Thảm Trạng Gia Đình Tại Mỹ

Thảm Trạng Gia Đình Tại Mỹ

Sau 30-4-1975, như tất cả các Sĩ Quan QLVNCH còn ở lại miền Nam, bản thân tôi đã phải chịu hơn 6 năm tù cải tạo.

Trước khi có dịp định cư tại Hoa Kỳ, tôi đã nghe nhiều chuyện “dở khóc, dở cười” tại cái quê hương hợp chủng này, nên tôi luôn cẩn thận, chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng đối diện với thực tế.

Đặt chân đến Mỹ vừa tròn 3 tháng, thì gia đình tôi đã phải ứng phó với sự “kỳ thị” của “cô con dâu”!

Từ quê hương đau khổ, nghèo nàn, được sang một đất nước giàu mạnh, văn minh tột đỉnh, dân chủ thật sự, tự do nhất thế giới… thật là một phúc đức lớn lao! Nhưng niềm vui chưa trọn, thì chuyện buồn lại đến liên miên…

Vì con trai tôi sponsor, nên bước đầu gia đình tôi phải về ở chung tại San José. Tôi cũng đã sòng phẳng “trả tiền phòng” hàng tháng coi như “share phòng” hầu tránh phiền muộn về sau. Thế nhưng càng ngày tôi thấy “cô con dâu” càng tỏ ra “kỳ thị” với 3 đứa em chồng và thường sửa sai, gây gổ luôn cả chồng. Bà vợ tôi phải lo đi chợ nấu ăn cho cả nhà nên bận rộn suốt ngày! Thế mà chẳng được ơn mà còn bị oán.

Bạn hữu của cô con dâu thấy chuyện bất bình, đã lén gọi điện thoại lại báo cho chúng tôi. Cô ta nói với bạn, “Phải gắt gao với họ (chúng tôi) để chồng không dám giúp đỡ họ… và đoan chắc rằng họ chẳng bao giờ dám xa rời hoặc bỏ đi, vì lý do duy nhất là họ mới qua Mỹ, chưa có xe, không tiền thì phải chấp nhận đau thương thôi!”

Chịu đựng đau khổ được 3 tháng, vợ chồng tôi bàn nhau tìm đường “di tản”!

May mắn làm sao, chỉ vài hôm sau, một người bạn thân từ Dallas gọi sang và rủ chúng tôi qua. Thế là chúng tôi quyết định “move” sang Garland (Dallas) thuộc tiểu bang Texas.

Chúng tôi ra đi vì hạnh phúc của con trai tôi, tôi không muốn cái hạnh phúc của con bị sứt mẻ vì sự hiện diện của chúng tôi, và cũng để cho chúng tôi được an thân.

Thượng đế cũng thương nên qua Garland tôi tìm được việc làm tại hãng Mervyn. Làm “Machine Operator” được 3 tháng, thì nhận được “giấy” đi khám sức khỏe để vào permanent, nhưng vì vết thương chiến tranh còn để lại “nơi cột sống” nên tôi phải nghỉ việc.

Một lần nữa, gia đình tôi phải “move” đi tìm việc làm. Cuộc phiêu lưu vì “đô la” bắt đầu.

Chúng tôi di chuyển xuống Houston, một thành phố khá lớn, nằm phía Nam của Texas. Tại thành phố nghèo việc làm này, tôi cũng may mắn tìm được một job: lái xe đưa rước những gia đình H.O mới sang Mỹ đi học Anh ngữ ESL. Nhờ vậy, tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều bạn bè thuộc mọi giới trong xã hội để được tìm hiểu, học hỏi thêm kinh nghiệm.

Mỗi người một số phận, mỗi gia đình một hoàn cảnh, tuy nhiên đa số đều giống na ná nhau: khó khăn về ngôn ngữ, phong tục tập quán, trong gia đình thì vấn đề con cái đã trở nên nghịch lý.

Tôi chỉ biết lấy kinh nghiệm của người đến Mỹ trước, an ủi tất cả anh em để họ có đủ niềm tin và an tâm, hầu vượt qua được bước “khởi đầu nan”! Và tôi đã đi thấy nghe, hoặc chứng kiến, nhiều chuyện “cười ra nước mắt”!

Tháng 5/95 tôi có dịp giúp đưa một người bạn là chị H. đến “viện dưỡng lão” để thăm “bà cô chồng”.

Bà cô trong “Viện Dưỡng Lão” là một bà cụ đã 89 tuổi nhưng vẫn còn nét đẹp lão quí phái. Tóc trắng cả mái đầu, mắt vẫn còn long lanh, trong sáng. Bà đọc báo không cần mang kính lão. Bà chỉ có một khuyết tật nhỏ là hơi lãng tai. Khi tiếp xúc với Bà chỉ viết trên giấy để bà đọc, và bà trả lời rất rõ ràng.

Lần đầu đi với chị H, và sau khi chị H trở về Cali, chúng tôi vẫn đến thăm bà ta những khi rảnh rỗi và rồi được bà kể là bà lập gia đình năm 19 tuổi, đến năm 24 tuổi thì ông nhà mất, để lại 3 đứa con, mà đứa con gái út chỉ mới lên 2 tuổi!

Góa chồng ở lứa tuổi 24, tuy vẫn còn trong độ thanh xuân, nét mỹ miều còn làm bao thanh niên trong Quận theo đuổi, nhưng vì thương con, thương chồng, bà quyết ở vậy nuôi ba đứa con đến ngày khôn lớn.

Bà tần tảo mua bán, lập nghiệp từ một ít vốn của ông chồng để lại. Sau đó bà làm chủ 2 tiệm vàng tại quận TB thuộc tỉnh Tây Ninh.

Ngày 30/4/75 miền Nam thất thủ. Thời thế đổi thay. Bà cùng 2 con gái di tản sang Hoa Kỳ. Dù tuổi đời bà đã 69 tuổi. Quyết định bỏ cả ruộng vườn nhà cửa và chỉ mang theo 03 bao cát vàng.

Đến cuối năm 1975, bà ta và 2 con được phép định cư tại Texas.

Qua năm 76, dù mới định cư chưa được 1 năm nhưng với số vàng sẵn có trong tay, bà quyết định mua một ngôi nhà để cho con gái út (còn gọi là Út Thơm) và chồng cùng các cháu an cư rồi sẽ lập nghiệp, và các cháu được an tâm học hành.

Sau 9 năm, hai cháu ngoại đã tốt nghiệp Đại Học. Một là Bác Sĩ, một là Dược Sĩ…

Khi thấy cháu ngoại dự trù mở phòng mạch mà không có tiền, bà đã không do dự, mà còn khuyến khích, hỗ trợ bằng cách trao lại cho Út Thơm tất cả tài sản còn lại của Bà để Út Thơm lo cho cậu con bác sĩ có được phòng mạch…

Theo bà nghĩ sở dĩ trước đây bà giữ số vàng mang theo là vì sợ con, cháu ỷ lại, tiêu pha hết. Không còn để phòng thân khi hữu sự. Nay, các cháu đã thành tài. Bà không cần lo nữa và an tâm sang luôn tên nhà, giao hết của cải cho Út Thơm.

Một tuần lễ sau đó, Út Thơm cùng chồng và 2 con tổ chức đãi mừng Ngoại 79 tuổi và Út Thơm cùng chồng ngỏ ý đưa Bà đi nghỉ mát vùng xa… đổi gió. Bà ngập ngừng suy nghĩ nhưng vì 2 cháu năn nỉ thêm, nên miễn cưỡng bằng lòng cho gia đình được vui!

Sáng thứ bảy, cả nhà dậy sớm lo cho Bà ăn sáng, quần áo và vật dụng thường dùng. Hai cháu ngoại dìu Bà ra xe để lên đường. Ngồi trên xe khoảng 30 phút, xe dừng trước một tòa nhà lớn lao, sang trọng.

Tại đây, Bà được Bác Sĩ Mỹ khám bệnh trước khi đi chơi xa. Khám xong, Út Thơm vui vẻ bảo với Bà bác sĩ nói sức khỏe Mẹ rất tốt, ngoại trừ chỉ bị hơi lãng tai thôi! Sau đó Út Thơm dìu Bà lên phòng khách ngồi, mang cho Bà lon trà ướp lạnh, rồi bảo: “Mẹ uống nước chờ con vào trong thanh toán tiền cho Bác Sĩ, xong con trở ra chở Mẹ đi.”

Ngồi chờ suốt mấy tiếng đồng hồ, Bà sốt ruột nên đi tìm. Chẳng thấy cô Út ở đâu! Bà bắt đầu lo sợ…thì xuất hiện cô y tá người Mỹ đến nói gì Bà chẵng hiểu và dẫn Bà vào phòng ăn. Đến nơi nhưng Bà không ăn, nhìn quanh toàn là những bà Mỹ già, chẳng có người VN và cũng chẳng có ai quen.

Bà gọi tên Út Thơm… nhưng vô vọng! Bà chạy ra ngoài nhưng nhân viên trực không cho Bà đi. Bà la, khóc và nói thật nhiều nhưng chẳng ai hiểu Bà, vì Bà chưa hề biết tiếng Mỹ.

Bắt đầu từ đây, Bà phải sống với bao nhiêu cực hình mà đám y tá Mỹ trắng, Mỹ đen rất bạc đãi, đôi khi còn xô đẩy Bà nữa!

Khi tôi đến thăm thì Bà đã ở đây được 9 năm, tuổi đã 88 tuổi. Suốt 9 năm dài, Út Thơm, con gái Bà không bao giờ trở lại thăm mẹ. Con cháu Bà, tuy phòng mạch ở downtown cách nơi đây chỉ 20 phút lái xe, cũng chẳng hề thăm viếng!

Gặp chúng tôi Bà vẫn còn sáng suốt. Bà yêu cầu chúng tôi giúp cứu Bà ra khỏi trại Dưỡng Lão này, liên lạc giùm với em trai của Bà, hy vọng sẽ đưa Bà trở về quê hương. Nhưng, than ôi, chúng tôi cũng như em trai Bà tất cả phải bó tay. Vì luật của Hoa Kỳ là ai gởi Bà vào thì chính người đó mới có quyền lãnh ra. Em trai Bà là cậu ruột của Út Thơm, đã có lần đến gặp Út Thơm để yêu cầu cô lãnh Bà ra giao cho gia đình Ông nuôi. Chẳng những bị Út Thơm xua đuổi, ông cụ còn bị gia đình Út Thơm hăm gọi cảnh sát vì chen vào nội bộ gia đình cô!

Từ lúc hiểu được hoàn cảnh của Bà, chúng tôi thường dành thì giờ đến thăm Bà. Mang quà bánh biếu, Bà không ăn. Biếu tiền, Bà không nhận. Bà nói Bà tuyệt thực và cầu nguyện ơn trên cho Bà chết sớm. Từ hơn 2 năm rồi, Bác Sĩ ra lịnh bắt Bà ngồi xe lăn, nên đến nay Bà không đi đứng được nữa.

Giữa năm 1995, vì tôi bị thất nghiệp nên phải move đi tiểu bang khác. Mãi đến năm 1998, chúng tôi trở về Houston thăm Bà ta…nhưng, tiếc thay Bà đã vĩnh viễn lìa bỏ cái “địa ngục xa lạ” này, ra đi trong cô quạnh. Hết một kiếp người!

Hình ảnh bà cụ bị con cháu bỏ rơi trong viện dưỡng lão làm tôi trăn trở mãi. Mỹ quốc là một siêu cường quốc, có nền văn minh và phát triển cao nhứt thế giới, nơi có đủ thứ luật lệ bảo vệ con người. Một xứ xở tốt đẹp như thế, tại sao đạo lý lại không được quan tâm” Phải chăng đây là nơi suy tàn của đạo lý gia đình Việt Nam”

Công Cha như núi bỏ hoang!

Nghĩa Mẹ như nước lụt tràn lối đi!

Nhớ bà cụ đã mất. Thương chính thân thế gia đình mình, tôi không muốn tin điều ấy là có thực. Đành chỉ còn biết cầu mong cho các thế hệ tương lai không còn thảm cảnh này. 

Nam Huỳnh

From: Lucie 1937

TINH THẦN QUỐC DÂN CỦA NGƯỜI NHẬT QUA CHUYỆN “NGƯỜI PHU XE HIẾM CÓ”:

Huy Chiêu shared a post.

Một câu chuyện của Phan Bội Châu.
Nếu là ở Việt Nam chắc cụ bị chặt chém hết đường đỡ rồi.
Nước Nhật vĩ đại từ những điều nhỏ nhất, thật khâm phục

Image may contain: sky, outdoor, nature and water

Những câu chuyện thú vị

TINH THẦN QUỐC DÂN CỦA NGƯỜI NHẬT QUA CHUYỆN “NGƯỜI PHU XE HIẾM CÓ”:

Cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm hành phí để lên Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, quê Vân Nam có tên Ân Thừa Hiến. Xuống khỏi xe lửa, 2 người gọi một phu xe và đưa danh thiếp “Ân Thừa Hiến” ra. Người phu không biết chữ Hán bèn đi tìm một đồng nghiệp khác biết chữ. Người này viết chữ trao đổi: “Bạn tôi không thông chữ Hán nên tiến tôi với các ông. Tôi biết chữ Hán nên nếu muốn đi đâu, các ông cứ viết chữ ra là tôi đưa các ông tới”.

