HÃY XUẤT KHỎI NGƯỜI NÀY

HÃY XUẤT KHỎI NGƯỜI NÀY

Một ông thợ ở Nadarét được mời giảng trong hội đường.

Mác-cô không cho ta biết Đức Giêsu đã giảng gì.  Chỉ biết nội dung của lời giảng thì mới mẻ, và cách giảng thì khác hẳn với các kinh sư.  Kinh sư thì giải thích Kinh Thánh với thẩm quyền.  Còn Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh với uy quyền.  Ngài chẳng phải dựa vào sách vở, vào truyền thống có sẵn.  Một cách mới mẻ và đầy uy quyền, Đức Giêsu loan báo Triều đại Thiên Chúa đã đến, triều đại của Xa-tan phải bị đẩy lui.

Quả vậy, sự hiện diện của Ngài trong hội đường ngày hôm ấy đã khiến cho thần ô uế phải chường mặt ra và khiếp sợ.  Đức Giêsu ra lệnh: “Hãy câm đi và xuất khỏi người này.”  Thần ô uế chẳng muốn từ bỏ căn nhà nó đã ở.  Nó chỉ ra sau khi đã vật vã người ấy và thét lên.  Đức Giêsu đã chiến thắng và giải phóng ta khỏi nô lệ.  Ngài khai mở Nước Thiên Chúa trên mặt đất.  Nhưng cuộc chiến với Xa-tan còn kéo dài đến tận thế.  Chúng ta phải cộng tác để Nước Chúa mau thành tựu.

Quỷ thường được vẽ như một con vật xấu xí đáng sợ.  Nếu thế thì ta rất dễ nhận ra nó, và nó cũng khó lòng cám dỗ được ta.  Trong thực tế, quỷ mang dáng dấp xinh đẹp và hấp dẫn.  Nó tấn công ta bằng những thủ đoạn tinh tế, ngọt ngào.  Nó nắm rõ điểm yếu nhất của từng cá nhân, tập thể.  Xưa nay, người bị quỷ nhập thực sự chắc không nhiều.  Nhưng hẳn nhiều người bị quỷ lèo lái mà không biết.

Kitô giáo không bịa ra quỷ để hù dọa tín đồ.  Quỷ là những mãnh lực xấu xa, cố kéo ta xa Chúa.  Chúng chống lại Thiên Chúa và hạnh phúc đích thực của con người.  Quỷ phỉnh phờ con người bằng thứ hạnh phúc giả tạo.  “Nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, tôi sẽ cho tất cả.”  Làm gì có hạnh phúc vững bền khi ta quay lưng với Thiên Chúa!  Chúng ta tự hào mình không bị quỷ ám.  Nhưng thế giới hôm nay vẫn bị ám ảnh bởi nhiều thứ khác: tham vọng và dục vọng, sợ hãi và oán thù, ích kỷ và hưởng thụ…

Có những điều vốn không xấu cũng trở thành ngẫu tượng: tiền bạc, tiện nghi, thời trang, công việc làm ăn, phim ảnh…  Cái ám nào cũng làm ta bớt tự do, bớt là mình.  Cái ám từ ngoài vào, ở lại trong ta và không chịu ra.  Cái ám khi trở thành tuyệt đối thì làm ta trở nên ô uế.  Nó bắt ta phải nghĩ, phải sống như theo một lập trình.  Ta không thể làm khác, không thắng được bản năng và thói quen.  Ta thấy mình bất lực, nên cần Đấng Thánh của Thiên Chúa.

“Hãy xuất ra khỏi người này”: Hôm nay Chúa muốn nói với tà thần ở trong tôi như vậy.

Tôi cầu xin Ngài trục xuất khỏi tôi điều gì?

“Hãy xuất ra khỏi thế giới này”: Nhờ ơn Chúa, tôi cũng phải ra lệnh cho ma quỷ như vậy.

**** 

 Lạy Cha, thế giới hôm nay cũng như hôm qua

vẫn có những người bơ vơ lạc hướng vì không tìm được một người để tin;

vẫn có những người đã chết từ lâu mà vẫn tưởng mình đang sống;

vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế, ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;

vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn, bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;

vẫn có những người bị sống bên lề xã hội, dù không phải là người phong…

Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ và biết chạnh lòng thương như Con Cha.

Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy chính bản thân chúng con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu (Trích trong ‘Manna’)

Những Vị Thánh Vô Danh

Những Vị Thánh Vô Danh

 Có một vị thánh nọ thánh thiện đến độ, không hề dám có ý nghĩ rằng mình là một con người thánh thiện.  Ngày kia, một thiên thần đến nói với ngài: “Chúa sai tôi đến gặp ngài. Ngài hãy xin bất cứ điều gì ngài muốn. Chúa sẽ ban cho ngài. Vậy ngài có muốn được ơn chữa bệnh không?”

Vị thánh trả lời: “Không.  Thà để cho chính Chúa chữa trị thì tốt hơn”.

Vị sứ thần đề nghị điều khác: “Ngài có muốn đem những người tội lỗi trở về đường công chính không?”

Vị thánh cũng lắc đầu từ chối: “Không.  Cải hóa tâm hồn không phải là việc của tôi. Ðó là công việc của các thiên thần”.

Vị sứ giả của Chúa mới gợi ý thêm: “Ngài có muốn trở thành một mẫu gương để thiên hạ luôn đến để bắt chước không?”

Vị thánh cũng khiêm tốn trả lời: “Không.  Bởi vì làm như thế tôi sẽ trở thành trung tâm thu hút sự chú ý”.

Thiên thần mới hỏi: “Vậy thì ngài mong muốn điều gì?”.

Vị thánh trả lời: “Ơn Chúa, có ơn chúa, đó là điều tôi hằng khao khát”.

Vị thiên thần được Chúa sai đến vẫn chưa chịu bỏ cuộc, nên đề nghị lần cuối cùng: “Ngài phải xin một phép lạ. Nếu không tôi đành phải để phép lạ xảy ra vậy.”

Vị thánh của chúng ta đành phải ưng thuận: “Vậy thì tôi xin điều này: ước gì mọi việc thiện được thực thi qua tôi mà tôi không hề hay biết”.

Thế là để là cho lời ước của vị thánh thành sự thật, Thiên Chúa ban cho cái bóng phía sau của ngài được mọi thứ quyền năng.  Nơi nào có cái bóng ngài đi qua, thì nơi đó, người bệnh được lành, đất đai trở thành phì nhiêu, nguồn suối phát sinh sự sống, niềm vui trở lại trên những khuôn mặt sầu khổ.  Nhưng vị thánh không hề hay biết điều đó, vì dân chúng chú ý đến cái bóng đến độ quên hẳn con người.

***

Hôm nay, ngày 28 tháng 12, Giáo Hội kính nhớ các thánh Anh-Hài, những vị thánh đã chết vì Ðức Kitô mà cũng không hề hay biết rằng mình phải chết vì Ngài.  Các trẻ em ấy là kiểu mẫu của không biết bao nhiêu vị thánh vô danh.

  • Có những Mẹ Têrêxa Calcutta, những linh mục Pierre mà thế giới không ngừng nhắc đến, nhưng…
  • Cũng có không biết bao nhiêu những người cha, người mẹ, người chồng, người vợ ngày ngày âm thầm hy sinh trong không biết bao nhiêu công việc vô danh, phiền toái mỗi ngày. 
  • Có biết bao nhiêu người đang âm thầm đau khổ và hy sinh cầu nguyện mà không thể thấy được kết quả của lời cầu nguyện của mình.
  • Có biết bao nhiêu người âm thầm phục vụ tha nhân cách này hay cách khác mà không hề được đền đáp hay nhắc nhớ.

Trong ánh sáng của Mầu Nhiệm Giáng Sinh, chúng ta được mời gọi để tìm thấy giá trị của những hy sinh âm thầm từng ngày.

Sự thinh lặng bé nhỏ của Hài Nhi Giêsu trong hang đá Bê Lem, 30 năm âm thầm của Ngài tại Nazareth: đó là ý nghĩa của cuộc sống phiền toái, độc điệu mỗi ngày của chúng ta.

Hài Nhi Giêsu mời gọi chúng ta nhận ra giá trị của cuộc sống ấy.  Thiên Chúa thi ân tùy theo cách thế Ngài muốn.  Cuộc sống âm thầm và hy sinh từng ngày của chúng ta là một trong muôn nghìn cách thế thi ân của Ngài mà chúng ta không thể đo lường được.

Ngoài sự tưởng tượng và dự đoán của chúng ta, những hy sinh từng ngày của chúng ta được Chúa dùng như cái bóng vô hình nhờ đó Ngài thông ban muôn ơn lành cho người khác.

 Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

LỜI CHÚA GỌI HÔM NAY- Lm. Mark Link, SJ.

LỜI CHÚA GỌI HÔM NAY

Lm. Mark Link, SJ.

 Khi 15 tuổi, Margaret Mehren là một thành viên của phong trào thanh thiếu niên Đức Quốc Xã ở Đức.

Sau cuộc chiến, cô tìm hiểu về sự diệt chủng trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Và cô thật sửng sốt.  Bỗng dưng cô nhận ra rằng Hitler không phải là một người lãnh đạo đáng vinh dự như cô nghĩ.  Cô thề sẽ không bao giờ tin vào người lớn.

Chính trong tâm trạng này mà Margaret cũng bắt đầu hồ nghi về thái độ vô thần của cô.  Một ngày kia cô cầu xin với Thiên Chúa, “Lạy Chúa, nếu Ngài thực sự hiện diện, hãy cho con những dấu hiệu.”

Khoảng thời gian này, tình cờ cô đọc Kinh Thánh.  Cô cố gắng đọc một vài lần, nhưng chẳng tìm thấy ý nghĩa gì cả.  Và rồi một đêm kia, cô lại cầm quyển sách ấy lên.  Lần này, nó thật có ý nghĩa!  Sau này cô viết:

Điều gì đó đã xảy đến với tôi khi đọc những lời của Chúa Giêsu.  Tôi biết Người đang sống!… Tôi biết Người ở đó, tuy tôi không nghe và thấy gì cả.

Đức Giêsu thì có thật, thật hơn bất cứ gì chung quanh tôi – bàn ghế, sách vở, chậu kiểng.  Tôi không còn cô độc.  Cuộc đời tôi không còn là một ngõ cụt.

Một vài năm sau, khi 21 tuổi, Margaret trở nên một nữ tu dòng Phanxicô.  Ngày nay, 25 năm sau, chị là một nữ tu truyền giáo, dạy học sinh ở Nam Phi Châu.

Câu chuyện của Chị Margaret Mehren nói lên sự kiện là Thiên Chúa vẫn kêu gọi con người ngày nay, cũng như Thiên Chúa đã kêu gọi ông Giôna trong thời Cựu Ước và ông Giacôbê, Gioan trong thời Tân Ước, trong bài phúc âm hôm nay.

Khi chúng ta nói Thiên Chúa kêu gọi người ta trở thành ngôn sứ của Chúa, hoặc Chúa Giêsu kêu gọi người ta trở thành môn đệ của Người, chúng ta thường đề cập đến điều đó là một ơn gọi.  Chữ ơn gọi xuất xứ từ chữ Latinh có nghĩa “kêu gọi.”

Chúng ta cũng nghĩ và nói về lời kêu gọi của Thiên Chúa đối với người trẻ.  Và điều đó chắc chắn đúng.

Một trong những người lãnh đạo tinh thần vĩ đại trong thời đại chúng ta là linh mục dòng Tên người Ấn là Anthony de Mello.  Anthony nói rằng cha cảm thấy lời mời gọi của Chúa khi còn là thanh niên.

Khi Anthony xin cha của mình cho phép đi tu làm linh mục, cha của Anthony trả lời không.  Ông chỉ còn lại hai người con gái nên nhiệm vụ của Anthony là nối dõi tông đường.

Sau đó, sau một thời gian 14 năm không sinh nở, mẹ của Anthony lại mang thai.  Khi bà được đưa vào bệnh viện để sinh, Anthony đã phải chạy bộ bốn dặm đến nhà thương.

Khi đến nơi, vừa thở hổn hển Anthony vừa hỏi, “Đó là con trai hay con gái?” Khi cha của anh trả lời đó là con trai, Anthony nói, “Hay quá! Thế là con có thể làm linh mục.”

Khi 16 tuổi, Anthony gia nhập một tiểu chủng viện ở Bombay. Sau đó người trở nên nổi tiếng toàn thế giới.

Nhưng người lớn tuổi cũng được mời gọi để theo Chúa.  Thật vậy, điều này dường như trở nên một khuôn khổ mới đang ló dạng.

Để minh hoạ, hãy nghĩ đến năm thanh niên từ một danh sách rất đông những người vào dòng Tên năm 1987.

Trước hết, có Vince, 33 tuổi. Anh tốt nghiệp Đại Học Pittsburgh và dậy cũng như huấn luyện thể thao ở cấp trung học cũng như đại học.

Kế đến là Mike, 26 tuổi. Anh tốt nghiệp Đại Học Harvard và làm việc với người vô gia cư ở Baltimore, và là một giáo chức với Đội Tình Nguyện Dòng Tên ở Nam Thái Bình Dương.

Thứ ba là Rene, 27 tuổi. Anh tốt nghiệp Đại Học California và là một kỹ sư của hãng Texas Instruments.

Thứ tư là David, 28 tuổi vừa mới trở lại đạo Công Giáo.  Anh tốt nghiệp Đại Học Nam Alabama, trong hải quân bốn năm, và sau này là một trị liệu gia thể lý.

Sau cùng là George, 30 tuổi. Anh tốt nghiệp Đại Học Syracuse, đã năm năm là kiểm tra viên hàng không, và làm việc với Đội Tình Nguyện Dòng Tên ở Alaska tại một đài phát thanh.

Chỉ có năm người được chọn trong một danh sách những người vào dòng năm 1987.

Điểm chính là: Thiên Chúa vẫn kêu gọi người ta hôm nay, cũng như Chúa đã kêu gọi ông Giôna trong thời Cựu Ước và Giacôbê, Gioan trong thời Tân Ước.

Và Thiên Chúa đang kêu gọi người nam cũng như nữ.  Và Thiên Chúa đang kêu gọi người trẻ cũng như già.

Điều này đưa chúng ta đến một áp dụng thực tế vào đời sống chúng ta.

Trước hết, nếu chúng ta là cha mẹ, chúng ta có nói con cái hãy cầu xin sự hướng dẫn khi chúng phải chọn lựa công việc trong đời không?

Thứ hai, có bao giờ chúng ta xin Chúa gọi một đứa con của chúng ta để nó tận hiến phục vụ Hội Thánh không?

Và nếu chúng ta là người độc thân – trong tuổi thiếu niên, thanh niên, hay ba mươi – chúng ta có cầu xin Chúa hướng dẫn chúng ta khi phải chọn công việc trong tương lai không?

Hoặc có bao giờ chúng ta xin Chúa giúp chúng ta tận hiến phục vụ Hội Thánh không?

Hoặc có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc tình nguyện cả đời để phục vụ Hội Thánh, như Mike, 26 tuổi, làm việc tình nguyện ở Nam Thái Bình Dương, hoặc như George, 30 tuổi, làm việc tình nguyện ở Alaska không?

Làm việc tình nguyện với những người tình nguyện khác – nam cũng như nữ – là một cách để biết có phải một cuộc đời phục vụ Hội Thánh là điều làm chúng ta hạnh phúc, hoặc là một loại thành quả mà chúng ta đang tìm kiếm không.

Đây chỉ là một vài điều để suy nghĩ xuất phát từ các bài đọc hôm nay.

Đây chỉ là một vài điều để suy nghĩ mà cha mẹ cũng như người độc thân phải suy nghĩ theo ánh sáng của các bài đọc hôm nay.

Thật vậy, vì Thiên Chúa đang mời gọi người ta trong thời đại chúng ta, cũng như Thiên Chúa đã mời gọi con người trong thời Kinh Thánh. Và Thiên Chúa đang mời gọi người nam cũng như nữ, trẻ cũng như già.

Chúng ta hãy kết thúc với một suy nghĩ của Hồng Y Newman:

Thiên Chúa đã giao cho tôi một số công việc

mà Người không giao phó cho người khác.

Tôi có một sứ vụ…

Do đó, tôi sẽ tín thác vào Người…

Người không để nó trở thành vô hiệu…

Người biết điều Người thi hành.

Ôi lạy Chúa, con không dè dặt phó thác trong tay Ngài.

Lm. Mark Link, SJ.

From: Langthangchieutim

Jesus calls Peter & Andrew.jpg

NỤ HÔN CỦA CHÚA GIÊSU: BÀI HỌC TỪ MỘT CẬU BÉ GIÚP LỄ

NỤ HÔN CỦA CHÚA GIÊSU: BÀI HỌC TỪ MỘT CẬU BÉ GIÚP LỄ

TGPSG / Aleteia — Khi cậu bé lần đầu tiên giúp lễ làm một việc khác thường (đón nhận nụ hôn của Chúa Giêsu), cậu đã giúp cha xứ có thêm hiểu biết mới về tình yêu của Chúa Kitô.

