CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Lm. Kiều Công Tùng

Nghi thức tuần thánh khởi đầu bằng một cuộc kiệu Lá để tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào thành Giê-ru-sa-lem.  Một cuộc kiệu tưng bừng tiếng tung hô: “Hoan hô thái tử nhà Đa-vít!  Chúc tụng Vua Ít-ra-en,” nhưng lại nhuốm buồn vì liền ngay sau đó chúng ta được nghe trình thuật về cuộc thương khó của Chúa.  Trong suốt Tuần Thánh này, có ba cuộc kiệu như thế.  Hai cuộc kiệu còn lại vào chiều thứ Năm tuần thánh – kiệu Mình Thánh Chúa, và Đêm Vọng Phục Sinh – kiệu Nến Phục Sinh.  Những cuộc kiệu trong khung cảnh cuộc thương khó vừa mở ra trước mặt chúng ta một con đường, vừa như là một nhắc nhớ: đằng sau buồn thương có niềm vui cứu độ, qua khổ nạn sẽ là Phục Sinh.

Đường đưa tới vinh quang

 Bài thương khó theo thánh Mát-thêu đã gợi lên những hình ảnh xem ra hoàn toàn trái ngược với cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem.  Thật vậy, việc Chúa được dân chúng tung hô đón rước khi Ngài vào thành thánh chỉ là hình ảnh báo trước vinh quang đích thực Ngài sẽ nhận được khi Chúa Cha cho Ngài sống lại từ cõi chết.  Nhưng để được vinh quang ấy, Đức Giêsu phải đi vào con đường khổ nạn, phải tự hiến mình làm hy lễ dâng lên đẹp lòng Cha.

Rất nhiều lần chiêm ngắm bức ảnh Chúa hấp hối, chúng ta thấy được gì phía sau hình ảnh một Chúa Giêsu đẹp đẽ uy nghi quì gối bên một phiến đá dưới ánh trăng vàng đầy thơ mộng?  Chúng ta có nhận thấy một Đức Kitô đang gập mình xuống đất, oằn oại trong cơn khủng hoảng vượt quá sức mình?  Chúng ta có hiểu được lời Ngài thổ lộ với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26, 38) và cả tiếng kêu thống thiết trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Nỗi đắng cay như vây kín và xiết chặt lấy Ngài, đắng cay của người bị bạn mình phản bội, của Thầy bị môn đệ chối từ và bỏ rơi, của Đấng cứu tinh bị dân mình loại trừ.  Tất cả đều do sự ích kỷ, lòng kiêu căng và nỗi tham vọng của con người.  Thân xác Chúa khổ sầu đến nỗi mồ hôi máu đổ ra và tâm hồn Ngài gần như tan nát không phải vì những roi đòn và nhục mạ, nhưng chính là gánh nặng của tội lỗi nhân loại. “Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53, 4).

Qua khổ nạn mới đến Phục Sinh.  Đó chính là chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, nhờ đó Chúa Cha và Chúa Con được tôn vinh.  Còn trong thực tế cuộc sống, có nhiều người lại muốn đạt đến vinh quang bằng những con đường ngắn nhất và dễ nhất.  Cuối cùng, những gì mà họ có được chỉ là hư ảo, tầm thường nhất và cũng mau qua nhất.

Đường nở hoa tình yêu

 Đức Giêsu chịu chết khổ hình nhằm cứu chuộc nhân loại và cũng để tôn vinh Thiên Chúa Cha.  Nhiều khi ta tự hỏi: có cần phải như thế với một Thiên Chúa quyền năng?  Hẳn rằng điều làm cho Hiến Lễ Thập Giá của Đức Giêsu trở nên có giá trị và đem lại ơn Cứu Độ không phải là đau khổ hay sự chết, mà là tâm tình vâng phục trong yêu mến đối với Chúa Cha; nhưng chính đau khổ và Thập Giá lại là cách thế diễn tả tâm tình đó thật tuyệt vời.

Sự vâng phục yêu mến của Đức Giêsu đã được I-sai-a báo trước qua hình ảnh người tôi trung: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50, 5).  Còn thánh Phao-lô đã ca ngợi: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 7 – 8).  Lời cầu nguyện của Đức Giêsu thưa với Chúa Cha trong vườn cây Dầu đã nói lên tất cả sự vâng phục yêu mến: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26, 42).

Con Thiên Chúa đâu có lạ gì với những đau khổ của phận người khi bước vào trần gian.  Đứng trước con đường khổ nạn, Ngài không hỏi tại sao cũng chẳng buông lời nguyền rủa, nhưng Ngài đã bước đi và đi tới cùng với tất cả tình yêu, tình yêu thật lớn lao dành cho Cha và nhân loại, và lập tức bao nhiêu đau khổ kia trở nên ý nghĩa.  Con đường Thập Giá bỗng nở hoa rộn ràng.  Cây Thánh Giá đã trở nên lộng lẫy với vương miện tình yêu.  Qua đó, Đức Giêsu cũng dạy cho con người một bí quyết để sống hạnh phúc, để có hòa bình: Tình yêu và tha thứ.

Như thế, con đường mà Phụng Vụ Tuần Thánh đang mở ra cho chúng ta chẳng phải là “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về,” nhưng là con đường đã in dấu chân, đã thấm mồ hôi và đã mang cả trái tim của Thầy Giêsu – Con Đường Thập Giá.

Cùng Chúa ta lên đường

 Lời Chúa hôm nay muốn đưa chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá của Đức Giêsu không phải để gợi lên trong ta niềm thương cảm đau xót, nhưng là muốn mời gọi chúng ta hãy can đảm bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá.  Rước lá đi theo Chúa trong vài giờ là điều dễ.  Theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô, chẳng khó khăn gì.  Nhưng tiếp tục theo Ngài và ở lại khi Ngài bị mọi người bỏ rơi, điều đó khó hơn nhiều.

Pascal đã nói: “Chúa Giêsu sẽ còn hấp hối đến tận thế.”  Mỗi năm có hàng triệu thai nhi bị loại khỏi lòng mẹ một cách bất công.  Và còn bao nhiêu người đang ở trong điều kiện sống chẳng xứng với phẩm giá của mình.  Đó chính là Đức Kitô đang hấp hối giữa thế giới hiện đại.  Chúng ta vẫn gặp những Kitô hữu đang bị lo lắng, buồn rầu, ấm ức… dày vò nghiền nát.  Đó chính là Đức Kitô đang hấp hối trong nhiệm thể Ngài.  Và chính đời sống chúng ta nhiều khi cũng nhuốm phiền muộn, bất an, lo sợ, nghi ngại và xáo trộn.  Nếu ta biết đón nhận với lòng khiêm tốn và tình yêu để cứu rỗi thế gian thì trong ta, Đức Kitô cũng đang tiếp tục hấp hối và thân thưa với Chúa Cha rằng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin vâng ý Cha hoàn toàn.”

Đã hơn 2000 năm rồi, tất cả những gì đã xảy ra dường như vẫn đang còn diễn lại.  Chúng ta vẫn đang cùng Đức Giêsu đi vào đời và ở trong đời với lý tưởng cứu thế.  Chớ gì lời Đức Giêsu mời gọi: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày” (Lc 9, 23) luôn vang vọng bên tai chúng ta mỗi khi phải đối mặt với thử thách hay khi bị lăng nhục nhạo cười…  Sau khi đã hiểu thấu ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa, hẳn chúng ta sẽ thấy yêu Thánh Giá của Chúa hơn, và cũng mến Thánh Giá của mình hơn, đồng thời biết kính trọng Thánh Giá của người khác nữa.

Chiêm ngắm Đức Giêsu chịu Thương Khó, có lẽ mỗi người chúng ta đều rất sốt sắng với lời hát: “Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình…  Xin giúp con đường thiêng liêng theo lối…”  Chớ gì chúng ta luôn có được tâm tình của Đức Giêsu hôm nay, để hân hoan tiến bước vào đời tiếp tục con đường nên Thánh và cứu thế của Ngài, Con Đường Tình Yêu dẫn tới Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.

Lm. Kiều Công Tùng

From: Langthangchieutim

Đức Giêsu, Ngài là ai?

Đức Giêsu, Ngài là ai?

Một vị võ sư Vovinam Việt Võ Đạo, Một Phật Tử thuần thành có thắc mắc và hỏi Lạc Việt hai câu hỏi:

1– Ông Giêsu là Ai? Ông có phải là người chống bất công, bênh vực lẽ công đạo không?

2– Tại sao Ông Giêsu bị đóng đinh và chết trên cây Thập Tự?

