Private James Sullivan 19 tuổi đứng bịt mắt trước đội hành quyết gồm tám binh sĩ

Tuan Bui AnhNhững câu chuyện Nhân Văn

Private James Sullivan 19 tuổi đứng bịt mắt trước đội hành quyết gồm tám binh sĩ tại Căn cứ Quân đội Boston vào ngày 10 tháng 11 năm 1917.

Fb Loan Trinh

Anh bị tòa án quân sự kết án tội đào ngũ. Tuy nhiên, điều mà đội hành quyết chưa biết cho đến khoảnh khắc ấy là lý do anh đào ngũ.

Thiếu tá William Morrison, 55 tuổi, đã đọc cáo trạng: “Binh nhì Sullivan, anh bị kết án tử hình bằng đội hành quyết vì tội đào ngũ trong thời chiến.”

James đã nói lớn: “Thưa ngài, tôi xin được phát biểu lời cuối cùng.” Thiếu tá Morrison đáp: “Hãy tiến hành.” James tiếp tục: “Tôi đào ngũ vì phát hiện em gái 12 tuổi của tôi, Rose, đã bị gả cho một người đàn ông 41 tuổi trong lúc tôi đang ở trại huấn luyện.

Cha tôi đã bán em ấy với giá 600 đô la. Tôi đã vắng mặt không phép để cố gắng cứu em. Tôi tìm thấy em đang mang thai ở tuổi 13. Tôi đưa em đến cơ quan chức năng. Sau đó tôi trở về căn cứ và tự nộp mình. Tôi chấp nhận bản án, nhưng tôi muốn đội hành quyết này biết rằng tôi đào ngũ để cứu một đứa trẻ, chứ không phải vì hèn nhát.”

Thiếu tá Morrison đã lập tức dừng việc hành quyết và tuyên bố: “Đội hành quyết, đứng xuống. Binh nhì Sullivan, tôi hoãn thi hành bản án của anh trong khi chờ điều tra.” Quân đội đã tiến hành điều tra, phát hiện tình trạng của Rose, bắt giữ chồng và cha của em, đồng thời cho James xuất ngũ danh dự thay vì xử tử.

James đã làm chứng tại phiên tòa cứu trợ em gái, và biên bản phiên hành quyết trở thành bằng chứng cho thấy ngay cả những người lính đối mặt với cái chết cũng ưu tiên bảo vệ gia đình.

James sống đến năm 1979, qua đời ở tuổi 81. Trước khi qua đời, ông đã hồi tưởng: “Tôi lúc ấy 19 tuổi, bịt mắt đứng trước đội hành quyết vì tội đào ngũ. Họ hỏi tôi có lời cuối cùng không. Tôi nói tôi đào ngũ để cứu em gái 12 tuổi bị bán vào hôn nhân trong lúc tôi đang huấn luyện.

Chỉ huy đã dừng việc hành quyết. Tôi sẵn sàng chết để cứu em. Thay vào đó, lời thú nhận của tôi đã cứu tôi và kết tội những kẻ lạm dụng em.

Đội hành quyết ấy chưa từng bắn. Lời nói của tôi mạnh mẽ hơn cả những viên đạn của họ.”

Theo The History Hub 


 

Ðường gian truân đi đến tự do – Tác giả: Phùng văn Phụng

Tác giả: Phùng văn Phụng

Khoảng tháng Giêng năm 1983, tôi trở về nhà sau gần tám năm đi tù cải tạo, xa gia đình. Nhìn dọc theo đường Phạm Thế Hiển bên kia cầu Chữ Y, hoàn toàn thay đổi, không còn nhìn ra được các chỗ quen thuộc trước đây.

Nhiều nhà lấn ra phía trước. Nhiều nhà lên lầu. Những nền trống lúc ra đi tôi thấy, nay được xây lầu, nhà mới. Bước vào nhà, tôi thấy bốn năm đứa nhỏ đang ngồi học, tôi không biết đứa nào là con của tôi. Một đứa trẻ đang ngồi học, chạy thẳng ra phía sau nhà nói: “Má ơi có ông nào kiếm má kìa?” Tôi đi theo, ra sau nhà, tôi thấy bà xã tôi đang nấu cơm. Tôi gặp cậu Bảy, tự nhiên nước mắt tuôn trào, tôi khóc!

Tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi không ngờ còn sống để được gặp lại cha mẹ, vợ con, vì tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở nơi rừng thiêng nước độc, khó hy vọng sống sót để về tới nhà.

Trước 1975, tôi là giáo sư trung học. Khi cải tạo về, tôi chưa được làm người dân bình thường. Tôi còn bị quản chế, đi đâu cũng phải khai báo, phải trình diện công an hàng tuần. Mỗi sáng thứ hai đem sổ trình công an, ghi rõ từng ngày đã làm gì, tiếp xúc với ai. Nội cái việc trình diện hàng tuần như vậy cũng đủ làm cho tôi không còn sáng suốt, không còn tâm trí để tính chuyện làm ăn. Mà làm ăn cái gì mới được, khi tôi không có đồng xu dính túi. Lúc này nhà cầm quyền cấm tư nhân làm ăn. Ngay cả bán cà phê còn phải bán chui nữa mà. Mọi thứ buôn bán đều phải vô hợp tác xã hết.

Người dân bình thường còn bị khó khăn trong công ăn việc làm, huống hồ gì tôi, người vừa về từ trại cải tạo. Tôi phải xoay sở, kiếm sống bằng nghề lao động chân tay.

Tôi quyết định đi… đạp xích lô

Anh Ðạt, bạn tù, trước ở chung cùng trại cải tạo với tôi ở trại Tân Lập, Vĩnh Phú về trước tôi mấy tháng, có chiếc xe xích lô cho mướn. Sáng sớm, tôi lấy bộ quần áo hơi tệ một chút. Áo sơ mi cũ. Quần tây cũ nhưng lành lặn.

Tôi đến nhà anh Ðạt mượn chiếc xích lô chạy thử, xem có hành nghề xích lô nổi không? Ðạp tới dốc cầu Nhị Thiên Ðường, tôi phải xuống xe, đẩy lên dốc. Nhưng chỉ là chiếc xe xích lô, không có người, nên tôi đẩy chiếc xe không lấy gì làm khó khăn. Tôi thấy vui vui, vì lần đầu tiên… đạp xích lô, dùng sức lao động của mình để kiếm sống.

Tôi đạp xe qua cầu Nhị Thiên Ðường, chạy đến bến xe Chợ Lớn, khu chợ Bình Tây để kiếm khách. Vì là lần đầu chạy xích lô, tôi đâu có biết, là người ta cấm rước khách trước cổng chợ.

Vừa đậu xe trước cổng, bảo vệ chợ đến lấy cái nệm trên xe để dùng cho khách ngồi. Thế là cái xe xích lô của tôi trống trơn. Tôi đạp xe không, chạy vòng vòng một hồi, đến ngã tư đường Nguyễn Trãi và Nguyễn Tri Phương, gặp khách gọi. Ðó là hai vợ chồng người Hoa mập mạp leo lên xe, bảo tôi chạy từ ngã tư, từ đường Nguyễn Trãi, chạy dọc theo đường Nguyễn Tri Phương để đi lên phía đường Vĩnh Viễn. Tôi không ngờ là đường lên dốc, tôi đạp không nổi vì ông bà người Hoa này quá mập. Chắc hai vợ chồng này cũng phải gần 160 hay 170 kí lô. Sau chuyến xe chở hai người Hoa đó, tôi thấy quá mệt, đành phải đem xe về trả lại cho anh Ðạt. Tôi biết sức mình không thể làm nổi nghề này. Ðêm đó, tôi trằn trọc suốt đêm, tim tôi đập nhiều, đập liên hồi, không ngủ được. Mãi đến mấy ngày sau mới bình tĩnh trở lại, sức khỏe mới bình thường.

Tôi lại đổi nghề, đi làm… thợ hồ

Anh Hai tôi nhờ tôi đi theo để sửa chữa ống cống ở Quận 11. Sáng sớm, tôi cùng anh Hai, mỗi người một chiếc xe đạp chạy qua Quận 11. Tôi xách theo một phần cơm đeo tòn ten ở ghi đông xe. Ðến nơi, tôi phụ anh Hai bốc dỡ các miếng “đan” vuông vức mỗi bề chừng tám tấc, khiêng ra khỏi miệng cống. Anh Hai tôi sửa chữa những chỗ hư hại. Sau đó hè hục khiêng đậy lại chỗ cũ. Sau một ngày làm việc ngoài trời nắng gắt, anh phát cho tôi một ngày “lương” là công tôi phụ giúp khiêng mấy tấm “đan.” Ngày hôm sau anh không nhờ tôi nữa vì tôi không làm nổi những việc nặng nhọc mà anh cần tôi giúp.

Thế là lại đổi nghề, tôi đi bán… vé số dạo

Anh Nguyễn Tấn Th. đang làm nghề bán vé số. Anh đặt cái bàn bán vé số ở chợ Phạm Thế Hiển. Trước năm 1975, anh tốt nghiệp Cao Học Hành Chánh, làm ở Nha Thuế Vụ, Bộ Tài Chánh.

Bây giờ anh thất nghiệp, lãnh vé số để bán, vừa bán lẻ, vừa giao cho các bạn hàng. Tôi đến nhà anh để nhận vé số về bán kiếm lời. Chỗ ngồi thì bà con đã sắp xếp hết rồi, tôi đâu còn chỗ nào chen chân vô được. Ðành phải đi bán dạo.

Lúc đó, tôi nghĩ phải đi thật xa ra khỏi khu vực Quận 8 thì mới hy vọng không gặp học trò cũ của mình. Tôi nghĩ, trước đây cũng từng đi dạy học, cũng là một giáo sư trung học, mà bây giờ đi bán vé số thì cảm thấy mắc cỡ quá, coi kỳ cục quá.

