Về một con trâu chạy thoát thân khỏi lò mổ

Công Tú Nguyễn – Chuyện tuổi Xế Chiều

Hai mươi lăm năm trước, một câu chuyện đã lan truyền rộng rãi ở Chiang Mai, Thái Lan về một con trâu chạy thoát thân khỏi lò mổ.

Với máu me bê bết và nó lao vút xuống đường cao tốc, trong nỗi kinh hoàng và tuyệt vọng. Các đài phát thanh địa phương cảnh báo công chúng hãy cảnh giác – gọi nó là “một con trâu điên”, một số phóng viên thậm chí còn gọi nó là “trâu ma điên”, cho rằng nó đã đâm vào xe cộ khi đang chạy trốn.

  Chúng tôi vội vã đến hiện trường và thấy nó bê bết máu, một viên đạn sượt qua trán – may mắn thay, nó không xuyên qua hộp sọ. Chúng tôi đã cứu sống nó và từ chối đưa nó trở lại lò mổ, ngay cả khi những tiếng nói giận dữ đòi bồi thường cho những chiếc xe bị hư hại của họ và kêu gọi giết chết nó.

Với sự giúp đỡ của những người tốt bụng, chúng tôi đã giải cứu nó.

Ngay sáng hôm sau, tại ngôi nhà mới, nó đã đẻ một con. Chúng tôi đặt tên cho nó là Mae Sroy, theo vết sẹo quanh cổ, và đặt tên con trâu mới sanh là Chokdee, có nghĩa là “May mắn”.

Kể từ đó, Mae Sroy và Chokdee đã sống yên bình giữa đàn trâu tại Tổ chức Cứu trợ Voi.

Giờ đã rất già – trâu thường sống khoảng 26-27 năm – Mae Sroy không còn có thể đi bộ cùng đàn nữa. Con trâu con nay đã lớn và trở thành đầu đàn, trong khi Mae Sroy chuyển đến gần nơi trú ẩn của chúng tôi để được chăm sóc chu đáo hơn. Giờ đây, Mae Sroy chỉ ăn thức ăn xay nhuyễn, mềm, vì răng đã mòn dần theo tuổi tác.

Rồi trận lũ lụt gần đây ập đến. Mặc dù nơi trú ẩn nằm trên vùng đất cao hơn, nhưng một trận lũ quét bất ngờ đã tràn qua hàng rào, phá hủy mọi thứ – và kể cả Mae Sroy cũng đã bị nước cuốn trôi…

Chúng tôi tìm kiếm khắp nơi, lo sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra.

Lòng chúng tôi trĩu nặng, tin rằng con trâu già yêu quý của chúng tôi không thể sống sót qua cơn lũ dữ dội. Nhưng đến sáng thứ ba, một điều kỳ diệu đã xảy ra:

Chúng tôi tìm thấy Mae Sroy – nằm trong bùn đất nơi trước đây từng là nơi trú ẩn của nó. Khi nhìn thấy chúng tôi, nó đã kêu to, và chúng tôi đã khóc vì sung sướng. Tôi chạy đến bên và nó đáp lại bằng những tiếng kêu khe khẽ, vui vẻ, tràn đầy sức sống. Mae Sroy đã sống sót thêm một lần nữa.

Câu chuyện thật hy hữu.

Đây là câu chuyện về một con trâu mà chúng tôi đã cứu. Tại khu bảo tồn của chúng tôi, mỗi con đều có tên và đều có câu chuyện riêng đầy cảm xúc. Chúng không chỉ là trâu hay voi… Chúng là những sinh vật sống có ý nghĩa và giá trị.

Mae Sroy đã từng chạy trốn khỏi cái chết để bảo vệ sự sống đang lớn dần trong mình. Và giờ đây, một lần nữa, nó lại chạy trốn khỏi cái chết để bảo vệ chính mình và chúng tôi sẽ hết lòng chăm sóc con trâu già Mae Sroy cho đến chết…

(Phan Thế Nghĩa lược dịch từ   Saengduean Lek).


 

CHỚ THẤY SÓNG CẢ MÀ NGÃ TAY CHÈO!

Xuyên Sơn

CHỚ THẤY SÓNG CẢ MÀ NGÃ TAY CHÈO!

(“Người yêu nước phải thông hiểu những sự tích nước mình”)

1/ Cuốn “Việt Nam Sử Lược” của sử gia Trần Trọng Kim (1883-1953) từ năm 2000 trở lại đây, mỗi năm có ít nhứt một lần tái bản trước nhu cầu của công chúng trong nước cần tìm hiểu sự thực lịch sử.

NHƯNG, quí bạn có biết trước kia, trong ròng rã cả nửa thế kỷ cụ Trần Trọng Kim liên tục bị kết án đến rợn người hay không?

Những “quan sử” (quan làm nghề viết sử) ngoài Hà Nội, như Trần Huy Liệu viện trưởng Viện Sử học vào năm 1955 chỉ đạo:

“Bóc trần quan điểm thực dân và phong kiến trong quyển Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim”, hoặc như Văn Tạo viện trưởng Viện Sử học vào năm 1981 chửi rủa:

“Bọn bồi bút thực dân biên soạn, mà tiêu biểu là cuốn Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim”!

2/ Cuốn “Việt Nam Sử Lược” làm gì mà bị kết án?

So với sách giáo khoa đưa vào nhà trường giảng dạy như một pháp lệnh, “Việt Nam Sử lược” của cụ Trần Trọng Kim trình bày lịch sử VN từ thời Hồng Bàng xửa xưa cho tới đầu thế kỷ 20 đã phạm … ít nhứt hai vấn đề

“cấm kỵ”:

a/ Đề cao công trạng thống nhứt lãnh thổ của vua Gia Long;

b/ Công nhận nhà Triệu của Triệu Đà là triều đại chính thức trong lịch sử nước Việt, với quốc hiệu “Nam Việt” rộng lớn (không chỉ có Nghệ An trở ra đồng bằng sông Hồng, mà còn gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây).

Trong khi đó, sách giáo khoa “pháp lệnh” thì loại bỏ nước Nam Việt & Triệu Đà ra khỏi lịch sử VN!

Quí bạn có biết, trong áng văn hào hùng “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi đã tôn vinh:

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”, Triệu ở đây là Triệu Võ Đế, tức Triệu Đà.

(để rõ hơn, tôi sẽ đưa lên fb diễn giải về các bực tiền nhân lỗi lạc của chúng ta đã vinh danh Triệu Đà ra sao)

3/ Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo!

Thời may cũng có những người nhận ra sự thực, bày tỏ ý kiến ngược dòng với các “quan sử” quen thói gắp lửa bỏ tay người.

Năm 2004, trên tạp chí Xưa & Nay, Hà Vinh viết bài ca ngợi “Việt Nam Sử Lược là một sử phẩm có giá trị”.

Cũng trên Xưa & Nay, năm 2009, Mai Khắc Ứng viết bài nhận định Trần Trọng Kim là “một người viết sử rạch ròi, phân minh”.

Trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, năm 2007, Tạ Ngọc Liễn cho rằng cuốn Việt Nam Sử lược “vững chắc trong học thuật”, “ngoài thái độ cẩn mật, nghiêm túc ra, tác giả (tức Trần Trọng Kim) còn nêu cao tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử”!

Vậy nên, trong số Xuân Bính Thìn 2016 của Xưa & Nay, Trần Văn Chánh viết bài ngưỡng mộ cụ Trần Trọng Kim là “tiếng nói của lương tri nhà sử học”.

Một số bạn trẻ thời nay cũng nên tự đặt câu hỏi:

tại sao giáo khoa nhà trường hiện nay chỉ trích/miệt thị vua Gia Long, mà người dân Nam Bộ của mình thuở trước đều ủng hộ vua Gia Long, vẫn dành đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cho vị vua sáng lập Nhà Nguyễn?

Cuốn “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim liên tục được tái bản, nói nào ngay, đó cũng là một cách bỏ phiếu thầm lặng cho cuộc VỀ NGUỒN LỊCH SỬ.

[ Quí bạn nào chưa đọc, có link sau, download về mà đọc: https://quangduc.com/a32873/viet-nam-su-luoc-pdf- ]

Nguồn fb Nguyễn- Chương Mt


 

Giả nghèo sống với người vô gia cư, sau nửa năm ký giả nổi tiếng New York Times ra loạt bài chấn động nước Mỹ.

Cao Minh

Giả nghèo sống với người vô gia cư, sau nửa năm ký giả nổi tiếng New York Times ra loạt bài chấn động nước Mỹ.

William James – ký giả của tờ báo New York Times đã cải trang thành một người lang thang, nghèo khổ và què một chân. Anh đã trà trộn và sống với những người vô gia cư ở Miami, một thành phố ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ khoảng nửa năm để tìm hiểu cuộc sống của họ.

Ngay ngày đầu tiên, nhìn thấy James tàn tật, ăn mặc rách rưới và bẩn thỉu, từ trong đáy mắt của những người vô gia cư này đã lập tức biểu lộ ra một sự quan tâm, một người đàn ông trong nhóm đã bước đến, đưa cho James một cây gậy gỗ và nói với anh rằng:

– “Người anh em, hãy cầm lấy nó, như thế sẽ thuận tiện hơn nhiều”.

James đưa tay đón lấy cây gậy, dùng tay vuốt ve cây gậy này hết lần này đến lần khác, trong lòng không khỏi cảm kích. Đúng lúc đó, một bóng dáng loang loáng phản ánh trên mặt đường, dáng đi không bình thường, ngẩng lên nhìn, trong lòng James cảm thấy như bị cái gì đó thiêu đốt: người đàn ông đưa gậy lúc nãy đang đi cà nhắc…

Chống cây gậy này, James dường như cảm thấy có một loại sức mạnh vô hình từ nó truyền đến; rất mau, anh đã giành được tin tưởng của những người vô gia cư này. Họ dẫn James đi đến nơi đặt những chiếc thùng rác ở các siêu thị, đến khu dân cư để thu lượm thức ăn và phế liệu bị người ta vứt đi. Họ còn nói cho James biết nơi nào có nhiều đồ phế liệu, những phế liệu nào đáng tiền và nên đi lượm vào khung giờ nào, .v.v…

Trong một lần trông thấy James bước đi khập khiễng một cách vất vả để lật tìm phế liệu, một anh chàng thanh niên da đen với hàm răng trắng bóng đã bước đến, vỗ nhẹ lên vai của James, đưa cho anh túi phế liệu và nói:   -“Này người anh em, anh hãy đi sang bên cạnh nghỉ ngơi một chút, túi đồ phế liệu này anh hãy cầm lấy đi!”.

James nghe xong, đứng ngẩn ra đó, như thể không tin vào tai mình:

– “Vậy làm sao được? Những thứ này cậu vất vả lắm mới lượm được mà!”

Người lang thang đó nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói một cách rất vui vẻ:

– “Tôi dễ dàng hơn anh một chút”. Nói xong, liền quay người bỏ đi.

James xách túi phế liệu đó, nhớ lại câu mà anh chàng da đen vừa nói khi nãy, trong tâm cảm thấy vô cùng ấm áp và cảm động.

Tới buổi trưa, trong lúc đang cảm thấy đói, một người đàn ông bị còng lưng trong nhóm đi đến trước mặt James, đưa cho anh hai ổ bánh mì và nói:

– “Này người anh em, hãy ăn đi!“.

James nghe xong, cảm thấy có chút ngại ngùng:

– “Nếu anh cho tôi, thế thì anh ăn gì đây?”.

Người đàn ông nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói:

– “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”. Nói xong, liền lảng sang bên cạnh bỏ đi.

James cầm hai ổ bánh mì trong tay, nước mắt lã chã rơi, phải rất lâu sau đó mới bình tĩnh lại được.

Đến tối, James cùng vài người vô gia cư rủ nhau co rúc dưới chân cầu. Nhìn thấy James ngủ ở nơi ngoài rìa chân cầu, một ông lão đầu tóc bạc trắng chầm chậm đi đến, vỗ nhẹ vào vai anh rồi nói:

– “Này người anh em, cậu hãy đến ngủ ở chỗ tôi, ở đó thoải mái hơn một chút”.

James nghe xong, cảm thấy nghi hoặc nói:  -“Nếu tôi ngủ chỗ ông, thế thì ông ngủ chỗ nào?”

Ông lão đó nghe xong, nhoẻn miệng cười, nói: – “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”.

Lại là “tôi dễ dàng hơn cậu một chút!“, James nghĩ, những người vô gia cư sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội này, tuy cuộc sống vô cùng gian khổ, thế nhưng khi họ nhìn thấy người khác khó khăn, đều luôn chìa tay giúp đỡ, họ luôn thấy bản thân mình có một phương diện mạnh hơn người khác.

James sống chung với những người vô gia cư này hơn nửa năm, trong khoảng thời gian hơn nửa năm đó, sớm chiều ở chung đã khiến anh sinh ra tình cảm thân thiết sâu sắc.

Chàng trai vô gia cư người da đen tên Ali luôn thích nói đùa kia, một tay bị tàn tật, nhưng cậu vẫn luôn thích giúp đỡ những người bị tật cả hai tay. Khi người này bày tỏ cảm kích, cậu luôn thích nói một câu:

– “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Anh chàng vô gia cư tên Bobby, thính giác ở hai lỗ tai không được tốt lắm, mỗi lần nhặt được thứ gì tốt, luôn thích chia sẻ một chút cho người bạn vô gia cư có tật ở mắt; khi người này bày tỏ sự cảm kích, anh luôn nói một câu, chính là:

– “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Anh chàng vô gia cư thân thể ốm yếu tên Chater ấy, luôn thích giúp đỡ người bạn vô gia cư thân thể béo phì kia của mình; khi nhận được sự cảm kích, câu mà Chater thích nói nhất cũng chính là:

– “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Không lâu sau đó, James có một loạt bài viết trên trang New York Times với tiêu đề:

“Tôi dễ dàng hơn cậu một chút.” Loạt bài báo đã gây sự chấn động lớn đối trái tim và tâm hồn hàng triệu độc giả thân thiết của tờ báo. James ngập trong những bình luận bất tận đầy xúc động của độc giả gửi về. Một nhà bình luận nói, đó thực sự là một loạt bài đánh thức những trái tim đã ngủ quá lâu trong sự thờ ơ, lạnh nhạt ở một đất nước quá coi trọng sự riêng tư.