Để việc chia sẻ hai câu hỏi, Lạc Việt cần duyệt qua bối cảnh của nhiều sự kiện liên quan đến 2 câu hỏi trên để việc trả lời dễ hiểu và dễ cảm thông hơn.

1– Sách Cựu Ước và Sách Tân Ước

Cựu Ước là bộ Lịch Sử quan trọng của Người Do Thái (Jews) liên tục ghi lại chiều dài lịch sử suốt hơn 5000 năm từ thời tạo thiên lập địa cho đến thế kỷ thứ I thời Chúa Giêsu.

Tân Ước từ thời Chúa Giêsu cho đến hết thời của các Tông Đồ.

Trong suốt 20 thế kỷ vừa qua, Cựu Ước và Tân Ước chính là bộ sách Lịch Sử Ơn Cứu Độ Cho Nhân Loại. Cũng nhờ bộ sách lịch sử này mà 2000 năm bị lưu lạc trên toàn cầu do bại trận trong các cuộc chinh phạt của các đế quốc, người Do Thái vẫn không quên nguồn cội của mình cho đến năm 1947 Israel tái lập quốc trên chính Quê Hương cũ của mình.

2– Dân Do Thái (Jews-Israel) là dân tộc đặc biệt

Thượng Đế chọn để Chúa Giêsu ra đời Cứu Nhân Độ Thế – đem lại giao hòa giữa Đất Trời và đem lại quyền “Làm Con Thượng Đế” trở lại cho Nhân Loại.

3– Chúa Giêsu là nhân vật, là người thật trong lịch sử.

Nhân thân của Ngài là con Ông Giuse và bà Maria dòng dõi 14 đời của vua David, một vị vua nổi tiếng của người Do Thái. Chúa Giêsu sinh ra tại một chuồng chiên bò tại thị trấn Bethlehem ngoại ô thủ đô Jeruselem thời vua Herode của Do Thái, và nước Do Thái lúc bấy giờ đang bị cai trị bởi Đế Quốc Roma (La Mã).

Gia đình thực sự sinh sống tại làng Nazareth gần biển hồ Galile thuộc miền Bắc nước Do Thái (Israel) hiện nay. Năm 30 tuổi Ngài bắt đầu đi giảng đạo và quy tụ 12 môn đồ.  3 năm sau, Ngài bị kết án tử hình và bị đóng đinh trên cây thập tự đau đớn cho đến chết. Đây là hình phạt hết sức dã man và ô nhục dành cho các “tội nhân” không có quốc tịch Roma.

Sau này, để có cái nhìn tổng quan về lịch sử nhân loại, một thầy dòng có lẽ vào thế kỷ 6 sau công nguyên dày công nghiên cứu lịch sử thế giới đã định năm Chúa Giesu sinh ra làm mốc thời gian là 0 khởi đầu Đệ I Công Nguyên. Trước Chúa Giêsu sinh ra gọi là Trước Công Nguyên (BC-Before Christ). Sau Chúa Giesu sinh ra là Sau Công Nguyên (AD-Anio Domini-Năm của Chúa).

Vậy theo cách tính này, Chúa Giêsu chịu chết vào năm 33 AD hay +33. Trưng Đại Đế (Trưng Nữ Vương) lên ngôi năm 40 AD giải phóng toàn bộ Đất Bách Việt khỏi sự cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán. Chúa Giêsu sinh ra tại vùng Cận Đông và Trưng Đại Đế sinh ra tại vùng Viễn Đông thuộc thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Chúa Giesu chịu án tử hình năm +33 tại vùng Cận Đông, sau đó 10 năm, Trưng Đại Đế tuẫn tiết năm +43 tại vùng Viễn Đông.  Như vậy Chúa Giêsu và Trưng Đại Đế (Trưng Nữ Vương) sinh cùng thời và cùng tại vùng Đông Á.

4– Chúa Giesu dạy dỗ nhân loại điều gì ?

Dõi theo 2 bộ lịch sử Cựu Ước và Tân Ước chúng ta rút được 2 điều

Điều thứ nhất: Đối nhân xử thế trong Cựu Ước là Công Bằng, thể hiện trong 10 Giới Răn. Tổng quan của Luật là Công Bằng cũng có nghĩa là Mắt thế Mắt, Răng thế Răng. Nó đánh Anh, Anh có quyền đánh lại.

Điều thứ hai: Đối nhân xử thế trong Tân Ước là Bác Ái vì Chúa Giêsu-Con Thượng Đế đã dùng cái chết của mình đề giao hòa Đất Trời, đã dùng cái chết của mình để trả lại Công Bình cho Thiên Chúa Cha, làm của Lễ Giao Hòa giữa Thiên Chúa và Con Người. Con người đã được trả lại quyền Làm Con Thượng Đế, nên Con Người với Con Người trở thành Anh Em cùng Một Cha. Vậy Anh Em với nhau không chỉ giữ lẽ Công Bình mà còn phải giữ Bác Ái với mọi người và yêu thương nhau như Anh Em cùng một Cha trên Trời.

Công Bình và Bác Ái đã thấm nhuần trong mọi ngóc ngách của Luật Pháp trong các hiến pháp của các nước Văn Minh – Cộng Hòa Dân Chủ Pháp Trị trên toàn cầu. Nói vắn tắt các quốc gia ấy đã thấm nhuần nền Văn Minh Kitô Giáo. (chế độ welfare, chế độ săn sóc người gìa, chế độ săn sóc người dị tật, Các Trại Cô Nhi, Các Trại Cùi, Rất nhiều Nhà Trương miễn phí … điển hình của Công Bình Bác Ái là một ví dụ).

Trả Lời 2 Câu Hỏi

1– Đức Giêsu có chống Bất Công và Bảo Vệ lẽ Công Đạo không?

Công  Bằng Bác Ái là những Lời Giảng Dạy Nhất Quán của Ngài nên mỗi sự kiện xảy ra chung quanh, Ngài luôn dùng chúng để dạy dỗ mọi người:

* Chuyện bà Góa nghèo khổ vào đền thờ cúng dường 1 xu, và ông Đại Gia nghênh ngang tự mãn cúng dường 10% Income. Chúa bảo môn đồ: bà Góa này được Chúa nhận của Lễ còn Ông Đại Gia thì không vì bà ta có Lòng Thành mà cúng dường tất cả những gì bà ấy có…

** Chuyện Người Cùng Khổ: Một người kia đi đường xa bị quân cướp cướp ngựa, lấy hết tài sản và đánh cho bầm dập rồi bỏ đi. Có vị quan rất giầu làm việc cho chính quyền bảo hộ Rome đi ngang qua, thấy vậy ngó qua rồi bỏ đi. Sau đó lại có vị chức cao trong Giáo Quyền Do Thái, thấy vậy cũng ngó qua rồi bỏ đi.

Sau cùng có một người dân thường đi ngang qua, thấy nạn nhân trong tình cảnh đáng thương bèn cúi xuống giúp đỡ, đỡ nạn nhân lên lưng lừa, đưa nạn nhân đến hàng quán gần nhất để chữa trị. Chúa Giesu hỏi các môn đồ, Ai là “anh em” của nạn nhân, Ai là người thực hiện Lẽ Công Đạo?

*** Chuyện đứa con hoang đàng đòi người Cha chia tài sản rồi ra đi xài cạn túi với bọn đĩ điếm, nhưng khi nó biết hối cải trở về thì Người Cha lại mừng rỡ tiếp nhận nó: “Vì nó chết nay nó đã sống lại…”

**** Chúa Giesu bị gài vào chuyện “phản loạn”: Có một vị quan chức trong giáo quyền Do Thái hỏi gài Chúa Giêsu: “Chúng ta có phải đóng thuế cho Roma không?”

Rome đang cai trị Israel, nếu Chúa Giesu trả lời Yes thì họ sẽ kết án Ngài là theo chân Đế Quốc, trả  lời No thì chúng sẽ tâu với quan quyền Roma: Ông Giesu này phản loạn chủ trương không nôp thuế cho Sesar. Biết vậy  Chúa bảo ông Thầy Do Thái: “hãy đưa ta xem đồng tiền”. Chúa hỏi ông ta: “Tiền này mang hình ai?” – Hình Cesar. Chúa bảo: “của Cesar trả cho Cesar, của Chúa trả cho Chúa”.

Ngày nay ta hiểu rộng hơn: Quyền Dân trả cho Dân, các quyền sống căn bản của Dân do Thượng Đế ban hãy trả lại cho Dân và đây chính là Nội Dung căn bản của Hiến Chương Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và cũng là nền tảng Hiến Pháp của các nước Tự Do Cộng Hòa trên Thế Giới.

