Ðường gian truân đi đến tự do – Tác giả: Phùng văn Phụng

Tác giả: Phùng văn Phụng

Khoảng tháng Giêng năm 1983, tôi trở về nhà sau gần tám năm đi tù cải tạo, xa gia đình. Nhìn dọc theo đường Phạm Thế Hiển bên kia cầu Chữ Y, hoàn toàn thay đổi, không còn nhìn ra được các chỗ quen thuộc trước đây.

Nhiều nhà lấn ra phía trước. Nhiều nhà lên lầu. Những nền trống lúc ra đi tôi thấy, nay được xây lầu, nhà mới. Bước vào nhà, tôi thấy bốn năm đứa nhỏ đang ngồi học, tôi không biết đứa nào là con của tôi. Một đứa trẻ đang ngồi học, chạy thẳng ra phía sau nhà nói: “Má ơi có ông nào kiếm má kìa?” Tôi đi theo, ra sau nhà, tôi thấy bà xã tôi đang nấu cơm. Tôi gặp cậu Bảy, tự nhiên nước mắt tuôn trào, tôi khóc!

Tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi không ngờ còn sống để được gặp lại cha mẹ, vợ con, vì tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở nơi rừng thiêng nước độc, khó hy vọng sống sót để về tới nhà.

Trước 1975, tôi là giáo sư trung học. Khi cải tạo về, tôi chưa được làm người dân bình thường. Tôi còn bị quản chế, đi đâu cũng phải khai báo, phải trình diện công an hàng tuần. Mỗi sáng thứ hai đem sổ trình công an, ghi rõ từng ngày đã làm gì, tiếp xúc với ai. Nội cái việc trình diện hàng tuần như vậy cũng đủ làm cho tôi không còn sáng suốt, không còn tâm trí để tính chuyện làm ăn. Mà làm ăn cái gì mới được, khi tôi không có đồng xu dính túi. Lúc này nhà cầm quyền cấm tư nhân làm ăn. Ngay cả bán cà phê còn phải bán chui nữa mà. Mọi thứ buôn bán đều phải vô hợp tác xã hết.

Người dân bình thường còn bị khó khăn trong công ăn việc làm, huống hồ gì tôi, người vừa về từ trại cải tạo. Tôi phải xoay sở, kiếm sống bằng nghề lao động chân tay.

Tôi quyết định đi… đạp xích lô

Anh Ðạt, bạn tù, trước ở chung cùng trại cải tạo với tôi ở trại Tân Lập, Vĩnh Phú về trước tôi mấy tháng, có chiếc xe xích lô cho mướn. Sáng sớm, tôi lấy bộ quần áo hơi tệ một chút. Áo sơ mi cũ. Quần tây cũ nhưng lành lặn.

Tôi đến nhà anh Ðạt mượn chiếc xích lô chạy thử, xem có hành nghề xích lô nổi không? Ðạp tới dốc cầu Nhị Thiên Ðường, tôi phải xuống xe, đẩy lên dốc. Nhưng chỉ là chiếc xe xích lô, không có người, nên tôi đẩy chiếc xe không lấy gì làm khó khăn. Tôi thấy vui vui, vì lần đầu tiên… đạp xích lô, dùng sức lao động của mình để kiếm sống.

Tôi đạp xe qua cầu Nhị Thiên Ðường, chạy đến bến xe Chợ Lớn, khu chợ Bình Tây để kiếm khách. Vì là lần đầu chạy xích lô, tôi đâu có biết, là người ta cấm rước khách trước cổng chợ.

Vừa đậu xe trước cổng, bảo vệ chợ đến lấy cái nệm trên xe để dùng cho khách ngồi. Thế là cái xe xích lô của tôi trống trơn. Tôi đạp xe không, chạy vòng vòng một hồi, đến ngã tư đường Nguyễn Trãi và Nguyễn Tri Phương, gặp khách gọi. Ðó là hai vợ chồng người Hoa mập mạp leo lên xe, bảo tôi chạy từ ngã tư, từ đường Nguyễn Trãi, chạy dọc theo đường Nguyễn Tri Phương để đi lên phía đường Vĩnh Viễn. Tôi không ngờ là đường lên dốc, tôi đạp không nổi vì ông bà người Hoa này quá mập. Chắc hai vợ chồng này cũng phải gần 160 hay 170 kí lô. Sau chuyến xe chở hai người Hoa đó, tôi thấy quá mệt, đành phải đem xe về trả lại cho anh Ðạt. Tôi biết sức mình không thể làm nổi nghề này. Ðêm đó, tôi trằn trọc suốt đêm, tim tôi đập nhiều, đập liên hồi, không ngủ được. Mãi đến mấy ngày sau mới bình tĩnh trở lại, sức khỏe mới bình thường.

Tôi lại đổi nghề, đi làm… thợ hồ

Anh Hai tôi nhờ tôi đi theo để sửa chữa ống cống ở Quận 11. Sáng sớm, tôi cùng anh Hai, mỗi người một chiếc xe đạp chạy qua Quận 11. Tôi xách theo một phần cơm đeo tòn ten ở ghi đông xe. Ðến nơi, tôi phụ anh Hai bốc dỡ các miếng “đan” vuông vức mỗi bề chừng tám tấc, khiêng ra khỏi miệng cống. Anh Hai tôi sửa chữa những chỗ hư hại. Sau đó hè hục khiêng đậy lại chỗ cũ. Sau một ngày làm việc ngoài trời nắng gắt, anh phát cho tôi một ngày “lương” là công tôi phụ giúp khiêng mấy tấm “đan.” Ngày hôm sau anh không nhờ tôi nữa vì tôi không làm nổi những việc nặng nhọc mà anh cần tôi giúp.

Thế là lại đổi nghề, tôi đi bán… vé số dạo

Anh Nguyễn Tấn Th. đang làm nghề bán vé số. Anh đặt cái bàn bán vé số ở chợ Phạm Thế Hiển. Trước năm 1975, anh tốt nghiệp Cao Học Hành Chánh, làm ở Nha Thuế Vụ, Bộ Tài Chánh.

Bây giờ anh thất nghiệp, lãnh vé số để bán, vừa bán lẻ, vừa giao cho các bạn hàng. Tôi đến nhà anh để nhận vé số về bán kiếm lời. Chỗ ngồi thì bà con đã sắp xếp hết rồi, tôi đâu còn chỗ nào chen chân vô được. Ðành phải đi bán dạo.

Lúc đó, tôi nghĩ phải đi thật xa ra khỏi khu vực Quận 8 thì mới hy vọng không gặp học trò cũ của mình. Tôi nghĩ, trước đây cũng từng đi dạy học, cũng là một giáo sư trung học, mà bây giờ đi bán vé số thì cảm thấy mắc cỡ quá, coi kỳ cục quá.

Sau khi anh Thời đưa sấp vé số cho tôi, tôi đâu dám mời bà con ở Quận 8. Tôi đi bộ qua đò Chánh Hưng, đi vòng qua chợ Xóm Củi cũng chưa dám bán, tôi đi dọc Kinh Tàu Hủ, bến Lê Quang Liêm, qua khỏi Bưu điện Chợ Lớn, khoảng khá xa, tôi hy vọng sẽ không còn gặp ai là người quen nữa.

Tôi đi một khoảng xa đến bến xe xích lô đạp, có mấy anh tài xế đang đợi khách. Tôi nghĩ trong đầu chắc là bán được rồi đó. Tôi liền lấy trong túi quần một cọc chừng năm sấp vé số để mời khách. Tôi vừa đưa sấp vé số, vừa nói:

– “Mời mấy anh mua giùm vé số.”

Vừa mời xong, có một người trong nhóm tài xế nói:

– “Chào thầy. Em là học trò trường Lương Văn Can, mời thầy uống cà phê, hút điếu thuốc.”

Tôi giựt mình, vội vàng đút thật nhanh mấy xấp vé số vào trong túi quần và em này kéo ghế mời tôi ngồi đưa ngay một điếu thuốc thơm đầu lọc, bấy giờ gọi là thuốc “có cán.” Tình nghĩa thầy trò, quí nhau lắm mới mời thuốc lá thơm. Uống vội chút cà phê, hút xong điếu thuốc. Tôi mắc cỡ, thấy ngại ngùng quá nên không dám tiếp tục đi bán nữa. Trở về nhà, tôi giao hết mấy xấp vé số cho đứa con gái út lúc đó chín tuổi, nhờ cháu đi đò qua phường Chánh Hưng bán tới xế trưa khoảng bốn, năm giờ chiều thì hết.

Thế là có nghề mới: giặt bao nylon

Tôi cùng anh Hoàng Văn Ð. đi đến các tiệm mua bán vật liệu phế thải, kiếm bao nylon dơ mà mua. Ðem giặt ở chỗ máy nước công cộng, phơi khô rồi đem đến các cơ sở sản xuất ra bao ny lon mà bán. Ngồi giặt bao nylon cho hết các chất bẩn như dầu mỡ, đất cát, bụi, giặt cho thật sạch cũng rất gian nan. Kiếm chỗ sân vận động để phơi cho thật khô rồi đem đến cho các tiệm làm bao ny lon bán. Nhưng họ ép giá, đòi giá quá thấp cho nên bán xong chỉ lấy lại được vốn là mừng rồi. Giặt sạch, phơi khô, công việc cả ngày mà không có lời nên đành bỏ cuộc, không tiếp tục làm nghề này được.

Chuyển sang nghề mua bán sách báo cũ

Tôi vào trong các tiệm phế liệu ở Quận 7 (cũ), mua bịch nylon, thấy họ có một số sách báo cũ, tôi lựa các sách tạm gọi là “coi được,” mua lại để ở nhà. Sắp xếp loại nào có giá trị đem ra đường Huỳnh Thúc Kháng để bán cho các gian hàng bán sách cũ. Tôi đi với đứa con gái lúc đó khoảng 13, 14 tuổi, ôm phụ giùm các cuốn sách.

Ra đến nơi, mới vừa ôm các cuốn sách để giới thiệu với các quày bán sách, thì bị bảo vệ đến tịch thu sạch trơn, không cho bán, mặc dầu các sách này chẳng phải là sách cấm. Họ nói rằng buôn bán không có giấy phép nên họ tịch thâu. Tôi đau lòng, rất buồn vì thầy giáo không đi dạy được, bán sách cũ cũng không cho. Làm gì để sống đây? Tôi chỉ còn có con đường hồi hương, về quê làm ruộng hay đi kinh tế mới cuốc đất trồng khoai. Ðó cũng là chủ trương của nhà nước lúc bấy giờ.

Trở lại nghề cũ: đi dạy kèm

Phụ huynh học sinh cũ thương tình mời tôi đến nhà để dạy Toán, Anh văn cho con họ. Tôi làm nghề dạy kèm tư gia. Mỗi chỗ dạy chừng hai ba học sinh. Những lúc trời mưa, trời gió cũng đi xe đạp đến dạy. Dạy đâu được vài tháng các em cũng không chịu học nữa vì cái học lúc này không hấp dẫn các em. Bác sĩ ra trường lãnh tháng lương không bằng nghề vá xe đạp ở ven đường. Tôi lại chuyển nghề.

Ði bán bia, nước ngọt

Sau một thời gian dạy học không đủ sống, bà xã tôi có một người bạn dạy chung trường có cơ sở nước ngọt, cần người bỏ mối.

Họ cho mượn năm kết vỏ chai để tôi lấy hàng đi bỏ mối. Tôi đến các quán bán nước ngọt, bán bia, mời chào. Quán đầu tiên là quán… bà Ba, trên đường Liên Tỉnh số năm, dưới dốc bên phải cầu Nhị Thiên Ðường.

Thấy giá rẻ, cho mượn vỏ chai nữa nên bà Ba chịu liền. Tôi mừng quá, lần đầu giới thiệu hàng mới mà có người nhận ngay. Tôi vòng qua chợ Bông Sao, đi dọc theo đường Lộ Ðá Ðỏ hỏi bất cứ quán bán nước nào ven đường. Lúc này, chỉ có một người bỏ mối nước ngọt mà thôi, nên tôi không có gặp sự cạnh tranh nào đáng kể. Tôi ráng hết sức đi lấy hàng và giao hàng.

Có khi trời đang nắng, cái nắng gay gắt của buổi trưa Hè, tôi cũng phải chở nước ngọt bằng xe đạp, hai kết được ràng ở phía sau xe, hai giỏ xách để ở đàng trước chở được một kết nước ngọt, vị chi là ba kết trên xe.

Sau khoảng ba tháng chở nước ngọt bằng xe đạp, tôi bắt đầu bị cảm thường xuyên. Sau một thời gian cảm ho, nằm ngủ không được vì khó thở, tôi phải kê đầu gối lên cao mới ngủ được, mới thở được. Nhiều đêm ho và quá mệt, tôi đành phải đi bác sĩ. Người ta khám phá tôi bịnh lao và phổi có nước. Thế là phải vô bịnh viện Nguyễn Trãi nằm điều trị mất một tháng.

