MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.- Truyen ngan HAY
MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.
Cô ấy mất cả tay và chân, nhưng cô ấy không để bi kịch cướp đi tương lai của mình.
Ngày 30 tháng 10 năm 2002, cuộc đời của Daniela García, một phụ nữ Chile 22 tuổi, đã mãi mãi chia làm hai giai đoạn “trước” và “sau”.
Cô là sinh viên y khoa năm thứ tư, đang đi tàu đến dự một sự kiện của trường đại học. Khi cố gắng chuyển từ toa này sang toa khác, cô đã ngã xuống đường ray.
Hậu quả thật khủng khiếp: cô mất cả hai tay và cả hai chân.
Dường như cùng với đôi chân, cô cũng mất đi tất cả những gì mình mơ ước: trở thành bác sĩ, sống độc lập, lập gia đình và sống một cuộc sống bình thường.
Nhưng Daniela đã quyết định đi theo một con đường khác.
Cô phải học lại cách làm những việc mà hầu hết chúng ta làm một cách vô thức: mặc quần áo, ăn uống, đi lại, sử dụng chân tay giả và chấp nhận cơ thể mới của mình.
Đây không chỉ là một câu chuyện truyền cảm hứng.
Có những cơn đau, sự kiệt sức, nỗi sợ hãi, và hàng trăm lần cố gắng mỗi ngày.
Dù vậy, cô ấy đã quay trở lại trường đại học.
Bốn năm sau tai nạn, cô tốt nghiệp ngành Y tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Chile. Sau đó, cô chuyên về vật lý trị liệu và phục hồi chức năng.
Cô trở thành bác sĩ trong chính lĩnh vực mà nhiều năm trước đã giúp cô xây dựng lại cuộc sống của mình.
Hiện tại, Daniela làm việc với Teletón Chile, hỗ trợ trẻ em và thanh thiếu niên trải qua quá trình phục hồi chức năng khó khăn. Cô cũng tham gia vào việc đào tạo các chuyên gia tương lai.
Ngoài ra, cô đã trở thành vợ và mẹ của ba đứa con.
Câu chuyện của cô không phải về những người mạnh mẽ không bao giờ khóc hay cảm thấy sợ hãi.
Nó nói về điều gì đó sâu sắc hơn nhiều.
Hoàn cảnh có thể làm tổn thương một người, nhưng điều đó không có nghĩa là họ phải mãi mãi bị tổn thương.
Daniela không lấy lại được cuộc sống như trước thảm kịch.
Cô đã xây dựng một cuộc sống mới, tràn đầy đam mê, gia đình, tình yêu và phục vụ người khác.
Đã có thời điểm cô ấy cần đến bác sĩ, chân tay giả và phục hồi chức năng.
Ngày nay, cô ấy đứng bên cạnh những người mới bắt đầu hành trình của mình, chứng minh bằng chính cuộc đời mình rằng:
ngay cả sau mất mát to lớn, cuộc sống không kết thúc. Nó có thể thay đổi mãi mãi nhưng vẫn tươi đẹp và tràn đầy ý nghĩa.
– Cang Huỳnh lược dịch từ Elle.
TẤM SÉC KHỐNG. – Truyen ngan HAY
TẤM SÉC KHỐNG.
Một chủ doanh nghiệp nhỏ đang chìm trong nợ nần và không còn thấy lối thoát nào. Các chủ nợ liên tục gọi điện, nhà cung cấp đòi thanh toán, và dường như mỗi ngày lại xuất hiện thêm một hóa đơn mà ông không thể trả nổi.
Một buổi chiều nọ, quá tải và kiệt sức, ông đi bộ đến một công viên gần đó chỉ để giải tỏa đầu óc. Ông ngồi xuống một chiếc ghế đá, úp mặt vào hai bàn tay và cố gắng nghĩ ra bất cứ điều gì có thể cứu công ty của mình khỏi phá sản.
Một lúc sau, một người đàn ông lớn tuổi dừng lại trước mặt ông.
“Trông ông có vẻ đang rất lo lắng,” người lạ mặt nói. “Ông có muốn kể cho tôi nghe chuyện gì đang xảy ra không?”
Chủ doanh nghiệp do dự, nhưng cuối cùng cũng kể hết mọi chuyện: khoản nợ, vấn đề dòng tiền, các nhà cung cấp chưa được thanh toán, và các ngân hàng đã từ chối đơn xin vay vốn của ông.
Người đàn ông lớn tuổi lắng nghe mà không ngắt lời.
Khi câu chuyện kết thúc, ông gật đầu và nói, “Tôi nghĩ tôi có thể giúp ông.”
Ông hỏi tên người doanh nhân, lấy ra một cuốn sổ séc, viết một vài dòng và đưa cho ông ta tấm séc.
“Cầm lấy cái này. Gặp tôi ngay đây một năm nữa. Đến lúc đó, anh có thể trả lại tiền cho tôi.”
Trước khi doanh nhân kịp hỏi thêm câu nào, ông lão đã biến mất vào đám đông.
Ông nhìn xuống tờ séc và chết lặng. Trên đó ghi 500.000 đô la.
Và chữ ký ở dưới cùng là: John D. Rockefeller.
Doanh nhân khó có thể tin vào mắt mình. Rockefeller từng là một trong những doanh nhân giàu có và quyền lực nhất trong lịch sử nước Mỹ.
“Với số tiền này,” ông nghĩ, “mình có thể giải quyết mọi vấn đề của mình ngay hôm nay.”
Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, ông đã đưa ra một quyết định khác.
Ông cất tờ séc vào két sắt và quyết định không rút tiền.
Chỉ cần biết nó ở đó đã mang lại cho ông thứ mà ông đã thiếu suốt nhiều tháng: sự tự tin. Ông bắt đầu tin rằng ngay cả khi mọi việc diễn ra tồi tệ, ông vẫn có một chỗ dựa an toàn.
Sự thay đổi trong tư duy đó đã ảnh hưởng đến cách ông làm việc.
Ông quay lại với các nhà cung cấp và thương lượng các điều khoản thanh toán tốt hơn. Ông ấy đã theo đuổi những cơ hội mà trước đây mình từng quá nản chí để theo đuổi. Ông ấy trở nên tự tin hơn trong các cuộc họp, thực hiện những thương vụ thông minh hơn và chốt được một số hợp đồng lớn.
Dần dần, áp lực giảm bớt.
Trong vòng vài tháng, ông ấy đã trả hết phần lớn nợ nần. Chẳng bao lâu sau, công ty lại có lãi.