Nói rồi, người phu đưa 2 ông tới Chấn Võ Học Hiệu, hỏi học sinh Ân Thừa Hiến. Té ra anh này đang thuê nhà nơi khác chờ qua năm, không ai biết ở đâu.

Người phu xe nghĩ một lúc rồi kéo xe vào bên đường và nói: “Các ngài hãy cứ chờ tôi ở đây vài ba tiếng, tôi đi tìm chỗ ở của người đó, rồi sẽ quay lại”.
Đứng chờ từ 2h đến 5h chiều, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ nghĩ, Tokyo quá rộng, lữ quán có muôn nhà, tìm chỗ ở một học sinh Tàu, gốc Vân Nam chỉ biết tên thiệt không lấy gì làm chắc, nếu cùng một nết với dân Việt, e sẽ khốn nạn với vấn đề tiền nong… Ai dè sau 3h, anh phu xe mừng rỡ chạy về, dắt hai người đi thêm 1 tiếng, đến một lữ quán có treo biển với hàng chữ “Thanh quốc Vân Nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến”.

Giờ mới hỏi đến tiền công, anh phu nói: “Hai hào năm xu”.

Phan Bội Châu làm lạ, rút một đồng bạc ra trao và tỏ tấm lòng đền ơn. Người phu xe đáp lại khảng khái: “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ nhà ga Tokyo đến nhà trọ này, giá xe chỉ có ngần ấy. Vả lại các người là ngoại quốc, yêu mến văn minh nước NHẬT mà đến đây; Vậy ta nên hoan nghênh các vị, chứ không phải hoan nghênh tiền bạc đâu. Bây giờ, các người cho tôi tiền xe vượt quá lệ, thế là khinh bạc người NHẬT BẢN đó!”.

Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ tạ ơn người phu xe đáng kính, lòng thêm tủi!
Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta xem với người phu xe Nhật Bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao!
(Tự phán, Phan Bội Châu)

*** Tại đây có nhiều câu chuyện thú vị! Hãy để lại biểu cảm để tôi biết bạn đã đọc. Bạn có thể Share nếu muốn!!!

ĐÁI ĐƯỜNG – CÁM ƠN NƯỚC MỸ

ĐÁI ĐƯỜNG –
CÁM ƠN NƯỚC MỸ

Dương Lan Chi

Tôi là một bà già quê dốt đặc cán mai, nửa chữ bẻ đôi mà hỏi tui còn hổng biết, làm sao mà nói được tiếng Mỹ.
Những người quen biết, ai gặp tui cũng hỏi thăm sao tui hay quá vậy.
Thật ra, chuyện tui “tự nhiên “ được chữa khỏi con mắt bị hỏng, lãnh
tiền trợ cấp và được ở nhà housing thiệt hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của tui và tất cả những người quen biết với tui.

Tui qua Mỹ theo làn sóng vượt biên, cũng nhờ gia đình tui làm nghề đánh cá, một chiếc tàu vượt biên lớn sợ “bể” đã cho tui đi “chùa” nghĩa là không phải đóng “cây”.

Thuyền tui đi lại gặp may nên chẳng
gặp một thằng cướp biển nào, khi đến đảo lại được “bốc” vô Mỹ rất nhanh.
Thế là tui được ở một đất nước mà mọi người đều mơ ước.

Tui nghe nói nhiều người có tiền mà đi hoài không được, nhiều khi còn bị bắt giam cả mấy năm, ở tù phải lao động cực khổ không thua mấy ông sĩ quan học tập cải tạo.

Một hôm, cũng như mọi ngày, tui đi bộ để vừa chiêm ngưỡng những nhà cửa sang trọng với những bãi cỏ xanh và đủ loại hoa đẹp rực rỡ như cảnh tiên.

Đang đi bỗng mắc đái không chịu được, sẵn thấy chân cầu có vẻ kín đáo, tui bèn bước vội đến đó, nhìn trước nhìn sau thấy coi bộ hổng có ai dòm, chỉ có xe hơi chạy nườm nượp hàng hàng lớp lớp, yên chí lớn, ai mà thèm dòm đít bà già. Thì tui đã quen làm như vậy khi ở
Việt Nam mà!

Tui ung dung ngồi chồm hỗm xuống, khoai khoái dễ chịu vô cùng. Vừa
đứng lên thì xe cảnh sát ở đâu bất ngờ trờ tới, thắng nghe một cái réec, ra dấu biểu tui để hai tay lên xe, tui vừa để lên thì nó lấy hai tay tui bẻ quặt ra đàng sau, tui nghe một tiếng “cắc” rồi cảm thấy hai cổ tay lạnh ngắt, thì ra tui đang bị còng tay.

Tui sợ điếng người nhưng đành chịu vì có biết tiếng Mỹ nào đâu mà nói với chẳng nói. Mấy ổng dìu tôi vô xe, thật ra mấy ổng vừa dìu vừa đẩy thì đúng hơn vì tui thấy sợ quá, không muốn vô xe cảnh sát chút nào.

Mấy ông cảnh sát đưa tui tới một chỗ gì mà thấy rùng rợn lắm, chỗ nào cũng có máy móc thấy ngộp, muốn xỉu.

Một ông đi đâu một hồi rồi trở lại với một ông khác, nhìn thấy ông này tui càng sợ hơn vì ổng mặc cái áo choàng màu xanh và lại còn đeo mặt nạ màu xanh, không biết họ sẽ làm gì tui đây! Tự nhiên tui nổi gai ốc khắp người.

Ông mới ra dấu biểu tôi nằm vô giữa máy rồi ấn hết nút này đến nút khác, một hồi cái đầu tui bị kẹp chặt, tui cố cựa quay mà hổng ăn thua gì. Tui nhắm mắt lại thật chặt, bụng nghĩ là chắc tụi nó cho tui lên máy chém, tui niệm Chúa niệm Phật lung tung. Biết vậy thà ở Việt Nam cho sướng hơn, muốn đái đâu cũng được, cùng lắm thì bị chọc quê chứ làm gì mà tới phải lên máy chém!

Nhớ lại hồi còn ở Việt Nam, mỗi lần đi xe đò, lâu lâu xe đậu lại là mấy ông mấy bà mạnh ai nấy đái: mấy ông thì cứ đứng đái đại lề đường, còn mấy bà thì kiếm lùm cây.

Tui tưởng mình đã chết, chợt nghe hai bên đầu được nới rộng dần, rồi có người lay tôi dậy. Thì ra tui vẫn còn sống! Để chắc ăn, tui lắc thử cái đầu và sờ vào cổ không thấy máu me gì cả. Hú hồn!

Rồi có một người Việt Nam đến, ông ta tự giới thiệu là thông dịch, họ đua nhau hỏi tại sao tui có sẹo trên mặt phía trên con mắt bên phải, họ nói trong óc của tui có dấu vết tổn thương nặng. Hèn chi tui nhức đầu hoài. Họ hỏi tui nhiều câu lắm. Tui giải thích là do bị VC đánh bằng báng súng trong lúc họ đuổi tui đi kinh tế mới mà tui hổng chịu, tui cho họ biết con mắt phải của tui bị hư là do lần bị đánh đó.

Kết quả gởi về tận nhà cho biết tui bị thần kinh và bị mù một mắt.

Họ còn gởi cho tui nhiều giấy tờ khác nữa. Nhờ những giấy tờ này mà sau
này tui được hưởng đủ thứ giúp đỡ: được Mỹ chữa khỏi con mắt bị hư,
được cấp thuốc uống không mất tiền, rồi lại còn được ở nhà housing đến
bây giờ, mỗi tháng tui còn được lãnh một món tiền nho nhỏ, tui xài tiện tặn, lâu lâu gởi về chút đỉnh cho bà con, hàng xóm.

Nếu tui còn ở Việt Nam thì giờ này vẫn còn ngày hai bữa ăn cơm với rau
muống luộc chấm nước mắm, một giỏ cá nục phải chia ra ăn cho đủ hai
ngày.. Con mắt của tui làm gì mà có tiền chữa, mà có tiền chưa chắc đã
chữa được. Cái đầu của tui bây giờ không còn bị giựt giựt như trước khi được Mỹ mổ. Thiệt không uổng công tui vượt biên đi Mỹ chút nào.

Nhưng xin bà con đừng bắt chước tui mà đái ngoài đường à nghen! May mà
họ tưởng tui điên. Người không điên làm sao dám làm chuyện đó ở xứ văn
minh lịch sự này! Tui nghe người ta nói tội đái bậy bị phạt rất nặng mà còn bị ghi vào lý lịch suốt đời.Nước Mỹ có nhà vệ sinh sạch và tiện nghi lắm, bởi vậy nên nó được đặt tên là “Rest room” là “nhà để nghỉ” đó mà.
Nghe nói đi xa vài chục dặm là có một “rest area” để khách du lịch đi vệ sinh và nghỉ ngơi thoải mái không những thế còn có những bàn ghế bằng đá, có thùng đựng rác khắp nơi và nhất là có phong cảnh rất hữu tình. Vậy thì đái bậy bị phạt nặng cũng phải.
Tui cũng muốn nói thêm điều này, vì đây là điều tui rất khoái:

Người nào đến xứ Mỹ cũng biến thành người lịch sự, đi đâu làm gì cũng “get
line” chớ không có thói quen chen lấn như ở nước mình nên bà con cứ yên tâm. Tui bây giờ cũng lịch sự lắm.

Mỗi lần kể chuyện này, tui chỉ muốn đi tìm lại hai ông cảnh sát Mỹ để nói lời cám ơn đã còng tay tui lúc đó. Nếu không thì làm gì tui có ngày nay.

Dương Lan Chi ( Tác giả )

(Sống Mỹ còn được hưởng nhiều cái hay hơn nữa , xin kể một vài , con cái bắt buộc phải đi học – cấp trung và tiểu hoc –
(trong giờ học – và không phải kỳ nghỉ hè) , mà con nhà ai lang thang ngoài đường , cảnh sát sẽ ” hỏi thăm sức khỏe ” cha mẹ …..
Học xong trung học , muốn học Đại học , nếu nghèo , có thể vay tiền ,sau này đi làm trả lại . v…v…
Vậy mà mấy ông Việt Công lô loa trên internet là : sống ở Mỹ không đáng sống . Sống ở quốc nội hay hơn !? . Trong khi đó , mấy quan chức VC đã lo sắm sửa từ lâu mua nhà mua cửa , gởi con cái đi du học Mỹ rồi ! Nghĩ tội nghiệp cho mấy khối óc tự ti mặc cảm ! )

Chuyện để đời

Chuyện để đời

Chuyện xảy ra trong buổi lễ tốt nghiệp cho các Bác sĩ ở Anh năm 1920, có sự tham dự của Thủ tướng Anh thời đó. Trong buổi lễ, như thông lệ, trưởng khoa đứng lên chia sẻ kinh nghiệm với những sinh viên mới ra trường. Lần này ông kể về một sự cố đã xảy ra với ông: “lần ấy đã quá nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng gõ cửa nhà mình. Khi mở ra tôi thấy một phụ nữ lớn tuổi đang hoảng hốt và bà nói với tôi: “Ôi bác sĩ ơi, con tôi đang bệnh rất nghiêm trọng, xin ông hãy cứu nó”!

Tôi vội chạy ra theo bà ta đến nhà họ mà không kịp nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra. Hôm đó là một đêm giông bão và rất lạnh, trời mưa như trút, lái xe rất nguy hiểm nhưng tôi không kịp lo cho mình nữa.

Nhà bà ta ở ngoại ô Luân Đôn, và sau một hành trình khó khăn, chúng tôi mới tìm đến nơi. Bà sống trong một căn phòng nhỏ với con trai. Khi bước vào phòng, tôi thấy cậu bé nằm trên giường kê ở góc phòng và đang rên rỉ vì đau đớn.

Sau khi tôi khám và kê đơn cho đứa trẻ người mẹ đưa cho tôi một ít tiền. Tôi từ chối và nhẹ nhàng nói với bà rằng tôi không thể nhận vì họ cần chúng hơn tôi nhưng tôi sẽ chăm sóc con bà cho đến khi cậu bé khỏe lại. Trưởng khoa kết thúc bài diễn văn bằng câu:

“Đây chính là cách hành nghề y thực sự vì trở thành Bác sĩ tức là đến gần nhất với Lòng Nhân Ái và là một trong những nghề nghiệp gần gũi nhất với Thiên Chúa”!

Ngay khi Bác sĩ trưởng kết thúc bài phát biểu của mình, Thủ tướng đã bước ra khỏi chỗ ngồi và tiến lên bục giảng.

Ông nói với Trưởng khoa: “Hãy cho phép tôi được hôn tay ông. Tôi đã tìm ông suốt hai mươi năm nay vì tôi chính là đứa trẻ mà ông đã cứu trong câu chuyện vừa rồi. Ôi, mẹ tôi sẽ hạnh phúc và yên lòng yên nghỉ.. Trước khi lâm chung bà đã tha thiết yêu cầu tôi đi tìm ông để cảm tạ lòng tốt của ông với chúng tôi khi chúng tôi rơi vào cảnh nghèo khổ”.

Đứa trẻ đáng thương ngày nào chính là Sir Lloyd George, người đã trở thành Thủ tướng Anh!