Về nhà phải uống thuốc mất một năm rưỡi nữa mới lành bịnh. Tôi còn nhớ, lúc đó vừa giao nước ngọt và bán thêm rượu bia, có tên là “bia lên cơn,” bia này được nấu bằng cùi thơm hay vỏ của trái thơm để vài ngày lên men, có gas uống cũng chóng mặt, cũng say. Bà con thích uống loại này vì… rẻ, còn bia hơi quá đắt, lại khan hiếm, nên không đủ cung ứng cho nhu cầu.

Ngoài “bia lên cơn,” còn có rượu nhẹ 36, là loại rượu pha cồn công nghiệp, uống vô nhức đầu chịu không nổi.

Lúc mới về, phó chủ tịch phường sai tôi đi đắp kinh. Sáng sớm phải đội cái nón lá lên đầu, xách theo bình nước lã để uống và phải lội xuống sình để đắp bờ đê. Trong thực tế, họ cho người dẫn chúng tôi đến con kinh nhỏ gần ụ Nam Chành, bắt chúng tôi xuống sình để vét kinh, đào đất đắp lên bờ.

Người ở dưới ruộng, từ xa giữa ruộng, xắn một cục đất tạm coi là khá lớn, chuyền tay cho người thứ nhất đã rớt xuống một miếng, chuyền đến tay người thứ hai đã rớt thêm một miếng đất nữa đến khi miếng đất truyền đến người cuối cùng quăng được cục đất lên bờ thì nó chỉ còn bé tí tẹo.

Sau một buổi làm việc như vậy, số đất đem lên bờ chẳng còn bao nhiêu, chỉ làm cho đường đi càng dơ bẩn hơn mà thôi. Ðối diện với nhà tôi là công an phường. Cho nên sáng ngủ thức dậy là thấy công an rồi. Công an thường xuyên theo dõi xem tôi có liên lạc với sĩ quan của chế độ cũ để tổ chức phản động chống nhà cầm quyền hay không? Ðó là hình thức tù “lỏng” mà thôi. Tôi thì lúc nào cũng lo sợ, hồi hộp không biết sẽ bị bắt lại bất cứ lúc nào vì bất cứ lý do gì. Lòng tôi không yên. Lo âu hoài. Lo hết chuyện này đến lo chuyện khác. Lo làm ăn. Lo bị đói, không đủ ăn. Toàn gia đình làm việc cật lực mới sống được, mới tồn tại được. Theo luật bù trừ, con cái tôi vì phụ giúp buôn bán nên không còn chú tâm hoàn toàn vào việc học nữa. Còn riêng cá nhân tôi lo bán bia, bán nước ngọt nên không còn thì giờ dạy con cái học hành. 

Cám ơn Thượng Đế, Cám ơn mọi người.

Hành trình qua Mỹ thật cam go. Khi được cộng sản thả ra từ trại Nam Hà, thành phố Hà Nam Ninh về đến Sài Gòn, một thời gian ngắn khoảng vài tháng, tôi nhờ anh Nguyễn Gia Ph., một cựu giáo sư dạy cùng trường Lương Văn C. về trước tôi khoảng hai năm, cho tôi mẫu đơn để tôi điền đơn gởi sang Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thái Lan để xin định cư tại Hoa Kỳ. Trong thời gian này, ít ai dám làm đơn vì còn sợ cộng sản biết được có thể bắt bỏ tù trở lại vì đã ở tù rồi mà còn muốn theo kẻ thù là “Ðế Quốc Mỹ,” còn thích “bơ sữa” của kẻ thù. Như vậy là chưa… cải tạo được.

Tôi quyết định làm đơn rồi “lén,” gởi… chui, nhờ người làm trong bưu điện gởi giùm. Không có ai, không có chỗ nào dám nhận đánh đơn của mình. Tôi phải tự đánh máy lấy và tự gởi, lòng tôi lo âu không biết thơ của mình có tới Thái Lan không? Ðơn tôi có bị công an kiểm duyệt và tôi có bị làm khó dễ khi nộp đơn chui như vậy hay không?

Tôi gởi nhiều đơn, đơn nào cũng giống nhau cứ vài tháng lại gởi một cái đơn. Tôi cứ gởi đại nhiều lần, hy vọng thơ này lạc còn có thơ khác tới. Tôi cũng gởi cho bà Khúc Minh Thơ để bà gởi sang Bangkok can thiệp giùm tôi.

Ði dạy học trở lại thì nhà nước cộng sản không cho. Tôi hoàn toàn thất nghiệp. Tôi chỉ còn hy vọng lối thoát duy nhất này, đi Mỹ để giải quyết chuyện làm ăn, chuyện học hành của con cái, nhất là tôi có thể tìm được tự do.

Tôi được người cháu gọi bằng cậu, cháu ngoại bác Hai tôi ở làng Tân Tập nhận bảo trợ cho tôi từ năm 1983. Khi nộp đơn đi Mỹ, người cháu này lo giấy tờ cho tôi và được phía Mỹ chấp thuận từ năm 1984, được gọi là tờ “Loi.” Nếu có tờ giấy này, có thể dùng để xin xuất cảnh ở Việt Nam. Hành trình đi Mỹ của gia đình chúng tôi rất là gian nan. Tôi thường ra Sở Ngoại Vụ, trước dinh Ðộc Lập cũ, để nghe ngóng tin tức. Ôi thôi đủ thứ loại tin tức, thêu dệt đủ thứ về cuộc sống sung sướng, giàu sang ở Mỹ.

Tôi cùng với người bạn, là anh Quang, đi nộp đơn, nhưng vì anh ấy có bảo lãnh trước nên Sở Ngoại Vụ nhận đơn để làm giấy xuất cảnh, còn tôi chỉ có tờ “Loi.” không có ai bảo lãnh cả, nên họ không cho nộp đơn, bảo phải chờ thông báo sau.

Khi cho tù cải tạo nộp đơn, vì nộp trễ, tôi được lên danh sách HO 23. Lúc này có rất nhiều người khiếu nại bên phía Mỹ để xin đi sớm nêu lý do là nộp đơn quá lâu rồi, ở trong nước bị chèn ép, khó khăn, nguy hiểm. Tôi cũng có làm đơn khiếu nại. Cuối cùng tôi được “đôn” lên HO 19, đi trước khoảng một năm.

Trước khi ra đi, phải khám sức khỏe. Khi đi khám bịnh phải lo đủ thứ, lo đủ nơi. Phải lo khám trước ở nhà riêng của bác sĩ, chụp phổi trước xem có bị nám không? Chi tiền cho bác sĩ để đến khi khám bịnh chính thức sẽ được dễ dàng hơn. Khi đi phỏng vấn cũng phải bỏ vô hồ sơ vài chục ngàn đồng để được dễ dàng không bị các viên chức cộng sản làm khó dễ. Tôi quá sức hồi hộp vì sợ có điều gì trở ngại không? Tôi biết hồ sơ tôi rất tốt vì từ năm 1983 khi tôi làm đơn gởi qua Bangkok, Thái Lan, cho đến lúc được phỏng vấn không có gì thay đổi cả.

Tháng cuối cùng, trước khi được lên máy bay, tôi bị cảm liên miên vì quá lo lắng. Tôi thuộc “diện” phải giao nhà cho nhà nước quản lý. Tôi có khiếu nại. Họ ngâm hồ sơ không chịu giải quyết để tôi nóng lòng muốn đi Mỹ thì phải ký giao nhà cho họ.

Tối hôm Chúa Nhật lên máy bay mà cả tuần cuối cùng đó, tôi thường xuyên lên Sở Nhà Ðất họ cũng không chịu trả lời, bảo tôi phải chờ. Tôi đã có giấy tờ đăng ký chuyến bay, đã có dịch vụ lo chuyên chở hành lý. Ðã hẹn ngày giờ chở gia đình tôi ra sân bay. Nhưng đến những ngày chót mà tôi cũng chưa có giấy chứng nhận không có nhà cửa. Nếu thiếu tờ giấy này tôi không thể nào lên máy bay được. Sáng Thứ Bảy, tôi đi cùng một nhân viên dịch vụ của tôi đứng đợi ở Sở Nhà Ðất. Chúng tôi phải chung tiền cho họ, vậy mà mãi đến chiều Thứ Bảy, khi sắp đóng cửa, họ mới chịu đưa giấy tờ cho tôi.

Trước đó mấy ngày, hôm Thứ Năm, tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay. Khi nhận được giấy đình chỉ chuyến bay, tôi như người mất hồn, không biết giải quyết ra sao? Vợ tôi thúc hối cứ ký giao nhà cho nhà nước để được đi sớm. Tôi lòng rối như tơ vò, tôi không thể làm như vậy được vì nhà này đâu phải là nhà của tôi đâu mà tôi ký giao, tôi chỉ đứng tên cái nền nhà giùm cho ba má tôi mà thôi.

Tôi không thể ký giao nhà của ba má tôi được. Cơ sở đại lý bia thì đã bán lại cho em tôi rồi. Ðã cầm lấy tiền, đã thanh toán nợ nần xong. Trong một tháng cuối cùng tôi không lúc nào yên ổn cả. Lo bán tiệm. Lo khám sức khỏe. Lo thăm viếng bà con, anh em, bạn bè. Lòng tôi ngổn ngang trăm mối, đầu óc quay cuồng bao nỗi lo âu.

Lần ra đi này lại thêm thử thách mới, lại phải thay đổi nghề nghiệp nữa, rồi sẽ sống bằng nghề gì đây, lại bắt đầu bằng nghề mới ở tuổi 51, sức khỏe tôi không phải loại tốt cho nên nếu làm nghề gì nặng nhọc đâu có làm nổi.

Ở quê hương mình, tôi có thể nói tiếng Việt với nhau, làm ăn cũng có cơ sở rồi, phấn đấu gần tám năm được một cửa hàng để buôn bán, một số khách hàng quen thuộc, sinh sống tương đối thoải mái so với người xung quanh như vậy là mình có phước lớn lắm rồi. Cho nên bạn bè mới nói làm ăn rần rần như vậy, còn muốn đi Mỹ làm gì nữa. Nhưng họ đâu hiểu rằng làm ăn như vậy, nhưng có gì chắc chắn đâu. Họ có thể đóng thuế thật cao lên, mình chịu không nổi mà bỏ cuộc hoặc rủi ro có truyền đơn hay có biến động gì họ có thể bắt mình vô tù ngay. Về tinh thần làm sao mà yên ổn được. Do đó, tôi phải dứt khoát ra đi, đi bất cứ xứ sở nào, nếu được đi Mỹ thì còn quí giá nào bằng.

Ngày ra đi mừng vui, lo âu lẫn lộn. Mừng vui vì thoát khỏi chế độ cộng sản, được tự do đọc báo, đọc sách với mọi tư tưởng, mọi khuynh hướng. Tôi có thể nói về bất cứ điều gì mình cho là đúng, không sợ bị bắt bớ, bỏ tù. Nhưng tôi lo lắng không biết làm gì để sống đây. Anh văn không giỏi lắm, nghề nghiệp chuyên môn không có. Tôi cũng đành phó thác cho “Thượng Ðế, Ông Trời” về tương lai của mình.

Mặc dầu có lo lắng cho tương lai, sự ra đi thoát khỏi chế độ cộng sản cũng là niềm vui đối với tôi và gia đình tôi, để giải quyết nhiều vấn đề cùng một lúc, nhà cửa chật chội sẽ được rộng rãi thêm ra vì vắng một gia đình. Con cái sau này có nghề nghiệp theo ý muốn. Tôi không còn bị sự kềm kẹp của công an. Tôi được hít thở không khí tự do đó chính là niềm ao ước thiêng liêng, quan trọng nhất trong đời tôi.

Hôm lên phi cơ ra đi, phi cơ vừa cất cánh, tôi cảm tưởng như mình vừa thoát khỏi cơn mơ. Tôi thành thật cám ơn tất cả những người thân yêu, bạn bè, thầy cũ, học trò cũ đã quan tâm nâng đỡ tinh thần tôi trong những ngày tháng khó khăn lúc tôi vừa mới ra tù. Tôi vẫn nhớ Bác Sĩ Trạm, tay cầm hai hộp sữa đến thăm lúc tôi mới về. Tôi vẫn nhớ thầy Hoàn, thầy dạy tôi hồi tôi học lớp Chín ở trung học, đến thăm tôi rất sớm. Các bạn của bà xã tôi đến ăn mừng tại nhà tôi. Con xin hết lòng tạ ơn Thượng Ðế đã quan tâm, săn sóc, nâng đỡ con, hướng dẫn gia đình con đi được đến bến bờ tự do.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Đăng trong Báo Người Việt ngày 16 March 2010

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả: Phùng Văn Phụng   


 

TÂM SỰ CUỐI ĐỜI – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

– Có những chia ly… chưa kịp chuẩn bị đã không còn gặp lại.

