người Công Giáo cũng bị ảnh hưởng. Điều bị hiểu lầm nhiều nhất là quan niệm “số phận” hạn chế hay dẹp bỏ tự do định đoạt của con người, và điều này sai với giáo lý Công Giáo. Quan niệm “tiền định” được nhắc đến trong thư Phao lô: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định.29 Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc.30 Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.” (Rm 8:28-30)

Tiền định là tín lý thuộc về kết cục chứ không là bắt đầu trong đời sống Kitô hữu, nghĩa là nói đến hậu kết của đời sống mỗi người sau này. Ngay câu đầu “chúng ta biết rằng, Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” được xem là câu tiêu chuẩn để hiểu đúng nhất về tiền định. Tin vào Chúa Kitô là không để bất cứ yếu tố ngoại cảnh nào hủy hoại ý định và mục đích Thiên Chúa dành cho mỗi con người, đó là yêu thương và kết hợp với Ngài muôn đời: “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào,39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giesu, Chúa chúng ta.” (Rm 8:38-39)

Thứ bảytránh cực đoan và cuồng tín. Khi Đức Thánh Cha và các giám mục quyết định không dâng thánh lễ để tránh tập trung đông người khiến bệnh dịch có thể lây lan, một số người lên án quyết định này khi cho rằng đây là quyết định sai lầm, hay cho rằng những ai tin vào Đức Kitô thì “dù cầm rắn trong tay, hay uống nhầm thuốc độc cũng chẳng sao” (Mk 16:18). Nghĩa là, họ cho rằng tham dự thánh lễ chung nơi đông người không làm họ lây nhiễm coronavirus. Đây là lý luận “cùn” vì họ quên rằng chính Thiên Chúa là Đấng tạo nên mọi sự (cả coronavirus) và cho nó luật tự nhiên (là gây hại khi nhiễm vào con người). [3]

Vì thế, trong những bài giảng thuyết, chúng ta nên nhắc nhở vài điều quan trọng:

Đầu tiênsự dữ và đau khổ sẽ được chế ngự bởi tình thương và cảm thông (chia sẻ) . Chúng ta tin Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, và tất cả là anh chị em một nhà. Ông Gióp dù không hiểu tại sao mình chịu đau khổ (bỏ rơi), nhưng chính ông không quên nâng đỡ những người bất hạnh: “Con kêu lên Ngài, nhưng Ngài không đáp, con trình diện Ngài, nhưng Ngài chẳng lưu tâm. 21 Ngài đối xử với con tàn nhẫn… 24 Dù vậy, nào tôi đã chẳng giơ tay trợ giúp, kẻ khốn cùng kêu cứu lúc lâm nguy? Tôi đã chẳng khóc người lầm than vất vả, chẳng động lòng thương kẻ túng nghèo?” (Job 30:20-25) Thánh Phaolô khẳng định rằng Thiên Chúa cũng cảm thông với ta trong mọi hoàn cảnh: “Người [Thiên Chúa] luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.” (2 Cor 1:4)

Thứ haiđau khổ cần được san sẻ, và sự dữ (evil) cần phải đối đầu. Đó cũng là lý do cho ông ta dạy khi ai gặp nạn thì mình đến “chia buồn” (còn ai hạnh phúc thì mình đến “chung vui” chứ không lấy bớt đi hạnh phúc của họ). Vì thế, việc thăm viếng, an ủi, cầu nguyện và nâng đỡ nhau trong lúc khốn quẩn vô cùng quan trọng, vì đây là dấu chỉ cụ thể sự hiện diện của Thiên Chúa với những ai đang đau khổ qua trung gian của chúng ta. Trong kinh tin kính các tông đồ, khi tuyên xưng “Đức Giêsu xuống ngục tổ tông” là nói đến chính Đức Giêsu chia sẻ những đau khổ con người, và “ngục tổ tông” là bước cuối cùng con người chịu được trước khi được cứu chuộc để về kết hợp với Thiên Chúa. Chính đau khổ gắn bó con người với nhau, và gắn bó Thiên Chúa với con người, qua Đức Kitô, Đấng sống như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Heb 4:15).

Cuối cùnghy vọng là niềm tin Kitô giáo. Chúng ta luôn sống trong hy vọng, và đức tin vào Chúa Giêsu Kitô là động lực của mọi hy vọng. Hy vọng không chỉ nhắm đến đời sau, mà còn ở đời này. Nếu những gì ta mong ước không được như ý ở đời này, thì chính hy vọng cho ta động lực và ý nghĩa sống. Đức Kitô là hy vọng của mọi người (1 Tim 1), và trong Đức Kitô con người hy vọng được cứu rỗi: “Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô, thì không còn bị lên án nữa.” (Rom 8:1). Hơn nữa, chính sự sống lại của Đức Kitô đem lại cho nhân loại hy vọng (1 Cor 15 ff), vì “sự chết là kẻ thù cuối cùng đã bị đánh bại” (1 Cor 15:26), và Chúa Kitô Phục Sinh cho ta niềm tin để sống, cho ta giá trị và lý do để chết.