(st)

From: levugiao & NguyenNThu

  Chết vì “Chùm Khế Ngọt”  

Một chuyện có thật

  Chết vì “Chùm Khế Ngọt”  

Trương Thế Phát là một thương gia trẻ ở kinh đô Thăng Long. Ông có tàu bè chở hàng đi buôn bán ờ trong và ngoài nước. Khi quân Pháp tiến đánh thành Hà Nội, và chiếm Bắc Ninh, Thái Nguyên, ông lên tàu đem gia đình ra ngoại quốc. Sau bao ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình ông đến Xiêm La (Thái Lan), rồi định cư tại đây. Nhờ có tàu bè, ông mang theo một mớ gia sản nên khi qua Xiêm ông đã có sẵn một gia tài. Với tài kinh doanh, ông đã gây dựng một sự nghiệp khá lớn, gồm các cửa tiệm kim hoàn, cửa tiệm vải vóc lụa là, và Trà thất Mây Tần.

Là một nhà kinh doanh, công việc bận rộn, nhưng òng luôn thương nhớ quê hương. Ông nhớ Hà Nội ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô xưa. Ôi! Những cô gái hàng Đào, hàng Bạc… má đỏ, môi hồng, quần điều, áo lụa trắng, đeo xà tích bạc. Ông nhớ cốm Vòng, nhớ phở, nhớ xôi và bánh cuốn Hà Nội. Ông nhớ Hồ Gươm, hồ Tây, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột… Xiêm La có nhiều chùa lớn và nhiều lễ hội nhưng không đâu bằng hội chùa Hương… Ông nhớ những bài hát ru, những điệu quan họ. Xiêm La có nhiều trái cây nhưng không bằng nhãn, vải, cam, quít… Hà Nội. Ở Xiêm La ông có nhiều bạn mới, nhưng lòng ông vẫn nhớ nhung các bạn Hà Nội và những kỷ niệm thời ấu thơ. Nhất là buổi đầu, ngôn ngữ bất đồng, phong tục khác biệt làm cho ông chao đảo như con thuyền không lái. Lúc bấy giờ nhiều người trong nước cũng bỏ nước ra đi. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết, một lý tưởng cao siêu là khôi phục đất nước, giải phóng dân tộc. Có nhiều nhóm hoạt động. Họ từ trong nước ra. Họ cũng từ Trung Quốc, Nhật Bản sang Xiêm hoạt động. Họ ở lại Xiêm mà cũng có người đi qua, đi lại. Tuy là nhiều tổ chức khác nhau, tựu trong có hai nhóm. Một nhóm thuộc phe quốc gia, một phái thuộc phe quốc tế.

Trà thất Mây Tần do con trai của ông là Trương Thế Đạt trông coi, còn các tiệm khác thì do phu nhân, con trai thứ và các con gái ông quản lý. It lâu sau, Trương Thế Phát mất, cơ nghiệp truyền lại cho phu nhân và các con. Trương Thế Đạt tiếp tục kinh doanh Trà thất Mây Tần.

Trà thất Mây Tần ở thủ đô Bangkok là một nơi trai thanh gái lịch lui tới tấp nập. Không những người Xiêm La mà người Cao Miên, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ đều thường xuyên tới uống trà, và thưởng thức ca vũ nhạc. Một hôm, có mấy người khách Á Đông tới trà thất Mây Tần uống trà, uống rưọu, Trương Thế Đạt nhận ra có một số khách là người Việt Nam. Ông bèn tới chào hỏi, mới biết họ quả là người Việt Nam. Nghe giọng nói của họ, ông nhận ra họ là người Bắc, người Trung, và người Nam. Ông hỏi thăm họ thì họ cho biết họ qua đây lập nghiệp. Trương Thế Đạt rất vui mừng khi gặp lại đồng bào Việt Nam. Tâm trạng hai bên thật vui vẻ như câu thơ “Thiên lý tha hương ngộ cố tri”. Họ hỏi ông tại sao đặt tên trà thất là Mây Tần. Ông nói ông rất yêu quê hương, lòng luôn nhớ băm sáu phố phường Hà Nội. “Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa”.

Dần dần, hai bên quen nhau, Trương Thế Đạt mời họ về nhà chơi. Kể từ đó hai bên liên lạc thân mật. Sau một thời gian, khách hiểu rõ gia đình Trương là một gia đình yêu nước, vì không cam tâm làm tôi tớ bọn ngoại xâm mà bỏ nước ra đi. Vì quen thân, họ cũng cho biết họ thuộc đảng cách mạng tiến bộ Việt Nam, được thế lực quốc tế như Liên Xô, Trung Quốc yểm trợ, thế lực rất mạnh, bám rễ trong và ngoài nước, có mục đích bài phong đả thực, xây dựng một xã hội công bằng tự do, người không bóc lột người. Đảng có Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hùynh Thúc Kháng tham gia, và có khoảng mười triệu đảng viên. Lực lượng đảng trong nước đã vùng lên như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám đã chiếm được nhiều tỉnh trong nước, giết vô số thực dân Pháp. Trương Thế Đạt nghe họ nói vậy cũng tin tưởng, ủng hộ cho họ một số vàng để làm quỹ hoạt động cứu quốc. Trương Thế Đạt mất, con trai là Trương Thế Vinh nối nghiệp cha kinh doanh trong ngoài, và ông cũng giữ mối liên lạc với tổ chức quốc tế, và cũng đóng góp vàng bạc cho họ. Trà thất Mây Tần và nhà của Trương Thế Vinh trở thành nơi ẩn náu và hoạt động của đảng cách mệnh. Ông được chi bộ đảng khen ngợi là “nhân sĩ yêu nước”, và những Việt kiều ở Thái Lan theo cộng sản được gọi là “Việt kiều yêu nước”. Gia đình Trương Thế Vinh đã được chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi giấy ban khen là gia đình yêu nước, đã có công với cách mạng.

Sau 1945, Đe Nhị Thế Chiến chấm dứt, Việt Minh cướp chính quyền. Một số dân chúng vì nạn đói, vì sợ cộng sản và thực dân Pháp nên đã bỏ nước sang Lào, Miên, Xiêm La, hoặc Pháp. Những người Việt Nam sinh sống tại Xiêm La ngày càng đông, và những người theo phe cộng sản càng mạnh. Năm 1954, hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam. Nước “Việt Nam Dân chủ cộng hòa” giao thương với Xiêm La tức Thái Lan, và đặt tòa đại sứ tại Bangkok. Những đảng viên cộng sản Việt Nam ra mặt công khai hoạt động. Họ ra sức vận động “Việt kiều” tại Thái Lan về xây dựng đất nước. Chính sách này cũng được phát triển nhiều nơi như Pháp, Lào, Miên…

Họ bảo “đất nước ngày nay cần nhiều bàn tay đóng góp. Việt Nam nay đã tiến lên xã hội chủ nghĩa, nông dân có ruộng cày, thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho bọn phú nông địa chủ; xã hội bây giờ không còn nạn người bóc lột người. Sinh viên học sinh được tự do học hành, không phài đóng học phí mà còn được chính phủ nuôi ăn học, cấp sách vở cho đến khi thành tài. Trong nước ai cũng có công ăn việc làm, không ai thất nghiê.p. Họ gửi tặng ông nhiều sách báo, có nhiều thơ ca, âm nhạc và tiểu thuyết ca ngợi sự lãnh đạo tài ba của đảng và chính phủ”. Trương Thế Vinh tuy sinh tại Thái Lan, nhưng được nghe cha ông ca tụng về con người và đất nước Việt Nam, nay lại được nghe thêm những lời tuyên truyền của cộng sản nên càng thêm yêu nước, và càng nhớ quê hương. Ông luôn luôn mở đài Hà Nội, và những bài thơ, bản nhạc đã gieo vào lòng ông tình yêu quê hương, tổ quốc.

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Là hương hoa đồng cỏ nội

Bay trong giấc ngủ đêm Hè”

Lúc bấy giờ công việc buôn bán ngày càng khó khăn khiến Trương Thế Vinh chán nản. Nay được “cán bộ” cộng sản kêu gọi và khuyến khích, vì vậy ông quyết định trở về góp sức xây dựng quê hương. Ông nay được ban khen là “gia đình có công với cách mạng”. Nếu về Việt Nam chắc ông sẽ được đảng và nhà nước quý trọng. Con đường tương lai rộng mở trước mắt ông.

Ta về ta tắm ao ta!

Ông muốn trở về tắm ao ta, về làm người hùng cứu nước, còn hơn là sống ở quê người, dù là triệu phú cũng có mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, kẻ lưu đày, là công dân bậc hai! Ôi! Nước ta nay đã độc lập, không còn bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương. Vì thực dân Pháp mà nhân dân ta khốn khổ điêu tàn. Vì thực dân Pháp mà tổ phụ ông phải bỏ quê hương mà đi. Nay là một dịp để ông trở về quê hương, về 36 phố phường Hà Nội và năm cửa Ô xưa! Tình yêu quê hương không còn là một mớ tình cảm bâng khuâng mà đã biến thảnh sự thực. Ông lo bán nhà cửa, hàng hóa và các cơ sở kinh doanh thu được năm trăm lượng vàng và mười ngàn đô la Mỹ. Sau khi đã thanh toán mọi thứ, ông đã “đăng ký” mua máy bay trở về Hà Nội thân yêu. Nhưng toà đại sứ Việt Nam CS tại Thái Lan đã lo mọi sự. Tất cả “Việt kiều” tại Thái Lan sẽ cùng nhau về Việt Nam bằng đường hàng không sang Cambodge rồi từ đó sẽ đi xe ô tô hay máy bay về Việt Nam.

Sau khi đoàn “Việt kiều” Thái Lan về đến Cambodge, họ được chuyển ngay lên xe ô tô Liên Xô là loại xe bốn bề kín mít chở ngay về Quảng Bình Việt Nam. Khi về đến biên giới Việt Nam, cả đám được cán bộ cộng sản đeo súng yêu cầu xuống xe để vào một trung tâm, bốn bề rào kín và có lính gác. Họ bảo: “các Việt kiều tạm ở lại đây một thời gian để học tập đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước” . Họ ra lệnh các Việt kiều tập họp lại, gia đình nào theo gia đình đó. Họ bảo “mọi người không được ra khỏi trung tâm nếu không được trung tâm cho phép” . Họ đưa mọi người vào hội trường. Viên “thủ trưởng” tỏ ra rất lịch sự. Ông nói:

“Chào các đồng bào và các đồng chí, Hôm nay tôi xin thay mặt mặt đảng và chính phủ chào mừng những người con yêu trở về tổ quốc.”

Ông vừa dứt lời, mọi người vui vẻ hoan hô, tiếng vỗ tay nghe vang như tiếng pháo. Tiếp theo, ông nói:

“ Thưa các đồng chí và đồng bào, “Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những người ngoại quốc đã ước mơ trong một đêm được trở thành người Việt Nam. Các đồng bào và đồng chí nay đã thành người nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.Trước tiên, yêu cầu mọi người giao nộp thẻ căn cước, thẻ quốc tịch và khai sinh ngoại quốc để Nhà nước làm thủ tục hành chánh.”

Ông nói xong thì lui bước, để cho một đại biểu khác lên tiếng yêu cầu đồng bào làm bản tự khai hồ sơ, lý lịch, nhất là phải kê khai vàng bạc, kim cương, hạt xoàn và đô la. Trong khi mọi người tập trung ở hội trường, cán bộ cộng sản đã vào khám xét hành lý của Việt kiều. Những ai có chìa khóa va ly hay khóa các hộp kín, họ đến bảo nhỏ giao nộp chìa khóa cho họ làm thủ tục kiểm tra. Ngay hôm đó, họ bắt mọi người giao nộp vàng, kim cương, nữ trang và đô la.

Ông cán bộ nói:

“Đảng sẽ giữ tài sản cho họ vì sợ bọn biệt kích Mỹ ngụy cướp của giết người.. Cứ yên tâm đưa chính phủ giữ dùm, rồi chính phủ sẽ trả lại cho các gia đình sau khi tình hình đã được ổn định.”

Tiếp theo, mọi người làm thủ tục y tế. Mọi người phải vào phòng kín, cởi hết áo quần để y sĩ khám xét. Không thử máu, không nghe tim mạch, mà chỉ khám tổng quát. Thủ tục này thì cũng nhanh thôi, ngoại trừ những ai còn cất giấu tài sản trong người là bị tịch thu và bị phê bình, kiểm thảo. Các gia đình Việt kiều được cán bộ rút sổ tay, xé giấy viết biên nhận bằng những tờ giấy vàng úa xấu xí với những giòng chữ nghệch ngoạc, không rõ chữ viết và con số, và cũng không ghi ngày tháng, chữ ký và tên người nhận:

….Đã nhận 300 miếng kim loại bề ngoài màu vàng… Đã nhận một ngàn tiền nước ngoài… Đã nhận hai mươi viên đá nhỏ óng ánh…

Đến đây thì các Việt kiều biết mình đã lầm, đã mắc gian kế. Họ cũng như Thúy Kiều trong ngày đầu gặp Mã Giám Sinh đã kêu lên:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày

Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già!

Vài ngày sau, các “Việt kiều” được “phân phối” về các thôn xóm ở miền Bắc. Gia đình Trương Thế Vinh được “phân phối” về một làng ở Quảng Bình. Ông chất vấn cán bộ:

– Chúng tôi xin về Hà Nội là quê hương của tôi và đã được tòa đại sứ Việt Nam ở Bangkok chấp thuận. Nay sao các ông lại bắt tôi về Quảng Bình?

