DÂNG MẸ MARIA TÂM TÌNH MÙA VỌNG XIN MẸ BAN CHO GIA ĐÌNH ĐƯỢC BÌNH AN

DÂNG MẸ MARIA TÂM TÌNH MÙA VỌNG XIN MẸ BAN CHO GIA ĐÌNH ĐƯỢC BÌNH AN

 Tuyết Mai

Phải cần đến một độ tuổi nào đó thì chúng con mới hiểu và thông cảm cho người già những ai có con cái chúng có gia đình và ra ở riêng. Chúng con mới thông cảm và mới hiểu được sự vắng bóng, thiếu tiếng cười nói rộn rã của chúng con cái trong những ngày đại lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh … nhất là trong thời gian của đại dịch Covid-19 này.

**

Người trẻ thì bị cuồng chân khi tất cả phải bị lệnh ở trong nhà. Đàn ông thì sanh ra chè chén say sưa đánh đập vợ con. Đàn bà thì bị đè nén trong cảnh phải chứng kiến những tệ nạn, những tánh hư tật xấu của chồng, con mà hằng ngày không có giờ để ý tới. Chưa kể tài chánh eo hẹp sẽ thêm phần ưu tư phiền muộn và rất căng thẳng trong những ngày tháng tới; lấy tiền đâu để trả cho chỗ ở, nơi ăn và những tài khoản quan trọng khác nữa như ga, điện, nước và tiền điện thoại, v.v…

**

Có phải vì Covid-19 nó tàn phá sự sống của con người ảnh hưởng rất mạnh từ ngoài vào trong cơ thể?. Có phải nó đã làm cho biết bao nhiêu người chết vì chưa có thuốc chữa?. Có phải nó đã làm cho biết bao nhiêu gia đình phải mất đi người thân thương mà người còn ở lại mới điêu đứng, thương tâm vì bỏ lại những trẻ nít không biết chúng sẽ sống ra sao?. Và vẫn còn đó rất rất nhiều người hiện đang nhiễm bệnh mà không biết hay biết mà vẫn không thể tự giam mình ở trong nhà mà cố tình để đem con vi khuẩn nó đi lây lan khắp nơi?.

**

Năm nay quả là một năm đại nạn cho con người trên khắp cùng thế giới, thưa Mẹ!. Một năm tận cùng và tận thế đối với những người đã qua đời nếu cộng lại thì còn hơn cả những người chết ở Nhật Bản khi bị thả bom nguyên tử. Người chết ở trận Pearl Harbor ở Hawaii, Hoa Kỳ. Dịch bệnh ở Tây Ban Nha. Người chết ở 2 tòa nhà thương mại ở NewYork, Hoa Kỳ trong ngày 911. Cùng những nơi có bão cấp giật chết người như miền trung ở nước VN, v.v…

**

Nhưng không vì thế mà làm cho con người chúng con bị chùn bước, thất vọng, bi quan vì chúng con cũng đang trông đợi ngày Chúa Đến trần gian; sinh hạ và làm người … Là món quà quý hiếm vô cùng giá trị cho cuộc sống tâm linh của toàn thể nhân loại chúng con mà thế gian không có. Vì ngày Chúa Giáng Sinh sẽ mang lại cho tất cả mọi loài, mọi tạo vật trên trái đất này một sự sống bừng lên nỗi vô cùng sung sướng, vui mừng khấp khởi và là niềm hy vọng thật lớn lao vĩ đại để con người nhờ đó mà sống tiếp tục trong bình an, trong hạnh phúc và tương lai sáng lạn hơn bội phần. Như đèn dầu mỗi ngày được châm thêm dầu, như hũ bột không bao giờ vơi, như những ai đang nằm thoi thóp chờ chết nhưng lại được Chúa cứu sống, v.v…

**

Vì thế chúng con trên toàn cầu phải cảm tạ Mẹ Maria muôn vàn vì Mẹ đã nhận lời từ sứ thần Gabriel để cưu mang một Thiên Chúa Đấng quyền năng vinh hiển nhưng rất yêu thương con người đớn hèn và tội lỗi của chúng con. Chúng con xin cảm ơn Mẹ cách riêng mà chúng con có thể vì chưng mọi thứ trên đời này thì lấy gì để xứng đáng những gì Mẹ luôn ban cho con cái Mẹ rất nhưng không. Những ơn riêng mà Mẹ đã, đang và sẽ ban cho khi chúng con cần cầu khẩn và van xin Mẹ … Mẹ chẳng có bao giờ từ chối lời cầu khẩn ấy đâu nhưng vì lòng của chúng con thì rối bời nên không thể nhận ra là mẹ luôn có đó; để an ủi, bảo ban và luôn gìn giữ cho chúng con được hồn an, xác mạnh nhất là Mẹ giúp chúng con đến gần với Chúa hơn.

**

Năm nay không gì bằng chúng con rất cần Chúa Đến (Giáng Sinh) để ngự vào căn nhà tâm hồn của chúng con vì nó đã bị côn trùng, mối mọt vào gặm nhấm; nhện giăng đầy và thiếu ánh sáng của Chúa chiếu soi nên căn nhà ấy nó ra tối tăm tàn tạ, bỏ phế và gần như sụp đổ chôn sống chúng con ở ngày rất gần vậy, thưa Mẹ!. Nhờ Mẹ Maria mà Chúa Hài Nhi Giêsu sẽ đến trần gian để cho đất, trời có được giao hòa; mọi người được trở nên thánh thiện và yêu thương nhau hơn như Chúa luôn yêu thương con người vậy.

**

Xin Mẹ Maria ban cho từng gia đình chúng con trong mùa Giáng Sinh này được sống trong hòa thuận an vui, trên thuận dưới hòa. Cha mẹ thì biết bỏ qua những gì con cái chúng làm phật lòng và con cái biết bỏ qua những gì mà cha mẹ chúng nói và làm rất vô tình nhưng ít, nhiều cũng đã làm tổn thương đến chúng con cái (chỉ vì thương yêu mới dạy dỗ, khuyên lơn). Vâng, dù là một lời nói không cố ý nhưng chúng con lại hay ghim trong dạ để làm cho cuộc đời buồn nhiều hơn vui. Thay vì tha thứ, thông cảm và bỏ qua cho nhau khi còn có thể vì ai biết trước được ngày mai chúng con sẽ ra sao? Amen.

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

 Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

13 tháng 12, 2020

CHÚA NHẬT HỒNG – NIỀM VUI CỨU ĐỘ

CHÚA NHẬT HỒNG – NIỀM VUI CỨU ĐỘ

Chúa Nhật hôm nay được gọi là: “Chúa Nhật Hồng, Chúa Nhật Vui.”  Đây là một niềm vui rất to lớn và tràn đầy hy vọng của những người tin vào Đấng Cứu Thế và đang hân hoan chờ đón Ngài.  Niềm vui này chúng ta được nghe trong Lời Chúa hôm nay: “Anh chị em hãy vui lên trong Chúa!  Tôi nhắc lại một lần nữa: Anh chị em hãy vui lên vì Chúa đã đến gần!”  Niềm vui này là một niềm vui được ơn Chúa cứu độ, niềm vui được an bình, niềm vui được hạnh phúc!  Vậy thì chúng ta phải sống như thế nào trong Mùa Vọng này, để hưởng được trọn vẹn hạnh phúc Chúa ban?