Khi Linh mục José Rodrigo López Cepeda thụ phong linh mục được 6 tháng, Đức Giám mục đã chỉ định ngài đến phục vụ tại giáo xứ Đền Thánh Orosia, Tây Ban Nha, thay cho một linh mục đã làm cha xứ ở đó gần 30 năm.

Ban đầu, điều đó không hề dễ dàng đối với vị linh mục trẻ, vì dân chúng đã quen với cách làm việc lâu năm của cha xứ cũ.  Linh mục José nói rằng “mặc dù nhiệm vụ khó khăn, nhưng nó đã đạt kết quả tốt, và nó sẽ không thành công như bây giờ nếu không có sự giúp đỡ của một cậu bé tên là Gabriel.”  Linh mục José đã chia sẻ câu chuyện trên Facebook vào đầu năm nay và nó rất đáng đọc.

Cậu bé Gabriel

 Tuần thứ hai sau khi cha José về giáo xứ, một cặp vợ chồng trẻ đã đến nói chuyện với ngài cùng với cậu con trai Gabriel tám tuổi của họ – cậu bé đã gặp một số thử thách mà cha José miêu tả là “đặc biệt về mọi mặt.”

Cha mẹ của Gabriel đã xin cha xứ mới cho con trai mình được giúp lễ.  Lúc đầu, vị linh mục hơi do dự, không phải vì cậu bé có điều chi kém cỏi, mà chỉ vì ngài đang gặp nhiều khó khăn khi điều khiển giáo xứ.  Tuy nhiên, cậu bé có một “vũ khí bí mật” để chiếm được trái tim của vị linh mục.  Khi cha José hỏi cậu bé có muốn trở thành người giúp lễ không, thay vì trả lời bằng lời nói, cậu bé đã ôm chặt lấy thắt lưng vị linh mục (cao vừa mức cậu bé có thể với tới).  Làm sao vị linh mục này có thể từ chối cho được?

Thánh lễ đầu tiên của Gabriel trong tư cách là người giúp lễ

Cha José bảo cậu bé đến dự Thánh lễ sớm 15 phút vào Chủ nhật tuần sau để có thể kịp giờ giúp lễ lần đầu tiên.

Gabriel đến đúng giờ cùng với toàn bộ gia đình – những người đang mong chờ được nhìn thấy cậu giúp lễ.  Cậu mặc chiếc áo dài màu đỏ và áo choàng trắng có viền ren do bà ngoại làm.  Gia đình của cậu bé đã đã làm cho cộng đoàn dự lễ tăng số người lên cách đáng kể!  Cha José đã mô tả những gì xảy ra sau đó.

“Tôi đã phải chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho Thánh lễ.  Tôi không có ‘ông từ giúp nhà thờ’ hoặc người kéo chuông, vì vậy tôi phải chạy tới chạy lui và phải đến khi Thánh lễ sắp bắt đầu, tôi mới phát hiện ra rằng Gabriel chưa hề biết giúp lễ.  Vì thời gian còn quá ít, tôi nảy ra một ý và nói với cậu bé: “Gabriel, con cứ làm những gì cha làm nhé!  Được không?”

Gabriel là một cậu bé rất ngoan ngoãn và thật thà.  Khi Thánh lễ bắt đầu, vị linh mục hôn lên bàn thờ, cậu bé cũng làm như vậy.  Khi đến bài giảng, cha José nhận thấy rằng mọi người đều đang mỉm cười và chú ý – nhưng không phải chú ý nhìn ngài, mà nhìn chú giúp lễ bé nhỏ kháu khỉnh đang ngoan ngoãn làm hết sức mình để bắt chước mọi cử chỉ của vị linh mục.

Nụ hôn

Sau thánh lễ, cha José kể lại, ngài đã nói với Gabriel những gì cậu nên và không nên làm trong Thánh lễ.  Cha José nói thêm rất rõ rằng, hôn bàn thờ là một cử chỉ dành riêng cho linh mục; Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô, và linh mục, trong khi cử hành Tiệc Thánh, được kết hợp với Ngài một cách đặc biệt.

Cha José viết: “Cậu bé nhìn tôi với đôi mắt to đầy thắc mắc và không hiểu hết những lời tôi đang giải thích cho cậu ấy.”  Mặc dù Gabriel ngoan ngoãn nhưng cậu ấy cũng thẳng thắn và không ngần ngại nói: “Con cũng muốn hôn bàn thờ.”  Những lời giải thích lặp đi lặp lại cũng không giúp thay đổi mong muốn được hôn bàn thờ của cậu bé.  Cuối cùng, cha José nói rằng cha sẽ hôn bàn thờ “cho cả hai người.”  Cậu bé dường như chấp nhận giải pháp này, ít nhất là vào giây phút ấy.

“Bàn thờ đã hôn con”

 Chúa nhật tiếp theo, khi Thánh lễ bắt đầu, vị linh mục hôn lên bàn thờ và quan sát xem cậu bé sẽ làm gì.  Gabriel không hôn bàn thờ với cha José.  Thay vào đó, cậu áp má vào bàn thờ và giữ như thế “với nụ cười thật tươi trên khuôn mặt bé bỏng” cho đến khi cha José bảo cậu dừng lại.

Sau thánh lễ, vị linh mục nhắc lại với cậu bé rằng cậu không được hôn bàn thờ và vị linh mục đang làm điều đó “cho cả hai.”  Câu trả lời của cậu bé khiến vị linh mục ngạc nhiên: “Con không hôn bàn thờ; mà bàn thờ đã hôn con.”  Rất ngạc nhiên, cha José nói: “Gabriel, con đừng đùa giỡn với cha!” Cậu bé không đổi ý: “Thật mà, thưa cha, Chúa đã cho con ngập tràn những nụ hôn.”

Thật đơn giản mà đẹp thay!  Chuyện này không thể không làm cho ta nhớ đến những lời Chúa Giêsu đã nói về trẻ em, được Thánh sử Mátthêu ghi lại:

“Khi ấy, Chúa Giêsu nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, Con cảm tạ Cha, vì Cha đã giấu kín những điều này không cho người khôn ngoan, thông minh biết nhưng lại tiết lộ cho trẻ thơ…” (Mt 11, 25), “Nếu các con không hoá nên như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời (Mt 18, 3).  Cha José nói rằng những lời của Gabriel khiến ngài tràn ngập “sự ghen tị thánh thiện.”  Ngài cũng muốn có được những nụ hôn ấy!  Vì vậy, sau khi mọi người đã về hết, cha José đóng cửa nhà thờ, đi đến bàn thờ và bắt chước cậu bé giúp lễ, áp má vào bàn thờ và cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hôn con như Ngài đã hôn Gabriel.”

Hãy để mình được Chúa Giêsu yêu thương trước

 Trong bài viết của mình, cha José nói rằng cậu bé Gabriel đã dạy ngài về tầm quan trọng của việc để bản thân mình được Chúa Giêsu yêu thương trước, và giữ mình kết hiệp thân mật với Chúa trong những lúc khó khăn.  Cha José nói: Cậu bé đã nhắc tôi nhớ rằng, việc mục vụ không phải là việc của riêng tôi, và việc chiếm được trái tim tha nhân chỉ có được khi tôi sống thân mật ngọt ngào với Đức Kitô – vị Linh mục duy nhất.

Từ đó, cha José giải thích, mỗi khi hôn bàn thờ, ngài thường đặt má lên đó để “đón nhận nụ hôn của Chúa”, bởi vì “nhờ Gabriel – cậu bé giúp lễ cũng là thầy của tôi, tôi học được rằng trước khi hôn bàn thờ Chúa, tôi cần được Ngài hôn.”

Hiện tại, Gabriel đã 25 tuổi và vẫn sống ở thị trấn đó.  Cha López Cepeda hiện đang thi hành chức vụ linh mục ở Mexico (quê hương của Gabriel) và đã không trở lại Tây Ban Nha kể từ năm 2010.  Trước khi ra đi, ngài đã chào cậu giúp lễ này, khi ấy đã thành chàng thanh niên.  Bất chấp khoảng cách xa xôi, họ vẫn kể lại cho nhau nghe ký ức đẹp đẽ này, trong đó Đức Kitô đã và sẽ luôn là nhân vật chính của câu chuyện.

Cecilia Zinicola & Matthew Green (Aleteia)
Nguyệt Nguyễn chuyển ngữ (TGPSG

From: Langthangchieutim

Nu hon cua Chua Giêsu.jpg

TỪ VÔ THẦN TRỞ LẠI ĐẠO CÔNG GIÁO: JOHN VON NEUMANN, CHA ĐẺ CỦA NGÀNH KHOA HỌC MÁY TÍNH

Image may contain: 1 person, text that says 'John Von Neumann (cha đẻ ngành khoa học máy tính hiện đại) "Có lẽ phải có Chúa hiện hữu. Vì nhiều vấn đề (trong khoa học) sẽ dễ dàng lý giải hơn nếu có Chúa hơn là không có Chúa."'

