THIÊN CHÚA CHỌN NGƯỜI NGHÈO KHỔ THƯỞNG CHO VÀO HƯỞNG NƯỚC TRỜI

THIÊN CHÚA CHỌN NGƯỜI NGHÈO KHỔ

THƯỞNG CHO VÀO HƯỞNG NƯỚC TRỜI

 Tuyết Mai

Anh em là những người tin vào Đức Giêsu Kitô vinh hiển, anh em đừng thiên vị. Giả sử trong lúc anh em hội họp, có người đi vào, tay đeo nhẫn vàng, mình mặc áo sang trọng; lại cũng có người nghèo khó đi vào, áo xống dơ bẩn, nếu anh em chăm chú nhìn người mặc áo rực rỡ mà nói: “Xin mời ông ngồi chỗ danh dự này”. Còn với người nghèo khó thì anh em lại nói rằng: “Còn anh, anh đứng đó”, hoặc: “Anh hãy ngồi dưới bệ chân tôi”. Đó không phải là anh em xét xử thiên vị ở giữa anh em và trở nên những quan xét đầy tà tâm đó sao? Xin hãy nghe: Không phải Thiên Chúa chọn người nghèo trước mắt thế gian, để nhờ đức tin, họ trở nên giàu có và được hưởng nước Người đã hứa cho những kẻ yêu mến Người đó sao? (Gc 2, 1-5).

——————————————

— Đây là thực tế thật phũ phàng, là tệ trạng của mọi thời đại. Ai nghèo khổ lại được người kính nể và tôn trọng bao giờ? Từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội tất tất đều cư xử với nhau qua cái hình thức rất bề ngoài. Cho nên từ thời xa xưa chúng ta đã thấy có những buổi tiệc quan trọng trong làng, xã hay trong chi tộc; người muốn được người ta tiếp đón thì ít nhất cũng phải biết đi mượn quần áo chỉnh tề để đi dự tiệc.

— Còn người nghèo quá thì phải cố nặn óc để nghĩ ra cách từ chối đi dự tiệc. Trong mọi thời đại thì cái nghèo và cái bệnh tật nó ám ảnh người ta suốt cả một đời. Mà tội nghiệp nhất là cho những người nghèo nhưng không chấp nhận mình nghèo thì đây là cái nỗi khổ tâm, chua chát của họ từng ngày.

— Không nhìn đâu cho xa là ngay trong gia đình họ hàng của chúng ta thấy rất rõ ai làm ra tiền nhiều, đóng góp, gánh vác gia đình nhiều thì anh chị em đó tức khắc sẽ được tất cả mọi người nể trọng. Trước nhất là cha mẹ sau sẽ là cái cớ để cho sự bất hòa bắt đầu nhen nhúm giữa anh chị em ganh ghét nhau.

— Có phải vô tình là do từ cha mẹ luôn cầu mong có được con cái cho thỏa mãn, cho hưởng thụ cá nhân riêng mà đi đến bất cứ đâu cũng đều khen đứa con thành công của mình để cho giữa con cái chúng tỵ nạnh và rồi hiềm ghét nhau? … Thì quả là điều đau buồn cho một gia đình mà bậc làm cha mẹ đã nhắm mắt làm ngơ để cho tình anh chị em giữa chúng phải trở thành thù ghét nhau và hố sâu ngăn cách ngày càng không thể lấp lại được.

— Chúng ta thường chứng kiến sự chênh lệch này ở rất nhiều gia đình. Dù trong gia đình thứ bậc có rõ ràng là em út hay thân phận làm em nhưng nếu em có cơ may ăn ra làm nên; có nhiều tiền để giúp cha mẹ xây nhà cửa, sắm mua đủ mọi thứ xa xỉ trong nhà thì người con này hẳn nhiên luôn được cha mẹ nể nang, nhắc đến luôn và là đứa con rất ngoan, rất có hiếu đễ!?.

— Quả tiền bạc và danh vọng đã làm cho con người trở thành dị nhân, thưa có phải?

Chẳng phải vì chúng ta không biết nhưng là vì danh vọng, đồng tiền, quyền lực và những người sống bám vào chúng ta đã làm cho quen nghe những lời nịnh hót, tâng bốc, thổi phồng quá đáng nên cảm thấy đó là chuyện thường tình mà không còn cảm thấy dị người nữa.

— Riết rồi quen sống ăn trên ngồi trốc, tự tôn mà không biết rằng sau lưng mình có biết bao nhiêu người nguyền rủa, chửi mắng thậm tệ vì những gì mình đối xử không tốt với người thấp cổ bé miệng, làm dưới quyền của mình.

— Sự thật thì ở đâu chúng ta cũng gặp tình trạng này cho nên sự sống khiêm nhường và thương yêu mà Thiên Chúa dạy cho những anh chị em càng làm chức quyền cao bao nhiêu thì càng tội lỗi bấy nhiêu vì con người phàm tục luôn thích sống trong sung sướng và ghét chịu cực khổ.

— Vì ai cũng thích được ngồi trong nhà mát có máy lạnh; có người che dù cho mình khỏi bị nắng, khỏi bị mưa ướt lấm giầy mắc tiền … Mặc nhiên không thấy ai từ chối cả. Ai cũng thích đến nơi đâu thì có người đã chu đáo dọn sẵn cho phòng tốt để ở, có sẵn người phục dịch và có sẵn người lo lắng xe cộ. Để đi đâu cũng thoải mái dễ chịu có cơm ngon, giường ấm nệm êm, chung quanh có người phục dịch 24/24.

— Cho nên thật là khó vì càng cao chức trọng thì càng chóng mất linh hồn. Trong gia đình hay ngoài xã hội cũng thế. Trong giáo xứ hay trong giáo hội cũng thế. Có nghĩa sống tốt như Chúa Giêsu dạy để trở nên Thánh, quả có được mấy ai trong thế gian này?

— Vả ai cũng hiểu cuộc đời này có sống là bao? Ra đi cũng hai bàn tay trắng. Nhất là hành trang mang theo để đến một phương trời xa lạ, sẽ không có ngày trở lại mà chưa có chuẩn bị được một thứ gì cho xứng đáng để được Thiên Chúa chấp nhận cho cả.

— Giả sử Chúa đến gọi chúng ta đi ngay liền bây giờ thì có ai biết trước được chúng ta sẽ đi về đâu không? Có phải mới chợt nghĩ ra là Linh Hồn sống đời của mình mới là quý trọng hơn hết thảy? Chớ cuộc sống trần gian này nhiều lắm cũng cho ta sống đến 100 năm là cùng. Nên khuyên rằng ai đang sống mải lo thân xác mà ngoảnh mặt làm ngơ với người nghèo khổ thì sẽ mất Linh Hồn và Nước Trời … Thì quả là tiếc lắm thay!. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

6 tháng 9, 2020

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

Vị nữ tu Teresa thành Calcutta qua đời ngày 05.09.1997 đã được Hội Thánh tôn phong lên hàng Chân Phước ngày 19.10.2003, và ngày Chúa Nhật 04.09.2016 được tôn kính trên bàn thờ trong Hội Thánh Công Giáo là đấng Hiển Thánh.

Cuộc đời 87 năm trên trần gian của mẹ Thánh Teresa gắn bó với số phận của những người nghèo vừa về miếng ăn lương thực, quần áo, thuốc men chữ bệnh, nhà cửa, và vừa về gía trị nhân phẩm con người cùng đau khổ tinh thần của họ nữa.

  1. Gia đình, nôi nuôi dưỡng lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa mở mắt chào đời bên nước Albania, vùng phía Đông Âu châu, nằm trong liên bang Nam Tư Cộng sản cũ thời Thống Chế Tito.  Albania là một nước nhỏ đại đa số dân cư theo Hồi giáo, đạo Công Giáo chỉ là một thiểu số trong xã hội này.  Gia đình Mẹ Teresa là một gia đình khá giả nếp sống bậc trung lưu có cuộc sống hạnh phúc, theo đức tin Công Giáo truyền thống đạo đức.

Buổi sáng nào người mẹ gia đình Drana của Teresa cũng đều đưa ba người con của bà đi nhà thờ đọc kinh cầu nguyện dâng Thánh lễ.  Buổi chiều tối gia đình tụ tập lại lần chuỗi mân côi, dù bận rộn hay có khách.  Vì với gia đình đó là điều quan trọng hơn cả.

Ngay từ khi con còn nhỏ, người mẹ gia đình Drana đã dậy các con mình sống bác ái lòng thương xót theo phương hướng Phúc âm của Chúa: “Những gì các con làm cho một người bé nhỏ hèn mọn nhất trong các con, chính là các con làm cho Thầy” (Mt 25,40).

5,972 Mother Teresa Photos and Premium High Res Pictures - Getty Images

Rồi hằng tuần, người mẹ Drana của Teresa có thói quen thăm hỏi những người bệnh nạn trong khu phố, và mang cho những người nghèo quần áo cũng như thực phẩm cần thiết.  Bà muốn con mình ngay từ nhỏ đã biết cùng đồng hành với những người như thế.  Bà thường nói với các con mình: “Các con có phúc lắm, có nhà ở đẹp, có đầy đủ lương thực và quần áo.  Các không con thiếu gì.  Nhưng các con không được quên có nhiều người phải sống trong hoàn cảnh thiếu ăn, có những trẻ em không có quần áo, khi đau bệnh, chúng không có thuốc trị bệnh cần thiết để chữa bệnh.”