Đúng một năm sau, ông ấy quay lại công viên đó với tấm séc còn nguyên vẹn trong túi.
Đúng lúc đó, ông lão xuất hiện.
Người doanh nhân mỉm cười và bước về phía ông, háo hức trả lại tấm séc và nói cho ông biết mọi chuyện đã thay đổi như thế nào.
Nhưng trước khi ông kịp nói gì, một y tá chạy đến và nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay ông lão.
“Ông đây rồi!” cô ấy reo lên. Rồi cô ấy quay sang người doanh nhân. “Tôi hy vọng ông ấy không làm phiền ông. Ông ấy thỉnh thoảng đi lạc khỏi viện dưỡng lão và nói với mọi người rằng ông ấy là John D. Rockefeller.”
Người doanh nhân đứng đó không nói nên lời.
Suốt cả một năm trời, ông đã làm việc, đàm phán, mua bán và xây dựng lại công ty của mình với niềm tin rằng nửa triệu đô la sẽ luôn sẵn có nếu ông thực sự cần đến.
Nhưng tấm séc đó chưa bao giờ có giá trị gì.
Và đột nhiên ông hiểu ra một điều quan trọng.
Không phải tiền bạc – dù là thật hay tưởng tượng – đã cứu vãn công ty của ông.
Mà chính là sự tự tin mà tấm séc mang lại.
Ông đã ngừng suy nghĩ như một người đang chờ đợi thất bại và bắt đầu hành động như một người vẫn còn cơ hội. Niềm tin đó đã thay đổi quyết định, lòng can đảm và cuối cùng là kết quả của ông.
Đôi khi điều thay đổi cuộc đời bạn không phải là một cơ hội mới, một tài khoản ngân hàng lớn hơn, hay ai đó đến giải cứu bạn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là khoảnh khắc bạn bắt đầu tin tưởng vào chính mình một lần nữa.
Hãy chủ động thay vì chờ đợi điều kiện hoàn hảo. Trong những thời điểm quan trọng, sự tự tin có thể là sức mạnh thay đổi mọi thứ.
– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.
Người Bác Bất Lương/ Tác Giả Tiểu Tử
BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG
Công Tú Nguyễn – Chuyện tuổi Xế Chiều
BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG
Con trai à,
Giờ nay vợ chồng con và các cháu đã ngủ chưa. 10 gio đêm mẹ mới dọn hàng cá để về, trời mưa nên cá vẫn ế rất nhiều. Trên đường về nhà, mắt mờ nên mẹ chẳng nhìn rõ đường nữa, không may va phải một nhóm thanh niên, khiến quần áo của họ bị thùng cá đổ lên. Mẹ đã vội vàng giải thích và xin lỗi, nhưng nhóm người đó chỉ nhìn mẹ rồi nói:
”Chó thật, bà đi đứng thế à?. Biết bộ quần áo này đắt tiền thế nào không? Già rồi thì ở nhà đi, ra đường làm gì gây phiền phức cho người khác.”
Với người bình thường khi nghe câu đó chắc hẳn họ phải tức giận lắm, nhưng mẹ lại thấy bình thản, thậm chí là vui lắm. Lâu nay mẹ đều muốn làm một con chó, nhưng là con chó mà vợ chồng con vẫn đang nuôi ấy.
Con trai biết không, bố mất sớm, một mình mẹ với gánh cá cũng đã hơn 35 năm nuôi con khôn lớn. Ra trường con tìm được công việc ổn định, cưới vợ đẹp, có nhà, có xe. Mẹ mừng lắm, cuối cùng con trai mẹ cũng bằng người ta.
Nhưng căn nhà của con lộng lẫy quá, khác xa căn nhà cấp 4 mẹ đang ở, nắng thì oi bức mà mưa thì mẹ phải mang hết nồi niêu xoong chảo ra để hứng nước.
Mẹ nhớ con vô cùng, mỗi lần con gọi điện về mẹ vui mừng lắm. Còn bảo con có thể về đón mẹ lên chơi nhà con, thăm vợ chồng con và 2 đứa cháu nội được không.
Mẹ có thể nghe thấy tiếng thở dài, khó chịu và có chút hậm hực của con:
Mẹ lên đây làm gì, con bận bao nhiêu việc đâu thể về chăm sóc cho mẹ được. Hơn nữa giá xăng thì đang lên, con về chở mẹ lên thì mua được 5 kg thịt cho con Mực ăn rồi. Mẹ nhớ đúng không? Con mực là con chó mà con được đối tác tặng ấy, giá của nó là 40 triệu đấy.
Làm sao mà mẹ không nhớ được, hồi nhỏ con cũng rất thích nuôi chó. Nhưng lúc đó nhà mình nghèo, tiền ăn tiền học cho con mẹ còn phải chắt góp từng đồng thì sao đủ gạo mà nuôi chó được. Mẹ định bảo thôi không chở mẹ lên thành phố thì 1 tuần con gọi mẹ 2 lần cũng được. Nhưng chưa kịp nói thì đã thấy con Mực sủa lên đòi ăn thì con đã tắt máy để chăm sóc cho con chó rồi.
Từ cuộc điện thoại đó đến nay cũng 3 tháng rồi con chưa gọi cho mẹ lần nào. Bệnh đau khớp chân của mẹ lúc nào cũng tái phát, mẹ đau chẳng thể ngủ nổi. Nhưng mẹ không dám gọi làm phiền con.
Chờ mãi không thấy con gọi, cũng chẳng thấy con đưa vợ con về thăm mẹ. Thế là có đứa cháu ông Tư hàng xóm nhà mình lái xe lên thành phố nên mẹ nhờ chở mẹ đến thăm con, tạo bất ngờ cho con luôn.
Mẹ mang cá, rau, thịt mua ở quê mang lên cho các con ăn cho đảm bảo sức khỏe. Nhưng vừa thấy mẹ ở cổng tay xách nách mang con đã hậm hực:
“Mẹ lên sao không báo trước, mà mẹ ăn mặc kiểu gì thế? Trông quê không chịu được. Mấy mớ rau cá này mang lên làm gì, ai ăn đâu”.
Lúc đầu mẹ chỉ nghĩ con sợ mẹ không có tiền nên bảo vậy. Nhưng không, lúc nào con mang toàn đồ thức ăn mẹ mang lên ném vào thùng rác.
Đến giờ cơm trưa mẹ thấy con mang thịt bò, hải sản loại tốt mua ở siêu thị lớn để cho con Mực ăn. Cách con chăm sóc con chó khiến mẹ chạnh lòng. Con ơi, có thể nào con cũng chăm sóc cho mẹ giống như con chó của con được không. Mẹ định thốt lên như thế nhưng sợ con giận nên lại không dám nói gì.