– Có những cuộc tình… chưa chạm hạnh phúc đã cảm nhận niềm đau.

– Có những lời hứa… chưa kịp thực hiện đã không còn cơ hội.

– Có những quyết định… chưa kịp đưa ra đã không còn giá trị.

Có những lỗi lầm… chưa kịp sửa chữa đã quá muộn màng.

– Có những sự việc… chưa kịp buông bỏ đã không còn tồn tại.

– Có những chân lý diệu huyền, chưa một lần tỏ ngộ đã tắt nắng hoàng hôn.

Thời gian, vốn dĩ là không dừng lại và cơ hội chỉ đến vào một thời điểm nhất định. Ai người tỉnh thức thì sẽ nắm lấy, không để cuộc đời của mình là những chuỗi ngày chìm trong nuối tiếc mênh mang.

    – “Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng.  

– Ngày đi, tháng chạy, năm bay

Thời gian nước chảy, chẳng quay được về.

Sưu Tầm trên NET từ bài “Những suy ngẫm cuối đời”

Nguồn:  dominhtam9238 & NguyenNThu

*****

 Trong tháng 12 năm rồi và tháng 01 năm nay 2024, đã có ba người bạn của tôi ra đi là bà Lê t Bích Th. vợ của anh Hoà, cùng quê Chợ Núi (Cần Giuộc), Lê Đình Th. và Nguyễn Thi B. là khách hàng mua bảo hiểm của tôi, đã ra đi.

Cũng tháng trước có chị Nhân gọi lại cho biết anh Chu, chồng chị đã nằm nhà thương ba tháng qua vì bị bịnh mất trí nhớ (Alzheimer) còn riêng chị bị “stroke”. Anh nhỏ hơn tôi một tuổi, còn chị nhỏ hơn tôi vài tuổi. Hiện tại hai vợ chồng lo cho nhau, còn các con đã có nhà riêng hết.

*****

Có lẽ già rồi, lớn tuổi rồi thích nói về sự chết, để thường xuyên nhắc nhở, chuẩn bị cho cái chết của chính mình.

Thời gian qua mau, phút chốc đã già. Đời người như bóng câu qua cửa sổ.  

Thời gian, sức khỏe, tài năng là do Thiên Chúa ban cho. Ngày lại ngày, làm sao xử dụng được hết tất cả những ân huệ, ân sủng của Chúa ban?

*****

Những năm đói khổ ở Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh đã qua. Làm sao quên được thời gian chịu đựng đói khổ triền miên năm này sang năm khác. Một bữa ăn bánh mì trộn than đá ở Lào Cai khoảng năm 1977, vừa ăn vào đã vội nhả ra vì nhai không được. Hôm ấy nhà bếp thu hồi lại, nấu thành cháo cho tù nhân ăn. Đã đói thường xuyên, bữa đó uống nước cháo cầm hơi, càng đói nhiều hơn nữa.’ 

Năm 1979 trời mùa hè nắng gay gắt như đổ lửa, tôi gánh hai thùng nước để tưới rau. Tôi gánh mỗi bên một phần ba thùng nước. Cán bộ quản giáo kêu tôi đến hỏi:

-Sao anh gánh nước chỉ một phần ba thùng như vậy?

-Tôi nói: “Sức tôi chỉ gánh được một phần ba thùng. Cán bộ đến rờ ngực tôi, xem tim tôi đang nhảy, tôi mệt quá rồi, tôi không gánh nhiều nổi. Không biết tôi còn sống được bao lâu nữa.”

Anh bạn là sinh viên năm thứ hai y khoa, coi phòng y tế của trại tù, khám tim tôi và cho rằng tôi bị bịnh tim. Sức khoẻ của tôi lúc đó đang suy sụp trầm trọng. Lúc nào cũng quá mệt, làm như bị kiệt sức. Mấy tháng trời bị cảm liên miên không dứt.

Tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở trong lao tù cộng sản chứ không có hy vọng ngày về. Anh Quế là giáo sư trung học, người Quảng Nam, thanh tra trung học, anh đi cải tạo vì là thành viên đảng dân chủ. Một đêm kia người bạn nằm kế bên anh giữa đêm khuya la lên rằng “anh Quế đã chết rồi”. Anh Quế chết vì kiệt sức do bị đói và do lao động quá sức. Cứ vài ngày, anh em đóng hòm, đem ra bìa rừng, chôn các bạn tù ở trong trại.

Cha mẹ, vợ con không bao giờ biết được người thân của mình đã mất.

*****

  Cuối năm 1982, tại trại K4 Tân Lập, Vĩnh Phú, tất cả các tù nhân được sắp hàng theo đội, ngồi trong sân của trại.

Cán bộ gọi tên một số được thả về trong dịp tết cuối năm 1982 còn một số chuyển qua trại Hà Nam Ninh. Lúc đó anh em tù nhân chú ý đến hồ sơ cán bộ cầm trên tay. Hồ sơ mỏng và hồ sơ dày. Hồ sơ mỏng được thả về hay chuyển qua trại Hà Nam Ninh và được thả về sau Tết. Còn những người có hồ sơ dày được chuyển về Hàm Tân trong nam. Tôi còn nhớ có anh?- tôi quên tên-, dầu có hồ sơ mỏng, nghĩa là sẽ được thả về nhưng anh ấy đã thất vọng, không tin mình được về nên đã vô rừng, treo cổ tự tử chết.

Tôi được thả về vào tháng 02 năm 1983 sau Tết âm lịch.

*****

Steve Jobs từng từ chối phẫu thuật trị ung thư

Steve Jobs qua đời vì căn bệnh ung thư tuyến tụy. Cuộc sống của ông có thể đã được kéo dài nếu nhà đồng sáng lập Apple chọn cách điều trị khác.

Ngày 5/10/2011, Steve Jobs qua đời ở tuổi 56 sau thời gian chiến đấu với căn bệnh ung thư tuyến tụy.

Phone 4 là thiết bị cuối cùng mà Steve Jobs giới thiệu. Ảnh: Wikimedia Commons.

Thời gian qua mau sức lực, sức khoẻ dành cho việc kiếm tiền chiếm hết thì giờ, thiếu thời gian đọc sách tâm linh, suy tư về sự sống và sự chết.

Thoát một chớp mắt đã quá già để có thể làm một cái gì đó cho gia đình, cho đất nước.

*****

Ôn lại cuộc đời đã qua, nhiều món nợ ân tình không bao giờ trả được.   

 Trong một bài báo: “Người công giáo với bệnh ung thư” tác giả là Vũ Duy Ty viết phần kết luận như sau: “Giờ đây bệnh ung thư không làm chúng ta phải lo sợ, buồn chán nữa. Những người bị bịnh ung thư không phải là những người “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp”. Hãy vui lên, hãy nở nụ cười trên môi và miệng lưỡi hãy ca tụng Chúa nếu mình mắc bịnh ung thư, vì với con mắt đức tin của người Công Giáo bệnh ung thư chính là một ân huệ Chúa ban.

Thân xác hiện tại của mỗi người chúng ta có thể tồn tại 100 năm (rất hiếm), chắc chắn là chúng ta phải chết, đó là quy luật tất yếu của sinh mệnh con người, chết là thể phách còn là tinh anh (truyện Kiều) vậy phần còn lại sau khi chết là gì? Chính là linh hồn của chúng ta.

Linh hồn của chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời nếu chúng ta làm nhiều việc lành, phúc đức, yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta sống lại trong ngày sau hết.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

tháng 01/2024


 

Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “ Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “ trông ngốc ” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “ Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas ; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “ food tem ” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ . 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “ mò kim đáy biển ”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác. 

           Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “ bill ”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “ background ” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “ Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc  để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “ Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo :  “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “ Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có  tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là  Thiên Chúa  sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “ group one ” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway  South  45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “ Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “ Cháu xin gởi bác hai tờ báo này ” 

       –   “ Ði đi , đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?” . Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “ tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa

 Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  


 

Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường – Tác giả Phùng Văn Phụng 

Tác giả Phùng Văn Phụng 

 Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la. 

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8. 

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ. 

1)Được làm con Thiên Chúa: 

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa. 

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1) 

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma. 

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình. 

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (Sách Sáng thế ký, câu 27) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4: 6,7) 

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “Áp-ba., Cha ơi”. 

2)Lòng tin của con đã cứu con

a)Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết: 

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” (Mc 5: 25-34) 

b)Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường: 

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha-kum” nghĩa là “Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được… người ta kinh ngạc sững sờ. (Mc 5: 35-42) 

c)Chúa chữa người mù: 

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. (Mc 10: 46-52) 

d)Chúa chữa người phong cùi.

 Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” (Luca 7: 12-19) 

3)Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã. 

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét.  

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói. 

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền (thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11, 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua sáu luân xa, thuộc nhâm mạch và đốc mạch. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “thiền” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được.  

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó, lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn. 

3)Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform) 

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở: “Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.” 

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất… 

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh” 

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “transform” sự xấu thành sự tốt. “Ơn thánh” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “transform” nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ở cùng”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ. 

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa. 

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời. 

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “có Chúa ở cùng” thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu? 

Phùng Văn Phụng  

(1)  Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở

      Việt Nam đầu thế kỷ 17 của Nguyễn Khắc Xuyên 

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)


 

 Vài hàng khi đến tuổi 84 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Nói về cuộc đời, tôi sống trên 80 năm, làm sao viết thật đơn giản mà đầy đủ ý nghĩa, ghi lại những tâm sự, muốn gởi gấm cho những người thân yêu.

Tôi không thể ngờ được tôi ở tù lâu quá mà không chết trong tù, Chúa đã cho tôi sống tới ngày hôm nay (84 tuổi)

Bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời tôi là trình diện đi tù, bị giam giữ gần 8 năm trong các trại tù khắc nghiệt ở miền Bắc Việt Nam. (Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh)

Bước ngoặt thứ hai là tìm đến đời sống tâm linh. Cầu nguyện với Chúa và Đức Mẹ ở Fatima, Bình Triệu do Giáo sư Nguyễn Gia Phách, cựu giáo sư trường Lương Văn Can dẫn đi. Tôi đã gia nhập đạo Chúa, rửa tội ngày 15 tháng 8 năm 1991, là ngày lễ Đức Mẹ hồn xác về trời, ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng do cha Bạch Văn Lộc làm phép thanh tẩy.

-Bước ngoặt thứ ba là bỏ xứ sở, rời bỏ những người thân yêu, ra đi, giống như ông Abraham (trong Cựu Ước), mà không biết đi về đâu, không biết làm nghề gì để sống. Tôi đến Mỹ ngày 01 tháng 11 năm 1993, máy bay đáp xuống phi trường Hobby và về sống ở một chung cư trên đường Town Park (Houston).

Từ năm 2008 đến nay, tôi có tham gia lớp Thánh Kinh với thầy Bạch và

Từ năm 2009 đến nay giúp cho lớp Tân Tòng của nhà thờ.

Suy nghiệm:

Biết rằng, sau khi tôi chết thì 5, 10 năm nữa, chẳng còn ai nhắc đến mình, nhưng tôi vẫn sống lạc quan, cố gắng viết vài ý nghĩ để lại cho đời sau, để lại cho con cháu và cho các bạn rất quý mến của tôi.

Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau trong ngày sau hết, đó là niềm hy vọng tuyệt vời của chúng ta, trong thân phận làm người.

Muốn viết thật nhiều để diễn tả hết tâm sự của mình, nhưng khả năng thì giới hạn, chắc chắn không thể nào diễn tả hết được sự ao ước, những ý nghĩ, những công việc, có lẽ tôi chẳng bao giờ làm được, vì không còn bao nhiêu thi gian nữa tôi còn sống trên dương thế này.

Thời gian sống bây giờ tôi chỉ dám tính từng ngày chứ không bao giờ dám tính sống từng năm.

Con người sống lâu cũng là quý nhưng đóng góp gì cho xã hội còn quý giá hơn.

Nếu có ai gây gỗ, chỉ trích, nói xấu, vu cáo mình, mình phải làm sao?

Yêu thương họ và cầu nguyện cho họ.