Tên cán bộ trong “ban Việt kiều yêu nước” nói:

”Nay chúng ta đang xây dựng Hà Nội thành một thủ đô to lớn và văn minh hơn mười lần xưa. Hà Nội tương lai sẽ có những tòa cao 40-50 tầng, vĩ đại hơn Mỹ. Vi là xây cất chưa xong, nên chưa có nhà cho đồng bào ở. Vậy ông tạm ở lại Quảng Bình một thời gian, rồi sẽ đưa gia đình về Hà Nội sau”.

Biết rằng phản đối cũng vô ích cho nên gia đình ông phải lên xe về Quảng Bình. Gia đình ông được đổ xuống quốc lộ I, rồi được công an dẫn bộ tới một làng nhỏ, cách quốc lộ vài cây số. Làng này cho ông một miếng đất ven sông để ở và canh tác. Nơi ông ở là bãi sông vắng, cách xa xóm làng vài cây số. Ông là một kẻ ngụ cư. Hơn nữa, ông là một kẻ nguy hiểm. Dân làng không ai dám giao thiệp cùng gia đình ông vì họ coi gia đình ông như một những kẻ gián điệp từ ngoại quốc về để phá hoại xã hội chủ nghĩa.

Tiền của mất sạch, gia đình ông trở thành kẻ bần cùng nhất nước, cô đơn nhất nước. Thư ông gửi đi không có hồi âm. Ông không nhận được lá thư nào từ Thái Lan hay Hà Nội. Ở Thái Lan, ông có tài sản, bạn bè, nhưng về đây, quê hương Việt Nam,Trương Thế Vinh và gia đình bị lưu đày và cấm cố. Gia đình ông vì yêu nước mà trở về nay lại bị coi là kẻ thù của dân tộc. Sống ở Thái Lan, ông tự coi là người xa lạ, nay về Việt Nam, ông lại trở thành người xa lạ trên chính quê hương mình.

Ông suy nghĩ xa gần mà lòng đau như cắt. Ông trách ông ngu dại. Nước Thái Lan đã cho ông nương tựa, giúp ông làm giàu, con cái ông học hành thành tựu, thế mà ông bỏ Thái Lan mà về Việt Nam, về quê mẹ, nhưng quê mẹ đã giết gia đình ông, cướp đoạt tài sản và hy vọng của ông! Kẻ sát nhân cướp bóc chính là những kẻ mà ông đã nuôi nấng, kẻ đã rao giảng tự do, nhân đạo và bình đẳng! Ông đã bỏ mồi bắt bóng! Ông là người ngu xuẩn nghe theo những lời phỉnh nịnh để rồi làm hại mình và con cháu!

Vài năm sau, chiến tranh bùng nổ, miền Bắc bắt thanh niên nam nữ “sinh Bắc tử Nam”. Trương Thế Vinh có một trai, một gái. Con trai ông phải vào “bộ đội” rồi tử thương tại chiến trường miền Nam. Con gái ông phải đi “thanh niên xung phong”, lâm bệnh rồi chết trên Trường Sơn. Hai vợ chồng cáng đắng nhau. Bà trách ông nhẹ dạ tin lời kẻ cướp. Bà không chịu nổi đời sống kham khổ và nỗi uất hận vì bị lường gạt nên mắc bệnh, không thuốc men mà chết. Còn ông, trong cơn đau khổ, uống rượu say rồi chửi cộng sản. Kết cuộc ông bị công an bắt bỏ tù rồi chết trong trại tù Thái Nguyên.

From: Nga Thu Tran & Xuan Nguyen

CHUYỆN TỬ TẾ…

CHUYỆN TỬ TẾ…

Chiều học về đói bụng, ghé tiệm xôi ở Nguyễn Văn Đậu. Đợi mua xôi, lấy điện thoại gọi cho đứa bạn, tự nhiên có thằng nhỏ đâu nhảy ra, làm giật cả mình:
– Chú ơi, đừng xài điện thoại ở đây, dễ bị giật lắm.
Mình gật gù, ờ ờ…
– Con biết chú không mua vé số đâu, nhưng nếu được, chú ủng hộ con 1 tờ thôi?
– Sao biết chú không mua? Cho 1 tờ đi – mình bảo.
– Dạ, con cảm ơn chú.
– Con ăn gì chưa, chú bao con hộp xôi nha.
Nó gật đầu, lí nhí cảm ơn.
– Cô ơi, phần xôi của con cô tách làm đôi để trong bịch ni-lông giúp. Nó dặn chị bán xôi.
– Ăn bịch ni-lông độc lắm – mình bảo.
– Tại nếu con xin thêm cái hộp thì tội cô bán xôi. Con để dành cho nhỏ em cũng đang bán vé số chắc chưa ăn gì.
– Chị, vậy cho thằng nhỏ thêm 1 hộp nữa nha, rồi tính cho em luôn.
Thằng nhỏ cầm 2 hộp xôi, rối rít cảm ơn rồi chạy vụt đi. Chị bán xôi góp chuyện:
– Nhìn vậy chớ có lòng lắm. Hôm rồi trời mưa to, thấy người ta bị tắt máy xe, nó lao ra phụ đẩy, cái rồi bị rớt xấp vé số xuống nước, thương gì đâu. Mười ngàn, em.
– Ủa, 3 hộp sao có 10 ngàn?
– Hổng có em tui cũng cho nó mà. Tính hộp của em thôi.
Tự nhiên nghe mắt cay cay…
Bởi vậy có bao giờ rời Sài Gòn được đâu. Lòng tin nhiều khi đặt có thể sai, có thể đúng, có thể bị phản bội… nhưng ở Sài Gòn muốn mất lòng tin cũng đâu có dễ!
Vui quá, tôi chợt hát nghêu ngao một mình: “Phố thị đông, người đông đông/ Tôi như đứa nhóc lông bông, chơi xa mà không về nhà…”
Đừng trách con người, nên chăng trách những này nọ làm họ quay lưng lại với nhau.
Đâu cần làm ông nọ bà kia, đâu cần phải vinh hoa, phú quý… Ai đó đã nói: “làm người tử tế trước khi làm người có học”.
“Ở hiền thì gặp lành”, Phúc Âm hay Kinh Thánh – Lời Thượng Đế – cũng có chép: “Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh”!
DUC HUYNH

Image may contain: 1 person, standing, child and outdoor

Bà Margaret Haughery.

Nếu bạn đã có lần viếng thăm thành phố New Orleans xinh đẹp, chắc hẳn sẽ có ai đó hướng dẫn bạn đến khu kinh doanh lâu đời của thành phố này, nơi tập trung các ngân hàng, cửa tiệm, khách sạn và sẽ chỉ cho bạn thấy một pho tượng được dựng vào năm 1884, đứng sừng sững tại quảng trường nhỏ ở đây.    

Pho tượng tạc hình một người phụ nữ đang ngồi trên cái ghế thấp, tay ôm một đứa bé đang ngả đầu vào người bà. Người phụ nữ không mấy xinh đẹp và trang phục của bà khá giản dị. Bà mang một đôi giày vải, mặc váy trơn, trên vai quàng một cái khăn . Bà có dáng người tầm thước, trông hơi mập. Khuôn mặt bà có nét điển hình của người Ái Nhĩ Lan với chiếc cằm vuông vức. Ánh mắt của bà thật đặc biệt, chúng nhìn bạn một cách nồng ấm, chứa chan tình cảm tựa như ánh mắt của một người mẹ dành cho đứa con thân yêu của mình.

Có một số điều đáng ngạc nhiên về bức tượng này. Đó là một trong những pho tượng đầu tiên ở Mỹ được tạc để tôn vinh một người phụ nữ. Ngay cả tại châu Âu cổ xưa, có rất ít tượng đài được xây dựng để tỏ lòng tôn vinh phụ nữ, và nếu có, hầu hết chúng đều dành cho những nữ hoàng hoặc công tướng quyền quý, những người rất xinh đẹp và rất sang trọng. Nhưng pho tượng ở New Orleans này thì hoàn toàn khác.    

Pho tượng này thuộc về bà Margaret Haughery nhưng chẳng ai tại New Orleans nhớ rõ cái tên đó. Họ chỉ nhớ bà là Margaret.. Và đây là câu chuyện về bà Margaret và lý do tại sao người ta phải dựng tượng để tưởng niệm bà.

Margaret mồ côi cả cha lẫn mẹ khi còn rất nhỏ. Bà được một cặp vợ chồng trẻ nhận làm con nuôi. Họ cũng nghèo khó và tử tế như cha mẹ ruột của bà. Margaret sống với họ đến lúc trưởng thành, lập gia đình và sinh một con trai. Nhưng không may, chẳng bao lâu sau chồng, rồi con bà lần lượt qua đời, để lại mình Margaret quạnh hiu. Tuy nghèo nhưng Margaret khỏe mạnh và giỏi giang. Bà không để đau buồn quật ngã, bà vẫn tiếp tục làm việc.

Bà ủi quần áo cho một tiệm giặt ủi suốt ngày từ sáng sớm đến tối mịt. Và mỗi ngày, qua song cửa sổ nơi làm việc, bà trông thấy những đứa trẻ ở trại mồ côi gần đó làm việc và chơi đùa. Một thời gian sau, một trận đại dịch xuất hiện ở thành phố, cướp đi bao sinh mạng và làm cho số trẻ côi cút tăng lên. Trại mồ côi không đủ chỗ để chăm sóc các em, còn các em thì đang cần một chỗ dựa. Chắc hẳn không ai có thể nghĩ rằng một người phụ nữ nghèo hèn, sống bằng nghề giặt ủi, lại có thể trở thành một chỗ dựa thân ái mà các em bé bơ vơ đang cần đến. Nhưng Margaret đã nghĩ như vậy.    

Bà đến thẳng trại mồ côi, nói rằng bà sẽ trích một phần lương của mình tặng cho trại và ngoài ra bà còn tình nguyện sống bên cạnh để chăm sóc các em.

 

Bà cố gắng làm việc chăm chỉ, và chẳng mấy chốc, từ số tiền lương dành dụm được, bà mua một cặp bò và một chiếc xe chở hàng nhỏ. Mỗi sáng, bà đánh xe đi giao sữa cho khách hàng và không quên xin những thức ăn còn thừa từ các khách sạn và những nhà giàu có trong thành phố về cho lũ trẻ đói lòng trong trại mồ côi. Vào những lúc khó khăn nhất, nhiều khi chính số thức ăn thừa thãi đó đã giúp các em ấm bụng.

  
Với khoản tiền bà Margaret kiếm được, mỗi tuần bà trích một phần mang đến tặng trại trẻ mồ côi. Sau vài năm số tiền ấy ngày một lớn. Do tính cẩn thận và giỏi giang, công việc kinh doanh của bà ngày thêm phát triển. Và dù vẫn cho đi, Margaret vẫn kiếm được nhiều tiền hơn và mua thêm nhiều bò. Cuối cùng, bằng số tiền tích lũy, bà xây một ngôi nhà dành cho trẻ em mồ côi.

Một thời gian sau, Margaret mua được một lò làm bánh mì, rồi bà chuyển sang nghề giao bánh mì. Và những đồng tiền kiếm được, bà vẫn đều đặn trích ra tặng cho trại mồ côi.

  Rồi Cuộc nội chiến ở Mỹ bùng nổ. Trong thời buổi loạn ly, bệnh tật và đầy sợ hãi ấy, Margaret vẫn đánh chiếc xe bò đi giao bánh mì. 

Bà luôn xoay xở để vừa giúp đỡ những người lính đói khát, vừa quan tâm đến những em bé mồ côi. Dầu vậy, khi chiến tranh kết thúc bà cũng có đủ tiền xây một lò bánh mì lớn. Đến lúc này, không ai trong thành phố không biết đến tên bà. Trẻ em trong khắp thành phố yêu quý bà. Các doanh nhân tự hào về bà. Những người nghèo đến gặp bà xin lời khuyên bảo. Bà thường ngồi trước cửa văn phòng mình, trong bộ váy bằng vải dày và với cái khăn nhỏ quàng trên cổ, tận tình đưa ra lời khuyên cho tất cả những ai đến nhờ bà giúp đỡ, bất kể họ giàu hay nghèo.    

Cuộc sống dần trồi cho đến một ngày, bà Margaret lặng lẽ qua đời. Lúc đọc di chúc của bà, người ta mới biết ngoài tất cả những gì bà đã hiến tặng, bà vẫn còn dành dụm được 30.000 đô la – một số tiền không nhỏ – và bà muốn tặng hết số tiền này cho tất cả các trại mồ côi trong thành phố, không phân biệt là trại của người da trắng, da đen, người Do Thái, người theo đạo Thiên Chúa hay đạo Tin Lành. Margaret luôn nói “Tất cả đều là trẻ mồ côi như nhau”. Và bạn biết không, những ý nguyện cao đẹp của bà đã được ký bằng một nét gạch ngang thay cho tên của bà, vì Margaret chưa bao giờ biết đọc hay biết viết!    

Khi hay tin bà qua đời, người dân New Orleans đã truyền tụng về bà rằng “bà là mẹ của tất cả những người mồ côi mẹ, là bạn của những người không có bạn bè. Sự thông tuệ của bà không trường học nào có thể dạy được. Chúng ta sẽ mãi mãi không được quên bà ấy”. Thế là họ tạc một bức tượng mang đậm những nét quen thuộc về bà đã để lại trong tâm trí mỗi người, lúc bà đang ngồi trước văn phòng riêng hoặc đánh chiếc xe bò đi chở hàng. Và ngày nay, pho tượng vẫn sừng sững ở đó, ngay giữa thành phố đông đúc người qua lại, thể hiện tấm lòng kính trọng của người dân New Orleans đối với người phụ nữ có trái tim vô cùng nhân hậu và cách sống giản dị tên là Margaret Haughery.