Chiều đến con lại mang con Mực đi tắm, đi dạo rồi ôm nó vuốt ve. Nhà của con Mực cũng đẹp, còn có tấm nệm bằng lông cừu mà con khoe là mua tận bên nước ngoài lần đi công tác. Nệm của nó còn ấm và đắt hơn cả chiếc nệm mẹ nằm 10 năm nay nữa. Mẹ chợt nhận ra đã lâu con không ôm mẹ, những chuyện con kể với con Mực còn nhiều hơn với mẹ.
Lúc mẹ đói lả người, tìm đồ ăn nhưng đồ đạc nhà con toàn thứ hiện đại mẹ dùng chẳng quen. Tới lúc con Mực sủa lên vì đói thì mẹ thấy con trộn thứ cơm gì đó thơm ngon lắm, nhìn hấp dẫn vô cùng. Lúc này mẹ bèn xin con một bát thì con quát lên:
”Đến cơm của chó mẹ cũng đòi ăn sao? Nhà con đầy thứ ăn đó, mẹ không tự lấy được à?”
Con đi làm về câu đầu tiên không chào mẹ mà chạy đến ôm lấy con Mực mà vuốt ve nó, nựng yêu nó. Nó có bị ốm thì con cho đi bác sỹ, chăm sóc hết sức chu đáo. Nhưng tới lúc mẹ ốm thì con chẳng hỏi thăm, còn quát:
“Thôi mẹ về đi, lên đây không hợp khí hậu nên mới ốm. Vợ chồng con đi làm cả ngày, mẹ mà để lây bệnh sang chúng con thì làm sao có tiền đây. Thế này thì con Mực nó đói là chết con đấy”
Đêm đó mẹ nghĩ mẹ chẳng thể chịu đựng được nữa. Cách con quan tâm con chó, mẹ thấy sinh mạng của nó còn quan trọng hơn mẹ nữa.
Con trai à, nếu có kiếp sau, để mẹ được đầu thai làm con chó mà con nuôi được không?.
Câu nói này khiến tất cả những đứa con phải suy ngẫm: Kiếp sau mẹ muốn làm con chó của con có được không?. Bởi lẽ con chó còn được quan tâm, yêu thương hơn cả cha mẹ mình.
Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển. Vậy mà có những người con coi trọng con chó hơn cả cha mẹ của mình. Đây là một trong số câu chuyện có thật ở ngoài xã hội kia. Cũng là câu chuyện tiêu biểu về tình thân trong gia đình.
NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG- Truyen ngan HAY
NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG
Anh Hai là con trai duy nhất mà 30 tuổi vẫn độc thân nên ba má tôi sốt ruột lắm.
Hồi đó, tới tuổi băm mà “chưa có gì” thì thế nào cũng xảy ra nhiều suy diễn kiểu như “chắc thằng đó kỹ tính quá”.
Đàn ông con trai mà bị mang tiếng kỹ tính thì coi như… hết cứu.
Chị em tôi lần lượt “bấm còi” vượt mặt, anh Hai vẫn giậm chân tại chỗ, mặc kệ má tôi bồng bế cháu ngoại, nói gần nói xa, rồi hỏi thẳng:
– “Tới chừng nào con mới chịu cho má bế cháu nội?”.
Anh Hai cười hì hì trốn sự thúc giục của má bằng cách xách cưa và búa lên chùa.
Ba má tôi là Phật tử, từ khi còn nhỏ, anh chị em tôi đã được ba má dắt tới chùa lễ Phật và tập làm công quả như quét sân, kết hoa vải, dọn dẹp trong những ngày lễ lớn…
Nhà chùa đang chuẩn bị mở lớp học cho các em nhỏ lang thang.
Bàn ghế thu gom từ các nơi cần được sửa chữa và anh Hai đảm nhận phần việc này.
Trong số các giáo viên tình nguyện đến dạy các em, có một cô dạy toán là người theo đạo Công giáo.
Chuyện bắt đầu từ đây.
Anh Hai tôi thường xuyên lên chùa nhưng không chỉ để làm công quả mà còn để đưa đón cô dạy toán.
Ba má tôi cắn răng thở dài, ông bà mong biết mấy được thấy con trai có đôi có cặp, nhưng khi có rồi thì vui không nổi.
Con trai đầu có bổn phận cúng kính mà lấy vợ khác đạo thì làm sao?
Anh Hai biết tình yêu của mình gây khó cho ba má, nên chẳng dám nói năng gì, cũng không dám đưa chị về chào gia đình.
Tôi hỏi nhỏ:
– “Anh đã tới chào ba má chị chưa?”. Anh Hai lắc đầu.
Tôi hiểu là nhà bên đó cũng chẳng đồng tình.
Hai gia đình biết rõ con mình thương ai, nhưng làm như không biết.
Thời đó, chuyện yêu đương mà chưa có tiếng nói của người lớn thì coi như chuyện ngoài đường.
Giả vờ như không biết, nhưng ba má tôi âm thầm theo dõi, thấy anh đưa chị đi lễ nhà thờ.
Và nhà bên ấy cũng thầm theo dõi, thấy chị theo anh lên chùa lễ Phật ngày rằm.
Hai bên cùng thấy, cùng biết và cùng nín lặng chờ đợi.
Chờ đợi gì cũng không rõ, có lẽ, không bên nào muốn là phía đầu tiên thốt lời khiến con mình đau khổ.
Mối tình của anh Hai kéo dài đến năm thứ ba thì má tôi không kiên nhẫn được nữa.
Con mình là con trai, lỡ có bề gì thì mang tiếng ác với con gái người ta.
Má ra tối hậu thư “hoặc tình, hoặc hiếu”.
Anh Hai cúi đầu chọn bên hiếu.
Lựa chọn của anh Hai khiến má mềm lòng, nhưng thật ra, do âm thầm theo dõi, má đã sinh lòng mến thương người con gái hiền ngoan, vừa đẹp vừa nhân hậu, biết đến với trẻ em khốn khó.
Được con dâu như vậy thì cũng đáng để má chịu lùi một bước.
Má thuyết phục ba cho phép anh Hai ngỏ lời với nhà bên đó, với điều kiện đạo ai nấy giữ.
Ba má chị lắc đầu, với lời phân tích ngọn ngành rành mạch là phải từ chối người con trai nghề nghiệp đàng hoàng, tính tình tử tế, hiền lành thì cũng tiếc lắm, nhưng mai này sinh con ra thì làm sao?
