ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT

ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa.  Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì?  Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn.  Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó.  Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.

Lòng thương xót của Chúa không như con người.  Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán.  Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia.  Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người.  Không toan tính.  Không chọn lựa.  Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ.  Bởi vì, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn.  Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn.  Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi.  Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng.  Và chắc chắn chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô.  Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.

Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn.  Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai?  Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ.  Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được.  Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm.  Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người.  Trên người lành cũng như người dữ.  Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài.  Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài.  Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng.  Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta.  Thế mà, Chúa Giê-su dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem.  Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài.  Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.

Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan.  Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh.  Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ.  Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy.  Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy.  Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.

Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương.  Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người.  Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài.  Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi.  Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác.  Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.

Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm.  Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta.  Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em.  Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến, những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ.  Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM

NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY, THẦY CŨNG SAI ANH EM

 Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Đức Giêsu đã phục sinh.  Nhưng điều này đâu có quan hệ gì đến tôi, nếu Đức Giêsu cũng tương tự như bao người khác, cũng chỉ là một người như bao người khác: họ được nhưng đâu có nghĩa rằng tôi được?  Đức Giêsu Phục Sinh chỉ ảnh hưởng tuyệt đối đến tôi, nếu Ngài là Thiên Chúa.

Qua các tông đồ Thiên Chúa của Đức Giêsu Phục Sinh hiện diện

 Sau khi Đức Giêsu phục sinh, với sự trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ đã nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa.  Và dưới tác động của Thánh Thần các tông đồ đã can đảm tuyên xưng, rao giảng Đức Giêsu bị đóng đinh đã sống lại.  Và hôm nay sách tông đồ công vụ cho thấy những người tin vào Đức Giêsu đã trở thành một nhóm đặc biệt, trở thành dấu chỉ của Đức Giêsu Phục Sinh cho con người thời đó.

Thánh Phêrô trở thành khí cụ Thiên Chúa dùng để ban ơn cho con người.  Bóng của Ngài ngả xuống trên bệnh nhân nào thì người đó được khoẻ lại.  Có người nghĩ: không chừng các tông đồ còn làm được những điều lớn lao hơn cả Đức Giêsu.  Chính Đức Giêsu cũng nói: “Kẻ tin vào Ta, thì các việc Ta làm người ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì Ta về cùng Cha” (Ga.14, 12).

Ngày xưa khi Chúa về trời, các tông đồ đã thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện; và ngày nay qua Hội Thánh nơi các tín hữu, Thiên Chúa cũng hiện diện với con người hôm nay.

Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa

 Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài đã nói những lời người Do Thái không thể chấp nhận được, như Ngài nhận Ngài có quyền tha tội (Mc.2,7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 58), Ngài là một với Thiên Chúa Cha (Ga.10, 30), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa Cha (Mc.14, 62).  Người Do Thái không thể chấp nhận những lời đó, nên đã lấy đá định ném chết Ngài.  Nếu Ngài không là Thiên Chúa, quả thật Ngài phạm tội “phạm thượng”: là người phàm mà dám nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa.

Ngài đã sống lại, nghĩa là, những điều Ngài nói là thật, vì nếu Ngài nói dối, Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài!  Như vậy, Ngài có quyền tha tội (mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa thật.

Ngài là Thiên Chúa thật, nghĩa là Ngài là Thiên Chúa nhập thể.  Và do đó, người ta biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, vì nếu không yêu con người, tại sao Thiên Chúa nhập thể làm người?  Tại sao Ngài phải chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá?  Tại sao Ngài mãi mãi là người?  Chính vì tình yêu, vì yêu con người, mà Thiên Chúa trở thành một người như bao người.  Thiên Chúa làm tất cả cho con người.

Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con

 Khi hiện ra với các tông đồ vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu nói với các tông đồ: “như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”  Như vậy, các tông đồ, và sau đó là các Kitô hữu, có cùng sứ mạng với Đức Giêsu.

Sứ mạng của Đức Giêsu, của Ngôi Lời nhập thể, là làm sao để con người nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa!  Để làm được điều này, Lời Thiên Chúa đã nhập thể, đã sống như một người hoàn toàn, đã hiến mình làm của ăn cho con người, đã chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá vì yêu con người, đã yêu con người đến chết.

Sứ mạng của các tông đồ, của Hội Thánh ngày nay, của mỗi người tín hữu, là làm chứng cho tình yêu, làm cho thế gian biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng.  Để làm được điều này, cũng đòi tín hữu phải hy sinh, phải yêu thương con người ngày nay đến độ quên mình như Đức Giêsu.  Thập giá minh chứng tình yêu.  Lửa thử vàng, gian nan thử tình yêu.  Tình yêu cải biến, chinh phục lòng người.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From: Langthangchieutim

CON NGƯỜI BẤT TOÀN BẤT TRUNG SAO CHÚA YÊU CHÚNG CON LÀM CHI?

CON NGƯỜI BẤT TOÀN BẤT TRUNG SAO CHÚA YÊU CHÚNG CON LÀM CHI?

Tuyết Mai

Lạy Chúa Giêsu, Đấng từ bi nhân hậu! Tình yêu của Ngài trao ban cho toàn thế giới con người thật là bao la diệu vợi; yêu đến nỗi chết trên Thập Giá vì tội lỗi ngập ngụa của chúng con. Trái tim của Ngài to lớn có thể ôm cả vũ trụ vào lòng. Sao Chúa yêu nhân loại tội lỗi chúng con làm chi trong khi chúng con là những thành phần tội đồ bất xứng trước tôn nhan Chúa và tình yêu của Người?.

**

Chúng con đã cố tình chối bỏ tình yêu rất nhưng không của Thiên Chúa trao ban mà đi theo những cám dỗ, những đam mê gọi mời, cùng những thứ có thể giết chết dần mòn cả thân xác và linh hồn thật quý giá … mà Thiên Chúa đã nâng niu, nhào nắn, tác thành và thổi hơi ban cho chúng con có được sự sống thật tốt lành sung mãn – như từng tác phẩm trinh nguyên (original) được họa nên do bàn tay vô cùng quyền năng của Thiên Chúa; nên mỗi tác phẩm đều hoàn toàn khác nhau.

**

Ôi lạy Chúa Giêsu, Ngài đã chứng minh cho toàn nhân loại thấy và cảm nhận được tình yêu cao cả và vô biên của Ngài nên chúng con thấy mình luôn là vô dụng, bất phục tùng và bất trung!. Vì lề luật của Chúa thì quá khắt khe, quá bó buộc và không thể làm giàu cho được. Nên lẽ đương nhiên là chúng con phải chọn, tìm cho được con đường mang lại cho chúng con những cuộc sống ảo với những hào nhoáng bề ngoài, những xưng hô giả dối và những tòa nhà nhiều tầng (kín cổng cao tường).

Sau cùng là cố gắng tìm cho được danh vọng thì có chết chúng con cũng mãn nguyện Chúa ơi!. Còn chuyện lên Trời hay xuống Hỏa Ngục thiết nghĩ chúng con không có thời giờ để nghĩ tới hay cảm thấy không cần thiết để nghĩ tới bây giờ!?.

**

Chúa ơi, nào chúng con quyết tâm để trở về cùng Chúa khi tội lỗi của chúng con cứ phạm đi rồi phạm lại nên tội lỗi ngày càng chồng chất mà ý nghĩ bỏ tội thì hầu như chúng con không muốn; nhất là chúng con đã bị nghiện rồi thì không thể bỏ được …

Do đó, chúng con không ăn năn, sám hối hay quyết tâm để chừa tội thì quả thật linh hồn của chúng con giống như sợi chỉ treo mành nếu ngày hôm nay chúng con bị chết bất đắc kỳ tử … Thì linh hồn của chúng con chỉ còn nhờ vào tình yêu của Đức Mẹ Maria (nếu hằng ngày có thói quen đọc cho Mẹ 1 kinh Kính Mừng – cùng nhờ vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà thôi).

**

Tội nghiệp Chúa của chúng con quá Chúa ơi, vì Người quá hiền từ. Chúa buồn lắm phải không vì Nhà Cha ở trên Trời còn rất nhiều chỗ ở. Một Nơi mà hạnh phúc sẽ là muôn đời, nhưng chúng con cố tình làm ngơ như không muốn biết và không muốn tới đó.