Chuyện kể rằng: Có một Ông Vua kia lúc nào cũng lo âu, mặc dù sống trong quyền lực và nhung lụa sung sướng nhưng ông không có hạnh phúc, không biết cách nào để có được hạnh phúc.  Nhà Vua gọi các nhà khôn ngoan lại bàn hỏi xem làm thế nào trút bỏ những âu lo đang đè nặng tâm trí Vua đến nỗi Vua không thể nào có được một cuộc sống hạnh phúc?  Nhà thông thái trả lời: “Chỉ có một cách duy nhất để giúp nhà Vua.  Đó là Vua phải mặc chiếc áo của người có hạnh phúc thật sự!”  Thế là các sứ giả được sai đi khắp nơi để tìm kiếm một người đang mặc chiếc áo hạnh phúc.  Nhưng bất kỳ người nào được hỏi đến cũng có lý do để đau khổ, buồn sầu… một điều gì đó đã cướp mất hạnh phúc của họ.  Sau cùng thì họ cũng tìm một người, đúng hơn là một người ăn xin.  Người ăn xin này ngồi mỉm cười ở giữa chợ và tự xưng mình là người hạnh phúc nhất, không có một điều gì buồn rầu, lo âu.  Sứ giả của Nhà Vua nói với người ăn xin về điều Nhà Vua cần mặc chiếc áo hạnh phúc ấy, và hứa trả cho người ăn xin một món tiền thật lớn để mua chiếc áo hạnh phúc ấy.  Chúng ta nghĩ sao?  Anh chàng ăn xin này có đồng ý bán chiếc áo hạnh phúc của mình không?  Chúng ta có biết phản ứng của người ăn xin ra sao không?  Không nín được cười, người ăn xin bật cười to lên và nói rằng: Thật đáng tiếc!  Tôi không thể nào làm hài lòng Nhà Vua được.  Vì tôi chẳng có chiếc áo nào cả!”  Vâng người hạnh phúc nhất trên đời lại là người không có một chiếc áo nào cả!

 Bài Tin mừng hôm nay Ga 1, 6-8, 19-28 cho chúng ta thấy nhiều người kéo đến với Gioan Tiền Hô để tìm kiếm hạnh phúc.  Và ông cũng đã vạch ra cho họ những con đường trong chính cách sống của ông để họ thực sự hạnh phúc khi họ biết tin vào Đấng Cứu Thế đang đến gần.  Đó là những con đường như:

Con đường sống khổ hạnh: Gioan sống ẩn dật trong sa mạc.  Sống trong sa mạc đồng nghĩa với sống khổ hạnh: sống trong sự khắc nghiệt của thời tiết, trong sự hoang vu cô tịch, sự đe dọa của thú dữ.  Sống khó nghèo, đơn sơ đạm bạc: mặc áo bằng da thú, ăn châu chấu và mật ong rừng.

Con đường sống khiêm nhường: Gioan từ chối vinh quang mà người ta ban tặng cho mình. Ông thành thật nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế.  Ông chỉ là “tiếng kêu trong sa mạc”, không đáng cởi giây giày cho Đấng Cứu Thế.

Con đường sống trung thực: Gioan đến để làm chứng về ánh sáng.  Trung thực với sứ mạng của mình, một mặc ông chỉ cho chúng ta thấy ánh sáng thật là ai, mặt khác khi có người lầm tưởng ông là ánh sáng ấy thì ông thẳng thắn phủ nhận.  Trung thực về những lời nói về mình nên ông không nhận vinh quang mà người ta lầm tưởng ban tặng.  Trung thực với lòng mình nên Ông sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối… Trung thực trong phán đoán nên ông thẳng thắn khuyên Vua Hêrôđê không được lấy chị dâu.

Con đường sống quên mình: nhìn nhận là người đưa tin nên ông quên mình để cho Đức Giêsu nổi bật lên.  Ông tự hủy mình để Đấng Cứu Thế được nhận biết.

Tóm lại Gioan Tiền Hô là một chứng nhân tuyệt hảo, Ông là chứng nhân của ánh sáng, chứng nhân của hy vọng, của hạnh phúc.  Ông là làm chứng cho sự sáng thật là Đức Kitô.

Mùa Vọng này, mọi người đang chờ Chúa đến, Chúa muốn chúng ta giới thiệu Chúa cho người khác, Chúa muốn chúng ta làm chứng cho Chúa.  Thế nhưng rất nhiều khi thay vì mở đường cho Chúa, chúng ta chỉ lo mở đường cho chúng ta.  Hay thay vì làm chứng cho Chúa thì chúng ta làm chứng cho ta….

Hôm nay Chúa mời gọi chúng ta hãy nhìn vào tấm gương của Gioan Tiền Hô để biết cách dọn đường cho Chúa ngự đến bằng đời sống chứng tá là “để Chúa lớn lên” và để cho chúng ta biết đường tìm đến hạnh phúc đích thực.

Xin Thánh Gioan giúp chúng ta sống trong ánh sáng của Chúa Cứu Thế để chúng ta được hưởng trọn vẹn hạnh phúc Chúa ban.

Sưu tầm

30 - John the Baptist 2.jpg

KHOA HỌC LÀM SÁNG TỎ CÁC BÍ MẬT CỦA ĐỨC BÀ GUADALUPE

Một bài khác về Đức Mẹ Guadalupe cũng rất đáng đọc. Kính mời bà con.

KHOA HỌC LÀM SÁNG TỎ CÁC BÍ MẬT

CỦA ĐỨC BÀ GUADALUPE

Philip Callahan

Hôm đẹp trời lạnh lẽo 12-12-1531 ấy, Juan Diego -một trong những người cải đạo sớm nhất ở Mêhicô- không thể mơ có một ngày trong tương lai xa xôi, ông lại được bất tử hóa và được đặt trên bàn thờ của Giáo Hội hoàn vũ.

Juan Diego đang trên đường tới nhà thờ sáng sớm hôm đó thì lại nghe tiếng nói ngọt ngào của Bà Đẹp vốn đã hiện hình trước mắt ông tại chân Đồi Tepeyac ở ngoại ô Thành phố Mêhicô hai hôm trước.

Bà Đẹp đã lặp lại ước muốn của mình là có một teocali (nhà nguyện) được xây nơi Bà đã hiện ra. Juan Diego nói với Bà rằng Đức Giám mục Juan Zumarraga đòi bằng chứng về tính xác thực của yêu cầu này. Đức Bà đã chấp thuận. Theo hướng dẫn của Người, Juan Diego đã hái một bó hoa hồng Castilian rồi chính Người xếp trên tilma của ông (áo choàng, ct: một loại poncho hai vạt trước và sau). Ông sẽ phải đưa bó hoa hồng đó cho ĐGM. Vâng, những đóa hồng Castilian lạ lùng nở vào mùa Đông!

Juan Diego vội vàng đến gặp ĐGM. Và khi ông trải áo choàng của mình ra thì lạ chưa, ĐGM và mọi người có mặt đều hết sức kinh ngạc khi thấy không những nhiều đóa hồng thơm ngát rơi xuống từ áo choàng của ông mà còn cả một bức ảnh (cao 143 cm) của một phụ nữ trẻ đẹp với nước da hơi sẫm.

Đó là câu chuyện hay về việc làm sao hình ảnh Đức Bà Guadalupe đã xuất hiện. Hình Mẹ được bao quanh bằng những tia sáng mặt trời và dưới chân Đức Trinh Nữ có một vầng trăng lưỡi liềm và một thiên thần nâng Người lên. Đức Bà mặc một áo choàng màu xanh dương lẫn xanh lục với những ngôi sao vàng, và bên trong là một áo dài hồng thêu những nụ hoa viền vàng. Một đai lưng màu tía sẫm thắt quanh eo Đức Trinh Nữ theo kiểu các thai phụ Aztec vẫn thường mang.

Đức Mẹ yêu cầu Juan Diego gọi Người là coatloxopeuh mà trong tiếng Nahuatl, ngôn ngữ Aztec châu Mỹ, có nghĩa là “người đạp dẹp con rắn”. Trên phương diện lịch sử, đó là một phần văn hóa Aztec đương thời, vốn hàng năm dâng ít nhất 20.000 đàn ông, đàn bà và trẻ em cho các thần của họ như tế vật. Nhờ Đức Bà Guadalupe hiện ra với Juan Diego, hàng triệu người đã trở lại Kitô giáo, như thế là đạp dẹp con rắn của việc thờ ngẫu tượng.

Áo choàng của Juan Diego được làm bằng sợi thô, cứng, một thứ vải hoàn toàn không thích hợp để vẽ. Cuộc nghiên cứu và nhiều thử nghiệm khoa học đã được thực hiện trên áo choàng đó từ năm 1666 bởi các họa sĩ, bác sĩ và khoa học gia. Những phát hiện của họ cho thấy như sau: các đặc điểm lạ lùng của hình ảnh vượt quá mọi hiểu biết khoa học; hình ảnh xem ra đã không được vẽ bởi bàn tay con người; các màu sắc xuất hiện như “tích hợp” vào thớ vải; và chất màu được sử dụng không có nguồn gốc từ động vật hay khoáng vật. Hơn nữa, áo choàng, được làm bằng sợi đặc biệt đó, là tấm khăn duy nhất cùng loại còn tồn tại sau 476 năm [ct: 2007, thời điểm tác giả viết bài này].