Bất kỳ ai đọc loạt bài đó đều muốn ngả mũ chào những người vô gia cư mà họ gặp, với sự kính trọng thực sự. Tuy họ sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội, nhưng họ luôn có thể nhìn thấy bản thân mình có ưu thế hơn người khác, và dùng ưu thế nhỏ nhoi ấy để giúp đỡ những người yếu hơn, mang cho người khác một loại cảm giác ấm áp và dũng khí để tiếp tục sống.

Hàng triệu độc giả của tờ báo danh tiếng hàng đầu thế giới bàng hoàng nhận ra, sự rách rưới, bẩn thỉu, tàn tật hay nghèo khó, không ngăn cản con người trở nên tôn quý và cao cả. Và không cần phải giàu có bạn mới có thể trao đi tình yêu thương, nỗi đồng cảm, thậm chí cả một chút vật chất vốn không có mảy may ra giá trị gì đối với hầu hết mọi người… như là một cây gậy…

James đã viết trong loạt bài gây chấn động của mình rằng: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”, là câu nói kỳ lạ nhất lưu truyền trong những người vô gia cư, câu nói kỳ lạ nhất mà anh từng đươc nghe thấy trong đời, bởi vì mỗi khi nó được thốt ra từ một người vô gia cư tàn tật, rách nát mà với anh là không thể nào khốn khó hơn, nó bỗng biến thành một sức mạnh cảm hoá mãnh liệt khiến hết thảy những quan niệm cố hữu về người khác, sự lạnh nhạt, vô tình, sự hãnh tiến và ích kỷ của một người ở tầng lớp trên như anh tan biến. Nó cho anh một thứ niềm tin về cuộc sống mà anh chưa bao giờ cảm thấy khi đến những toà nhà tráng lệ nhất New York, giữa những chính khách, nhà tài phiệt, hay ngôi sao đỉnh cao thế giới..

Và chúng ta, những con người chắc chắn giàu có hơn rất nhiều những người vô gia cư khốn khổ, lại thường là những kẻ kêu ca than phiền nhiều nhất về số phận. Thực ra cuộc đời sẽ đơn giản và hạnh phúc hơn rất nhiều nếu chúng ta có thể nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút” với bất kỳ ai đó mà bạn gặp trên đường đời. Bởi vì như những người vô gia cư kia, bạn luôn có thể nói câu nói đầy cảm hứng đó ngay cả khi bạn không có gì cả, ngoài… một trái tim.

Theo Aboluowang.

Fb Nhung Nguyen


 

ÔNG QUYẾT ĐỊNH TỪ THIỆN HẾT KHỐI TÀI SẢN 600 TRIỆU ĐÔ LA CỦA MÌNH…

Quang Minh Phan

ÔNG QUYẾT ĐỊNH TỪ THIỆN HẾT KHỐI TÀI SẢN 600 TRIỆU ĐÔ LA CỦA MÌNH, VÀ CHỈ HỖ TRỢ TIỀN HỌC PHÍ ĐẠI HỌC CHO CON TRAI, ÔNG MUỐN CON TỰ ĐI TRÊN ĐÔI CHÂN CỦA MÌNH

Triệu phú Simon Cowell quyết định không để lại khối tài sản ước tính 600 triệu USD cho người con trai 11 tuổi, Eric, xuất phát từ niềm tin vững chắc rằng sự giàu có thừa kế từ thế hệ trước sẽ tước đi tính tự lập và mục đích sống thực sự của một cá nhân.

Ngoại trừ việc chi trả cho việc học đại học của Eric, Cowell dự định sẽ quyên góp toàn bộ tài sản cho các quỹ từ thiện hỗ trợ trẻ em và bảo vệ động vật – những mục đích ông đặc biệt tâm huyết như nhà nuôi dưỡng trẻ em và các tổ chức cứu hộ chó. Đối với Cowell, việc chuyển hướng các nguồn lực của mình đến các tổ chức này sẽ biến thành công tài chính thành một động lực vì cộng đồng, mang lại sự chăm sóc y tế, mái ấm và cơ hội sống cho những trẻ em yếu thế và động vật cần cứu giúp. Ông xem đây là việc làm cần thiết vì di sản thực sự không được đo bằng quy mô của quỹ thác nào dành cho gia đình, mà bằng số lượng người mà bạn có thể trao quyền và trao cơ hội để họ tự mình thành công.

Quyết định này truyền tải một bài học cuộc sống sâu sắc cho con trai ông về đạo đức làm việc, sự độc lập và tinh thần trách nhiệm. Trưởng thành từ công việc khiêm tốn ở phòng thư của một công ty thu âm, Cowell muốn Eric tự mình trải nghiệm niềm tự hào, sự kiên cường và cảm giác viên mãn đến từ việc gặt hái thành công bằng chính sự chăm chỉ và hoài bão của bản thân. Bằng cách cung cấp một nền tảng giáo dục vững chắc nhưng đòi hỏi Eric phải tự vạch ra con đường riêng, Cowell dạy con rằng giá trị thực sự nằm ở nhân cách và sự nỗ lực cá nhân, thay vì dựa dẫm vào đặc quyền thừa kế. Sau cùng, quyết định này củng cố nguyên tắc rằng sự giàu có nên được dùng làm đòn bẩy để giúp đỡ xã hội, thay vì là điểm tựa làm cản trở sự phát triển của một con người.

Theo: IndiaTimes, Simon Cowell/GQ, Esquire


 

TẬN CÙNG BẰNG SỐ – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 TẬN CÙNG BẰNG SỐ.

Cọp cũng sợ…..

Thời bao cấp, cả nước đều khổ. Tôi cũng trong số đó.

Từ miền trung tôi lưu lạc vào Saigon. Xích lô cũng đã từng, bốc vác cũng đã trải…

nhưng không cạnh tranh nổi với họ. Thất nghiệp vẫn hoàn thất nghiệp.

Ở nhờ nhà người bạn, sĩ diện, nên không cho nó biết hoàn cảnh của mình… sáng vẫn đạp xe đi đến tối mịt mới về.

Đi đâu giữa chốn xa lạ này ngoài công viên và những nơi công cộng?

Tôi chọn sở thú làm nơi chờ sự mỉm cười của số phận.

Với vài ổ bánh mì không và chai nước máy đã chuẩn bị trước.