***Chúa Giêsu mắng bọn Quan Quyền Giả Hình

Thời Chúa Giêsu, Quan Quyền Do Thái cả Đạo lẫn Đời đều rất thích khoe khoang, tự mãn và cho mình cái quyền “Ra Luật” và “Giải Thích Luật”. Coi mình là giai cấp Thượng Lưu khinh thường Dân Đen Bần Hàn.

Chúa đã dùng những lời “Mắng” nặng nề đối với những kẻ quyền uy hợm hĩnh, bọn Quan Quyền luôn muốn chất lên lưng người bần hàn hàng triệu luật lắt nhắt, sẵn sàng kết án người khác nhưng chính bọn họ không phải mang.

Chúa bảo họ, bọn quan quyền hợm hĩnh: “các ngươi  nhìn thấy cả cọng rác nhỏ trong mắt người khác, còn cái xà trong con mắt các ngươi thì lại  không nhìn thấy!”

Lúc khác ngài lại “mắng” bọn họ: “Các ngươi như những mồ mả, bên ngoài sơn vôi rất đẹp, nhưng bên trong toàn dòi bọ…”

Có lúc nhìn bọn họ khoe khoang giả hình khi dậy dỗ thiên hạ, Chúa “ngứa tai” (bức xúc) nói với mọi người: “Đừng nghe những gì chúng nói mà hãy nhìn kỹ việc chúng làm”. Câu này TT Nguyễn văn Thiệu lập lại lời của Chúa trong thánh kinh và áp dụng cho bọn Cộng Sản.

2–Tại Sao Chúa Giêsu phải bị chết treo trên cây Thập Tự

Có một số điều cần biết trước khi trả lời câu hỏi này:

* Đóng đinh và chết trên cây Thập Tự

Đây là hình phạt tội Tử Hình tàn ác nhất của Đế Quốc Roma thời đó. Tất cả những nạn nhân không phải là công dân của Đế Quốc Roma, án tử hình đều phải chịu như vậy, nạn nhân bị đóng đinh trên cây Thập Tự dãy dụa đau đớn cho đến khi tắt thở.  Riêng nạn nhân có quyền công dân Roma, thì án tử hình là chém đầu, chết nhanh chóng và bớt đau đớn hơn.

Tông đồ trưởng Phêrô người Do Thái không có quyền công dân Rome nên đã bị tử hình như chúa Giesu ngay tại thủ đô Roma (Công Trường Thánh Phero tại Roma – Ý  hiện nay). Phaolô, người Do Thái có quốc tịch Rome, là Giáo Sư Đại Học Trường Luật của Đế Quốc Roma,  người bạn đồng hành truyền đạo với Phero cũng chịu án tử hình và bị chém  đầu tại Roma (Đền Thờ Phaolô nằm ở Ngoại Thành Roma-Ý hiện nay).

** Án tử hình lúc đó không do vua Herode-Do Thái quyết định vì Ông chỉ  là Vua bù nhìn bản địa. Quyền kết án tử hình phải do Philato-quan Tổng Trấn xứ Judea của Đế Quốc Roma ra lệnh (Judea bao gồm Israel và Syria ngày nay).

*** Chúa Giesu chịu chết vì sự ganh tỵ của Quan Quyền người Do Thái

Chúa Giesu xuất hiện rao giảng một cách công khai trong ba năm. Lời Rao Giảng của Ngài như đã nói trong phần Thánh Kinh là Ngài công bố Tin Mừng Ơn Cứu Độ để Nhân Loại được trở về làm Con Thiên Chúa – Đấng Từ Bi và Nhân Hậu.

Ngài nói: “Ta đến không phải để phá bỏ Luật Moisen (luật Công Bình) mà là để hoàn thiện nó (luật Bác Ái)”. “Các ngươi hãy thương yêu nhau như Cha trên trời đã yêu mến các ngươi”.

Trước những đau khổ của Con Người thấp cổ bé miệng mà Ngài đã gặp trong 3 năm Rao Giảng Tin Mừng Ơn Cứu Độ, Chúa Giesu đã chữa lành bao nhiêu kẻ tàn tật: mù được thấy, què được đi, chết được sống lại, Kẻ có tội được tha.

Danh tiếng Ngài lồng lộng làm cho các quan chức thế quyền và giáo quyền đâm ra ganh tỵ. Họ kháo nhau:”Kìa xem chúng nó đang đi theo tên Giesu cả rồi” và tìm cách gài bẫy hãm hại Ngài.

(Ngày nay, nhiều vị trong Giáo Quyền và Công Quyền cũng thường kháo nhau: “Kìa xem, dân chúng theo tên …cả rồi!” và dè bỉu dèm pha dựng chuyện vì ai đó dám hơn mình).

*** Gài bẫy giết Chúa Giêsu (nhiều bẫy, nhưng chỉ nêu vài bẫy điển hình)

Bẫy 1: Có nên trả thuế cho Sesar không? một câu hỏi gài bẫy chính trị, Chúa thoát khi trả lời khôn ngoan và cũng vì Giờ chết của Ngài chưa đến – “Của Sesar trả cho Sesar”

Bẫy 2: Ông có phải là Vua Dân Do Thái không? Quan Tổng Trấn Philato hỏi Chúa trên công đường. Lúc đó Chúa đã bị quan quyền người Do Thái giao nộp cho quan Tổng Trấn với lý do họ tố cáo: “Ông Giesu tự xưng là vua Dân Do Thái”. Quan hỏi, Chúa Giesu không trả lời – Quan Philato có ý muốn tha Chúa Giesu vì biết Ông Giesu chẳng có tội gì, họ vu cáo gian chỉ vì ganh tỵ.

Gạn hỏi mãi, Chúa Giesu mới trả lời quan Philato: “Đúng như Ngài nói, Ta là Vua, nhưng nước ta không thuộc thế gian này… Ta đến để làm chứng cho “Sư Thật”. Philato liền hỏi: “Sự Thật” là gì ? Không đợi Chúa Giesu trả lời mà Ông quày quả đi vào trong. Có lẽ Bà Philato muốn rỉ tai Ông điều gì. Vì sự kiện này nên cho tới tận ngày nay các nhà triết học hoàn vũ vẫn còn loay hoay tìm câu trả lời cho câu hỏi của Philato: “Sự Thật Là Gì ? ”

 

Philato  trở ra với thông tin do vợ ông rỉ tai, Ông nói ý mình muốn tha Giesu trước Công Đường, Ông liền bị quan quyền Do Thái xách động quần chúng la ó: “Tên Giesu tự xưng làm vua, nếu quan tha sẽ đắc tội với Cesar”. Philato nghe điều này đổ mồ hôi hột…nghĩ rằng vì Công đạo mà tha thì mạng mình cũng dễ mất như chơi.

(Đây là vụ án điển hình Công Lý bị trù dập thành “Công Lý Mù Lòa” như hình biểu tượng của Trường Luật, hoặc một loại “Tòa Án Nhân Dân” trong “Cải Cách Ruộng Đất” của HCM).

Và Chúa Giesu đã bị Philato miễn cưỡng kết án tử hình bằng cách đóng đinh và treo trên cây Thập Tự cho vừa lòng quan quyền Do Thái… và các sinh viên trường Luật Toàn Cầu phải học qua vụ án do Philato xét xử này.

Và Chúa Giesu đã chịu chết ô nhục trên cây Thập Tự trên ngọn đồi Golgotha, ngoại ô nhưng khá gần thành thánh Gierusalem hiện nay. 

Ngài đã được chôn vội vã (vì hôm sau là ngày Sabbath lễ nghỉ) trong một Mộ Đá của một ông thuộc Giáo Quyền Do Thái tặng.

(Ông này ngấm ngầm tin theo Chúa Giêsu do vì sợ người Do Thái tẩy chay mình. 

Sau 3 ngày, Ngài đã sống lại vào ngày Lễ kỷ niệm biến cố Vượt Qua Biển Đỏ của Người Do Thái)

Chúa chịu chết có 2 nguyên nhân hay nói đúng hơn là hai ý nghĩa

1– Ý nghĩa siêu nhiên và thần học: Chúa chết là theo Thiên Ý của Thượng Đế

Vì Yêu Thương Con Người nên Chúa đã dựng nên hai Ông Bà Nguyên Tổ Adam và Eve và đưa vào sinh sống trong Vườn Địa Đàng đầy Bình An và Hạnh Phúc. (location Đia Đàng hiện nay thuộc vùng Iran Iraq, lúc đó không hoang mạc như bây giờ) và truyền lệnh hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và được quyền làm chủ vũ trụ…

Hai Ông Bà sau đó bị quỷ cám dỗ ăn trái cấm phản bội Thượng Đế “Bất tuân Thượng cấp”.