Renzo Allegri, trong bài viết trên báo Messenger of Saint Anthony (Sứ giả của Thánh Antôn), cho biết rằng hiện tượng đã đánh thức sự tò mò khoa học đối với hình ảnh Đức Bà Guadalupe, liên quan đến cái đã được khám phá trong đồng tử đôi mắt Đức Mẹ. Năm 1929, Alfonso Gonzales, một nhiếp ảnh gia của Vương cung Thánh đường Guadalupe, sau khi nghiên cứu âm bản (phim) của hình ảnh, đã tìm ra cái có vẻ là hình ảnh rõ nét của một người nam có râu phản chiếu ở mắt bên phải.

Hơn 20 năm sau, một nhiếp ảnh gia khác của Vương cung Thánh đường, Carlos Chavez, đã tuyên bố rằng ông thấy một hình người trong mắt bên trái cũng như mắt bên phải của Đức Bà Guadalupe. Từ năm 1956 tới 1958, Rafael Torija Lavoigner đã thực hiện 5 cuộc nghiên cứu sử dụng các thấu kính phóng đại và kính soi đáy mắt (ophthalmoscopes), ông xác nhận có nhiều hình người trong đôi mắt của Đức Trinh Nữ.

Các hiện tượng như thế trở nên giật gân hơn nữa khi đôi mắt Đức Bà được nghiên cứu có sử dụng kỹ thuật tinh vi hơn nối kết với các máy vi tính.

Năm 1979, Tiến sĩ Jose Aste Tousman, một kỹ sư xuất sắc chuyên về vi tính ở Hoa Kỳ, đã đến Mêhicô. Ông là một trong những nhà nghiên cứu có khả năng nhất về đôi mắt Đức Bà Guadalupe. Allegri viết rằng công trình TS Tousman thực hiện trong 23 năm thật đáng kinh ngạc; ông đã sử dụng thiết bị cập nhật hay tinh vi nhất, giống các loại mà NASA vẫn dùng để giải mã các bức ảnh do vệ tinh chụp trong không gian. TS Tousman đã phóng to hình ảnh đôi mắt Đức Bà Guadalupe tới 2.500 lần, sử dụng 25.000 màu được chiếu sáng cho mỗi mm vuông.

Sau khi lọc và xử lý hình ảnh kỹ thuật số, TS Tousman khám phá ra một toàn cảnh được bắt hay được chụp trong đôi mắt Đức Bà Guadalupe. Trong toàn cảnh, có khoảng 11 người. Có một người Mêhicô bản địa ngồi xếp hai chân và tóc dài tết thành đuôi ngựa. Kế ông là một cụ già, hói đầu, râu trắng, mũi thẳng, lông mày rậm và một giọt nước mắt chảy dài xuống má phải. Nhân vật này được xác định là ĐGM Juan Zumarraga. Bên trái ngài là tay phiên dịch của ngài, Juan Gonzales. Có bóng dáng một ông già để râu và ria, với một cái mũi to kiểu Rôma, xương gò má lồi lên, đôi mắt chìm sâu và đôi môi nửa khép nửa mở – rõ ràng là một thổ dân châu Mỹ – đang mở áo choàng của mình khi quay mặt về phía ông già đầu hói. Rõ ràng là Juan Diego, kẻ đem những đóa hồng trong áo choàng mình tới cho ĐGM. Cũng có nhiều kẻ không xác định được gồm một người cha, một người mẹ, hai ông bà già và 3 đứa trẻ.

Cảnh tượng được khám phá trong đôi mắt phóng đại của hình ảnh kỹ thuật số cho thấy rằng trong giây phút đầy xúc động ấy, khi Juan Diego trải áo choàng cho Đức Giám mục và khi tất cả những ai đang hiện diện trong căn phòng thấy hình ảnh Đức Bà được vẽ lên đó, thì Mẹ Thiên Chúa thực sự có mặt: như những caméra tinh vi nhất, đôi mắt của Người đã chụp cảnh tượng và đã bảo tồn nó cho các thế hệ tương lai. Cũng kỳ lạ ở chỗ: ý thức những giới hạn của khoa học và kỹ thuật thời đó, Đức Mẹ biết rằng điều này sẽ chỉ được khám phá vài trăm năm sau, khi các thiết bị tinh vi nhất được con người phát minh chế tạo.

Sứ điệp của Đức Bà Guadalupe có thể là gì qua các phát hiện ấy của khoa học? TS Aste Tousman đã đi đến những suy nghĩ như vậy. Sự hiện diện của những kẻ không xác định có thể là một sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình và các giá trị gia đình. Vì hai người đàn ông da trắng và những thổ dân châu Mỹ được tìm thấy trong cảnh tượng, sự hiện diện của những chủng tộc pha trộn có thể là một cảnh báo chống kỳ thị chủng tộc và là một lời kêu gọi tình huynh đệ giữa con người. Việc khám phá cảnh tượng nhờ thiết bị hiện đại có thể là một lời mời gọi dùng kỹ thuật để loan truyền lời Chúa Kitô.

Juan Diego đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong thánh tại Mêhicô. Thổ dân châu Mỹ khiêm nhường, đơn sơ này có thể đã không hình dung rằng Bà Đẹp Guadalupe mà ông đã nói chuyện với ở đồi Tepayac còn có nhiều bí mật khác được tiết lộ, được dành riêng cho các thế hệ tương lai. Trong trí óc đơn giản của mình, ông đã không thể nhận thức điều ấy. Chỉ cần nói rằng ông đã vâng lời và yêu mến Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng đã yêu mến ông vì tâm hồn đơn sơ và trong sạch của ông.

Xem ra lạ lùng đối với một khoa học gia khi nói lên điều ấy, nhưng với tôi là kẻ cảm thấy liên hệ, bức ảnh gốc thật kỳ diệu. Nghiên cứu hình ảnh này là kinh nghiệm cảm động nhất của đời tôi. Tiếp cận với nó, tôi có cùng cảm giác lạ lùng như những ai đã nghiên cứu Khăn liệm thành Turin (Italia). Tôi tin vào những cách giải thích lô-gích tới một điểm nào đó. Nhưng không có cách giải thích lô-gích cho cuộc sống. Bạn có thể bẻ sự sống thành các nguyên tử, nhưng cái gì đến sau đó? Ngay cả nhà bác học Einstein cũng chân nhận có Thiên Chúa mà!

(*) Giáo sư Philip Callahan là khoa học gia xuất chúng, ĐH Florida năm 1979.

Trích Francis Johnston, Sự kỳ diệu của Guadalupe.

Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi dịch từ nguyên bản Anh ngữ

Nguồn: http://www.all-about-the-virgin-mary.com/our-lady-of…

HÃY CAN ĐẢM TỪ BỎ ĐỂ ĐẾN VỚI CHÚA!

HÃY CAN ĐẢM TỪ BỎ ĐỂ ĐẾN VỚI CHÚA!

Tuyết Mai

Mùa Vọng là mùa Gì? Vọng có phải là trông đợi hay không? Thế chúng ta chuẩn bị để đón và trông đợi ai? Có phải Người mà ta trông đợi ấy rất dấu yêu hay không? Thưa đúng là như vậy! Vì cả toàn thể nhân loại con người dưới trần gian, ai ai cũng đang trông chờ và đón đợi một Đấng rất ư là nhỏ bé và thấp hèn; từ trời cao Ngài sẽ sinh hạ xuống dương trần và làm người.

**

Muốn đến và tôn thờ Ngài cho đúng nghĩa thì loài người chúng ta cần phải biết bỏ bớt và lột bớt tất cả những gì không phải là của mình, mới đến gần Chúa Hài Đồng Giêsu được. Chúng ta hãy dành nhiều thời giờ để suy nghĩ kỹ thử xem từ tấm thân thật trần cho đến mọi thứ chúng ta khoác trên người và mọi thứ chúng ta có được, có phải thật sự là của mình hay không?