Đời sống gương sáng của người mẹ Drana đã ghi khắc dấu vết sâu đậm trong tâm khảm đời sống của Teresa ngay từ nhỏ.  Có lần Teresa lúc nhìn lại thời nhỏ còn ở nhà với mẹ mình đã tâm sự: “Tôi không biết phải nói gì hơn nữa, gương sống của mẹ tôi, hay nếp sống đạo đức chăm chỉ đi nhà thờ cầu nguyện của mẹ tôi đóng vai trò ảnh hưởng rất quan trọng cho ơn kêu gọi của tôi trưởng thành chín mùi.”  Chính trong bầu khí chan chứa lòng thương xót đó của gia đình với những người chung quanh Teresa đã lớn lên và trở thành vị Thánh, người mẹ lòng thương xót sau này giữa lòng xã hội con người.

  1. Con đường lòng thương xót

 Lúc Teresa lên 12 tuổi đã cảm nghiệm thấy mình có ơn kêu gọi vào sống tu trì trong nhà Dòng, và còn hơn thế nữa cảm nghiệm ra ơn kêu gọi trở thành một nhà truyền giáo sang Ấn Độ, bên Á Châu.

Năm 18 tuổi Teresa đã nói với mẹ mình và cha sở ý muốn đi truyền giáo sang Bengale bên Ấn Độ để cùng làm việc với các Cha Dòng Tên Chúa Giêsu đang sinh sống nơi đó.  Nhưng để thực hiện được ý muốn đó, Teresa phải nhập Dòng Đức mẹ Loreto ở bên Dublin nước Ái nhĩ Lan.  Các nữ tu dòng Đức mẹ Loreto thời đó cũng đang hoạt động truyền giáo bên Bengale.

Teresa nghe theo tiếng gọi con đường đó và trở thành nữ tu của Dòng Loreto, rồi năm 1928 được sai sang Ấn Độ đến vùng Himalaja sống thời gian nhà tập tu luyện, sau đó đến Calcutta học thêm và trở thành cô giáo môn lịch sử, địa lý trường trung học St. Mary’s High School của nhà Dòng.

Nữ tu Teresa làm công việc trí thức dạy học ở trường học nội trú với nhiệt tâm đầy đủ trách nhiệm, nhưng tâm hồn luôn nghĩ đến việc truyền giáo cho những người nghèo nhất nơi những người nghèo bên Ấn độ, mà vị nữ tu ngày đêm ấp ủ hoài bão lúc nào cũng mơ tưởng mong muốn được sống được làm.  Vị Nữ tu Teresa tâm sự: “Tôi là cô giáo, đây là một nếp sống mới với tôi.  Ngôi nhà trường nội trú này rất đẹp cùng thuận lợi cho các học sinh.  Tôi yêu thích việc dậy học.  Tôi chịu trách nhiệm trông coi cả nhà trường, các nữ học sinh yêu mến tôi…”

Nhưng trong khu nhà trường nội trú đó, vị nữ tu Teresa không gặp được một ai là người nghèo đói bị bệnh hoạn, bị bị bỏ rơi ngoài đường phố.

Ngày 10 tháng Chín 1946 nữ tu Teresa đáp xe lửa đi Darjeeling vùng phía Tây Bengale, nơi xưa kia Teresa đã sống thời gian nhà tập, đi tĩnh tâm.  Khi xe lửa đến nhà ga thành phố Calcutta, vị nữ tu cô giáo trường nội trú nhìn thấy tận mắt cảnh từng đám đông người nghèo, người đau khổ thiếu thốn nghèo khổ, bệnh tật đui què sống chen chúc vất vưởng ngoài đường, những bà mẹ trẻ bồng bế cõng con không quần áo trên lưng, trên vai ăn xin ngoài phố xá… thật là một cảnh hãi hùng thương tâm với vị nữ tu trẻ tuổi Teresa.  Tâm hồn vị nữ tu Teresa bồi hồi dao động vì cảnh tượng quá thương tâm như thế

Tâm hồn con mắt vị nữ tu Teresa càng mở ra to lớn hơn, và nữ tu Teresa đã có quyết định quay ngược lại với ơn kêu gọi mà chị đã cảm nghiệm được từ lúc còn ở quê nhà bên Albania: muốn trở thành nhà truyền giáo sống cho người nghèo khổ cùng cực bên Ấn Độ!

Chính mẹ Thánh Teresa sau này đã tâm sự nói về quyết định quay ngược lại tận căn rễ của mình: “Trong đêm hôm đó mắt tôi đã mở ra nhìn thấy cảnh thương tâm cùng cực của con người nghèo khổ xấu số, và tôi cảm thấy tận sâu thẳm sự gì là căn bản ơn kêu gọi của tôi.  Đó là tiếng gọi mới của Chúa nói với tôi, một ơn kêu gọi trong lòng ơn kêu gọi.  Chúa kêu gọi tôi không được từ bỏ đời sống là nữ tu, nhưng hãy thay đổi nếp sống.  Có thế mới phù hợp nhiều hơn với tinh thần phúc âm, với tinh thần truyền giáo, mà Chúa ký thác ban gửi cho tôi…  Tôi cảm nghiệm ra rằng Chúa muốn tôi bỏ nếp sống thanh bình yên lặng tiện nghi nhà Dòng của tôi, mà đi ra ngoài đường sống phục vụ những người nghèo khổ.  Với tôi sứ mạng đã rõ ràng: Tôi phải đi ra khỏi nhà Dòng và sống với những người nghèo khổ cùng cực.  Chúa đã gọi tôi đến sống với những người không có sự gì ở thành phố Calcutta này…. Cuộc tĩnh tâm của tôi ở Darjeeling là những ngày suy nghĩ về sứ mạng ơn kêu gọi mới của tôi, mà tôi đã tiếp nhận trên đường tới đây.  Sau đó về lại Calcutta, tôi quyết định thay đổi nếp sống đời tu.”  Con đường dấn thân cho lòng thương xót với con người cùng khổ, cùng đinh trong xã hội Calcutta bên Ấn Độ bắt đầu từ quyết định thay đổi ra đi đến với họ của mẹ Thánh Teresa.

  1. Nhà Dòng lòng thương xót: Dòng thừa sai bác ái.

Con đường thay đổi nếp sống của nữ tu Teresa để ra đi sống với và cho người nghèo cùng khổ không đơn giản dễ dàng.  Vì phải vượt qua những chặng thử thách có phép chấp thuận của nhà Dòng Loreto cho nữ tu Teresa ra đi, phép của Đức Giám Mục Calcutta, phép của Thánh bộ giáo sỹ tu sỹ bên Roma, và sau cùng phép phê chuẩn của Đức Thánh Cha cho mẹ Teresa lập Dòng mới như mẹ thỉnh nguyện xin.

Sau những năm tháng khảo sát điều tra, ngày 7.10.1950 Tòa Thánh đã phê chuẩn chấp thuận cho mẹ Teresa thành lập Dòng Thừa sai bác ái bên Calcutta Ấn Độ để giúp phục vụ người nghèo khổ cùng cực trong xã hội.

Thế là ơn kêu gọi phục vụ truyền giáo cho người nghèo của mẹ Teresa về phương diện pháp lý theo luật đạo thành sự.

Ơn kêu gọi hoài bão lòng mong ước đến sống truyền gíáo lòng thương xót giữa những người nghèo khổ, mà mẹ Teresa đã đón nhận ơn soi sáng từ Thiên Chúa nguồn tình yêu thương, giờ đây thành hiện thực cho đời mẹ.

Như các Dòng truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo, Dòng của Mẹ Teresa cũng có ba lời khấn: khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, ngoài ra Dòng còn buộc các chị em nữ tu lời khấn thứ tư nữa: sống vị tha bác ái thương người.

Mẹ Teresa, vị sáng lập Dòng Thừa sai bác ái tâm sự: “Chúng tôi có trách nhiệm bổn phận với lời khấn phục vụ cho hết mọi người không đòi hỏi thù lao được trả công.  Lời khấn này có nội dung là chúng tôi không làm việc phục vụ cho người giầu có, không làm việc vì thù lao tiền bạc, chúng tôi không được nhận tiền bạc thù lao.”

Dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Teresa chọn áo Sari dài phủ kín thân thể của phụ nữ Ấn Độ vẫn thường mặc hằng ngày.  Áo Sari mầu trắng bằng vải thô, bên vành áo có ba vạch mầu xanh da trời nói lên ý nghĩa mầu của bầu trời.  Phía bên trái áo Dòng Sari có gắn cây Thánh Giá Chúa Giêsu, để nhắc nhở người nữ tu nhớ đến Chúa Giêsu.

Mẹ Teresa cắt nghĩa về áo dòng Sari: “Chiếc áo Dòng Sari giúp người nữ tu cảm nhận mình là người nghèo giữa những người nghèo, nhận ra mình cũng là người bệnh tật đau khổ, là trẻ em, là những người già yếu bị bỏ rơi.  Và với chiếc áo Dòng Sari cùng chia sẻ đời sống không có gì thừa tự để lại cho thế giới.”

Chiếc áo Dòng áo Sari hèn mọn theo kiểu của người phụ nữ bình dân trong xã hội Ấn Độ nói lên sâu đậm căn tính lòng thương xót cùng đồng cảm với con người của Dòng Thừa sai bác ái do mẹ ThánhTeresa sáng lập.