Sau khi anh Thời đưa sấp vé số cho tôi, tôi đâu dám mời bà con ở Quận 8. Tôi đi bộ qua đò Chánh Hưng, đi vòng qua chợ Xóm Củi cũng chưa dám bán, tôi đi dọc Kinh Tàu Hủ, bến Lê Quang Liêm, qua khỏi Bưu điện Chợ Lớn, khoảng khá xa, tôi hy vọng sẽ không còn gặp ai là người quen nữa.

Tôi đi một khoảng xa đến bến xe xích lô đạp, có mấy anh tài xế đang đợi khách. Tôi nghĩ trong đầu chắc là bán được rồi đó. Tôi liền lấy trong túi quần một cọc chừng năm sấp vé số để mời khách. Tôi vừa đưa sấp vé số, vừa nói:

– “Mời mấy anh mua giùm vé số.”

Vừa mời xong, có một người trong nhóm tài xế nói:

– “Chào thầy. Em là học trò trường Lương Văn Can, mời thầy uống cà phê, hút điếu thuốc.”

Tôi giựt mình, vội vàng đút thật nhanh mấy xấp vé số vào trong túi quần và em này kéo ghế mời tôi ngồi đưa ngay một điếu thuốc thơm đầu lọc, bấy giờ gọi là thuốc “có cán.” Tình nghĩa thầy trò, quí nhau lắm mới mời thuốc lá thơm. Uống vội chút cà phê, hút xong điếu thuốc. Tôi mắc cỡ, thấy ngại ngùng quá nên không dám tiếp tục đi bán nữa. Trở về nhà, tôi giao hết mấy xấp vé số cho đứa con gái út lúc đó chín tuổi, nhờ cháu đi đò qua phường Chánh Hưng bán tới xế trưa khoảng bốn, năm giờ chiều thì hết.

Thế là có nghề mới: giặt bao nylon

Tôi cùng anh Hoàng Văn Ð. đi đến các tiệm mua bán vật liệu phế thải, kiếm bao nylon dơ mà mua. Ðem giặt ở chỗ máy nước công cộng, phơi khô rồi đem đến các cơ sở sản xuất ra bao ny lon mà bán. Ngồi giặt bao nylon cho hết các chất bẩn như dầu mỡ, đất cát, bụi, giặt cho thật sạch cũng rất gian nan. Kiếm chỗ sân vận động để phơi cho thật khô rồi đem đến cho các tiệm làm bao ny lon bán. Nhưng họ ép giá, đòi giá quá thấp cho nên bán xong chỉ lấy lại được vốn là mừng rồi. Giặt sạch, phơi khô, công việc cả ngày mà không có lời nên đành bỏ cuộc, không tiếp tục làm nghề này được.

Chuyển sang nghề mua bán sách báo cũ

Tôi vào trong các tiệm phế liệu ở Quận 7 (cũ), mua bịch nylon, thấy họ có một số sách báo cũ, tôi lựa các sách tạm gọi là “coi được,” mua lại để ở nhà. Sắp xếp loại nào có giá trị đem ra đường Huỳnh Thúc Kháng để bán cho các gian hàng bán sách cũ. Tôi đi với đứa con gái lúc đó khoảng 13, 14 tuổi, ôm phụ giùm các cuốn sách.

Ra đến nơi, mới vừa ôm các cuốn sách để giới thiệu với các quày bán sách, thì bị bảo vệ đến tịch thu sạch trơn, không cho bán, mặc dầu các sách này chẳng phải là sách cấm. Họ nói rằng buôn bán không có giấy phép nên họ tịch thâu. Tôi đau lòng, rất buồn vì thầy giáo không đi dạy được, bán sách cũ cũng không cho. Làm gì để sống đây? Tôi chỉ còn có con đường hồi hương, về quê làm ruộng hay đi kinh tế mới cuốc đất trồng khoai. Ðó cũng là chủ trương của nhà nước lúc bấy giờ.

Trở lại nghề cũ: đi dạy kèm

Phụ huynh học sinh cũ thương tình mời tôi đến nhà để dạy Toán, Anh văn cho con họ. Tôi làm nghề dạy kèm tư gia. Mỗi chỗ dạy chừng hai ba học sinh. Những lúc trời mưa, trời gió cũng đi xe đạp đến dạy. Dạy đâu được vài tháng các em cũng không chịu học nữa vì cái học lúc này không hấp dẫn các em. Bác sĩ ra trường lãnh tháng lương không bằng nghề vá xe đạp ở ven đường. Tôi lại chuyển nghề.

Ði bán bia, nước ngọt

Sau một thời gian dạy học không đủ sống, bà xã tôi có một người bạn dạy chung trường có cơ sở nước ngọt, cần người bỏ mối.

Họ cho mượn năm kết vỏ chai để tôi lấy hàng đi bỏ mối. Tôi đến các quán bán nước ngọt, bán bia, mời chào. Quán đầu tiên là quán… bà Ba, trên đường Liên Tỉnh số năm, dưới dốc bên phải cầu Nhị Thiên Ðường.

Thấy giá rẻ, cho mượn vỏ chai nữa nên bà Ba chịu liền. Tôi mừng quá, lần đầu giới thiệu hàng mới mà có người nhận ngay. Tôi vòng qua chợ Bông Sao, đi dọc theo đường Lộ Ðá Ðỏ hỏi bất cứ quán bán nước nào ven đường. Lúc này, chỉ có một người bỏ mối nước ngọt mà thôi, nên tôi không có gặp sự cạnh tranh nào đáng kể. Tôi ráng hết sức đi lấy hàng và giao hàng.

Có khi trời đang nắng, cái nắng gay gắt của buổi trưa Hè, tôi cũng phải chở nước ngọt bằng xe đạp, hai kết được ràng ở phía sau xe, hai giỏ xách để ở đàng trước chở được một kết nước ngọt, vị chi là ba kết trên xe.

Sau khoảng ba tháng chở nước ngọt bằng xe đạp, tôi bắt đầu bị cảm thường xuyên. Sau một thời gian cảm ho, nằm ngủ không được vì khó thở, tôi phải kê đầu gối lên cao mới ngủ được, mới thở được. Nhiều đêm ho và quá mệt, tôi đành phải đi bác sĩ. Người ta khám phá tôi bịnh lao và phổi có nước. Thế là phải vô bịnh viện Nguyễn Trãi nằm điều trị mất một tháng.

Về nhà phải uống thuốc mất một năm rưỡi nữa mới lành bịnh. Tôi còn nhớ, lúc đó vừa giao nước ngọt và bán thêm rượu bia, có tên là “bia lên cơn,” bia này được nấu bằng cùi thơm hay vỏ của trái thơm để vài ngày lên men, có gas uống cũng chóng mặt, cũng say. Bà con thích uống loại này vì… rẻ, còn bia hơi quá đắt, lại khan hiếm, nên không đủ cung ứng cho nhu cầu.

Ngoài “bia lên cơn,” còn có rượu nhẹ 36, là loại rượu pha cồn công nghiệp, uống vô nhức đầu chịu không nổi.

Lúc mới về, phó chủ tịch phường sai tôi đi đắp kinh. Sáng sớm phải đội cái nón lá lên đầu, xách theo bình nước lã để uống và phải lội xuống sình để đắp bờ đê. Trong thực tế, họ cho người dẫn chúng tôi đến con kinh nhỏ gần ụ Nam Chành, bắt chúng tôi xuống sình để vét kinh, đào đất đắp lên bờ.

Người ở dưới ruộng, từ xa giữa ruộng, xắn một cục đất tạm coi là khá lớn, chuyền tay cho người thứ nhất đã rớt xuống một miếng, chuyền đến tay người thứ hai đã rớt thêm một miếng đất nữa đến khi miếng đất truyền đến người cuối cùng quăng được cục đất lên bờ thì nó chỉ còn bé tí tẹo.

Sau một buổi làm việc như vậy, số đất đem lên bờ chẳng còn bao nhiêu, chỉ làm cho đường đi càng dơ bẩn hơn mà thôi. Ðối diện với nhà tôi là công an phường. Cho nên sáng ngủ thức dậy là thấy công an rồi. Công an thường xuyên theo dõi xem tôi có liên lạc với sĩ quan của chế độ cũ để tổ chức phản động chống nhà cầm quyền hay không? Ðó là hình thức tù “lỏng” mà thôi. Tôi thì lúc nào cũng lo sợ, hồi hộp không biết sẽ bị bắt lại bất cứ lúc nào vì bất cứ lý do gì. Lòng tôi không yên. Lo âu hoài. Lo hết chuyện này đến lo chuyện khác. Lo làm ăn. Lo bị đói, không đủ ăn. Toàn gia đình làm việc cật lực mới sống được, mới tồn tại được. Theo luật bù trừ, con cái tôi vì phụ giúp buôn bán nên không còn chú tâm hoàn toàn vào việc học nữa. Còn riêng cá nhân tôi lo bán bia, bán nước ngọt nên không còn thì giờ dạy con cái học hành. 

Cám ơn Thượng Đế, Cám ơn mọi người.

Hành trình qua Mỹ thật cam go. Khi được cộng sản thả ra từ trại Nam Hà, thành phố Hà Nam Ninh về đến Sài Gòn, một thời gian ngắn khoảng vài tháng, tôi nhờ anh Nguyễn Gia Ph., một cựu giáo sư dạy cùng trường Lương Văn C. về trước tôi khoảng hai năm, cho tôi mẫu đơn để tôi điền đơn gởi sang Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thái Lan để xin định cư tại Hoa Kỳ. Trong thời gian này, ít ai dám làm đơn vì còn sợ cộng sản biết được có thể bắt bỏ tù trở lại vì đã ở tù rồi mà còn muốn theo kẻ thù là “Ðế Quốc Mỹ,” còn thích “bơ sữa” của kẻ thù. Như vậy là chưa… cải tạo được.

Tôi quyết định làm đơn rồi “lén,” gởi… chui, nhờ người làm trong bưu điện gởi giùm. Không có ai, không có chỗ nào dám nhận đánh đơn của mình. Tôi phải tự đánh máy lấy và tự gởi, lòng tôi lo âu không biết thơ của mình có tới Thái Lan không? Ðơn tôi có bị công an kiểm duyệt và tôi có bị làm khó dễ khi nộp đơn chui như vậy hay không?