From:TU-PHUNG

NHẬN RA CHÚ XE ÔM CHÍNH LÀ …

NHẬN RA CHÚ XE ÔM CHÍNH LÀ …

 Chú xe ôm dừng xe trước cổng cho cô sinh viên xuống. Bất ngờ cô đưa chú gói quà và nói:
– Chú về nhà rồi mở ra xem nhé.

Bắt đầu ngày mai cháu không đi học nữa, hôm nay cháu đã tốt nghiệp rồi. Cám ơn chú nhiều.

Chú xe ôm về nhà, cất xe, vào phòng mở gói quà ra, ngoài bộ quần áo còn có cả số tiền rất lớn, và một bức thư như sau:

”Thưa thầy, em là Tuyết Lan học toán với thầy năm lớp sáu ở trường Nguyễn Trãi. Lên lớp chín thì em nghe tin thầy bị giảm biên chế, đồng thời thầy cũng bị đau dây thanh quản nên khó nói. Từ đó thầy đi lái xe ôm kiếm sống, lúc nào cũng đeo khẩu trang kín mít để đừng có học trò nào nhận ra. Nhưng em đã nhận ra thầy khi thầy ngồi đón khách ở ngã tư Bình Hưng. Từ đó, em không tự đạp xe đi học nữa mà đặt mối thầy chở em đi học suốt hết lớp chín, hết phổ thông, và lên đại học.

Sáng nào đi học em cũng lấy theo 3 phần ăn, một cho em đến lớp ngồi ăn, hai biếu thầy một phần, và ba là biếu bà bán vé số nghèo ở góc đường Nguyễn Du. Ngày nào em cũng mua cho bà mấy tờ vé số, rất mong trúng số, nhưng chẳng hy vọng lắm.

Bố mẹ em hay thắc mắc về hành vi của em, nhưng vì cưng em nên bố mẹ cũng chìu ý em.

Em phát hiện thầy rất yêu nghề dạy học. Dù không đến lớp nữa, nhưng thầy đã lập một trang web dạy kèm cho tất cả ai bị yếu toán.

Thầy đã dạy dỗ tận tình, giúp nhiều bạn lấy lại căn bản toán bị mất, để các bạn có nền tảng học tiếp. Thầy cứ tập trung hướng dẫn biết bao học sinh trung học cơ sở trở nên vững về toán.

Thì ra ban ngày thầy chạy xe ôm, ban đêm thầy lên internet để dạy học miễn phí. Em nhận ra thầy vì cái cách nói quen thuộc của thầy vào cuối các buổi học là “các em gắng học để sau này phụng sự cho đời”.

Bây giờ lên mạng thầy vẫn nói câu đó. Trong cuộc đời thực, thầy là chú xe ôm đen đúa vất vả, nhưng trên mạng thầy vẫn còn uy phong của một thầy giáo tận tụy hiền lành.

Hình như trời không phụ lòng người, thầy không biết là em mua mãi rồi cũng trúng số độc đắc, lúc đó em đang học năm thứ ba. Em lĩnh tiền rồi đưa hết vào gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Em kiên nhẫn chờ đến hôm nay.

Hôm nay em đã tốt nghiệp nên sẽ không còn đi xe ôm nữa mà sẽ tự lái xe máy đi làm. Em kính biếu thầy một phần số tiền trúng số độc đắc của em như chút lòng tri ân của người học trò ngày xưa, mà sự thành công của em hôm nay đã có không ít ơn thầy trong đó.”

“Nhất tự vi sư – Bán tự vi sư.”

Mai này dù có đi xa, không còn hằng ngày ngồi trên xe của thầy nhưng em vẫn luôn nhớ về “chú xe ôm” thân thể gầy gò có trái tim tình người quý báu, và dưới mái tóc đã bạc ấy là một tâm hồn cao cả.

From: Lucie 1937

 Chuyện tình của ông già Đan Mạch và bà bán chôm chôm

 Chuyện tình của ông già Đan Mạch và bà bán chôm chôm

Xin mời đọc chuyện tình Âu Á để thấy sự đối chọi giữa 2 nền văn minh, không phải giữa ông già Đan Mạch với bà vợ Việt Nam mà giữa sự săn sóc, lo lắng cho người dân Việt và thái độ của họ với ông.

Ông xây 24 chiếc cầu vì sự an toàn, thoải mái cho họ

Ông xây 6 ngôi trường cho người khuyết tật

Ông xây nhà vệ sinh cho họ được biết thế nào là sạch sẽ, để bảo vệ sức khỏe và môi trường

Họ, những người Việt đã làm gì cho ông :

Họ lường gạt ông vài ba lần mỗi khi mua đất để thực hiện một dự án nào đó

Họ ăn cắp đến độ những nhà vệ sinh ông muốn xây dựng cho xe khách có chỗ dừng chân “mãi mãi” không thực hiện được, vì họ ăn cắp nhanh hơn sự tiến triển trong công việc xây dựng của ông

Họ ăn cắp đến độ vợ con của họ chịu đựng không nổi với…. lương tâm và mang trả lại cho ông. Ở đây, chúng ta thấy sự ăn cắp này không phải vì túng thiếu, nghèo khó mà xuất phát từ văn hoá, cái văn hoá “trứng thối” của Lạc long Quân với Âu cơ tự ngàn xưa

Họ ăn cắp đến độ giữa nơi hoang vắng như vậy mà chuồng gà ông phải khóa, cửa ngỏ trong nhà phải khóa. Điều này chúng ta không thể nào tin nổi trong xã hội Tây Phương

Đọc xong “chuyện tình” trong CHXHCN Việt Nam, tôi thật sự không thấy một chút gì là lãng mạn, là thơ mộng vì từ đầu đến cuối tôi chỉ thấy toàn chuyện ăn cắp

Cái văn hoá ăn cắp đó nó như một lý thuyết, một định đề cho người dân Việt Nam. Nó đã được biết đến khắp vùng đông nam á và đang lan rộng trên thế giới

Hy vọng rằng ông già Đan Mạch sẽ giữ mãi được hình ảnh cô bán chôm chôm xinh đẹp thuở nào và tiếp tục vui sống trong hạnh phúc hiện tại để đương đầu với văn hoá ăn cắp của người Việt, cái văn hoá mà họ cần để sống giống như là không khí để hô hấp hàng ngày hàng giờ

Chuyện tình của

          ÔNG GIÀ ĐAN MẠCH VÀ BÀ BÁN CHÔM CHÔM

Hàng ngàn cư dân mạng đã xôn xao về câu chuyện của ông Kurt và bà Sang do một Facebooker chia sẻ. Là người đã đến thăm ông bà thường xuyên và nghe được những câu chuyện từ cuộc sống của mối tình già, Facebooker này đã viết lên câu chuyện khiến nhiều người trẻ xúc động và muốn đến chia sẻ.

  Để trồng những cây này, suốt 2 năm qua, ông phải tự đào giếng, đào hố trồng cây xuống 30 cm và mỗi sáng đều phải tưới rất đậm. Bà thường làm việc này lúc 5 giờ sáng, đi hết một vòng tất cả các cây, chăm sóc từng cây một.

Khi nhận điện thoại, bà Sang gần như rơi nước mắt vì biết những người xa lạ đang đến tìm thăm mình. Trong ngôi nhà nằm bên quốc lộ 1A (xã Chí Công, huyện Tuy Phong, Bình Thuận) của ông Kurt Leander Jensen Lendar và bà Tiêu Thị Ngọc Sang, trái với bụi mịt mù và những đoàn xe tải rầm rập bên ngoài là một cõi yên bình – tổ ấm của hai vợ chồng già – đúng với ý nghĩa đơn giản nhất của nó.

            Duyên tình với cô gái bán chôm chôm

Là người Đan Mạch, ông Kurt có một chiếc thuyền câu cá nhỏ. Năm 54 tuổi, vì muốn thực hiện một chuyến đi vòng quanh thế giới, ông bán chiếc thuyền, mua một vé du lịch với hai người bạn Việt Nam. Ông đến TP.HCM và ở trong một khách sạn nhỏ. “Tôi nhìn thấy bà ấy bán chôm chôm và không hiểu sao tôi cứ muốn quay lại mua chôm chôm hoài”.

Năm ấy, bà Sang 45 tuổi, sống với mẹ già và cô con gái nhỏ. Bà từ Long Khánh (Đồng Nai) về Sàigòn bán chôm chôm, mua lại những chiếc vòng nhựa, vòng cẩm thạch giả để bán cho phụ nữ trong xóm làng. Từ hôm gặp bà, ông nói muốn trò chuyện nhiều hơn với bà.

Bà kể: “Tôi chẳng có gì nhưng hôm ông mời lên khách sạn cua ông để ăn cơm, tôi đi vào phòng vệ sinh, thấy ví tiền của ông để mở, cả xấp đô la trong ấy. Tôi gọi ông lại, đưa ông ví tiền, bảo để thế lỡ người dọn phòng hay người lạ lấy mất thì sao?”.

Ông trở về Đan Mạch, hẹn một năm sau quay lại thăm bà. Những bức thư ông viết gửi về Việt Nam bà phải đem đi nhờ người dịch mới hiểu được. Ông không giữ lời hứa, chỉ 6 tháng sau, quay lại vì… nhớ bà quá. Ông đến tận Long Khánh thăm mẹ già và nháy mắt: “Tôi biết ở Việt Nam, chỉ cần mẹ già quý mình, coi như mình đã thắng!”. Năm 1992, ông bà thành hôn. Ông đưa bà về Đan Mạch sống.

                Những cây cầu cho miền đất xa

Như một người phiêu lưu, ông Kurt nói muốn về Việt Nam của bà, muốn đi xây những cây cầu và nhà vệ sinh cho trẻ con ở vùng sâu. Trong một cuộc trò chuyện với bạn bè, ông xin được 500 m cáp làm dây văng, xin được sơn, xin được cả hãng vận tải Maersk cho chuyển vật liệu miễn phí từ Đan Mạch đến Việt Nam. Năm 1996, khi nhận công việc ở Đại sứ quán Đan Mạch, ông Kurt bắt đầu mang những tấm lòng của bạn bè và sự hỗ trợ của Đại sứ quán đến những cây cầu ở khắp Lâm Đồng, Đắk Lắk, những ngôi trường nhỏ ở Ninh Thuận.

Ông kể: “Có những đứa trẻ con chưa bao giờ được đi trên một cây cầu mùa lũ. Chúng tôi đã xây và các em có thể an toàn qua sông. Tôi có thể xây những cây cầu với giá rẻ bằng ¼ so với những gì người ta báo giá”.

Niềm hạnh phúc của tuổi già kéo dài như những cuộc phiêu lưu. Ông lái xe Bonus tự đi khảo sát các địa điểm xây trường, làm nhà, bà theo ông lo hậu cần, bế bồng những đứa trẻ bệnh tật đang thiếu một nơi nương tựa.

Trong nhiều tấm ảnh cũ, bà ôm đám trẻ con vào lòng, ánh mắt chúng cười ngây ngô. Đó là những gì bà nhớ mà kể lại sau chừng ấy năm theo ông làm việc.

Trong suốt thời gian đi xây cầu ở Việt Nam, ông đã xây 24 cây cầu, 6 ngôi trường cho người khuyết tật, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Đan Mạch và cả những vận động riêng từ bạn bè.

Ông Kurt hỏi tôi: “Tại sao người ở xung quanh đây cứ phải chặt hết cây bụi đi? Có cây, chúng ta mới có nước ngầm mà đào giếng chứ”.

Từ ngày dọn về đây, ông bà đã trồng 600 cây con, gồm cây dương, tràm, dừa, xương rồng… và đều đặn tưới hằng ngày để cả ngọn đồi xanh mướt phủ lấy mái nhà của ông bà. Thậm chí, một cây hoa giấy cạnh nhà giờ đã trổ hoa rực rỡ.

                  Tình yêu và nỗi nhọc nhằn

Từ bao năm làm việc, buôn bán, ông bà để dành được chút tiền, muốn mua một miếng đất nhỏ để mưu sinh. Nhưng 2 lần, họ mua phải dự án không thực hiện được, người ta ôm tiền, bỏ lại những người mất tiền như ông bà sự bơ vơ khi tuổi già kéo đến.

Tuy nhiên, ông Kurt không phải là người dễ bị khuất phục. Chút tiền còn lại, vợ chồng họ mua một mảnh đất nằm sát quốc lộ 1A, gần đồi quạt gió ở Tuy Phong, Bình Thuận.

Có thời từng đi thi công, ông đem những hiểu biết của mình ra, nhờ thêm 2 anh thợ xây, ông xây lên tổ ấm của mình. Từng ngày trôi qua, từ một cái lều rách nát, ông làm thành tổ ấm nhỏ hai mái. Căn phòng bé giản dị nhưng xây với kiến trúc đẹp, dù trong phòng không có gì, cũng thành nơi tiện nghi cho giấc ngủ của tuổi già.

Suốt 2 năm trời, một tay ông cứ cần mẫn mỗi ngày, lúc dư tiền thì thuê thợ, không dư thì tự làm, ông cất từng viên gạch, đóng từng góc mái nhà để thành nhà tắm, nhà bếp. Vật liệu ông bà cũng mua dần dần, có thêm chút tiền nào mới mua, từ từ mà các căn nhà nhỏ thành hình.