**

Thế thì tại sao chúng ta không thể bỏ bớt để đem đến làm quà ý nghĩa mà Dâng cho Ngôi Hai Thiên Chúa? Cố gắng tìm mọi cách thức để làm quà cho Chúa và để làm vui lòng Ngài nhất không gì bằng là chúng ta biết chia sẻ. Nhịn bớt tiền để giúp đỡ cho các gia đình có những con em sống nghèo trên khắp mọi nơi? Nhịn bớt thời giờ để đến xoa dịu, an ủi những anh chị em đang đau khổ vì tật nguyền, già nua và rất cô đơn sầu khổ vì bị con cái chúng không ngó ngàng gì tới.

–*–

Bớt tham lam và tích lũy để san sẻ cho những anh chị em sống trên những núi rác chung với những sinh vật cũng nhờ núi rác đó để được sống còn. Cùng những anh chị em bất hạnh trên khắp mọi nẻo đường mà chúng ta gặp hằng ngày mà cố tình giả lơ, giả điếc, giả đui; hất hủi và cố tình xa tránh họ.

**

Đến với Chúa bằng tâm tình sẻ chia là món quà quý giá nhất mà Chúa Hài Nhi muốn nhận và đến với Chúa thì chúng ta cần phải giống Chúa. Là cởi bỏ những vật chất có tính cách phô trương thì mới xứng đáng mà quỳ thấp xuống để sưởi ấm cho một Chúa Giêsu Hài Đồng, đã sinh hạ trong đêm đông giá lạnh tại Bêlem. Có ai trong chúng ta có chút thời giờ đứng ngắm nhìn kỹ Ngôi Hai Giêsu Con Thiên Chúa bao giờ chưa? Có phải mùa này bắt đầu cho chúng ta cái lạnh cóng người khi ra ngoài đường nếu không có chiếc áo ấm dầy để khoác vào?

–*–

Ngay cả trong nhà mùa này, không ai có thể sống khoẻ mạnh được nếu chúng ta thiếu máy sưởi. Tùy theo khả năng của mỗi gia đình, từ máy sưởi ấm cho cả một căn nhà to lớn cho đến một chiếc máy sưởi nhỏ cá nhân hoặc mua củi về chất đống để đốt trong lò sưởi nguyên suốt mùa đông giá lạnh này; Xuống cấp nữa thì chúng ta có thể dùng một nồi nấu soup thật lớn đổ đầy nước và để riu riu sôi cho ấm nhà. Tối đến thì chúng ta cần mặc thật nhiều lớp quần áo để giữ thân thể chúng ta được ấm.

–*–

Nhưng thương cảm hơn hết là những anh chị em có hoàn cảnh gần giống Chúa nhất đó là những con người không nhà không cửa, không nơi nương tựa. Nhà của họ là nơi cầu, cống, hiên nhà, ngay trước cửa tiệm, hay bất cứ nơi nào có thể tựa được cái lưng để cố gắng có một giấc ngủ không dễ có qua đêm. Bởi cái lạnh cóng cả người chưa kể nếu có gió kèm theo thì không có gì hứa hẹn là anh chị em này có thể bình an mà thức dậy được nữa ở buổi sáng hôm sau.

**

So với tình cảnh của Chúa Hài Đồng Giêsu thì chúng ta đang là những người nào trong xã hội? Từ giống Chúa là không có gì ngoài tấm vải để che tấm thân ngọc ngà châu báu của Ngài, cho đến ít nhất là có nơi chốn để che tấm thân? Hay có nhà cửa? Nhà có đến mấy tầng lầu? Thì chúng ta thử nghĩ mà xem, có phải nếu chúng ta đến với Chúa mà sang trọng quá thì không xứng đáng để được lại gần Chúa đâu. Mọi người hãy nhìn kỹ lại mình và nhìn kỹ Chúa Giêsu nằm trong máng cỏ mà xem sự khác biệt giữa một Thiên Chúa Tối Cao của cả khắp vũ trụ mà đến trong thế gian trong một thân phận chẳng là gì cả – trong Ngài còn hơn vua thế gian gấp bội lần, có phải? Còn chúng ta là gì và là ai trước Con Thiên Chúa chứ?

**

Trong tâm tình trông đợi đó, chúng ta có thể bắt chước Đấng sẽ xuống trần vì tình yêu thương mà Ngài dành cho toàn thể nhân loại chúng ta. Để thờ phượng Ngài một cách xứng đáng hơn mà không gì bằng là chúng ta thể hiện qua các công việc bác ái rất cụ thể và rất thiết thực nhất mà Chúa Giêsu trông đợi nơi từng người chúng ta.

**

Mùa Giáng Sinh là mùa của yêu thương, của chia sẻ, của sưởi ấm tình đồng loại, của bắt chước Chúa luôn sống trong yêu thương qua sự đoàn kết, hiệp nhất và cầu nguyện luôn – Cho một nguyện vọng duy nhất mà Ngài muốn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng hạnh phúc là chỉ cần sống trong yêu thương, chia sẻ cho nhau thì tất cả sẽ được sống muôn đời trong hạnh phúc ngay tại đời này và cả ở đời sau. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

9 tháng 12, 2020

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

https://www.youtube.com/watch?v=5phRUPH8nek

Bêlem Đêm Đông

SỨC MẠNH CỦA NGUYỆN CẦU

 

SỨC MẠNH CỦA NGUYỆN CẦU

Một phụ nữ bước vào cửa tiệm tạp hóa lớn, cô ngó quanh dáo dát rồi đến bên quầy tính tiền nói với ông chủ.

“Thưa ông, tôi cần mua một ít thức ăn, nhưng tôi không có tiền ngày hôm nay. Ông có thể cho tôi mua chịu được không? Tôi hứa sẽ đem tiền đến trả ngay khi sớm nhất có thể.”, cô cuối đầu ngượng ngùng nói.

“Oh, không được đâu. Tôi đâu biết cô là ai? Làm sao tôi có thể bán chịu cho cô khi cô chưa từng là khách quen ở cửa tiệm tôi?”, ông chủ lắc đầu.

Nước mắt lưng tròng, người phụ nữ van xin: “Chồng tôi bị bệnh nặng, không thể đi làm được. Chúng tôi có 5 đứa con, và chúng đang rất đói. Xin ông hãy rủ lòng thuơng giúp đỡ cho một lần này thôi. Tôi hứa khi có tiền sẽ đem đến trả ông ngay!”.

Ông chủ tiệm chỉ tay ra phía cửa nói: “Cô vui lòng ra khỏi đây ngay. Đừng cản trở tôi mua bán chứ. Khách đang xếp hàng sau lưng cô kia kìa …”.

Từ phía sau người phụ nữ, một người đàn ông nãy giờ đã nghe 2 người đối thoại bước lên. Ông nói: “Hãy để tôi ứng tiền cho cô ấy, ông cứ để cô ấy lấy những gì cô ấy cần.”

Người chủ tiệm nhìn 2 người, lưỡng lự một chút, rồi ông ta chợt nảy ra ý tưởng hay. Ông hỏi người phụ nữ: “Cô có biết cô cần mua gì không? Nếu biết thì hãy viết ra giấy đưa cho tôi.”.

Người phụ nữ mừng rỡ nói: “Vâng, thưa ông. Tôi sẽ viết ngay đây.”

Nhưng ông chủ tiệm lại tiếp: “Viết xong đưa tờ giấy đó cho tôi, tôi sẽ bỏ lên bàn cân này. Nó nặng bao nhiêu thì cô cứ lấy những gì cô cần cho đến khi đủ. Tôi sẽ không tính tiền những gì cô lấy!”. Ông chủ tiệm cúi xuống gầm lôi lên bàn một cái cân to tướng, và chỉ vào một phía.

Người phụ nữ và ông khách phía sau ngạc nhiên trước thái độ ông chủ, nhưng cô không còn lựa chọn nào khác. Người phụ nữ lục trong túi xách một mảnh giấy nhàu nát, cô run run viết lên tờ giấy đó .. Rồi cô gấp đôi tờ giấy lại đưa cho ông ta.