Tôi gởi nhiều đơn, đơn nào cũng giống nhau cứ vài tháng lại gởi một cái đơn. Tôi cứ gởi đại nhiều lần, hy vọng thơ này lạc còn có thơ khác tới. Tôi cũng gởi cho bà Khúc Minh Thơ để bà gởi sang Bangkok can thiệp giùm tôi.

Ði dạy học trở lại thì nhà nước cộng sản không cho. Tôi hoàn toàn thất nghiệp. Tôi chỉ còn hy vọng lối thoát duy nhất này, đi Mỹ để giải quyết chuyện làm ăn, chuyện học hành của con cái, nhất là tôi có thể tìm được tự do.

Tôi được người cháu gọi bằng cậu, cháu ngoại bác Hai tôi ở làng Tân Tập nhận bảo trợ cho tôi từ năm 1983. Khi nộp đơn đi Mỹ, người cháu này lo giấy tờ cho tôi và được phía Mỹ chấp thuận từ năm 1984, được gọi là tờ “Loi.” Nếu có tờ giấy này, có thể dùng để xin xuất cảnh ở Việt Nam. Hành trình đi Mỹ của gia đình chúng tôi rất là gian nan. Tôi thường ra Sở Ngoại Vụ, trước dinh Ðộc Lập cũ, để nghe ngóng tin tức. Ôi thôi đủ thứ loại tin tức, thêu dệt đủ thứ về cuộc sống sung sướng, giàu sang ở Mỹ.

Tôi cùng với người bạn, là anh Quang, đi nộp đơn, nhưng vì anh ấy có bảo lãnh trước nên Sở Ngoại Vụ nhận đơn để làm giấy xuất cảnh, còn tôi chỉ có tờ “Loi.” không có ai bảo lãnh cả, nên họ không cho nộp đơn, bảo phải chờ thông báo sau.

Khi cho tù cải tạo nộp đơn, vì nộp trễ, tôi được lên danh sách HO 23. Lúc này có rất nhiều người khiếu nại bên phía Mỹ để xin đi sớm nêu lý do là nộp đơn quá lâu rồi, ở trong nước bị chèn ép, khó khăn, nguy hiểm. Tôi cũng có làm đơn khiếu nại. Cuối cùng tôi được “đôn” lên HO 19, đi trước khoảng một năm.

Trước khi ra đi, phải khám sức khỏe. Khi đi khám bịnh phải lo đủ thứ, lo đủ nơi. Phải lo khám trước ở nhà riêng của bác sĩ, chụp phổi trước xem có bị nám không? Chi tiền cho bác sĩ để đến khi khám bịnh chính thức sẽ được dễ dàng hơn. Khi đi phỏng vấn cũng phải bỏ vô hồ sơ vài chục ngàn đồng để được dễ dàng không bị các viên chức cộng sản làm khó dễ. Tôi quá sức hồi hộp vì sợ có điều gì trở ngại không? Tôi biết hồ sơ tôi rất tốt vì từ năm 1983 khi tôi làm đơn gởi qua Bangkok, Thái Lan, cho đến lúc được phỏng vấn không có gì thay đổi cả.

Tháng cuối cùng, trước khi được lên máy bay, tôi bị cảm liên miên vì quá lo lắng. Tôi thuộc “diện” phải giao nhà cho nhà nước quản lý. Tôi có khiếu nại. Họ ngâm hồ sơ không chịu giải quyết để tôi nóng lòng muốn đi Mỹ thì phải ký giao nhà cho họ.

Tối hôm Chúa Nhật lên máy bay mà cả tuần cuối cùng đó, tôi thường xuyên lên Sở Nhà Ðất họ cũng không chịu trả lời, bảo tôi phải chờ. Tôi đã có giấy tờ đăng ký chuyến bay, đã có dịch vụ lo chuyên chở hành lý. Ðã hẹn ngày giờ chở gia đình tôi ra sân bay. Nhưng đến những ngày chót mà tôi cũng chưa có giấy chứng nhận không có nhà cửa. Nếu thiếu tờ giấy này tôi không thể nào lên máy bay được. Sáng Thứ Bảy, tôi đi cùng một nhân viên dịch vụ của tôi đứng đợi ở Sở Nhà Ðất. Chúng tôi phải chung tiền cho họ, vậy mà mãi đến chiều Thứ Bảy, khi sắp đóng cửa, họ mới chịu đưa giấy tờ cho tôi.

Trước đó mấy ngày, hôm Thứ Năm, tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay. Khi nhận được giấy đình chỉ chuyến bay, tôi như người mất hồn, không biết giải quyết ra sao? Vợ tôi thúc hối cứ ký giao nhà cho nhà nước để được đi sớm. Tôi lòng rối như tơ vò, tôi không thể làm như vậy được vì nhà này đâu phải là nhà của tôi đâu mà tôi ký giao, tôi chỉ đứng tên cái nền nhà giùm cho ba má tôi mà thôi.

Tôi không thể ký giao nhà của ba má tôi được. Cơ sở đại lý bia thì đã bán lại cho em tôi rồi. Ðã cầm lấy tiền, đã thanh toán nợ nần xong. Trong một tháng cuối cùng tôi không lúc nào yên ổn cả. Lo bán tiệm. Lo khám sức khỏe. Lo thăm viếng bà con, anh em, bạn bè. Lòng tôi ngổn ngang trăm mối, đầu óc quay cuồng bao nỗi lo âu.

Lần ra đi này lại thêm thử thách mới, lại phải thay đổi nghề nghiệp nữa, rồi sẽ sống bằng nghề gì đây, lại bắt đầu bằng nghề mới ở tuổi 51, sức khỏe tôi không phải loại tốt cho nên nếu làm nghề gì nặng nhọc đâu có làm nổi.

Ở quê hương mình, tôi có thể nói tiếng Việt với nhau, làm ăn cũng có cơ sở rồi, phấn đấu gần tám năm được một cửa hàng để buôn bán, một số khách hàng quen thuộc, sinh sống tương đối thoải mái so với người xung quanh như vậy là mình có phước lớn lắm rồi. Cho nên bạn bè mới nói làm ăn rần rần như vậy, còn muốn đi Mỹ làm gì nữa. Nhưng họ đâu hiểu rằng làm ăn như vậy, nhưng có gì chắc chắn đâu. Họ có thể đóng thuế thật cao lên, mình chịu không nổi mà bỏ cuộc hoặc rủi ro có truyền đơn hay có biến động gì họ có thể bắt mình vô tù ngay. Về tinh thần làm sao mà yên ổn được. Do đó, tôi phải dứt khoát ra đi, đi bất cứ xứ sở nào, nếu được đi Mỹ thì còn quí giá nào bằng.

Ngày ra đi mừng vui, lo âu lẫn lộn. Mừng vui vì thoát khỏi chế độ cộng sản, được tự do đọc báo, đọc sách với mọi tư tưởng, mọi khuynh hướng. Tôi có thể nói về bất cứ điều gì mình cho là đúng, không sợ bị bắt bớ, bỏ tù. Nhưng tôi lo lắng không biết làm gì để sống đây. Anh văn không giỏi lắm, nghề nghiệp chuyên môn không có. Tôi cũng đành phó thác cho “Thượng Ðế, Ông Trời” về tương lai của mình.

Mặc dầu có lo lắng cho tương lai, sự ra đi thoát khỏi chế độ cộng sản cũng là niềm vui đối với tôi và gia đình tôi, để giải quyết nhiều vấn đề cùng một lúc, nhà cửa chật chội sẽ được rộng rãi thêm ra vì vắng một gia đình. Con cái sau này có nghề nghiệp theo ý muốn. Tôi không còn bị sự kềm kẹp của công an. Tôi được hít thở không khí tự do đó chính là niềm ao ước thiêng liêng, quan trọng nhất trong đời tôi.

Hôm lên phi cơ ra đi, phi cơ vừa cất cánh, tôi cảm tưởng như mình vừa thoát khỏi cơn mơ. Tôi thành thật cám ơn tất cả những người thân yêu, bạn bè, thầy cũ, học trò cũ đã quan tâm nâng đỡ tinh thần tôi trong những ngày tháng khó khăn lúc tôi vừa mới ra tù. Tôi vẫn nhớ Bác Sĩ Trạm, tay cầm hai hộp sữa đến thăm lúc tôi mới về. Tôi vẫn nhớ thầy Hoàn, thầy dạy tôi hồi tôi học lớp Chín ở trung học, đến thăm tôi rất sớm. Các bạn của bà xã tôi đến ăn mừng tại nhà tôi. Con xin hết lòng tạ ơn Thượng Ðế đã quan tâm, săn sóc, nâng đỡ con, hướng dẫn gia đình con đi được đến bến bờ tự do.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Đăng trong Báo Người Việt ngày 16 March 2010

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả: Phùng Văn Phụng   


 

ĐỨC KHỔNG TỬ…. BÁI SƯ…!

Nguyen Thi Chau

 Chuyện ảo chút nhưng hay.

ĐỨC KHỔNG TỬ…. BÁI SƯ…!

Một lần, Khổng Tử ngồi trên chiếc xe nhỏ có ngựa kéo chu du khắp các nước. Đến một vùng nọ thấy có chú bé lấy đất đắp một tòa thành, rồi ngồi vào trong đó, Khổng Tử liền hỏi:

“Này cháu, cháu trông thấy xe ta đi tới cớ sao không chịu tránh?”

Chú bé trả lời:

“Cháu nghe người ta đồn rằng, Khổng Phu Tử trên thông Thiên Văn, dưới tường Địa Lý, giữa hiểu lòng người. Vậy mà hôm nay cháu gặp Phu Tử thì không phải vậy….

Bởi vì từ xưa đến nay, chỉ nghe nói đến chuyện xe tránh thành, chứ thành nào lại tránh xe đâu?”.

Khổng Tử ngạc nhiên quá, liền hỏi:

– Cháu tên là gì?