Hai Ông Bà bị đẩy ra khỏi vườn địa đàng, chịu hậu quả khắc nghiệt. Nam: phải bới đất kiếm sống. Nữ: mang nặng đẻ đau. Quan trọng nhất: mất quyền làm Con Thiên Chúa tức mất quyền “Thừa Tự”.

Thượng Đế không muốn bỏ rơi Con Người, mặc dù bị Con Người phản bội. Đức Giesu Con Thiên Chúa đã giáng trần làm người – chịu mọi sự tủi nhục và khổ đau của Con Người – cuối cùng chịu chết ô nhục trên thập tự để trả lẽ “Công Bằng” cho Thượng Đế và lấy lại quyền Thừa Kế cho Con Người và ngày nay Nhân Loại đã có cơ hội để giao hòa cùng Thiên Chúa và quyền làm Con Thiên Chúa như Đức Giêsu.

(Thiên Chúa của Kitô Giáo khác hẳn với Thượng Đế của Hồi Giáo – Đức Allah không ban quyền làm Con Thượng Đế cho bất cứ ai)

2– Ý nghĩa trần thế

Suốt cuộc sống, Đức Giesu đã đề cao Đạo Yêu Thương – sống Công Bình Bác Ái.

Thiên duyên tiền định, Ông Pherô và Ông Phaolô

Ông Phero nhà quê làm nghề đánh cá ở Biển Hồ Galile – Bắc Do Thái. Ông Phaolo giáo sư Đại Học Luật Khoa Roma (một ông nhà quê, một ông trí thức) sánh vai nhau truyền đạo tại Roma, trung tâm đế quốc Roma lúc bấy giờ.

Khi rao giảng, hẳn nhiên 2 ông phải đề cập đến Cựu Ước, về việc Thiên Chúa là Cha Nhân Từ đã sáng tạo nên Vũ Trụ cho Con Người và vì Con Người: Bầu Trời có ngọn đèn to là Mặt Trời để soi ban ngày và ngọn đèn nhỏ là Mặt Trăng để soi ban đêm.

Điều giảng dậy này được xem là khích bác và coi thường niềm tin và văn hóa của Đế Quốc Roma lúc bất giờ khi Đế Quốc đang thờ các thần của Vũ Trụ như thần Sun (Mặt Trời), thần Moon  (Mặt Trăng), thần Venus (Sao Kim), thần Mars (Sao Hỏa) etc… (Tên ngày tháng mà chúng ta đang xử dụng hiện nay đều là tên các vị Thần của nền văn minh và văn hóa La Hy (La Mã – Hi Lạp) Và hai Ông đã bị đế quốc Roma kết án tử hình vì dám so sánh hai vị thần của đế quốc là hai ngọn đèn – tội đáng trảm.

Tuy vậy một số năm lúc chưa bị cầm tù, hai vị tiên phong đã rao giảng được cho nhiều người đa số thuộc dân nô lệ (tức dân tứ xứ bị bắt làm nô lệ sau các cuộc chinh phạt mở rộng đế quốc) và các người nữ (nữ ít bị ràng buộc trong guồng máy chính quyền).

Sau khi hai vị tiên phong tử đạo, các người theo đạo cũng bị ruồng bắt và nhiều người cũng bị giết trong đó đa số là Nữ. Trong suốt 300 năm bách đạo sau đó, họ phải sống trong các hang được đào sâu dưới các nghĩa địa – họ sống giữa các kẻ chết. Hang này gọi là hang “Toại Đạo” rất sâu dưới lòng đất và chằng chịt dài khoảng 25 km (nay đã được mở cửa cho khách hành hương đến Roma tham quan).

Đến thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, sau 300 năm Đế Quốc Roma cấm đạo, lúc đó Bà Mẹ của vua Constantin đã âm thầm theo Đạo từ trước mới mạnh dạn nói với Vua là nên ra sắc chỉ “giải tỏa việc cấm đạo Kito Giáo”.

Vua nghe lời Mẹ ra sắc chỉ “Tự Do Tôn Giáo” trên toàn lãnh thổ Đế Quốc Roma. Đây là “Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo” đầu tiên của Nhân Loại. Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo chung như vậy vì đế quốc Roma lúc đó bao gồm nhiều chủng tộc và tôn giáo khác nhau, ông không muốn mang tiếng thiên vị Kito Giáo. (Hoa Kỳ có Tu Chính Án “Tự  Do Tôn Giáo và Niềm Tin).

Chính từ Đạo Luật này đã tạo cơ hội bằng vàng cho Kito Giáo, và từ trung tâm Đế Quốc Roma đầy quyền lực này, các nhà Truyền Giáo đã “trỗi dậy” từ “cõi chết” từ trong hang Toại Đạo đã tỏa ra Toàn Đế Quốc Roma, gần như “Toàn Cầu” lúc đó để truyền đạo.

Các nhà Truyền Giáo rất khôn ngoan, biết nắm bắt được thứ “Quyền Lực Mềm – Soft Power” của Đế Quốc Roma là Luật Lệ, Hiến Pháp, Ý Niệm Cộng Hòa và Quản Trị Công Quyền để phát triển các Giáo Đoàn và Giáo Phận trên Toàn Cầu.

(Cứ theo dõi cuộc tuyển chọn Giáo Hoàng Roma và cách tổ chức các Giáo Đoàn toàn cầu để thấy khái niệm “Cộng Hòa – Kết Tinh của nền Văn Minh và Văn Hóa La Hy đã được triển khai “tuyệt đỉnh” như thế nào).

Ngày nay, các nước Dân Chủ, Tự Do, Cộng Hòa trên thế giới, song song với cơ chế Chính Quyền thì đều có cơ chế Giáo Quyền. Có lẽ chữ Công Giáo để gọi Kito Giáo Roma có nguồn cội sâu xa từ yếu tố này.

Giám Mục bản chất là một trách vụ, nhưng để tương đương với Công Quyền thì đó là một chức vụ như Giám Mục Phát Diệm, Giám Mục Bùi Chu…mỗi giáo phận của Giám Mục tương đương với một Nước Nhỏ, hay một Thành Phố trong nền Cộng Hòa của Đế Quốc Roma xưa hay như địa bàn của một vài tỉnh của Việt Nam hiện nay.

(Địa Phận của một vị Giám Mục tương đương với một State của Hoa Kỳ hay một Tỉnh Bang của Canada. Ngài Giám Mục Địa Phận tương đương như một Governor).

Điển hình nước Mỹ, các nhà Lập Quốc Mỹ đã tiếp thu khá đầy đủ “Hệ Thống Quyền Lực Mềm” của thời Ông Moisen trong Cựu Ước, Quyền lực mềm của Đế Quốc Rome, Quyền lực mềm của nền văn minh Kito Giáo để xây dựng nên Hiến Pháp Hoa Kỳ và nền Quản Trị Công Quyền Hoa Kỳ. Ngay cả các loại Quyền Lực Mềm đó cũng đã là nền tảng cho Hiến Chương Nhân Quyền và các quyền chính trị của Liên Hiệp Quốc.

Đôi Điều Đúc Kết

1–Bọn Giả Hình Do Thái mà Chúa Giesu “mắng “  họ thậm tệ ngày xưa, thì ngày nay lại đông hơn nhiều và đa dạng hơn nhiều. Chúng luôn hợm mình là người “công chính” để mạt sát người khác và dìm họ xuống bùn bằng những vu chụp vu vơ không cần kiểm chứng.

Giả hình muôn hình vạn trạng đã làm cho “Thủ Đô Tỵ Nạn, Thủ Đô Chính Trị Vỡ Trận”. Giả hình muôn hình vạn trạng đã làm cho “Liên Hội Người Việt Canada vỡ trận”.

2– VC thì hơn hẳn một bực khi ngay câu đầu  của Hiến Pháp, VC tuyên ngôn rằng: Nhà Nước tôn trọng quyền tự do và bình đẳng của mọi người công dân. 70 năm qua mọi người Dân đã hiểu và biết chúng tôn trọng ra sao.

3– VC công bố trong Hiến Pháp: Đất đai thuộc sở hữu Toàn Dân, nhà Nước quản lý. 70 năm sau thì đất đai thuộc về ai mọi người đã rõ.

4- VC công bố rỉ rả trên loa suốt 70 năm qua: Đảng CS là đội ngũ tiên phong do dân và vì dân. Luôn tâm niệm Yêu Tổ Quốc Yêu Đồng Bào. Thực tế là đảng CS rất độc ác đang nắm quyền toàn trị trên mọi người Dân bằng súng đạn và nhà tù; đang tâm đưa dân tộc VN vào tròng Nô Lệ ngàn năm Bắc Thuộc như Mãn Hồi Mông Tạng hiện nay.