Tôi mua vé vào sở thú với vài đồng còm cỏi còn lại của mình… Ghế đá là nơi để ngồi mơ tưởng và cũng là nơi ngả lưng khi mệt mỏi.

Bấy giờ, tôi sống không có hiện tại và cả tương lai.

Hết ngày này qua ngày nọ, chiếc ghế đá trong sở thú cũng dần thân thiết. Những đồng bạc lẻ của tôi cũng vơi dần.

Rồi ngày định mệnh cũng đến…

Một ông trạc tuổi 40 đến ngồi bên cạnh và ngỏ lời:

– Chú em ở đâu mà anh thấy ngồi ở đây ba bốn ngày rồi?

– Dạ… Tôi ấp úng.

– Anh là giám đốc sở thú này.

Ông ta giới thiệu.

– Dạ. Em có mua vé… Tôi như thanh minh.

– Ồ không, Anh có nói chuyện vé viếc đâu. Là thế này, anh thấy em khôi ngô hiền hậu… nên nói chuyện thôi.

Ông ta giả lả.

Tôi yên tâm với thái độ đó nhưng vẫn tò mò…

– Em đang làm gì?

Ông ta hỏi.

– Thất nghiệp.

Tôi đáp gọn lỏn.

– Em muốn có việc làm ở đây không?

Ông ta hỏi.

Tôi nhìn vào mắt ông ấy dò xét…

– Nghe giọng em, anh biết là người miền trung. Anh cũng có gốc gác ngoài đó… nên cảm mến. Ông ta tiếp.

– Nhưng công việc ở đây là gì? Tôi hỏi.

– Nhẹ nhàng thôi…. ông dừng một chút rồi nói tiếp.

– Số là trước đây, nước cộng hòa Tây Phi có tặng cho sở thú ta một con đười ươi…nhưng do chăm sóc kém và bọn nuôi trực tiếp bớt khẩu phần ăn… nên nó đã chết. Sợ phải trả lời lằng nhằng với cấp trên nên bọn anh giấu nhẹm chuyện này. Hơn nữa… sở thú của một thành phố to thế này mà thiếu… thì còn gì…

– Ý anh thế nào?

Tôi vặn.

– Em giúp đóng vai đười ươi…

và sẽ trả lương hậu! Bọn anh còn lưu lại bộ da…

Như người giữa dòng nước dữ vớ được phao, tôi đồng ý mà chẳng cần suy tính thêm gì.

Học vài động tác của loài linh trưởng có xuất xứ tận Phi Châu, đêm đó, tôi khoác bộ da thú lên người và ngồi trong cái chuồng bốn bề lưới sắt.

Hôm sau, đúng vào ngày chủ nhật, khách tham quan đến sớm hơn thường nhật.

Những đứa bé cùng bố mẹ diện những bộ đồ tươm tất nhất hớn hở vây quanh chuồng của tôi. Chúng phấn khích hét to:

” Con khỉ! À không, con đười ươi đẹp quá!”.

Ban đầu thì hơi buồn nhưng vốn yêu trẻ con nên đưa tay chào chúng.

Ôi! Nó biết chào kìa!

Bọn trẻ càng hét tợn!

Không bao lâu sau, chuồng của tôi trở thành trung tâm!

Người ta bu kín vòng trong vòng ngoài.

Chuối, cà rốt, dưa, cam quýt, mía, cà chua… quăng vào tới tấp! Trong đám âm thanh hỗn độn ấy, tôi nghe câu:

“Một con khỉ thông minh và có hồn.”

Tôi vỗ hai tay vào ngực biểu lộ cảm xúc tốt đẹp; nhe hàm răng đầy bựa để cảm kích đám đông; vuốt nhẹ những bàn tay nhỏ bé đưa vào cảm thán…

Ngày đầu tiên tôi đóng tốt vai khỉ. Ngày tiếp theo tôi trở thành sao trong sở thú.

Ngày tiếp nữa tôi nổi tiếng như cồn.

Chuồng cọp và sư tử kế bên vắng như chùa bà Đanh bởi tôi biết làm trò cho bọn con nít và cả lũ lớn xác ngu xuẩn ngoài kia..

Ngoài các thứ trái cây, lũ rồ kia ném cả tiền! Hễ giá trị càng cao thì tôi diễn trò càng lạ và càng lạ thì họ ném tiền càng nhiều…

Một lần, thấy một xấp tờ dollars ném vào…. tôi cao hứng nhảy thật cao và xui xẻo cho tôi là rớt qua… chuồng cọp!

Xong! Thế là xong!

Mọi mơ ước tương lai của tôi xem như tan biến.

Con cọp giống Sibiri to như bò mộng gầm gừ nhe những chiếc nanh gớm ghiếc.

Hồn xiêu phách lạc.

Tôi cay đắng phận mình…

lẽ nào đến đây là hết với tuổi đời mới đôi mươi sao?

lẽ nào… Tôi nhặt hai cục đá xanh nơi ngọn núi giả thấp lè tè của hắn với ý định quyết một phen sống mái chứ không thể xuôi tay! Bên ngoài, đám người la hét như ong vỡ tổ mà tôi không đủ tâm trí để phân biệt là họ đang cổ vũ tôi hay cản trở một vụ ra tay đẫm máu của chúa sơn lâm!

Mặc.

Trước cái chết, con khỉ tôi trở nên bình tỉnh lạ thường.

Nếu trúng một trong hai cục đá to như trứng ngỗng của tôi thì voi cũng ngất ngư chứ đừng nói gì cọp!

Con cọp gầm gừ lùi dần vào hang và tôi nghe từ miệng của nó:

Ê! Thằng Quảng Nam! Tao cũng là thằng đóng thế như mi…

Tao quê Quảng Ngãi. Mi mà ném cục đá đó thì… cha mẹ tao ai nuôi?

“Thằng cọp” nói với đôi mắt ngấn nước.

Tôi bỏ đá xuống, vỗ hai tay vào ngực và thong thả leo về chuồng mình trong tiếng reo hò của đám đông.

Ngoan Phan

LỤM.

Từ fb Mãn Châu Thần Tiễn

Nguồn fb Chau Nguyen Thi 


 

ĐIỀU KỲ DIỆU – Truyen ngan HAY

ĐIỀU KỲ DIỆU.

Một người phụ nữ trở lại khu bảo tồn động vật hoang dã sau 35 năm, không ngờ rằng mình sẽ còn được nhận ra từ con khỉ đột mà bà đã cứu khỏi những kẻ săn trộm.

Ba mươi năm trước, Sarah tham gia một đội cứu hộ tại một trại săn bắn sâu trong Congo. Trong số những động vật họ tìm thấy có một con khỉ đột con, sợ hãi và yếu ớt đến nỗi khó mà đứng vững.

Khi bà cúi xuống bên cạnh nó, nó bám chặt lấy chân bà và không chịu buông ra. Sarah nhẹ nhàng bế nó lên, quấn nó trong một chiếc chăn và cho nó uống nước trong khi đội cứu hộ chuẩn bị rời đi.