LỜI MỜI GỌI TRƯỞNG THÀNH – KHÓC CHO THÀNH GIÊRUSALEM

LỜI MỜI GỌI TRƯỞNG THÀNH – KHÓC CHO THÀNH GIÊRUSALEM

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trưởng thành có nhiều mức độ khác nhau.  Trưởng thành cơ bản được định nghĩa chính yếu là phải vượt qua tính ích kỷ bản năng mà chúng ta được sinh ra, để bây giờ động lực và hành động của chúng ta được định hình qua nhu cầu của người khác chứ không chỉ qua nhu cầu của chúng ta.  Đó là mức tối thiểu cơ bản, mức tối thiểu để được trưởng thành.  Sau mức độ này, còn có các mức độ và trình độ tùy theo mức độ động cơ và hành động của chúng ta là vị tha hay vị kỷ.

Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có các mức độ trưởng thành ngày càng sâu sắc hơn, dù đôi khi chúng ta có thể bỏ lỡ lời mời vì nó được thể hiện một cách tinh tế chứ không như lời mời đạo đức được truyền đạt một cách rõ ràng.  Một lời mời tinh tế, nhưng rất sâu sắc để có được một mức độ trưởng thành cao hơn như việc Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem.  Có gì bên trong hình ảnh này?

Và đây là hình ảnh và khung bối cảnh của nó.  Chúa Giêsu vừa bị bác bỏ, cả về con người lẫn thông điệp của Ngài, và Ngài thấy rõ nỗi đau mà người dân sẽ gánh chịu do sự từ chối này.  Phản ứng của ngài là gì? Ngài có phản ứng theo cách mà hầu hết chúng ta thường nghĩ: “Quỷ tha ma bắt!  Tôi hy vọng bạn gánh đủ toàn bộ hậu quả của chính sự ngu ngốc này của bạn!”  Không!  Ngài khóc, giống như cha mẹ đối xử với đứa con ương ngạnh bằng tình yêu; ngài mong trong từng thớ thịt, có thể cứu con mình khỏi các hệ quả của các lựa chọn không tốt của nó.  Ngài cảm nhận được vết thương của con cái hơn là vui vẻ nhìn nỗi đau của chúng.

Ở đây có một thách thức kép.  Đầu tiên là vấn đề cá nhân: chúng ta vui mừng khi những người từ chối lời khuyên của chúng ta đau khổ vì sự sai trái của họ, hay chúng ta khóc trong lòng vì nỗi đau mà họ đã tự mang lại?  Khi chúng ta thấy các hệ quả trong cuộc sống của những người có các chọn lựa không đúng, dù đó là do vô trách nhiệm, do lười biếng, do ma túy, tình dục, phá thai, do ý thức hệ, do thái độ chống tôn giáo, hoặc do ý xấu, chúng ta có vui mừng khi các lựa chọn bắt đầu cắn họ như rắn cắn (Này, đã làm thì ráng chịu!) hay chúng ta khóc vì họ, vì bất hạnh của họ?

Phải thừa nhận, thật khó để không vui khi thấy người từ chối lời khuyên của mình bị lãnh đủ với quyết định cứng đầu của họ.  Đó là cách hoạt động tự nhiên của trái tim, vì thế sự đồng cảm có thể đòi hỏi một mức độ trưởng thành rất cao.  Ví dụ, trong đại dịch Covid-19, các chuyên gia y tế (hầu như không có ngoại lệ) yêu cầu chúng ta mang khẩu trang để bảo vệ người khác và bảo vệ chính mình.  Phản ứng tự phát khi chúng ta thấy ai coi thường cảnh báo này, chúng ta có nghĩ họ thông minh hơn bác sĩ, không mang khẩu trang và sau đó bị nhiễm vi-rút không?  Chúng ta có vui thầm khi thấy họ phải gánh hậu quả việc họ làm hay chúng ta, một cách ẩn dụ, “khóc cho thành Giêrusalem” không?

Ngoài thách thức đưa ra cho mỗi chúng ta để tiến tới một mức độ trưởng thành cao hơn, hình ảnh này còn chứa đựng một thách thức mục vụ quan trọng đối với Giáo hội: trong tư cách Giáo hội, làm thế nào chúng ta thấy một thế giới thế tục hóa đã khước từ nhiều niềm tin và giá trị của chúng ta?  Khi chúng ta thấy các hệ quả thế giới đang phải trả cho điều này, chúng ta vui mừng hay thông cảm?  Chúng ta có thấy thế giới thế tục với tất cả những vấn đề mà nó đang tự gây ra do từ chối một số giá trị Tin Mừng như một đối thủ (người mà chúng ta cần bảo vệ cho chính chúng ta) hay như đứa con đau khổ của mình?  Nếu bạn là cha mẹ hoặc ông bà đang đau khổ vì đứa con hay đứa cháu chướng khí, bạn sẽ có thể hiểu ý nghĩa của “khóc cho Giêrusalem.”

Hơn nữa, cuộc đấu tranh để “khóc” cho thế giới thế tục (hoặc với bất cứ ai từ chối các giá trị chúng ta bảo vệ) còn bị làm trầm trọng hơn vì một động lực khác chiến đấu chống lại sự cảm thông.  Trong chúng ta có một khuynh hướng cảm xúc và tâm lý sai lệch hoạt động theo cách này.  Bất cứ khi nào chúng ta bị tổn thương nặng nề, chúng ta cần phải đổ lỗi cho ai đó, cần phải tức giận chống ai đó và cần phải đả kích ai đó.  Và bạn biết ai là người chúng ta luôn chọn để đổ lỗi không?  Một người mà chúng ta cảm thấy đủ an toàn để làm tổn thương vì chúng ta biết họ đủ trưởng thành để không trả đũa lại!

Có rất nhiều chỉ trích Giáo hội ngày nay.  Đúng, có rất nhiều lý do chính đáng để chỉ trích.  Do các thiếu sót của Giáo hội, một phần của sự thù địch này là chính đáng; nhưng một số sự thù địch thường vượt ra ngoài những gì được chứng minh.  Cùng với sự tức giận chính đáng, đôi khi cũng có rất nhiều tức giận vô cớ, tự nguyện.  Phản ứng của chúng ta trước những tức giận vô cớ và lời buộc tội không công bằng đó là gì?  Chúng ta có phản ứng bằng trả đũa không?  “Anh vượt giới hạn rồi, đi chỗ khác mà nổi giận!”  Hay là, như Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta đáp lại tức giận và buộc tội bất công bằng nước mắt cảm thông, và lời cầu nguyện rằng một thế giới đang giận dữ với chúng ta sẽ được tha thứ cho các lựa chọn không đúng của họ không?

Triết gia Soren Kierkegaard đã viết câu nổi tiếng: Chúa Giêsu muốn có đồ đệ, Ngài không muốn có người ngưỡng mộ Ngài!  Lời khôn ngoan.  Trong phản ứng của Chúa Giêsu trước sự từ chối mình, khi Ngài khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta thấy sự tinh tế trong mức độ trưởng thành con người.  Và chúng ta được kêu gọi trưởng thành trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách cộng đồng giáo hội.  Chúng ta cũng thấy đây là trái tim rộng lớn cảm nhận được nỗi đau của người khác, ngay cả nỗi đau của người từ chối mình.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

Jesus Wept - James Tissot.jpg

CHIẾN DỊCH ANRÊ


CHIẾN DỊCH ANRÊ

Lm. Mark Link

Chủ đề: “Chúng ta hãy nên bắt chước Anrê chia sẻ với người khác niềm tin của mình vào Chúa Giêsu.”

Cách đây mấy năm, có một ông lão được nhận vào bệnh viện để điều trị bệnh.  Sau khi ông cụ được dễ chịu, cô y tá hỏi ông lão vài câu hỏi theo thông lệ, vì cô phải điền vào một trong các giấy tờ thủ tục nhập bệnh viện.  Một trong những câu cô hỏi ông lão là: “Tôn giáo ông quí chuộng hơn cả là tôn giáo nào?”  Cụ già nhìn cô y tá và nói: “Tôi rất vui sướng được cô hỏi câu ấy, tôi luôn luôn muốn là một người công giáo, nhưng trước đây chưa có ai hỏi tôi như vậy.  Chính cô là người đầu tiên hỏi tôi câu ấy.”