“Đừng nghe những gì chúng nói, mà hãy nhìn kỹ việc chúng làm” Chúa Giêsu phán trong Tân Ước.

“Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ việc CS làm” TT Thiệu lập lại.

Đừng nghe Đảng CS Tàu nói: Virus COVID-19 do “Lính Mỹ” phát tán, mà hãy nhìn kỹ “China Virus” xuất phát từ Vũ Hán China, TT Trump nói.

Lạc Việt

Mùa Chay & Mùa Phục Sinh

March & April 2021

From: Nguyen TThuy & KimBang Nguyen

ƠN CỨU CHUỘC NGANG QUA SỰ VÂNG PHỤC

ƠN CỨU CHUỘC NGANG QUA SỰ VÂNG PHỤC

 Jos. Vinc. Ngọc Biển

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội hân hoan mừng trọng thể lễ Truyền Tin Thiên Chúa nhập thể.  Nói cách khác, hôm nay, chúng ta long trọng mừng biến cố Thiên Chúa chính thức thực hiện lời hứa cứu độ với nhân loại khi trao ban Con của Người xuống thế và nhập thể trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria.

Qua biến cố vĩ đại này, tinh thần phụng vụ hướng chúng ta về hai mẫu gương vâng phục của Đức Giêsu và Mẹ Maria, đồng thời cũng mời gọi mỗi người chúng ta noi gương Đức Giêsu và Mẹ Maria để sống sự vâng phục trong cuộc sống đạo hôm nay.

  1. Vâng phục để cứu độ

Khi nói đến sự vâng phục, chúng ta nhớ ngay đến đoạn Kinh Thánh mà thánh Phaolô đã viết trong thư gửi tín hữu Philípphê, ngài viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2, 6-7).

Sự vâng phục này là khởi đầu của nguồn ơn cứu độ, vì nếu Đức Giêsu không vâng phục Thiên Chúa để trở thành Đấng Emmanuen, nhằm cứu chuộc nhân loại tội lỗi, thì chắc chắn Thiên Chúa sẽ phải chọn con đường khác.  Tuy nhiên, con đường tự hủy mà Đức Giêsu đã chọn là con đường tuyệt vời nhất, bởi vì nó diễn tả trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa.  Điều này đã được thánh Gioan nhắc đến, ngài nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Sự vâng lời của Đức Giêsu hoàn toàn được diễn ra trong tự do và tự nguyện, vì thế, Ngài đã nói: “Lạy Chúa, này con xin đến để thi hành thánh ý Chúa” (Tv 39, 8a – 9a); hay: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4, 34).  Chính nhờ sự vâng phục tuyệt đối trong tự do này, mà Đức Giêsu trở thành nguồn ơn cứu độ đến muôn ngàn đời.  Tại sao vậy?  Thưa!  Bởi vì Ngài đã vâng lời và vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự và đã chấp nhận đổ máu mình ra nhằm cứu chuộc con người.

Chính vì sự vâng phục này, mà nhân loại đón nhận được ơn cứu chuộc của Thiên Chúa ngang qua Đức Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật.

  1. Vâng phục để đồng công cứu chuộc

Khi nói đến sự vâng phục của Đức Giêsu, chúng ta không thể không nói đến sự vâng phục của Đức Maria.  Mặc dù phụng vụ canh tân ngày nay không còn tập trung nơi Đức Maria như trước kia vào thời Trung Cổ.  Tuy nhiên, khi nói đến ơn cứu chuộc của Đức Giêsu nhờ sự vâng phục mà có, thì Giáo Hội cũng luôn đề cao sự cộng tác của Mẹ Maria trong công cuộc ấy cũng bằng chính sự vâng phục nơi Mẹ.

 Sự vâng phục của Mẹ Maria được đánh giá rất cao trọng, bởi vì khi Mẹ vâng phục thánh ý Thiên Chúa, kế hoạch riêng tư của Mẹ hoàn toàn sang trang và chuyển hướng khác, để nhường cho chương trình và ý định của Thiên Chúa trên toàn thể nhân loại.

Nói như thế, là vì Đức Mẹ ngay từ khi còn nhỏ đã khấn giữ mình đồng trinh để thuộc trọn về Chúa và phụng sự Người.  Tuy nhiên, Thiên Chúa lại có chương trình riêng cho người thiếu nữ Sion này, đó là muốn Mẹ nhận lời và cưu mang Con Thiên Chúa làm người để cứu chuộc nhân loại.

Biết được ý định ngàn đời của Thiên Chúa, nên sau khi đã nghe lời giải thích của sứ thần: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1, 35), Mẹ Maria đã mau mắn trong tự do để thưa lên với Thiên Chúa ngang qua sứ thần: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).  Nhờ hai tiếng xin vâng của Mẹ, nhân loại tràn đầy niềm hân hoan, vì từ nay, Con Thiên Chúa đã đến và ở với loài người.

Khi chọn Mẹ Maria, người thiếu nữ Sion để cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc, Thiên Chúa đã khai mở một kỷ nguyên mới, thiết lập một dân tộc mới thay thế cho dân cũ đã bị cái chết bao phủ do tội bất tuân của Evà.  Từ nay, muôn đời sẽ khen Mẹ diễm phúc, vì từ cung lòng Mẹ đã cưu mang Đấng là Nguồn Ơn Cứu Độ, Nguồn Mạch Sự Sống.

Cũng chính lời xin vâng này, mà cuộc đời của Mẹ đã kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu trọn vẹn.  Mẹ đã trở thành Đấng đồng công cứu chuộc với Con Chí Ái của mình.

  1. Người Kitô hữu sống tinh thần vâng phục

Sứ điệp Lời Chúa và tinh thần phụng vụ ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hướng về Đức Giêsu và Mẹ Maria như là mẫu gương tuyệt hảo cho sự vâng phục trong đời sống đức tin hằng ngày của mỗi người. 

Nếu trước kia, nơi Đức Giêsu, Ngài đã tự nguyện trút bỏ vinh quang để vâng phục Thiên Chúa Cha qua việc đến trần gian trong thân phận là một con người nhằm cứu chuộc nhân loại; và nếu Mẹ Maria khi vâng lời Thiên Chúa và sẵn sàng để cho thánh ý của Người được thực hiện, thì đến lượt chúng ta, nếu muốn trở nên người môn đệ đích thực của Chúa trong lòng Giáo Hội hôm nay, thiết nghĩ con đường tự khiêm tự hạ và vâng phục trong lòng mến của Đức Giêsu và Mẹ Maria chính là lựa chọn của chúng ta.

Tuy nhiên, với sự yếu đuối của con người và với những trào lưu hiện sinh của nhân loại ngày nay, chúng ta rất khó có thể vâng phục, nhất là sự vâng phục của đức tin!

Nhiều khi chúng ta biện hộ cho việc bất tuân của mình bằng những chuyện như: vâng phục là mất tự do; vâng phục làm cho con người bị lệ thuộc.  Hiểu theo nghĩa tâm lý hay triết học thì thật đúng như vậy.  Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa đức tin dưới ánh sang Lời Chúa thì không phải vậy, bởi vì: “Tự do đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc của chúng ta.  Chỉ có tự do đích thực khi con người phục vụ cho điều thiện và công bằng.  Khi bất tuân ý Chúa và chọn điều ác, con người lạm dụng tự do và trở nên “nô lệ tội lỗi” (SGLHTCG. Số 1733).

Thực tế cho thấy, những ai trung thành với Chúa, người đó đạt tới đích trong sự viên mãn.  Những ai biết gắn bó cuộc đời của mình với Thiên Chúa trong sự vâng phục, cuộc sống của người ấy vui tươi bình an và hạnh phúc. 

Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con tạ ơn Cha đã ban cho chúng con chính người Con Một duy nhất của Cha đến trần gian qua cung lòng Mẹ Maria, để chúng con được hưởng dồi dào ơn cứu chuộc của Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật.  Xin Cha ban cho chúng con biết noi gương Con Một Cha và Đức Trinh Nữ Maria để sẵn sàng hiến dâng cuộc đời của mình trong sự vâng phục nhằm cộng tác vào công trình cứu chuộc mà Thiên Chúa đang thực hiện trong thế giới hôm nay.  Amen!
 

Jos. Vinc. Ngọc Biển

NHỤC HÌNH CỦA THẬP GIÁ

NHỤC HÌNH CỦA THẬP GIÁ

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Khi Chúa Giêsu chảy mồ hôi máu ở vườn Giết-sê-ma-ni, Ngài đã xin Chúa Cha cất chén đắng này, chủ yếu Người không chùn bước trước viễn cảnh đau đớn thể xác tàn bạo.  Người chùn bước trước viễn cảnh một kiểu đau đớn cụ thể mà thông thường đa số sợ hơn là nỗi đau thể xác.  Khi Người hỏi Chúa Cha liệu có nhất thiết phải chết theo cách đó hay không, là Người không ám chỉ đến án tử hình.