Ông chủ tiệm nhếch mép cười, rồi bỏ tờ giấy lên một bên cân. Nhưng lạ thay, mảnh giấy từ từ chìm xuống cho đến đụng đáy trước sự ngạc nhiên của 3 người. Người phụ nữ vội đi gom thức ăn bỏ vào bên thau bên kia, nhưng dù cô có bỏ lên bao nhiêu, phía bên tờ giấy vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tiệm nhìn kỹ 2 bên cân, nhưng rõ ràng nó không có gì khác thường …

Cho đến khi thau đồ đã đầy, ông chủ tiệm đành để người phụ nữ ôm túi đầy thức ăn bước ra tiệm mà không thể tính tiền trước sự ngạc nhiên của người khách lạ.

Ông chủ tiệm lật hẳn cái cân lên coi, thì ra phía dưới một bên cân đã gãy. Ông tức tối nhặt tờ giấy người phụ nữ gấp lại mở ra để xem cô đã lấy đi những gì của ông, thì ra cô chẳng hề viết list đồ cô cần mua, mà chỉ vỏn vẹn có giòng chữ:

“Lạy Chúa, Người biết chúng con đang cần gì, con xin phó thác tất cả trong tay người.”

Ông chủ tiệm nhắm mắt ngước lên Trời, giờ thì ông đã hiểu …

Bạn, xin hãy đừng đánh giá thấp một lời cầu nguyện. Chỉ có Chúa mới biết được lời nguyện cầu nặng bao nhiêu.

Thằng Bờm

No photo description available.

Đức Maria vô nhiễm nguyên tội…

 

Đức Maria vô nhiễm nguyên tội là một tín điều (nội dung bắt buộc của niềm tin) dạy rằng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa không hề bị nhiễm tội tổ tông. Tự bản tính, Mẹ Maria đã được giữ sạch khỏi tội nguyên tổ nhưng cũng như Đức Yêsu (khi làm người), Đức Maria vẫn có những giới hạn của mình, nhưng những giới hạn này không hẳn là sự bất toàn về mặt luân lý.

Đức Maria không mắc tội, có thể được suy ra từ tước hiệu được đề cập trong tin mừng: “đầy ân phúc” (Lc 1,28), các tác giả Công giáo cho rằng nếu đã tràn đầy tình thân với Thiên Chúa thì không thể nào phạm lỗi về mặt luân lý. Thánh Augustinô nói rằng: ta phải loại trừ mọi tội cá nhân ra khỏi Đức Maria vì chính danh dự của Thiên Chúa”.

Ðức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria, đã được gìn giữ khỏi mọi tỳ ố nguyên tội ngay từ lúc thụ thai, do ân sủng và tình thương đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng, nhờ công nghiệp của Chúa Yêsu Kitô, Ðấng Cứu Ðộ loài người (DS 2803).

Ðức Maria được cứu chuộc ngay từ lúc thụ thai. Ðó là nội dung tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội do Đức giáo hoàng Piô IX công bố năm 1854.

100 năm sau, người Việt Nam muốn thoát tội nạn của cộng sản, nên đã từ Bắc di cư vào Nam.

Image may contain: 1 person, sky
You, Trần Thị Hường, John Hoa Tran and 226 others
14 Comments
26 Shares

CÓ TIẾNG GỌI LƯƠNG TÂM TRONG TỪNG NGƯỜI

CÓ TIẾNG GỌI LƯƠNG TÂM TRONG TỪNG NGƯỜI

Tuyết Mai

Cần để Lời Chúa được dễ hiểu thì chúng ta cứ đem lương tâm của mình ra để mà cân, đo, đong, đếm và để dễ bề đối xử với anh chị em mình. Điển hình nhất mà chúng ta có thể thấy hằng ngày là sự bất công của những người còn khỏe mạnh nhưng vì lý do cá nhân ích kỷ nên đã cố tình dành chỗ đặt riêng cho người thật sự bị tàn tật hay bị khuyết tật “handicap”, rất cần chỗ đậu xe cho gần với nơi họ cần được đến; đó là chưa kể đến sự cố tình khai gian tiền bạc trợ cấp dài hạn của những người bất hạnh rất cần sự trợ giúp của chính phủ.

**

Đây là hành động tồi tệ và bất công nhất ở một lương tâm hình như bị đóng đá. Một người con cái Chúa mang danh Kitô hữu thì thật là đáng trách, hổ thẹn và rất đáng buồn. Mà bên lương giáo thì người ta rất tin vào cái “huông” xấu khi một người lành lặn giả bệnh, giả ngồi xe lăn, giả điên, v.v… không chóng thì chầy cũng sẽ bị tật nguyền, què quặt hay bị liệt?. Nhất là những tấm bảng treo “handicap” xạo trong xe cũng sẽ có ngày bị vận vào thân. Gần nhất là bị cảnh sát cho giấy phạt khi bị phát hiện sự gian dối ấy.

**

Thiên Chúa Người ban cho chúng ta một Lương Tâm thật tinh vi, thật tế nhị và thật bén nhậy để nhắc nhở chúng ta sống “phải, quấy” ở đời; hay có thể nói lương tâm là tiếng nhắc nhở của Thiên Thần Bản Mệnh mà ai cũng có. Ngay cả người lương giáo cũng có. Chớ bẻ cong Lời Chúa thì cũng chẳng giúp gì hay ích gì cho linh hồn sống đời của chúng ta cả đâu. Như những pharisêu của mọi thời đại mà Chúa vẫn hoài chê trách vì hành động của họ luôn đi phản ngược lại những điều họ giảng dạy trong Đền Thờ. Nhất là những Pharisêu hay nhà thông luật càng giảng hay, giảng giỏi chừng nào thì Chúa khuyên chúng ta hãy coi chừng. Vì họ đã nuốt chửng biết bao tiền của những bà góa nghèo.

**

Sống ở trên đời lương tâm của một con người rất là quan trọng, nên rất thường phải nghe ngóng tiếng nói ấy! Cũng cùng đồng nghĩa với tiếng kêu trong Hoang Địa của Thánh Gioan xưa. Tại sao lại gọi là tiếng kêu trong Hoang Địa? Có phải vì tiếng kêu ấy nó như mất hút vào khoảng không gian rộng lớn và ồn ào? Hay vào hoang mạc mênh mông không ai nghe thấy?.

–*–

Ngày xa xưa và ngày nay, con người vẫn không thay đổi. Vì tiếng kêu trong Hoang Địa ấy chẳng thấy mấy ai đáp trả?. Ngày nào chúng ta còn thấy nhan nhãn những bất công, những tội ác, những việc làm mà một người để cho cái lương tâm (là lời nhắc nhở của Thiên Thần Bản Mệnh hay của tiếng kêu trong Hoang Địa) ngủ yên thì ngày ấy vẫn còn chiến tranh, hận thù, tranh chấp và Thiên Đàng còn ở xa lắm tầm tay với của con người.

**

Có rất nhiều sự việc bất công trong một xã hội mà chúng ta cố tình làm ngơ y như chuyện của một anh phú hộ giàu có ngày ngày chè chén, nhậu nhẹt, say sưa và anh Lazarô nghèo ghẻ chốc ngày ngày sống trước nhà của anh phú hộ giàu có kia. Nhưng có phải vì Thiên Chúa Người quá yêu thương con người, muốn hết thảy con người được lên Nước Chúa, nên những tiếng kêu trong Hoang Địa vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay?.

**

Vâng, trong một xã hội có lắm tội ác nhưng tiếng kêu trong Hoang Địa cũng rất thường lanh lảnh kêu vang và vẫn được nhiều người đón nghe. Thưa đó là những con cái Chúa có tinh thần sống tốt, bác ái, muốn mọi người cùng được nên tốt. Sự mong ước của một Gioan là muốn từng người nắm tay cùng dắt nhau Về Trời. Nơi mà lương tâm (là đường) của từng người được sửa đổi cho ngay thẳng, cho công bằng và biết chia sẻ yêu thương đến cho mọi người.