**

Xin Thiên Chúa trợ giúp chúng con, ban cho chúng con áo giáp để phòng thân, để mọi sự dữ ở thật xa chúng con …. Giúp chúng con sớm nhận biết là con đường trở về Nhà Cha là vác Thập Giá đời mình bằng cách chu toàn trách nhiệm và bổn phận – trên bản thân, trên gia đình và trên anh chị em nghèo khổ luôn sống đầy dẫy ở chung quanh chúng con. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

6 tháng 4, 2021

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

https://www.youtube.com/watch?v=Cip7CRsmHOI

(Lời Nguyện Cầu)

TÌM PHỤC SINH Ở ĐÂU

TÌM PHỤC SINH Ở ĐÂU

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Có những điều cần đến sự đóng đinh nhục hình. Tất cả mọi sự tốt đẹp, đến tận cùng đều bị đem ra thí tội và bị đóng đinh. Như thế nào? Bởi quy luật này, một quy luật lạ lùng ngược đời bẩm tại trong đời sống con người luôn có một ai đó hay một sự gì đó không thể ở yên, nhưng vì những lý lẽ của bản thân nó, phải đi truy lùng và tấn công những sự thiện tốt lành. Những gì tốt lành, những gì từ Thiên Chúa mà ra, luôn có lúc bị hiểu lầm, bị ganh tị, thù ghét, truy đuổi, buộc tội, và cuối cùng là treo lên thập giá. Mọi phần thân thể Chúa Kitô chắc chắn chịu cùng số phận như Ngài: chịu chết vì bị hiểu lầm, vì sự ngu dốt và ghen tỵ.

Nhưng còn có một mặt khác: Cuối cùng Phục Sinh luôn chiến thắng nhục hình. Những gì tốt lành chiến thắng. Do đó, dù Thiên Chúa không trốn tránh nhục hình, nhưng thân xác Chúa Kitô không ở trong mồ quá lâu. Thiên Chúa luôn lăn tảng đá mồ ra, và đủ sớm để cho sự sống mới trỗi dậy, qua đó chúng ta thấy được vì sao đời sống bình thường của mình phải chịu nhục hình. (Không phải là Chúa Kitô phải chịu đau khổ và phải chết hay sao?) Sau nhục hình, chắc chắn là Phục Sinh. Tất cả mọi thân xác chịu nhục hình sẽ trỗi dậy. Hy vọng của chúng ta phát xuất từ đó.

Nhưng là như thế nào? Chúng ta thấy được sự phục sinh này ở đâu? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được phục sinh sau nhục hình?

Kinh thánh rất khéo léo, dù rất rõ ràng, về điều này. Chúng ta nghĩ là có thể cảm nghiệm phục sinh ở đâu? Tin mừng cho chúng ta biết, vào tảng sáng phục sinh, các phụ nữ theo Chúa Giêsu đã lên đường viếng mộ, mang theo dầu thơm để xức xác Ngài. Một ý định tốt nhưng lầm, những gì họ thấy không phải là xác chết, nhưng là ngôi mộ trống, và thiên thần đứng đó hỏi họ: “Tại sao các bà lại tìm người sống giữa cõi chết? Hãy lên đường đến Galilê và các bà sẽ thấy Ngài ở đó!”

Hãy đến Galilê. Tại sao là Galilê? Galilê nào đây? Và làm sao để đến đó?

Trong tin mừng, Galilê không đơn thuần là một địa điểm địa lý, một vị trí trên bản đồ. Mà trên hết, Galilê là một nơi trong lòng người. Cũng thế, Galilê là giấc mơ và con đường môn đệ mà các môn đệ của Chúa Giêsu từng đi với Ngài, và cũng là nơi chốn thời điểm khi lòng họ bừng bừng hy vọng và nhiệt tình. Giờ đây, sau khi Chúa chịu đóng đinh, khi họ thấy giấc mơ của mình đã chết, khi đức tin của họ chỉ còn là ảo tưởng, thì họ lại được bảo hãy đi về nơi tất cả mọi sự khởi đầu: “Hãy đi về Galilê. Ngài sẽ gặp các bạn ở đó!”

Và họ về lại Galilê, cả về mặt địa lý và cả về một nơi đặc biệt trong lòng họ từng một thời cháy bỏng giấc mơ môn đệ Chúa. Và như lời đã hứa, Chúa Giêsu hiện ra với họ. Ngài không giống y hệt như Ngài trước đây, hay như những gì họ muốn, nhưng Ngài hiện ra, Ngài không chỉ là một bóng ma hay một ký ức. Chúa Kitô hiện ra với họ sau phục sinh, theo một phương thức khác, nhưng Ngài đủ hữu hình thể lý để cùng ăn cá với họ, đủ thực để họ chạm đến, và đủ quyền năng để biến đổi cuộc đời họ mãi mãi. Đến tận cùng, đây chính là những gì mà sự phục sinh muốn ở chúng ta: Hãy về lại Galilê, về lại với giấc mơ, với hy vọng và tình môn đệ từng một thời thổi bừng chúng ta, nhưng giờ đã mất đi vì chúng ta vỡ mộng.

Điều này cũng tương đồng với câu chuyện trên đường Êmau, khi hai môn đệ với gương mặt buồn bã u ám rời Giêrusalem. Và từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra một linh đạo trọn vẹn: Theo thánh Luca, Giêrusalem là giấc mơ, là hy vọng và là trung tâm lòng đạo, nơi khởi đầu và cực điểm của mọi sự. Và các môn đệ đang “rời bỏ” nơi này, từ bỏ giấc mơ của mình, hướng về Enmau (một khu nghỉ dưỡng của người La Mã thời đó), hướng về một nơi tiện nghi phàm tục, một Las Vegas hay Monte Carlo. Do giấc mơ của họ đã bị đóng đinh nhục hình, nên cũng dễ hiểu khi các môn đệ nản lòng và rời xa giấc mơ đó, hướng đến một khuây khỏa phàm tục, trong sự tuyệt vọng: “Nhưng chúng ta đã từng hy vọng!”

Họ không bao giờ đến Enmau. Chúa Giêsu hiện ra với họ trên đường, từ sự vỡ mộng Ngài dựng lại hy vọng trong họ, và đưa họ về lại Giêrusalem.

Đây là một trong những thông điệp căn bản nhất của Phục Sinh: Bất kỳ lúc nào chúng ta nản lòng trong đức tin, bất kỳ lúc nào hy vọng dường như bị đóng đinh giết chết, thì chúng ta cần về lại Galilêvà Giêrusalem, nghĩa là về lại giấc mơ và con đường môn đệ mà chúng ta từng mang trong lòng trước khi mọi thứ tưởng như sụp đổ. Bất kỳ lúc nào chúng ta thấy dường như nước trời không có thực, tất nhiên sẽ có cám dỗ từ bỏ cương vị môn đệ để chạy đến sự khuây khỏa phàm tục, hướng đến Enmau, để được giải khuây nhờ Las Vegas hay Monte Carlo.

Nhưng, chúng ta biết, mình không bao giờ đến Las Vegas hay Monte Carlo. Bằng cách này hay cách khác, Chúa Kitô luôn gặp chúng ta khi chúng ta đang trên đường đến đó, Ngài đào sâu tâm hồn chúng ta, giải nghĩa những nhục hình cho chúng ta hiểu, và đưa chúng ta về lại cương vị môn đệ mà chúng ta đã từ bỏ. Một khi đến đó, tất cả mọi sự lại có ý nghĩa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

AI SẼ LĂN TẢNG ĐÁ?

AI SẼ LĂN TẢNG ĐÁ?

  Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh nói đến tảng đá lấp cửa mộ đã bị bật tung và mở toang.  Sự kiện khởi đi buổi “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần”, Maria Mađalêna đi thăm mộ và “thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ”, bà liền kết luận “người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”  Phêrô thinh lặng.  Gioan “đã thấy và đã tin.”

Mađalêna đau khổ thất vọng nên chỉ thấy tảng đá là sự kết thúc.  Bà chưa hiểu phía sau tảng đá được lăn ra kia ẩn chứa một mầu nhiệm siêu phàm.