 Câu chuyện có thực trên đặt cho chúng ta một vấn đề gây bối rối: Tại sao trong chúng ta có nhiều người do dự khi phải chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác?  Hoặc chúng ta có thể đặt lại câu hỏi này như sau: Nếu chúng ta tin rằng Phúc Âm thực sự là Tin Mừng, thì tại sao chúng ta lại không chia sẻ nó với kẻ khác?  Hoặc nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho tàng vĩ đại nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, thì tại sao chúng ta không chia sẻ với người khác đức tin của mình nơi Đức Kitô?

Điều này dẫn chúng ta đến với bài đọc ngày hôm nay.  Bài đọc thứ nhất tường thuật việc Samuel chia sẻ niềm tin của mình với Eli.  Bài đọc thứ hai thuật lại việc thánh Phaolô chia sẻ đức tin của mình với tín hữu Côrintô.  Và bài Phúc Âm trình bày Gioan Tẩy Giả chia sẻ đức tin với hai môn đệ của mình, và Andrê chia sẻ đức tin với anh em mình là Phêrô.

Chúng ta hãy chú ý vào bài Phúc Âm và đặc biệt vào trường hợp Andrê.  Sự kiện thánh Gioan nhắc đến Andrê những ba lần trong Phúc Âm của ngài quả thực mang đầy ý nghĩ.  Lần nào Andrê cũng dẫn đến với Chúa Giêsu một người nào đó, lần nào ông cũng chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác, trong bài đọc hôm nay, Andrê dẫn Phêrô, anh mình đến với Chúa Giêsu, mà Ngài đặt làm viên đá để xây dựng Giáo hội Ngài trên đó.  Về sau, Andrê lại dẫn đến với Chúa Giêsu một em bé có 5 ổ bánh và hai con cá (Ga 6: 8) và Chúa Giêsu đã dùng bánh và cá này để thiết đãi đám đông đang đói một bữa no nê.  Sau cùng, chính Andrê lại dẫn đến với Chúa Giêsu vài người Hy Lạp (Ga 12: 20-22), để rồi Chúa Giêsu thừa cơ hội này dạy cho dân chúng những điều trọng đại.

Từ đó, chúng ta trở lại câu hỏi ban đầu; Nếu quả thực chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, thì tại sao chúng ta lại không muốn chia sẻ kho tàng của chúng ta cho kẻ khác?

Câu trả lời mà chúng ta thường nghe là: người khác có thèm chú tâm đến Đức Giêsu đâu: câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi trên là nhiều người nghĩ rằng ông lão kia cũng chả chú tâm gì đến Chúa Giêsu.  Có lẽ họ tự nghĩ; “Nếu ông lão chú tâm đến Chúa Giêsu hoặc nếu lão ta muốn trở thành một người Công giáo thì lão ta đã lo liệu được việc đó từ lâu rồi!”

Vài năm trước, một giáo viên trung học ở Chicago đã yêu cầu mỗi học viên trong lớp phỏng vấn ba người về vấn đề cầu nguyện.  Các học viên phải đặt cho họ 5 câu hỏi:

– Anh (chị) có cầu nguyện không?

– Anh (chị) cầu nguyện hằng ngày hay chỉ thỉnh thoảng?

– Tai sao anh (chị) cầu nguyện?

– Khi cầu nguyện, anh (chị) cầu nguyện như thế nào?

– Ai đã dạy anh (chị) cầu nguyện?

Cuộc phỏng vấn của các học viên đem lại ba điều ngạc nhiên:

Thứ nhất, các học viên ngạc nhiên vì không ngờ người ta lại sẵn lòng bàn luận đến vấn đề cầu nguyện như thế.

Thứ hai, họ ngạc nhiên khi thấy có nhiều người cầu nguyện hằng ngày.

Và thứ ba, họ ngạc nhiên vì có nhiều bạn bè thân thiết của mình có cầu nguyện, thế mà trước đó họ chưa hề bao giờ bàn luận với nhau vấn đề ấy.

Một sinh viên nói về cuộc phỏng vấn:

“Tôi cứ tưởng các bạn tôi sẽ chế nhạo cuộc phỏng vấn, thế mà hoàn toàn khác hẳn, họ đã kính cẩn trả lời.  Một trong các bạn tôi nói rằng anh thực vui mừng khi bàn về một điều thực sự có ý nghĩa như thế.

Một cô gái kết luận: “Điều tôi thu lượm được từ dự án phỏng vấn nói trên chính là: Người ta đã thực sự quan tâm đến vấn đề cầu nguyện.”

Tất cả chúng ta đều đã đọc các bài viết trong các tạp chí bàn về cách thức trở nên một người nói chuyện có duyên hơn, hoặc bàn về việc trau dồi nhân cách bằng cách trau dồi nghệ thuật nói chuyện của mình.  Các bài ấy luôn luôn nhấn mạnh điều này; Chúng ta nên nói đến những gì thân thiết và quan trọng đối với chúng ta.  Thế mà có gì thân thiết và quan trọng hơn là niềm tin vào Chúa Giêsu?  Ai còn nghĩ rằng người ta chả quan tâm gì đến những việc này thì nên ghi nhớ cuộc khảo sát của các sinh viên nêu trên.  Người ta chẳng những ủng hộ cuộc khảo sát mà còn lấy làm hăng hái tham gia vào đó là khác.

Điều này khiến chúng ta đi đến một điểm quan trọng “chúng ta nên chia sẻ đức tin của chúng ta với kẻ khác.”  Bất cứ ai nghĩ rằng điều này không quan trọng thì người ấy nên ghi vào tâm trí câu chuyện về ông lão nói trên.  Giả như cô y tá chẳng hỏi ông về vấn đề tôn giáo thì chắc hẳn ông đã qua đời trong tình trạng chưa thực hiện được giấc mơ trở thành một người công giáo.

Và bất cứ ai nghĩ rằng việc chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác là không quan trọng thì kẻ ấy nên ghi vào tâm trí bài Tin Mừng hôm nay.  Giả như Andrê đã không chia sẻ đức tin với ông anh Phêrô thì có lẽ chẳng bao giờ Phêrô trở nên tảng đá trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo hội Ngài.  Và giả như Andrê đã không chia sẻ đức tin của mình với cậu bé có năm chiếc bánh và hai con cá thì có lẽ đám đông trên đồi sẽ trở về nhà bụng đói meo và Phúc Âm có lẽ đã không có được một trong những câu chuyện hứng khởi nhất của toàn bộ Kinh Thánh rồi!

Để kết luận, bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta xem xét kỹ lưỡng lý do tại sao chúng ta còn miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của mình với kẻ khác?  Nếu chúng ta tin Phúc Âm là Tin Mừng và nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà con người có thể chiếm hữu, thì tại sao chúng ta lại miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của mình với con cái chúng ta, với bạn bè chúng ta và với những ai mà ta biết đang tìm kiếm một niềm tin?  Đây là vấn nạn cực kỳ quan trọng mà Tin Mừng hôm nay đặt ra trước mỗi người trong chúng ta.  Không ai có thể trả lời dùm chúng ta.  Chúng ta phải tự mình trả lời lấy, mỗi người tuỳ theo cách thức riêng của mình.  Và chúng ta bị bắt buộc phải trả lời câu hỏi ấy.  Tha nhân đang chú tâm vào đức tin của chúng ta, và sự chia sẻ đức tin của chúng ta đóng vai trò cực kỳ quan trọng.

Chúng ta hãy kết thúc với lời khấn nguyện.

“Lạy Chúa, xin dạy cho mỗi người trong chúng con biết rằng ngay ở đây, trên trái đất này, Chúa chỉ biết nhờ đôi bàn tay chúng con để giúp đỡ những người thiếu thốn, Chúa chỉ biết dùng trái tim chúng con để ôm ấp những kẻ cô đơn; Chúa chỉ nhờ giọng nói chúng con để chia sẻ sứ điệp loan báo cuộc sống, nỗi khổ đau và cái chết Chúa đã chịu vì chúng con.

Lạy Chúa, xin hãy dạy chúng con biết rằng ở nơi đây, trên trái đất này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là tiếng nói của Chúa, và chúng con là trái tim của Chúa.”

 Lm. Mark Link

From: Langthangchieutim

Ba Lời Nguyện Nhiệm Màu Cầu Cho Người Hấp Hối

 Ba Lời Nguyện Nhiệm Màu Cầu Cho Người Hấp Hối

Kinh này rất cần thiết cho người sắp chết, và nên được đọc thường xuyên như việc thực thi lòng thương xót.

  1. Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài là Con Thiên Chúa và Ðức Trinh Nữ Maria, là Thiên Chúa và là loài người! Ngài trong nổi sợ đổ mồ hôi máu cho chúng con trên Ðồi Olives để mang đến cho chúng con bình an, và đã dâng lên Thiên Chúa Cha chính cái Chết Cực Thánh của Ngài để cứu độ cho (người…) đang hấp hối này.