–*–

Để làm rõ nghĩa và đúng nghĩa hơn cho một lương tâm của con cái Chúa ấy là chớ lấy của người làm của riêng mình. Chớ có tham của người với ý đồ muốn tích trữ thêm mà lấy của kẻ khó nghèo, khi họ rất cần nếu không có thì họ sẽ chết. Đừng làm chứng gian để cho anh chị em phải bị tù đày. Đừng chứa đựng sự hận thù và ganh ghét vì điều đó sẽ gây chiến tranh không bao giờ ngừng. Nhất là trong gia đình là nơi mà tình yêu thương phải luôn đầy tràn. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

6 tháng 12, 2020

CẦN THINH LẶNG TRONG MÙA VỌNG

CẦN THINH LẶNG TRONG MÙA VỌNG

Stephen Beale

Dịp Lễ Giáng Sinh, Thiên Chúa nói với chúng ta theo cách sâu sắc và huyền bí hơn bất kỳ kiểu nói nào khác mà con người từng biết: Ngài truyền đạt cho chúng ta qua Ngôi Lời hóa thành nhục thể.  Nhiệm vụ của Mùa Vọng là chuẩn bị cho việc nghe Lời của Thiên Chúa.

Tôi muốn đề nghị rằng một trong những cách quan trọng nhất để làm điều này là thông qua việc trau dồi sự im lặng.  Đối với người Công giáo, lời khuyên này có thể có giá trị sự thật, nhưng nó cũng hoàn toàn phản văn hóa.  Đối với thời điểm này trong năm là mùa rất nhộn nhịp – các ông già Noël rung chuông, những người mua sắm náo nhiệt, các giai điệu vang lên khắp nơi, và cuối cùng là cả gia đình quây quần bên cây thông Noël hoặc bàn ăn tối.

Tuy nhiên, sự im lặng là điều cần thiết để sống đức tin của chúng ta trong Mùa Vọng.  Tôi tin rằng đây là trường hợp đặc biệt vì mối quan hệ mật thiết giữa lắng nghe và im lặng trong bối cảnh của Mùa Vọng.  Điều kiện tiên quyết thiết yếu để nhận được Lời của Thiên Chúa hóa thành xác phàm là chúng ta thực sự lắng nghe và tìm kiếm Ngài.

Thói quen lắng nghe kỳ vọng này rất khác so với kiểu lắng nghe mà chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống hằng ngày.  Trong trường hợp sau, việc nghe của chúng ta bắt đầu khi người kia nói.  Trong quá trình nghe mong đợi, động lực này bị đảo ngược: quá trình nghe bắt đầu trước khi việc nói bắt đầu.  Trong thực tế, có thể kiểu lắng nghe này xảy ra trước khi người kia đến.  Vì thế, điều đó vừa thụ động vừa chủ động.

Sự lắng nghe mong đợi như vậy bao hàm sự im lặng.  Thông thường, nếu bạn muốn lắng nghe ai đó thì bạn phải im lặng.  Bạn kiềm chế cái lưỡi của mình để người kia nói.  Trong những trường hợp này, chúng ta lắng nghe nhưng sự lắng nghe của chúng ta kết hợp với lời nói chứ không im lặng.  Với sự lắng nghe mong đợi thì khác.  Chúng ta lắng nghe nhưng người kia vẫn chưa bắt đầu nói.  Lúc đó, chúng ta bắt gặp một khoảng lặng sâu sắc.

Dù buồn thế nào, loại im lặng này vẫn là điều kiện thiết yếu để trải nghiệm niềm vui về sự xuất hiện của người mà bạn đang chờ đợi – và đó là tất cả những gì Mùa Vọng hướng tới.  Sự xuất hiện bao hàm cả sự vắng mặt.

Trong cuốn “Đêm Tối của Linh Hồn,” Thánh Gioan Thánh Giá coi sự im lặng này như việc thanh tẩy.  Ý tưởng chung là linh hồn phải được cởi bỏ những ràng buộc trần thế và được thanh lọc khỏi các đam mê, ham muốn ích kỷ.  Sự xấu hổ này vừa tượng trưng vừa khước từ các giác quan.  Do đó, bóng tối màn đêm làm ảnh hưởng tầm nhìn của chúng ta, sự im lặng cũng ảnh hưởng tầm nghe của chúng ta.  Như Thánh Gioan Thánh Giá đã nói, khi đề cập “các hoạt động, đam mê và ước muốn thấp hèn” của linh hồn.

Do đó, các hoạt động và chuyển động của họ nên được ngủ yên trong đêm tối này, để cuối cùng chúng không thể cản trở linh hồn đạt được phúc lành siêu nhiên từ việc kết hiệp yêu mến Thiên Chúa, vì khi chúng hoạt động thì điều này không thể đạt được.  Tất cả công việc và các chuyển động tự nhiên cản trở chứ không trợ giúp linh hồn tiếp nhận phúc lành của sự kết hiệp của tình yêu, mặc dù mọi khả năng tự nhiên đều bất lực đối với phúc lành siêu nhiên mà Thiên Chúa ban cho linh hồn một cách thụ động, bí mật và im lặng, qua chính sự truyền thụ của Ngài.  Do đó, điều cần thiết là tất cả các khả năng phải tiếp nhận sự truyền ban này, và để nhận được nó, họ nên thụ động, không sử dụng các hành vi cơ bản và xu hướng thấp hèn của mình.  (số 14.1).

Nhưng cũng có một khía cạnh tích cực để giữ thinh lặng.  Nó không chỉ tắt tiếng những phần ồn ào của tâm hồn chúng ta, tranh giành sự chú ý.  Sự im lặng vừa xóa bỏ các rào cản trong việc gặp gỡ Thiên Chúa vừa là cầu nối cho cuộc gặp gỡ đó.

Trong sự thinh lặng, Thiên Chúa cảm nghiệm chính Ngài trong sự sống Ba Ngôi.  Lời không được “nói” theo ý nghĩa giống như lời chúng ta nói.  Luôn có sự trì hoãn đối với chúng ta – một loạt các bước phải diễn ra.  Chúng ta hình thành suy nghĩ và rồi chúng ta dịch suy nghĩ đó thành một số lời nói mà hệ thống thần kinh và cơ bắp của chúng ta hoạt động truyền tải từ trí óc đến miệng lưỡi, rồi kết thúc bằng một chuỗi âm thanh có thể nghe.

Tuy nhiên, không có sự trì hoãn như vậy đối với Thiên Chúa.  Không có chuỗi sự kiện nào diễn ra giữa suy nghĩ và việc tuyên bố Lời của Ngài, như Thánh Augustinô đã dạy.  Sự hiểu biết của Thiên Chúa về chính Ngài luôn trọn vẹn và ngay lập tức – tương tự như loại phản ứng im lặng giữa suy nghĩ và các từ ngữ chúng ta nghĩ ra trong trí óc để mô tả chúng.  Nói cách khác, cũng như Thiên Chúa trong bản thể của Ngài, chúng ta không thể nhìn thấy Ngài và cũng không thể nghe thấy Ngài.

Đó là lý do Ngôi Lời Nhập Thể nói với chúng ta một cách sâu sắc nhất trong sự im lặng của Ngài.  Đó là sự im lặng của Thánh Tâm Ngài, tuôn đổ máu và nước từ cạnh sườn bị đâm thâu của Ngài.  Đó là “sự im lặng tuyệt vời” đã đổ xuống trái đất khi Đức Vua ngủ trong Thứ Bảy Tuần Thánh.  Và ngày nay, đó là sự im lặng vẫn tiếp tục kêu gọi chúng ta nơi Bí tích Thánh Thể.

Khi đó, nhờ Chúa Giêsu Kitô, sự im lặng trở thành một kinh nghiệm được chia sẻ: chúng ta im lặng trước mặt Thiên Chúa và Ngài đáp lại trong sự im lặng.  Khi hướng về người khác, sự im lặng là phẩm chất của sự hiện hữu hoàn toàn trong chính con người đối với người đó.  Chắc chắn Thiên Chúa là như thế đối với chính Ngài – và chúng ta càng ngày càng gần Ngài hơn khi chúng ta có thể tiến tới dạng im lặng này trong đời sống của chính mình.  Và rồi sự im lặng trở thành nơi gặp gỡ.