  1. Dụng cụ lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa lúc còn sinh thời đã thuật kể lại về nhà Dòng Thừa sai bác ái phục vụ cho người nghèo, trẻ con, người bệnh tật bị bỏ rơi trên toàn thế giới: Dòng chúng tôi có 3.500 chị em nữ tu nơi 95 quốc gia với 445 nhà, chúng tôi càng cần thêm nhiều ơn kêu gọi nữa do Chúa gửi đến…

Chúng tôi là dụng cụ của Thiên Chúa.  Những công việc phục vụ cho bác ái tình yêu là những công việc phục vụ cho hòa bình.  Chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ về chính trị.  Chúng tôi chỉ muốn phục vụ giúp đỡ người nghèo khổ, vì họ cần đến tình yêu của chúng tôi…

Công việc dấn thân phục vụ người nghèo, người cùng khổ là chứng từ cụ thể cho đức tin.  Nó cắt nghĩa cho người người nghèo, người đau khổ về tình yêu Thiên Chúa trao tặng cho họ.  Ở Ấn Độ, một phóng viên người Hoa Kỳ quan sát tôi săn sóc người bệnh bị bệnh da lở loét rất nguy hiểm, anh ta nói với tôi: “Dạ, việc như vậy dù có cho tôi một triệu Mỹ kim, tôi cũng không làm!”  Tôi nói lại ngay: Đúng thế, tôi cũng chẳng làm dù có được một triệu Mỹ kim!  Nhưng tôi làm vì tình yêu Chúa.  Người nghèo khổ bệnh tật này với tôi là thân thể Chúa Giêsu Kitô…  Anh phóng viên nghe thế đứng yên lặng rất mủi lòng cảm động, và hiểu nhận ra sức mạnh nào đã kêu gọi cùng thêm sức nâng đỡ việc làm của chúng tôi…

Chúng tôi luôn nỗ lực cố gắng tìm đến nơi có những người lâm vào hoàn cảnh đau khổ mà không có ánh sáng niềm hy vọng.  Đó là nơi những người nghèo khổ, đói khát và bị bệnh tật, nhất là những người bị bỏ rơi sinh sống vất vưởng.  Chúng tôi đến những nơi đó do Chúa sai đến và chỉ cho chúng tôi việc phải làm…

Với Mẹ Thánh Teresa và Dòng của Mẹ, cầu nguyện với Chúa là suối nguồn kín múc sức mạnh cho việc làm bác ái lòng thương xót con người mà Chúa gửi sai đến: “Ngày sống làm việc của chúng tôi đặt trên căn bản cầu nguyện.  Dòng chúng tôi là Dòng chiêm niệm ở giữa lòng trần gian.  Vì thế cầu nguyện là căn bản đời sống nhà Dòng.  Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện khắp mọi nơi đang khi làm việc cũng như lúc đi dọc đường.  Nếu chúng tôi không liên lỉ sống kết hợp với Chúa, chúng tôi đâu có thể có sức lực để sống dấn thân hy sinh phục vụ được.”

Khi người ta xin Mẹ tấm thẻ địa chỉ của Dòng, Mẹ Thánh Teresa rút trong túi áo Dòng Sari ra một mảnh giấy nhỏ rẻ tiền mầu xanh, trên có in dòng chữ bằng tiếng Anh:

“Chúa Giêsu vui mừng hạnh phúc đến với chúng ta,
khi sự chân thật muốn được loan truyền,
khi sự sống muốn được cho bừng lên chỗi dậy,

khi ánh sáng muốn được bật chiếu tỏa lan ra,
khi tình yêu muốn được yêu mến,
khi niềm vui muốn được tiếp tục cho đi,
khi hòa bình muốn được xây dựng lan tỏa gieo rắc.”  (Mẹ Teresa)

Xin Mẹ Thánh Teresa cầu cho chúng con!

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

CHẤT CHỨA CỦA CẢI TRẦN GIAN CÓ CHẮC ĐƯỢC VÀO THIÊN ĐÀNG KHÔNG?

CHẤT CHỨA CỦA CẢI TRẦN GIAN CÓ CHẮC ĐƯỢC VÀO THIÊN ĐÀNG KHÔNG?

Tuyết Mai

— Của cải vật chất chỉ cho chúng ta hạnh phúc tạm thời, thỏa mãn được thân xác nhưng hầu hết chúng ta không ai dại gì mà từ chối nếu có cơ hội để làm giàu còn những lời lý lẽ biện minh, lời nghe ra vẻ đạo đức thì thực tế chỉ vì chúng ta chỉ đủ ăn và không có dư.

— Mà rất thường tình nếu ai vô tình tìm được ngọc quý trên thửa ruộng của người thì cũng im lặng giấu đi để rồi tìm cách đi vay mượn tiền để mua cho được thửa ruộng ấy vì đó là cái khôn ngoan của người trần gian là vậy. Nhưng hậu quả của sự làm giàu từ của người khác mà không do tự mình đổ mồ hôi làm ra thì rồi cũng sẽ cho chúng ta nhiều phiền phức.

— Vì chúng ta đã chọn bỏ mọi thứ quý trọng hơn là của cải đó là nhân cách con người, trái tim biết rung động trên người bất hạnh và Linh Hồn sống đời của chúng ta chỉ để cho có được những cái vật chất rất bề ngoài như ráng mua xe mắc tiền; quần áo, giầy ví, đồng hồ, nữ trang, v.v… tất cả đều phải là tên hiệu nghe rất kêu thì mới thỏa lòng.

— Nhưng thực tế phũ phàng cho thấy người càng giàu bao nhiêu, sống trong lâu đài lộng lẫy như một vị vua (dù là vua trong vùng nhỏ như các ông lớn ở VN ngày nay) thì những người này chắc chắn họ không thể có hạnh phúc được đâu vì thiếu sự ấm áp, thiếu tình thương gia đình nếu có thì mọi người cũng chẳng ai quan tâm đến ai đâu.

— Tâm hồn của họ thì luôn cảm thấy trống rỗng, vô vị và vô nghĩa vì của cải vật chất chúng không thể mang lại cho chúng ta một trái tim biết yêu thương hay muốn chia sẻ cho ai. Như trong các phim bộ tình cảm xã hội cho chúng ta thấy những nhân vật chính giàu có thì thường họ phải mượn rượu uống cho say để giải sâu; thêm chích choác để cảm được những ảo tưởng lâng lâng sung sướng mà đời thường không cho được.

— Có phải của cải vật chất đã biến con người chúng ta tự nguyện muốn trở thành nô lệ muôn đời cho những thứ mà chúng ta ao ước để có như được làm minh tinh, ca sĩ hay những nhân vật nổi tiếng mà ngày ngày bị stress, chạy quần quật đừ người để làm show y như con chuột chạy vòng quanh trong chiếc lồng mà thỉnh thoảng chúng ta nghe tin là họ tự tử chết.

— Nhưng có phải dòng đời là những mời gọi, là những đam mê của thế gian mà chúng quỷ thôi miên hay bỏ bùa ngải trong đồ ăn thức uống nên có mấy ai nhận ra là mình đang dần trở thành nô lệ cho chúng đâu; nên rất vui vẻ để ký giấy hợp đồng tự nạp mình để chúng sẽ hứa cấp cho thuốc nghiện để dùng suốt cả đời.

— Do đó mà chẳng ai thấy được rằng của cải vật chất là vô nghĩa, bạc bẽo và giết chết người bất cứ lúc nào. Nguy hiểm nhất là chúng quỷ đã nắm lỏng linh hồn sống đời của chúng ta và dần đưa chúng ta đến gần tới miệng của Hỏa Lò mà nào có thấy biết.

— Của cải vật chất đã làm cho chồng vợ nhanh chóng bỏ nhau; gia đình tan nát. Vợ chồng đã thế thì thử hỏi các con chúng sẽ sống ra sao?. Đã thế mà hằng ngày chúng con cái học bắt chước theo những gương mù gương xấu của cha mẹ để rồi chúng cũng sẽ đi theo y con đường xấu xa tương tự ấy … là tự dẫn thân mình đi tìm đến chỗ chết muôn đời.

— Thử hỏi từ một gia đình như thế thì cả một xã hội sẽ đi về đâu? Còn đâu là sự sống cho đúng nghĩa với những gì Thiên Chúa mong mỏi trông đợi ở nơi tất cả con cái của Người?. Còn đâu là hạnh phúc đích thực?. Là Con Đường dẫn đến Nước Trời, Nơi có sự sống hạnh phúc muôn đời?.

— Lạy Mẹ Maria, Mẹ hiền mẫu của chúng con – Xin thương giúp chúng con có được con mắt Đức Tin để thấy được những sự ác độc thâm hiểm của bóng tối nhất là khi màn đêm buông xuống. Giúp chúng con siêng năng lần Chuỗi Mân Côi và đọc Lời Chúa … Là hai bửu bối quan trọng luôn gìn giữ thân xác và linh hồn sống đời của chúng con, cách an toàn nhất.