Tông đồ Phêrô, quan sát kỹ lưỡng từ tảng đá cho đến ngôi mộ trống và tất cả những gì đã xảy ra nơi đây, nhưng ngài không nói gì, không bày tỏ thái độ mà chỉ thinh lặng.  Vì sao vậy?  Lý do có thể Phêrô là lãnh đạo tinh thần của nhóm tông đồ nên sự im lặng là cần thiết?  Băn khoăn, không biết nghĩ thế nào hay phải ăn nói làm sao!  Tuy nhiên, căn cứ vào những gì Tin mừng trình bày, sự im lặng của Phêrô có nguyên nhân từ sự chưa hiểu thấu mầu nhiệm Phục sinh: “Trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: Theo Kinh thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết” (x. Ga 20,9).  Thật thế, cho đến mãi sau này, khi đã được gặp Đấng Phục Sinh và đón nhận Thánh Thần, Phêrô mới hiểu vì sao ngôi mộ trống và tâm hồn ông lúc ấy mới bừng sáng để hiểu điều mà Kinh thánh từng loan báo.  Phêrô là một người chân chất đơn sơ.  Điều gì chưa biết thì im lặng và chờ đợi chứ không nhiều lời, không suy diễn.

“Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này.  Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.  Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24,11).  Tảng đá nghi ngờ đang che mờ đôi mắt đức tin của họ.

Các thượng tế và kỳ mục thì lo âu sợ hãi trước hiện tượng mồ trống.  Vì thế, các ông mới cho lính canh số tiền hậu hĩ và bảo những người này phao tin là các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác: “các anh hãy nói như thế này: ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13).  Tảng đá ghen ghét đã bịt lối nhìn lối nghĩ của họ.

Cuối cùng chỉ có một người tin.  Đó là Tông đồ Gioan.  Nhưng Gioan tin không phải vì hiện tượng mồ trống mà vì những gì đã thấy.  Gioan thấy gì?  Ông thấy những băng vải và khăn che đầu không xếp lộn với nhau, nhưng để riêng ra một nơi.  Cảnh tượng này làm Gioan nhớ lại lời Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phải chịu đau khổ, phải chết rồi mới chỗi dậy mà vào chốn vinh quang (Lc 24,26).  Gioan đã chứng kiến dấu lạ Chúa Giêsu cho Ladarô sống lại.  Ladarô ngồi dậy, nhưng thân mình còn quấn chặt các thứ khăn liệm, còn ở đây, mọi thứ được xếp gọn gàng.  Gioan nhớ lại lời nói của Chúa Giêsu sau khi đuổi phường buôn bán ra khỏi đền thờ: “Hãy phá đền thờ này đi, và trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19).  Gioan còn nhớ điềm lạ của Giona với lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Như Giona ở trong bụng cá ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày đêm như vậy” (Mt 12,40).  Gioan vẫn nhớ như in, trên núi Tabor, Chúa hiển dung và căn dặn các ông không được nói lại với ai về chuyện đó, cho đến khi Ngài sống lại từ cõi chết (Mc 9,9).  Gioan luôn nhớ, trước lúc lên đường về Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, Thầy cũng đã nói với 12 môn đệ thân tín: “Này, chúng ta lên Giêrusalem và sẽ hoàn tất cho Con Người mọi điều các tiên tri đã viết.  Vì chưng Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, hành hạ, khạc nhổ, và sau khi đã đánh đòn Ngài, người ta sẽ giết Ngài, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại” (Lc 18,31-33).  Gioan ghi tạc vào lòng lời tâm sự của Thầy trong buổi tiệc ly: “Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì Ta trong đêm nay…  Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đi trước các ngươi tới Galilê” (Mt 26,31-32) …  Những lời đó làm Gioan tin chứ không phải thấy Đấng Phục Sinh.  Gioan không thấy Đấng Phục Sinh nhưng ông tin Đấng mà ông yêu mến đã sống lại.  Ngay từ giây phút đầu tiên khi thấy những vết tích còn để lại trong mồ trống, Gioan đã tin cách tuyệt đối.  Tuy không thấy xác nhưng những vải liệm kia chính là những dấu chỉ có giá trị đối với ông.  Nói như J.P Duplantier, “ngôi mộ không trống cũng chẳng đầy, nhưng nó đã trở nên một ngôn ngữ.”  Nhờ việc chú ý đến thứ ngôn ngữ ấy, người môn đệ Chúa yêu đã khám phá và hiểu rằng Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết, điều mà lúc bấy giờ ngoài ông ra, các môn đệ khác còn chưa hiểu nổi.  Rõ ràng, thấy là nền tảng và bằng chứng cho lòng tin.  Nhưng thấy ở đây không phải là thấy những sự kiện bên ngoài mà là thấy ý nghĩa bên trong gắn liền với sự kiện.  Tông đồ Gioan thấy sự kiện những băng vải và khăn che đầu, nhưng vì nhớ lời Kinh Thánh mà tin.  Thấy rồi mới tin là chuyện bình thường.  Còn không thấy mà tin mới là phúc như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).

Sáng sớm ngày thứ nhất đầu tuần mới, tảng đá lấp cửa mồ đã mở toang.  Nấm mồ lạnh lẽo, chật hẹp, tối tăm đã mở tung ra như cánh hoa hồng hay đôi môi thắm tươi của nụ cười thiếu nữ, đầy sức sống và bình an.  Tảng đá lấp mộ làm sao niêm giữ được Đấng Phục Sinh!  Nấm mồ chỉ là giai đoạn chuyển tiếp.  Nó giống như lối đi ngầm dưới mặt đất, sẽ mở lên một vòm trời vinh quang.  Chúa Giêsu dùng nó như cánh cửa mở vào miền đất tử thần và từ đó biến nó thành ngõ mở vào cõi sống trường sinh.

Có những hòn đá ta bước qua rất dễ.  Có những tảng đá phải tốn thời giờ công sức mới dịch chuyển nó sang một bên để có đường đi.  Nhưng cũng có những tảng đá to chắn bít lối đi, che khuất tầm nhìn nên không thể bước tiến.  Trong đời sống thường nhật, có biết bao tảng đá vô hình mà nặng nề, cần phải được tháo bỏ.  Giuđa bán Thầy với giá 30 đồng bạc, cả một tảng đá tham lam đè nặng tâm hồn.  Phêrô chối Thầy đến 3 lần, ấy là vì tảng đá sợ hãi che kín.  Các môn đệ bỏ trốn, vì tảng đá nhát đảm sợ liên luỵ đang vây bủa.  Mỗi người chúng ta có thể cũng đang bị một tảng đá vô hình nào đó đè nặng tâm hồn.  Tảng đá đam mê nết xấu.  Tảng đá ghen ghét, chia rẽ.  Tảng đá đam mê dục vọng…  Ai sẽ giúp chúng ta lăn những tảng đó ra?…  Xin thưa là chính Chúa Giêsu Phục Sinh.  Ngài sẽ giúp ta lăn tảng đá đó ra khỏi đời mình và làm cho tâm hồn ta được phục sinh để sống bình an.

Tảng đá to đã niêm phong cửa mồ, các Thượng tế và những người Pharisiêu xin Tổng trấn Philatô cắt đặt một tiểu đội binh sĩ đến canh ngôi mồ (Mt 27,62), và “Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá, rồi cắt lính canh mồ” (Mt 27,66).  Tảng đá đó thể hiện sức mạnh quyền lực của sự dữ và sự thống trị của con người.  Cận vệ đền thờ nghĩ rằng dấu niêm phong của lãnh đạo Do thái có khả năng thách thức được quyền phép Thiên Chúa sao?  Đấng Phục Sinh đã bật tung tảng đá niêm phong, từ cõi chết, Người sống lại vinh quang, mở lối vào sự sống mới.

Chúa Giêsu sống lại, chân lý đã chiến thắng, tình yêu vượt trên hận thù và sự sống mạnh hơn sự chết.  Phục Sinh là niềm tin và hy vọng cho người Kitô hữu vào sự sống mai sau: “Nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8).

Phục Sinh là niềm vui của những người được Chúa Kitô đẩy tảng đá ra khỏi cuộc đời họ, làm cho tâm hồn họ được bình an.  Như Giakêu, như Lêvi đã được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tảng đá của tội lỗi nên họ cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng thanh thản và bước theo Chúa.  Và còn biết bao tấm gương khác đã được giải thoát khỏi những tảng đá vô hình, và từ đó hân hoan bước theo Chúa Giêsu.