Nếu như vì tội lỗi của (người…) đang hấp hối đây, người đáng chịu án phạt đời đời, con nguyện xin Chúa cho (người…) này được tránh khỏi án phạt đó. Lạy Cha Hằng Hữu, qua Chúa Giêsu Kitô, Con yêu dấu của Cha, Ðấng đang sống và hiển trị trong sự hiệp nhất với Ngài và Chúa Thánh Thần bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

  1. Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài đã vâng lời chịu chết trên cây Thập Tự cho chúng con. Ngài đã hiến dâng trọn vẹn cho Thánh Ý của Ngài cho Chúa Cha trên trời để mang lại bình an và hiến dâng cái Chết Cực Thánh cho Cha trên trời để giãi thoát (người này ….) và để xóa đi những tội lỗi (người này) đã phạm.

Lạy Cha Hằng Hữu xin ban cho người này qua Chúa Giêsu Kitô con Cha, Ðấng đang sống và hiển trị với Ngài trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

  1. Lạy Chúa Giêsu Kitô! Ngài đã giữ im lặng để nói qua miệng của các ngôn sứ rằng: Tôi đã nhận lấy Ngài qua Tình Yêu Vĩnh Cữu, đó là tình yêu đã đem Ngài từ Thiên Ðàng xuống trong cung lòng của Ðức Trinh Nữ, tình yêu đã đem Ngài từ thân xác của Ðức Trinh Nữ vào trong thung lũng của thế giới đầy khao khác này, tình yêu đã giữ Ngài 33 năm ở nơi trần thế, và như dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã ban tặng Thánh Thể như Của Ăn Thật và Máu Thánh như Của Uống Thật.

Như một dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã bằng lòng bị bắt và bị điệu từ quan tòa này đến quan tòa khác. Như một dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã bằng lòng nhận chịu án tử, và đã bằng lòng chịu chết, chịu mai táng và đã sống lại thật, và đã hiện ra cho Ðức Mẹ và các Thánh tông đồ.

Như một dấu chỉ của Tình Yêu Lớn Lao, Ngài đã lên trời bằng quyền năng của Ngài ngự bên hữu Ðức Chúa Cha. Ngài đã ban Chúa Thánh Linh vào trong tim của các Tông Ðồ và tất cả những ai hy vọng và tin tưởng nơi Ngài.

Qua Dấu Hiệu của Tình Yêu Vĩnh Cữu, xin Ngài mở cửa Thiên Ðàng hôm nay và đón nhận (người này …) đang hấp hối đây… và mọi tội lỗi được tha của (người) này vào trong Vương Quốc của Thiên Chúa Cha trên trời, nơi người này sẽ cùng hưởng phúc với Ngài bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

* Nguồn Gốc :

Có một vị Giáo Hoàng ở Roma phạm nhiều tội lỗi. Chúa đã phạt Ngài với căn bịnh hiểm nghèo. Khi Ngài biết rằng Ngài đã sắp chết, Ngài triệu các Hồng Y, Giám Mục và các học giã đến và phán:

– ‘Các bạn thân mến ! Ðiều gì các bạn có thể giúp trấn an cho Ta trong lúc này đây vì ta sẽ chết, trong khi ta đáng chịu hình phạt đời đời vì tội lỗi của Ta?’

Không ai trả lời Ngài cả. Một người trong họ, một Cha phụ tá tên là John đáp:

– ‘Thưa Cha, tại sao Ngài lại nghi ngờ lòng thương xót của Thiên Chúa?’

Ðức Thánh Cha trã lời:

– ‘Lời an ủi nào con có thể cho Cha bây giờ khi Cha phải chết và sợ rằng Cha sẽ bị án phạt vì tội lỗi của Cha?’

Cha John đáp:

– ‘Con sẽ đọc ba lời nguyện cho Cha; con hy vọng Cha sẽ được an ủi và Cha sẽ nhận được lòng thương xót của Chúa.’

Vị Giáo Hoàng không thể nói thêm được lời nào cả. Cha phụ tá và mọi người quỳ xuống và đọc những lời kinh ở trên.

Trong khi đó, Ðức Thánh Cha từ trần. Cha phụ tá kiên trì cho đến giờ thứ ba và Ðức Thánh Cha hiện ra trong thân xác Ngài và trấn an Cha; vẻ mặt Ngài rạng rở như mặc trời, y phục Ngài trắng như tuyết, Ngài phán:

– “Bạn thân mến! Trong khi tôi đáng là đứa con bị nguyền rủa thì tôi đã trở thành đứa con được chúc phúc.

Khi Cha đọc lời nguyện thứ nhất, nhiều tội lỗi đã rời khỏi tôi như mưa từ Thiên Ðàng rơi xuống, và khi Cha đọc lời nguyện thứ hai, tôi đã được thanh tẩy, như người thợ bạc rèn vàng trong lửa nóng.

Tôi vẫn còn được thanh luyện thêm trong khi Cha đọc lời nguyện thứ ba. Và rồi tôi thấy Thiên Ðàng mở ra và Chúa giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha, Ngài nói với tôi:

– ‘Hãy đến đây, mọi tội lỗi con đã được tha rồi, con sẽ ở đây và ở lại trong Vương quốc của Cha Ta mãi mãi.

Với những lời nguyện này, linh hồn tôi lìa khỏi xác và được Thiên Thần Chúa dẫn về nơi vĩnh phúc.”

Khi nghe những lời này Cha phụ tá nói:

– ‘Ôi Ðức Thánh Cha! con không thể nói việc này với ai cả vì họ sẽ không tin con đâu.’

Ðức Thánh Cha phán:

– ‘Quả thật Cha nói cho con hay, Thiên Thần của Chúa đang đứng với Cha và đã viết những lời nguyện này bằng chữ vàng để an ủi mọi tội nhân.

Ðức Thánh Cha nói rằng những lời nguyện này nếu được đọc trong sự có mặt của một người rất tội lỗi đang lúc gần chết, sẽ trợ giúp họ với nhiều ân sủng và ngay cả giúp họ chịu đựng nơi luyện ngục để họ sẽ được giải thoát khỏi những trừng phạt do tội lỗi họ gây nên.

Những ai nghe đọc kinh này, sẽ không chết trong khốn khổ. Những ai gần chết, mà đọc hoặc nghe những kinh này, thì sẽ được 400 năm ân xá nếu phải chịu gia hình nơi luyện ngục vì tội lỗi họ. Cũng vậy, người đọc hoặc nghe kinh nguyện này, sẽ được biết trước giờ chết của họ. Amen!

Image may contain: 4 people

ÔNG HOÀNG NÓI DỐI

ÔNG HOÀNG NÓI DỐI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nhìn vào thế giới của chúng ta ngày nay, điều làm cho tôi lo sợ và lo lắng hơn cả mối đe dọa Covid, hơn cả bất bình đẳng ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, hơn cả nguy hiểm biến đổi khí hậu, và thậm chí hơn cả sự căm ghét cay đắng hiện đang chia rẽ chúng ta, đó là việc chúng ta mất đi không còn cảm giác nào về sự thật, sự từ chối thẳng thừng của chúng ta đối với bất kỳ sự thật nào mà chúng ta cho là không thuận lợi, cũng như câu cửa miệng của chúng ta về “tin tức giả”, “sự thật dối lừa” và các âm mưu ảo tưởng.  Mạng xã hội, với tất cả những gì tốt đẹp nó mang lại, lại tạo ra cơ sở để cho ai cũng có thể nói lên sự thật của riêng mình, và sau đó làm xói mòn các sự thật kết nối chúng ta và neo giữ sức khỏe tinh thần chúng ta.  Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới mà hai cộng hai thường không còn là bốn nữa.  Điều này tác động trên sức khỏe tinh thần chúng ta và đã tạo ra một số chuyện điên rồ trong xã hội.  Các sự thật neo giữ cuộc sống chung của chúng ta không còn được neo giữ.

Rõ ràng đây là điều xấu, và Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, Ngài nói với chúng ta Satan là Vua Dối trá tiêu biểu nhất.  Nói dối là mối nguy hiểm tối hậu cuối cùng của thiêng liêng, đạo đức và tâm lý.  Nó có gốc rễ trong điều Chúa Giêsu gọi là “tội chống Đức Chúa Thánh Thần là tội không thể tha thứ.” Tội này là tội gì và vì sao nó không thể tha thứ?