— Nhờ có Mẹ mà chúng con hết thảy sẽ có được cuộc sống yên hàn hơn, kiên nhẫn hơn trong sự chờ đợi ngày Chúa đến đón chúng con ra khỏi cuộc đời này và thưởng ban cho được lên Trời với Chúa. Xin Mẹ Maria tiếp tục giúp chúng con cố gắng từng ngày để sống trong yêu thương, hy sinh và tha thứ cho nhau cùng vác Thánh Giá đời mình. Để mỗi bước đi của chúng con sẽ luôn có Ánh Sáng Chúa chỉ ra con đường về Nhà Chúa ngày càng rõ nét hơn. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

2 tháng 9, 2020

————————————————

Xin bấm vào mã số dưới đây để hát theo:

Đường Về Thiên Đàng

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem . Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20).  Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình.  Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.  Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu?  Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không?

Phêrô
Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó.  Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia.  Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma.  Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma.  Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê
Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp.  Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X.  Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)
Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo.  Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh.  Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2).  Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này.  Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela.  Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan
Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo.  Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su.  Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9).  Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê
Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên.  Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô
Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô.  Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau.  Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.

Tôma
Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ.  Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi.”  Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)
Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài.  Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải  trước khi tử đạo ở Êthiopia.  Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)
Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.  Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô
Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi.  Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.”  Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng.  Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành
Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai người cùng nhau giảng đạo như một cặp.  Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm.  Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia
Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi.  Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó.  Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.
________
Chú thích:
(1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa.  Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu.  Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi).  Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên.  Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra.  Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.  Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi.  Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên.  Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa.  Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình.  Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng.  Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5.  Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”.  Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên.  Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm!  Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau.  Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài.  Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

12 Tong Do 2.jpg

KHÔNG BAO GIỜ THẤT VỌNG VỀ AI, BỎ MẶC AI

KHÔNG BAO GIỜ THẤT VỌNG VỀ AI, BỎ MẶC AI

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến Giêrêmia, vị ngôn sứ thời Cựu Ước và Gioan Tẩy Giả, ngôn sứ thời Tân Ước.  Thật tương đồng khi cả hai vị được sai đến với vua dân của mình để nói cho họ điều Thiên Chúa muốn, rằng, như một người cha giàu lòng thương xót, Thiên Chúa không ngoảnh mặt làm ngơ trước sự cố chấp của con người.  Đấng không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai; Người làm hết sức có thể để đưa tội nhân trở về.  Đó cũng là chi tiết chúng ta dừng lại hôm nay.

Thời Giêrêmia, dân chúng tưởng chu toàn lề luật là đủ, họ buông mình làm điều trái mắt Chúa.  Người sai Giêrêmia, “Ngươi hãy thắt lưng, chỗi dậy, nói cho họ biết tất cả những gì Ta truyền cho ngươi.  Đừng run sợ trước họ.”  Giêrêmia nói, rồi đây thành thánh sẽ hoang tàn, dân sẽ lưu đày nếu cứ phản nghịch.  Lời ông bị coi là phạm thượng, dân mưu sát ông đến mấy lần; ông chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.  Dẫu thế, Giêrêmia vẫn mạnh mẽ đến cùng.  Chính Thiên Chúa ban cho ông sức mạnh chỉ vì Người hằng xót thương dân.  Các học giả cho biết, Giêrêmia can trường thi hành sứ vụ những sáu mươi năm; quả Chúa không bỏ mặc dân, Người không hề không thất vọng.

Chẳng khá hơn thời Giêrêmia, xã hội thời Gioan cũng ví tựa vũng bùn khi tôn giáo bị lãng quên, phong hoá ra suy đồi, điển hình như việc Hêrôđê lấy vợ anh mình.  Giữa vũng bùn tanh hôi đó, Gioan xuất hiện như một đoá sen ngát hương, kêu gọi vua tôi trở về, “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”; “Vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình.”   Và hệ luỵ là một cái chết oan khốc của một nhân cách phi thường trong ngày sinh nhật của một ông vua tầm thường; rượu nồng hoà với máu tươi, bánh thơm dọn với thịt người.  Tất cả chỉ để thoả dạ một người tình nham hiểm của một vị vua ngông cuồng.  Một vị thánh đã chết tức tưởi, vô duyên, khởi từ một điệu múa dáng duyên của một cô bé có duyên, con của một bà mẹ sắc duyên.

Thế mà câu chuyện buồn nhất, thê lương nhất ấy lại hé lộ một niềm vui và niềm hy vọng lớn nhất, rằng, Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai; Người làm hết sức có thể để đưa tội nhân trở về.  Thánh Marcô viết, “Hêrôđê biết Gioan là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông.  Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.”  Do sự yếu kém luân lý đạo đức, Hêrôđê, người rất muốn gặp Chúa Giêsu, vẫn sống trong tội; thế nhưng, tiếng chuông dóng lên từ Gioan vẫn chạm được lương tâm ông, khiến ông phải phân vân và bối rối; điều đó cho thấy ân sủng của Thiên Chúa đang khuấy động lòng vua; Thánh Thần của Người đang lay chuyển trái tim ông, chỉ cho ông biết tội mình, hầu tìm về con đường sáng.  Gioan biết, điều mình nói sẽ dẫn Gioan đến cái chết nhưng Thiên Chúa đã ban sức mạnh để Gioan chiến thắng; lòng thương xót của Thiên Chúa không cho phép Gioan rút lui cũng chỉ vì Người không bỏ mặc tội nhân nhưng ban ân sủng và Thánh Thần để mỗi người có cơ hội trở về.

Vì thế, đừng ai đánh mất hy vọng về chính mình hay về bất cứ một ai xem ra đang hư mất, đang ngấp nghé cửa hoả ngục hay đang ngụp lặn trong tội.  Nếu là chính mình, với lòng sám hối, hãy trở về; nếu là người khác, chúng ta tiếp tục yêu thương, cầu nguyện, đợi chờ và nói cho tội nhân biết điều Thiên Chúa muốn.  Đó sẽ là một cuộc trở về trọn vẹn Thiên Chúa đang chờ mong, cả triều thần thánh thiên đàng đang chực ùa ra để vỗ tay và reo hò.  Thiên Chúa có thể thay lòng đổi dạ những tội nhân khốn cùng nhất vì Người là Đấng xót thương, không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai.

Anh Chị em,

Thật tiếc cho Hêrôđê, chỉ một chút xíu nữa, một chút thiện chí cuối cùng, để ông không đổ máu đấng thánh vô tội và không đánh mất linh hồn mình.  Và nếu Thiên Chúa đã sai Gioan đến với một vị vua thời Tân Ước thì hơn 1,000 năm trước đó, Thiên Chúa cũng đã sai một người đến với một vị vua khác của thời Cựu Ước nhưng câu chuyện kết thúc đẹp đẽ hơn, có hậu hơn với nhiều tình tiết tuyệt vời để chúng ta biết rằng, Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai.  Đó là câu chuyện Nathan đến với vua Đavít.  Tội của Đavít còn tầy đình hơn, Đavít đã cướp vợ và giết người trước khi Nathan đến; Hêrôđê chỉ mới cướp vợ nhưng chưa giết người trước khi Gioan đến.  Chỉ khác một điều, Đavít có mà Hêrôđê không có, đó là thiện chí cuối cùng; qua Nathan, Đavít kịp nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa, vua đã sám hối ăn năn khóc lóc thảm thiết và lòng thương xót của Thiên Chúa một lần nữa lại dẫy đầy để thứ tha tất cả.  Thiên Chúa không thất vọng về ai, bỏ mặc ai cũng là Đấng trở thành nguồn cảm hứng cho Đavít để thế gian có một kho tàng Thánh Vịnh vô giá của một thánh vương vốn đã từng là một đại tội nhân, đặc biệt với kiệt tác vô thời gian của ngài là Thánh Vịnh 50 mà chúng ta có thể nghêu ngao mỗi khi làm việc đền tội, nếu muốn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Hôm nay ngày thứ bảy, con hướng lòng về Đức Mẹ là “Đức Bà bầu chữa kẻ có tội”, xin Mẹ giúp con; nhờ ơn Chúa, con sẽ biến tội nên hồng phúc; xin đừng để con tội chồng tội, vì Chúa không bao giờ thất vọng về ai, bỏ mặc ai,” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

THEO THẦY GIÊSU

THEO THẦY GIÊSU

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu cẩn thận.  Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được.  Nó mới nghĩ ra một cách: nhịn đói để gầy bớt đi.

Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng.  Nó vào được trong vườn nho.  Sau khi ăn uống no nê, con chồn mới khám phá rằng nó đã trở nên quá mập để có thể chui qua lỗ hổng trở lại.  Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.

Thoát ra khỏi vườn nho, nó nhìn và suy nghĩ: “Hỡi vườn nho, vào trong nhà ngươi để được gì?  Bởi vì ta đã đi vào với hai bàn tay không, ta cũng trở ra với hai bàn tay trắng.”

Khi bước vào trong trần thế này, con người muốn mở rộng bàn tay để chiếm trọn mọi sự.  Khi nhắm mắt xuôi tay, cũng đành phải ra đi với hai bàn tay trắng mà thôi.

Chúa Giêsu dạy các môn đệ: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi gì?”  Xuất thân từ bụi đất, con người rồi cũng trở về với đất bụi.  Chỉ có sự sống vĩnh cửu mới tồn tại muôn đời.