Chắc hẳn sự im lặng như vậy có thể gây khó chịu.  Chúng ta tự an ủi bằng cách nhắc nhở mình về sự thật rằng sự im lặng như vậy là dấu hiệu báo trước về việc lắng nghe Thiên Chúa nói với chúng ta qua Lời của Ngài.  Điều này chắc chắn đúng.  Nhưng thực tế về sự im lặng của Thiên Chúa gợi ý sự an ủi tức khắc khác: Sự thật là Ngài cũng đang lắng nghe chúng ta về những nỗi khổ, những nhu cầu, những khao khát sâu xa nhất của chúng ta.  Không có lời nào cần thiết để Thiên Chúa biết những ước muốn thầm kín trong lòng chúng ta, như Thánh Vịnh gia nói: “Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.  Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.  Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.” (Tv 139:4-5, 8)

Do đó, sự im lặng có thể làm cho sự kết hiệp sâu sắc hơn với Thiên Chúa – chia sẻ sự tĩnh lặng của Ngài, qua đó Ngài dạy chúng ta sự khôn ngoan trong “bí mật” của lòng mình: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.” (Tv 51:6)

Stephen Beale

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

From: Langthangchieutim

05 - Solitude 47.jpg

ĐỊCH THÙ CÁM DỖ (trong giờ chết)

ĐỊCH THÙ CÁM DỖ (trong giờ chết)

(Tác giả: Thánh Alphonso Liguori)

Không phải một mà nhiều nỗi cắn rứt dày vò các tội nhân. Một mặt, họ bị đau khổ vì các quỷ dữ. Đến giờ chết, những thần dữ cố sức bắt lấy con mồi sắp lìa thế. Thần dữ biết rõ rằng: chúng cần đánh thắng trong khoảng khắc, vì lần này để mất mồi, tức là mất mãi mãi.

Bao quỷ dữ bao vây người sắp sinh thì, cám dỗ họ:“Cú vọ, rắn rít đầy nhà họ.” (I-sai-a 13 :21).

Đứa thì nói: “Sợ gì, bạn sẽ khỏe lại!”

Đứa khác: “Làm sao được! Bao năm qua, mầy đã bịt tai lại không nghe tiếng Chúa, nay mầy còn mong gì Chúa thương mầy.”

Đứa khác nữa: “Làm sao sửa lại được những lỗi-lầm, danh giá tiêu tan rồi mà!”

Đứa khác: “Bao lần mầy làm hư phép giải-tội vì không ăn-năn hối-cải, vì dấu-diếm đầu đuôi, sao mầy còn mong sửa chữa được?”

Không kịp hối cải, khó được cứu thoát

Mặt khác, kẻ sắp chết thấy trên vai đè nặng các gánh tội lỗi. Thánh Bênađô nói: “Các tội-lỗi họ như những người lính gác, theo sát họ và bảo: Chúng tôi không rời ngươi đâu. Chúng tôi theo sát ngươi về bên kia thế giới và đi với ngươi trình-diện trước Đấng thẩm-phán đời đời.”

Kẻ sắp chết muốn loại trừ các địch-thù đó, nhưng chúng đâu có buông tha. Thánh Bênađô nói thêm: “Những tâm-hồn chai đá vì tội-lỗi suốt đời, khó thoát cảnh trầm-luân, vì đã yêu tội tức là tội-nhân cũng yêu cảnh hiểm nghèo đoán phạt, mà họ đã lựa chọn cho đến giờ chết.”

Thật bất hạnh cho những người cứng lòng chống lại tiếng Chúa mời gọi.

“Tim nó cứng như đá và vững như phần dưới cối xay.” (Gióp 41:15)

Thánh Giêrome tuyên bố: “Theo nhiều kinh-nghiệm cá nhân, ngài được biết ai cố-chấp đắm mình suốt đời sống trong tội lỗi sẽ kết-liễu đời sống trong tội lỗi.”

Image may contain: 1 person, sitting

Bị cách ly, cụ bà Antoinette, 90 tuổi, được rửa tội tại phòng khách của bà

 Bị cách ly, cụ bà Antoinette, 90 tuổi, được rửa tội tại phòng khách của bà

Cụ Antoinette Faure, 90 tuổi góa chồng từ 4 năm nay, cụ rất hạnh phúc khi lãnh nhận phép rửa tội, rước lễ lần đầu và thêm sức vào ngày thứ sáu 13 tháng 11 vừa qua sau một năm chuẩn bị. Vì cách ly, buổi lễ cử hành… tại phòng khách của cụ!

Không có giới hạn tuổi để lãnh nhận bí tích rửa tội. Bà Antoinette Faure đã nói khi xin được rửa tội cách đây một năm. Bà chưa bao giờ rời thành phố Grenoble, nước Pháp, bà sống trong căn hộ nhỏ ở phía nam thành phố. Từ tuổi vị thành niên khó khăn do có mâu thuẫn với cha mẹ, bà là người tin dù không giữ đạo. Bà kể với báo Aleteia: “Khi tôi 15 tuổi, tôi bắt đầu đọc Kinh Thánh mỗi ngày, đọc Kinh Thánh làm tâm hồn tôi dịu lại. Chồng tôi cũng như tôi, chúng tôi không đi lễ, chúng tôi gặp nhau năm 1968”.

Năm ngoái, sau khi gặp một nhóm thanh niên ở Hội Le Rocher, bà Antoinette nhận ra mình chưa bao giờ dám xin rửa tội. Khi đó các bạn trẻ giới thiệu bà với linh mục Marc Burtschell quản nhiệm giáo xứ Thánh Gioan XXIII và là cha tuyên úy của Hội. Bà nói: “Tôi hỏi cha nghĩ gì về chuyện này, tôi biết là quá muộn để được rửa tội vì tôi đã già, nhưng cha nói không sao.”

Mẹ đỡ đầu là bà Ginette, người hàng xóm ở cùng tầng

Sau đó, công việc chuẩn bị bắt đầu và nhanh hơn dự kiến, linh mục Marc kể lại: “Việc này làm tôi suy nghĩ, tôi thấy bà rất đơn sơ, có đức tin vững vàng, bà đã trải qua bao nhiêu năm mà không dám hỏi, hoặc không ai nhận ra bà muốn rửa tội. Trong buổi nói chuyện với tôi, bà cho biết Kinh thánh đã củng cố đời sống hôn nhân của gia đình bà như thế nào trong suốt gần năm mươi năm chung sống. Mỗi sáng hai vợ chồng đọc cho nhau nghe một đoạn Kinh Thánh trước khi đi làm. Sau đó tôi nghĩ sẽ tiện hơn nếu cho bà rước lễ lần đầu cùng một lúc”. Sau đó linh mục Marc nói chuyện với Giám mục Guy de Kerimel, giáo phận Grenoble và xin Giám mục cho bà Antoinette được nhận phép thêm sức luôn.

Lễ rửa tội đã bị chậm trễ vì đại dịch, bây giờ lại bị cách ly lần thứ nhì, cuối cùng cha Marc đề nghị làm một buổi lễ nhỏ ở nhà của bà và bà đồng ý ngay, bà xin bà Ginette, người hàng xóm phòng bên làm mẹ đỡ đầu.

Cầm trên tay ngọn nến, cuối cùng bà Antoinette đã được rửa tội ngày thứ sáu 13 tháng 11, buổi lễ chỉ có bà Ginette và một người bạn khác tham dự. Cha Marc nói: “Tôi rất xúc động khi bà cụ lớn tuổi có cái bướu rất lớn trên lưng cúi đầu để nhận phép rửa.” Bà Antoinette nói thêm: “Tôi cảm thấy rất bình an và yên bình. Từ vài ngày nay thật tuyệt. Bí tích rửa tội mang đến cho tôi rất nhiều niềm vui, giúp tôi chống chọi với chứng đau thần kinh tọa và các cơn đau”. Bà kết luận: “Tôi đã có một cuộc sống khó khăn, nhưng tôi rất biết ơn về tất cả những chuyện vừa xảy ra. Tôi luôn nói lời cám ơn Chúa, nhưng bây giờ tôi còn nói nhiều hơn nữa khi tôi đã được rửa tội. Tôi không còn đi được, tôi rất đau, tôi phải cần xe đẩy nhưng tôi cám ơn Chúa vì những gì Ngài đã luôn làm cho tôi.”