Đứa nào theo cha lên chùa, đứa nào theo mẹ đi nhà thờ?
Ừ thì cho phép chúng tự chọn đức tin, nhưng khi mới sinh ra chưa biết gì thì cha mẹ là người dìu dắt, lúc đó làm lễ rửa tội thì sao?
Đã nhận lễ rồi thì dĩ nhiên là con của Chúa, ông bà nội có chịu không?
Câu trả lời của ba má tôi là không, cháu nội nhất định phải theo đạo nhà mình.
Vậy là anh chị chia tay.
Để khỏi gặp gỡ, khỏi xao lòng, chị không đến chùa dạy lớp học tình thương nữa,
người thay thế chị là anh Hai.
Trước đó, anh chỉ làm những việc công quả cần sức vóc đàn ông, tới lúc ấy, anh nhận luôn việc dạy học. Bọn trẻ thắc mắc:
– “Sao cô không dạy tụi em nữa hả thày?”,anh Hai trả lời:
-“Tại các em làm cô buồn”.
Bọn nhóc chẳng hiểu câu trả lời này, thường ngày đứa nào cũng có nhiều lần nói chuyện trong lớp, không làm bài tập về nhà, rồi cãi nhau chí chóe…
Cô giáo buồn là đúng rồi.
Anh Hai gầy sọm đi. Cả nhà tôi thở dài, bệnh buồn tình chỉ có thầy thuốc
thời gian chữa lành mà thôi.
Chữa lành thật không, tôi tự hỏi khi thấy anh Hai vẫn đi về một mình, vẫn cười cười nói nói nhưng ánh mắt chẳng còn sáng lên lấp lánh.
Bỗng một ngày, tai nạn xe cộ bất ngờ cướp đi mạng sống của anh Hai.
Đám tang anh, chị lặng lẽ đến vào buổi tối, khi khách viếng đã ra về hết.
Chị lặng lẽ chảy nước mắt trước di ảnh của anh.
Nén nhang chị thắp cũng như người, lặng lẽ tỏa làn khói mỏng mà làm cay mắt tất cả.
Ba tôi lau nước mắt quay mặt đi, còn má tôi ôm lấy chị mà nức nở.
Quá muộn màng!
Sư thầy nói tục lệ đốt quần áo cho người chết đem theo là mê tín dị đoan,
lãng phí, thay vì vậy, hãy đem làm từ thiện để làm phước.
Tôi rủ chị xếp áo quần của anh để đem đi cho.
Những ngón tay chị run run vuốt từng nếp vải như đây mới đúng là lần cuối cùng chị được chạm vào anh.
Tôi chọn cái áo màu xám tro anh hay mặc, muốn nói chị hãy đem về giữ cho riêng mình, nhưng cái đầu tỉnh táo của tôi lại nghĩ, nỗi nhớ đã đủ làm khổ chị rồi, tốt nhất là để chị quên anh đi.
Tục lệ quê tôi là người vừa nằm xuống sẽ cảm thấy lạnh lẽo nên hằng ngày sẽ đốt củi sưởi ấm ngôi mộ.
Sáng sớm, tôi chở má xuống nghĩa trang, ngang qua cổng, ông bảo vệ hỏi thay lời chào:
-“Con dâu của dì là cô giáo hả?”.
Má tôi chảy nước mắt nhìn chị và bọn nhỏ lớp tình thương xúm xít mỗi đứa một khúc củi xếp lên nhau.
Rồi những bàn tay nhỏ bé khum khum nối nhau che gió cho chị mồi lửa.
Tôi và má đứng lại ở xa xa nhìn tới, để cho chị được tự do chăm sóc anh.
Má tôi vừa khóc vừa nói:
-“Biết vậy thì hồi đó má đã gật đầu. Chúa và Phật đều dạy người ta thiện tâm mà”.
Không ai biết trước được điều gì, nếu biết trước thì chẳng ai nỡ làm đau người khác.
Tôi thường nói vậy để an ủi ba má và cũng là tự nói với mình.
Tới tận ngày giỗ lần thứ bảy của anh Hai, sáng sớm mang hoa xuống mộ,
tôi vẫn gặp chị bên cạnh đống lửa; lứa học trò ngày đó đã phiêu bạt khắp nơi, chị ngồi một mình…
Truyện: Tương Giang
Nguồn fb Tuấn Mai SG
Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen…
Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen mà không ai muốn nhận: 46 năm sau, cuộc đời của họ sẽ khiến bạn không khỏi xúc động…
Năm 1979, thế giới của Richard Miller như lặng đi khi người vợ Anne qua đời. Ngôi nhà vốn tràn đầy những ước mơ về một gia đình có con cái, giờ đây trở nên trống vắng. Bạn bè khuyên ông nên tái hôn, nhưng ông vẫn ghi nhớ những lời cuối cùng của Anne:
“Đừng để tình yêu chết cùng em. Hãy trao tình yêu ấy cho một nơi
nào đó để nó tiếp tục sống.”
Vào một đêm mưa bão, số phận đưa ông đến một cô nhi viện mang tên St. Mary’s. Tại đó, ông nhìn thấy chín bé gái nhỏ, tất cả đều bị bỏ rơi cùng một lúc. Tiếng khóc yếu ớt của các em vang vọng dọc những hành lang.
Không ai muốn nhận cả chín đứa trẻ. Việc các em bị chia lìa dường như là điều không thể tránh khỏi.
Nhưng Richard cúi xuống trước các em, giọng nghẹn ngào, rồi nói:
“Tôi sẽ nhận nuôi tất cả các cháu.”
Lúc đó nhưng người xung quanh cho rằng ông đã điên. Nhân viên xã hội nghi ngờ khả năng của ông. Người thân chế giễu. Hàng xóm xì xào:
“Một người đàn ông da trắng thì làm gì với việc nuôi chín bé gái da đen?”
Nhưng Richard bán đi những tài sản mình có, làm thêm hai ca, và tự tay đóng chín chiếc nôi cho các con.
Những đêm dài của ông giờ đây là những bình sữa, những lời ru và việc chải tóc, tết tóc cho các con dưới ánh đèn trong căn bếp.
Cuộc sống vô cùng vất vả, nhưng tiếng cười của các cô bé, những câu chuyện mà Anne từng kể và cá tính ngày càng lớn của từng đứa trẻ đã gắn kết cả gia đình lại với nhau.
Sarah với tiếng cười lan tỏa đến mọi người.