Đây là bối cảnh Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta về tội này: Ngài vừa trừ quỷ.  Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó tin như tín điều rằng: chỉ ai đến từ Chúa mới có thể đuổi quỷ.  Chúa Giêsu vừa trừ quỷ, nhưng lòng hận thù của họ đối với Ngài làm cho họ xem đây là sự thật khó nuốt trôi.  Vì thế để phủ nhận thực tế, họ chọn cách phủ nhận những gì họ biết là đúng.  Họ chọn nói dối, khẳng định (dù họ đã biết rõ) Chúa Giêsu đuổi quỷ nhờ quyền lực của Ben-dê-bút.  Mới đầu Chúa Giêsu cố gắng vạch ra lập trường phi lô-gích của họ, nhưng họ vẫn ngoan cố.  Sau đó Chúa đưa ra lời cảnh báo tội không thể tha thứ là tội chạm đến Chúa Thánh Thần.  Lúc đó Ngài không buộc tội họ phạm tội này, nhưng cảnh báo nếu họ đi theo con đường này, nếu họ không sửa đổi thì sẽ dẫn họ đến tội đó.  Về bản chất, Ngài đang nói điều này: nếu chúng ta nói dối đủ lâu, cuối cùng chúng ta sẽ tin vào điều đó và điều này làm lương tâm chúng ta bị xói mòn đến mức chúng ta bắt đầu coi sự thật là giả dối và giả dối là sự thật.  Tội sau đó trở thành không thể tha thứ vì chúng ta không còn muốn được tha thứ và cũng sẽ không sẵn sàng để nhận tha thứ.  Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ nhưng chúng ta không sẵn sàng chấp nhận tha thứ vì chúng ta thấy tội là điều tốt và điều tốt lại thành tội.  Thế thì chúng ta muốn được tha thứ để làm gì?

Có thể chúng ta sẽ rơi vào trạng thái này, một trạng thái trong đó chúng ta cho rằng các ơn của Chúa Thánh Thần (bác ái, vui vẻ, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, kiên trì, trung thành, dịu dàng, khiết tịnh) là giả dối, là chống lại sự sống, là sói đội lốt cừu.  Và bước đầu để đi đến tình trạng này là nói dối, không chịu thừa nhận sự thật.  Các bước tiếp theo cũng là nói dối, có nghĩa là tiếp tục từ chối chấp nhận sự thật để rồi tin lời nói dối của chính mình và chúng ta xem chúng là sự thật và sự thật là dối trá.  Nói thẳng, đó là những gì tạo ra địa ngục.

Địa ngục không phải là nơi con người đau buồn, ăn năn và cầu xin Chúa cho thêm cơ hội để sửa đổi mọi thứ cho đúng đắn.  Địa ngục cũng không bao giờ là điều bất ngờ tà ác chực chờ người lương thiện.  Nếu có ai trong địa ngục, thì là họ ở đó với lòng kiêu ngạo, than phiền những người ở trên thiên đàng, xem thiên đàng là địa ngục, bóng tối là ánh sáng, giả dối là chân lý, xấu xa là tốt, hận thù là tình yêu, thiện cảm là yếu đuối, kiêu ngạo là sức mạnh, sáng suốt là điên rồ, và Chúa là ma quỷ.

Một trong các bài học trọng tâm trong Tin Mừng là: nói dối là nguy hiểm, là tội nguy hiểm nhất trong các tội.  Và điều này không chỉ diễn ra trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần.  Khi nói dối, chúng ta không những chỉ có tác động nhanh và lỏng lẻo với Chúa, chúng ta còn tác động nhanh và lỏng lẻo với chính sức khỏe tinh thần của chúng ta.  Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào điều mà thần học cổ điển gọi là “hiệp nhất” của Chúa.  Điều này có nghĩa Chúa là nhất quán.  Không có mâu thuẫn nào bên trong Thiên Chúa và do đó, thực tế cũng có thể được cho là nhất quán.  Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào niềm tin này.  Chẳng hạn nếu một ngày mà hai cộng hai không còn là bốn, thì các nền tảng sức khỏe tinh thần của chúng ta sẽ không còn trụ được nữa; chúng ta thực sự sẽ không có gì để neo giữ bản thân nữa.  Sức khỏe tinh thần của chúng ta và sức khỏe tinh thần của xã hội tùy thuộc vào sự thật, khi chúng ta thừa nhận sự thật, khi chúng ta nói sự thật, và dựa trên hai cộng hai mãi mãi vẫn là bốn.

Martin Luther đã nói: hãy phạm tội thật táo bạo!  Ông muốn nói rất nhiều về điều này, nhưng chắc chắn điều ông muốn nói là mối nguy hiểm tối hậu đối với tinh thần và đạo đức của chúng ta là che đậy yếu điểm của mình bằng cách nói dối, vì Satan là Vua của Dối trá!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

CẦU NGUYỆN

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giêsu, sám hối không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi. Chúng con ngỡ ngàng khi thấy Chúa là Đấng vô tội, mà lại đứng chung với các tội nhân, chờ Gioan ban phép rửa. Chúa đã muốn nên bạn đồng hành với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.

Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh lối nghĩ và lối sống của mình, tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng, thành thật để khỏi tự dối mình. Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải, dám đi đến những hành động cụ thể, và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau. Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con niềm vui của Gia kêu, hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

Thanh Le Chu Nhat Le Chua Giesu Chiu Phep

Rua va Kinh Thanh Gregory of Nyssa.

From: Anh NguyenNThu

QUA PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU NHẮC NHỞ CHÚNG TA GIỮ MÌNH LUÔN SẠCH TỘI

QUA PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU NHẮC NHỞ CHÚNG TA GIỮ MÌNH LUÔN SẠCH TỘI

Tuyết Mai

Con cái của Thiên Chúa trên thế trần ai ai cũng biết rằng Chúa Giêsu của chúng ta Ngài đâu cần Phép Rửa vì Ngài đâu có mắc tội tổ tông truyền nhưng vì Ngài được sinh ra trong thế gian, mặc lấy xác phàm nên Ngài cũng đã phải chịu Phép Rửa để làm gương cho muôn dân nước.

–*–

Người đời chúng ta thường khi nghe nói đến từ “rửa” thì liền nghĩ đến ngay đến sự rửa ráy cho sạch những gì dơ bẩn bám trên thân thể, quần áo, vật dụng, nhà cửa, v.v… Và có phải người đời thường của chúng ta ai cũng thích, cũng chuộng sự sạch sẽ thơm tho nhất là vấn đề vệ sinh cá nhân vì ngay cả chính chúng ta cũng không chịu nổi cái mùi mồ hôi của chính mình.

**

Đấy là chúng ta nói về vấn đề thân xác rất dơ bẩn và hay chết của chúng ta, sẽ đến một ngày nào đó thật bất ngờ thì thân xác nó cũng sẽ bị ra thối tha và rữa tan vào lòng đất lạnh nhưng điều đáng sợ ở đây là Linh Hồn chúng ta nó sẽ sống muôn đời vì là giống thiêng liêng chẳng hề chết được và tùy vào Linh Hồn của mỗi người ấy có luôn giữ cho được sạch tội hay để cho quá dơ bẩn vì tội lỗi bám đầy theo thời gian?.

**

Khi nói đến một Linh Hồn sạch sẽ và một Linh Hồn dơ bẩn đến như thế nào, thiết nghĩ ai trong chúng ta là người Kitô hữu cũng hiểu được điều đó cả … Ấy là khi chúng ta còn sống trên cõi đời tạm bợ này đối với một Linh Hồn sạch sẽ thì nó luôn có sự yêu thương, khiêm nhường, tôn trọng người, bác ái, hy sinh và tha thứ cho nhau vô điều kiện.

–*–

Còn ngược lại những Linh Hồn luôn sống trong tham lam, kiêu ngạo, ganh tị, khinh rẻ và bạc đãi người anh em, thù ghét và gieo họa cho người thì Linh Hồn ấy hẳn rất là dơ bẩn, bất xứng trước Nhan Thiên Chúa. Vì như viên ngọc quý Chúa ban cho mà chúng ta lại dám coi thường và vứt nó vào xó nhà. Lâu ngày chầy tháng, nó bị bụi trần chúng đóng bám đầy đến độ nó trở thành một cục đá rất xấu xí và rất nặng nề mà tự chính mình không thể nào chùi rửa được nữa.

**

Ai trong chúng ta con cái Chúa cũng vinh hạnh nhận được Phép Rửa từ ở tuổi sơ sinh cho đến ở tuổi gần mãn đời cũng được Thiên Chúa yêu thương đồng đều nhưng mỗi Linh Hồn thì không đồng đều nhau là do tự ý chúng ta đã chọn cách sống tốt lành hay xấu xa đầy tội lỗi trong suốt thời gian chúng ta sống trên cõi đời rất vô thường này.