Chúa đã Phục Sinh.  Tin vui làm ấm áp cõi lòng đang buồn phiền vì mất mát đắng cay.  Tin mừng đã lau khô đôi mắt ngấn lệ khóc than tiếc thương của các môn đệ.  Mầu nhiệm sự sống qua cái chết mà Thầy từng rao giảng thực sự được khai trương.  Chúa đã chỗi dậy từ chính nơi đã được mai táng.  Ánh sáng tràn ngập.  Niềm hy vọng lớn lao đã được bắt đầu từ chính nơi hôm qua còn đầy đau thương tuyệt vọng.  Chúa Phục Sinh đã đẩy mọi tảng đá nặng nề ra khỏi tâm hồn các môn đệ.  Từ đây các môn sinh bắt đầu một hành trình mới, loan báo Tin mừng Phục sinh.

Chúa đã sống lại thật!  Allêluia!  Đó là niềm vui và tuyên tín của các Tông đồ.  Niềm vui và tuyên tín đó đã được loan truyền cho tới ngày nay và mãi cho tới ngày tận cùng của nhân loại.  Nhìn lại đời sống mình, chúng ta sẽ nhận thấy vô vàn sự phục sinh.  Khi một tình bạn, một tình yêu bị tan vỡ, chúng ta biết hàn gắn lại bằng yêu thương thì đó không phải là sự phục sinh sao?  Khi mà chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ, dẹp tan lòng thù hận, oán ghét thì đó là cuộc vượt qua phi thường…  Tảng đá vô hình đè nặng được lăn ra khỏi tâm hồn chính là phục sinh.  Tin vào Đấng Phục Sinh là thắp lên ánh sáng mới, là đón nhận tình yêu mới cho mùa xuân tâm hồn.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

SUY NIỆM CHÚA GIÊSU CHỊU KHỔ NẠN VÌ AI?

 

Van Pham  is with  Pham Thi Kim Hải

 SUY NIỆM CHÚA GIÊSU CHỊU KHỔ NẠN VÌ AI?

Làm thế nào để biết ai thương yêu và sằn sàng hy sinh vì mình?

Ở một ngôi làng kia có ông phú hô giàu có sống đầm ấm với vợ con. Một hôm ông chợt nghĩ không biết vợ ông và những đứa con ai là người thương yêu ông nhất và sẵng sàng hy sinh vì ông vô điều kiện?

Câu hỏi từ đó cứ ám ảnh ông mãi không thôi vì với người vợ ông cảm thấy nàng vẫn chu toàn bổ phận và không có điều gì đáng phiền trách. Với những đứa con đều ngoan ngoãn và vâng phục những điều ông răn dạy.

Cách nơi ông ở một ngày đường, ông nghe nói có một vị cao tăng tu luyện trong sơn cốc có pháp thuật và tài đoàn vận mệnh “quá khứ vị lai”. Thế là ông lên đường đến tìm vị cao tăng nọ.

Khi đến nơi, ông liền trình bày những băn khoăn khắc khoải của mình. Vị sư cho biết có cách để ông phú hộ biết ai sẽ là người thương yêu và hy sinh vì ông. Đó là sẽ làm phép cho ông phú hộ chết bất đắc kỳ tử trong vòng 2 ngày (chết gỉa).

Về nhà ông phú hộ nói với đứa con trai trưởng là nếu ông có chết thì đến mời nhà sư nêu trên, vì chỉ có vị cao tăng này là có thể cứu ông sống lại được mà thôi.

Rồi bỗng một hôm sau khi ăn cơm xong, ông lên võng nằm và đi luôn. Vợ con ông khóc than, thương tiếc vang trời. Rồi người con trai nhờ lời cha dặn bèn phóng ngựa và đưa kiệu đến mời vị cao tăng đến để cứu người cha.

Khi vị cao tăng đến nơi, ông nói: “Ông bố sẽ được sống lại, nhưng với điều kiện duy nhất, là trong số vợ con hiện diện phải có 1 người hy sinh chịu chết, lúc đó ông bố mới có thể sống lại…”

Nghe thế, người vợ, con trai và con gái lớn rồi đến các đứa em tất cả đều đưa ra mọi lý do để khước từ. Không ai muốn chết thay để người cha được sống lại.

Nằm bất động trong quan tài, nhưng ông bố nghe được mọi chuyện. ông qúa thất vọng vì cứ tưởng vợ con ông ai cũng sẽ sẵn lòng hy sinh tính mạng để cứu ông vì thương yêu ông thật lòng.

Sau khi tỉnh lại, phú ông rũ bỏ tất cả tài sản và mọi lưu luyến trần thế và lên đường tìm chốn nương thân nơi thiền môn….

***

Qua câu chuyện này, chúng ta thử nhìn lại chính mình xem, trong chúng ta có ai sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu chồng, cứu vợ và cứu cha mẹ của mình không?

Thế nhưng, hôm nay chúng ta chứng kiến con một Thiên Chúa đã hy sinh tính mạng mình để cứu chuộc nhân loại thoát khỏi cơn thịnh nộ của Chúa Cha.

Chúng ta đã sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa để đáp lại lòng thương yêu vô bờ bến cùa Ngài?

Chúng ta đã làm vui lòng Thiên Chúa bằng cách san sẻ thương yêu đến với mọi người, nhất là những thân phận thấp kém, nghèo hèn hơn chúng ta chưa?

Và…….tự mỗi người đặt câu hỏi và tự trả lời.

May be an image of sky and text that says 'MERCY, PEACE ANDLOVE MAY THE GRACE AND LORD SURROUND AND BE WITH YOU ON GOOD FRIDAY."'

TÌM HIỂU Ý NGHĨA NHỮNG NGHI THỨC TRONG LỄ PHỤC SINH

 

TÌM HIỂU Ý NGHĨA NHỮNG NGHI THỨC TRONG LỄ PHỤC SINH

***

NGUỒN GỐC LỄ PHỤC SINH:

Theo phong tục và dân tộc tính ở các nước Trung Âu Châu (Đức, Pháp, Áo, Hòa Lan, Bỉ, Lục Xâm Bảo, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha.. ) sau mùa đông giá lạnh, xuân về có ánh nắng mặt trời ấm áp làm đời sống vui tươi hơn. Mùa phục sinh bắt đầu vào ngày rằm tháng đầu của mùa xuân.

Ngày lễ nầy bắt nguồn từ ngày Chuá Jesus bị đóng đinh trên thánh giá (Karfreitag / Good Friday) và sống lại (Auferstehung/ resurrection) biểu tượng cho sự sống (Leben/ live) và sự phì nhiêu phong phú (Fruchtbarkeit/ fertility) thời xa xưa người ta gọi lễ hội mùa xuân (Frühlingsfest / spring festival) hay „Ostarum“ người Đức gọi là „Ostara“ và danh từ „Ostern/ Easter“ nguồn gốc từ chữ „Ost/ East“ hướng về phương đông mùa xuân mặt trời sắp lên, người Do Thái gọi ngày lễ nầy là „Paschafest“ Người Ai Cập (Ägypter) gọi là „Osterlamm/ paschal lamb)“ cũng nhằm ngày rằm đầu tiên mùa xuân họ giết cừu ăn mừng được giải phóng khỏi sự đàn áp, thoát khỏi thân phận nô lệ

Hội nghị về Tôn giáo ở Niazäa năm 325 công nhận lễ hội mùa xuân, là ngày lễ phục sinh sau khi Chúa sống lại cho đến năm 1094 Oster Fest vui chơi 4 ngày rồi sau đó 3 ngày, nhưng đến nay chỉ còn lại 2 ngày. Lễ phục sinh năm nay vào ngày thứ Sáu 02 và thứ Hai ngày 05 tháng 4.

Hằng năm vào ngày thứ Sáu lễ phục sinh Osterfeiertagen Đức Giáo Hoàng làm lễ tại Petersdom ở Roma gọi là „Urbi et orbi“ ở Đức theo phong tục vào Chúa nhật phục sinh (Ostersonntag/ Easter Sunday) cha mẹ hay ông bà thường đưa trẻ con đi tìm trứng „Ostereier suchen“ ở nơi nào đó mà các Hiệp hội tổ chức giấu trứng gà chín tô nhiều màu trong các bụi cây bờ cỏ.. đây cũng là một thú vui đi dạo thưởng thức nắng ấm đầu mùa.