Chúa Giêsu còn dạy rằng: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy.”  Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất.  Không phải cứ thu vào là được, buông ra là mất.  Trái lại, nhiều khi phải chịu mất trước, rồi mới được sau.  Mất nhỏ để được lớn.  Mất ít để được nhiều.  Sống ở đời ai cũng tranh phần được và không muốn mất.  Vấn đề là phải xác định xem đâu là cái được thực sự, lâu bền, trọn vẹn, đâu là cái được quan trọng nhất, cần thiết nhất.  Kitô hữu là người say mê cái được vĩnh cửu, vì thế họ chấp nhận những mất mát tạm thời.  Họ tin rằng cuối cùng chẳng có gì mất cả.  Mọi sự, nếu họ mất vì Thầy Giêsu, thì họ sẽ được lại.  Mất tạm thời để giữ được mãi mãi.  Từ bỏ chính mình là để tìm lại cái tôi trong suốt hơn, ngời sáng hơn.

Chúa Giêsu cũng quả quyết: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo.”  Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, phải “đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”  Theo Thầy không phải để vinh thân phì gia.  Theo Thầy để tìm một lẽ sống cho cuộc đời, vì Thầy là con đường dẫn về nguồn sống là Chúa Cha.  Thầy là sự thật giải thoát muôn dân.  Muốn theo Thầy, không những phải “từ bỏ chính mình”, tức là “tư tưởng của loài người”, mà còn phải mang thân phận như Thầy với thập giá riêng trên vai.  Thực tế, theo hay không theo Thầy, con người vẫn không thoát khỏi khổ giá.  Nhưng nếu theo Thầy, môn đệ sẽ tìm được hướng giải thoát.  Muốn theo Thầy “anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).

Theo Thầy Giêsu là đi vào con đường từ bỏ.

Từ bỏ là một quy luật.

– Quy luật của sinh tồn: có nhiều thứ nếu ta không chịu bỏ, thì ta sẽ chết.  Chẳng hạn ta có một khúc chân đang bị hoại tử.  Nếu không cắt bỏ nó đi thì chứng hoại tử sẽ lan dần đến toàn cơ thể làm ta phải chết.

– Quy luật của phát triển: cơ thể ta hằng ngày hằng giờ hằng phút đều bỏ đi những chất thải, bỏ đi một số tế bào già nua để thu nhận vào những chất dinh dưỡng, để sinh những tế bào mới.  Nhờ đó, cơ thể lớn dần lên.  Trong quá trình phát triển, con người phải đi qua từng giai đoạn, bỏ đi đứa bé sơ sinh, đứa trẻ con ấu trĩ… có thế mới phát triển dần thành người lớn.

– Quy luật của cải thiện: cải thiện là bỏ đi những cái chưa tốt để lấy vào những cái tốt hơn.

– Quy luật của tiếp nhận: có bỏ thì mới có nhận.  Thí dụ ta có một cái chai đang đựng nước.  Muốn có một lít rượu thì trước hết phải đổ bỏ một lít nước kia ra khỏi cái chai.

Chẳng những phải bỏ bớt, bỏ cái này, bỏ cái kia… mà có khi phải bỏ hoàn toàn, bỏ tất cả nữa.  Chẳng hạn chiếc xe gắn máy của tôi đã hư quá nặng, nếu tiếp tục sử dụng thì có ngày sẽ gây tai nạn, có sửa bộ phận này, bộ phận khác cũng không bảo đảm an toàn.  Vì thế tôi phải bỏ hẳn để mua một chiếc xe khác. (sợi chỉ đỏ).

Làm môn đệ Thầy Giêsu là làm một người khác hẳn, cho nên không lạ gì khi Người bảo chúng ta phải “từ bỏ mình.”  Cái phần “mình” được bỏ đi bao nhiêu thì cái phần “Chúa” được gia tăng bấy nhiêu.  “Từ bỏ mình” hoàn toàn thì sẽ trở thành “Kitô khác” hoàn toàn.

Như thế, từ bỏ nhưng không mất, mà lại được; không thiệt thòi mà lại có lợi hơn.

Theo Thầy Giêsu là đi vào con đường sự sống

 Theo Thầy Giêsu là đi vào con đường thánh giá dẫn đến phục sinh.  Con đường từ bỏ là con đường dẫn đến vinh quang.  Phải qua sự chết, mới đến sự sống.  Phải qua tủi nhục, mới đến vinh quang.  Phải qua gian khổ, mới đến hạnh phúc.  Khi mời gọi “Hãy theo Thầy”, Chúa muốn chúng ta triển nở đến viên mãn.

Theo Thầy Giêsu, các môn đệ bị người đời chê là khờ dại vì sống từ bỏ và vác thập giá hàng ngày.  Thế nhưng họ vui mừng sống một nghịch lý căn bản “mất mạng sống mình vì Thầy.”  Con người ta cứ tưởng rằng, chiếm hữu càng nhiều thì càng làm cho mình giàu có thêm.  Thực ra, chẳng có gì quí hơn mạng sống.  Nhiều người đánh đổi mạng sống để có của cải vật chất.  Thực tế chưa ai giàu có đến nỗi làm chủ được cả trần gian.  Nhưng “nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?  Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16,26).  Chỉ một cách duy nhất có thể tìm lại được mình là “mất mạng sống mình vì Thầy” (Mt 16,25).  Như thế, phải chăng Thầy có sức thu hút khiến người ta không thể cưỡng lại được?  Giống như ngôn sứ Giêrêmia, họ phải thốt lên: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.  Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng” (Gr 20,7).  Thầy có sức quyến rũ mãnh liệt, vì đã vận dụng được nghịch lý của cây thập giá để “ngày thứ ba sẽ chỗi dậy” (Mt 16,21) từ cõi chết.  Cả thế giới cũng không đem lại sự sống.  Chỉ một mình Thầy mới có thể làm cho người môn đệ “tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25), vì Thầy là “sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25).  Bởi thế, Thầy có sức quyến rũ hơn cả vũ trụ vì Thầy là “con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

Lời Chúa hôm nay gởi đến cho chúng ta sứ điệp: từ bỏ không phải để mất, mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội.  Mất hiện tại, để được tương lai.  Mất đời này, để được đời sau.  Mất phàm tục, để được thần thiêng.  Mất tạm bợ, để được vĩnh cửu.

Thánh Phanxicô Assisi đã cảm nghiệm sâu xa chân lý này nên đã thốt lên lời ca bất hủ: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh.  Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.  Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.  Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”

Các vị tử đạo là những người say mê sự sống, đến nỗi dám chấp nhận cái chết.  Các ngài coi trọng sự sống vĩnh cửu của mình hơn cả thế giới phú quý vinh hoa.

******************************************

“Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn.

Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày, thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy chúng con biết rằng, chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình và những ước muốn ích kỷ.

Ước chi từ nay, không gì có thể làm cho chúng con khổ đau và khóc lóc chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa Phục Sinh.

Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn; xin lấy niềm vui của Người mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất giữa chúng con.  Amen.” (Mẹ Têrêxa Calcutta).

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Follow-Jesus - CardBanner.jpeg

SỐNG TIẾT ĐỘ BIẾT KIỀM HÃM THÂN XÁC, BIẾT CHIA SẺ ĐỂ CÓ ĐƯỢC NƯỚC TRỜI


SỐNG TIẾT ĐỘ BIẾT KIỀM HÃM THÂN XÁC

BIẾT CHIA SẺ ĐỂ CÓ ĐƯỢC NƯỚC TRỜI

Tuyết Mai

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Con người chúng con từ xưa đến nay nếu cho sống Tự do quá thì thành ra trác táng, lêu lổng, không theo một nguyên tắc hay luật lệ nào cả và thường cho kết quả dẫn đến bi thảm, bệnh tật, và chết tức tưởi. Do đó nếu chúng con có được Tự Do và biết cách sống tương đối thì tất cả đều được thoải mái nhất là cái Tự Do của mình không được dẫm lên Tự Do của người khác.

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Ở ngoài xã hội thì thông thường ai ai cũng phải tôn trọng Pháp Luật và phải tuân theo cách triệt để, nếu không thì tất cả mọi nơi trong Nước sẽ nổi loạn và bất an. Câu “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” ai cũng hiểu được câu nói ấy nhưng nếu “Tề gia” không xong thì “Trị Nước” làm sao đặng được?. Chỉ trong gia đình có bấy nhiêu người mà hằng ngày đã có bao nhiêu chuyện xung khắc, bao nhiêu nạn giải không có được một ngày bình yên.

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Ước mong những người có cuộc sống khá giả như hàng triệu phú, tỷ phú họ luôn là người biết kính sợ Thiên Chúa và có lòng bác ái. Biết kiềm hãm bản thân thì ắt họ sẽ được Nước Trời cách không khó, phải không thưa Mẹ Maria ơi!. Còn với người thường dân thì hiểu rằng ai được Chúa ban cho có thì chỉ mong cho có được hằng ngày dùng đủ, có phương tiện để sống và để giúp đỡ cho những người bất hạnh sống ở chung quanh.

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Xin giúp chúng con ngày nào còn sống ở trần gian này nếu có cơ hội thì nên cho người lời an ủi, lời khuyến khích lẫn nhau nhất là cha mẹ cần lắm để khuyến khích con cái. Có thế thì xã hội sẽ nên tốt lành hơn. Có thế thì nhiều người có được sự an ủi, chịu đựng và chấp nhận dù tình huống có trở nên xấu trong hiện tại hay sẽ có ở trước mặt.