Phùng Văn Phụng

Ngày 21 tháng 04 năm 2026


 

ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN – Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Thông thường người Công giáo là người được sinh ra trong gia đình mà cha mẹ, ông bà là người có đạo nên được rửa tội từ thuở nhỏ và lớn lên mỗi Chúa nhật đều đi nhà thờ, tham dự thánh lễ là một chuyện tự nhiên, bình thường. Hoặc khi lấy vợ, lấy chồng là người Công giáo, rồi học đạo, làm lễ ở nhà thờ cũng trở thành người Công giáo. Còn số người lớn cảm nhận về đạo Công giáo thấy yêu mến đạo, yêu mến Chúa Kitiô và Đức Mẹ Maria, rồi theo đạo cũng không phải là ít. Thường những người lớn tuổi này đến với nhà thờ Công giáo, đến với Chúa Giê-su và Đức Mẹ thông qua nhiều nguyên nhân thường do ảnh hưởng từ bạn bè là những người Công giáo sống đức tin, đạo hạnh hay ảnh hưởng từ gương sống của các Thầy cô dạy ở trung học hay Đại học hay gương lành của các tu sĩ, Linh mục hay các Sơ đã hy sinh đời mình phục vụ cho tha nhân, nhất là phục vụ cho những người kém may mắn như những người bị bịnh phong cùi, người tàn tật đui mù, bịnh sida v.v…hoặc có được ơn riêng, Thiên Chúa đánh động họ để họ tìm về cội nguồn yêu thương là Thiên Chúa tình yêu. 

Khoảng năm 1533, đạo Thiên Chúa truyền bá sang nước ta cho đến ngày hôm nay, đã trải qua nhiều sự thăng trầm. Những lúc đạo Chúa bị bách hại dữ dội nhất lại thường nuôi dưởng và phát triển tinh thần bác ái, yêu thương và sản sinh ra nhiều vị Thánh tử đạo…  

Bài này chỉ nói đến một vài nhân vật đã đến với Đạo Chúa như sự kiện bình thường nhưng ẩn tàng bên trong là một sự chuyển biến lâu dài về tâm lý, tình cảm, lý trí rất phức tạp của con người để đến hay nói đúng hơn trở về nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa toàn năng. 

Minh Đức Vương Thái Phi: (1558-1649) 

Bà là vợ thứ 10 của Chúa Nguyễn Hoàng. Lúc sinh Hoàng Khê bà mới 21 tuổi, chúa Nguyễn Hoàng 64 tuổi. Bà được lảnh bí tích Rửa tội vào năm 1625 (lúc ấy bà chừng 51, 52 tuổi) tên thánh là Maria Ma-da-Lê-Na, tại Phước Yên do Cha Francesco di Pina, Dòng Tên người Ý.  

Theo cha Đắc Lộ, người có mặt Lễ Rửa tội của bà Minh Đức, thì trước kia bà là người rất sùng đạo Phật. Khi đã theo Công giáo bà lại đem hết mình phụng sự đức tin mà còn sốt sắng hơn trước nữa. Cha Đắc Lộ đã là nhân chứng về đời sống đạo của Bà: 

“Trong Dinh của bà, bà lập ra một ngôi nhà nguyện rất đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong cơn cấm đạo ngặt nghèo. Bà mở rộng cửa cho các giáo hữu của tỉnh đến cầu nguyện…Bà đã dùng các lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng Phật trong nước trở lại với Đức tin Công giáo trong số đó có cả những người họ hàng với nhà chúa. 

Trong thời gian này, ngày 26-7-1644 thầy giảng An rê chịu tử đạo làm bà Minh Đức rất là đau đớn. Nhưng nỗi đau đớn nhất là con bà, ông Hoàng Khê, để lấy lòng chúa Thượng, đã cho phá nhà nguyện của mẹ ngày 20-2-1645. Năm sau, ngày 22-8-1646 ông Hoàng Khê qua đời không được rửa tội. Cái chết chưa được rửa tội của con càng làm cho bà Minh Đức đau đớn vô cùng. 

Theo các tài liệu bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649 như vậy bà thọ ngoài 80 tuổi.  

nguồn:  http://www.dongcong.net/DoiSongKH/GuongTruyenGiao/14.htm    

 Thi sĩ Nguyên Sa – Giuse Trần Bích Lan:(1932  – 1988) 

Nguyên Sa là nhà thơ lớn, nhà giáo nổi tiếng dạy triết học tại trường trung học Chu văn An và mở những lớp Triết riêng để luyện thi Tú tài 2. Ông dạy rất nhiều trường tư thục lớn ở Sài gòn. Tôi đã say mê Nguyên Sa từ những bài thơ trong tạp chí Hiện Đại khoảng năm 1961, 1962. Những câu thơ như: 

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông …

 Hôm nay Nga buồn như con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chẳng là nước biển.

 Hay: 

Tôi đã gặp em từ bao giờ

Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya

Kể từ gió thổi trong vừng tóc

Hay lúc thu về cánh nhạn kia.

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay…  

đã như đi sâu vào tâm hồn của đa số người dân miền Nam yêu thơ thời đó nhất là người Sài gòn thích thơ trong đó có tôi. 

Trong bài “Vài kỹ niệm với nhà thơ”, nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc viết: “Câu chuyện lan man đi qua vấn đề tôn giáo. Nguyên Sa nói: “Nhân tiện có anh và anh Q.T. là người theo đạo Công giáo. Tôi hỏi các anh, nếu tôi muốn theo đạo thì phải làm sao?” 

Tác giả viết: “Tôi nói: Dễ thôi. Anh Q.T. hoặc tôi sẽ giới thiệu anh đến một vị Linh Mục, vị này là linh hướng cho anh….Vị Linh Mục sẽ giải thích những lẽ chính trong Đạo và đưa anh một cuốn sách nhỏ dặn anh về đọc và ghi nhớ. Rồi vị Linh Mục hỏi xem anh có nhập tâm và tin – nhất là tin – những điều đó không? Sau khi đã qua những chặng chuẩn bị tâm hồn anh được chịu phép Rửa tội và được rước Chúa vào tâm hồn. Có 10 điều răn của Đức Chúa Trời và 6 điều răn của giáo hội, anh cứ theo như thế, tức là trở thành tín hữu tốt. Ngày thi sĩ Nguyên Sa chịu phép Rửa tội, anh có viết thiệp báo tin cho tôi. ..” 

Tác giả viết tiếp: “Tôi biết anh đã ra đi yên ổn vì anh có tâm sự với tôi lúc còn sống anh chỉ ước ao được chết Lành như một tín hữu Công giáo. Năm đó là năm 1998, anh thọ được 66 tuổi”. 

nguồn:  http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=294&ia=9417    

Ca sĩ Duy Khánh: (1936- 2003) (Micae Nguyễn văn Diệp). 

Trong báo: “Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” số 200, tháng 3 năm 2003, Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng có viết bài: “Ca Sĩ Duy Khánh & Cuộc trở lại Đạo cuối đời” cho biết Duy Khánh tên là Nguyễn văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh của Duy Khánh là Cụ Nguyễn văn Triển, Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH, pháp nhiệm 1 (1967-1971). 

 Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng viết: “Buổi tối ngày lễ Giáng sinh 25-12-2002 anh Văn Đức Thạnh đã gọi điện thoại cho tôi biết “Duy Khánh muốn gặp một Linh Mục”.Vì là ngày lễ lớn nên các nhà thờ đều bận rộn… mãi đến sáng hôm sau, ngày 26-12-2002 tôi mới liên lạc được với Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ, Quản nhiệm cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại nhà thờ Anaheim. 

Khoảng 9 giờ sáng hôm đó, anh Văn Đức Thạnh đã lái xe đưa Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ đến tại bịnh viện Fountain Valley, phòng số 110 để gặp Duy Khánh. Tôi cùng bà Thơm đi theo xe của anh Thạnh đến thăm Duy Khánh luôn. Bên cạnh Duy Khánh lúc đó chỉ có người con gái của anh (cô Tiên) và chúng tôi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp mặt và trực tiếp nói chuyện với Duy Khánh. Anh Thạnh giới thiệu Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ là người đồng hương đến thăm. 

Linh Mục đã hỏi Duy Khánh:

-“Có phải anh muốn gặp Linh Mục người Việt nam hay không?”

Anh Duy Khánh trả lời:

-“Đúng như vậy, tôi muốn gặp một Linh Mục Việt Nam để xin theo đạo Công giáo”. 

Linh Mục nói chuyện với anh khoảng 15 phút xác nhận lúc đó anh còn tỉnh táo và còn sáng suốt để trả lời những câu hỏi của Linh Mục. Sau đó Linh Mục cử hành nghi thức “Rửa tội” cho anh Nguyễn văn Diệp tức ca nhạc sĩ Duy Khánh. Người đỡ đầu là anh Văn Đức Thạnh.Tên Thánh được chọn cho Duy Khánh là Micae (Michael) cũng là tên Thánh của anh Thạnh… 

Nghe tin anh đã theo đạo Công giáo, một người bạn đến thăm và hỏi anh: 

-“Bây giờ anh có hối hận gì về quyết định xin theo đạo và chịu phép Rửa tội hay không?”

Anh đã trả lời: 

-“Tôi không hối hận gì.” 

Mấy ngày sau đó, sức khỏe của anh khả quan hơn trước nhiều. 

Ngày mùng Một Tết Nguyên Đán (Quý Mùi), Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ và một số bạn bè đến thăm, thấy sức khỏe của anh bình thường. Nhưng kể từ ngày mồng hai Tết trở đi, sức khỏe của anh ngày càng xấu đi. 

Lúc 12 giờ 05 trưa thứ tư, 12 tháng 02 năm 2003, Anh Micae Nguyễn văn Diệp tức Ca Nhạc Sĩ Duy Khánh đã từ giả mọi người để vĩnh viễn ra đi qua bên kia thế giới. 

GS Nguyễn Lý Tưởng viết: “Hơn hai mươi năm trước, khi nhạc sĩ Vũ Thành An trở lại Đạo Công giáo ở trong nhà tù Cộng sản tại Hà Tây (miền Bắc Việt nam), tôi có nói rằng người nghệ sỹ chân chính luôn khao khát Chân, Thiện, Mỹ và họ sẽ được gặp Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa hay Thượng Đế hay ông Trời là nguồn của Chân, Thiện, Mỹ. Tôi nghĩ rằng Duy Khánh cũng ở trong trường hợp đó. 

Tang lễ của anh được cử hành tại cộng đoàn tam biên (nhà thờ Sait Callitus) lúc 9:30 sáng thứ bảy 22-2-2003. 

Cựu hoàng Bảo Đại: (1913 – 1997).

Trong bài “Bất trắc và bất ngờ trong lịch sử ” đăng trên báo Dấn Thân, bộ 5 số 12 tác giả Linh Mục Nguyễn Thái Hợp có viết: “Sau khi bị truất phế qua cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 10 năm 1955 ông sống lưu vong tại Pháp.  

Vào giai đoạn cuối đời ông sống đạm bạc ở Paris trong một căn hộ thuộc chung cư ở đường Fresnel, quận 16. Chung cư này nằm cạnh khu đồi của công viên Trocadero. Những ngày đẹp trời ông thường đi dạo chung quanh khu công viên Trocadero. Thỉnh thoảng cũng ghé vào nhà thờ Saint Pierre de Chaillot nằm gần đấy để thăm Linh Mục Argomathe, chánh xứ Chaillot, một chuyên gia về lịch sử, khởi đi từ những câu chuyện văn hóa và thời sự vô thưởng vô phạt. Cùng với thời gian, cuộc đàm đạo càng ngày càng đi sâu vào lảnh vực tư tưởng và tâm linh, đặc biệt về Kitô giáo. Cựu hoàng tìm gặp nơi niềm tin Kitô giáo ý nghĩa, niềm vui và lẽ sống ở đời. Chính vì vậy bất chấp ý kiến không đồng thuận của một số người, ông nhất quyết xin gia nhập Đạo Chúa. Ngày 17 tháng 4 năm 1988 ông chịu phép thanh tẩy tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot với tên Thánh là Jean Robert. Liền theo đó, ông chịu phép thêm sức và cử hành lễ hôn phối với bà Monique Baudot.  

Năm 1995 chính cựu hoàng Bảo Đại với tư cách là vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn và đồng thời là người Công Giáo đã xin yết kiến Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II đã chính thức thay mặt nhà Nguyễn nói lên lời xin lỗi Chúa và Giáo hội.Trong lá thư đề ngày 31 tháng 03 năm 1995 gởi cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II để xin yết kiến, cựu hoàng đã viết: “Đây là dịp hạnh phúc cho chúng tôi được quỳ bên cạnh Đấng kế vị thánh Phêrô để cầu nguyện cho Việt nam và Giáo hội đang chịu đau khổ ở đó. Và qua sự kiện chúng tôi đã chịu phép thanh tẩy đem lại cho đồng bào chúng tôi niềm xác tín vào tình thương vô biên của Thiên Chúa qua Đức GiêSu Kitô, Đấng an ủi những người đau khổ. Ngày 24-6-1995 ông và phu nhân được Đức Gioan Phaolô II tiếp kiến riêng tại Vatican… 

Linh mục chánh xứ Chaillot cho biết sau khi gia nhập đạo cựu hoàng Bảo Đại rất ngoan đạo. Ông thường đến nhà thờ cầu nguyện và đặc biệt sùng kính Đức Mẹ Maria. 