Nhiều gia đình dành sự ngạc nhiên cho các cháu nhỏ, cha mẹ thường mua rổ đan bằng mây hay tre lót những sợi giấy màu xanh làm cỏ để trứng và các con thỏ làm bằng chocolate giấu trong vườn hay nhà các cháu đi tìm. Những buổi tiệc vui gia đình Đức thường ăn thịt cừu nướng „Osterlamm“

********

LỬA PHỤC SINH (Osterfeuer/ Easterfire):

Người ở vùng quê sống đời nông nghiệp vui mừng mùa đông giá lạnh đi qua, xuân đến bắt đầu gieo trồng rồi gặt hái, nguồn gốc lửa phục sinh ngày xưa được đốt lên từ những cánh đồng trong đêm đầu tiên phục sinh, từ đó sẽ thắp lên ánh nến phục sinh. Ngọn lửa sưởi ấm mùa đông dài lạnh lẽo vì thời xa xưa không đủ tiện nghi như ngày nay có lò sưởi điện.

Người Ai Cập từng tôn thờ thần mặt trời xem ánh lửa như thần thiêng. miền bắc Na Uy không có mặt trời, mặt trời tái xuất hiện vào cuối tháng giêng khoảng 4 phút, học sinh ở Trombo nghỉ học một ngày để chào mừng ánh mặt trời, ngược lại mùa hè đêm 23 tháng 7 thì mặt trời không hề lặn, không có mặt trời thì trên trái đất nầy sẽ không có sự sống, vì thế ánh lửa phục sinh cũng là nguồn sống của con người, lửa phục sinh tượng trưng cho ánh sáng mới mà Chúa đã mang đến cho chúng ta.

Từ năm 750 ở Pháp đã có phong tục đốt lửa phục sinh, thời sơ khai người ta dùng hai hòn đá đánh cho xẹt ra lửa, rồi từ từ biết dùng khí đốt. Đến thế kỷ thứ 11 ở Đức đã dùng ánh lửa như một sự dâng hiến trong các nghi lễ về tôn giáo.

*******

NẾN PHỤC SINH (Osterkerze/ Eastercandle):

Các Tôn giáo đều sử dụng nến (đèn cầy) đốt sáng trên bàn thờ, ánh sáng nến có thể đem vào nơi tối tăm, năm 384 lần đầu tiên ở Piacenca thánh Hieronymus (347- 419) viết trong thư tông đồ về ý nghiã biểu tượng của nến phục sinh là sự sống .đến năm 417 Giáo Hoàng Zosimus cùng công nhận biểu tượng đó là sự chết và sống lại của Chúa Jesus.

Từ thế kỷ thứ 7 thánh điạ La Mã công nhận và sử dụng nến phục sinh cho đến thế kỷ thứ 10 được các quốc gia theo Thiên chúa sử dụng cho đến thế giới ngày nay.

Nến Phục sinh được đốt lên từ đống lửa trước nhà thờ trong đêm phục sinh được thánh hóa theo phong tục lâu đời. Nến đốt sáng được rước vào nhà thờ, tín đồ sẽ thắp nến của mình từ cây nến phục sinh cả nhà thờ được rực sáng bởi ánh nến là dấu hiệu của sự sống, chiến thắng được tội lỗi và sự chết. Mọi người reo mừng “Christus ist das Licht- Gott sei ewig Dank” Ngày phục sinh cây nến có ghi hình thánh giá hay khắc tia ánh sáng mặt trời hay dòng nước.

Trên nến có cắm 5 dấu đinh, phía trên ghi mẫu tự Alpha và bên dưới mẫu tự Omega với ý nghiã đầu tiên và cuối cùng của tiếng Hy Lạp, tượng trưng cho chúa Jesu là khởi đầu và cuối cùng, chung quanh cây nến ghi năm để nói lên, Chúa Jesus là Đấng cứu độ từ khởi đầu, hôm nay và mãi mãi. Trong các lễ rửa tội, hay lễ an táng nến phục sinh được đốt sáng.

*******

TRỨNG (Ostereier/ Easter egg):

Từ thế kỷ thứ 12, Thứ bảy phục sinh Ostersamstag người ta nấu trứng gà chín và sơn màu sắc sặc sở với những ý nghiã đẹp : màu đỏ tượng trưng cho may mắn, màu xanh cho hy vọng, trẻ trung vô tội, màu vàng cho sự khôn ngoan, màu trắng cho thanh bạch màu cam cho sức mạnh … bỏ trứng trong giỏ với những thức ăn khác mang đến nhà thờ.

Trứng còn biểu tượng cho sự khởi nguyên của sự sống, bởi vậy theo truyền thuyết người chết được tẩm liệm người ta để trong quan tài một cái trứng biểu tượng cho cứu chuộc và sự sống đời sau, trên quan tài người chết thường cúng cơm có trứng gà.

Người ta quan niệm con gà con tự mổ vỏ trứng chui ra, Chúa Jesu bị hành hạ đánh đập qua những đoạn đường dài khổ cực vác thánh giá rồi bị đóng đinh chết an táng trong ngôi mộ đá đã đập vỡ cửa mồ và sống lại.

********

THỎ PHỤC SINH (Osterhase/ Easter bunny):

Các chuyện thần thoại hay trong dân gian đều có chuyện vui giúp đời như con thỏ là con vật hiền lành không làm hại sinh vật nào.Thỏ không có khả năng tấn công hoặc gây nguy hại cho các loài động vật khác, nhưng lại thường xuyên bị những con như sói, báo, chim ưng, cú… uy hiếp. Chính vì vậy, thỏ thường xuyên phải vểnh tai để chú ý xem bốn phía chung quanh có động tĩnh gì không, nhằm đề phòng bất trắc. Trong hoàn cảnh khắp nơi là kẻ địch như vậy, nên đôi tai của thỏ đặc biệt to dài nghe rất thính để chạy trốn khi nghe tìếng động trước sự tấn công.

Nữ thần ái tình Hy Lạp „Liebesgöttin Aphrodite“ cho đến NữThổ Thần Nhật nhĩ Nam „Erdgöttin Holda“ đều yêu chuộng thỏ. Ở Byzanz Tây Ban Nha các nhà biểu tượng học xem biểu tượng con thỏ là một Thiên sứ. Mãi cho đến thế kỷ thứ 16 nhiều điạ phương đã quan niệm các con thú khác như cáo, gà, cò chim cu, hạt, cú đã mang trứng đi giấu ..

Thỏ sống cách đây 55 triệu năm bộ xương thỏ vừa được khai quật ở Mông Cổ. Gomphos elkema, tên của con vật, là thành viên cổ nhất trong họ nhà thỏ từng được tìm thấy. Phân tích Gomphos đã cho thấy, thỏ hiện đại, cùng với các loài thú khác, đã xuất hiện sau thời kỳ khủng long.

Các nhà sinh vật học cho biết thỏ sinh sản nhiều, nhưng chú thỏ phục sinh xuất hiện từ năm 1678 do một giáo sư y khoa Von Georg Franck ở Franckenau dạy đại học Heidelberg công nhận thỏ là biểu tượng của sự sinh nở phong phú, một con thỏ mẹ hàng năm có thể đẻ 20 thỏ con, mùa xuân với cỏ non làm thực phẩm cho các chú thỏ con vừa chào đời, vào tận trong vườn để tìm thức ăn.

Trứng phục sinh được sơn nhiều màu, người lớn đã cắt nghiã do các chú thỏ mang tới, từ đó có thỏ và trứng. Từ thành phố Zurich Thuỵ Sĩ là nơi phát họa ra chú thỏ và cái trứng trong mùa phục sinh. Sau đó các hãng sản xuất kẹo bánh, không bỏ cơ hội buôn bán từ năm 1875 sản xuất những chú thỏ bằng schololate làm bằng tay, mãi cho đến đầu thế kỷ 20 mới sản xuất bằng máy theo ky~ nghệ

*******

HOA PHỤC SINH:

Người Đức thường dùng cành cây tươi, treo những cái vỏ trứng gà, sơn nhiều màu và những con thỏ nhỏ bằng schocolat cho trẻ em, và các loại hoa thường dùng như Thủy tiên Osterglocken/daffodil; Uất kim cương Tulpen/Tulip; Phong tín tử Hyazinthen/hyacinth; Cúc đồng Gaenebluemchen/ dasiy; Bồ công anh Loewenzahn/ dandetion; Mao cấn Hahnenfuss/ buttercup…

Mùa phục sinh bên quê nhà thì nắng ấm, năm nay nhiều nơi hạn hán không đủ nước cho các vụ mùa, thời tiết mỗi lục địa khác nhau, nhưng những mùa lễ Giáng Sinh, Phục sinh đều giống nhau. Trước 1975 Việt Nam Nam Bắc chia đôi, sinh hoạt đời sống về an sinh bị khó khăn, những ngày lễ cũng bị ảnh hưởng chiến tranh.