Nó hồi phục tại một khu bảo tồn động vật hoang dã, nơi Sarah đến thăm bất cứ khi nào công việc cho phép. Nhưng những nhiệm vụ cứu hộ khác cuối cùng đã đưa bà đi, và nhiều năm trôi qua trước khi bà có thể trở lại.

Đến lúc đó, con khỉ đột mồ côi đã lớn lên thành một con khỉ đột khổng lồ. Sarah hy vọng sẽ gặp lại nó, nhưng bà không bao giờ ngờ rằng nó vẫn còn nhớ bà.

Khi nhìn thấy bà, nó vội vã chạy băng qua khu vườn, những người xung quanh im lặng như thể bà đang chờ đợi, bà khẽ gọi tên nó mà bà đã đặt cho nó.

Ba mươi năm trước, bà đã kéo nó ra khỏi một nơi mà nó chỉ biết đến nỗi sợ hãi. Giờ đây, bà ngồi trong vòng tay nó, xúc động vì nó vẫn còn nhớ đến bà.

– Cang Huỳnh lược dịch từ National Géographie . 


 

CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG: đọc sách để làm gì?”

Cang Huynh

“Thưa thầy, con đã đọc rất nhiều sách… nhưng con quên hầu hết rồi. Vậy đọc sách để làm gì?”

Đó là câu hỏi của một học trò tò mò dành cho sư phụ mình. Người thầy không trả lời. Ông chỉ im lặng nhìn cậu.

Vài ngày sau, họ đang ngồi bên bờ sông, đột nhiên, người thầy nói:

“Ta khát. Con hãy lấy cho ta ít nước… nhưng hãy dùng cái rây cũ nằm dưới đất kia.”

Người học trò trông có vẻ bối rối. Đó là một yêu cầu nực cười. Làm sao có thể lấy nước trong một cái rây đầy lỗ?

Nhưng cậu không dám cãi lại.

Cậu nhặt cái rây lên và thử.

Một lần. Hai lần. Hết lần này đến lần khác…

Cậu chạy nhanh hơn, xoay rây ở các góc độ khác nhau, thậm chí còn dùng ngón tay bịt các lỗ thủng. Không có tác dụng. Cậu không thể hứng được một giọt nước nào.

Kiệt sức và thất vọng, cậu thả cái rây xuống chân thầy và nói:

“Con xin lỗi. Con thất bại rồi. Không thể nào.”

Người thầy nhìn cậu học sinh với ánh mắt ân cần và nói:

“Con không trượt. Nhìn cái rây này xem.”

Cậu học sinh liếc xuống… và nhận thấy điều gì đó.

Cái rây cũ kỹ, tối màu, bẩn thỉu giờ đã sáng bóng sạch sẽ. Nước, dù không bao giờ đọng lại, đã rửa sạch nó hết lần này đến lần khác cho đến khi nó sáng loáng.

Người thầy tiếp tục:

“Đó là tác dụng của việc đọc. Không quan trọng con có nhớ hết mọi chi tiết hay không. Không quan trọng kiến ​​thức có vẻ trôi tuột đi như nước chảy qua cái rây…

Bởi vì khi con đọc, tâm trí con được làm mới.

Tinh thần con được đổi mới.

Những ý tưởng của con được nuôi dưỡng.

Và ngay cả khi con không nhận ra ngay lập tức, con đang được chuyển hóa từ trong ra ngoài.”

Đó là mục đích thực sự của việc đọc.

Không phải để lấp đầy trí nhớ…

mà là để thanh lọc và làm giàu tâm hồn con.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

CON RUỒI- Truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh

CON RUỒI – Nguyễn Nhật Ánh

Con ruồi nhỏ, nhỏ xíu, vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những việc tày đình. Rất có thể hai vợ chồng đâm đơn ra tòa ly dị nhau chỉ bởi một con ruồi. Ai mà lường trước được những việc thần kỳ đó!

Tôi ốm. Ðiều đó vẫn thỉnh thoảng xảy ra cho những người khỏe mạnh. Và vợ tôi pha cho tôi một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra trong ly có một con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, “đẹp” kinh khủng!

Thế là mọi chuyện bắt đầu.

Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất thảy các thứ dơ bẩn đó. Tôi đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không, thì cứ gọi là thức trắng đêm.

Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống, nói trắng ra là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại chẳng đã nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát nôn.

Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:

– Sao vậy anh?

Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:

– Có người chết trôi kia kìa!

Vợ tôi cầm ly sữa lên:

– Chết rồi! ở đâu ra vậy cà?

– Còn ở đâu ra nữa? Ố! Tôi nhấm nhẳng: Ố! Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à?
Vợ tôi nhăn mặt:

– Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!

– Hứ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết?

Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:

– Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.

Tôi vẫn chưa nguôi giận:

– Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi.

Vợ tôi trố mắt:

– Nó còn trong ly kia mà!

– Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.

– Anh thấy, sao anh còn uống?

– Ai mà thấy!

– Không thấy sao anh biết có hai con?

Tôi tặc lưỡi:

– Sao lại không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.

Vợ tôi bán tín bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:

– Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Ðể em…

Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:

– Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?

Vợ tôi giật mình:

– Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?

– Chứ không phải sao?

– Không phải!

A, còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:

– Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?

– Thì có làm phải có sai sót chứ! Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em?

– Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả? Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà…

Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:

– Em đâu có nói vậy!

– Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem!

Vợ tôi nhún vai:

– Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy? Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy tủ ra mới lấy được đồ đạc?

Tôi khoát tay:

– Nhưng đó là chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy ngàn bạc cho bạn bè mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?

– Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi bóng đá bị mất xe đạp? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị lột mất đồng hồ?

Cứ như thế, như có ma quỷ xui khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm từng từng lớp lớp của nhau. Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới lớp bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt radio đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya, v.v…và v.v… chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.

Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật chẳng thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:

– Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa. Tôi ngán tới tận cổ rồi!

Vợ tôi lạnh lùng:

– Tùy anh!

Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:

– Ðược rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ.

Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoáng trên giấy với tốc độ 100 km/giờ. Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.

Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xi-nê-ma, nhưng biết làm thế nào được?

Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.

– Cô định làm gì đấy?

– Ðem đổ đi chứ làm gì?

– Không được, để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại, đem đến tòa án làm bằng cớ.

Ðặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại. Trong khi đó, tôi hùng hục lấy muỗng vớt con ruồi ra.

Tôi ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ. Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra đó là một mẩu lá trà.


 

“HẸN GẶP LẠI NGÀY MAI”

Cang Huynh

“HẸN GẶP LẠI NGÀY MAI”.

Một trong những cử chỉ cảm động nhất của Jimmy Carter trong những giờ phút cuối đời của Rosalynn là yêu cầu cả gia đình rời khỏi phòng một lát. Ông muốn được ở một mình với người phụ nữ mà ông đã yêu thương gần tám thập kỷ.

Jimmy và Rosalynn Carter đã chia sẻ gần như toàn bộ cuộc đời của họ.