Naomi tinh nghịch và đầy sức sống.
Leah với một trái tim nhân hậu.
Từng đứa một, họ lớn lên thành những thiếu nữ – có người trở thành giáo viên, có người làm y tá, có người trở thành những người mẹ.
Nhưng họ chưa bao giờ quên người đàn ông đã lựa chọn họ vào thời điểm mà không ai muốn nhận họ.
Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.
Trong khoảnh khắc ấy, ông nhìn thấy điều kỳ diệu mà Anne từng mong ước:
Tình yêu không chết đi cùng Anne. Nó đã được trao cho chín cô bé, và từ đó lớn lên thành cả một đại gia đình.
46 năm sau…
Căn nhà nhỏ ngày nào đã thay đổi hoàn toàn.
Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.
Chín cô bé năm nào giờ đã trở thành những người phụ nữ trưởng thành.
Họ không chỉ xây dựng cuộc sống riêng mà còn luôn giữ một điều đặc biệt trong lòng: họ chưa bao giờ quên rằng Richard đã chọn họ khi cả thế giới dường như muốn chia lìa họ.
Có lần một người hỏi Sarah:
“Điều gì khiến cô nhớ nhất về cha mình?”
Sarah mỉm cười và trả lời:
“Tôi không nhớ ông đã mua cho chúng tôi những gì. Tôi nhớ ông chưa bao giờ để chúng tôi cảm thấy mình là những đứa trẻ bị bỏ rơi.”
Naomi cũng kể rằng ngày nhỏ, mỗi khi một trong các chị em hỏi:
“Ba có phải ba ruột của chúng con không?”
Richard luôn trả lời:
“Ba không sinh ra các con. Nhưng ba đã chọn các con. Và ba sẽ chọn các con mỗi ngày.”
Câu nói ấy đã theo họ suốt cuộc đời.
Nhiều năm trôi qua, chín người con lần lượt lập gia đình, có công việc và có những đứa con của riêng mình. Ngôi nhà của Richard ngày càng vui vẻ hơn.
Ngày trước, ông phải thức dậy giữa đêm để pha chín bình sữa.
Giờ đây, ông lại thức dậy vì tiếng chân của những đứa cháu chạy khắp nhà.
Vào một buổi tối năm 2025, tất cả các con và các cháu cùng trở về nhà.
Richard ngồi ở đầu bàn, nhìn quanh.
Một bên là những cô con gái mà ông từng bế trên tay.
Bên kia là những đứa cháu mà ông chưa bao giờ tưởng tượng mình sẽ có.
Ông im lặng rất lâu.
Rồi ông nhìn lên bức ảnh của Anne treo trên tường.
Ông khẽ nói:
“Em thấy không, Anne? Anh đã làm theo lời em.”
Ông từng nghĩ sau khi Anne qua đời, tình yêu của mình cũng sẽ chấm dứt.
Nhưng ông không ngờ rằng tình yêu ấy sẽ được trao cho chín đứa trẻ, rồi từ chín đứa trẻ ấy lại tiếp tục lan sang những người chồng, người vợ, những đứa cháu và cả những thế hệ sau…
Và có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của câu chuyện:
Gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc cùng chung dòng máu. Đôi khi, gia đình bắt đầu bằng một người quyết định nói: “Tôi sẽ không bỏ các con.”
Và 46 năm sau, chín cô bé từng bị bỏ rơi đã trở thành minh chứng sống cho quyết định ấy.
- (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ
David Attenborough Fans).
Một Tử Tội Người Việt – Tác Giả Nguyễn Mạnh San
ÔNG BA BÁN VÉ SỐ
Phương-Trang Đặng – Miền Nam – Mái Trường Xưa
Hồi đó, mình học lớp ba ở trường Phước Nguyên ngoài Chợ Mới – Bà Rịa. Có một ông già đi bán vé số dạo, ông già bao nhiêu thì mình không đoán được tuổi, chỉ thấy ông đen thui, ốm nhách. Ông ốm lắm, ốm tới nỗi cặp giò khẳng khiu của ông hình như chỉ còn da bọc xương. Ông mà không có cái áo sơ mi rộng thùng thình thì chắc rất giống 1 bộ xương cách trí biết đi. Nội mình hay nói:
– Chắc ống chân của ổng bằng cái ống tay của bà.
Trưa đi học về, mỗi đứa múc 1 tô cơm rồi tự tìm chỗ ngồi ăn. Nội mình lo buôn bán, lại 1 mình lo cho 4 đứa cháu nên chỉ có buổi tối, đóng cửa tiệm, nội nấu ăn rồi ngồi cùng bàn ăn chung, chứ buổi trưa thì Nội nấu sẵn rồi mạnh ai nấy ăn thôi. Mình thì hay ra bậc thềm trước nhà, dựa lưng vô tường, vừa ăn vừa nhìn ngó ông đi qua, bà đi lại. Thoáng thấy dáng ông Ba từ xa, là mình báo trước:
– Ông Ba bán vé số Nội ơi.
Thì dù có đang nằm nghỉ bà cũng dậy, ra sau bếp làm cho ông một dĩa cơm.
Bữa nào có anh On, ở tiệm may ( hình như tiệm may Ngọc Thanh) kế bên thì anh hay nói:
– Ổng đi còn 15 phút nữa mới tới, em hô chi sớm vậy?
Mà nói thiệt, chắc tại ông ốm quá, đi suốt từ Chợ Cũ ra Chợ Mới cũng đã mệt rồi nên ông đi rất chậm, chậm thiệt là chậm. Hai chân ông dù không kéo lê lết, nhưng mỗi cái nhấc chân như đã cố hết sức lực cuối cùng. Đi qua mỗi tiệm, ông dừng lại để mời người ta mua vé số.
Đợi lâu thiệt là lâu thì ông mới tới tiệm của Nội mình. Mỗi lần bà đều chỉ nói
– Hổng mua đâu, mà ông Ba vô đây, có dĩa cơm của ông nè.
Ông Ba đi chậm mà ăn cũng chậm, chậm lắm lắm, không biết tại ông có tánh ăn chậm hay tại ông còn có mấy cái răng làm cảnh nên hổng dám xài hao.
Cứ để trên bàn dĩa cơm với ly nước là Nội mình đi ngủ. Bà hay nói:
– Bà ngủ 1 giấc dậy cũng còn thấy chưa hết dĩa cơm, hổng biết rồi chút nữa, ổng có bán hết vé số hông nữa.
Xong xuôi, ông đứng dậy, chắp tay, cám ơn Nội mình rồi thủng thẳng đi tiếp.