Hy vọng đời sống phát triển về kinh tế dân trí và dân quyền cũng phát triển theo, để quê hương chúng ta bớt nghèo đói và lạc hậu. Các nước Tây phương vật chất đầy đủ, sau lễ Giáng Sinh Tết, ngày tình yêu… lễ hội hoá trang, tiếp đến lễ Phục sinh các siêu thị lớn, nhỏ đều bày bán những con thỏ bằng Chocolat, trứng sơn đủ màu và những thiệp

Chúc Mừng

Phục Sinh. Frohe Ostern / Happy Easter.

Chúa sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 3- 4) để an ủi và đem hy vọng cho những ai buồn sầu vì số phận sẽ phải chết hay đau khổ, khi có người thân yêu vừa mất. Theo luật tạo hoá con người phải chết. Nhưng nhân loại hy vọng được sống lại như Chúa sau khi phải trải qua cái chết của thân xác…

TAM NHẬT THÁNH

TAM NHẬT THÁNH

ĐGH Beneeddictô XVI

Anh chị em thân mến chúng ta đang đứng trước Tam Nhật Vượt Qua, cũng gọi là Tam Nhật Thánh.  Ba ngày sắp tới thường được gọi là “thánh” vì chúng khiến cho chúng ta sống trở lại biến cố chính của ơn cứu độ; thật thế chúng dẫn đưa chúng ta vào trong cốt lõi của đức tin Kitô: là cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô.  Đó là những ngày mà chúng ta có thể coi như một ngày duy nhất: vì chúng là trọng tâm của toàn năm phụng vụ cũng như của đời sống Giáo Hội.  Kết thúc con đường Mùa Chay chúng ta cũng chuẩn bị bước vào chính bầu khí mà Chúa Giêsu đã sống khi xưa tại Giêrusalem.  Chúng ta muốn khơi dậy ký ức sống động các khổ đau mà Chúa đã chịu vì chúng ta và chuẩn bị cử hành Chúa Nhật tới đây với niềm vui lễ Vượt Qua đích thực, mà Máu Chúa Kitô đã bao phủ bằng vinh quang, lễ Vượt Qua trong đó Giáo Hội cử hành Lễ “nguồn gốc của mọi lễ”, như khẳng định trong Kinh Tiền Tụng ngày lễ Phục Sinh theo nghi thức thánh Ambrosio.

Trước hết là Thứ Năm kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu thành lập bí tích Thánh Thể và chức Linh Mục thừa tác.  Trong đêm đó Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một điều răn mới là điều răn của tình yêu thương huynh đệ.  Trước khi bước vào Tam Nhật Thánh, sáng thứ năm cộng đoàn giáo phận cử hành lễ làm phép dầu, trong đó vị Giám Mục và các linh mục giáo phận canh tân các lời hứa ngày thụ phong. 

Cũng có lễ nghi làm phép Dầu: dầu tân tòng, dầu bệnh nhân và dầu thêm sức.  Đó là thời điểm quan trọng đối với cuộc sống của mọi cộng đoàn giáo phận, quây quần chung quanh vị chủ chăn của mình để củng cố sự hiệp nhất và lòng trung thành với Chúa Kitô, Thượng Tế đời đời duy nhất.  Vào ban chiều Giáo Hội cử hành Bữa Tiệc Ly của Chúa, trong đó Chúa Kitô tự hiến mình cho chúng ta như lương thực cứu độ, như thần dược của sự bất tử: đó là mầu nhiệm Thánh Thể, suối nguồn và tuyệt đỉnh của cuộc sống Kitô.  Trong Bí tích cứu độ này Chúa cống hiến và hiện thực cho tất cả những ai tin nơi Người sự hiệp thông thân tình nhất có thể có giữa cuộc sống của chúng ta và cuộc sống của Người.  Với cử chỉ khiêm tốn và ý nghĩa của lễ nghi rửa chân chúng ta được mời gọi nhớ lại điều Chúa đã làm cho các Tông Đồ: khi rửa chân cho các vị Người tuyên bố một cách cụ thể quyền tối thượng của tình yêu thương, tình yêu thương biến thành sự phục vụ và trao ban chính mình, qua đó Chúa diễn tả trước hy lễ tuyệt đỉnh của cuộc sống mình, hao mòn đi ngày hôm sau đó trên núi Sọ.  Theo một truyền thống rất đẹp, tín hữu kết thúc Thứ Năm Thánh với một buổi canh thức cầu nguyện và chầu Thánh Thể để sống trở lại một cách thân tình hơn cuộc hấp hối của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu.

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày tưởng niệm cuộc khổ nạn đóng đanh và cái chết của Chúa Giêsu.  Trong ngày này phụng vụ Giáo Hội không cử hành thánh lễ, nhưng cộng đoàn Kitô tụ tập nhau để suy niệm về mầu nhiệm sự dữ và tội lỗi đàn áp nhân loại, và để bước theo các khổ đau của Chúa đền bù sự dữ đó, dưới ánh sáng Lời Chúa và các cử chỉ phụng vụ.  Sau khi nghe trình thuật cuộc khổ nạn của Chúa Kitô cộng đoàn cầu nguyện cho tất cả mọi nhu cầu của Giáo Hội và của thế giới, thờ lậy Thánh Giá và rước Mình Thánh Chúa đã được giữ lại trong thánh lễ chiều Thứ Năm.

Như là lời mời gọi sau cùng suy tư về cuộc khổ nạn và cái chết của Đấng Cứu Chuộc và để diễn tả tình yêu thương và việc tham dự của tín hữu vào các nỗi khổ đau của Chúa Kitô, truyền thống Kitô đã làm nảy sinh ra nhiều hình thái đạo đức bình dân, như các cuộc rước kiệu và diễn tuồng thương khó, nhằm ngày càng ghi đậm dấu trong tâm hồn tín hữu các tâm tình tham dự thực sự vào hy tế cứu độ của Chúa Kitô.  Trong số các thói quen đạo đức ấy có việc đi đàng Thánh Giá.  Theo dòng thời gian thói quen này có thêm nhiều kiểu diễn tả tinh thần và nghệ thuật phong phú gắn liền với các nền văn hóa khác nhau.  Vì thế tại nhiều nước nảy sinh ra các đền thánh gọi là Núi Sọ, có đường đi lên dốc dác nhắc nhớ lại con đường đớn đau của cuộc Khổ Nạn, và giúp tín hữu tham dự vào cuộc đi lên Núi Thập Giá Chúa, Núi Tình Yêu Thương cho đến tột cùng.

Ngày Thứ Bẩy Thánh ghi đậm dấu của sự thinh lặng sâu thẳm.  Các nhà thờ trống trơn và không có các lễ nghi phụng vụ đặc biệt.  Trong khi chờ đợi biến cố Phục Sinh, các tín hữu kiên trì cùng Mẹ Maria cầu nguyện và suy niệm.  Thật thế, cần phải có một ngày thinh lặng để suy tư về thực tại cuộc sống con người, về sức mạnh của sự dữ và sức mạnh của sự thiện nảy sinh từ cuộc Khổ Nạn và sự Phục Sinh của Chúa.  Trong ngày này tín hữu đi lãnh nhận bí tích hòa giải để thanh tẩy tâm lòng và chuẩn bị cử hành lễ Phục Sinh.  Ít nhất một năm một lần chúng ta cần đến sự thanh tẩy nội tâm này để canh tân chính mình.

Ngày Thứ Bẩy của thinh lặng, suy niệm, tha thứ và hòa giải này kết thúc với Buổi Canh thức vọng Phục Sinh, dẫn đưa vào Chúa Nhật quan trọng nhất của lịch sử, là Chúa Nhật Phục Sinh của Chúa Kitô.  Giáo Hội canh thức bên lửa mới làm phép và suy niệm về lời hứa vĩ đại trong Cựu Ước và Tân Ước lời hứa giải phóng con người vĩnh viễn khỏi sự nô lệ tội lỗi và cái chết.  Trong đêm tối nến phục sinh, biểu tượng cho Chúa Kitô sống lại khải hoàn được thắp lên từ lửa mới.  Chúa Kitô ánh sáng của nhân loại đánh tan tối tăm của tâm lòng và trí khôn và soi sáng mọi người vào trần gian.