Họ quen biết nhau từ khi còn trẻ ở thị trấn nhỏ Plains, Georgia, kết hôn năm 1946, lập gia đình, cùng nhau đến Tòa Bạch Ốc, và qua nhiều năm, trở lại chính nơi câu chuyện của họ bắt đầu.

Cuộc hôn nhân của họ kéo dài 77 năm.

Nhưng chương thân mật nhất trong cuộc đời họ lại diễn ra xa rời chính trị và các nghi lễ chính thức.

Vào tháng 11 năm 2023, Rosalynn, 96 tuổi, bắt đầu được chăm sóc tại nhà. Jimmy cũng được chăm sóc tại nhà.

Trong những giờ phút cuối đời của vợ, ông ở bên giường bà trên xe lăn.

Ông nắm tay bà.

Ông nói với bà rằng ông yêu bà.

Ông cảm ơn bà vì tất cả những gì bà đã làm cho ông và gia đình ông.

Rồi ông ấy yêu cầu mọi người để họ yên.

Sau đó, các nhân viên y tế đặt giường bệnh của Jimmy đối diện với giường của Rosalynn để họ có thể ở gần nhau.

Ngày hôm sau, bà không còn nói được nữa.

Ngày 19 tháng 11 năm 2023, Rosalynn Carter qua đời thanh thản tại nhà riêng ở Plains, được bao quanh bởi gia đình.

Con trai bà, Chip, sau này nhớ lại rằng khi Jimmy nhận ra bà đã qua đời, mắt ông ấy ngập tràn nước mắt.

Sau khi bà qua đời, cựu tổng thống đã tóm tắt ý nghĩa của Rosalynn đối với ông bằng một câu nói vô cùng giản dị:

“Rosalynn là người bạn đồng hành ngang hàng với tôi trong mọi thành tựu tôi đạt được.”

Bà không chỉ là vợ ông.

Bà còn là người bạn thân thiết nhất của ông.

Cố vấn của ông.

Đối tác chính trị của ông.

Người biết ông từ rất lâu trước khi ông trở thành tổng thống, vào Bạch Cung và được ghi danh vào sử sách.

Trong buổi tưởng niệm Rosalynn, con gái ông, Amy, đã đọc một bức thư Jimmy viết cho mẹ khoảng 75 năm trước, khi ông đang phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ.

Trong bức thư đó, Jimmy trẻ tuổi nói với bà rằng mỗi lần trở về sau những chuyến đi xa, ông lại khám phá ra bà tuyệt vời đến nhường nào và lại yêu bà thêm một lần nữa.

Ông kết thúc bằng câu:

“Tạm biệt, em yêu. Hẹn gặp lại em ngày mai. Jimmy.”

Hơn một năm sau, vào ngày 29 tháng 12 năm 2024, Jimmy Carter cũng qua đời tại nhà riêng ở Plains.

Ông thọ 100 tuổi.

Họ đã chung sống 77 năm hôn nhân.

Từ tuổi trẻ ở Georgia…đến Tòa Bạch Ốc.…qua các cuộc bầu cử, thất bại, công việc nhân đạo, con cái, cháu chắt và tuổi già…

cho đến khi kết thúc với hai chiếc giường đặt đối diện nhau trong ngôi nhà mà họ luôn mong muốn trở về.

Có lẽ đây là hình ảnh của tình yêu sau một cuộc đời bên nhau.

Không phải trong những bài phát biểu hùng hồn.

Không phải trong những bức ảnh từ các bữa tiệc chính thức.

Không phải trong những danh hiệu mà sách lịch sử ghi lại.

Mà là trong hình ảnh một người đàn ông lớn tuổi, ngồi trên xe lăn, nắm tay người phụ nữ ông yêu từ thuở nhỏ và cầu xin thế giới hãy để họ được ở bên nhau thêm một chút nữa.

Và trong những lời được viết cách đây hàng thập niên, cuối cùng dường như là một lời hứa:

“Hẹn gặp lại ngày mai” – Jimmy.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

CÂU CHUYỆN MỘT ĐÔI GIÀY – Cang Huynh

Cang Huynh

Một người thợ đóng giày đã hy sinh tất cả những gì ít ỏi mình có vì một cậu bé đi chân trần… Không ai ngờ chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Mỗi sáng, ông Ernesto đều thấy cậu bé ấy dừng lại trước cửa tiệm giày của mình.

Cậu bé khoảng chín tuổi, mặc một chiếc áo sơ mi rộng thùng thình, tóc tai bù xù vì đi bộ nhiều.

Nhưng điều thu hút sự chú ý của người thợ đóng giày già nhất chính là đôi chân của cậu.

Mateo đi chân trần.

Lòng bàn chân cậu chai cứng vì bụi bẩn, và quanh các ngón chân có những vết thương nhỏ. Dù vậy, cậu vẫn đi bộ vài cây số mỗi ngày để đến trường.

Một buổi sáng nọ, ông Ernesto mở cửa.

“Này cậu bé, giày của cháu đâu?”

Mateo cúi đầu xuống.

“Chúng bị hỏng rồi.”

Chỉ vậy thôi.

Ông Ernesto phát hiện ra rằng cậu bé sống với mẹ, bà Rosa, một người phụ nữ giặt quần áo thuê từ sáng sớm để kiếm tiền mua thức ăn, củi và tiền thuê nhà.

Mua giày mới đơn giản là điều họ không đủ khả năng chi trả.

“Cháu quen rồi,” Mateo nói.

Những lời đó cứ văng vẳng bên tai ông Ernesto cả ngày.

Tình cảnh của ông cũng chẳng khá hơn là mấy.

Ông đã làm việc trong cửa hàng giày nhỏ đó hơn ba mươi năm, nhưng khách hàng ngày càng ít đi, và một số khoản nợ đã quá hạn.

Ngay lúc đó, ông nhận được một đơn đặt hàng quan trọng.

Một người đàn ông giàu có muốn đặt làm giày riêng và sẵn sàng trả giá rất cao.

Để làm chúng, ông Ernesto đã dùng số tiền tiết kiệm cuối cùng của mình để mua một miếng da thuộc loại hảo hạng.

Công việc này có thể cứu vãn cửa hàng.

Nhưng chiều hôm đó trời bắt đầu mưa.

Ông Ernesto thấy Mateo đang trú dưới mái hiên cửa hàng.

Cậu bé ướt sũng.

Chân cậu lấm lem bùn đất, và một vết thương của cậu đã bị hở ra.

“Vào trong đi.”

Mateo lắc đầu.

“Cháu sẽ làm bẩn sàn nhà của ông đấy.”

Ông Ernesto cảm thấy nghẹn ở cổ họng.

Ông cho cậu bé vào nhà, đun nước nóng và rửa chân cho cậu.

Rồi ông nhận ra cậu bé đã đi lại như vậy suốt nhiều tuần.

“Sao cháu không bỏ học?”

Mateo chỉ đơn giản trả lời:

“Vì cháu muốn học.”

Sau khi cậu bé rời đi, ông Ernesto lục lọi đống da vụn trong xưởng.