– Dạ Hạng Thác

– Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?

– Dạ, 7 tuổi ạ.

– Mới 7 tuổi mà đã khôn ngoan vậy sao?

– Dạ thưa, cháu nghe nói, con cá nở được 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ sang hồ kia. Con thỏ 6 ngày tuổi đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra đến nay đã được 7 tuổi, lấy gì làm khôn…?

Lần này thì Khổng Tử thực sự kinh ngạc, bèn đưa ra liền 16 câu hỏi khó để thử tài Hạng Thác. Thế nhưng Hạng Thác đã trả lời trôi chảy, rồi nói:

– Vừa nãy Khổng Phu Tử hỏi cháu nhiều quá…! Bây giờ, cháu xin hỏi Phu Tử: “Tại sao con ngỗng và con vịt nổi trên mặt nước? Tại sao chim hồng, chim hộc lại kêu to? Tại sao cây tùng, cây bách lại xanh cả mùa hè lẫn mùa đông…?”

Khổng Tử đáp: Con ngỗng, con vịt nổi được trên mặt nước là nhờ hai bàn chân vuông làm phương tiện. Chim hồng, chim hộc kêu to, là vì cổ chúng dài. Tùng bách xanh tươi bốn mùa là vì thân chúng đặc.

– Thưa, không đúng…! Hạng Thác reo lên – con rùa nổi lên mặt nước, đâu có phải nhờ đôi bàn chân vuông làm bàn đạp. Con ễnh ương kêu to mà cổ nó đâu có dài. Cây trúc cũng xanh bốn mùa, mà ruột nó rỗng đấy thôi…!

Khổng Tử chưa biết giải thích ra sao, thì chú bé lại hỏi:

– Thưa Phu Tử, cho phép cháu hỏi thêm. Tại sao mặt trời buổi sáng lại to mà buổi trưa lại nhỏ?

Khổng Tử nói:

– Là vì buổi sáng, mặt trời gần ta hơn.

– Không phải ạ! – Hạng Thác vặn lại – Buổi sáng mặt trời gần ta hơn, sao lại mát, còn buổi trưa mặt trời xa ta hơn, sao lại nóng…?

Rồi Hạng Thác lý sự một hồi, khiến Khổng Tử phải thốt lên:

– Cháu còn ít tuổi mà lại thích hỏi những chuyện xa xôi, viễn vông, ở tận đẩu tận đâu, chuyện trước mắt thì không hỏi.

Hạng Thác cười khanh khách nói:

– Vâng, cháu xin hỏi chuyện ngay trước mắt ngài: – Vậy lông mày của Phu Tử có bao nhiêu sợi ạ…!

Khổng Tử không đáp, sai người đánh xe đi, và than rằng: “Hậu sinh khả úy!” (Lớp hậu sinh thật đáng sợ!).

Câu “Hậu sinh khả úy” ra đời từ đấy. Hạng Thác mất năm 10 tuổi, được lập đền thờ, gọi là Tiểu Nhi Thần, nghĩa là Thần Nhi Đồng, gọi tắt là thần đồng.

Chữ “Thần Đồng” cũng có từ ngày đó.

Tương truyền rằng Khổng Tử có bái Hạng Thác là sư phụ….!

(Sưu tầm) 


 

ĐỪNG VỘI VÀNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC

Linh Mục Mi Trầm

 ĐỪNG VỘI VÀNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC

Chuyện kể rằng:

Một bác sĩ vào bệnh viện vội vàng sau khi nhận được gọi cho một cuộc phẫu thuật khẩn cấp. Ông nhanh chóng thay trang phục và đi thẳng vào phòng phẫu thuật. Ông đã gặp cha của cậu bé sẽ được phẫu thuật đang đứng đợi. Khi nhìn thấy ông, cha cậu bé hét lên:

“Tại sao ông lại đi lâu vậy? Ông có biết rằng cuộc sống của con trai tôi đang gặp nguy hiểm không? Ông không có bất kỳ ý thức trách nhiệm nào à?”

Bác sĩ mỉm cười và nói: “Tôi xin lỗi, tôi không ở trong bệnh viện và tôi đã đi nhanh nhất có thể sau khi nhận được cuộc gọi. Và bây giờ, tôi muốn anh bình tĩnh lại để tôi có thể làm công việc của tôi …”

Cha cậu bé nói một cách giận dữ nói: “Bình tĩnh thế nào được nếu là con trai của ông đang nằm trong căn phòng này, ông sẽ bình tĩnh được không? Nếu con trai của ông sắp chết ông có bình tĩnh nổi không?”

Bác sĩ mỉm cười một lần nữa và trả lời: “Tôi sẽ nói lại những gì trong Sách Thánh viết: “Chúng ta đến từ cát bụi và sẽ trở về cát bụi”, may mắn là chúng ta còn có Thiên Chúa. Các bác sĩ không thể kéo dài cuộc sống nếu không có ơn Chúa ban. Hãy đi và cầu nguyện cho con trai của anh, chúng tôi sẽ làm những gì tốt nhất nhờ ơn của Đức Chúa Trời “

Cha cậu bé nghĩ thầm: “Đưa ra lời khuyên khi ông không quan tâm luôn dễ dàng như vậy”

Ca phẫu thuật mất khoảng vài tiếng đồng hồ, sau đó các bác sĩ bước ra khỏi phòng phẫu thuật với những nụ cười rạng rỡ: “Cám ơn Chúa, con trai của anh được được cứu!”

Không chờ đợi câu trả lời của người cha, vị bác sĩ đã chạy như bay ra thang máy và không quên nói vọng lại: “Nếu anh có bất kỳ câu hỏi nào, hãy hỏi các y tá!”

“Tại sao ông ta lại ngạo mạn thế chứ? Ông ta không thể chờ đợi một vài phút để tôi hỏi về tình trạng của con trai tôi sao?” – Cha cậu bé nói hằn học khi nhìn các y bác sĩ còn lại.

Y tá trả lời, nước mắt rớt xuống khuôn mặt của cô:

“Con trai ông ấy qua đời hôm qua trong một tai nạn giao thông, ông ấy đang bận mai táng cho con trai mình, nhưng khi chúng tôi gọi, ông ấy đã tới bệnh viện để phẫu thuật cho con trai của anh. Ông ấy đã cứu được cuộc sống của con trai anh và bây giờ ông ấy lại chạy đi để hoàn thành nốt việc chôn cất con trai mình.”

Anh chị em thân mến,

RẤT KHÓ ĐỂ ĐÁNH GIÁ người khác bởi vì bạn không bao giờ biết rõ cuộc sống của họ như thế nào và những gì họ đang trải qua. Vì thế, chúng ta cần hết sức thận trọng khi đánh giá người khác.

(Sưu tầm có chỉnh sửa)

Đỗ Minh Thăng


 

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức.

My Lan Pham

Vào tháng 7 năm 1942, lực lượng SS đã sẵn sàng “thanh lý” khu ổ chuột Do Thái. Những chiếc xe tải đang chờ để chở đàn ông, phụ nữ và trẻ em đến các trại tử thần. Nhưng họ gặp phải một chướng ngại mà không bao giờ ngờ tới: một luật sư quân đội 51 tuổi tên là Albert Battel.

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức. Ông không phải kẻ nổi loạn hay một thanh niên bốc đồng. Ông là một người đàn ông trung niên từng hành nghề luật sư trước chiến tranh. Nhưng khi nhìn thấy đoàn xe SS lao về phía cây cầu bắc qua sông San , lối duy nhất dẫn vào khu ổ chuột ông quyết định rằng mình đã chứng kiến quá đủ.

Battel ra lệnh hạ thanh chắn cây cầu xuống. Khi viên chỉ huy SS dừng xe lại và yêu cầu được đi qua, Battel không hề nao núng. Ông nói rằng họ không được phép vào.

Viên sĩ quan SS chết lặng. Hắn đe dọa Battel sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng, nhưng Battel vẫn không lùi bước. Thay vào đó, ông đánh một quân bài có thể khiến mình bị xử bắn ngay tại chỗ. Ông quay sang binh lính của mình và đưa ra một mệnh lệnh lạnh người.

“Nếu chúng cố vượt qua cây cầu này, hãy nổ súng,” ông nói với các xạ thủ súng máy.

Đó là khoảnh khắc im lặng hoàn toàn và đầy kinh hoàng. Những người lính Đức giờ đây đang chĩa súng thẳng vào cảnh sát Đức. Viên chỉ huy SS nhận ra Battel hoàn toàn nghiêm túc nên cuối cùng đã chùn bước. Hắn ra lệnh cho đoàn xe quay đầu rời đi.

Nhưng Battel biết thời gian không còn nhiều. SS sẽ quay lại với thêm quân và mệnh lệnh cứng rắn hơn. Ông không lãng phí dù chỉ một giây. Ông đưa xe quân đội của mình chạy thẳng vào khu ổ chuột Do Thái.

Ông không đến đó để bắt người. Ông đến để cứu họ. Ông gõ cửa từng nhà và bảo những gia đình đang hoảng loạn hãy mang theo bất cứ thứ gì có thể. Dựa vào một kẽ hở đầy khôn khéo, ông tuyên bố những người này là “lao động thiết yếu” cho nỗ lực chiến tranh.

“Lên xe ngay! Nhanh lên!” ông thúc giục họ. Ông đã đưa được gần 100 gia đình lên xe. Sau đó ông chở họ ra khỏi khu ổ chuột và giấu họ trong doanh trại quân đội địa phương dưới sự bảo vệ của quân đội.

Tin tức về hành động chống đối này truyền thẳng đến cấp cao nhất. Heinrich Himmler, kẻ đứng đầu SS, vô cùng tức giận. Hắn đích thân xem xét vụ việc và ghi một dòng đen tối vào hồ sơ của Battel. Hắn hứa rằng ngay khi chiến tranh kết thúc, Battel sẽ bị bắt, bị khai trừ khỏi đảng và “xử lý thích đáng”.