Bên cạnh nến phục sinh vang lên trong Giáo Hội lời loan báo phục sinh: Chúa Kitô đã thực sự sống lại, cái chết không còn quyền lực nào trên Người nữa.  Với cái chết của mình Người đã vĩnh viễn đánh bại sự dữ và trao ban chính sự sống của Thiên Chúa cho tất cả mọi người.  Do truyền thống cổ xưa trong lễ Vọng Phục Sinh các tân tòng lãnh nhận bí tích Rửa Tội để nêu bật sự tham dự của Kitô hữu vào mầu nhiệm cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô.  Từ đêm Phục Sinh rạng ngời niềm vui ánh sáng và hòa bình của Chúa Kitô tỏa lan trong cuộc sống của tín hữu mọi cộng đoàn và đến với mọi điểm của không gian và thời gian.

Trong các ngày đặc biệt này chúng ta hãy lập lại hai tiếng xin vâng với thánh ý Chúa như Chúa Giêsu đã nói với hy lễ thập giá.  Các lễ nghi của Tam Nhật Vượt Qua và buổi Vọng Phục Sinh cống hiến cho chúng ta cơ may đào sâu ý nghĩa và giá trị của ơn gọi Kitô, nảy sinh từ Mầu Nhiệm Phục Sinh và cụ thể hóa nó trong việc theo Chúa Kitô trong mọi trạng huống cuộc đời, cho đến hy sinh mạng sống chúng ta như Người đã hy sinh.

Kỷ niệm các mầu nhiệm của Chúa Kitô cũng có nghĩa là sống gắn bó liên đới sâu đậm với ngày hôm nay của lịch sử, vì xác tín rằng những gì chúng ta cử hành là thực tại sống động và thời sự.  Vì thế chúng ta hãy đem vào trong lời cầu nguyện của chúng ta các sự kiện và tình hình thê thảm trong các ngày này đang gây khổ đau cho biết bao nhiêu anh chị em của chúng ta khắp nơi trên thế giới.  Chúng ta biết rằng sự thù hận, các chia rẽ, bạo lực đã không bao giờ có tiếng nói cuối cùng trong các biến cố lịch sử.  Trong những ngày này chúng ta hãy làm sống dậy nơi mình niềm hy vọng: Chúa Kitô chịu đóng đanh đã sống lại và chiến thắng trần gian.  Tình yêu thương mạnh hơn thù hận.  Nó đã chiến thắng và chúng ta cũng phải liên kết với tình yêu thương.  Chúng ta phải tái khởi hành từ Chúa Kitô và làm việc với Người trong sự hiệp thông để tạo dựng một thế giới xây dựng trên hòa bình, công lý và tình yêu thương.

ĐGH Beneeddictô XVI

Source:  Libreria Editrice VaticanaGENERAL AUDIENCE Paul VI Audience Hall Wednesday, 19 March 2008

From: Langthangchieutim

VƯỜN CÂY DẦU

VƯỜN CÂY DẦU

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Cách đây vài năm, diễn viên Mel Gibson đạo diễn và sản xuất một bộ phim được công chúng đặc biệt hưởng ứng.  Với tựa đề, Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, bộ phim khắc họa lại cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, từ vườn Cây Dầu cho đến cái chết trên Núi Sọ, tác giả nhấn mạnh đến các đau đớn thể xác của Ngài.  Bộ phim thể hiện sống động từng chi tiết các đau đớn mà một người bị đóng đinh thập giá phải chịu, khi bị đánh, bị tra tấn, và bị sỉ nhục.

      Trong khi hầu hết các phái trong Giáo hội tán thưởng bộ phim, cho rằng cuối cùng thì cũng có người làm một bộ phim khắc họa thật về những đau đớn của Chúa Giêsu, thì nhiều học giả Kinh thánh và nhiều ngòi bút thiêng liêng khác lại lên tiếng chỉ trích.  Tại sao lại thế?  Có gì sai khi chiếu một bộ phim dài với chi tiết sống động, những máu me của việc đóng đinh thập giá, vốn thực sự rất hãi hùng? 

     Có gì sai (hay nhẹ hơn là không hợp) khi đây chính là những gì mà Kinh thánh đã không ghi lại về cái chết của Chúa Giêsu.  Tất cả bốn Tin mừng đều cố gắng không tập trung vào đau đớn thể xác của Chúa Giêsu.  Các mô tả trong Tin Mừng về những đau đớn thể xác của Ngài đều hết sức ngắn gọn: “Họ treo ngài giữa hai phạm nhân.”  Philatô cho “đánh đòn Đức Giêsu rồi giao ngài cho người ta đem đi đóng đinh.”  Tại sao lại rút gọn như thế?  Tại sao không mô tả chi tiết?

     Lý do mà các tác giả tin mừng không tập trung vào những đau đớn thể xác của Chúa Giêsu là họ muốn chúng ta tập trung vào một điều khác, cụ thể là những đau đớn trong cảm xúc và tinh thần của Ngài. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu, xét theo chiều sâu thực sự, là một tấn kịch tinh thần, chứ không phải tấn kịch thể lý, là đau khổ của một người đang yêu, chứ không phải đau đớn của một vận động viên.

    Do đó, chúng ta thấy khi Chúa Giêsu tiên liệu cuộc khổ nạn của mình, những gì Ngài lo lắng không phải là đòn roi hay mũi đinh đóng vào tay mình.  Mà Ngài đau đớn và lo lắng cho sự cô độc mình sẽ phải đối diện, cho kết cuộc bị những người đã nói yêu mến Ngài phản bội và bỏ rơi, và cho tình cảnh, theo cách diễn đạt của Gil Bailie là, “bị tất cả loại bỏ.”

    Như thế cuộc thương khó của Chúa Giêsu rõ ràng là một tấn kịch tình yêu.  Nó bắt đầu với mồ hôi máu đổ ra trong vườn Cây Dầu, và kết thúc với việc mai táng Ngài trong vườn.  Chúa Giêsu đang đổ mồ hôi máu trong vườn, chứ không phải trên đấu trường.  Vậy, việc ở trong vườn, có gì đặc biệt?

     Về mặt tượng hình, vườn không phải là nơi trồng rau và dĩ nhiên cũng không phải là nơi trồng hoa.  Vườn là nơi của những người yêu nhau, là nơi cảm nhận hạnh phúc, nơi uống rượu, nơi Adong và Evà đã trần truồng mà chẳng biết, nơi người ta yêu nhau.

    Và các tác giả Phúc Âm đặt khởi đầu và kết thúc cuộc thương khó của Chúa Giêsu trong vườn để nhấn mạnh rằng, Chúa Giêsu, một người đang yêu (chứ không phải Chúa Giêsu Vua, Pháp sư, hay Ngôn sứ), đang trải qua tấn kịch này.  Và chính xác tấn kịch này là gì?  Khi Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong vườn và van xin Chúa Cha đừng bắt Ngài “uống chén này,”thì lựa chọn thực sự của Ngài không phải là: Ta sẽ để mình phải chết hay sẽ dùng đến sức mạnh thần thiêng để cứu mạng mình?  Nhưng đúng hơn, lựa chọn của Ngài là: “Ta sẽ chết cách nào?  Ta sẽ chết trong giận dữ, cay đắng, và không tha thứ, hay Ta sẽ chết với một tấm lòng nồng ấm thứ tha?”

    Tất nhiên, chúng ta biết Chúa Giêsu đã đi qua tấn kịch này như thế nào, Ngài đã chọn lấy lòng bao dung và tha thứ cho những người hành hình mình, và trong toàn bộ những u ám đó, Ngài vẫn giữ vững những gì Ngài đã giảng dạy trong suốt đời rao giảng, chính là tình yêu, tình thương, và tha thứ sẽ tuyệt đối chiến thắng.