Cuối tháng 6 năm 1997 cựu hoàng Bảo Đại được đưa vào Quân Y Viện Val De Grace ở Paris. Ông từ trần lúc 5 giờ sáng ngày 31- 7- 1997 hưởng thọ 84 tuổi.  

Thánh lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot ngày 5 -8-1997 với sự chủ sự của Linh Mục Guyard, đại diện Hồng Y Giám Mục Paris.  Bài “Magnificat” mà ông thích nhất một lần nữa đã trang trọng ngân vang trong thánh đường theo đúng ý nguyện của người quá cố. 

Chủ tịch nước Việt nam ông Hồ Chí Minh cũng đã có Rửa tội?

Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng viết trong bài “Đi gặp Mác – Ănghen hay lên Thiên đàng?” như sau: 

“Có lời đồn Bác đã chịu phép rửa tội Công giáo khi bị bắt ở Hồng Kông, lời đồn đó có thể đúng, vì những người cộng sản họ có kiêng nể gì đâu. Họ khai thác triệt để câu châm ngôn “Mục đích biện minh cho phương tiện”. Có thể làm bất cứ cái gì, chịu phép rửa tội đôi ba lần cũng được, miễn là đạt mục đích mong muốn. Chịu phép rửa tội để ra khỏi tù chứ đâu là trở nên tín hữu công giáo.”… 

  “Vào năm 1986 có cuộc họp của Ban Thường Vụ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Không hiểu sao cha Huấn cũng có mặt ở Hà nội. Cha già Huấn là người già lão, đã trăm tuổi, mặc dầu rất tinh khôn, nhưng người ta vẫn cho Ngài là lẩm cẩm, lẩn thẩn. Ngài lại hay đi sâu vào các vấn đề huyển bí. Những người đến hỏi số phận người nhà đã qua đời lên Thiên đàng hay ở luyện ngục thì Ngài trả lời ngay lập tức: thường là đang ở luyện ngục…. Hỏi về người đi vắng, như bộ đội còn sống hay chết: Ngài cũng chỉ cho họ biết người đó đang ở đâu, sắp về v.v. Rất nhiều người đến xin khấn để tìm thấy của đã mất. Ngài cho biết hiện của lạc mất đang ở đâu. 

Cha Huấn kể việc Bác lên Thiên đàng: “Một hôm con làm lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, (nơi ngài đang ở, vừa làm việc, vừa hưu) chợt thấy bác Hồ hiện ra nét mặt ủ rủ nói với con: Cụ quên tôi à? Tôi là Hồ Chí Minh, tôi đã được rửa tội. Cụ không cầu nguyện cho tôi à?. Sáng hôm sau, tôi làm lễ cho người. Lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, lại thấy Bác Hồ hiện ra, mặt mày vui vẻ người sáng láng cám ơn con, rồi lên thiên đàng.” 

Câu chuyện cha Huấn làm lễ cho Bác là vì Bác yêu cầu. Bây giờ Bác ở đâu? Bác ở lăng có thật không?. Còn linh hồn ở với Mác- Ănghen hay ở trên Thiên đàng? Chỉ có Chúa biết. Nếu ở trên Thiên đàng thì phục vụ cho dân tộc Việt nam nếu ở với Mác- Ănghen thì là tai họa cho dân tộc khổ sở này, đem những thái quá của Mác-Ănghen đến gây muôn vàn tai họa cho Việt nam.” 

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=73862  

Linh Mục Sảng Đình Nguyễn văn Thích: (1891-1978). 

Nữ tu Mai Thành viết: “Linh mục Nguyễn văn Thích là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn văn Mại. Cụ Mại đỗ thủ khoa thi Hương, rồi phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri phủ An Nhơn, Bình Định, làm quan đến chức Thượng thư. Cụ bà là Thân thị Vỹ làng Nguyệt Biều, tỉnh Thừa Thiên một dòng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như cụ Thân Trọng Huề, Thượng Thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.

Từ 4 tuổi cậu ấm Thích đã được thân phụ dạy chữ Hán, rồi lớn lên vác lều chổng đi thi Hương, cậu Thích cũng học chữ Pháp và chữ quốc ngữ rồi vào trường Pelerin gọi là trường dòng do các sư huynh Lasan điều khiển và giảng dạy. Trường này thành lập năm 1904 và học sinh Nguyễn văn Thích được học cả đạo lẫn đời. Nơi đây cậu ấm được học hỏi trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về giáo lý Kitô giáo. 

Trong thời gian học tại Pelerin, học sinh Thích lại có những liên hệ ngày càng mật thiết với Linh Mục tuyên úy Léculier hay cố Lựu nên đức tin vào Đức Giê Su Kitô đấng Cứu thế con Thiên Chúa làm người được thấu hiểu ngày càng thấm đậm trong tâm thức và trí tuệ của chàng thư sinh khao khát Chân, Thiện, Mỹ. 

Với bằng Cao Đẳng tiểu học và một năm sư phạm, thầy Thích được bổ làm trợ giáo tỉnh Khánh Hoà tháng 02 năm 1911. Bốn tháng sau ngày 29 tháng 6, thầy nhận bí tích rửa tội để trở nên con cái Chúa với tên thánh là Giuse Maria tại nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang do Linh mục Charles Eugène Saulcoy tên Việt là Cố Ngoan. 

Được tin sét đánh này cụ Thượng cầm roi đánh nhừ tử “đứa con bất hiếu”. Sau đó cụ Thượng nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức Cha Lý (Cố Allys) đến nhà xin Đức Cha can thiệp làm mai mối với con gái cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con mình yên số phận. Nào ngờ đâu khi được “hung tin” này, môn đệ của Đức GiêSu lấy quyết định từ giả gia đình quí tộc. Một đêm thanh vắng thầy Giuse Maria hóa trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi sáng sớm tháng 9 năm 1917, trực chỉ đến tiểu chủng viện An Ninh tại cửa Tùng, tỉnh Quảng trị. Tiểu chủng viện chỉ nhận từ 12 đến 14 tuổi mà thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây? May mắn là Giám mục Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo này, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo Linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Sau đó thầy được gởi vào Đại chủng viện Phú Xuân Huế, 6 năm sau được thụ phong Linh mục ngày 18 tháng 12 năm 1926. 

Cha là nhà giáo từ lúc 20 tuổi. Cha dạy các Thiếu nhi Tiểu học ở Khánh Hoà, dạy các tu sĩ dòng Thánh Tâm Huế, tiểu chủng viện An ninh, Quảng trị, Trung học Khải Định.  

Trong thời gian làm Cha xứ họ Đạo Kim Long Huế, Cha dạy trường Quốc học và các trường tư thục Công giáo Huế. Từ năm 1958 Cha dạy Hán văn các trường Đại học Đà lạt, Huế Sài gòn. Năm 1959 dạy Triết Đông tại viện Hán học. Cha có sáng tác nhiều bài thơ phổ biến trong “Sảng Đình thi tập”. 

Nữ tu Mai Thành viết:“ Ngày 10 tháng 12 năm 1978 Linh mục Giuse Maria Nguyễn văn Thích với tuổi hạc 87, giã từ trần thế để về cõi trường sinh, hội ngộ cùng Đấng Chân- Thiện- Mỹ mà Linh mục đã hiến thân phục vụ đến trọn đời, trọn tình, trọn nghĩa. Phút lâm chung Ngài còn vui vẻ hát ca. Chắc hẳn là những ngày, những giây phút chuẩn bị cuộc ra đi, ngài đã ngắm nhìn bức tranh Đức Maria mà chính tay Ngài đã kính cẩn họa ra với lời ca Ngài đã sáng tác:

                        Bao giờ tôi được lên Trời,

                        Ở cùng Đức Mẹ thì tôi phỉ nguyền. 

Nguon: http://www.chungnhanduckito.net/tacgia/Mai%20Thanh/lm.nguyenvanthich.htm  

 Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn.(1930- 2009) 

Trong quyển “Đất nước tôi”, Hồi ký chính trị của Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đuợc biết ông sinh tại Cần Thơ năm 1930, năm 1951 động viên khóa 1 sinh viên Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức.1953 trúng tuyển khóa 1 Học viện Quốc Gia Hành Chánh. 1957 tốt nghiệp Thủ khoa khóa 1 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

1958 Quận Trưởng Cái Bè, Định Tường.

1959 -1967 Phó Tỉnh Trưởng Định Tường, Phước Tuy và Long An.

1967-1971 Dân biểu Hạ Nghị Viện.

1971-1975 Chủ tịch Hạ Nghị Viên.

1975 Thủ tướng VNCH. 

Ký giả Hạnh Dương viết: “Trong cuộc phỏng vấn cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã cho hay rằng dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lúc ông làm Quận trưởng Cái Bè, Phó Tỉnh Trưởng Định Tường và Phó Tỉnh trưởng Phước Tuy, ông đã nhiều lần được đảng Cần lao yêu cầu ông trở lại đạo Công giáo, ông đã quyết liệt từ chối. Nhưng khi đến định cư tại Hoa Kỳ, sau khi con gái của ông tử thương vì tai nạn, ông đã buồn, khóc rất nhiều và mắt của ông gần như bị mù. Nghe nói Đức Mẹ Lộ Đức (Lourdes) tại Pháp là nơi linh thiêng và nhiều người khấn xin, đuợc Đức Mẹ chửa lành, nên phu nhân của ông đã đưa ông qua Pháp để đến cầu nguyện tại nơi Đức Mẹ hiện ra với chị Bernadette từ ngày 11-2-1858 đến ngày 16-7-1858 trong 18 lần khác nhau. … 

 Cho đến nay sau ba lần khai mở hầm mộ của nữ tu này để khám nghiệm, làm thủ tục phong Thánh thì điều rất ngạc nhiên xác của nữ tu Marie Bernard này vẫn nguyên vẹn và mềm mại như người đang ngủ. Hiện nay thi thể của nữ tu được bỏ trong quan tài bằng kính trong suốt và để trong nhà nguyện cho mọi người đến kính viếng cầu nguyện. 

Cựu Thủ Tướng nói rằng ông chỉ đi theo đề nghị của vợ ông mà thôi chứ chẳng có tin tưởng gì. Nhưng sau khi thấy những điều kỳ diệu như thế nên ông đã cầu nguyện và không ngờ là sáng hôm sau, sau khi thức dậy, hai mắt ông bừng sáng như chưa hề bịnh tật gì. Và từ đó ông đã xin theo đạo Công giáo và được  thanh tẩy tại Lộ Đức ở Pháp và trở lại Hoa Kỳ đi nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, rất sùng đạo, sống bình dị cho đến giờ phút ông vĩnh biệt gia đình và cộng đồng người Việt tự do tại Hoa Kỳ và Hải ngoại. 

Ông mất ngày thứ tư 20-5-2009. 

Thánh lễ cầu hồn cho linh hồn Phêrô tại nhà thờ Maria Goretti lúc 10 giờ ngày thứ tư 27 tháng 5 -2009,  hạ huyệt tại nghĩa trang Oak Hill, San José. 

nguồn: http://ngothelinh.tripod.com/Nguyen_Ba_Can.html 

Giáo Sư Nguyễn Khắc Dương.  

Nguyên là Giáo sư viện Đại Học Đà Lạt năm 1965-1976. Sinh ngày 24-9-1925 tại Vinh, nguyên quán Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tỉnh.

Là bào đệ của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện một đảng viên nồng cốt của đảng Cộng sản Việt nam, thân phụ là Nguyễn khắc Niêm, nguyên Án Sát tỉnh Nghệ an vào năm 1930, về hưu  năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng Thư. 

Năm 1938 đậu tiểu học, theo học chương trình Pháp tại trường Thiên Hựu, trường tư thục có giá trị nhất thời đó. Tác giả viết: “Cái quyết định của mẹ tôi là do sự xếp đặt của Thiên Chúa, có vậy mới biết đến Chúa Giêsu, mới là tín hữu của Ngài”. 

Sau tú tài II tác giả từ giả Huế về quê với tâm niệm mình là một Phật tử với ý nguyện sẽ xuất gia khi gặp dịp thuận tiện. Trên đuờng về quê tác giả ghé thăm anh Vương đình Lương, lúc ấy làm Hiệu trưởng trường tư thục Đậu Quang Lĩnh Anh Lương mời cộng tác. “Thế là tôi lại trở vế với môi trường tư thục Công giáo. Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu Huế. Tôi như một cây héo rũ bỗng được hồi sinh. Ngoài các sinh hoạt chức nghiệp, tôi thường liên lạc với các linh mục, các đại chủng sinh giúp nhà xứ Nghĩa Yên. Dần dần tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công giáo mới hợp với con người tôi”. 