Ông Kurt kể: “Tôi đã xây xong bếp rồi. Giờ là tới nhà, tôi muốn xây những căn nhà nhỏ ở đây, giống như ngày xưa tôi đi xây nhà cho người khuyết tật. Nhà này để đón người khuyết tật nếu họ muốn ra đây nghỉ ngơi hoàn toàn miễn phí”.

Ông Kurt giải thích: “Tôi nhìn thấy cảnh ở đây rất đẹp, địa hình nhấp nhô. Tôi cũng sẽ xây những ngôi nhà nhấp nhô để tôn lên vẻ đẹp đó”.

Để trang trải mọi thứ hằng ngày, ông bà nuôi một đàn gà gần 40 con. Từng bộ bàn ghế được bà Sang sắm bằng cách… đổi gà cho cửa hàng vật liệu. Cứ đủ gà thì họ đưa bộ bàn ghế tới. Có bàn ghế, bà bán quán nước quốc lộ, gọi là có đồng tiền chi xài mỗi ngày để vun đắp những năm tháng cực nhọc cuối cùng của hai vợ chồng.

Cánh đồng cát trắng phau xung quanh trơ trụi bao nhiêu, ở gần nhà ông bà lại xanh tươi bấy nhiêu. Ông Kurt đào giếng, lấy nước trong veo. Sáng sớm bà Sang dậy, vặn máy nước, đi tưới hết từng gốc cây đã trồng và cả cây rừng.

“Chúng tôi có tất cả và rất vui, cô có thấy mặt trời mọc chưa?” – 5 giờ sáng, ông Kurt nhấp một ngụm cà phê nói khi ngồi hóng gió với tôi trong một căn chòi ông vừa dựng. Ông bà luôn dậy trước 5 giờ sáng để đi dạo, uống cà phê, ăn bánh mì và tưới cây. Ông giải thích: “Chỉ đến 9 giờ sáng là mọi thứ nóng ran, công trường gõ đập ồn ào. Chúng tôi có buổi sáng của mình. Bà ấy pha cà phê và đôi khi chúng tôi lặng người đi vì mặt trời lên ở đằng xa”.

    Cái lều nhỏ của ông bà được xây khéo léo như một nơi nghỉ mát xinh xắn, Yên bình ở chốn “bỏng rát”

Người đến thăm bảo ông bà nghèo khổ, thương xót bao nhiêu thì sẽ ngạc nhiên với sự đầy đủ mà họ đã tạo ra trong cái nghèo đau đáu từ trong bếp đến ngoài nhà. Vì nghèo, bà không đi chợ, bởi sẽ tốn 20.000 tiền xe ôm. Bà nhờ người công nhân ở công trường kế bên hái rau lên bán, bà trả tiền, rẻ hơn nhiều lần. Vì nghèo, ông bà không mua đồ ăn sáng mà để sẵn bánh mì trong tủ lạnh, sáng ra nướng lại trên bếp gas ăn, thanh nhã, gọn gàng và đủ chất. Vì nghèo, nên ông Kurt chăm chỉ làm việc mỗi ngày thay vì thuê thợ tốn tiền, tự tay ông xây dần, xây dần ngôi nhà của mình, căn bếp của mình, nhà tắm của mình… để cuộc sống giờ có ở giữa nơi hoang vắng cũng tiện nghi, sạch sẽ. Vì nghèo, ông bà phải sống trong một khu đất cạnh bãi tha ma, nơi mồ mả nằm sát cạnh nhà, nơi những chiếc xe khách vô ý dừng chân, cho khách xuống đi vệ sinh bừa bãi.

Ông Kurt và vợ trong quá trình xây và khánh thành cây cầu treo Phú Sơn, qua Lộc Thanh, Bảo Lộc, Lâm Đồng

                                            Ảnh nhân vật cung cấp

Có hôm bà kể: “Tôi ngủ dậy, muốn khóc vì trước nhà mình toàn giấy vệ sinh và những bãi họ đi bậy ra”. Vì nghèo, ông Kurt bỏ công xây 4 phòng vệ sinh miễn phí gần nhà để người ta đừng làm ô nhiễm mái ấm của ông nữa. Và cũng vì nghèo, cái nhà vệ sinh xây chậm, ông vừa đặt bồn nước dội mới mua lên thì vài ngày sau, đã có kẻ đến gỡ trộm. Cái nhà vệ sinh công cộng miễn phí mãi mãi không thành hình. Và ông bà vẫn phải hứng chịu cơn vô ý của những chiếc xe khách đêm “dừng đại” chỗ nào đó cho khách… giải quyết.

Ở giữa hoang vắng, ông bà đối phó với từng cái nhọc nhằn bé nhỏ. Chỉ vài hôm là mất điện thoại. Có hôm sáng ngủ dậy quay ra mất cả đàn gà. Bà cười như mếu: “Có con nhỏ dưới xóm nghèo lắm, sáng nó đem trả tôi con gà, nói chồng nó ăn cắp mà ông bà là người già nên nó đem trả lại”.

Vẫn có những hàng xóm tốt bên cạnh những tên trộm biết chủ nhà tuổi cao, sức yếu, nhanh nhảu đột nhập, lấy cái máy, chôm món đồ. Bà đã 67 tuổi, ông hơn 80 tuổi. Họ không đuổi được một tên trộm nào. Họ chỉ biết làm khóa cho cái chuồng gà – tất cả tài sản sinh ra tiền bạc của mình và khóa cửa khắp nơi mỗi khi đêm xuống.

              Mối tình già của hai người gây xúc động trong cộng đồng mạng

Sáng sớm hôm ấy, bà nói với tôi: “Để cô nướng bánh mì cho dượng ăn rồi cô ra uống cà phê”. Họ ngồi bên nhau và ngắm mặt trời mọc, thanh thản. Ít ai biết, trải qua biết bao nhiêu lọc lừa vì đất, vì dự án, họ vẫn cố gắng để có những ngày bên nhau trọn vẹn và bình yên. Tôi hỏi, liệu họ có tiếc gì sau quá nhiều năm cống hiến, họ không có gì, ông Kurt chỉ nói: “Tôi muốn ở Việt Nam, tôi yêu bà ấy và yêu nơi này. Có rất nhiều người xấu nhưng cũng có quá nhiều người tốt mà”.

Bà Sang nhìn tôi, chỉ rươm rướm nói, bà không muốn gì, chỉ muốn ở Đại sứ quán có ai chỉ bà làm sao để visa của ông ở Việt Nam luôn chứ 6 tháng một lần, bà lại phải đi gia hạn visa cho ông. Bà nói: “Lỡ tôi có làm sao… không biết ai sẽ đi gia hạn visa cho ông ấy. Nơi này đã là quê hương của ông ấy rồi mà”.

Ông Kurt lại chăm chỉ vào việc xây dựng khi tách cà phê sớm cạn. Bà Sang đi giặt đồ, lau dọn. Từ cát nóng, xương rồng, họ đã biến mảnh đất này thành ngôi nhà, ấm cúng và trọn vẹn.

 Khải Đơn

From: Tu-Phung

DONOR (Chuyện có thật).

Image may contain: 3 people, people smiling

Trần Thị Thu Thuỷ

DONOR (Chuyện có thật).

Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm y tá của một bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở tiểu bang Arizona.
Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc.

Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau bữa tiệc. 
Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn. 

Em trai bị chấn thương sọ não và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. 
Em gái hôn mê bất tỉnh phải mổ gấp, không biết có cứu được hay không?
Thật đáng buồn, em trai tử vong là một em gốc Việt, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và đang sắp rời nhà để vào một trường đại học danh tiếng. 

Các em còn lại đều người ngoại quốc.

Lúc đó tôi đang làm tại khu ICU (Intensive Care Unit). 

Bệnh nhân tôi được giao đêm đó là em gái 17 tuổi của tai nạn vừa kể trên. 
Một cô bé người ngoại quốc, đẹp hay không thì tôi không biết vì cả khuôn mặt lẫn cái đầu tóc vàng của em đều tím bầm, sưng to như trái dưa hấu vì những cú va chạm kinh khiếp. 

Em đang được mổ não khẩn cấp trong phòng mổ.
Tôi được (hay bị) kêu vào phòng họp gấp để nhận một nhiệm vụ quan trọng.
Sau khi được biết nhiệm vụ của mình là gì, tôi nhăn nhó phản đối:

“Tại sao lại là tôi? Đây là nhiệm vụ của bác sĩ mà!”

“Tôi biết, nhưng người nhà của bệnh nhân không biết tiếng Mỹ rành lắm, cô đi theo thông dịch cho bác sĩ, và ráng van xin họ giúp chúng tôi,”

bà y tá trưởng năn nỉ.
Sau một hồi bàn qua tính lại, tôi lê bước đi theo ông bác sĩ đến phòng chứa xác của em trai Việt Nam mới tử nạn, với nhiệm vụ là cùng bác sĩ, năn nỉ gia đình người chết hiến tặng những bộ phận còn tốt trong cơ thể của em cho bệnh viện.

Một em trai 17 tuổi đang khỏe mạnh nhưng chết vì tai nạn, là một ứng cử viên tuyệt vời để làm người hiến tặng, vì hầu hết các bộ phận trong cơ thể em còn rất khỏe, rất trẻ, rất thích hợp để cứu sống các bệnh nhân đang chờ đợi để được thay các bộ phận trong người. Đó là lý do bệnh viện hết sức cầu xin gia đình.

Thời gian đó, đối với người Việt mình, khái niệm hiến tặng bộ phận cơ thể còn rất mới mẻ. 
Nếu không là cho người thân trong gia đình, hầu như rất ít ai hiến tặng cho những người không quen biết. 
Huống hồ gì, chuyện cha mẹ đồng ý hiến tặng các bộ phận trong cơ thể của con thì hình như chưa hề xảy ra. 
Có cha mẹ nào mà nỡ lòng nào làm như thế? Mất con đã đau đớn lắm rồi…

Chúng tôi gặp cha mẹ nạn nhân trong phòng đợi, trong khi người con đang được chờ quyết định để rút tất cả ống support bên trong, tôi bắt đầu trình bày lý do. 
Quả như tôi lường trước, cho dù có van xin, nài nỉ, giải thích cách mấy, bác sĩ và tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu quầy quậy, ánh mắt oán ghét, và những lời xua đuổi.
Tôi lắp bắp xin lỗi rồi bước nhanh như chạy ra khỏi phòng.
Phòng ICU rất vắng lặng vì ở đây toàn những ca rất nặng. 
Những y tá cùng trực với tôi đêm đó ai cũng bận rộn với bệnh nhân của mình nên chỉ có một mình tôi ngồi tại nurse station. 
Thường thì ở ICU, mỗi y tá lãnh hai bệnh nhân trong một ca. Nhưng đêm nay tôi chỉ có một, vì một bệnh nhân mới chuyển sang phòng thường. 
Bệnh nhân còn lại là cô gái đang trong phòng mổ, nên tôi cũng khá rảnh rỗi, cho đến khi ca mổ xong.
Bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. 
Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt.
Tôi đảo mắt nhìn quanh.
Không có ai cả!
Tôi vẫn thường thấy lao đao như vậy lắm, có lẽ vì tôi bị chứng bịnh thiếu máu kinh niên. 
Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi.
Tôi dợm đứng dậy để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên Á Châu rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi ngồi. 
Cậu đi nhẹ nhàng như lướt trên không vậy, xuất hiện trước mặt tôi mà không gây nên một tiếng động. 
Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Có vẻ như cậu đang bị lạc đường. 
Chắc là cậu đi nuôi người nhà bệnh và lạc từ khoa khác sang.
Thấy cậu đứng yên lặng không nói gì, tôi hỏi bằng tiếng Mỹ:

“Em cần gì, tôi có giúp được gì cho em không?”

Lạ thay, cậu trả lời bằng tiếng Việt:

“Em đi kiếm đồ!”
Giọng của cậu nhỏ và thanh, nghe văng vẳng như từ một nơi xa xôi nào đó vọng về.

“Em bị mất cái gì à?”

“Em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị…”

Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng sau góc quẹo.
Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt, cái lạnh từ trong xương lạnh ra. 
Tôi rùng mình. Lạ thật, Tháng Sáu Mùa Hè ở cái xứ sa mạc này nóng cả trăm độ. Cho dù máy lạnh có mở cũng chỉ vừa đủ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lạnh cóng bằng cái lạnh của hiện tại.

Đầu óc tôi quay cuồng và tiếp tục nhức. Chắc mình sắp bịnh rồi, tôi tự nhủ. 
Sao tự nhiên lại cảm thấy lạnh và nhức đầu quá. 
Tôi đứng lên định đi theo cậu bé nhưng rồi lại choáng váng ngồi phịch xuống một chiếc ghế.
Vừa lúc đó, một cô bạn đồng nghiệp từ đâu đi tới. Nhìn thấy sắc mặt tôi, cô la lên:

“Oh my God! Trời ơi sao cái mặt cô xanh lè xanh lét thấy ghê quá. Are you OK?”

“Tôi thấy lạnh quá, cô lấy dùm tôi một cái áo lạnh được không?”