Sau đó Battel bị buộc rời quân ngũ vì vấn đề tim mạch. Khi chiến tranh kết thúc, ông sống một cuộc đời lặng lẽ và bị lãng quên ở Tây Đức rồi qua đời năm 1952. Ông chưa bao giờ khoe khoang. Ông không viết sách. Ông chỉ quay lại làm luật sư.

Nhưng những gia đình mà ông cứu sống thì không bao giờ quên. Năm 1981, ông được Yad Vashem truy tặng danh hiệu Yad Vashem “Righteous Among the Nations” “Người công chính giữa các dân tộc”.

Trong một thế giới chìm trong bóng tối hoàn toàn, lương tâm chính là ánh sáng duy nhất còn lại. Chúng ta thường nói “Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh” để biện minh cho sự im lặng của mình, nhưng Albert Battel đã chứng minh rằng ngay cả trong một hệ thống được xây dựng trên nỗi sợ hãi, con người vẫn luôn có quyền lựa chọn.

Làm điều đúng đắn hiếm khi dễ dàng, và thường rất nguy hiểm, nhưng đó cũng là điều duy nhất giữ cho chúng ta còn là con người. 


 

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN. – Cang Huynh -Truyen ngan HAY

Cang Huynh

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN.

*Normandy, Pháp. 1944 bị quân Nazi Đức chiếm đóng. Phong trào Kháng chiến Pháp hiện diện khắp nơi. Những kẻ cộng tác bị xử bắn, những kẻ phản bội bị treo cổ. Tình yêu là thứ xa xỉ. Tình yêu với kẻ thù là án tử.

Một phụ nữ Pháp 19 tuổi tên là Colette L. làm việc trong một tiệm bánh mì. Mỗi sáng, cô ấy đi bộ qua một trạm kiểm soát Đức. Mỗi sáng, một người lính Đức 22 tuổi tên Hans W. nhìn cô ấy vượt qua. Mỗi sáng, đôi mắt của họ chạm nhau. Trong một giây. Sau đó họ nhìn đi chỗ khác.

Trong 6 tháng, họ đã không nói chuyện. Nó quá nguy hiểm. Anh ta là kẻ thù. Cô ấy là người bị chiếm đóng. Một cuộc trò chuyện duy nhất có thể khiến cả hai bị giết.

Rồi một ngày nào đó, Colette làm rơi cái giỏ của cô ấy. Hans đã nhặt nó lên. Ngón tay của họ chạm vào nhau. Colette thì thầm: “Merci”. “Hans thì thầm: “không có gì”. Đó là tất cả. Thế là đủ rồi. Vì gia đình anh ta sống gần biên giới Pháp – Đức nên anh nói được một ít tiếng Pháp.

Họ bắt đầu để lại những lá thư. Trong giỏ. Dưới một tảng đá. Trong một vết nứt trên tường tiệm bánh. Những dòng chữ đơn giản. “Anh đã thấy em hôm nay. Em trông thật đẹp”. “Tôi đã đếm từng giờ cho đến ngày mai.” “Bạn có tin vào Chúa không? Bây giờ tôi biết rồi. Bởi vì Ngài đã tạo ra bạn.”

Trong 4 tháng, các lá thư tiếp tục. Họ không bao giờ nói chuyện nữa. Họ không bao giờ chạm vào nhau lần nữa. Họ chỉ viết thôi.

Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 — D-Day — quân đồng minh đã đổ bộ thành công. Người Đức bắt đầu rút lui. Hans được lệnh rời khỏi ngôi làng. Anh ấy đã viết một lời nhắn cuối cùng. Anh ta để nó dưới tảng đá. Thư viết: “Tôi sẽ đi. Anh sẽ không bao giờ quên em. Anh sẽ tìm em sau chiến tranh. Chờ tôi nhé.”

Colette đã tìm thấy lá thư. Cô ấy bỏ nó vào túi. Cô ấy đi nhà thờ. Cô ấy đã cầu nguyện.

Quân Kháng chiến đã tìm thấy lá thư. Họ đã tìm thấy những lá thư khác. Họ đã tìm thấy Colette. Họ buộc tội cô ấy hợp tác. Họ nói: “Cô đã ngủ với kẻ thù. Cô đã cho anh ta thông tin. Cô là kẻ phản bội.”

Colette nói: “Tôi chưa bao giờ ngủ với anh ấy. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh ấy. Chúng tôi chỉ viết thư thôi. Chúng tôi chỉ yêu.”

Quân kháng chiến đã không tin cô ấy. Họ đã tổ chức một phiên tòa. Phiên tòa kéo dài 10 phút. Bản phán quyết: có tội. Bản án: cái chết.

Colette đã bị bắn vào ngày 17 tháng 8 năm 1944. Cô ấy mới 20 tuổi. Lời cuối cùng của cô ấy: “Tôi không phải là kẻ phản bội. Tôi là một người phụ nữ yêu một người đàn ông. Chỉ có vậy thôi.”

Hans không biết. Anh ta đang rút lui về phía Đức. Ba tuần sau, anh ta đã bị bắt bởi lực lượng Mỹ. Anh ta đã ở trong trại tù chiến tranh khi nghe tin tức. Anh ấy đã ngừng ăn. Anh ta đã ngừng nói. Anh ta chết vì “suy dinh dưỡng” – nhưng những tù nhân khác nói rằng anh ta chết vì một trái tim tan vỡ. Anh ấy 23 tuổi.

Năm 2019, một đội xây dựng ở Normandy đã phá hủy một bức tường cũ. Họ tìm thấy một cái lỗ trên tường. Bên trong cái lỗ là một cái hộp thiếc. Bên trong hộp có 47 lá thư. Thư của Colette gửi cho Hans. Thư của Hans gửi Colette. Chúng đã được mẹ của Colette giấu trong bức tường, người đã tìm thấy những lá thư sau khi Colette chết và không thể chịu đựng được việc đốt cháy chúng.

Các lá thư hiện đang ở trong một viện bảo tàng ở Caen. Chúng được trưng bày trong hộp thủy tinh. Du khách đọc chúng và khóc.

Câu hỏi mà giám đốc bảo tàng – một người phụ nữ tên là Tiến sĩ Marie-Claire B. — hỏi mỗi vị khách: “Nếu sinh ra ở các quốc gia khác nhau, họ đã kết hôn và sống hạnh phúc. Nhưng họ sinh năm 1944. Vì vậy họ đã chết. Có bao nhiêu người yêu khác đã bị sát hại trong lịch sử, và bao nhiêu lá thư vẫn còn giấu trong tường, đang chờ được tìm thấy?” .

Cang Huỳnh

lược dịch từ Échos du temps. 


 

TRUYỆN NGẮN – Kỳ tích

Nguyen Thi Chau 

TRUYỆN NGẮN

Kỳ tích

Ông Thành năm nay mới 50 tuổi. Người ta gọi ông là “ông vua tôn thép miền Đông”. Ba nhà máy, sáu trăm công nhân, tài khoản ngân hàng dài mười hai con số. Mười năm trước, ông từng nói với phóng viên: “Tôi không tin số phận. Tôi chỉ tin vào việc tôi làm mười sáu tiếng một ngày.”

Giờ thì ông nằm đây.

Phòng ICU tầng bảy, rèm trắng, dây nhợ chằng chịt. Chiếc máy thở bên cạnh đều đặn giúp ông thở phập phồng, phì… phù… phì… phù… Mỗi nhịp thở không còn là của ông nữa. Nó là của máy!

Sáng, bác sĩ trưởng khoa nói với vợ con ông: “Chúng tôi đã làm hết phác đồ. Phần còn lại tùy thuộc vào nghị lực của bệnh nhân. Chúng tôi không tiên lượng chắc được.” 

Câu đó, y hệt bản hợp đồng làm ăn rủi ro mà ngày xưa ông hay ký. Chỉ khác là lần này, tài sản đặt cược lại là chính ông.

Ngày thứ ba nằm ICU.

Thuốc an thần giảm liều. Ông tỉnh nhiều hơn. Lần đầu sau ba mươi năm, ông có thời gian nằm im và không nghĩ đến đơn hàng, không nghĩ đến giá thép, không nghĩ  đến lãi suất ngân hàng.

Ông nhìn lên trần nhà. Màu trắng. Nhìn sang trái, máy monitor nhấp nháy 78, 79, 80. Nhìn sang phải, cô y tá đang thay chai nước biển, tay thoăn thoắt nhưng ánh mắt mệt mỏi. 

Tự nhiên ông nhớ đến bà Sáu bán xôi đầu ngõ nhà máy. Mỗi sáng bà đều dậy lúc ba giờ, lọ mọ nhóm bếp nấu xôi. Lợi nhuận một gói xôi chắc được hai nghìn. Bà lúc nào cũng vui vẻ: “Bán cho vui chú ơi, chứ lời lãi gì.”  Hồi đó ông thấy buồn cười. Giờ ông thèm được cái “vui” đó.

Đêm thứ năm nằm ICU.

Ông sốt. Máy báo động inh ỏi. Điều dưỡng chạy vào, thêm thuốc, lật người, vỗ lưng. Cơn đau rút đi, để lại một khoảng trống lạ lẫm trong ngực. 

Trong khoảng trống đó, lần đầu ông nghe rõ tiếng máy thở. Phì… phù… Mỗi lần nó đẩy khí vào phổi, ông sống! Nó dừng một phút, ông chết! Đơn giản vậy thôi. 

Cả đời ông gom góp. Nhà, xe, đất, cổ phần, mấy cái chức danh chủ tịch… Ông tưởng mình đang xây một pháo đài kiên cố để nhốt cái chết ở ngoài. Hóa ra pháo đài nào cũng có cổng, mà cái chết nó không cần chìa khóa. Nó đi bằng đường ống khí quản!

Sáng ngày thứ bảy nằm ICU.

Con trai lớn vào thăm. Nó mặc vest, vừa từ cuộc họp cổ đông về. Nó nắm tay ông, nói: “Ba ráng khỏe. Công ty đang rối. Thiếu ba không ai quyết được.” 