Một vài những suy tư với anh em linh mục trong dịp đại dịch xảy ra trong tuần thánh năm nay. Tôi có cảm tưởng chúng ta là những người “không nói cũng không được, mà nói cũng không xong” khi đối diện với đau khổ của người khác. Trước “tiến thoái lưỡng nan”, đừng để cám dỗ rút lui im lặng, hay chỉ nói qua loa… hay tệ hơn (dù họ không biết là họ đang làm sai) đi vào vết cũ của lạc giáo Ảo Thân thuyết (Docetism), Ngộ Đạo thuyết (Gnosticism) hay một lạc giáo hỗn tạp của những giải thích bâng quơ, không chính xác.

Để hiểu rõ thêm về thần học Công Giáo dạy gì về sự dữ và đau khổ trong đời sống con người, xin mời anh em đọc thêm bài đính kèm sau.

———–

[1] “Ba Bí Mật Fatima” là cụm từ nói đến những điều Mẹ Maria nhắn với ba em Lucia Santos, Jacinta Marto và Francisco Marto khi hiện ra 6 lần với các em từ ngày 13-5-1917 đến 13-10-1917. Theo Lucia, ngày 13-7-1917 Mẹ Maria trao cho các em Ba Bí Mật. Năm 1941, theo yêu cầu của Đức Giám Mục Jose Alves Correia da Silva, giám mục Leiria, Lucia đã tiết lộ Hai Bí Mật, nhưng không muốn tiết lộ Bí Mật Thứ Ba. Tháng 10 năm 1943, theo yêu cầu của Đức Giám Mục địa phương, chị Lucia tiết bộ Bí Mật Thứ Ba bằng cách viết thư nhưng dán kín, và xin đợi cho đến năm 1960 rồi mới mở ra, vì lúc đó sẽ “rõ hơn.” Bức thư Bí Mật Thứ Ba này được đức thánh giáo hoàng Gioan Phao lô II cho công khai vào năm 2000, nhưng một số vẫn cho rằng đức Gioan Phao lô II đã không công bố toàn bộ lá thư, dù Vatican đã vài lần lên tiếng chính thức là bức thư đã được công khai hoàn toàn.

[2] Một số thường trích thư thánh Phaolô: “Tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5:12), để giải thích đau khổ và sự chết đến thế gian. Đừng quên Đức Giêsu Kitô hoàn toàn vô tội nhưng Ngài cũng chịu đau khổ và chết. Vì thế giáo lý vẫn dạy sự hiện diện của sự dữ và đau khổ là một mầu nhiệm.

[3] Mục sư Jamie Coots của nhà thờ Full Gospel Tabernacle ở Kentucky chết ngày 15-2-2014 khi cầm rắn độc trong tay để chứng minh cho giáo dân rằng nếu tin thì rắn độc không làm hại ông (xem Mark 16:18). Đến tháng 8-2018, con ông nối nghiệp là mục sư Cody Coots cũng bị rắn cắn và phải đi nhà thương, nhưng may mắn được cứu sống.

ĐƯA CHÚA RA XỬ ÁN

ĐƯA CHÚA RA XỬ ÁN

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Cả trong tâm thức sùng tín lẫn bất khả tri, có những lần chúng ta đưa Chúa ra xét xử, và bất kỳ lúc nào làm thế, cuối cùng chúng ta là người bị phán xét.  Chúng ta thấy điều này trong các đoạn Tin mừng về cuộc xử án Chúa Giêsu, nhất là trong Tin mừng theo thánh Gioan.

Như chúng ta biết, Tin mừng theo thánh Gioan họa lên hình ảnh Chúa Giêsu từ góc nhìn thiên tính, chứ không phải nhân tính của Ngài.  Như thế, trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu không có sự yếu đuối của loài người.  Ngài là Thiên Chúa từ dòng đầu cho đến dòng cuối trong Tin mừng theo thánh Gioan.  Điều này đúng cho đến từng chi tiết nhỏ nhất.  Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Gioan, trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem họ có bao nhiêu bánh và cá.  Thánh Gioan viết thêm: “Ngài đã biết trước rồi.”  Không gì nằm ngoài dự liệu của Chúa Giêsu.

Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất trong cách thánh Gioan viết về cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu.  Không như các Tin mừng khác diễn tả Chúa Giêsu lo sợ trước số phận khủng khiếp của mình, trong Tin mừng theo thánh Gioan, xuyên suốt con đường thương khó, Chúa Giêsu không chút sợ hãi, hoàn toàn tự chủ, bình tâm, vác thập giá của mình, hoàn toàn đối ngược với hình ảnh một nạn nhân.  Tư thế của Chúa Giêsu luôn là hành động tự do, vì lòng yêu thương, và có uy quyền hoàn toàn trên tình cảnh đó.