Mình hỏi Nội:
– Nội biết ông Ba lâu rồi ha Nội?
– Từ cái hồi bà còn ở Chợ Cũ lận
– Ông Ba tên gì vậy Nội,
– Kêu ông Ba, chứ hỏi tên đâu mà biết.
– Ổng hổng có con cái ha Nội
– Hình như có, mà giờ thì hông biết, bà cũng hông có hỏi.
Lúc đó nhìn ông Ba chậm rãi, đi nãy giờ còn chưa tới tiệm sắt của bà Ba Nguyễn Thị Phấn. Mình cứ thắc mắc ” Biết chừng nào ổng mới về tới nhà, chời!”
Lâu lâu nhớ lại chuyện xưa, người cũ…
Ờ…chuyện xưa thì vẫn ở đây trong tâm trí vài người, nhưng người xưa thì chắc hổng còn. Hông biết có bạn nào ở Bà Rịa biết ông Ba bán vé số khoảng năm 1973 hông ?
ĐTPT
06/08/2026
Hình xin trên mạng lâu rồi
Thủ phạm gây ra 3 vụ trộm tiệm vàng là Bác Sĩ
Nhìn gương mặt thư sinh này, ít ai ngờ đây lại là thủ phạm gây ra 3 vụ trộm tiệm vàng.
Điều bất ngờ hơn khi biết rằng, Nguyễn Duy Nhật, người đột nhập, trôm trót lọt lấy đi nhiều nữ trang, tài sản, vàng bạc trị giá khoảng 5 tỉ đồng lại đang là Bác Sĩ đa khoa bệnh viên Trung Ương Huế.
Vì muốn đổi đời mà Nhật dính vào nợ nần do đầu tư tiền ảo Crypto. Thế là chẳng biết từ khi nào, để có tiền trả nợ, tiêu xài mà 1 bác sĩ Khoa Đột Quỵ lại hóa Ninja với khả năng leo trèo, núp mái nhà, cắt mái tôn, leo dây thừng, nạy tủ, lấy tài sản bỏ balo và leo lên dây thừng ra lại bên ngoài mà không hề khó khăn chút nào.
Chuyên nghiệp hơn cả những tên trộm chuyên nghiêp là Nhật biết dùng khăn để che Camera hoặc xoay đi hướng khác, mặc áo mưa để che danh tính và đeo găng tay y tế để ko để lại dấu vết
– Vụ thứ nhất là tại tiệm vàng K.L.Chinh ở chợ Dạ Lê, với cách thức : Leo – Cắt – Tuột – Nạy – Xoay – Trèo thì Nhật lấy được 12 nhẫn vàng và nhiều trang sức bạc và thoát ra ngoài thành công.
Sau đó về bệnh viện thay đồ bác sĩ đóng vai Lương Y như Từ mẫu mà ko hề ai biết đó là kẻ vừa thực hiện những màn trộm cắp rất chuyên nghiệp.
Lần này vàng và bạc bán được 54 triệu đồng và để tránh bị dò la đầu mối thì Nhật đi xe khách từ Huế ra tận Đà Nẵng để bán cho chắc ăn.
– Vụ thứ hai là gần 1 tháng sau đó, mục tiêu là tiệm K.C.Lam ở chợ Trần Phù.
Lần này thì cũng thành công và Nhật cũng lấy được nhiều tài sản Vàng Bạc.
Rồi lại trèo qua tiệm N.Thanh sát bên với thủ đoạn tương tự nhưng xui là bên trong tiệm này ko có gì.
Sau đó mang tài sản về bênh viện, cất giấu tủ riêng rồi chạy xe máy ra chợ Đông Hà – Quảng Trị bán được 54 triệu đồng.
– Vụ thứ ba diễn ra sau vụ thứ 2 đúng 1 tuần, lần này là tiệm Thành 41 ở chợ Cống và Nhật xem đây là tiệm có lượng tài sản rất lớn.
Quan sát phương thức hoạt động của tiệm xong, Nhật quay về bệnh viện tiếp tục công việc rồi 21h quay lại chợ để chờ thời cơ ra tay.
Khác 2 lần trước, lần này Nhật nằm chờ trên mái nhà mấy tiếng, chờ đêm khuya khi người dân xung quanh đã ngủ say, đến con chó giờ có thấy cũng chẳng buồn để sủa ngáp ngắn ngáp dài.
Chỉ với ô chữ nhật rộng 20 x 30 là đủ để Nhật thả dây từ mái xuyên qua cả la phông để leo xuống bên dưới, che camera và lấy đi hàng trăm món trang sức.
681 trang sức được Nhật phân loại và cất vào tủ cá nhân ở bệnh viện khi y quay lại đây làm việc.
Trưa hôm sau, Nhật tiếp tục chạy xe máy ra chợ Đông Hà – Quảng Trị bán bớt 1 số nữ trang được 286 triệu.
Khi quay trở lại bệnh viện Trung Ương Huế thì Nhật bị đội cảnh sát bắt khẩn cấp trong ánh mắt bất ngờ của Đồng Nghiệp và cả chính Nhật.
Ngày 28.07, Nhật chính thức bị đưa ra tòa xét xử.
Dù các bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ cho Nhật vì gia đình bị cáo đã bồi thường phần lớn thiệt hại.
HĐXX cũng xét các tình tiết như khai báo thành khẩn, nhân thân tốt, ăn năn hối lỗi, từng được nhận bằng khen trong phong trào công tác Đoàn thanh niên.
Đặc biệt là nhiều năm học sinh giỏi và đi tham gia hiến m*u nhân đạo.
Tuy nhiên, xét hành vi đặc biệt nghiêm trọng, Nhật bị tuyên án 11 năm tù.
Mỗi ngày, trong trang phục Blouse trắng đi làm thì đố ai biết được Nhật là 1 tay Trộm chuyện nghiêp.
Đúng là Chuyện Không Thể Ngờ.
From: Bang Uong
Mẹ Là Người Đầu Tiên Hi Sinh Ngay Cả Khi Con Ngu Dại Một Đời/ Phạm Mạnh San
Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.
Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.
Giữa thành phố Los Angeles hoa lệ của tiểu bang California, nơi những đại lộ thênh thang chạy qua những khu phố giàu sang, nơi Hollywood mỗi ngày sản xuất những giấc mơ phù hoa cho hàng triệu người trên thế giới, vẫn tồn tại một thế giới khác — thế giới của những con người không nhà cửa, sống lặng lẽ bên lề xã hội. Dưới những gầm cầu xa lộ, trong những khu vực bỏ hoang, bên cạnh những thùng rác của các khu thương mại sang trọng, có những kiếp người mà phần đông chúng ta chỉ nhìn thấy trong vài giây ngắn ngủi rồi vội vàng quay đi.