Marta An Nguyễn dịch

CANH THỨC CHỜ CHÚA ĐẾN

CANH THỨC CHỜ CHÚA ĐẾN

 Lm Bùi Thượng Lưu

Bắt đầu từ Chúa Nhật 1 Mùa Vọng hôm nay, toàn thể giáo hội chính thức bước vào Năm Phụng Vụ mới, cùng với lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Marcô: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.  Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ” (Mc 13, 33, 35-36).

Tại các nhà thờ Đức có một tục lệ rất ý nghĩa là mỗi nhà thờ đều trang điểm vòng hoa Mùa Vọng với những cành thông tươi xanh và bốn cây nến, tượng trưng cho 4 Chúa nhật Mùa Vọng.  Khởi đầu thánh lễ mỗi Chúa nhật, đang khi cộng đoàn hát bài Mùa Vọng, cây nến được thắp sáng.  Chúa nhật thứ nhất thắp sáng một cây.  Chúa nhật thứ hai thắp sáng hai cây.  Khi cả bốn cây được thắp sáng, thì đại lễ giáng sinh cũng đã gần kề.  Tục lệ này cũng được lan rộng trong nhân gian, tới hầu hết các công sở, các gia đình.  Nơi nào cũng bầy vòng thông Mùa Vọng với đủ loại nến mầu đỏ, tím…

Như vậy ý nghĩa thứ nhất trong Mùa Vọng là mùa canh thức chuẩn bị tâm hồn để đón mừng Chúa Giáng Sinh.  Trọng tâm của lịch sử và Tin Mừng cứu độ chính là biến cố: Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu nhân độ thế.

Ngày giáng trần của Chúa Giêsu phải được đón mừng vì đây là Biến Cố có một không hai trong lịch sử cứu độ: nhờ Ngôi Lời nhập thể làm người thì vũ trụ vạn vật lại được đổi mới (TNKB, s. 3).  Kể từ Biến Cố này, Trời giao hòa với Đất, nhân loại được Thiên Chúa yêu thương và toàn thể vũ trụ được đón nhận TIN Mừng cứu độ.  Chính vì thế, Biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu đã trở nên Trung Tâm điểm của lịch sử nhân loại, mốc điểm thời gian.

Theo Kinh Thánh, canh thức là thái độ của một người “đang tỉnh thức chờ đợi”, không ngủ mê, không thụ động, nhưng canh chừng, luôn phòng bị để kịp đối phó với kẻ địch tấn công bất ngờ (Tv 127, 1t), lòng nhiệt tâm chu toàn trách nhiệm hiện tại, biết nhận ra những dấu chỉ thời đại, khám phá ra thánh ý Thiên Chúa, kiên tâm phục vụ trong yêu thương, đang khi ngóng chờ một biến cố sắp xẩy đến… sẵn sàng đón tiếp Chúa, khi Ngày của Ngài điểm.

Đây là lời khuyên nhủ, dặn dò chính yếu của Chúa Giêsu dậy các môn đệ của Ngài.  Vì Chúa đến bất chợt như kẻ trộm ban đêm (Mt 24,43t), như ông chủ trở về mà không báo cho các đầy tớ biết (Mt 13,35t), như chàng rể đến lúc canh khuya, và chỉ năm cô trinh nữ khôn ngoan đang canh thức với đèn đầy dầu, mới kịp ra đón rước chàng rể vào dự tiệc cưới (Mt 25, 1-13).

Vậy canh thức là đặc tính căn bản, là thái độ sắp sẵn của người môn đệ Chúa, để chỗi dậy khỏi giấc ngủ đam mê, nghĩa là dứt khoát với tội lỗi, dứt bỏ trần thế và những đam mê dục vọng (Lc 21, 34tt).  Canh thức là hoán cải và trở về với Chúa, không nằm lì trong tội ác, không cứng lòng và khinh thường tiếng mời gọi thống hối của Chúa.  Canh thức trong cầu nguyện, tiết độ, không chè chén say sưa, không cờ bạc, không say đắm nhục dục… quyết không để “ba cái lăng nhăng” nó quấy ta!

Canh thức để nhận diện ra kẻ thù và chiến đấu với thần dữ.  Trong giờ kinh tối, các linh mục và tu sĩ thường đọc: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1P 5,8).  Ma quỷ có thể ẩn hiện trong những phim ảnh xấu, những sách báo đồi trụy, ma túy… những dịp tội gần xa đưa chúng ta xa Chúa, lạc đường về Quê Trời.

Canh thức để phân biệt phải trái: đừng bị ru ngủ, bị đầu độc, bị tuyên truyền bởi óc hưởng thụ, bởi tinh thần vị kỷ cá nhân, bởi các học thuyết vật chất vô thần, bởi những ông đạo buôn thần bán thánh, bởi những mê tín dị đoan, bởi những quảng cáo quyến rũ, những truyền đơn loan tin thất thiệt ngày tận thế…

Canh thức để khỏi bị chán nản, ngã lòng nản chí, bỏ cuộc.  Có những tín hữu gặp thử thách trong đời sống gia đình, gặp những khó khăn về vật chất, bị đau ốm lâu dài… đã nản lòng, kêu trách Chúa, và nhiều khi bỏ nhà thờ, bỏ cầu nguyện, bỏ Giáo hội!

Canh thức trong cầu nguyện theo gương Chúa trong vườn cây dầu.  Cầu nguyện ở đây được hiểu là cầu kinh sớm tối.  Cầu nguyện là đọc và suy gẫm Lời Chúa trong Thánh Kinh.  Cầu nguyện có thể là lần chuỗi Mân Côi, miệng đọc lòng suy.  Cầu nguyện cao đẹp nhất là tham dự thánh lễ Chúa nhật…  Tất cả những hình thức cầu nguyện trên đây, giúp người tín hữu luôn hiệp thông với Chúa, tâm hồn luôn lắng nghe những “thánh chỉ” của Chúa.

Canh thức để trung tín giữ luật Chúa: luật yêu thương, luật công bằng.  Trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, người tín hữu hằng để luật Chúa như đèn soi, như kim chỉ nam cho mọi ước muốn, mọi tư tưởng, mọi lời nói và việc làm của mình.

Canh thức để phục vụ anh em: người tín hữu luôn được Chúa mời gọi để sống đời phục vụ trong bác ái và trong yêu thương.  Đời sống gia đình là môi trường phục vụ lý tưởng nhất.  Vợ chồng Kitô hữu hiến thân cho nhau, tha thứ cho nhau, biết tận tâm giáo dục con cái, biết dùng của cải Chúa ban để mưu sống gia đình, nhưng đồng thời cũng biết chia cơm sẻ bánh cho anh em nghèo đói kém may mắn hơn trên khắp thế giới.  Mỗi tín hữu còn được Chúa mời gọi để phục vụ cộng đồng, các giáo xứ, Hội Thánh, tùy theo khả năng và hoàn cảnh.

Canh thức để đón chờ Chúa đến.  Tín hữu Chúa Kitô biết rõ ràng rằng: cuộc sống trần gian, tất cả của cải đều mau qua chóng hết, không ai sống mãi, nhưng đi về vĩnh cửu.  Điều chắc chắn là mỗi người chúng ta sẽ có một ngày phải từ giã cõi đời tạm này.  Nhưng chết vào ngày giờ nào, chết cách nào, chết ở đâu?  Chẳng có ai biết được.  Do đó, tín hữu Chúa phải tỉnh thức để đón chờ Chúa đến.

Từ ngày lãnh nhận phép Thánh Tẩy, người tín hữu là con cái của ánh sáng, nên phải luôn tỉnh thức để mình khỏi rơi vào đêm tối của sự chết, không mất mục tiêu, không quên ngày Chúa đến cuối đời của mình…

Lm Bùi Thượng Lưu

From: Langthangchieutim

30 - Vong - Nen 13.jpg