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Còn điều kiện để được vào Nước Trời thì có phải Thiên Chúa còn cho con người một thứ Tự Do trên cả sự Tự Do của mọi dân nước trên thế giới. Người đã hằng ban cho chúng con một thứ Tự Do mà chỉ đòi hỏi chính từng người học biết để kiềm hãm sự Tự Do của chính mình?. Người là Thiên Chúa Đấng quyền năng vô cùng ấy vậy mà Người đã không trói buộc ai phải biến thành một Nô Lệ trước một Thiên Chúa vô cùng uy nghi và đầy quyền phép.

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Người vô thần đã lên tiếng cho rằng Thiên Chúa Người đã cố tình làm ra những thiên tai để giết chết biết bao nhiêu con người trần gian tội lỗi. Nhưng lý do là có nhiều tài phiệt giàu có nhất nhì thế giới đã mua chuộc được những người lãnh đạo quốc gia cố chấp nói rằng nguồn thiên nhiên không bị thương tổn hay không bị nhiễm chất độc hại do con người thải ra. Chỉ buồn cho những người nghèo khổ, thấp cổ, bé miệng.

— Lạy Mẹ Maria thân thương!
Rất yêu dấu của chúng con! Trong tâm tình cố gắng sống một cuộc đời lành mạnh xin Mẹ Maria giúp hết thảy chúng con biết chọn Chúa để được hằng ngày dùng đủ. Để có được hạnh phúc trong gia đình là được sống bên vợ, chồng và con cái …. Luôn biết sống yêu thương, quan tâm và lo lắng cho nhau. Mà đáng lý ra ai có gia đình cũng cần phải có được.

— Quả con người chúng con sống phức tạp quá! Khi còn là độc thân thì hằng ngày cầu nguyện cùng Chúa để xin cho có được một mái ấm gia đình …. Nhưng khi có rồi thì lại hướng ngoại và làm cho cái mái ấm gia đình nó trở thành tan nát và biến thành cái Hỏa Ngục. Dẫu biết rằng “Nhân vô thập toàn” nhưng không có nghĩa người thì trước sau như một, còn người thì có lòng dạ thay đổi là sao?.

— Do đó thật không khó cho chúng con thấy được khoảng cách bao xa giữa Nước Trời và Hỏa Ngục? Chúng con cần phải nhớ là Thiên Chúa ban cho từng người có Tự Do để chọn Chúa hay không chọn Chúa. Nên có nhất quyết chọn cuộc sống dù có thiếu đi một chút, cố gắng hơn một chút, hy sinh thêm một chút, nhường nhịn thêm một chút để gia đình có được thuận hòa. Có được gương tốt để con cái chúng học bắt chước theo.

— Thì Thiên Đàng đâu còn bao xa nữa phải không thưa Mẹ Maria yêu dấu của chúng con ơi!!! Amen.

Y tá con của Chúa,
Tuyết Mai
25 tháng 8, 2020

CÓ DỄ LẮM KHÔNG CON ĐƯỜNG LÊN TRỜI?

CÓ DỄ LẮM KHÔNG CON ĐƯỜNG LÊN TRỜI?

Tuyết Mai

— Chẳng ai trên đời mê tìm kiếm của cải, sống gian xảo, hãm hại người lại nghĩ rằng mình lành thánh đến độ đứng ưỡn ngực cách kiêu ngạo như ông pharisêu đứng trong nhà thờ kể công với Chúa là ông luôn tròn trách nhiệm và bổn phận đối với Thiên Chúa chớ không như người thu thuế tội lỗi đứng ở cuối nhà thờ kia; người mà ông muốn ám chỉ ấy là phường thu thuế tội lỗi luôn đắc tội với Chúa và với hết thảy mọi người.

— Nhưng quả thật, ngay chính họ, cả hai đâu có biết ai có cơ hội lên Trời cách chắc chắn đâu nếu cả hai cùng chết trong một ngày!? Cuộc đời trần thế và tình yêu Thiên Chúa thật khác nhau một trời một vực. Vì Đường Hướng và Nước Trời của Thiên Chúa đi ngược hẳn với cuộc sống nơi trần gian này. Dễ hiểu nhất là Đường Lên Trời thì chúng ta phải được nhẹ nhõm thanh thản, giống như trẻ sơ sinh khi mới được sinh ra đời.

— Có nghĩa ai muốn được lên Trời thì cần phải học buông bỏ mọi thứ ở trước cánh cổng thành Nhà Chúa (thời La Mã xưa). Mà đường vào Đền Thánh Chúa còn rất xa không thể đi bộ được, cần phải có lạc đà cỡi người ta đến đó. Nên người ấy phải có quyết định là bỏ lại mọi thứ trên lưng con con lạc đà thì nó mới có thể lọt qua được cái cổng nhỏ xíu. Điển hình nhất là các tông đồ đã quyết tâm từ bỏ mọi sự mà theo Chúa như điều kiện đòi hỏi khó khăn của các dòng tu.

— Đó là 3 lời khấn: Vâng Lời, Khiết Tịnh và sống khó nghèo. Thiết nghĩ giáo dân ai có thể theo được thì quý lắm thay! Vâng cũng giống với hình thức mà Chúa Giêsu ao ước muốn cho các môn đệ của Chúa sống trọn một cuộc đời phục vụ và yêu thương. Là các con hãy Ra Đi (từng cặp một) chớ có mặc 2 áo, chớ có mang theo bao bị, chớ mang theo bạc tiền và đến nhà nào thì chỉ ở nhà nấy, họ cho ăn gì thì biết ăn nấy vì ai làm việc Nhà Chúa thì sẽ được thưởng công.

— Cứ dựa trên đường lối mà Chúa Giêsu tuyển chọn các tông đồ của Ngài thì trong mọi thời đại không khó để không nhìn ra những ai bám bên mình những của cải trần gian; chúng ta thấy rõ là họ nặng nề lắm lắm. Nào xe, nào lap top, phôn loại hiện đại nhất, có người hầu kẻ hạ; đi theo cầm dù để che nắng che mưa và có lỉnh kỉnh bao nhiêu thứ khác mang theo bên mình rất không cần thiết.

— Thời gian cuối của một đời người thiết tưởng sẽ có 2 nhóm người rất rõ rệt là vì họ tham của cải mà chịu ở lại để chết với cái của cải của họ. Và một nhóm người biết quý mạng sống của mình thì quyết định bỏ lại tất cả để được thảnh thơi đến một vùng đất mới có sữa và mật ong. Cũng giống như thời di cư vào năm 54 và năm 75 vậy. Những người này họ đã sáng suốt quyết định Bỏ Lại tất cả để có cuộc đời thăng hoa mà giờ đây cả 3 thế hệ đều sống thật hạnh phúc trong ấm no.

— Nhưng để tóm gọn thì Thiên Chúa cho chúng ta sự hiểu biết cách đơn giản không có khó để hiểu lắm đâu, vì khó hiểu sao được khi Chúa toàn dùng những dụ ngôn về ruộng nương và về cuộc sống dân dã để dạy dỗ con cái Chúa …. là Đường lên Trời đòi hỏi con người luôn sống cậy dựa vào một Thiên Chúa Đấng duy nhất chúng ta phải tôn thờ, còn mọi thứ khác Người sẽ ban cho và định liệu cho tất cả. Cách thích hợp và hay nhất cho từng người, từng khả năng mà Chúa thấu biết.

— Chúa muốn vô cùng cho xác thân chúng ta luôn được nhẹ nhõm và sống thoải mái. Chúa chưa bao giờ để con cái người phải bị đói bao giờ vì sao đói được nếu chúng ta ra công sức mà làm việc như người được mời vào làm Vườn Nho cho Chúa hay như nghề sống hèn mọn của thánh cả Giuse và Chúa Giêsu sống về nghề thợ mộc.

— Có làm thì mới có lương. Có làm thì mới là người hữu dụng cho chính bản thân mình. Có làm thì gia đình mới có được ấm no hạnh phúc và được Chúa ban cho hằng ngày dùng đủ. Có làm thì mới có dư để mà giúp đỡ cho những người không có vì họ không có khả năng như người bình thường. Và có làm thì mới hiểu sự bất công của những người bị chủ đì và bị đầy đọa, đánh đập cách dã man, v.v…

— Lạy Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại, xin giúp hết thảy chúng con nhận ra đâu là giá trị của bản thân và của linh hồn sống đời của chúng con. Ích chi khi chúng con cứ mãi tích lũy và sống như người gian ác. Ích chi để chúng con sở hữu những gì mà chúng con không cần đến. Ích chi để lòng dạ chúng con chỉ tham muốn tích góp của người vào cho đầy lẫm của mình… NHẤT LÀ ở thời buổi của dịch bệnh Covid-19 này… Mà mất linh hồn và cuộc sống đời đời trên Thiên Đàng. Amen.

Y tá con của Chúa,
Tuyết Mai
22 tháng 8, 2020

ĐI SAU CHÚA

ĐI SAU CHÚA

 LM Phêrô Bùi Quang Tuấn

Đang khi dân chúng còn mù mờ về vai trò và con người của Đức Giêsu thì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi đã mạnh mẽ tuyên xưng: “Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Phêrô được khen là có phúc vì nhận được mạc khải từ trên cao.  Thế nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, chính Phêrô lại bị Thầy mình trách là “Satan” vì lòng dạ tăm tối, chỉ “hiểu biết những sự thuộc về loài người” và đang “làm cớ cho Thầy vấp phạm.”