Không có mảnh nào dùng được cả.

Ông cần da thuộc chắc chắn.

Ông nhìn lên kệ.

Có một mảnh tốt nhất ông có.

Mảnh da dành riêng cho vị khách hàng có thể cứu cửa hàng giày của ông.

Ông Ernesto đặt miếng da, vừa với bàn chân nhỏ của Mateo, lên trên.

Một lúc lâu, ông không làm gì cả.

Rồi ông nhớ lại cậu bé từng phải bước trên đá để đến trường.

Ông cầm kéo lên.

Và ông cắt.

Ông làm việc suốt đêm.

Lúc rạng sáng, trên bàn làm việc, có một đôi giày màu nâu, đơn giản nhưng chắc chắn.

Khi Mateo đi ngang qua xưởng, ông Ernesto gọi cậu lại.

Cậu bé nhìn thấy đôi giày và gần như không nói nên lời.

“Chúng giá bao nhiêu?”

“Quà tặng miễn phí.”

“Nhưng… ai đã trả tiền cho chúng?”

Ông Ernesto cúi xuống trước mặt cậu.

“Một ngày nào đó, khi con có thể, hãy giúp đỡ người nghèo. Điều đó như đã trả tiền rồi.”

Mateo xỏ giày vào.

Chúng vừa vặn hoàn hảo.

Cậu đi vòng quanh xưởng vài lần với nụ cười mà ông Ernesto sẽ không bao giờ quên.

Điều Mateo không biết là đôi giày đó có giá của nó.

Ông Ernesto không còn đủ da để hoàn thành đơn đặt hàng quan trọng.

Ông mất khách hàng.

Ông mất tiền.

Và trong nhiều tuần, ông đã đứng trước nguy cơ phải đóng cửa cửa hàng.

Một số chủ cửa hàng đã chế giễu ông.

“Một người thợ đóng giày mà cho đi loại da tốt nhất của mình thì cuối cùng sẽ không còn cửa hàng giày nữa.”

Ông Ernesto không bao giờ trả lời.

Mỗi sáng, ông đều thấy Mateo đi học mà không hề đau đớn.

Thế là đủ đối với ông.

Thời gian trôi qua, cậu bé bắt đầu dành cả buổi chiều ở xưởng.

Cậu quét dọn sàn nhà.

Cậu sắp xếp dụng cụ.

Cậu quan sát ông Ernesto may vá và sửa chữa giày dép.

Cho đến một ngày, Mateo mang đôi giày nhỏ đến.

Mẹ cậu đã tìm được việc làm ở một thị trấn khác.

Họ phải đi.

Đôi giày đã cũ và bắt đầu chật.

Mateo muốn trả lại chúng.

Ông Ernesto từ chối.

“Cứ giữ lấy chúng. Để cháu không bao giờ quên quãng đường cháu đã đi với chúng.”

Cậu bé ôm chặt chúng vào ngực.

“Cháu sẽ quay lại, ông Ernesto.”

Người thợ đóng giày mỉm cười.

Ông nghĩ đó chỉ là lời hứa tạm biệt.

Mateo rời đi.

Nhiều năm trôi qua.

Ông Ernesto già đi sau chính quầy hàng đó.

Hai mươi năm sau, khi ông đã bảy mươi hai tuổi và quyết định đóng cửa tiệm giày vĩnh viễn vì hầu như chẳng còn khách hàng nào, ông nghe thấy tiếng cửa mở lần cuối.

Một chàng trai trẻ, ăn mặc lịch sự, bước vào.

Anh ta mang theo một chiếc hộp gỗ nhỏ.

Anh ta đặt nó lên quầy.

Anh ta mở nó ra.

Và ông Ernesto đứng bất động.

Bên trong là một đôi giày trẻ em, cũ kỹ và sờn rách, với những đường khâu mà ông có thể nhận ra giữa hàng ngàn đôi giày khác.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle 


 

Máu đào nước lã  – Truyen ngan HAY

Máu đào nước lã 

– Câu chuyện cảm động đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tình thân

Ngày mà tôi yêu anh, trừ ba tôi ra, không ai ủng hộ. Nhưng sau khi tôi lấy anh rồi, đầu trên xóm dưới ai cũng khen tôi có ρhước. Anh hiền lành, chăm chỉ làm ăn, không chơi bời, hết lòng với gia đình và công việc, một lòng yêu thươпg và trân trọng tôi. Con bạn thân của tôi, xưa từng chê ănh không manh giáρ, nay chậc lưỡi:

– Sao hồi đó mày có con mắt tinh đời mà chọn hắn ta nhỉ, tao nhớ mày khó tính lắm mà ?

Đúng là hồi đó tôi cực kỳ khó. Con trai nhà giàu không biết bao nhiêu người theo đuổi, chẳng hiểu sao, tôi lại để ý chàng “Ôsin” vừa nghèo vừa khổ của ba mình.

Quyết định lấy anh là một quyết định đầy tính toán, sau khi tôi đưa lên bàn cân kỹ lưỡng:

Thứ nhất, là cuộc đời anh quá bầm giậρ, chắc chắn anh sẽ rất trân trọng người mình yêu và yêu mình.

Thứ hai, là khả năng chịu đựng của anh cực kỳ tốt, chắc chắn anh sẽ luôn vươn lên và không đầu hàng khi gặρ thất bại.

Thứ ba, là làm vợ anh cực kỳ sướng, khỏi phải làm dâu, chỉ có mỗi ba chồng, thì anh đã chăm sóc mất rồi.

Thật may mắn cho tôi, là bài toán này tôi đã tính không sai.

Lão thức dậy, khi những tia nắng nóng bỏng hắt vào mắt. Lão bước xuống giường, thân thể rã rời như chính mình bị đánh.

– Ăn cơm đi.

Nó mở lồпg bàn mời trổng. Lão bước đến, mặt tối sầm lại, khi thấy trên bàn vỏn vẹn một chén cơm và một trái chuối già.

– Sao không có thứ gì hết vậy ?

Nó nhếch môi:

– Vậy chứ ông muốn gì ? Còn cơm là may rồi đó.

Lão bực bội cầm đũa, miếng cơm khô khốc, khó khăn lắm mới trôi qua cổ.

– Chiều nay, làm sao có đồ ăn cho tao.

Lão gằn. Nó thở một hơi dài:

– Ông nướng hết một tháng lương của tui vô sòng bạc trong vòпg có nửa ngày. Bây giờ trong túi tui, một ngàn cũng không có, có nước đi ăn cắρ mới kiếm được đồ ăn cho ông.

– Không có thì đừng về đây nữa.

Nó cười nhạt:

– Nghĩ cho kỹ rồi đuổi nha, tui đi, không biết ai sướng ai khổ à.

Lão nổi nóng giơ ngọn roi lên. Nó buông một câu rồi co giò chạy:

– Tui còn đi làm nữa, muốn đánh, tối về cho đánh.