Hình phạt đóng đinh trên thập giá do người La Mã chế ra có thêm một ý định khác.  Nó ấn định một án tử hình, giết một tội phạm, nhưng ngoài ra nó còn mục đích làm một số điều khác nữa.

Hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm gây ra nỗi đau thể xác cùng cực.  Vì vậy, người ta cố tình kéo dài quá trình này trong nhiều giờ đồng hồ và họ tính toán cẩn thận để cường độ đau đớn tăng dần nhưng không làm cho tội phạm bất tỉnh để dịu cơn đau khi bị đóng đinh.  Thực tế, đôi khi họ còn cho tội nhân uống rượu vang có trộn moóc-phin, không phải để làm dịu cơn đau, mà để không ngất xỉu vì quá đau, và như vậy họ phải tiếp tục chịu đựng cơn đau đớn đó lâu hơn.

Nhưng hình phạt đóng đinh trên thập giá còn có một ý định khác nữa, thậm chí còn ác độc hơn.  Đó là nhằm sỉ nhục tội nhân.  Ngoài những chuyện khác, tội nhân còn bị lột truồng trước khi bị treo lên thập giá, để bộ phận sinh dục phơi ra trước dân chúng.  Còn nữa, vào giây phút lìa đời, ruột gan của họ sẽ bung ra.  Rõ ràng hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm hạ nhục.

Chúng ta xưa nay có xu hướng xem nhẹ khía cạnh này, cả trong giáo huấn lẫn trong nghệ thuật.  Như Jurgens Moltmann nói, chúng ta đã trang trí cây thập giá với toàn hoa hồng, toàn những tấm khăn choàng thẩm mỹ và vô trùng.  Nhưng trường hợp của chúa Giê-su không phải như vậy.  Người bị lột truồng trước công chúng, thân thể người bị hạ nhục trước dân chúng.  Điều đó, bên cạnh những điều khác, là lý do hình phạt đóng đinh trên thập giá đã giáng một đòn chí mạng đối với các môn đệ và là lý do tại sao đa số các môn đệ bỏ Chúa Giêsu và phân tán khắp nơi sau sự kiện Chúa bị đóng đinh trên thập giá.  Đơn giản các môn đệ này không thấy có mối liên hệ nào giữa kiểu hạ nhục này với vinh quang, thần thánh và chiến thắng.

Một điểm thú vị là có một tương đồng rõ rệt giữa hình phạt đóng đinh trên thập giá gây ra cho cơ thể và những gì mà bản chất tự nhiên làm đối với cơ thể qua tuổi tác, bệnh ung thư, bệnh mất trí nhớ, AIDS, những căn bệnh như Parkinson, Lou Gehrig, Huntington, và những chứng bệnh khác làm hạ thấp con người trước khi cơ thể chết.  Chúng phơi bày ra trước mắt mọi người những gì dễ tổn thương nhất bên trong con người.  Chúng hạ nhục thân thể.

Tại sao vậy?  Đâu là mối liên hệ giữa loại đau đớn này và vinh quang ngày Chuá nhật Phục Sinh?  Tại sao, như Phúc âm nói, “trước hết phải chịu đau đớn mới vào vinh quang?”

Bởi vì, điều trớ trêu là, phải chịu bị nhục sâu thẳm nào đó tâm hồn mới có một tầm mức sâu sắc.  Bằng cách nào, và tại sao như vậy?  Không dễ dàng gì để biện giải một cách duy lý, nhưng chúng ta có thể hiểu được điều này thông qua trải nghiệm:

Hãy dũng cảm và trung thực tự đặt cho mình câu hỏi này: Những trải nghiệm nào trong cuộc đời đã làm cho tôi thành chín chắn?  Tôi dám nói rằng, trong hầu hết mọi trường hợp, những trải nghiệm làm bạn trở nên sâu sắc sẽ là những sự cố bạn cảm thấy bị nhục khi phải chấp nhận nó, một bất lực mà bạn không tự bảo vệ mình, một phỉ báng mà bạn không thể tự bào chữa, một lệch lạc của cơ thể hay trí óc đã khiến bạn bị tổn thương, một vụ việc tủi hổ từng xảy đến với bạn, hay một lỗi lầm nào đó bạn đã phạm và bị phơi bày ra trước mắt mọi người các mặt yếu của bạn.  Tất cả chúng ta, giống như chúa Giê-su, cách này cách khác, đều đã từng bị treo lên thập giá và bị hạ nhục trước công chúng.  Và bị hạ nhục ở mức độ nào thì chúng ta trở nên sâu sắc chính ở mức độ ấy.

Nhưng sự sâu sắc của tâm hồn lại theo nhiều cách khác nhau.  Sự sỉ nhục làm chúng ta sâu sắc, nhưng chúng ta có thể sâu sắc hơn về tính cách, về hiểu biết, về lòng độ lượng, vị tha, hay chúng ta cũng có thể phẫn uất, cay đắng, tìm cách trả thù và sát hại sâu sắc hơn.  Hình phạt đóng đinh trên thập giá của Chúa Giê-su đã làm trái tim của Chúa giãn nở hơn nhưng giãn nở trong niềm thương cảm, rộng lượng và vị tha.  Không phải ai cũng vậy.  Nhiều trong số những kẻ sát nhân hàng loạt cũng từng chịu sỉ nhục sâu sắc và điều đó cũng làm cho trái tim họ giãn nở ra nhưng trừ một điều là trong trường hợp của họ, sự sỉ nhục đã khiến họ sâu sắc hơn trong nỗi cay đắng, độc ác, và sát nhân.

Cách đây vài năm, tôi tham dự một khóa hội thảo hè ở Viện Đại học Notre Dame, nơi cộng đoàn Thánh Giá họp lại để làm lễ phong thánh cho vị sáng lập dòng.  Suy tư về linh đạo của người sáng lập, một thành viên của cộng đoàn Thánh Giá đã đưa ra thách thức này cho cộng đoàn của anh: Nếu anh sống trong bất kỳ một gia đình nào, sau bất kỳ một khoảng thời gian nào, đến một lúc nào đó, gia đình đó sẽ làm anh tổn thương, và làm anh tổn thương sâu sắc.  Nhưng, đây chính là điều quan trọng, cái cách mà anh xử sự với vết thương đó, một cách cay đắng hay với lòng vị tha, nó sẽ quyết định suốt cả phần đời sau đó của anh!

Khi bị phạt đóng đinh trên thập giá, Chúa Giê-su bị hạ nhục, bị phỉ báng, bị đối xử tàn nhẫn.  Nỗi đau này đã làm giãn trái tim Người ra một chiều sâu lớn lao.  Nhưng khoảng không gian mới giãn ra đó không chứa nỗi cay đắng và phẫn uất.  Nó chứa đầy lòng thương cảm và vị tha sâu sắc mà chúng ta vẫn chưa thể nào hiểu được trọn vẹn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Thánh Ca : Kính Mừng Thánh Giuse – Năm Thánh Giuse 2021

httpv://www.youtube.com/watch?v=nsWLUbIDr94

Thánh Ca : Kính Mừng Thánh Giuse – Năm Thánh Giuse 2021

  Kính Mừng Thánh Giuse

19 tháng 3 Lễ Mừng Kính Thánh Giuse (Năm Thánh Giuse 2021)

Xin mời nghe Ca Đoàn “Tiếng Gọi Lòng Thương Xót” trình bày.

                        Kính Mừng Thánh Giuse

Xin Chúc Mừng Thánh Bổn Mạng đến quý cha & quý anh có tên thánh Giuse cùng quý vị Gia Trưởng.

Kính,

Phạm Trung

Ngôi Đền Kính “THÁNH CẢ GIUSE” giữa lòng Sài Gòn

Ngôi Đền Kính “THÁNH CẢ GIUSE” giữa lòng Sài Gòn

Tính cách của thánh Giuse đơn sơ, mộc mạc; các thánh sử cũng không ghi chép nhiều về ngài trong Tân Ước. Các địa điểm dành riêng để kính ngài cũng không nhiều. Nhưng ít ai biết ngay giữa trung tâm Sài Gòn nhộn nhịp, có một ngôi đền kính thánh nhân mà ngày ngày tín hữu từ khắp muôn nơi tìm đến dâng lời nguyện cầu.