Vào năm 1948 tác giả quyết định gia nhập đại gia đình Công giáo. Trong tâm tư thì vậy nhưng đi đến thực hiện quả là còn cách núi ngăn sông. Trước hết là những khó khăn trong tâm tư của chính mình nhất là cảm tưởng phải xa lìa tất cả, xa lìa gia đình, bạn bè, hàng xóm rồi cả mấy mươi năm truyền thống văn hóa.” Trở ngại khách quan khác lớn lao hơn nhiều:  “Đối với nhà nho cỡ lớn ở đất Nghệ Tỉnh có đứa con theo đạo là sự sĩ nhục… thằng con trai  đã bỏ truyền thống của cha ông để đi theo “Tây Dương Tả Đạo” nhất là tôi là con là cháu được khen là hiếu thuận.”   

Vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1948, tôi đến Đức Thọ  thăm gia đình anh Vương Đình Lương. Ngày hôm sau được Linh mục Vương Đình Ái mời dự bửa cơm mừng lễ với các giáo viên dạy trường Đậu Quang Lĩnh. Sau bữa cơm tôi thưa với Cha Ái về ý muốn lảnh nhận bí tích rửa tội.  

Và ngày Rửa tội là ngày 9 tháng 1 năm 1949, Linh mục rửa tội là Linh mục Nguyễn ngọc Bang  cha xứ Nghĩa Yên. Cha đỡ đầu là Linh Mục Vương đình Ái. 

Nguyễn Khắc Dương vào dòng Phanxicô sống đời dự tu đầu tiên khóa 1949-1950. Tháng 04 năm 1954 rời khỏi nhà dòng vì bị động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trong thời gian này thân phụ bị đấu tố, kết án 20 năm tù và đi cải tạo vài hôm thì từ trần.  

Sau hơn hai năm quân vụ, tháng 10 năm 1956 được tu viện Phanxicô cho sang Pháp học thần học tại Paris (1956-1957). Ra khỏi dòng, học Sarbonne 1957-1960, tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Thử tu tại dòng Biển Đức ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ (1961-1963) nhưng không thành vì lý do sức khỏe. Từ năm 1963 đến 1965 dạy học ở nhiều trường trung học Công giáo ở Paris. 

 Cuối năm 1965 Nguyễn Khắc Dương trở về Miền Nam Việt nam. Năm 1966 Linh Mục Nguyễn văn Lập Viện trưởng Viện Đại Học Đà Lạt mời ông lên dạy triết tại đó. 

Khi cộng sản tiếp thu Viện Đại học Đà lạt ông cũng bị đi học tập cải tạo 16 tháng. 

Năm 1975 đến 1986 đổi cư trú trên 10 lần, không nhà, không cửa, không tài sản, không vị trí gì cả trong Giáo hội cũng như trong gia đình và ngoài xã hội.  

http://www.conggiaovietnam.info/index.php?m=module3&v=chapter&ib=46&ict=578 

http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=197&ict=1409  

Nhạc sĩ Vũ Thành An: 

Theo ký giả Hạnh Dương cho biết Nhạc sĩ Vũ thành An kể rằng: “Từ khi có trí khôn tôi vẫn thao thức với câu hỏi: Mình ở cuộc đời này để làm gì?” 

Vũ Thành An kể: “Tôi đã khốn đốn trong các trại giam tại Bắc Việt. Một trong những khốn khổ mà tôi phải chịu là chứng mất ngủ. Từng đêm dài tôi đã thức trắng, sức khỏe dần yếu đi, không có thuốc để chữa chạy. Tình trạng này kéo dài cả năm từ đầu năm 1980 đến 1981. Một tối kia đa số anh em trong phòng đã say ngủ tôi nghe hai anh nói chuyện với nhau chỉ cách chỗ tôi nằm chừng hai thước. Tôi nghe anh Nguyễn văn Lai nói: “Khi nào tôi khó ngủ tôi chỉ cầu nguyện bằng cách chỉ đọc vài Kinh Kính Mừng là ngủ được ngay.” 

Nhạc sĩ Vũ Thành An kể tiếp mặc dầu anh chưa có đạo nhưng Kinh Kính Mừng thì tôi đã biết. Năm 17 tuổi tôi có người bạn gái, lúc đó sự liên lạc của chúng tôi là những trang thư và những buổi hẹn hò trong sân nhà thờ. Gặp chỉ để nói với nhau đôi câu. Một hôm đôi tay rất đẹp trinh trắng của Uyên đã trao tôi trang giấy có ghi bài Kinh Kính Mừng với nét chữ thật nắn nót. Uyên bảo tôi học thuộc đi và tôi đã thuộc. … Cho đến bây giờ tôi cũng không biết Uyên ở đâu, nhưng Kinh Kính Mừng thì ở lại.”   và trong cơn tuyệt vọng ở trại tù Bắc việt, anh đã nhẩm đọc Kinh Kính Mừng và đêm đó anh đã ngủ ngon.giấc. Và sau đó tôi đã ngủ khoảng một tuần lễ liên tiếp. Một buổi sáng thức dậy nhìn qua cửa sổ phòng giam thấy nắng xuân vàng ấm chiếu trên luống rau cải xanh do các bạn tù trồng ngoài sân tự nhiên tôi nói với bố Vũ công Định nằm bên cạnh:” Bố Định ơi, chắc là con theo đạo Chúa quá. Bố Định là một tù nhân không có đạo, ít nói, nghe vậy bố chỉ cười. Bố Định bảo Vũ Thành An đến gặp Thượng Nghị Sĩ Nguyễn văn Mân cùng ở chung phòng 1 tại trại giam Hà Tây để hỏi vì cụ Mân là người Công giáo. 

Vũ Thành An kể tiếp: “món quà đầu tiên sau khi tôi cầu cứu Đức Mẹ là bịnh mất ngủ đã không còn hành hạ tôi nữa.” 

Sau đó anh em đạo Thiên Chúa đã cho tôi tình thân ái mà trước đó tôi không có.và đã hướng dẫn cho tôi chờ ngày Rửa tôi. Nhưng đến ngày ấn định tôi xin ngưng lại. Tôi chưa sẳn sàng về tâm lý và sợ… Nhưng bắt đầu sáng tác thánh ca như “Cha là Ngôi Trời có thật”  “Mẹ ơi cứu con ra khỏi nơi này”  “Hãy nhìn lên Trời cao”. Sau hơn một tháng suy nghĩ, tôi đã xin anh em trong tù định ngày rửa tội cho tôi là ngày 19-3-1981. 

Buổi lễ diễn ra nghiêm trang dường như cả phòng đều biết nên đã giữ yên lặng khác thường. Khi bác Nguyễn thành Tiên vừa dội nước vừa đọc “Tôi rửa anh  nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” thì chừng một hai giây sau đèn điện chớp hai lần rồi bật sáng hẳn.  

Sau buổi lễ rửa tội đó, cán bộ trại đã gọi anh lên thẩm vấn anh lý do anh “gia nhập “đạo Công giáo. Tìm xem Linh mục nào dám rửa tội trong trại vì nếu truyền giáo và hành đạo ở trong trại sẽ bị cùm giam vào sà lim. 

Nhạc sĩ Vũ Thành An qua định cư tại Portland, Oregan theo diện HO. Anh đã xin đi tu và được tòa Giám Mục Portland cho theo khóa Đại học thần học và được Đức Tổng giám Mục John G. Vlazny chủ tế lễ truyền chức Thánh Phó tế vĩnh viễn ngày thứ bảy 23-11-2002.  

Hiện nay Phó tế Vũ Thành An sáng lập và phụ trách Quỹ từ thiện Têrêsa đang trợ cấp cho trên 2000 cụ già ở Việt nam. Nếu tiếp tay cho Quỹ từ thiện xin gởi về: TÊRÊSA P.O.Box 13237 Portland, OR 97213 

nguồn: www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=65627 

Linh Mục Nguyễn Viết Chung: 

 Một ngày vào năm 1973 các tờ báo ở Sài gòn đồng loạt đưa tin vế cái chết của Jean Cassaigne một giám Mục Công giáo người Pháp, nguyên làm Giám Mục Sài gòn nhưng lại qua đời tại một trại phong ở Di Linh, một nơi đèo heo hút gió trên đường từ Sài gòn đi Đà Lạt. Nguyễn Viết Chung đọc tiểu sử của vị cố Giám Mục trên báo và không hiểu do đâu anh lại mong muốn được nên giống Ngài ở chỗ phục vụ người cùng khổ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh chẳng biết gì về Đạo Công giáo thế mà Đức Cha Cassaigne lại là thần tượng của anh. 

Năm 1974. Chung học Y Khoa Đại Học Đường Sài gòn. Tại đây anh gặp người công giáo đầu tiên trong đời anh là giáo sư bác sĩ Lichtenberger, người Bỉ, dạy môn Mô phôi học. Chung ngưởng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Các bài giảng vô cùng sinh động và phong phú của nhà khoa học uyên thâm một cách lạ lùng làm cho Chung mê mẫn. Chung kinh ngạc khám phá vị Giáo sư khả kính này là một Linh Mục dòng tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến nhà thờ để xem Giáo sư Lichtenberger dâng lễ…. 

Những năm học Y khoa không phải là dễ dàng đối với Nguyễn Viết Chung anh phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích lô để kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình.  

Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh  để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng.  

Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:  

-“Anh có điên không hay là anh bị cùi?”.

-“Nếu tôi cùi thì bà đã thấỳ rồi.Còn có điên hay không thì tôi không biết nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.” 

Từ ngày 01-7-1986 anh về làm việc tại phòng chống sốt rét của tỉnh Đồng Nai cho tới năm 1989. Từ năm 1990-1992 đổi về làm tại phòng xét nghiệm của bịnh viện da liễu Sài gòn. Ở đây anh xin học thêm chuyên khoa da liễu vì anh không bao giờ anh quên mộng ước của mình. 

Năm 1993 Bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại trại Phong Bến Sắn, Bình Dương. Tại đây anh làm việc hăng say như để đạt được tâm nguyện của mình giống như Đức Giám Mục Cassaigne trong việc phục vụ bịnh phong cùi. Anh hết sức tận tụy không nề hà. Nhưng dù như thế anh vẫn thấy mình thua xa các nữ tu nữ Tử Bác ái trong việc yêu thương phục vụ người bịnh. Các nữ tu luôn nhẫn nại lắng nghe phục vụ người bịnh hết lòng, không bao giờ làm họ buồn tủi. Tinh thần hy sinh, quảng đại đó khiến cho anh cảm phục. Anh cho rằng muốn có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế anh phải trở thành một người giống như các nữ tu. Anh chưa phải là người công giáo nên anh không thể hiểu được tinh thần làm việc của các Sơ.  Anh cũng muốn được phục vụ với tinh thần giống như các Sơ.  

Ngày 28-8-1993 bác sĩ Chung đến gặp Cha Hoàng văn Đoàn, dòng tên, tại Bình Dương xin học giáo lý tân tòng. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 bác sĩ Chung được cha chính xứ Bến Sắn, Linh mục Trần Thế Thuận làm lễ rửa tội cho anh tại nhà nguyện trại phong Bến Sắn. Nhưng bác sĩ Chung chưa hài lòng khi chưa được trở nên giống các Sơ để có thể yêu thương phục vụ người nghèo. Ở tuổi tứ tuần theo đuổi ơn gọi tu sĩ là một điều quá khó khăn.  

Ngày 15.9.1994 bác sĩ Chung trở thành tập sinh lớn tuổi nhất của dòng Vinh Sơn nam số 40 đườngTrần Phú, Đà Lạt. Ngày lễ truyền tin 25.3.2003 Giáo hội trao tác vụ Linh mục cho thầy Augustinô Nguyễn Viết Chung qua lễ đặt tay của Giám mục Giuse Vũ Duy Thống tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài gòn. 

 Ngày  3.4.2003, Linh Mục Nguyễn Viết Chung quay về trại phong Bến sắn dâng Thánh lễ tạ ơn trong sự hân hoan của các bịnh nhân phong với sự hiện diện của cha sở Bến sắn, người mà 9 năm trước đây đã làm lễ rửa tội cho cha. Vẫn thái độ khiêm nhường, yêu thương và cung kính với các người bịnh vẫn xưng mình là “con” khi nói chuyện với các bịnh nhân lớn tuổi. 

Tháng 3 năm 2009 tôi có về Sài gòn có dẫn người cháu đến thăm Linh mục Nguyễn Viết Chung, cha dong dõng cao, hơi ốm, nói năng nhỏ nhẹ: “ “con” cũng chỉ là cái máng để hứng lấy tình yêu thương của mọi người để mang đến cho những người kém may mắn”.   