–*–

Nên Phép Rửa của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta hằng năm là cố gắng sống đẹp lòng Chúa qua thanh tẩy cuộc đời và tâm hồn của mình bằng cách tìm đến Tòa Giải Tội để hòa giải cùng với Chúa ít là một năm một lần. Cố gắng giảm bớt hay từ bỏ bớt sự sống kiêu ngạo, tham lam, gian dối, lừa lọc, và hãm hại người nhất là trong thời đại dịch Covid-19 này vì không ai biết trước được ngày mai ta sẽ ra sao?.

–*–

Thay vào đó là tăng lòng sốt mến yêu kính Chúa hơn, yêu tha nhân hơn, siêng năng đọc kinh Mân Côi và qua mọi việc chúng ta làm cách hy sinh dù ít hay nhiều; để bảo đảm linh hồn của chúng ta sau khi lìa trần thì linh hồn chúng ta sẽ được Thiên Chúa đón nhận vào Nơi có sự sống hạnh phúc muôn đời trên Thiên Đàng.

–*–

Nơi có Thiên Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ Maria, cùng toàn thể các đạo binh, các thánh và tất cả anh chị em trên Thiên Quốc. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

9 tháng 1, 2021

MỘT KỶ NGUYÊN MỚI

MỘT KỶ NGUYÊN MỚI

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Chúa nhật tuần trước, chúng ta đã cử hành lễ Hiển Linh, Chúa Giêsu được giới thiệu cho muôn dân mà đại diện là ba nhà đạo sĩ đến từ phương Đông.  Hôm nay, Phụng vụ giới thiệu với chúng ta một cuộc “thần hiện” khác qua việc Chúa Giêsu chịu phép rửa.  Sự kiện này được trình bày như một nghi thức phong vương long trọng.  Qua nghi thức này, chính Chúa Cha giới thiệu với nhân loại về Chúa Con và sứ mạng của Người.  Chúa Thánh Thần cũng xuất hiện dưới hình chim bồ câu và đậu trên Chúa Giêsu.

Dưới ngòi bút của thánh sử Maccô, Chúa Giêsu được diễn tả như một Môisen mới.  Nếu ông Môisen trong Cựu Ước đã dẫn Dân Thánh đi qua biển đỏ, thì nay, Chúa Giêsu cũng dẫn nhân loại vượt qua tội lỗi đến đạt tới sự thánh thiện.  Cách nói “vừa lên khỏi nước” gắn liền với nghi thức thanh tẩy Chúa Giêsu đã lãnh nhận từ tay ông Gioan Tẩy giả, phần nào muốn nhắc tới cuộc vượt qua biển đỏ của dân Do Thái trong lịch sử.

Chi tiết kể lại việc “Chúa Giêsu thấy tầng trời mở ra” có ý nghĩa tượng trưng rất sâu sắc: theo truyền thống Do Thái, cửa trời đã đóng lại sau những vị ngôn sứ cuối cùng (Agê, Giacaria, Malakia) ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên.  Mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người cũng vì thế mà gián đoạn.  Trước khi Chúa Giêsu đến trần gian, dường như hoạt động của Thần Khí đã bị ngưng lại.  Với Chúa Giêsu, mọi sự đã thay đổi.  Kỷ nguyên mới đã khai mào.  Việc các tầng trời mở ra (nguyên văn tiếng Hy lạp: trời xé toạc ra) chứng minh cho thấy mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người không còn ngăn cách nữa, mà được nối lại.  Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu như dấu hiệu của thời cứu rỗi và của cuộc sáng tạo mới.  Hình ảnh Chúa Thánh Thần ngự xuống nơi Chúa Giêsu dường như phác họa lại thời hoang sơ, trước khi Thiên Chúa thực hiện công trình sáng tạo của Người: “Thần Khí Chúa bay là là trên vực thẳm hỗn mang” (St 1,2).  Việc Chúa Thánh Thần dưới hình dạng chim bồ câu giúp chúng ta liên tưởng đến con chim ngậm cành ôliu sau trận Đại hồng thủy trong Cựu Ước.  Thần Khí Chúa đến để loan báo cho nhân loại biết thời gian trừng phạt của Chúa đã mãn (x. St 8,8-11).  Cũng giống như nước hồng thủy đã rút và một nhân loại mới tinh tuyền thánh thiện đã khởi đầu, thời kỳ cứu độ trong ân sủng đã khai mào trong Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu.  Vì vậy, từ thời các Giáo phụ, trận lụt Đại hồng thủy, cũnng như cuộc vượt qua Biển Đỏ, đã được chú giải như hình bóng của Bí tích Thanh tẩy của các Kitô hữu.

Một chi tiết nữa rất quan trọng trong trình thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa trong Tin Mừng Thánh Máccô, đó là tiếng nói từ trời.  “Tiếng nói từ trời” là cách diễn tả Thiên Chúa của người Do Thái, như kiểu người Việt chúng ta kiêng tránh phạm húy.  Tiếng nói ấy đã khẳng định: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”  Đây cũng là một lời giới thiệu Đấng Mêsia cho nhân loại.  Những người hiện diện hôm đó ở bờ sông Giođan, khi nghe câu tuyên bố của Chúa Cha, chắc chắn liên tưởng đến những lời của Cựu Ước: “Con là con Ta, hôm nay Ta đã hạ sinh ra con” (Tv 2,7); hoặc: “Đây là tôi tớ mà Ta tuyển chọn.  Ta hài lòng về Người” (Is 42,1-2).

Vì những chú giải ở trên, sự kiện Chúa Giêsu chịu phép rửa được hiểu như một cuộc “thần hiện”, qua đó, sứ mạng của Chúa Giêsu được giới thiệu công khai cho dân chúng.  Người là Đấng Cứu độ trần gian.  Người đã khởi đầu sứ mạng một cách rất khiêm tốn, hòa vào dòng người đang nhận mình là tội nhân và sám hối bằng cách dìm mình xuống dòng sông để được ông Gioan thanh tẩy.

Theo giáo huấn của Giáo Hội Công giáo, khi chấp nhận dìm mình xuống dòng sông Giordan và lãnh phép rửa bởi tay ông Gioan, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Tẩy, để rồi từ nay, những ai được dòng nước thiêng ấy tẩy rửa, họ sẽ được tha tội Tổ tông và các tội khác đã phạm, trở nên một tạo vật mới tinh tuyền thánh thiện.  Thánh sử Maccô đã nhìn thấy bản chất siêu nhiên của bí tích Thanh Tẩy Kitô giáo, khi ghi lại lời của Gioan Tẩy giả: “Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần.”  Như vậy, trong nghi thức Thanh tẩy, linh mục chủ sự chỉ đóng vai trò như ông Gioan Tẩy giả, còn chính Chúa Giêsu thanh tẩy chúng ta và ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần.  Nhờ việc ban Chúa Thánh Thần, chúng ta trở nên những người con cái của Thiên Chúa, là người đồng thừa tự với Chúa Giêsu, tức là cùng với Người hưởng gia nghiệp vĩnh cửu mà Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài.  Nhờ Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, chúng ta cũng trở nên những người con yêu dấu của Chúa Cha.  Nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta chấm dứt cuộc sống cũ và bước sang thời đại mới, thời đại của ơn cứu rỗi.  Huyền nhiệm vinh dự của phép Thanh tẩy chỉ có thể cảm nhận bằng Đức Tin, vì “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Bài đọc I).

Nếu Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên Chúa Giêsu dưới hình chim bồ câu, thì vào ngày chúng ta được lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta cũng được lãnh nhận Chúa Thánh Thần như vậy.  Chính Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta Đức tin và soi sáng giúp chúng ta nhận biết Đức Giêsu là Đấng Cứu độ nhân loại.  Có Đức tin là một ơn Chúa ban.  Chúng ta ngỡ ngàng trước mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, giống như chúng ta và đã chết trên cây thập giá, đã sống lại vào ngày thứ ba.  Đương nhiên chúng ta chưa thể hiểu hết những mầu nhiệm này.  Tuy vậy, khi thinh lặng quỳ gối cầu nguyện, chúng ta nhận ra những màu nhiệm ấy là có thật.  Khi chiêm ngắm cầu nguyện trước Thánh Thể, là một mầu nhiệm con người không thể hiểu thấu, chúng ta ra về với tâm hồn thanh thản và được tăng thêm sức mạnh.

“Đây là con Ta yêu dấu!”  Chúa Cha đã nói những lời ấy về Chúa Giêsu.  Khi được thanh tẩy, Chúa Cha cũng nói về chúng ta như thế.  Xin cho chúng ta trở nên hiện thân của Người giữa trần gian, để đem niềm vui và hy vọng đến cho cuộc đời.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

The-baptism-of-Christ-andrea-del-verrocchio-and-leonardo-da-vinci.jpg