Không gian yên bình

Tọa lạc tại số 69 đường Trường Chinh, phường 12, quận Tân Bình, gần ngã tư Bảy Hiền, Ðền Công Chính Thánh Giuse nằm khuất sau những dãy nhà bề thế bao quanh. Qua cánh cổng Tam quan, đập vào mắt mọi người là một ngôi đền được xây theo kiểu phương đình với những đường nét kiến trúc Việt truyền thống. Ngoài đền chính, trong khuôn viên còn có một quần thể kiến trúc được phối trí hài hòa. Từ cổng vào nếu nhìn sang bên phải là tượng đài Mẹ Vô Nhiễm, còn bên trái lần lượt là bức phù điêu các thánh tử đạo Việt Nam, tượng đài thánh Giuse với câu nhắn nhủ nằm phía dưới: “Hãy đến cùng Giuse”, và tượng đài chân phước Anrê hiển tu (Chân phước Anrê Bessette, 1845 – 1937) được đặt gần bậc thềm dẫn lên ngôi đền như người canh giữ. Cũng chính việc nằm lặng lẽ giữa khu dân cư, trong một khuôn viên không rộng, cảm nhận của những ai lần đầu đặt chân đến là vẻ ấm cúng, yên bình, như một khoảng lặng giữa sự sôi động của thành phố.

Ðền Công Chính Thánh Giuse do cha Giuse Maria Phạm Châu Diên (1914 – 2007) xây năm 1992, trùng tu lại vào năm 2006. Cha Giuse Maria Phạm Châu Diên đã qua đời, an nghỉ bên trong khuôn viên đền thánh, dưới chân tượng Chúa Thương Xót. Ngày đầu mới hình thành, nơi đây khá vắng vẻ vì vốn là nhà hưu dưỡng của các linh mục gốc Bùi Chu. Nhưng theo thời gian, bà con truyền tai nhau nên số người tìm đến kính viếng thánh Cả ngày một đông. Hiện nay, Ðền Công Chính trở thành nơi thu hút hàng chục ngàn tín hữu mỗi năm, trở thành nét độc đáo riêng biệt trong đời sống đạo của người giáo dân Sài Thành.

Đài kính Thánh Giuse trong khuôn viên Đền thánh – ảnh: Đình Quý

Ðể phục vụ lượng người đông đảo hằng năm cũng như chương trình mục vụ xuyên suốt tại đền, một ấn tượng không thể bỏ qua chính là những anh chị em tình nguyện viên. Ðền thánh không phải như các giáo xứ hay giáo họ nên không có giáo dân hiện hữu, tín hữu phụ giúp là từ những xứ cận kề hay nơi khác đến, nhưng tất cả đều với tinh thần nhiệt huyết và hăng say, chọn việc phục vụ làm niềm vui cho bản thân. “Hiện giúp tại đây cũng mười mấy người, trong đó túc trực thường xuyên có 5 anh em. Tuy nhiên cứ đến Chúa nhật hay dịp lễ trọng thì không cần nhắc mọi người cũng tự động tới đông đủ. Ðông người xúm tay lại giúp mọi công việc lẹ làng hơn”, ông Giuse Nguyễn Ðức Bảo, giáo dân xứ Hà Ðông, hạt Xóm Mới nói.

Nơi Lắng Đọng Tâm Hồn

Mỗi ngày tại đền đều có thánh lễ, cha Giuse Trịnh Văn Thậm Giám đốc Ðền Công Chính cho biết, thánh lễ diễn ra lúc 8 giờ sáng, Chúa nhật có thêm một lễ lúc 4 giờ chiều. Mỗi lễ như vậy có khoảng 200 tín hữu tham dự. Riêng trong ngày thứ Tư, ngày dành riêng để kính Thánh Giuse thì Ðền thánh đón tiếp lượt người đông hơn, và ngày này cũng có thêm một lễ chiều lúc 4g45. Ngoài ra, theo ghi nhận của chúng tôi, rải rác trong ngày từ sáng đền chiều tối luôn có khá đông người tìm đến cầu nguyện.

ĐềnCôngChính ThánhGiuse vớinhữngđường nétkiếntrúc Việt truyền thống –
ảnh: Đình Quý

Ðến với Ðền thánh, các tín hữu đều mang tâm tình mến yêu, lời tạ ơn, cùng cả những khấn xin, nguyện cầu. Bà Trịnh Bích Thùy, giáo dân xứ Tân Phú vẫn thường hay ghé qua để xin sự hòa thuận trong gia đình như tấm gương Thánh Gia xưa. Cũng vì yêu mến thánh nhân nên hai người con trai bà đều chọn tên thánh Giuse và luôn phó thác trong tay thánh bổn mạng. “Tối nào trong giờ kinh chung, chúng tôi đều đọc kinh Ông Thánh Giuse để dâng lên ngài những tâm tình”, bà Thùy cho biết thêm. Với người trẻ thì khi đến với thánh Cả, họ mang theo những suy nghĩ rất thật, như trong câu chuyện với chúng tôi, chị Bùi Thị Hoa (xứ Chí Hòa) bộc bạch, bản thân vẫn luôn nguyện cầu để sau này lập gia đình có được một người chồng gương mẫu, biết sẻ chia và xây dựng tổ ấm như gương ngài.

Tìm về đây, ngoài giáo dân trong Tổng Giáo phận còn có không ít bà con từ những vùng miền khác. Ngày ghé viếng, chúng tôi gặp đoàn hành hương đến từ giáo phận Phát Diệm. Trong thời gian lưu trú nhà người quen để hôm sau đến hành hương tại Tắc Sậy – nơi có mộ cha Trương Bửu Diệp – khi nghe biết về Ðền Công Chính, cả đoàn đã tìm tới. “Ðây cũng là lần đầu tôi đến một nơi tôn kính thánh Giuse, cảm giác thú vị và thật thiêng liêng”, bà Thu – thành viên của đoàn chia sẻ. Riêng những tín hữu mang tên thánh Giuse thì họ đến khấn xin để cố gắng noi theo gương sống của thánh bổn mạng để sống lương thiện, cần cù trong lao động và cả sự kính thờ Thiên Chúa.

Như vậy mới thấy, dù không có nhiều đền đài, điểm hành hương tôn kính, nhưng trong đời sống đạo của người Kitô hữu, cha nuôi Ðức Giêsu luôn có một vị trí trang trọng, gần gũi với mọi gia đình Công giáo. Và Ðền Công Chính là nơi góp phần lan tỏa lòng mến mộ thánh Giuse đến gần hơn với nhiều người.

ÐÌNH QUÝ

From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyen

THÁNH GIUSE NGƯỜI ĐI TRONG ĐÊM ĐEN

THÁNH GIUSE NGƯỜI ĐI TRONG ĐÊM ĐEN 

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong các bức tranh vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trốn sang Ai cập.  Bầu trời đen thẫm.  Một vài tia chớp loé lên ở cuối chân trời vừa soi đường cho Thánh gia, vừa báo hiệu cơn giông bão sắp tới.  Đức Maria bồng Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa.  Thánh Giuse dắt lừa.  Cả người cả lừa như lẩn vào màn đêm.  Bức tranh không chỉ đẹp ở nét vẽ gợi cảm, mà còn đẹp về ý nghĩa.  Ngắm bức tranh, tôi thấy hiện lên cả cuộc đời thánh Giuse: một đời bước đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối đức tin.  Ngài đã sống chung với Đức Maria và Đức Giêsu, những con người của huyền nhiệm.  Một người bình thường đã là một thế giới huyền bí.  Một con người của huyền nhiệm lại càng sâu xa bí ẩn hơn bội phần.  Đi bên những huyền nhiệm cũng như đi trong đêm tối.

Thánh Giuse không hiểu gì hết.  Không hiểu mà vẫn phải đón nhận.  Không hiểu mà vẫn phải tin, phải yêu.  Không hiểu mà vẫn phải đồng hành cho đến mãn đời.  Thánh Giuse giống như người lính canh được cấp trên trao cho một chiếc hộp đóng kín.  Người lính canh chỉ có nhiệm vụ canh giữ mà không được phép mở ra.  Trong hộp có gì?  Có thể là một kho tàng quý giá.  Nhưng cũng có thể là chiếc hộp rỗng không.  Không biết.  Nhưng vẫn phải canh giữ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng.  Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria, người bạn yêu quý.  Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói.  Ngài đi trong sự im lặng của Chúa Giêsu.  Thiên Chúa làm người vẫn là một mầu nhiệm ẩn dấu và Chúa Giêsu không hề hé lộ thân phận.  Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa.  Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài.  Chỉ có vài lần.  Mà chỉ là những tiếng vọng mơ hồ, giữa đêm khuya, trong giấc ngủ.  Vẫn là ngôn ngữ của im lặng.  Im lặng đáng sợ.  Nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống.  Im lặng khó hiểu khi những gì thân thiết nhất trong đời lại trở nên bí ẩn, cách xa.  Im lặng nguy hiểm.  Nó có thể đốn ngã thân cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất.  Ngài đi trong im lặng của chính mình.  Trong cả bốn Phúc Âm, không thấy ghi lại lời nói nào của thánh Giuse.  Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên.  Ngài bị lãng quên trong làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc.  Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài.  Nếu có nhắc đến, cũng chỉ để chê bai, dè bỉu, để hạ thấp thân phận của Chúa Giêsu : “Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà.  Có làm gì nên chuyện.”  Ngài bị lãng quên vì luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.