Ông cười trong bụng. Hóa ra mình quan trọng đến thế cơ đấy. Rồi lại thấy thương nó. Mười năm nữa, hy vọng nó sẽ không bao giờ phải nằm đây, để thằng cháu nội vào thăm sẽ nói y chang.

Chiều, vợ ông vào. Bà không nói gì, chỉ ngồi lau mặt cho ông bằng khăn ấm. Bàn tay bà chai sần, gân xanh nổi lên. Ông chợt nhớ, ba mươi năm nay mình chưa một lần hỏi bà thích gì. Cưới xong là lao vào làm ăn. Sinh nhật bà, ông tặng dây chuyền vàng. Lễ kỷ niệm, ông tặng nhẫn kim cương. Chưa bao giờ tặng một buổi chiều rảnh rỗi để hai vợ chồng đi ăn tàu hũ nóng.

Máy vẫn thở. Phì… phù… phì… phù…

Tự nhiên ông hiểu ra bấy lâu nay không phải ông thở. Ông chỉ đang nín thở mà chạy. Chạy vội qua tuổi trẻ, chạy vội qua bữa cơm gia đình, chạy vội qua tiếng cười của con, chỉ để đến đích. Mà đích là gì? Là cái giường này sao?

Đêm thứ mười  nằm ICU

Ông yếu đi. Bác sĩ tăng oxy. Trong cơn mê man, ông thấy mình đứng trước kho hàng của nhà máy. Những cuộn tôn xếp cao như núi. Ông leo lên, leo mãi, muốn leo tới đỉnh. Leo tới nơi, ông nhìn xuống. Dưới chân không có gì cả. Chỉ có gió. 

Ông choàng tỉnh dậy, nước mắt ướt khóe mi. Cô y tá trẻ tưởng ông đau, định thêm chút morphine. Ông khẽ lắc đầu. Lần đầu sau mười ngày, ông tự thở được một hơi ngắn, không cần máy đẩy.

Sáng hôm sau, chỉ số ông tốt hẳn lên. Bác sĩ gọi đó là “kỳ tích”. Ông gọi đó là “buông tay”. 

Ông nói với vợ, sau khi được rút ống thở, giọng khàn đặc: “Bà bán bớt một nhà máy, lập cái quỹ học nghề cho công nhân. Tôi nợ họ. Còn lại, chia cho tụi nhỏ. Dặn nó làm ít thôi. Sống nhiều lên.” 

Bà khóc.

Ông không khóc. Ông chỉ nhìn cái máy thở, thầm cảm ơn. Nó đã dạy ông bài học đáng giá nhất cuộc đời, mà học phí là mười ngày nằm giữa sống và chết.

Một tháng sau, ông xuất viện. Người gầy rộc, nhưng mắt sáng. Ông không đến công ty nữa. Sáng, ông ra ngõ mua xôi của bà Sáu, ngồi ăn, nói chuyện mưa nắng. Chiều, ông đón cháu đi học về, hai ông cháu ăn tàu hũ. 

Có người hỏi: “Đại gia sao sống khổ vậy, chú Thành?” 

Ông cười: “Khổ đâu? Trước kia tôi chưa biết sống mới khổ. Giờ tôi mới bắt đầu sống.” 

Đêm đến, thỉnh thoảng ông vẫn giật mình vì nhớ lại tiếng máy thở phì phù… Nhưng thay vì sợ, ông mỉm cười. Tiếng đó nhắc ông rằng, mỗi hơi thở mình tự thở được, là một món quà vô giá.

Con người ta cả đời chỉ muốn gom góp mọi thứ, cứ ngỡ càng nhiều càng an toàn. Đến khi nằm xuống, mới biết thứ duy nhất mình thực sự sở hữu là hơi thở này. Và hơi thở thì không dành cho ngày mai. Nó chỉ có giá trị ngay lúc này. Phì… vào. Phù… ra. Mất một nhịp, là nguy cơ mất tất cả.  50 tuổi, ông Thành mới hiểu bài học đó để sống cho trọn vẹn từng hơi thở.

Nguyen ThyAnh


 

Làm ruộng trên đất Mỹ – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu.

Gia đình Phạm, người Việt gốc Bắc, đã rời quê hương và đến California, Mỹ, vào những năm đầu thập niên 1950, trong làn sóng di cư sau chiến tranh. Họ đến bằng con đường hợp pháp nhờ chương trình tái định cư dành cho những người tìm cơ hội làm ăn tại Mỹ, mang theo hành trang ít ỏi nhưng đầy ý chí và khát vọng.

Sau một thời gian sinh sống và tích lũy kinh nghiệm lao động tại California, năm 1951, họ quyết định rời miền duyên hải để định cư tại Stuttgart, Arkansas, nơi vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai màu mỡ, nhưng lao động cật lực là điều kiện sống còn. Chính tinh thần tự lực, kỷ luật và đoàn kết gia đình đã giúp họ bắt đầu cuộc sống mới trong hoàn cảnh xa lạ, nơi họ vừa là người nhập cư, vừa là nông dân phải học cách thích nghi với xã hội và tập quán mới.

Tháng Năm, 1951, gia đình ông Phạm thuê 60 mẫu đất từ một điền chủ  ở Stuttgart, Arkansas, người đã mất con trai tại Iwo Jima. Chủ đất thường nhận xét rằng gia đình Phạm làm việc với kỷ luật như những người lính. Minh Phạm, 48 tuổi, cùng vợ là Bùi, 45 tuổi, và sáu người con bước vào mùa vụ mới với bao lo lắng và hy vọng.

Ngày 8 tháng Năm, máy bơm nước của họ bất ngờ hỏng. Cánh đồng lúa cần được tưới nước trước ngày 15 tháng Năm, nếu không hạt giống sẽ không nảy mầm. Giếng sâu 120 feet, nhưng máy bơm thay thế có giá 400 đô-la trong khi họ chỉ có 60 đô-la. Ngân hàng từ chối cho vay, chủ đất cũng không giúp được gì.

Không để thất bại chặn đứng, Minh tập hợp các con lớn – những cậu con trai 18, 16 và 14 tuổi, cùng hai cô con gái 12 và 10 tuổi. Bùi ở lại trông con út và chuẩn bị bữa ăn cho cả gia đình. Không có máy móc, họ bắt tay vào đào một con kênh từ con lạch gần đó – dài 1.200 thước qua đất sét nặng nề của đồng bằng Arkansas. Đất bám vào từng cái xẻng, rễ liễu dày phải cắt bằng rìu, nhưng họ không ngại. Tinh thần và quyết tâm của gia đình thể hiện rõ qua từng nhát xẻng, từng giọt mồ hôi.

Họ làm việc tới 18 giờ mỗi ngày, liên tục năm ngày. Người con út mang nước để duy trì sức lực cho mọi người. Cậu con trai 14 tuổi ngất hai lần vì kiệt sức, nhưng mỗi lần đều quay lại tiếp tục đào. Đêm 14 tháng Năm, ngay trước hoàng hôn, họ cuối cùng cũng thông kênh. Nước tràn vào rạch, lấp đầy 52 mẫu đất vào sáng hôm sau. Lúa bén rễ và phát triển, cứu gia đình khỏi nguy cơ mất mùa.

Vụ mùa đó đã thay đổi vận mệnh gia đình Phạm. Đến tháng Chín, họ tiết kiệm đủ để mua máy bơm mới. Năm 1959, họ mua luôn mảnh đất mà trước đây từng thuê. Người con trai 16 tuổi, Paul, nhập ngũ năm 1952 và phục vụ tại Hàn Quốc. Trong một bức thư gửi về nhà, anh viết: “Các con đã đào được một dặm, giờ con sẽ bước đi trên đó.” Anh trở về an toàn. Cô con gái út, Anna, sau này trở thành kỹ sư nông nghiệp và thường nói: “Chúng tôi thất bại với máy bơm, nhưng con mương thì không.”

Câu chuyện của gia đình Phạm còn là bức tranh sinh động về xã hội nông thôn Arkansas thời hậu chiến. Stuttgart là trung tâm sản xuất lúa của miền Nam nước Mỹ, nơi các nông dân phải đối mặt với hạn hán, đất sét nặng và thiếu vốn. Những người nhập cư như gia đình Phạm không chỉ phải thích nghi với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt mà còn phải học luật đất đai, tập quán canh tác và vận dụng kỹ năng lao động từ truyền thống quê nhà. Minh Phạm, người cha, vốn là công nhân may ở California, đã truyền tinh thần kỷ luật và tự lực cho các con, trong khi Bùi Phạm, người mẹ, giữ vững tinh thần và chăm lo cho bữa ăn, sức khỏe cả gia đình. Những người con lớn thể hiện trách nhiệm vượt tuổi, tinh thần sáng tạo và ý chí không khuất phục trước khó khăn.

Sự thành công của gia đình ông Phạm còn gắn với ý nghĩa lâu dài: Paul trở thành người lính kỷ luật và trưởng thành, Anna theo đuổi ngành kỹ thuật nông nghiệp để phát triển giải pháp bền vững cho nông dân. Việc họ duy trì nghề trồng lúa, mua lại đất và cải tiến cơ sở hạ tầng nông nghiệp cho thấy tinh thần tự lực, kiên trì và đoàn kết gia đình luôn là yếu tố quyết định sự thành công. Câu chuyện nhấn mạnh rằng, trong lịch sử nông thôn Mỹ, người nhập cư Việt cũng có thể xây dựng đời sống ổn định và phát triển, góp phần vào cộng đồng, vừa bảo tồn truyền thống, vừa hòa nhập xã hội mới.