Nhà văn Hương Vĩnh có viết: “Ba vị đã tác động mạnh mẻ trên ơn gọi của cha Chung là Giám mục Jean Cassaigne, Linh mục Lichetenberger và Dì hai Loan ( phục vụ trại phong Bến Sắn 17 năm, chết vì bịnh ung thư ở tại trại này). Cả ba cùng có mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói. 

nguồn:  http://www.chungnhanduckito.net/chungnhan/saubathapnien.htm 

Trong bài “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ” cố Giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết trong đoạn kết của bài này như sau:  

“Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian. Nguyễn Viết Chung biết chắc lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan.. đấy là chưa kể đến nhiều người khác trong đó có thân mẫu của mình một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi Cha Lichtenberger vì tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa. Và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bịnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, bác sĩ Nguyễn Viêt Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bịnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chiụ đóng đinh trong những con người bất hạnh. Và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành Linh Mục của Chúa vào tuổi 48.” 

http://www.tiengnoigiaodan.net/lcht/lcht_098.html                     

                             Linh mục Nguyễn Viết Chung

                              479/15 Nguyễn Kiệm

                             Phường 9, Quận Phú Nhuận (Sài Gòn) 

 Tạ Phong Tần:  

Tạ Phong Tần là cựu Đại Úy? ngành Công an của nhà nước cộng sản Việt nam. Đã rời khỏi cơ quan nhà nước và làm việc văn phòng luật sư Lê Trần Luật. Bà đã được Rửa tội ngày 14 -6-2009 tại Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 38 đường Kỳ Đồng Quận 3, Sài gòn, lúc bà 41 tuổi. Bà đã viết nhiều bài báo về thực trạng xã hội Việt nam trong “ Blog Công lý và Sự Thật” mà bà đang chủ trương. 

http://conglysuthat.blogspot.com/2009/07/thanh-le-rua-toi-cho-maria-ta-phong-tan.html   

Nhiều trường hợp gia nhập đạo với nhiều lý do khác nhau như Bác sĩ, Nghị sĩ Đặng văn Sung, Chủ nhiệm báo Chính Luận trước năm 1975, ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh, ca sĩ Thanh Lan (chịu phép thánh tẩy tại Vatican vào năm 2003)… Ở trong nước còn nhiều người nữa như Học giả Cao Xuân Huy, Nhạc sĩ Văn Cao…  

Theo Vietcatholic news (18 Oct 2009) Giáo phận Xuân Lộc đón nhận 1114 tân tòng và hơn 2000 người là thân nhân, họ hàng, bạn bè của các tân tòng. Chủ sự Thánh lễ, Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh chủ chăn của giáo phận Xuân Lộc cùng đồng tế có Đức cha Micaen Hoàng Đức Oanh Giám mục giáo phận Kon tum  v.v.… và hơn 50 cha trong giáo phận.

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=72201 

Ở mỗi giáo xứ hay mỗi nhà thờ hàng năm đều có làm lễ “Rửa tội” cho người lớn thông thường con số cũng vài chục người. Trong số những người nhận Bí tích thanh tẩy, con số không nhỏ là những người trí thức.

  Con đường đến với Thiên Chúa tình yêu, đến với Hội Thánh Chúa bằng nhiều cách khác nhau. Tất cả đều được Thiên Chúa yêu thương mời gọi tìm về suối nguồn tình yêu là Thiên Chúa toàn năng, để được an ủi, để được hạnh phúc đời này lẫn hạnh phúc vĩnh cữu đời sau, sau khi mất. 

Phùng văn Phụng

mùa Giáng Sinh 2009

(27 tháng 12)

(tri’ch Sách: “Tâm Tình Gởi lại” cùng tác giả)


 

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020


 

Kỷ niệm 14 năm ngày Website “Kẻ Đi Tìm” ra đời

Ngày 07 tháng 04 năm 2026, Website “Kẻ Đi Tìm” đã ra đời được 14 năm, một thời gian khá dài.

Tôi đã hết sức cố gắng duy trì Website này vì:

1)      Tôi thấy rất có ích cho nhiều người đang tìm hiểu về đạo Chúa, có nhiều bài vỡ, tài liệu để học hỏi thêm về đạo Chúa.

2)       Những ai muốn biết về tình hình trong nước, về cộng sản Việt Nam cũng có nhiều bài vỡ hữu ích để xem và suy tư

3)      Những ai chán nản, buồn rầu về cuộc sống, cũng có thể tìm thấy sự an ủi trong các bài viết của Website này.

4)      Riêng Ban Biên Tập của chúng tôi rất vui mừng và hạnh phúc vì lúc về hưu, chúng tôi có việc để làm và thấy đời sống có ý nghĩa, không vô ích, mà còn có thể đóng góp, đem “món ăn” tinh thần cho độc giả, cho bà con và cho các con cháu.

Ngày 07 tháng 04 năm 2026

  Ban Biên Tập

Website “Kẻ Đi Tìm”

Tám mối Phúc Thật là gì?- Gioan Phùng Văn Phụng

Gioan Phùng Văn Phụng

Tám mối phúc thật còn gọi là Hiến Chương Nước Trời hay Bài Giảng trên núi.

Đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu ở chương 5, từ câu 3 đến câu 12, và đọc các Mối Phúc để hiểu được con đường tươi đẹp biết bao, vui vẻ, an toàn biết bao và cũng hạnh phúc biết bao mà Chúa đã đề nghị cho chúng ta nghe theo và áp dụng vào cuộc sống.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.(1)

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.(2)

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

SUY NIỆM:

(Luca chương 6 câu 20 đến 23 cũng nói đến các phúc này).

Đọc các mối phúc thật này nghe rất là nghịch lý, không thuận tai chút nào.

1-Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.

Tâm hồn nghèo khó là gì? Đó chính là tâm hồn đơn sơ, không kiêu ngạo, không cho rằng giỏi nhất, không ai hơn mình được. Vì có tâm hồn nghèo khó nên biết nương cậy vào Chúa, suy phục Chúa, luôn luôn sống với tâm tình vâng phục, có Chúa ở cùng khi làm mọi việc. Lúc nào cũng có tâm tình tạ ơn Chúa khi còn sống trên cõi đời này. Khi làm việc, dầu thành công hay thất bại vẫn tạ ơn Chúa.

Còn nếu ta đã giàu có, thành công, có địa vị cao, có chức vụ, quyền lực trong xã hội liệu ta còn có nghĩ đến Chúa, nương cậy vào Chúa nữa không?

2- Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Hiền lành là gì? Người ta thường xem sự hiền lành là nhu nhược, không dám phản ứng khi bị đàn áp, gây gỗ, mắng chửi. Thật ra hiền lành chính là nhân đức – kiềm chế sự nóng giận. Không phải ai cũng làm được đâu. Phải thực tập thường xuyên, tự rèn luyện bản thân hàng ngày, dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ cái TÔI đi, tức là dẹp bỏ sự nóng giận. Cậy vào sức của mình ta, ta không làm được. Nhưng cậy dựa vào sức Chúa, chúng ta sẽ làm được. Chúa Giêsu nói: “Hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. (2)

3-Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Sầu khổ là gì? Là nhìn thấy và cảm nghiệm, chia xẻ những đau khổ của người khác, cũng như đau khổ của chính mình vì tội lỗi của chính mình. Ngày nay, người ta thường dùng chữ “vô cảm” để nói đến những người vô tâm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân mình. Biết sầu khổ nghĩa là không vô cảm, biết đau cái đau của đồng loại, thương cảm những đau khổ của người khác. Những người sầu khổ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4-Phúc thay ai khao khát nên người công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Khát khao nên người công chính tức là ý thức về điều ngay thẳng, tốt lành. Làm việc với sự công bình, yêu thương, hợp với đạo lý làm người, với lương tâm nhắc nhở. Người công chính không làm vì lợi mình mà hại người.

5-Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Xót thương người là cảm thông với nỗi đau của người khác, biết đau với nỗi đau của người khác… đặt mình vào vai trò, vị trí của người khác, cùng chia xẻ sự khổ nạn với Chúa Kitô, nên một với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Xót thương người khác vì sự đau đớn về vật chất, sự đau khổ về tinh thần, tâm linh của người khác. Cần học hỏi, thực hành lòng xót thương như Thầy chí thánh là Chúa Giêsu là đấng xót thương.

6-Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa

Có tâm hồn trong sạch là không ích kỷ, không tham lam, không tư lợi, hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em đồng loại.

7-Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Xây dựng hoà bình là đem bình an đến cho người chung quanh, hàn gắn các vết thương giữa con người với nhau.

8-Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính vì Nước Trời là của họ.

Bị bách hại, bị người ta sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa vì Chúa, là vui vẻ chấp nhận sự khó khăn, đau khổ… Dầu bị bách hại, bị loại trừ, bị sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa mà không oán hờn, trách móc. Nhờ đó chúng ta có được bình an trong tâm hồn, hạnh phúc trong cuộc sống, đó chính là nước trời hiện diện giữa chúng ta trong đời này rồi phải không?

Chính 8 mối phúc thật này là căn tính của người kitô hữu, đó là cách thức, là con đường người môn đệ của Chúa phải đi.

Tám mối phúc thật hay Hiến Chương Nước Trời, đây là mục đích chính mà người theo Chúa Giêsu kitô cố gắng đạt được để có nước trời (thiên đàng) nơi trần thế này và được hưởng thiên đàng vĩnh cửu mai sau.

Gioan Phùng Văn Phụng

Tháng 02/2022

Xem thêm:

(1)Nước trời là gì vậy Thầy?

https://dongten.net/2020/07/23/nuoc-troi-la-gi-vay-thay/

(2) Hiền lành và khiêm nhường

http://www.vncatholic.net/hien-lanh-va-khiem-nhuong/ 

Vừa trải qua một tai nạn. Bài viết của Phùng Văn Phụng

 Bài viết của Phùng Văn Phụng

Tối thứ sáu đầu tháng, ngày 06 tháng 02 năm 2026, tôi đi dự lễ cầu nguyện cho hòa bình thế giới ở nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể, có chở cháu nội là Jayden đi sinh hoạt lớp Thêm sức 1. Thánh lễ ở nhà thờ kết thúc khoảng 8 giờ 10 tối, tôi cùng cháu nội ra xe để về nhà.

Tôi đang chạy trên đường Kirkwood từ hướng Nam lên hướng Bắc. Khi vừa chạy đến đường Carvel, có chiếc xe BMW, chạy từ đông sang tây, đụng thẳng vào bên mặt của chiếc xe Venza tôi đang chạy. Hai cánh cửa bên phải dẹp nát, hoàn toàn hư hại. Có lẽ trời tối, tài xế người Mễ không thấy xe phía trước đang chạy tới. Xe tôi bị hư hại nặng, phải bị “total loss”. Xe hư hại hoàn toàn, hảng bảo hiểm mang đi.

Tôi bị đau ngay cần cổ bên phải, tha dầu nóng, thường xuyên, mấy ngày nay mà không có kết quả gì và không biết có thương tích gì nặng không? Thầy Bạch và các bạn gọi hỏi thăm và nói là sẽ cầu nguyện cho.

Sáng thứ tư, ngày 11 tháng 2 năm 2026 đi chụp hình cần cổ, ở phòng mạch bác sĩ Vũ Giang, kết quả tốt. Mặc dầu đây là tai nạn lớn nhưng không có xảy ra thương tích gì trầm trọng, nguy hiểm đến tính mạng.

Tạ ơn Chúa

Cũng là tai nạn cũ.

Lần trước cách nay khoảng hơn 10 năm cũng bị đụng xe. Tôi đang chạy trên đường Beechnut, xe đang chạy bình thường, đến ngả tư Beechnut và Wilcrest đèn xanh bật lên. Xe tôi đang chạy, gặp đèn xanh nên tôi chạy luôn, không có ngó hai bên.  Trên đường Wilcrest cắt ngang Beechnut, bên trái tôi, có một cô gái khoảng 18, 20 tuổi vượt đèn đỏ, đụng vào đầu xe Camry của tôi, nên xe tôi bị xoay 90 độ, rồi có chiếc xe phía sau chạy tới, đụng vào hông xe bên phải của tôi, nên xe bị hư hại nặng, bị “total loss” (bị hảng kéo đi). Vì xe quay 90 độ, người tôi quay theo chiều kim đồng hồ, cũng 90 độ, nên tôi không có bị thương tích gì.

Thiên Chúa đã che chở tôi trong hai tai nạn lớn này.

Tạ ơn Chúa.

Ngày 11 tháng 2 năm 2026

(Ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức- Ngày thế giới bịnh nhân)

Những Điều Cần Phải Thực Hiện – Bài viết của Phùng Văn Phụng

Bài viết của Phùng Văn Phụng

Đọc bài viết của Linh mục Mi Trầm như sau:

Đã Đến Lúc Phải Thực Hiện “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với người khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời người. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa.
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè. Người khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho người. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. 10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo InternetTừ FB Linh mục Mi Trầm

Tha thứ cho mình và cho người. Làm quen với sự chết. Hãy thuận hòa với Thượng Đế. Ba điều chót 8, 9, 10 tôi thường xuyên nhắc nhở mình và cố gắng thực hành.