Cô bạn nhanh chóng đi lấy cho tôi một cái áo labcoat mới được giặt ủi và hấp nóng. 
Tôi mặc áo vào, ngồi co ro mà thấy vẫn còn lạnh, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương.
Tôi uống thêm hai viên Tylenol. 
Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. 
Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ?
Cả khu ICU này có 6 phòng. 
Hiện giờ đang có năm bệnh nhân, mỗi người nằm một phòng. 
Tôi coi lại danh sách bệnh nhân viết trên bảng treo trên tường. 
Không có bệnh nhân nào người Việt. 
Vậy cậu từ khoa nào đi sang đây?
Tôi đi lòng vòng với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé người Á châu không, ai cũng lắc đầu không biết.
Thất vọng, tôi trở về khoa đúng lúc bệnh nhân của tôi đã được giải phẫu xong và chuyển về phòng ICU. 
Bác sĩ bảo em được cứu sống nhưng đôi mắt sẽ bị mù vĩnh viễn vì chấn thương quá nặng. 
Chỉ có một hy vọng duy nhất là được thay đôi mắt khác em mới có thể thấy lại ánh sáng.
Ba mẹ em ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. 
Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng.
Người mẹ buồn rầu nói:

“Tội nghiệp chúng quá. Rồi đây Jane sẽ ra sao khi tỉnh dậy và biết là người yêu của nó đã chết?”

“Người yêu của Jane là anh Việt Nam ngồi chung xe hả bà?”

tôi hỏi:

“Đúng vậy, chúng nó yêu nhau lắm. High school sweethearts mà. 
Hai đứa đều học giỏi và có tương lai. 
Thế mà, chỉ qua một đêm, một đứa ra đi vĩnh viễn, một đứa trở nên mù lòa.”

Bà sụt sịt khóc. Tôi ngập ngừng:

“Bác sĩ nói con bà còn có hy vọng thấy lại ánh sáng, nếu…”

“Vâng tôi biết! Nhưng ở đâu ra có cặp mắt để thay kia chứ? Nếu đó là cặp mắt của một người còn sống cho con tôi, tôi biết chắc chắn nó sẽ không chịu nhận. Nó là cô gái rất tốt, không bao giờ muốn làm khổ ai.”

“Nhưng nếu đó là cặp mắt của một người vừa mới mất thì hoàn toàn có thể dùng được, chỉ có điều…”

tôi bỏ dở câu nói vì tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đừng bao giờ nên hỏi cha mẹ cậu bé Việt Nam thêm một lần nữa.
Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà mẹ thở dài:

“Cô y tá ạ, tôi biết nỗi đau của người mẹ mất con nó khủng khiếp như thế nào.
Tôi không dám đòi hỏi gì thêm. 
Số phận con gái tôi bị mù thì tôi sẽ hết lòng chăm sóc cho nó. Con gái tôi có nghị lực lắm, tôi tin nó sẽ vượt qua…”

Xót xa nhưng cũng rất xúc động trước những lời nói của bà, tôi nhẹ nắm lấy tay bà. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát đang rảo bước tới, trên
tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi:

“Người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá người Việt ở đây. Cô nói được tiếng Việt chứ?”

“Dạ được. Ông cần gì không?”

“Tôi muốn nhờ cô đi với tôi đến gặp gia đình người tử nạn trong tai nạn xe chiều nay. Chiếc xe bị total lost. 
Trước khi xe tow kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. 
Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho thân nhân của cậu.”

Ví, xe, người tử nạn… những mảnh rời rạc của chiếc hình puzzle tự nhiên ráp nối lại với nhau một cách có trật tự. 
Tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. 
Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. 
Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói?
Không lẽ mình vừa gặp ma sao?
Tôi lắp bắp hỏi ông cảnh sát:

“Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?”

Ông ngần ngừ một chút rồi nói:

“Cũng được, nhưng trong ví không có gì quý giá hết, chỉ có tấm bằng lái xe và một ít tiền mặt vậy thôi!”

Tôi tần ngần mở chiếc ví ra. 
Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. 
Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. 
Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì.
Vậy ra cậu chính là người đã chết đó sao?
Một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng của tôi. 
Tôi thầm thì, nhắc lại lời của cậu bé khi nãy:

“Trong ví này có một vật rất quan trọng…”

“Cô nói gì?”

Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái.
Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé:

“Chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…”

Tấm bằng lái!
Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. 
Đây rồi, vật quan trọng mà tôi cần tìm chính là tấm bằng lái này đây.
Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé. Còn nữa, nằm ngay ngắn ở góc phải của tấm bằng là cái sticker nhỏ màu hồng, trên có dòng chữ “DONOR” màu đen in đậm nét.
Tim tôi đập thình thịch. 
Như vậy là, chính cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính cậu đã tìm đến tôi, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp tôi để mọi người có thể biết được ý nguyện của cậu. 
Thì ra ngay từ khi mới có bằng lái, cậu đã quyết định là nếu có điều gì xảy ra cho mình, cậu sẽ sẵn sàng hiến tặng những bộ phận còn tốt trong người cho tất cả ai đang cần chúng nên đã tình nguyện ghi tên làm người DONOR. 
Có phải cậu đến tìm tôi vì biết tôi là người chăm sóc cho người bạn gái thương yêu của cậu đêm nay và muốn nhờ tôi tìm cách để trao tặng cho cô gái đôi mắt của cậu như một kỷ vật cuối cùng?

Tôi chỉ vào chữ “DONOR” và nhờ vị cảnh sát xác minh lại với DMV.
Sau khi xác nhận là cậu bé Việt Nam chính thực đã ghi danh làm người “DONOR”, nhưng đồng thời vị cảnh sát cũng thông báo rằng theo luật pháp, vì cậu bé mất khi cậu chưa đủ 18 tuổi, nên quyết định cuối cùng, cho hay không, cũng vẫn là quyết định của cha mẹ.
Phái đoàn gồm các bác sĩ, cảnh sát cùng với tôi sau khi đưa chiếc ví lại cho cha mẹ cậu và thông báo về tất cả những sự việc trên cho họ. 
Trong khi chờ gia đình cậu bé bàn thảo với nhau, chúng tôi đều lui ra ngoài đứng chờ.
5 phút, 10 phút trôi qua. Một bầu không khí yên lặng đến nghẹt thở.
Rồi cha mẹ cậu bé cũng bước ra. 
Người mẹ ôm mặt khóc, trong khi người cha nghẹn ngào nói với chúng tôi:

“Thôi thì con tôi nó đã muốn như vậy, chúng tôi xin nghe theo ý nguyện của cháu. Xin bệnh viện giúp cháu làm tròn tâm nguyện, hãy giúp đỡ tất cả những ai đang chờ được giúp.”

Tôi bật khóc vì quá xúc động. Tất cả những người có mặt lúc đó đều khóc và cảm ơn cha mẹ cậu bé đã làm quyết định đau đớn và khó khăn nhưng rất cao cả này. 
Cảm ơn ông bà, tôi thầm thì. Trên cao kia, tôi biết cậu bé đang nhìn xuống và mỉm cười.
Những ngày sau đó, có ít nhất là cả chục bệnh nhân đang chờ thay thận, gan, tim, v.v… đã được cứu sống nhờ được ghép những bộ phận trong cơ thể cậu bé. 
Cô bạn gái cũng đã nhận được cặp mắt của cậu. Trên gương mặt trắng bóc và mái tóc vàng hoe, đôi mắt nâu trong veo luôn tỏa những tia sáng ấm áp dịu dàng. Đôi mắt như biết nói những lời yêu thương đến mọi người.

Cậu bé đã ra đi mãi mãi, nhưng tình yêu quảng đại của em vẫn tiếp tục tồn tại.

                                                                    ****
Ngay sau cái đêm “gặp ma” trong bệnh viện đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. 
Tôi về bàn với chồng, và vợ chồng tôi đã cùng đi đến quyết định là ra DMV để ghi tên tình nguyện làm người “DONOR.”

Nếu một mai có người nào phải ra đi trước, chúng tôi không muốn người thân mình ở lại phải suy nghĩ để làm những quyết định đau lòng thế cho mình.

Cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. 
Thế thì tiếc làm chi cái xác thân tạm bợ này! 
Nếu sau khi mình ra đi mà vẫn còn có ích cho người khác thì đó chính là một niềm an ủi và hạnh phúc vô biên cho mọi người chúng ta rồi…

(Diễm Vy)

Nhớ Anh Dương Hiếu Nghĩa

Kimtrong Lam
Nhớ Anh Dương Hiếu Nghĩa

Lúc tôi được biết Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa đã qua đời, tôi nghĩ đến các vị như Lý Thường Kiệt và Đức Trần Hưng Đạo, mặc dầu Anh Nghĩa không có chức phận lớn như Tướng hay Vua, nhưng Anh vẫn là anh hùng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa có cấp bực cao.

Anh Nghĩa là một người bạn, một người bạn đặc biệt, vì tôi trẻ hơn Anh cả 20 tuổi, người Mỹ, giọng nói âu châu, tôn giáo Ky-tô, da trắng, còn Anh là người Việt Nam, giọng nói á châu, theo Đạo Phật, da vàng, nhưng hai anh em hiểu nhau, mến phục nhau, đi chung cùng một con đường tranh đấu cho đất nước Việt Nam thoát khỏi họa xâm lăng của cộng sản hà nội .

Năm 1968, lúc tôi qua Việt nam làm việc cho Cơ quan CORDS tại tỉnh Vĩnh Long, Anh Nghĩa làm Tỉnh Trưởng. Từ lúc đầu, tôi thấy Anh là một người đặc biệt, một sĩ quan được nhiều người mến thương, một Tỉnh Trưởng thắng Cộng Sản được.

Mấy ông Cố vấn Mỹ tại Vĩnh Long cũng nhận thấy Ông Nghĩa có tài hơn nhiều người khác.

Nhờ làm quen Thiếu úy Hiền, tôi mới được biết Anh Nghĩa có một lý lịch đầy những thành tích lớn rồi. Ngoài chức vụ Đại tá Tỉnh trưởng, Anh còn là một cán bộ cấp lãnh đạo của Đảng Tân Đại Việt. Anh đã tham gia, không lo ngại gì, không sợ gì, cuộc đảo chánh chế độ Nhà Ngô lúc VNCH suy sụp nặng nề và Hà nội rất hy vọng sẽ thắng Miền nam.

Cái chết của Cụ Diệm đêm 2 tháng 11 năm 1963, anh em Tân Đại Việt cho biết đó là theo quyết định của hai ông Dương Văn Minh và Mai Hữu Xuân. Anh Nghĩa lúc đó còn là sĩ quan Đại úy thôi, phải tuân lệnh của cấp trên để lo việc đi đón Cụ Diệm và Ông Nhu tại Chợ lớn.

Ở Vĩnh Long, Anh thường sai tôi làm thông dịch vì tôi có học tiếng Việt tại Vietnam Training Center của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Trước kia, người Pháp sai người Việt làm thông dịch viên cho họ; ngày nay, một Tỉnh Trưởng Việt Nam sai người Mỹ làm thông dịch viên cho ông.

Ai cũng cười rang khi nghe tôi dịch lời Anh Nghĩa nói mà bỏ dấu sai và câu không đúng văn phạm. Nhưng có vẻ họ khoái lắm vì thấy số Trời thay đổi: Ông Nghĩa ở địa vị của quan Tây thời xưa, còn tôi ở địa vị của thầy thông an-nam-mít.

Lúc ông Đại sứ William Colby cho tôi lên Sài gòn làm việc cho Cơ quan trung ương CORDS, Ông Nghĩa đề nghị tôi gặp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, lý thuyết gia và lãnh tụ của Đảng Tân Đại Việt.

Được gặp Ông Huy, thật là phước trời cho tôi. Tôi bắt đầu học tất cả những điều hay mà Ông Huy dạy và giải thích rỏ ràng cho tôi hiểu về văn hóa, lịch sử, chánh trị của Việt Nam. Tôi ghi nhớ lấy những ý kiến, những kế hoạch phát triển nông thôn và xây dựng dân chủ của Ông Huy đưa ra và gởi lên cho Đại sứ Colby để sửa đổi chương trình bình định phát triển nông thôn của CORDS: mỗi xã được quỷ phát triển cho dân vay tiền, mỗi xã được phép thâu thuế để tự túc, mỗi xã được quyền tự trị và tự phòng .

Hai vị, Ông Huy và Ông Colby, mặc dầu không quen biết nhau, mà như đã hợp tác nhau và làm việc song song với nhau, lấy các nguyên tắc tự do dân chủ làm nền cho chánh sách phát triển đời sống nông thôn, một cách hướng dẩn và ngăn chận rất hũu hiệu nông dân không bị việt cộng dụ dỗ đi theo lý thuyết mác-lê.

Năm 1971, tôi đổi qua Sứ Quán Mỹ để làm việc cho Chương trình Phát triển kinh tế tai Miền nam. Chúng tôi thấy sự tham nhủng quá nghiêm trọng của một số tướng tá nắm giử chức vụ lớn trong Chánh phủ VNCH là điều tai hại không khác gì thuốc độc đang đầu độc chế độ VNCH và rất nguy hại cho đời sống hạnh phúc của dân. Tôi được một số anh em Tân Đại Việt cho tôi tin về Tướng Đặng Văn Quang buôn lậu đồ đồng như vỏ đạn của pháo binh với con buôn nước ngoài lấy tiền bỏ túi riêng thay vì trả lại cho Chánh phủ Mỹ để làm lại. Tôi đi dò hỏi thêm về Ông Quang để báo cáo với Đại sứ Bunker nhưng Anh Nghĩa khuyên không nên. Anh nói: “Coi chừng, nếu Steve còn điều tra, tôi không bảo vệ cho Steve được”. Tôi nghe lời và chỉ viết một bài báo cáo không đủ bằng chứng.