Thánh Gioan minh họa rất rõ điểm này.  Khi quân lính đến bắt, Chúa Giêsu bước ra và tất cả những ai xáp lại phía Ngài đều ngã gục xuống đất, và trong sự phủ phục đó thể hiện sự tôn kính với Ngài.  Và những hình ảnh mang tính biểu tượng còn nhiều nữa.  Chúa Giêsu bị tuyên án tử hình vào lúc giữa trưa, đúng vào giờ các tư tế bắt đầu sát tế những con chiên vượt qua.  Sau khi chết, Chúa Giêsu được mai táng với dầu thơm và lô hội, vốn chỉ dùng cho vua, và Ngài được đưa vào huyệt đá “mới tinh” (cũng như ngài được sinh ra trong cung lòng trinh nữ.)  Thánh Gioan làm rõ rằng, chúng ta đang nhìn vào Đức Chúa.

Với tâm thức đó, hiểu rằng Chúa Giêsu luôn luôn có uy quyền và làm chủ mọi chuyện, chúng ta sẽ có thể hiểu rõ hơn ý định của thánh Gioan muốn nói với chúng ta trong trình thuật tử nạn của Chúa Giêsu.  Thánh Gioan tập trung nhiều nhất vào cuộc xử án Chúa Giêsu.  Trình thuật thương khó tập trung quanh vụ xử án và các nhân vật chính trong vụ xử án.  Nhưng trình thuật này có một điểm đảo chiều đầy mỉa mai: Có vẻ là Chúa Giêsu bị xử án, nhưng thật ra, Ngài là người duy nhất không bị xử án.  Philatô, các chức sắc tôn giáo, dân chúng, cả chúng ta ngày nay, mới bị xử án.  Tất cả đều bị xử án, trừ Chúa Giêsu.

Philatô bị xử án vì nhiều tội: Biết Chúa Giêsu vô tội nhưng không đủ can đảm để đương đầu với đám đông, rồi để cho sự điên cuồng thất thường vô tri của đám đông quyết định.  Philatô bị phán xét vì sự yếu đuối của ông.  Nhưng ông còn bị xử án vì chủ nghĩa bất khả tri của ông, cụ thể là ông tin rằng mình có thể xem chân lý và đức tin như những thứ mà ông có thể tránh né, có thể định giá chúng từ vị trí trung lập, xem đó là việc của người khác, không dính dáng gì đến mình.  Nhưng ông bị phán xét chính vì lẽ đó.  Chẳng ai có thể dửng dưng hỏi rằng: “Sự thật là gì?” như thể câu trả lời chẳng ảnh hưởng gì đến mình vậy.  Phiên tòa của Chúa Giêsu xác định Philatô và những người như ông, là có tội, tội bất khả tri, tội tránh né, tội dửng dưng, và cuối cùng là bất lương.  Mỉa mai thay, sự yếu đuối của Philatô khi không giải cứu Chúa Giêsu, cuối cùng lại biến ông thành tổng trấn và thẩm phán tai tiếng nhất lịch sử.  Với cái tên có trong kinh Tin kính, hàng triệu người đọc tên ông mỗi ngày.

Nhưng không chỉ mình Philatô bị xử án, mà còn các chức sắc tôn giáo thời đó nữa.  Trong nỗ lực bảo vệ Thiên Chúa khỏi những gì mà họ xem là bất kính, ngoại giáo, và phạm thượng, họ đã đồng lõa trong tội “giết” Chúa.  Phán quyết trong phiên tòa của Chúa dành cho họ, cũng chính là phán quyết cho nhiều chức sắc tôn giáo đến tận thời nay, đó chính là khuynh hướng nhiệt thành bảo vệ Thiên Chúa lại thường góp một tay đóng đinh Chúa trên thế giới này.

Và cuối cùng, vụ xử án những người đương thời với Chúa Giêsu, cũng như chính chúng ta.  Trong cơn cuồng loạn vô tri bừng bừng của đám đông, họ đã từ bỏ hy vọng mong chờ Đấng Thiên sai để hô vang: “Đóng đinh nó!”  Thật cũng không khác gì mấy nhiều khẩu hiệu tôn giáo và chính trị mà chúng ta hô vang ở những buổi tập hợp thời nay.  Phiên tòa xử Chúa Giêsu lại là một phán quyết rất dữ dội cho sự vô tri, thất thường và nguy hiểm của tâm tính đám đông.

Với sự tinh tế của mình, thánh Gioan đã cho chúng ta thấy, bất kỳ lúc nào bằng nhiệt thành lòng đạo sai lầm hay bằng chủ nghĩa bất khả tri lạnh lùng, mà chúng ta đem Chúa ra xử án, thì kết cục, chính chúng ta là người bị phán xét.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From:Langthangchieutim