Bài học rút ra từ gia đình họ Phạm là sự kết hợp giữa kỷ luật, sáng tạo và tinh thần gia đình có thể vượt qua mọi thử thách. Họ không chỉ vượt qua một cơn khủng hoảng vật chất tức thời, mà còn xây dựng nền tảng cho đời sống lâu dài, thể hiện một triết lý sống giản dị nhưng sâu sắc: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kiên trì và đoàn kết sẽ dẫn đến thành công. Đây là câu chuyện truyền cảm hứng cho mọi thế hệ, nhắc nhở rằng lao động và ý chí con người luôn chiến thắng những nghịch cảnh, và rằng mỗi gia đình, dù xuất thân từ nơi xa xôi, đều có thể tạo dựng tương lai vững chắc qua nỗ lực không ngừng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Những năm tháng tăm tối nhất trong tuổi thơ của Charlie Chaplin

 My Lan Pham 

Ông chỉ là một cậu bé khi mẹ bị đưa vào trại tâm thần và bị giữ lại đó gần hai mươi năm. Năm 1903, ông nhận ra một sự thật lạnh lẽo rằng mình hoàn toàn đơn độc.

Không có người cha để nương tựa, cũng không có mái nhà để quay về. Ông chỉ là một cái bóng nhỏ bé lạc lõng giữa cỗ máy khổng lồ và vô cảm của London.

Muốn hiểu thiên tài của “Gã lang thang nhỏ bé”, người ta phải nhìn vào những năm tháng tăm tối nhất trong tuổi thơ của Charlie Chaplin. Ông sinh năm 1889 trong cảnh nghèo khổ khắc nghiệt ở khu Nam London. Mẹ ông, Hannah, từng là nghệ sĩ sân khấu nhưng dần mất giọng, không còn khả năng nuôi con.

Cha ông gần như không tồn tại. Một người đàn ông chìm trong rượu và qua đời khi mới ba mươi chín tuổi, để lại cho con cái chỉ một cái họ.

Tuổi thơ của Charlie là chuỗi ngày đói khát và chạy trốn. Ông cùng anh trai Sydney sống trong những căn phòng ẩm thấp, tối tăm. Họ chuyển chỗ ở gần như mỗi tháng để tránh tiền thuê nhà, vác theo những tấm nệm mỏng đi qua những con hẻm hẹp phủ đầy sương mù.

Họ ngủ trong những căn hầm lạnh lẽo, nơi tường rỉ nước và không khí đặc quánh mùi than. Khi cuộc sống trở nên không thể chịu đựng nổi, hai anh em bị đưa vào Trường Hanwell dành cho trẻ mồ côi và trẻ nghèo.

Nơi đó giống như một cơn ác mộng.

Bọn trẻ bị lột bỏ quần áo, bị cạo đầu để tránh chấy rận, và bị đánh bằng roi để học cách im lặng.

Với cậu bé bảy tuổi, cái lạnh và thức ăn tồi tệ vẫn chưa phải điều đau đớn nhất. Điều khiến ông tổn thương sâu sắc là cảm giác bị bỏ rơi. Suốt mười tám tháng, không một lần mẹ đến thăm. Trong sự im lặng nặng nề của những phòng ngủ tập thể, ông tự xây cho mình một lớp vỏ để tồn tại. Ông tự nói với bản thân rằng mình sẽ trở thành diễn viên vĩ đại nhất thế giới. Đó không chỉ là ước mơ, mà là cách duy nhất để ông không gục ngã.

Khi mẹ hoàn toàn suy sụp tinh thần vào năm 1903, ông bị đẩy ra đường phố London.

Ông trở thành một đứa trẻ lang thang, đi qua các khu chợ với ánh mắt luôn đói khát.

Ông học cách ngủ đứng trong các ô cửa để tránh cảnh sát. Ông học cách nhanh tay lấy một củ cải hay một mẩu bánh mì rồi biến mất trước khi bị phát hiện.

Ông đứng trước các quán rượu, không phải để uống mà để quan sát. Ông nhìn những kẻ say loạng choạng, những quý ông chỉnh lại chiếc mũ trên đầu, và những người nghèo cố giữ chút phẩm giá dù đôi giày đã rách nát.

Mỗi con người ông gặp đều trở thành một bài học. Ông ghi nhớ từng cử chỉ của nỗi khốn cùng và âm thầm biến chúng thành tiếng cười trong tâm trí.

Sân khấu cuối cùng đã kéo ông ra khỏi bóng tối. Ông có một vai diễn trong vở Sherlock Holmes và từ đó không bao giờ quay đầu lại. Khi đặt chân đến Mỹ, ông mang theo một nỗi ám ảnh duy nhất là không bao giờ muốn đói thêm một lần nào nữa.

Ở tuổi hai mươi sáu, ông đã trở thành biểu tượng của cả thế giới.

Thế nhưng những vết thương từ tuổi thơ chưa bao giờ rời bỏ ông. Ông trở thành một người cầu toàn đến cực đoan, có thể quay đi quay lại một cảnh hàng trăm lần chỉ để đạt đến sự hoàn hảo, như thể cố gắng kiểm soát một thế giới mà trước đây ông chưa từng làm chủ được.

“Gã lang thang nhỏ bé” không chỉ là một nhân vật. Đó là hình bóng của chính tuổi thơ ông, một con người nhỏ bé trong bộ quần áo rộng thùng thình, kiên quyết không để cuộc đời nghiền nát mình.

Charlie Chaplin đã biến cái lạnh, cơn đói và sự cô đơn thành tiếng cười lan tỏa khắp thế giới. Ông chứng minh rằng dù khởi đầu có tăm tối đến đâu, con người vẫn có thể tự viết nên kết cục của chính mình.

Di sản của ông cho thấy rằng tiếng cười đôi khi chính là hình thức dũng cảm nhất để chống lại một thế giới khắc nghiệt.

“Gã lang thang nhỏ bé” luôn đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã không chỉ là một vai diễn, mà còn là người bảo vệ cho đứa trẻ từng bị tổn thương sâu sắc bên trong con người ông.

My Lan Pham

Screenshot

 

Cho và nhận-Truyện hay

Một người đàn ông bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn. Ông mệt lả và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất k cái gì chỉ để lấy một ngụm nước mát.

Đi mãi đi mãi, đến khi đôi chân của ông đã sưng lên nhức nhối, ông thấy một căn lều : cũ, rách nát, không cửa sổ. Ông nhìn quanh căn lều và thấy ở một góc tối, có một cái máy bơm nước cũ và rỉ sét. Tất cả trở nên lu mờ đi bên cạnh cái máy bơm nước, người đàn ông vội vã bước tới, vịn chặt vào tay cầm, ra sức bơm. Nhưng không có một giọt nước nào chảy ra cả.

Thất vọng, người đàn ông lại nhìn quanh căn lều. Lúc này, ông mới để ý thấy một cái bình nhỏ. Phủi sạch bụi cát trên bình, ông đọc được dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng cách lấy viên đá cào lên : Hãy đổ hết nuớc trong bình này vào cái máy bơm. Và trước khi đi, hãy nhớ đổ nước đầy lại vào chiếc bình này.

Người đàn ông bật cái nắp bình ra, và đúng thật, trong bình đầy nước mát. Bỗng nhiên, người đàn ông rơi vào một tình thế bấp bênh. Nếu ông uống ngay chỗ nước trong bình, chắc chắn ông có thể sống sót. Nhưng nếu ông đổ hết nước vào cái bơm cũ rỉ, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong lòng đất – rất nhiều nước.

Ông cân nhắc khả năng của cả hai sự lựa chọn : nên mạo hiểm rót nước vào máy bơm để có nguồn nước trong lành, hay uống nước trong cái bình cũ và coi như không đọc được lời chỉ dẫn ? Dù sao, lời chỉ dẫn không biết đã ở đó bao lâu rồi và không biết có còn chính xác nữa không ?

 Nhưng rồi cuối cùng, ông cũng quyết định rót hết nước vào cái máy bơm. Rồi ông tiếp tục nhấn mạnh cái cần của máy bơm, một lần, hai lần… chẳng có gì xảy ra cả. Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, ông sẽ không còn một nguồn hy vọng nào nữa, nên người đàn ông kiên trì bơm lên xuống, lần nữa, lần nữa… nước mát và trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ. Người đàn ông vội vã hứng nước vào bình và uống.

Rồi ông hứng đầy bình, dành cho người nào đó có thể không may mắn bị lạc đường như ông và sẽ đến đây. Ông đậy nắp bình, rồi viết thêm 1 câu dưới dòng chữ có sẵn trên bình : Hãy làm theo chỉ dẫn. Bạn phải cho trước khi bạn có thể nhận.

S.T.


 

Anh qua đời ở tuổi 30 vì đã trao cơ hội sống duy nhất của mình cho một đứa trẻ

My Lan Pham

 Anh qua đời ở tuổi 30 vì đã trao cơ hội sống duy nhất của mình cho một đứa trẻ mà anh thậm chí không hề quen biết.

Tên anh là Giuseppe Girolamo ,một tay trống trẻ đến từ miền Nam nước Ý, đang sống giấc mơ của mình khi biểu diễn âm nhạc trên con tàu du lịch Costa Concordia.

Đêm ngày 13 tháng 1 năm 2012, con tàu khổng lồ lướt qua vùng biển Tyrrhenian yên ả như một cung điện nổi rực sáng. Ly chạm ly, âm nhạc vang lên, và hàng ngàn hành khách đang tận hưởng khoảnh khắc lễ hội.

Rồi âm thanh kinh hoàng của kim loại xé vào đá vang lên gần đảo Giglio.

Chỉ trong vài giây, niềm vui biến thành hỗn loạn.

Đèn vụt tắt.

Boong tàu nghiêng đi ở một góc đáng sợ.

Nỗi hoảng loạn lan khắp con tàu khi lệnh rời tàu cuối cùng được ban ra.

Mọi người chen lấn, la hét, tuyệt vọng tìm đường đến các xuồng cứu sinh.

Giuseppe có một vị trí được chỉ định sẵn trên một xuồng cứu sinh.

Là thành viên thủy thủ đoàn, chỗ của anh đã được dành riêng.

Nhưng khi đến điểm sơ tán, anh nhìn thấy một người mẹ hoảng loạn tên Antonella đang ôm cô con gái nhỏ.

Chiếc xuồng lúc đó đã kín chỗ.

Không còn chỗ cho hai mẹ con.

Không chút do dự, Giuseppe lùi lại.

Anh nhìn người mẹ và đứa bé rồi bình tĩnh nói:

“Mời chị và bé lên đi.”