Năm 2005, nhà viết kịch bản điện ảnh Wayne Powers, trong một lần đi qua đường phố Los Angeles, gặp một người vô gia cư xin tiền. Ông chỉ cho người đàn ông ấy vài Mỹ kim rồi tiếp tục bước đi. Nhưng cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đó lại không rời khỏi tâm trí ông.
Ông tự hỏi: “Nếu thay vì cho người ấy vài đồng bạc lẻ, tôi trao cho ông ta cả một gia tài thì chuyện gì sẽ xảy ra? Số tiền ấy có thể thay đổi cuộc đời ông ta hay ngược lại, nó sẽ hủy hoại ông ta?
Câu hỏi ấy dần trở thành một ám ảnh đối với Wayne Powers. Ông đem ý tưởng này trình bày với đài truyền hình Showtime: chọn một người vô gia cư, trao cho họ 100.000 Mỹ kim tiền mặt, rồi quay phim lại toàn bộ hành trình để xem đồng tiền có thể giúp một con người thoát khỏi cảnh khốn cùng hay không.
Showtime đồng ý thực hiện cuộc thử nghiệm đặc biệt này, nhưng đặt ra hai điều kiện quan trọng: người tham dự phải vượt qua cuộc kiểm tra tâm thần và thử nghiệm ma túy. Họ không muốn chọn một người đang mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hoặc đang chìm trong cơn nghiện không kiểm soát. Mục đích của chương trình là tìm hiểu xem một người lâm vào cảnh nghèo khó vì hoàn cảnh có thể thay đổi cuộc đời ra sao khi bất ngờ nhận được một cơ hội lớn.
Trong nhiều tuần lễ, Wayne Powers đi khắp các khu vực dành cho người vô gia cư ở Los Angeles để trò chuyện, tìm kiếm nhân vật thích hợp cho cuốn phim tài liệu mang tên “Reversal of Fortune” (Sự đảo ngược số phận).
Ông cần một người vừa đủ tỉnh táo để hiểu cuộc thử nghiệm, vừa đủ cởi mở để máy quay có thể ghi lại cuộc sống thật, nhưng đồng thời cũng phải là người mà 100.000 Mỹ kim thật sự có ý nghĩa như một chiếc phao cứu sinh.
Cuối cùng, ông gặp được Ted Rodrigue. Ted lúc ấy 45 tuổi. Ông đã sống cảnh không nhà cửa suốt khoảng 20 năm. Nơi trú ngụ của ông là dưới một gầm cầu xa lộ ở Los Angeles. Những tài sản ít ỏi của ông được cất trong một cái hốc nhỏ dưới chân cầu — vài bộ quần áo, vài vật dụng cá nhân và những thứ cần thiết cho cuộc sống qua ngày.
Mỗi ngày của Ted trôi qua theo một nhịp điệu quen thuộc: ông đi nhặt lon nước ngọt, chai lọ bỏ đi rồi đem đến trung tâm tái chế để đổi lấy tiền. Một ngày khá may mắn, ông kiếm được từ 20 đến 35 Mỹ kim. Số tiền ấy dùng để mua thức ăn, thuốc lá và bia.
Người bạn thân duy nhất của Ted là Mike, một thanh niên 18 tuổi làm việc tại trung tâm tái chế nơi Ted thường mang lon chai đến. Đối với Ted, Mike là người hiếm hoi vẫn đối xử với ông như một con người bình thường, không khinh miệt, không xa lánh.
Tài sản quý giá nhất của Ted là một chiếc xe đạp cũ. Mỗi tuần ông đem xe ra tiệm rửa xe để lau chùi cẩn thận. Điều nghịch lý là ông chăm sóc chiếc xe ấy rất kỹ, dù bản thân ông đã nhiều tháng không được tắm rửa đàng hoàng.
Qua những cuộc trò chuyện trước máy quay, Wayne Powers biết được câu chuyện phía sau cuộc đời Ted. Tuổi thơ của ông đầy bất hạnh với một người mẹ nghiện rượu. Ông bắt đầu uống rượu từ năm 13 tuổi. Những năm tuổi trẻ trôi qua trong vòng xoáy tội phạm và tù tội. Khi ra tù, Ted không có gia đình nâng đỡ, không có nghề nghiệp, không có một mạng lưới xã hội nào để giúp ông trở lại đời sống bình thường.
Hai mươi năm sống trên đường phố đã biến sự sinh tồn thành thói quen.
Ted từng nói trước ống kính: “Nếu có một điều ước, tôi chỉ muốn được sống trong xã hội như một người dân bình thường.”
Ông không biết rằng cuộc đời mình sắp bước sang một chương mới.
Một buổi sáng nọ, trong lúc đang bới tìm lon chai trong đống rác quen thuộc, Ted phát hiện một chiếc va-li cũ kỹ phủ đầy bụi. Ông tò mò lau sạch rồi mở ra.
Bên trong là những bó tiền mặt. Những tờ giấy bạc 20 Mỹ kim, 50 Mỹ kim xếp đầy chiếc va-li. Trên cùng là một mảnh giấy ghi dòng chữ: “Điều gì sẽ xảy ra nếu một người vô gia cư được trao 100.000 Mỹ kim?”
Ted đứng sững người. Ông không tin vào mắt mình. Nước mắt chảy xuống trên khuôn mặt người đàn ông đã quen với những ngày tháng lạnh lẽo dưới gầm cầu.
Máy quay ghi lại trọn vẹn khoảnh khắc ấy: sự kinh ngạc, niềm vui, sự hoài nghi và cảm giác như một phép lạ vừa xảy đến.
Những ngày đầu tiên, Ted tỏ ra khá thận trọng. Ông mua một chiếc xe đạp mới. Ông thuê một phòng khách sạn — lần đầu tiên sau nhiều năm được ngủ trong một căn phòng có mái che. Ông đưa người bạn trẻ Mike đi chơi công viên giải trí. Để cảm ơn người duy nhất từng giúp đỡ mình, Ted mua tặng Mike một chiếc xe hơi cũ.
Những nhà sản xuất chương trình cũng cố gắng giúp Ted chuẩn bị cho tương lai. Họ giới thiệu ông với một chuyên viên hỗ trợ người vô gia cư và một cố vấn tài chính. Họ khuyên ông nên lập ngân sách, tìm nơi ở ổn định, học nghề và đầu tư số tiền để bảo đảm cuộc sống lâu dài.