     Hơn nữa, những gì Chúa Giêsu đã làm trong tấn kịch tâm hồn này là những gì chúng ta phải noi theo hơn là đơn thuần ngưỡng mộ, vì tấn kịch này cũng hoàn toàn là tấn kịch tình thương trong đời chúng ta với vô vàn cách thể hiện khác nhau.  Cụ thể là:

 Đến cuối đời, chúng ta sẽ chết thế nào đây?  Lòng chúng ta sẽ giận dữ, bám víu, bất dung, và cay đắng vì sự bất công của cuộc đời?  Hay, lòng chúng ta sẽ khoan dung, biết ơn, cảm thông, nồng ấm, như tấm lòng Chúa Giêsu khi Ngài thưa với Chúa Cha là xin theo ý Cha đừng theo ý Con?

    Hơn nữa, đây không phải là chọn lựa cốt yếu và duy nhất mà chúng ta phải đối diện trong giờ chết, nhưng là chọn lựa chúng ta phải đối diện hằng ngày, nhiều lần mỗi ngày.  Biết bao lần khi va chạm hàng ngày với người khác, với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, và cả xã hội nói chung, chúng ta đã phải chịu những lạnh lùng, hiểu lầm, bất công, và cả bạo hành chủ ý nữa.  Từ sự lãnh đạm của một thành viên trong gia đình trước lòng tốt của chúng ta, cho đến một lời bình luận ác ý chủ tâm làm tổn thương chúng ta, đến một sự bất công hết sức ở nơi làm việc, đến việc bị thành kiến và xúc phạm, và bàn ăn, nơi làm việc, phòng họp, và cả trên đường, tất cả đều là những nơi chúng ta cảm nghiệm hàng ngày, ít hay nhiều, những gì Chúa Giêsu đã trải qua trong vườn Cây Dầu, cảm giác, bị tất cả loại trừ.  Trong bóng đêm đó chúng ta có đi theo ánh sáng của mình?  Đối diện với những thù ghét đó, chúng ta có theo tiếng gọi của tình yêu hay không?

 Đó đích thực là tấn kịch trong Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, và ở đó những đòn roi, đinh nhọn không phải là tâm điểm.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

 

ĐỪNG CẬY DỰA QUÁ VÀO TIỀN CỦA MÀ HÃY CẬY DỰA VÀO THIÊN CHÚA

ĐỪNG CẬY DỰA QUÁ VÀO TIỀN CỦA MÀ HÃY CẬY DỰA VÀO THIÊN CHÚA

(Tâm Tình Mùa Chay)

 Tuyết Mai

** Nói chung thì có tiền mới cho gia đình cuộc sống thoải mái và cho chúng ta những thứ cần thiết trong đời sống rất căn bản ngày qua ngày – như có chỗ ăn, chỗ ở và chỗ nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả.

Thiếu “Tiền” là chuyện mà không ai biết rành hơn bằng người homeless cả và họ cũng đông vô số kể nhưng Thiên Chúa của chúng ta hẳn đâu có muốn họ ra như thế nhưng vì cuộc đời Chúa đã tác thành cho từng người và ban cho tất cả có cuộc sống tự do – nên hậu quả không tốt là do chính họ đã để cho sự dữ dẫn đi sai đường mà Thiên Chúa không ngăn cản được.

** Nhưng nếu chúng ta cứ mãi sống trong hốt hoảng, lo âu và phát bệnh vì cứ lo sợ rằng ngày mai chúng ta sẽ thiếu tiền hay hết tiền xài thì là điều quá đáng vì chúng ta thiếu tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Đấng luôn yêu thương, luôn trao ban cho con người cuộc sống dư đầy và sung mãn.

Và Thiên Chúa đã chứng minh điều đó qua cái chết nhục hình mà Chúa Giêsu (Con duy nhất của Chúa Cha) đã phải gánh chịu để chứng minh tình yêu trọn vẹn là gánh thay mọi tội lỗi của con người. Để rồi con người sau khi lìa đời cũng sẽ được lên Trời sống hạnh phúc bên ba ngôi Thiên Chúa, Chúa chúng ta.

** Giả như ngày hôm nay Chúa gọi ta ra khỏi đời này mà về với Chúa thì chúng ta sẽ trả lời sao với Chúa đây?. Hay rằng thưa: “con chưa muốn đi vì con chưa kịp sống”. Hay rằng con chưa thỏa mãn vì chưa đủ giàu; chưa tậu đủ những thứ con ao ước muốn có, chưa có được vợ đẹp con khôn hoặc con chưa trả thù được mối thù của những người đã hại con, v.v.v…

** Nếu sự trả lời của chúng ta là một trong những điều tương tự giống như ở trên hoặc hơn nữa thì đã chứng minh cho thấy chúng ta là con người ích kỷ và đã sống quá trật với con đường mà Thiên Chúa đã dạy cho chúng ta cách rồi đó không? Đó là con đường yêu thương, những tưởng ai cũng làm được nhưng thực sự thì rất khó cho những ai sống trong ích kỷ.

Vì con đường mà Thiên Chúa muốn Nơi ta đến không cần mang theo bao bị hay ba-lô gì cả như khi Chúa sanh ta ra đời trần truồng thế nào thì khi ta ra đi ta trần truồng thế ấy, để trở về cùng cát bụi.

** Nơi ta đi không cần phải có ba-lô chất cho thật nặng, thật đầy những lượng vàng trong đó. Chỉ sợ rằng ba-lô càng nặng, càng đầy thì sức nặng của nó chỉ kéo chúng ta xuống Hỏa Ngục nhanh hơn chúng ta có thể ngờ được. Chúng ta cần hiểu rằng tiền, tài, danh vọng và mọi thứ quý giá nhất trên trần gian này đối với Thiên Chúa chúng chỉ là những phân bớn dơ bẩn mà thôi.

Do đó sự khôn ngoan nhất của người Kitô hữu là luôn sống trong sự chuẩn bị; chọn cách sống sao để bất cứ giờ phút nào Chúa đến gọi ta ra khỏi cuộc đời này… Thì sẽ là điều vui mừng khấp khởi mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lạy Chúa, con sẵn sàng và xin vâng để được về với Chúa ngay liền giây phút này đây”.

** Nếu chúng ta không biết cách sống sao cho nên tốt thì khuyên nên tìm đọc những gương tốt lành của các thánh khi các ngài còn sống để giúp chúng ta sống được bình an trong tâm trí và trong tâm hồn. Học cách dùng đồng tiền để sinh mưu ích, để được có lợi ích cho linh hồn của chính mình và của nhiều linh hồn khác nữa.

Nếu chúng ta biết để mọi việc và mọi sắp xếp cho Chúa cùng đem Lời Chúa ra thực hành. Vì nếu không thì ai có thể đảm bảo được linh hồn sống đời của chúng ta sẽ không bị quỷ dữ chúng khống chế, lấy cắp và đem theo xuống Hỏa Ngục muôn đời.

** Ở đời thì ai cũng học biết sự Căng Thẳng về tiền bạc nó giết người cách im lặng nhất, nhanh nhất và độc hại nhất vì không có dấu hiệu báo trước. Một là cho ta đứt mạch máu não. Hai là bị nhồi máu cơ tim. Đối với chúng ta thì điều nào cũng là khủng khiếp và không ai muốn cho ngày đó xảy ra cả!

Ấy vậy mà khi xẩy ra thì là do chính chúng ta gây ra và rồi phải tự một mình gánh chịu. Thưa có thực tế lắm không vì nếu chúng ta có còn sống đi chăng nữa thì cũng chẳng còn một người thân để ở đó chăm sóc, hầu hạ cho chúng ta ngày đêm, khi thân xác sống như loài thực vật.

Hóa ra thì tiền chúng ta làm ra dành dụm, cất giấu bấy lâu; bao nhiêu cơ đồ chúng ta cố công gầy dựng… ai đâu đó sẽ hưởng dùng hay phá đổ mà chúng ta không còn làm gì được.

** Lạy Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, trong Mùa Chay Thánh này xin Chúa mở rộng lượng từ bi giúp cho đôi mắt đức tin của chúng con được sáng hơn. Đổi mới trái tim để biết rung cảm trước tình người hơn và sưởi ấm tấm lòng của chúng con để chúng con sống bác ái hơn. Nhất là hiểu rằng con người thì luôn cần có Chúa hơn hết cả thảy, hơn cả bất cứ kho tàng quý giá nào trên trần gian này. Vì khi chết là chấm dứt tất cả. Amen.

** Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

28 tháng 3, 2021

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

http://www.youtube.com/watch?v=1g-kjKGbEZI

(Hãy Tìm Chúa Vì Kiếp Người Sống Là Bao)