Phêrô tuy nhận chân Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, nhưng trong cái nhìn của ông, Đấng Cứu Thế sẽ là người hùng mạnh, đánh đông dẹp bắc, chinh phục vua Chúa, thâu tóm quyền hành, và rồi đăng quang thống trị thế giới.

Đức Giêsu hiểu rõ quan niệm trần gian của các tông đồ về Đấng Cứu Thế, nên ngay sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Ngài cấm các ông nói cho người khác những gì họ mới biết.  Ngài muốn giúp các ông thay đổi quan niệm về Đức Kitô.  Đức Kitô đúng nghĩa sẽ là đấng phải đau khổ, bị từ khước, chịu giết chết trước khi đi đến toàn thắng.  Sức mạnh của Đức Kitô không ở trong binh khí hay chiến mã như bao vua chúa trần gian, song là nơi thập giá khổ đau.  Chiến lược của Đức Kitô là đi xuống chỗ tận cùng trong lũng sâu nước mắt của nhân loại để nâng tất cả lên trong vinh quang của Thiên Chúa.

Nhưng nào các tông đồ có hiểu được điều đó!  Và đâu phải chỉ có các ông.  Chính tôi lắm khi cũng không hiểu nổi đấy chứ.  Tôi cứ nghĩ Chúa là Đấng quyền năng đầy sức mạnh, phải cứu con người khỏi bao gian nan, khốn khổ, trái ý trên đường đời; phải ra tay làm nhiều phép lạ cho người ta tin; chứ đàng này Chúa lại im như bất lực, thậm chí còn để cho dân Chúa, Giáo hội Ngài chịu biết bao thách đố đau thương.

Cũng như Phêrô, tôi muốn chỉ cho Chúa phương cách cứu thế, chứ làm theo kiểu của Chúa thì e rằng chẳng còn ai tin và Ngài sẽ thất bại ê chề.

Cũng như Phêrô, tôi muốn chận Chúa lại, không cho Ngài tiếp tục cuộc hành trình kỳ quặc về Giêrusalem.  Tôi muốn “dạy” cho Ngài lối đường nên đi.  Tôi muốn Ngài rút bớt điều kiện cho mọi người cảm thấy nhẹ nhàng; cung cấp bánh ăn, của cải vật chất dư đầy cho người ta theo đông; làm nhiều phép lạ, ảo thuật giựt gân cho dân chúng thích thú.

Nhưng Chúa Giêsu quát lên: ‘Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Ta.”

Có hai lần trong đời mình, Chúa Giêsu đã dùng đến chữ “Satan.”  Một lần với tên Cám dỗ và lần này với Phêrô.  Satan đối nghịch với Thiên Chúa.  Satan làm đảo lộn trật tự thế giới.  Satan phá hoại chương trình của Thượng Đế nơi con người.  Thế nên lời quở mắng “Satan” là lời khiển trách nặng nề nhất.

Nhưng để ý sẽ thấy: trong lần quở mắng tên Cám dỗ, Chúa Giêsu bảo nó “hãy cút đi”, Ngài không còn muốn thấy mặt nó nữa; nhưng khi khiển trách Phêrô, Chúa Giêsu lại nói “hãy lui ra sau Ta.”  Như thế Ngài vẫn cho người môn đệ cơ hội hoán đổi hướng nhìn và cách đi.  Thay vì đi trước và chỉ lối cho Chúa, tôi phải hướng theo và tiếp bước sau Ngài.

Satan không thể bước theo Chúa vì bản chất kiêu ngạo của nó.  Nhưng riêng tôi, dù bao vấp phạm lầm lỡ, dù lắm khi sống theo ý mình, hay từng chạy theo tiếng gọi của quỷ ma, tôi vẫn được ban cho cơ hội làm lại hành trình của người môn đệ Đức Kitô, dẫu biết rằng không môn đệ chân chính nào của Ngài lại không phải mang thập giá: “Ai muốn đi sau Ta thì hãy chối bỏ mình, hãy vác lấy khổ giá mình và theo Ta” (Mt 16:24).

Thánh Phêrô, sau lời khiển trách của Thầy, đã về lại với chỗ đứng đúng nhất của mình: ông không đòi Chúa theo ý mình, song là vâng theo ý Chúa; ông không dẫn đường cho Chúa nhưng là bước theo dấu chân Ngài.  Cao điểm của sự “đi theo” này là việc Phêrô chịu đóng đinh thập giá vì Đức Kitô vào năm 69 AD.

Như thế, vị Giáo hoàng tiên khởi, với biết bao yếu đuối sa ngã, cuối cùng đã lấy cái chết của mình để xác minh chân lý thập giá.  Từ chỗ muốn dạy cho Thầy mình về sự khôn ngoan của thế gian đến việc khám phá và ôm ấp giá trị sâu xa sự điên rồ của Thiên Chúa.  Từ chỗ phủ nhận và ngăn chận Thầy mình bước đi trên con đường khổ đau, đến việc chính mình anh dũng tiến vào.  Nhưng nhờ đâu mà Phêrô có được thái độ và hành vi hào hùng đó?  Phải chăng chính nhờ niềm xác tín vào Đức Giêsu, Đấng ông đã tuyên xưng.  Nếu không có xác tín, hẳn ông đã chẳng dám theo.

Niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu thúc đẩy người ta vâng theo lời Ngài.  Khi Chúa bảo “Hãy lui ra sau Ta”, Phêrô vâng lời lui ra chứ không giận dỗi bỏ đi.  Khi bị mắng là “Satan”, Phêrô vẫn khiêm tốn nhìn nhận tầm nhìn nông cạn của mình chứ không tự ái phản đối.

Thử hỏi tôi có được niềm xác tín làm phát sinh thái độ khiêm tốn và nghe lời Chúa như thế không, hay tôi vẫn khăng khăng chối từ lối đường thập giá?

Một nhà tư tưởng quả quyết: “Luật của thập giá là luật phổ quát.  Làm người, không ai thoát khỏi thập giá.”  Như thế chối từ thập giá là chối từ làm người đúng nghĩa.

Nhưng phải vác thập giá theo Đức Giêsu – tức là sống theo những giá trị Tin Mừng như vị tha, thanh khiết, chân thật, từ tâm, phục vụ, quên mình…- tôi mới là con người trọn vẹn, một con người phản chiếu dung mạo Thiên Chúa.

LM Phêrô Bùi Quang Tuấn

Get-Behind-Me - Tissot.jpg

SỨC MẠNH CỦA SỰ THINH LẶNG

SỨC MẠNH CỦA SỰ THINH LẶNG

J.B Lê Đình Nam

Sự thinh lặng là một trong những trạng thái mà không ít người sợ hãi khi phải đối diện.  Nhưng, sự thinh lặng là khoảnh khắc vô cùng quan trọng để ta lắng nghe khao khát chân thực nơi cõi lòng mình.  Cách riêng trong đời sống đức tin, thinh lặng là giây phút để ta tìm đến Chúa giữa những bộn bề cuộc sống.

Thinh lặng là bí quyết của sự suy ngắm và chiêm ngưỡng.  Nhất là trong thời buổi công nghệ và truyền thông hiện đại thống trị, thinh lặng càng trở nên khó khăn hơn.  Vì thế, thinh lặng là khoảng thời gian rất quý báu.

Đối với người Kitô hữu, một trong những việc quan trọng đó là lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.  Để lắng nghe tiếng Chúa ta cần có một khoảng không gian và thời gian thinh lặng cho sự gặp gỡ với Ngài.  Chỉ có kinh nghiệm về sự thinh lặng và cầu nguyện mới tạo ra môi trường thích hợp cho Lời Chúa được lắng lọng và thấm nhập vào tâm hồn ta.

St Ignatius Loyola.jpg

Nhìn lại hành trình của Chúa Giêsu, ta có thể nói đó là một cuộc đời thinh lặng.  Ngài đến trần gian trong thinh lặng của một trẻ thơ đơn sơ nghèo hèn.  Ngài sống ẩn dật trong thân phận một người thợ mộc vô danh.  Ngài thing lặng 30 năm trong thân phận một người con trong gia đình nhỏ bé Nagiarét.  Ngài đã thinh lặng bước trọn con đường Thập giá giữa những lời sỉ nhục, kết án, giữa nhưng đòn roi, lưỡi đòng…

Và Đức Maria cũng thế, Mẹ đã bắt đầu hành trình thinh lặng từ lời thưa xin vâng.  Mọi biến cố xảy ra với Đức Giêsu đã được Mẹ cất giữ và suy niệm trong lòng.  Mẹ đang thinh lặng đồng hành cùng Chúa trên bước đường truyền giáo và chính Mẹ cũng đã thinh lặng cho đến giây phút chứng kiến con của mình bị treo trên thập giá cho đến chết.

Thật thế, sự thinh lặng nơi Chúa Giêsu hay Đức Maria chính là khoảng thời gian cho Lời Chúa được lắng nghe.  Đó là thời khắc để Lời Chúa hướng dẫn và biến đổi.  Và đó cũng là lúc các Ngài nhận lãnh nguồn ơn thiêng trước những biến cố lớn lao.

“Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!”  Nhưng Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng: “Những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn” (Lc 11:27-28).  Thật vậy, phúc cho Mẹ không chỉ là cưu mang và cho Chúa Giêsu bú mớm, nhưng hơn thế nữa, Mẹ đã để cho Lời Chúa thấm nhuần trên hành trình dương thế của mình; trong thinh lặng Mẹ đã nghiền ngẫm và để Lời Chúa trở nên kim chỉ nam cho cuộc đời Mẹ.