Ted lắng nghe, gật đầu, nhưng rồi ông làm theo ý mình. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, tin tức lan truyền trong cộng đồng người vô gia cư rằng Ted đang có tiền. Những người trước đây từng tránh xa ông nay tìm đến làm quen. Những người từng không muốn tiếp xúc vì mùi rượu và sự nhếch nhác của ông nay lại tỏ ra thân thiện.
Ted gọi điện cho mẹ và các chị em ở Sacramento. Trong nhiều năm, gia đình gần như đã xa lánh ông vì cuộc sống lang thang. Nhưng khi biết Ted có 100.000 Mỹ kim, họ bắt đầu nghe điện thoại của ông trở lại. Mẹ ông còn mời ông về sống chung.
Ted rời Los Angeles đến Sacramento, nhưng từ đó mọi chuyện bắt đầu đi xuống.
Ông uống rượu mỗi tối tại các quán bar. Tiền bạc ra đi với tốc độ chóng mặt. Có thời điểm ông tiêu khoảng 10.000 Mỹ kim mỗi tuần. Ông mua một chiếc xe Dodge Ram mới giá 35.000 Mỹ kim, thuê căn hộ, mua sắm đồ đạc và bắt đầu cuộc sống xa hoa mà trước đây ông chưa từng có.
Ông cùng lúc quen nhiều phụ nữ, mua cho người này những bữa ăn đắt tiền, tặng người kia một chiếc xe tải.
Các chị em của Ted cố gắng can ngăn. Họ khuyên ông hãy tiết kiệm, tìm việc làm và nghĩ đến tương lai. Nhưng Ted cho rằng họ chỉ muốn kiểm soát mình vì tiền bạc. Ông không còn tin ai.
Sáu tháng sau, bộ phim hoàn tất. Ted từ chối cho biết ông còn lại bao nhiêu tiền. Gia đình ông ước tính số tiền còn chưa tới 5.000 Mỹ kim.
Tháng 12 năm 2006, Ted cùng Wayne Powers xuất hiện trong chương trình truyền hình nổi tiếng “The Oprah Winfrey Show” để giới thiệu bộ phim.
Oprah hỏi thẳng: “Ông còn lại bao nhiêu trong số 100.000 Mỹ kim ấy?”
Ted trả lời ngắn gọn: “Không còn gì cả.”
“Bây giờ ông đang sống ở đâu?”
“Tôi lại vô gia cư.”
Khán giả im lặng sững sờ.
Chỉ trong sáu tháng, Ted đã tiêu hết toàn bộ số tiền. Ông trở lại đúng nơi mình từng sống: dưới gầm cầu ở Los Angeles. Vẫn nhặt lon chai. Vẫn kiếm khoảng 20 Mỹ kim mỗi ngày. Vẫn cuộc đời cũ.
Khi được hỏi có hối tiếc không, Ted trả lời rằng ông hài lòng với cuộc sống của mình. Ông không nghĩ mình đã làm điều gì sai và cũng không muốn thay đổi những gì đã xảy ra.
Câu chuyện của Ted Rodrigue đã gây nên một cuộc tranh luận lớn trong dư luận Hoa Kỳ.
Có người cho rằng đây là bằng chứng rằng không thể giúp một người không muốn tự giúp mình. Nhưng cũng có người chỉ trích cuộc thử nghiệm, cho rằng việc trao cho một người từng nghiện rượu, từng chịu nhiều tổn thương tâm lý một số tiền lớn rồi quay phim sự thất bại của họ là một hình thức khai thác con người.
Những người phê bình nói rằng tiền bạc không thể tự nó cứu một cuộc đời. Ted không chỉ thiếu tiền. Ông thiếu những thứ sâu xa hơn: sự chữa trị cho chứng nghiện, sự hỗ trợ tinh thần, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức quản lý tài chính và một môi trường ổn định để làm lại cuộc đời.
100.000 Mỹ kim không thể chữa lành tuổi thơ bất hạnh của ông. Nó không thể xóa bỏ hàng chục năm sống trong cảnh sinh tồn. Nó không thể dạy một người chưa từng học cách lập kế hoạch cho tương lai.
Nó chỉ làm cho những vấn đề cũ trở nên đắt giá hơn.
Câu chuyện Ted cũng phản ánh một bài học rộng lớn trong xã hội hiện đại. Không ít người trúng số rồi phá sản. Không ít vận động viên nổi tiếng kiếm hàng triệu Mỹ kim rồi trắng tay. Không ít người thừa kế gia sản lớn nhưng cuối cùng mất tất cả.
Tiền bạc là một công cụ, nhưng muốn sử dụng công cụ ấy, con người cần có kiến thức, kỷ luật và sự hỗ trợ cần thiết.
Điều khiến câu chuyện của Ted trở nên ám ảnh là ông không chỉ thất bại trong im lặng. Cả thế giới đã nhìn thấy sự thất bại ấy qua màn ảnh.
Nhưng có lẽ cũng cần nhìn Ted như một con người, không chỉ như một bài học cảnh báo. Có thể ông chưa bao giờ thật sự muốn một cuộc đời mà xã hội gọi là “thành công”. Có thể đối với ông, sự tự do dưới gầm cầu — không trách nhiệm, không ai sai khiến, sống theo cách riêng — lại là điều ông quen thuộc và chấp nhận.
Cuối cùng, câu hỏi lớn nhất mà câu chuyện đặt ra không phải là: “Tại sao Ted tiêu hết tiền?”
Mà là: “Nếu thật sự muốn cứu giúp một con người, chúng ta cần trao cho họ tiền bạc, hay cần trao cho họ một con đường?”
Một chiếc va-li đầy tiền có thể đem lại hy vọng trong một khoảnh khắc. Nhưng để xây dựng lại một cuộc đời, con người cần nhiều hơn thế: một mái nhà, sự chăm sóc y tế, sự giáo dục, một công việc, những người bạn chân thành và một cộng đồng sẵn sàng dang tay nâng đỡ.
Ted Rodrigue từng có 100.000 Mỹ kim trong tay. Sáu tháng sau, ông trở lại dưới gầm cầu.
Nhưng câu chuyện của ông vẫn còn đó như một lời nhắc nhở sâu sắc: tiền có thể thay đổi hoàn cảnh trong chốc lát, nhưng chỉ sự thay đổi từ bên trong và sự nâng đỡ đúng cách mới có thể thay đổi số phận của một con người.
Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.