Phúc Âm kể về Đức Maria.  Sách Tông Đồ Công Vụ kể về Đức Maria.  Nhưng từ khi Chúa Giêsu khôn lớn không ai nói gì về Thánh Giuse nữa.  Ngài chìm vào đêm tối quên lãng.  Ngài luôn luôn đóng vai phụ, như hình ảnh dắt lừa đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối thử thách.  Thân phận nghèo hèn.  Sống trong im lặng và lãng quên, nhưng những thử thách Ngài phải đương đầu lại rất cam go.  Rất hiền lành, nhưng phải đương đầu với Hêrôđê hung hãn.  Mình giữ mình chưa xong, lại phải che chở cho một hài nhi sơ sinh và một sản phụ yếu ớt.  Nhưng những thử thách, khốn khó về thể lý dù cam go thế nào cũng còn chịu được.  Những thử thách đức tin mới thật là khủng khiếp.  Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ư?  Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa ư?  Thật khó mà chấp nhận được.  Sao Con Thiên Chúa quyền uy dường ấy lại bé nhỏ yếu ớt thế này?  Sao Vua Trời vinh hiển lại phải trốn chạy một ông vua trần thế.  Các thử thách làm cho đêm tối càng đen hơn, càng dầy hơn, càng sâu hơn.

Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng Thánh Giuse vẫn bước đi.  Tuy thử thách có nặng nề, Thánh Giuse vẫn chiến đấu.  Cha Teilhard de Chardin nói: người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển ban đêm.  “Ban đêm, người bơi lội vùng vẫy trong làn nước biển có chất lân tinh, làm ánh sáng loé lên chung quanh mình.”

Thánh Giuse đã chiến đấu.  Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm loé lên chung quanh Ngài những làn ánh sáng soi bước chân Ngài đi.

Đi trong đêm tối đức tin, Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường.  Đêm đen lắm, nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa, và cứ bước đi với Chúa.

Trong đêm tối im lặng, Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao thức, lắng nghe, đón chờ.  Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một phím đàn mỏng.  Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng, phím đàn đã rung lên.  Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ, Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.

Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối.  Khiêm nhường chìm vào quên lãng.  Khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường sâu thẳm.  Ngài có cùng tâm tình như Thánh Gioan Tẩy Giả: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.”

Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó thác. Tin vững vàng vào Lời Chúa.  Hoàn toàn phó thác cho Chúa.  Để Chúa dẫn đường qua đêm đen mù mịt.

Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen.  Xin hãy thắp lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình an.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

KHẲNG ĐỊNH CỦA MỌI KHẲNG ĐỊNH

KHẲNG ĐỊNH CỦA MỌI KHẲNG ĐỊNH

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một,

để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3, 16).

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói, phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay nổi bật với khẳng định của Chúa Giêsu, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Đây là một ‘khẳng định của mọi khẳng định’; vì lẽ, “Ga 3, 16” là Tin Mừng rút gọn như muốn hét lên, như muốn thổ lộ những lời dỗ dành ngon ngọt hầu rót vào tim con người một sứ điệp duy nhất: Thiên Chúa quá yêu thương nó.

Có đến bốn chân lý căn bản mà chúng ta có thể rút ra với sự soi sáng của Lời Chúa hôm nay.Trước hết, “Thiên Chúa đã yêu thế gian”. Thiên Chúa yêu con người; chúng ta biết điều này nhưng sẽ không bao giờ hiểu hết chiều kích sâu thẳm trong tình yêu của Người. Người là Cha yêu thương chúng ta bằng một tình yêu lớn lao và trọn vẹn, một tình yêu trổi vượt hơn bất cứ tình yêu nào mà chúng ta có thể trải nghiệm trong đời. Tình yêu của Người thật hoàn hảo; đó là tình yêu của một Thiên Chúa từ bi, khoan dung và nhẫn nại. Sách Sử Biên Niên hôm nay viết: “Trong những ngày ấy, tất cả những đầu mục tư tế và dân chúng đều bất trung”; nhưng “Chúa là Thiên Chúa tổ phụ họ, đã luôn luôn đêm ngày sai sứ giả đến với họ, vì Người thương xót dân và đền thờ của Người”.

Thứ hai, “Đã ban Con Một”. Tình yêu Chúa Cha thể hiện qua việc tặng trao Con Một là Chúa Giêsu Kitô cho thế gian. Con Một có nghĩa là tất cả đối với Cha; quà tặng Giêsu được ban, nghĩa là Chúa Cha ban cho chúng ta tất cả; qua đó, Thiên Chúa ban sự sống thần linh cho chúng ta. Thư Êphêsô hôm nay nói, “Thiên Chúa là Đấng giàu lòng từ bi, vì lòng yêu thương cao cả, Người đã yêu thương chúng ta, đến nỗi khi tội lỗi làm cho chúng ta chết, thì Người làm cho sống lại trong Đức Kitô”.

Thứ ba, “Để ai tin vào Con của Người”. Phản ứng thích hợp duy nhất chúng ta có thể thực hiện đối với quà tặng Giêsu chính là tin. Tin vào quyền năng biến đổi của việc đón nhận Giêsu vào đời sống mình; tin rằng, quà tặng Giêsu mang đến vô vàn ân phúc; Thánh Phaolô nói, “Trong Ngài, chúng ta lãnh nhận từ ơn này đến ơn khác”; nhất là ân sủng của Thánh Thần vốn biến đổi để chúng ta nên thánh mỗi ngày. Đón nhận Con Thiên Chúa đi vào cuộc đời mình, chúng ta tin tưởng vào sứ mệnh của Ngài, lắng nghe Lời Ngài, sống Lời Ngài và nên giống Ngài.

Thứ tư, “Không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Kết quả của việc đón nhận Chúa Giêsu và dâng mạng sống mình cho Ngài là chúng ta trở nên một tạo vật mới; sống sự sống mới trong Ngài; không còn chết trong tội lỗi nhưng sống đời sống vĩnh cửu không chỉ mai ngày nhưng ngay hôm nay. Như thế, để được rỗi, không cách nào khác ngoài việc tin nhận Chúa Con. Chúng ta nhận biết, tin yêu, chấp nhận và đón nhận sự thật này như một ‘khẳng định của mọi khẳng định’.

Lần đầu tiên, Tin Mừng du nhập vào Nhật nhờ một phần Thánh Kinh trôi dạt vào bờ, được một bậc vị vọng vớt lên, ông tò mò đọc; sau đó, ông được tặng một cuốn Thánh Kinh và được các nhà truyền giáo hướng dẫn; Tin Mừng đã đến Nhật như thế! Khi hoàng hậu Hàn Quốc mất đi đứa con nhỏ của mình, một nữ tỳ đã nói với bà về thiên đàng, nơi đứa trẻ đã đi, và Đấng Cứu Độ sẽ đưa bà đến đó; Tin Mừng đến Hàn Quốc bởi một nô tỳ! Sự thành công của việc truyền giáo ở Telugu, Ấn Độ, phụ thuộc một phần vào John Cloud, một kỹ sư xây kênh đào trong thời kỳ đói kém, tạo việc làm cho hàng ngàn người lao động mà ông đã rao giảng hàng ngày với vỏn vẹn một câu “Ga 3, 16”, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Kết quả là 10.000 người đã được rửa tội trong một năm!

Anh Chị em,

Những ngày Mùa Chay, chúng ta đọc lại và thưởng thức từng lời, từng chữ khẳng định này, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi hư mất, nhưng được sống đời đời”. Đây là toàn bộ lẽ thật về một Thiên Chúa yêu thương ngàn đời, Đấng không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không yêu, không cứu, không xót thương. Một điều Người mong chờ chúng ta, là nhìn lên Thánh Giá, nơi Con của Người bị treo lên, mà tin rằng Người hằng yêu thương, mãi mãi yêu thương, một ‘khẳng định của mọi khẳng định’ không bao giờ phai nhoà.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gia tăng tình yêu và niềm tin của con vào Chúa, hầu con không hư mất nhưng được sống đời đời, vì đó là một ‘khẳng định của mọi khẳng định’ Chúa hứa”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: minhanhhue06 & NguyenNThu

image.png