Anh đã nhường chỗ của mình ,cơ hội sống sót duy nhất được bảo đảm để họ có thể sống.

Điều đau lòng nhất là:

Giuseppe không biết bơi.

Khi chiếc xuồng cứu sinh dần rời khỏi thân tàu đang nghiêng, anh đứng một mình trên boong tàu chao đảo, nhìn họ khuất dần vào bóng tối.

Trong khi cả thế giới sau đó tập trung vào việc vị thuyền trưởng bỏ tàu và sự hỗn loạn tiếp theo, hành động dũng cảm lặng lẽ của Giuseppe đã trở thành một tia sáng trong một trong những thảm họa hàng hải đen tối nhất thời hiện đại.

Phải mất nhiều tháng sau, các thợ lặn mới tìm thấy thi thể anh trong xác tàu.

Nhưng di sản của anh đã được khắc sâu trong cuộc đời của hai mẹ con đã trở về nhà an toàn nhờ anh.

Trong một đêm bị bao trùm bởi nỗi sợ và bản năng sinh tồn, một chàng trai trẻ đã chọn lòng nhân ái thay vì mạng sống của chính mình.

Giuseppe Girolamo không chỉ chơi nhịp trống trên con tàu ấy.

Anh đã trở thành nhịp tim của ý nghĩa thật sự của lòng dũng cảm.

Yên nghỉ nhé, Giuseppe.

Bản nhạc cuối cùng của anh là bản nhạc mạnh mẽ nhất.

Hãy chia sẻ nếu bạn tin những câu chuyện như thế này xứng đáng được ghi nhớ.

Theo Curiously Unusual Wonder

My Lan Phạm

Tôi phát hiện một gia đình bốn người đang ngủ trong chiếc xe van đậu ở bãi xe của tôi

My Lan Pham

Tôi sở hữu một tiệm giặt tự phục vụ. Sáng thứ Ba tuần trước, lúc 5 giờ, tôi phát hiện một gia đình bốn người đang ngủ trong chiếc xe van đậu ở bãi xe của tôi, với toàn bộ quần áo nhét trong các túi rác.

Tôi mở cửa lúc 6 giờ.

Tôi làm nghề này 19 năm rồi. Lịch trình luôn giống nhau: 5 giờ 30 đến nơi, bật đèn, kiểm tra máy, pha cà phê trong văn phòng nhỏ.

Sáng thứ Ba đó, khi tôi lái xe vào, đèn pha chiếu vào một chiếc xe van đậu ở góc xa.

Xe đời cũ.

Dodge Caravan.

Thân xe có những chỗ chỉ sơn lót.

Cửa kính bị mờ hơi nước từ bên trong.

Tôi đậu xe và ngồi nhìn một lúc.

Thỉnh thoảng có người ngủ trong xe qua đêm. Chuyện bình thường. Thường sáng là họ đi.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi bước lại.

Tôi gõ cửa kính ghế lái.

Không phản ứng.

Gõ lần nữa.

Cửa kính hạ xuống khoảng 5cm. Một người phụ nữ hiện ra. Khoảng 30 tuổi. Kiệt sức.

“Chúng tôi sẽ đi ngay,” cô nói vội.

“Xin lỗi. Chúng tôi đi ngay.”

“Khoan,” tôi nói.

“Cô ổn không?”

Sau lưng cô tôi thấy bọn trẻ cử động.

“Chúng tôi ổn.” Nhưng giọng cô run.

“Ở đây bao lâu rồi?”

“Chỉ tối qua. Đậu lúc 11 giờ. Tôi nghĩ không ai để ý.”

Tôi nhìn vào trong xe.

Hai đứa trẻ khoảng 8 và 10 tuổi.

Người đàn ông ở ghế phụ đang tỉnh dậy.

Phía sau là túi rác.

4–5 túi.

Nhét đầy.

“Có quần áo trong đó?”

Cô do dự.

“Vâng.”

“Cô đang sống trong xe?”

Gương mặt cô vỡ vụn.

Cố giữ bình tĩnh nhưng không được.

“Chỉ tạm thôi,” cô thì thầm.

“Chúng tôi bị đuổi nhà tuần trước. Giờ làm của chồng tôi ở kho bị cắt. Không đủ tiền thuê. Nhà tạm trú thì hết chỗ. Chúng tôi chờ 5 ngày rồi.”

Người chồng nói:

“Chúng tôi không gây rắc rối. Sẽ đi ngay.”

“Khoan đã,” tôi nói.

“Quần áo bẩn hết rồi phải không?”

Họ nhìn tôi khó hiểu.

“Vâng,” cô nói.

“Chúng tôi mặc cùng một bộ cả tuần. Bọn trẻ cũng vậy. Không đủ tiền giặt.”

Tôi nhìn đồng hồ.

5:47.

“Đưa túi đây.”

“Gì cơ?”

“Đưa túi quần áo.”

“Tại sao?”

“Vì tôi là chủ tiệm giặt. Và cô cần quần áo sạch.”

Người chồng lắc đầu:

“Chúng tôi không có tiền.”

“Tôi có hỏi tiền không?”

Họ chết lặng.

Tôi mở cửa xe.

Lấy ba túi quần áo.

“Khi nào sẵn sàng thì vào. Tôi đang pha cà phê.”

Tôi mang vào.

Phân loại:

Quần áo người lớn.

Quần áo trẻ em.

Chăn.

10 phút sau họ vào.

Bọn trẻ trông sợ hãi.

“Ngồi đi. Có cà phê. Sô cô la nóng cho trẻ.”

“Chúng tôi không trả được—”

Tôi mở máy bán hàng.

Đưa mỗi đứa một ly.

“Miễn phí.”

Người phụ nữ khóc.

Im lặng.

Nước mắt chảy.

“Lần cuối ăn là khi nào?”

Người chồng:

“Hôm qua. Bữa trưa. Nhà thờ phát sandwich.”

Giờ là 6 giờ sáng hôm sau.

Tôi lấy đồ ăn trưa mình mang:

Sandwich bơ đậu.

Táo.

Bánh quy.

“Ăn đi.”

Họ ăn như sói.

Nhất là bọn trẻ.

Tôi khởi động máy giặt.

Rồi gọi vợ.

“Linda, nấu bữa sáng. Trứng, bánh mì. Cho 4 người.”

“Tại sao?”

“Anh nói sau.”

Tôi về nhà.

Linda làm trứng.

Bánh mì.

Dâu tây.

Tôi mang lại.

Bọn trẻ ngủ trên ghế nhựa.

“Bữa sáng thật sự,” tôi nói.

Người phụ nữ nhìn tôi như tôi điên.

“Tại sao anh làm vậy?”

Tôi ngồi xuống.

“15 năm trước vợ chồng tôi cũng bị đuổi nhà.”

Chúng tôi có con 1 tuổi.

Chủ nhà bán nhà.

Không đủ tiền thuê mới.

Chúng tôi sống trong xe 6 tuần.

Ăn từ ngân hàng thực phẩm.

Tắm ở trung tâm thể thao.

Tháng Giêng.

Lạnh khủng khiếp.

Tôi nhìn bọn trẻ.

“Tôi biết cảm giác bị xem như vô hình.”

Cô khóc.

“Cô không phải vấn đề.

Cô là người bị đánh gục.”

Tôi viết địa chỉ.

“Nhà cho thuê của em trai tôi. Có căn 2 phòng vừa trống.”

Tôi gọi.

“Hôm nay họ chuyển vào. Tháng đầu miễn phí.”

Ngườ chồng:

“Chúng tôi không thể—”

“Có thể.”

Vì ngày xưa tôi cũng được giúp.

Và tôi hứa khi đứng dậy sẽ giúp người khác.

Cô khóc nức nở.

“Chúng tôi cố lắm. Không rượu. Không ma túy. Chỉ là không gặp may.”

“Tôi biết.”

9 giờ quần áo sạch.

Tôi chở họ đi xem nhà.

Em trai tôi đợi sẵn.

“Chào mừng về nhà.”

Bọn trẻ chạy vào chọn phòng.

Người phụ nữ ôm tôi.

“Anh cứu chúng tôi.”

“Tôi chỉ rút ngắn thời gian thôi.”

3 tháng sau:

Người chồng có việc tốt hơn.

Người vợ làm ở siêu thị.

Tiền thuê 600 đô.

Bọn trẻ đi học lại.

Tuần trước cô mang bánh cherry tự làm.

“Tôi không trả được. Nhưng tôi biết làm bánh.”

Chúng tôi ăn cùng nhau.

“Tại sao anh giúp?”

“Tôi nhớ chiếc xe đó.”

Tôi nhớ người đi ngang giả vờ không thấy.

Và một người dừng lại.

“Ông ấy làm gì?”

“Chủ quán ăn. Cho vợ tôi việc. Cho chúng tôi ăn.”

Ông mất 5 năm trước.

Tôi chưa kịp cảm ơn.

Cô nói:

“Vậy anh đang làm điều ông ấy đã làm.”

“Đúng.”

Cô nắm tay tôi.

“Một ngày nào đó tôi cũng sẽ làm vậy.”

“Tôi biết.”

Vì lòng tốt không phải để trả lại.

Mà để truyền tiếp.

Cho người tiếp theo ngủ trong xe.

Cho gia đình tiếp theo có túi quần áo bẩn.

Cho những đứa trẻ chưa ăn 20 tiếng.

Chúng ta gần hoàn cảnh đó hơn ta nghĩ.

Một lần bệnh.

Một lần mất việc.

Một lần xe hỏng.

Chỉ vậy thôi.

Và khi điều đó xảy ra…

Bạn chỉ mong có ai đó nhìn thấy bạn.

Thật sự nhìn.

Không phải như một vấn đề.

Mà như một con người.

Giờ tôi luôn để ý bãi xe.

Nếu thấy ai ngủ trong xe, tôi gõ cửa.

Không phải để đuổi.

Mà để hỏi:

“Bạn có cần giặt quần áo không?”

Theo Wild Whispers

My Lan Phạm