Noi gương Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong sự thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa, chúng ta được mời gọi hãy loại khỏi tâm hồn những lo lắng, ồn ào, những sôi sục của hận thù, ích kỷ, những dấu vết của buồn thảm, bi quan.  Thay vào đó bằng một đời sống thinh lặng trong tin yêu và phó thác để chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống.

Trên dòng đời lắm nổi trôi này, sự thinh lặng sẽ giúp ta nhận ra tiếng Chúa giữa những kỳ công của thiên nhiên; biết nhận ra tiếng Ngài trong nơi những mảnh đời khốn cùng bất hạnh, và biết nhận ra tiếng Ngài giữa những thất bại, thử thách.  Nhờ đó, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn biết đáp trả bằng tiếng xin vâng với thái độ nhiệt thành và vui tươi chấp nhận.

J.B Lê Đình Nam

LÒNG TIN CỦA BÀ LỚN THẬT

LÒNG TIN CỦA BÀ LỚN THẬT

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại chuyện Đức Giêsu chữa bệnh từ xa, tại Tia và Xiđon, vùng đất của dân ngoại.  Nhưng chuyện chữa bệnh không quan trọng lắm.  Chuyện quan trọng là lòng tin của người phụ nữ Canaan.  Hẳn bà biết ít nhiều về Do Thái giáo, khi gọi Đức Giêsu là Con Vua Đavít.  Con Vua Đavít là tước hiệu người Do Thái dùng để chỉ Đấng Mêsia.  Bà tin Đức Giêsu có thể chữa lành con gái của bà.

Người phụ nữ trực tiếp gặp Đức Giêsu và ngỏ lời nài xin: “Xin thương xót tôi… con gái tôi bị quỷ hành hạ dữ lắm.”  Người mẹ đau vì con của mình đau.  Bà kêu xin Đức Giêsu thương mình, bằng cách chữa lành cho cô con gái.  Nhưng bà chỉ gặp sự thinh lặng như thể Người không nghe thấy.  Dầu vậy bà vẫn không ngừng đi sau và kêu to.  Tiếng kêu dai dẳng của bà đuổi theo các môn đệ khiến họ bực bội.

Nguoi dan ba ngoai giao.jpg

Khi không chịu nổi được nữa, họ mới chạy đến với Thầy Giêsu.  “Xin Thầy cho bà ấy đi đi, vì bà ấy cứ kêu sau lưng chúng ta mãi.”  Có vẻ các môn đệ muốn Thầy gặp bà và cho điều bà cần.  Cho đến nay vẫn chưa có cuộc đối thoại giữa bà và Đức Giêsu.  Người phụ nữ vẫn là người độc thoại. 

Đức Giêsu vẫn chưa muốn nói chuyện với bà.  Người chỉ nói với các môn đệ và xác định sứ vụ của mình: “Thầy chỉ được sai đến với những chiên lạc nhà Israel thôi.”  Đây là lời từ chối đầu tiên, rõ ràng và dứt khoát.  Nó như đặt một dấu chấm hết cho mọi hy vọng của người mẹ.  Đức Giêsu như muốn nói: Đừng kêu la vô ích.  Chị không phải là chiên của nhà Israel.  Dân ngoại lúc này không phải là sứ vụ của tôi, vì Cha tôi chưa sai tôi đến.

Lòng tin của người phụ nữ bị thử thách đến tột độ.  Chắc bà bị cám dỗ bỏ đi vì sự thinh lặng lạnh lùng, và sự từ chối cương quyết của Đức Giêsu.  Nhưng trái tim của một người mẹ không cho phép bà làm thế.  Bà trở nên táo bạo hơn và dám vượt lên trước để gặp Đức Giêsu.

Trong thái độ cung kính bái lạy, bà tiếp tục nài xin: “Lạy Ngài, xin giúp tôi” (c. 25); khác với lúc nãy: “Lạy Ngài, xin thương xót tôi” (c. 22).  Cả hai lời nài xin đều nhắm đến người con, dù có vẻ bà chỉ xin cho bà.  Xin giúp tôi bằng cách giúp con tôi khỏi móng vuốt quỷ dữ.  Hạnh phúc của người mẹ gắn liền với hạnh phúc của con, vì tình yêu nối kết cả hai nên một.

Tuy vậy lời nài xin này của trái tim người mẹ dường như vẫn chưa đụng được vào trái tim Thầy Giêsu.  Người đưa ra lời từ chối thứ hai quyết liệt hơn và có thể gây tổn thương nghiêm trọng: “Không nên lấy bánh dành cho con mà ném cho chó.”  Con ở đây là dân Israel, là người trong nhà, có quyền hành.  Dân ngoại đôi khi được ví với chó nuôi trong nhà.  Hai bên không ở trên cùng một mặt phẳng.

Câu nói này của Đức Giêsu phản ánh cái nhìn của người Do Thái.  Họ tự hào về tính ưu việt của mình trong tư cách là Dân riêng của Chúa.  Nói chung họ cho rằng chỉ họ mới xứng đáng hưởng ơn cứu độ.

Người phụ nữ không phản đối cái nhìn của Đức Giêsu, bà không cảm thấy mình bị xúc phạm và giận dữ bỏ đi.  Trái lại, bà đón nhận cái nhìn ấy và tìm thấy một kẽ hở cho ơn Chúa: “Thưa Ngài đúng thế.  Nhưng chó con cũng được ăn các mảnh vụn rơi xuống từ bàn của chủ.”  Bà chấp nhận mình chỉ là chó con nuôi trong nhà, không phải là ông chủ đang ngồi tại bàn ăn.  Bà tin rằng dù mình không đủ tư cách để ngồi dự bàn tiệc cánh chung như những người Do Thái, bà vẫn có thể được hưởng chút vụn bánh từ bàn ăn rớt xuống.  Bà vẫn giữ niềm hy vọng ngay khi bị từ chối thẳng thừng.  Chính lời từ chối của Đức Giêsu lại mở ra niềm hy vọng.

Đức Giêsu bị ấn tượng bởi lòng tin của bà.  Người kêu lên: “Này bà, lòng tin của bà lớn thật.”  Đức Giêsu từng ngỡ ngàng trước lòng tin của viên bách quản (Mt 8,10-11).  Giờ đây Người đối diện với lòng tin của một người mẹ thương con.  Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin, khiến lòng tin trở nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối.  Lòng tin không mất hy vọng ngay khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.  Lòng tin mạnh mẽ và khiêm hạ của người mẹ đã chinh phục Đức Giêsu, và cuối cùng đã chạm được vào trái tim của Người.  Đức Giêsu đã để mình bị cuốn đi, ngỡ ngàng và ngây ngất…

Bây giờ Người mới thực sự nói chuyện với bà: “Này bà…”  Người sẽ làm điều trước đây Người không định làm.  Người sẽ đáp lại lòng tin của bà, lòng ao ước của bà chỉ bằng một lời nói từ xa cho một cô bé chưa hề gặp mặt: “Hãy xảy ra cho bà như bà muốn”.

Cô bé đã được chữa lành kể từ lúc đó.  Mẹ cô đã được thương xót và trợ giúp.  Đức Giêsu không cứng nhắc và bó hẹp trong sứ vụ Cha giao.  Người vẫn nghe tiếng kêu của con người và chấp nhận những ngoại lệ.  Ngoại lệ cũng nằm trong Ý Cha.  Ý Cha vẫn mở ra mới mẻ từng ngày đòi ta phải tìm kiếm liên tục.  Ngoại lệ hôm nay sẽ mở đường cho sứ vụ ngày mai: “Các con hãy đi, hãy làm cho mọi dân tộc thành môn đệ,” để “nhiều người từ Đông sang Tây sẽ đến và dự tiệc trong Nước Trời.”

Xã hội hôm nay không thiếu những bà mẹ khổ vì con mình bị ám.  Ám vì đủ thứ nghiện ngập do cuộc sống đem lại.  Các bà mẹ thấy mình bất lực, chỉ biết hy vọng vào Chúa.  Nhiều khi có cảm tưởng Chúa không nghe và lạnh lùng trước nỗi đau.  Hãy có lòng tin lớn của người phụ nữ Dân ngoại, tiếp tục tin, tiếp tục yêu, tiếp tục hy vọng và biết mình có thể chạm được vào trái tim của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải, để con làm bật rễ khỏi lòng con những ích kỷ và khép kín.  Xin cho con đức tin can đảm để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến, chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

 Xin cho con đức tin sáng suốt để con thấy được thế giới mà mắt phàm không thấy, thấy được Đấng Vô hình, nhưng rất gần gũi thân thương, thấy được Đức Kitô nơi những người nghèo khổ.  Xin cho con đức tin liều lĩnh, dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân, dám tiến bước trong bóng đêm chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa, dám lội ngược dòng với thế gian và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó.

 Xin cho con đức tin vui tươi, hạnh phúc vì biết những gì đang chờ mình ở cuối đường, sung sướng vì biết mình được yêu ngay giữa những sa mù của cuộc sống.

 Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp qua những cọ xát đau thương của phận người, để dù bao thăng trầm dâu bể, con cũng không để tàn lụi niềm tin vào Thiên Chúa và vào con người.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.