Không tha thứ là lấy sự sai lầm của người khác mà trừng phạt chính mình. Không tha thứ là mình uống thuốc độc mà mong người mình không ưa hay mình thù ghét sẽ chết.

Nhà văn, nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê có nhắc nhở rằng làm việc phải có kỷ luật, nếu không có tư tưởng gì để viết, cứ đúng giờ 8 giờ sáng, 2 giờ chiều tự động ngồi vào bàn viết, tư tưởng sẽ có, để viết bài. Ông Nguyễn Hiến Lê hạn chế việc tham dự tiệc tùng. Vì vậy cho nên ông đã để lại cho đời hơn trăm tác phẩm có giá trị.

Tôi đã không áp dụng kỷ luật cho bản thân nên không để lại được gì cho đời sau.

Nếu làm việc đều đặn, kiên trì, kỷ luật giống như nhà văn Nguyễn Hiến Lê – vô cùng khó khăn. Nhưng nếu làm được như vậy, có lẽ đã có “cái gì đó?” để lại cho đời sau.

Nhưng mà nếu có để lại “cái gì” cho đời sau thì liệu rằng được thời gian bao lâu để có người còn nhớ đến mình. Nguyễn Du đã nói:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà như khấp Tố Như”.

Thi sĩ Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, tác giả Truyện Kiều còn nói như thế; còn mình, người bất tài thì sao?

Tin tức bảo tuyết vừa qua:

Trận bảo tuyết vừa qua, tính đến 7 giờ tối ngày thứ hai 19 tháng 01 năm 2026, ít nhất có 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang chịu ảnh hưởng.

Hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị mất điện hôm thứ hai hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hay bị hoãn.

nguồn: https://www.nguoi-viet.com

Vài cảm nghĩ riêng tư:

Chúa nhật ngày 01 tháng 02 vừa qua, có hai người thân đã ra đi, đó là anh Trần Hùng Peter, lớn hơn tôi một tuổi, trong Đoàn Liên Minh Thánh Tâm của Giáo xứ Ngôi Lời Nhập Thể và anh Út Muôn, nhỏ hơn tôi một tuổi, con cô sáu tôi ở làng Tân Tập, quận Cần Giuộc.

Thật là một điều kỳ diệu đến hôm nay tôi vẫn còn sống mặc dầu sức khỏe có yếu đi, mau mệt. Uống thuốc nhiếp hộ tuyến, thuốc cao mở và thuốc đau bao tử đều đặn mỗi ngày.

Từ một người thích thể thao, đã từng thi chạy đua, rồi không thể chạy đua được nữa, sau hơn 6 tháng trị bịnh sốt rét ngã nước do bác sĩ người Pháp điều trị mới hết được.

Học nhiều quá không chơi thể thao, không tập thể dục, rồi đi tù, chịu đựng gian khổ, chịu đói triền miên, còn bốn tháng nữa là đủ 8 năm tù, cho nên sức khỏe không như trước kia được.

Như vậy, mà sống được tới ngày hôm nay, còn 6 tháng nữa đã tới 84 tuổi tây (tính tuổi ta là 85 tuổi) có phải là điều quá sức kỳ diệu không? Tạ ơn Chúa.

–         Có công việc làm để sinh hoạt tuổi già như trồng cây, đọc sách – Tôi có website để đưa bài lên và thỉnh thoảng viết vài bài – vậy là tôi có việc làm, rất vui rồi.

–         Có đủ tiền để sống không phải nhờ cậy con cái.

–         Có đủ sức khỏe để còn lái xe được, một tuần ba lần, còn có thể vô “24 Hour Fitness”, để đi bộ, để tập thể dục được là mừng lắm rồi.

–         Còn ăn uống, tự túc được, không phải nhờ người khác tắm rửa, đút cơm v.v… vậy là quý lắm rồi.

Làm sao biết được lúc nào mình sẽ ra đi. Ai ai rồi cũng phải chết. Sinh lão bịnh tử là qui luật của tạo hoá. Có sinh là có tử.

Tam đoạn luận “làm người ai cũng phải chết, tôi là người, vậy tôi phải chết” người ta cho rằng đó là câu nói của triết gia Socrates?

Cần gởi lại cho con cháu những tâm sự, những kỷ niệm, lời nhắc nhở, những lời khuyên, có lẽ tôi đã viết đầy đủ trong các bài viết, đã đưa lên Website “kẻ đi tìm” rồi.

Phùng Văn Phụng

Ngày 03 tháng 02 năm 2026


 

Vấn đề tự tử – Tác giả: Phùng Văn Phụng    

Tác giả: Phùng Văn Phụng    

Được tin một người bà con ở Việt Nam đã tự tử ở tuổi 81 (sinh năm 1944) ở Cần Giuộc, thứ năm ngày 4 tháng 12 năm 2025 làm lễ cầu siêu và hoả táng. Chị làm ăn được, chị buôn bán, chị thuộc thành phần khá giả trong làng. Chị có nhà cửa khang trang.   

Chị không thiếu thốn về tiền bạc. Nhưng tại sao chị lại tự tử.?

Chị tự tử bằng cách uống nhiều thuốc cảm và thuốc ngủ?, chị phải nằm nhà thương để điều trị hơn ba tuần lễ, nhưng bác sĩ không thể kéo chị ra khỏi tay tử thần.

Xung đột trong gia đình sinh ra quẩn trí đưa đến tự tử. Xin cầu nguyện cho linh hồn người đã mất.                                                                               

 *****

-Chị đang có vài thứ bịnh của tuổi già tuy nhiên điều quan trọng nhất đưa đến chị quyết định quyên sinh không phải là do các bịnh trên mà là vì do chị xung đột với con cái trong nhà, nên sinh ra cô đơn, buồn chán. Hơn nữa, chị cũng không có bạn bè thân để tâm sự?

Trầm cảm, buồn chán, bất mãn, dễ suy nghĩ tiêu cực, dễ đưa đến sự quyên sinh.

Khi gặp khó khăn về tinh thần hay đau đớn về thể xác, muốn có được tâm hồn bình an, có suy nghĩ tích cực, không phải ai cũng làm được. Cần phải có ơn Chúa, mới biết dâng lên Chúa những khó khăn đó, để cầu nguyện cho mình và cho người khác.

Nếu có đau đớn về bịnh hoạn hay đau khổ về tinh thần do bất như ý, con cháu làm phiền, sẽ biết dâng lên Chúa những khó khăn đó, để chia sẻ thông phần đau khổ của Chúa chịu tử nạn.  

Cha Chu Quang Minh có nhắc đến vấn đề tự tử: “Khi đang tự tử, nếu có tiếng động làm cho họ giật mình như con mèo chạy ngang qua hay có vật gì rớt xuống gây tiếng động, người muốn tự tử đó có thể sẽ tỉnh lại ngay và không muốn tự tử nữa”.

*****

Năm 1982 có người bạn tù, cấp bậc đai úy, ở K4 Vĩnh Phú, sắp được cho về vì có hồ sơ mỏng, nhưng đã tự tử chết. Tôi thuộc diện hồ sơ mỏng nên được thả về đầu năm 1983. Ai có hồ sơ dày di chuyển đi vào Nam ở tù thêm mấy năm nữa.

Tự tử là do stress mà ra, mất niềm tin không có cách nào giải quyết?

Stress cũng có nhiều nguyên nhân:Nghèo đói, thất nghiệp, thi rớt, thất tình (người yêu bỏ).

Tức giận người thân trong gia đình, không chịu đựng được những lời nói chê bai khinh khi, chỉ trích, xem thường của người thân (vợ chồng hay cha con)

Tin tức về tự tử thường xảy ra cho các em vị thành niên hay tuổi dưới 30. Lần này 81, 81 tuổi mới là vấn đề làm cho ta suy nghĩ?

1)Học sinh tự tử vì áp lực học tập

Theo nguồn tin từ VOV.VN , ngày11/07/2025, Đầu tháng 3 vừa qua, Khoa Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện E Trung ương tiếp nhận một bệnh nhân là nữ sinh 14 tuổi trong tình trạng suy nhược tinh thần nghiêm trọng. Em có biểu hiện suy giảm trí nhớ, khó tập trung, thường xuyên chán nản, tự trách bản thân và xuất hiện hành vi tự hại.

Qua quá trình thăm khám và trò chuyện, bệnh nhân cho biết, em chịu áp lực lớn vì phải giữ vị trí đứng đầu lớp trong thời gian dài. Điều này khiến em căng thẳng kéo dài, mất ngủ và dần rơi vào trạng thái chán nản.

Kết quả chẩn đoán của bác sĩ xác định, nữ sinh mắc hội chứng trầm cảm với ý tưởng tự sát, bắt nguồn từ những sang chấn tâm lý nghiêm trọng.

2)Tỷ lệ tự sát trong thanh thiếu niên ngày càng gia tăng

Thống kê, nếu như năm 2003, tỷ lệ có ý định tự sát trong thanh thiếu niên từ 14 – 25 tuổi là 3,4%, thì đến năm 2010 đã tăng lên 4,1%. Điều tra mới nhất do Viện Sức khoẻ tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) đưa ra năm 2020 cho thấy, trong số 6.407 học sinh ở lứa tuổi 11 – 17, có 11% cho biết có ý tưởng tự sát trong vòng 1 năm qua.

3)Vấn đề tự tử ở giới trẻ

“Áp lực học hành, bạo lực gia đình, lời nói của mọi người xung quanh v.v…”. Những lý do trên sẽ khiến trẻ bị rối loạn tâm lý, rồi từ từ ăn mòn lý trí.

Một ví dụ tiêu biểu chính là vụ án nam sinh cấp 3 nhảy từ tầng 28 chung cư xuống đất. Vào lúc 4 giờ 15 phút rạng sáng, công an đã phát hiện thi thể của một nam sinh lớp 10 ở trước chung cư Văn Phú Victoria. Cậu học sinh đã ra ban công chung cư của mình và nhảy xuống ngay trước sự chứng kiến của ba mình.

Chúng ta chỉ sống được một lần duy nhất trên đời. Nên hãy có ý chí và niềm tin mạnh mẽ về cuộc sống. Em thấy “trào lưu” tự tử ở giới trẻ là một mối đe dọa lớn cho xã hội cần phải được trừ khử và cải thiện không chỉ vì những đứa trẻ ở Việt Nam mà là ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ nụ cười của giới trẻ vì một tương lai tươi sáng.

4)Căng thẳng tâm lý và hành vi tự sát

Trên thế giới, cứ mỗi 40 giây lại có một người tự sát. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, mỗi năm có khoảng 10 đến 20 triệu trường hợp tự sát, trong đó có khoảng một triệu người chết. Việt Nam có khoảng 36.000 đến 40.000 người tự sát mỗi năm, trong đó 5.000 người chết do bệnh lý trầm cảm dẫn đến hành vi tự sát.

5)Những con số về thực trạng tự tử

*Tại Việt Nam, theo thống kê của WHO được trích và đăng tải trên Bệnh viện Tâm thần Trung ương, tỷ lệ tử tự năm 2015 là 5.87% trên 100.000 dân, có nghĩa là cứ trong 100.000 người sẽ có khoảng 5.870 người tử vong vì tự tử.

*Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc – UNICEF, hàng năm, trên thế giới có trên 800.000 người chết vì tự tử. Trong đó khu vực Đông Nam Á chiếm tỷ lệ cao nhất, với gần 40% tổng số vụ tự tử (WHO, 2016)       

Kết: Tự tử thông thường do cô đơn không có người để tâm sự. Họ thường là con người cầu toàn. Họ dễ bất mãn vì người thân không làm theo ý mình từ đó sinh ra bực dọc, khó chịu, sinh ra tress, ngủ không được và sinh ra quẩn trí, buồn chán, bất mãn, không còn tha thiết đến cuộc sống nữa và đưa đến việc tự tử.

-Trong cuốn sách “Truyện Một Tâm Hồn” trang 311, Thánh nữ Têrêsa viết: “Một chị kia hồ nghi lòng nhẫn nại chịu khó của Têrêsa, vào thăm thấy dung nhan thánh nữ tươi tỉnh niềm nở lạ lùng, chị muốn biết duyên cớ vì sao. Trinh nữ đã trả lời: “Em vui vẻ vì trong mình đang phải đau đớn lắm, em vẫn phải cố gắng yêu quí sự đau khổ và tiếp nhận đau khổ cách niềm nở tươi tỉnh”.

Linh mục Paul O’ Sullivan, O.P. có viết:“Những đau khổ sẽ cứu chúng ta khỏi những cực hình ghê rợn trong luyện ngục. Đau khổ nếu chịu cho nên, sẽ làm cho chúng ta trở nên những vị thánh.

Tác giả: Phùng Văn Phụng             

(tháng 12 năm 2025)