Anh Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân cho tôi biết về cuộc Chỉnh lý 1964. Anh Nghĩa và một số sĩ quan trẻ của Đại Việt được biết Tổng thống Pháp De Gaulle đương dụ mấy ông Tướng Dương Văn Minh, Trần văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính hảy bỏ cuộc chiến đấu chống cộng sản mà hảy mời đảng cộng sản ở Hà nội cùng với Chánh phủ Miền nam thành lập một Chánh phủ Liên hiệp. Anh Nghĩa và một số anh em nữa bắt các ông Tướng này và lấy lại chức vụ lãnh đạo.

Anh em học với Anh Ba Huy, Phạm Thái về làm chánh trị là nên ráng có cho được một Chánh phủ tốt đẹp, có uy tín, với những người có đủ tài đức. Chánh phủ đó là Chánh phủ Quốc gia có tư cách đại diện rộng rải các thành phần và xu hướng chánh trị của Miền nam, như Hòa Hảo, Cao Đài, Phật giáo, Công giáo, Đại Việt, các địa phương Bắc, Trung, Nam, các đảng phái, trí thức, ….

Nhưng, mời Ộng Tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng Chánh phủ mới là một sai lầm lớn. Ông Khánh là đàn anh của các Anh Dương Hiếu Nghĩa và Huỳnh Văn Tồn. Nhưng sau khi được lên làm Thủ tướng, Ông Khánh phản các anh chị em Đại Việt, chia rẻ Phật Giáo/Công giáo, làm cho Chánh phủ Sài gòn đi lần tới chổ suy yếu nghiêm trọng.

Anh Nghĩa thấy tình hình nguy hiểm cho đất nước do Ông Khánh tạo ra và tìm biện pháp cứu nguy. Anh Nghĩa tổ chức chỉnh lý trong các năm 1964 và 1965 cho tới khi Ông Khánh mất quyền và chịu đi ra nước ngoài. Nhưng tiếc thay lúc đó, VNCH yếu quá; quân đội không mạnh, thiếu lính. Mỹ phải gởi quân qua Việt nam để giúp ngăn chận sự xăm lăng của Hà nội qua đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua đất Lào.

Nhưng do việc Ông Nghĩa làm cho Ông Khánh phải ra đi để đem lại sự ổn định cho Sài gòn mà Anh Nghĩa không được các tướng lãnh quí mến. Họ không gần gũi với Anh Nghĩa tuy Anh hành sử vì nước, trung thành với truyền thống tổ tiên, có tình, có nghĩa đối với dân, không vì phe phái, và không vì tham quyền cá nhơn.

Sau năm 75, có lúc tôi có ý nghĩ nếu Ông Thiệu cho Anh Nghĩa, Anh Tồn, và vài anh em khác lên Tướng để hợp tác chặc chẻ với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, thì chắc đã không xảy ra biến cố 75, đã không mất Miền Nam.

Đại tá Nghĩa làm việc từ sáng đến tối lo cho đất nước và dân tộc – việc cứu nước – mặc dầu không có hậu thuẩn mạnh mẻ, cũng không chắc sẽ thành công hay không, mà Anh vẫn làm vì đó là vai trò và trách nhiệm của kẻ sĩ phu, của một quân nhơn trong thời chiến chống giặc ngoại xâm, của mọi vị anh hùng Việt tộc. Anh Nghĩa đã dám làm như vậy. Tôi rất phục Anh trong trách nhiệm cao quí đó.

Trong giây phút được tin Anh nằm xuống, tôi nhớ ngay cái bia của Lý Thường Kiệt ở Chùa Linh Xung, có ghi những lời khen mà Cụ Hoàng Xuân Hãn dã chép lại:

Làm việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả».

(Vợ Cụ Hãn là bà cô bên nội của nhà tôi, Cô Phạm Thị Hòa)

Tôi sẽ không bao giờ quên sự can đảm và lương tâm chức nghiệp của Anh Nghĩa. Ai may mắn có một người bạn như vậy trong cuộc đời của mình quả là một điều quí báu hiếm có.

Vài lời như nén hương lòng thành kính tưởng niện Anh

Steve Young

April 22, 2019

Ông lão kỳ lạ … 

Ông lão kỳ lạ … 

Tôi muốn viết từ lâu, kể chuyện một ông lão kỳ lạ, ông ta sống giữa đời như tất cả chúng ta, song lại hành động rất khác! Lần đầu tiên tôi nghe về lão là mùa Giáng Sinh 1990. Chiều 24 tháng 12 năm ấy, tôi lên thăm bạn ở thành phố Lausanne. 

Chúng tôi rủ nhau đi phố sắm sửa vài món quà cho bữa tiệc thân hữu gặp nhau. Phố xá lạnh lẽo và vắng lặng lắm vì đa số mọi người đã đều đi về đoàn tụ với gia đình. Trời lất phất đổ tuyết, gợi cho lữ khách, tùy tâm trạng, mà cảm thấy lãng mạn hay cô đơn kinh khiếp… Với tôi, năm ấy thật buồn, vì ba mẹ tôi đi Hoa Kỳ thăm bạn, còn tôi vì phải lo học thi cho học kỳ mùa Đông, nên không đi theo được. Ở lại xứ cao nguyên sương mù, gió lạnh trong mùa Giáng Sinh lê thê quả là một chuyện cô đơn khó chịu. May mà còn có bạn bè dễ thương. Họ làm tiệc mời tôi và qua đó cũng ấm lòng người viễn xứ!

Khi ở phố về, chúng tôi chọn đường tắt nên đi ngang qua một chiếc cầu rất dài, bắc lắt lẻo trên ghềnh đá, đứng trên thành cầu nhìn xuống dưới người yếu bóng vía dễ bị xây xẩm vì chiều sâu hun hút hiểm trở. Người bạn đi chung chợt giật tay tôi chỉ một túp lều vải được dựng ngay bên cạnh đầu cầu. Tôi hơi ngạc nhiên, vì mùa này không phải là mùa để người ta cắm trại nơi đây! Bạn tôi kể rằng từ 20 năm nay, mỗi năm cứ đến mùa Giáng Sinh lại có ông già đến đây cắm trại.
  Tôi ngạc nhiên hỏi lý do. Bạn tôi cho biết chiếc cầu này là nơi quyến rũ nhiều người cứ đến mùa Giáng Sinh ra nhảy cầu tự tử. Vì mùa Giáng Sinh ở Thụy Sĩ buồn quá, những người sống cô đơn thường bị cơn trầm cảm (Depression) hành hạ nên dễ tìm cái chết. 

20 năm qua, người đàn ông đã cắm trại ở đầu cầu, nếu thấy ai một mình đứng trên cầu, lập tức ông bước tới nói chuyện khuyên nhủ… Trong lều của ông thường có rượu chát, chocolat và vài món quà nho nhỏ. Người có ý định tự tử thường được ông mời vào lều cho uống rượu tâm tình, cho đến khi người đó bỏ ý định quyên sinh. Trước khi rời khỏi lều, thể nào họ cũng được ông cho món quà có ý nghĩa, với số điện thoại để sau đó cần người nói chuyện thì tìm ông. Ông làm việc âm thầm và không nhờ bất cứ hội đoàn nào giúp sức. Nghe lời kể của bạn tôi, tôi xúc động lắm, thật không ngờ giữa cuộc sống có quá nhiều bon chen, tranh giật lại có Tâm Bồ Tát hiện hành… Tôi kéo bạn tôi đi về phía lều của ông lão và tỏ ý muốn nói chuyện. Ông lão mở cửa lều, mời chúng tôi vào. Đó là một người đàn ông có dáng người khắc khổ, tuổi khoảng trên dưới 70 tuổi, gương mặt đầy từ ái… 
Trong căn lều thiết trí rất đơn giản, có tấm thảm trải cho ấm và một lò than nho nhỏ bên cạnh để sưởi, nấu trà, cafê và thức ăn.
Ông lão hỏi chúng tôi sao lại đứng trên cầu bàn luận lâu vậy, giữa thời tiết giá lạnh trong buổi chiều Noël? Tôi kể ông nghe về cảm nhận của mình khi biết chuyện và vô cùng tán thán hạnh nguyện của ông. Ông lão mỉm cười: “Thì sống trong đời, ta có thể làm được việc gì tốt cho người khác thì phải cố gắng thôi!” Ông cũng cho biết thêm “có nhiều người oán trách tôi vì tôi bắt họ tiếp tục sống để chịu khổ!” Chúng tôi nói chuyện với nhau khoảng 1 giờ đồng hồ về nhiều đề tài rất tương đắc, ông lão rất thông thái, rất tế nhị và khi nói chuyện có sức thuyết phục rất cao. Sau đó chúng tôi từ giã ông để trở về lo bữa tiệc buổi tối. Từ đó, thỉnh thoảng tôi gọi điện thoại nói chuyện với ông. Tình bạn giữa chúng tôi nảy nở và trở nên thân thiết. 
Ông tên Peter Dupont, tuổi đã 72 và sống một mình cô độc. Tôi cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao ông không có gia đình… 
 Ông bảo: “Khi trước tôi cũng có bà mẹ nữa, vì phụng dưỡng mẹ nên tôi chẳng lập gia đình, ngày tháng qua đi, trở thành người già khi nào không biết.” 
Ông làm việc tại ngân hàng X với nhiệm vụ chuyển thư từ tài liệu từ văn phòng này tới văn phòng khác. Ông không bao giờ nghỉ, trong suốt 40 năm làm việc tại đây. Khi mẹ ông qua đời trong đêm, ông đến xin phép ban giám đốc cho ông được nghỉ nửa ngày. Ông giám đốc ngạc nhiên thấy ông xin nghỉ, hỏi lý do mới biết đêm qua mẹ ông qua đời. Ông giám đốc kêu trời và bắt ông nghỉ 1 tuần ở nhà lo mọi chuyện. Sau 3 ngày, ông gọi điện thoại xin cho ông đi làm lại kẻo không ông cũng sẽ “chết” như bà mẹ của ông mất, nếu người ta còn bắt ông ở nhà! 

Quả thật tôi không thể hiểu được tại sao có người ham mê công việc đến thế, ông lão trả lời những thắc mắc của tôi rằng: “Ta được sống trong xã hội đầy đủ thế này, ta nợ biết bao nhiêu người, nếu không làm việc để trả lại những ân nghĩa ta vay, thời ta nợ đến bao giờ mới trả nổi!?”

 Tôi giật mình vì lý luận của ông rất gần với tư tưởng Bồ Tát Đạo của Phật Giáo đại thừa, trong khi ông là Ki Tô Hữu.
Với thời gian, chúng tôi khám phá ra ông Dupont cũng chính là khách hàng ở nhà bank nơi bạn tôi làm việc, mặc dù cũng làm việc cho nhà bank, song nhà bank nơi ông làm việc thuộc ngành quản trị gia tài (asset management bank), trong khi ông chưa giàu có để có trương mục tại ngân hàng đó.
Ông biết bạn tôi và rất tin tưởng khi có chuyện gì có liên quan đến ngân hàng tiền bạc. 
Thời gian trôi đi, đã 14 năm kể từ ngày tôi quen ông Dupont. Hàng năm ông vẫn đến cắm trại bên cầu, dù rằng tuổi ông đã quá cao và yếu nhiều. Rất nhiều người biết về ông, có những bài phóng sự hay chương trình truyền hình nói về ông, song chưa bao giờ những thứ ấy khiến ông để ý! Ông thường tỏ ra khó chịu khi người ta tới quay phim, phỏng vấn ông.
Hôm qua, tôi nhận được điện thoại của bạn tôi, tôi đã lặng người đi khi nghe tin ông đã vừa giã biệt cõi đời! Cảm động nhất là trước ngày ông mất, ông nhờ người đẩy xe lăn cho ông tới ngân hàng gặp bạn tôi (sau cơn bệnh cách đây 3 tháng, ông không đi lại được nữa, mà phải ngồi xe lăn), ông mang tất cả các hoá đơn thuế nhà, thuế đất, bill điện nước theo và yêu cầu bạn tôi thanh toán giúp ông… 
Ông bảo: “Ta biết ta sắp ra đi, nay nhờ anh giúp trang trải hết những nợ nần còn sót lại này, ta không muốn còn phải nợ nần gì khi giả biệt cõi trần.” Ông không có nhiều tiền trong trương mục, nhưng sau khi thanh toán còn lại một chút, bạn tôi hỏi ông muốn làm gì, ông bảo làm gì cũng được, song ông có người cháu họ xa, hiện cũng đã 70 tuổi, nếu số tiền còn lại đó sau khi ông qua đời, được chuyển cho người cháu với lời nhắn nhủ là “Giáng Sinh năm nay, ráng thay ông, một năm cũng được ra cầu Lausanne cắm trại cứu người, thì ông sẽ mỉm cười thanh thản ở bên kia thế giới”
Chỉ vậy, hai ngày sau đó ông ra đi thanh thản tại bệnh viện gần nhà…
Một vị Bồ Tát bằng xương bằng thịt đã âm thầm đến và đi, không để lại dấu vết! Tôi không đi dự tang lễ của ông được, nhưng nghe đâu rất đông người tham dự! 
Có nhiều người được ông cứu từ 30 năm về trước cũng mang gia đình con cháu tới tiễn ông.
Mùa thu … vắng lặng và buồn quá! Chiếc lá vàng rơi để trở về với cát bụi … tăng thêm chất màu mỡ cho đất. Một đóng góp cuối cùng! Ông lão kỳ lạ kia cũng vậy…

From: Lucie 1937