Chiều về, nó vẫn lẳng lặng vào bếρ nấu cơm. Hôm nay kiếm được mấy con tép, kho tép, luộc rau, nấu cơm xong, nó bày ra, để vào lồпg bàn rồi lêп giườпg nằm, không nhìn lão, cũng không nói tiếng nào. Lão ngậρ ngừng:

– Ăn miếng đi.

Nó im lặng. Lão hạ giọng:

– Ngồi dậy ăn miếng đi.

Nó vẫn làm thinh, mặt quay vào vách. Lão gằn:

– Mày câm rồi hả ?

Nó vẫn im. Lão quát:

– Nói.

Nó quay người lại, nhếch môi:

– Dạ, con ăn rồi. Nói cũng bị chửi, không nói cũng bị chửi, không biết sống sao mới vừa lòng ông.

Lão chùng giọng:

– Mày ăn gì, ở đâu ?

– Ông chủ cho tô cháo lòng.

– Cho hết công nhân, hay cho có mình mày ?

– Mình tui hà.

– Sao vậy ?

– Ai biết, chắc thấy bầm giậρ quá, tội nghiệρ.

Lão sượng trân, im lặng một lúc, lão nói:

– Ổng có hỏi thương tích của mày không ?

– Có.

– Rồi mày trả lời sao ?

– Tui nói, ở nhà quậy quá, ba đánh.

Lão nổi пóпg:

– Ai cho mày nói vậy, ai là ba mày?

Nó ngước mắt nhìn lão, môi mím chặt. Lần đầu tiên, lão thấy nó nổi giận. Mắt đỏ hoe, nó gằn từng tiếng:

– Tất cả những gì tui cắn răng chịu đựng từ bàn tay ông, tất cả những gì tui ráng hết sức mang về cho ông, không đổi được một tiếng ba trước người ngoài sao ? Vậy thì tui xin lỗi, từ đây về sau, tui không bao giờ dám nhận ông là ba trước bất kỳ ai nữa, ông vừa lòng chưa ?

Nó quay mặt vào trong, khóc. Lão run.

Bảy ngày liền, lão không đánh nó nữa. Nhưng cũng bảy ngày liền, nó không nói chuyện với lão dù chỉ một câu, cơm nước thì vẫn đầy đủ.

Chín giờ tối mà nó chưa về. Lão sốt ruột. Chưaα bao giờ nó đi làm về trễ, chưa bao giờ bỏ đói lão như thế này.

Mười giờ. Lão nóng hơ. Không lẽ, nó bỏ lão thật sao ?

Mười một giờ. Lão buồn thiu. Chắc nó bỏ lão thật rồi.

Mười hai giờ. Lão hối hận. Vậy là nó đã bỏ lão.

Nó với lão chẳng là gì hết, không máu mủ. Mười tám năm trước, nhìn nó, lão đã biết không ρhải con lão. Nó quá đẹρ, không có một nét nào của lão, nhưng lão không truy cứu, vì yêu vợ.

Vậy mà cuối cùng, vợ lão vẫn bỏ đi, không biết theo ai, bỏ lão, bỏ luôn đứa con dứt ruột đẻ ra. Lão tự cho mình cái quyền đổ trút lên nó những đau khổ, bất lực và hận thù, vì nó lớn lên từ bàn tay lão.

Nhưng thật ra, nó chỉ sống nhờ cơm thừa canh cặn của lão trong vòng mười năm đầu tiên của cuộc đời, mười một tuổi, thì nó đã biết kiếm tiền về cho lão, và mười lăm tuổi, thì nó đã hoàn toàn nuôi lão.

Đúng ra thì lão không có quyền hành hạ nó nữa, đúng ra thì nó không việc gì phải chịu đựng lão như vậy. Nhớ những lời của nó ngày hôm qua, tự nhiên lão ray rứt tột cùng.

Lão biết nó thương lão thật lòng, lão biết nó là đứa trẻ ngoan, lão biết hết. Nhưng rượu vào là lão nổi cơn điên, nhớ lại đời mình là lão nổi cơn điên. Nổi cơn điên, thì chỉ có nó làm tấm thớt cho gã trút giận, khi con cá đã quẩy đuôi đi mất rồi.

Một giờ khuya. Lão tuyệt vọng. Ừ, đi đi, tại tao không nhìn mày là con, mày đi là đúng rồi, người dưng ở với nhau sao được. Nước mắt bỗng ứ trên mi lão. Lão lêп gιườпg nằm:

– Ông ngủ rồi hả ?

Giọng nói nhẹ tênh của nó văng lên. Lão giật bắn mình, vội vã ngồi dậy. Ôi, nó làm lão đau tim, nó không bỏ lão.

Nhưng lão bàng hoàng khi thấy máu loang lỗ chiếc áo màu cháo lòng của nó. Mặt mày nó cũng thâm tím, rớm máu.

Nó buông người xuống giường, giọng mệt mỏi:

– Xin lỗi ông nhé, hôm nay tui có chút vấn đề, không đem đồ ăn về cho ông được. Mai tui bù cho.

Lão nhìn nó không chớρ mắt:

– Ai đánh mày ?

Nó làm thinh quay mặt vào trong. Lão gào lên:

– Nói, ai đánh mày ?

Nó quay lại, nhếch môi:

– Ai đánh tui, ông quan tâm làm gì ?

– Ngoài tao ra, ai còn đánh mày nữa ?

– Ông tưởng, chỉ có ông mới đánh tui được sao ?

– Làm ơn nói cho tao biết đi.

Giọng nó chùng xuống.

– Tui thươпg con gái của ông chủ, cô ấy cũng thươпg tui. Ông chủ cũng được lắm, không cấm, chỉ kêu tui ráng làm việc chăm chỉ, học nghề cho tốt, rồi vài năm nữa tính.

Nhưng mà có thằng con nhà giàu theo đuổi cô ấy không được, nên đón đường đánh tui, chửi tui “Vừa nghèo, vừa không cha không mẹ mà bày đặt trèo cao”.

– Sao không đánh lại ?

– Bốn thằng vây, đỡ còn không được, đừng nói đánh lại.

– Đau không ?

– Ông hỏi lạ, trâu bò sao không đau. Nhưng nhờ ông luyện, không đến nỗi nào.

Lão thấy gan ruột sôi lên:

– Mày chỉ cho tao biết thằng đó là ai đi, mai tao xử nó cho mày.

Nó nhìn lão đăm đăm:

– Hôm nay ông làm sao vậy, uống lộn thuốc hả ?

Lão im lặng một lúc lâu, rồi ngượng ngậρ lên tiếng:

– Tao hứa, không ăn hiếp mày nữa, không cờ bạc nữa. Ngày mai, tao dựng lại cái chòi sửa xe. Hôm nào được, dẫn tao đi gặρ ông chủ mày.

Nó ngỡ ngàng, rồi cười cười không nói. Lão tiếρ tục một cách khó khăn:

– Mai mốt ai đánh mày, nói mày không cha không mẹ, mày ρhải trả lời là mày có cha đàng hoàng, rồi dẫn tao đi gặρ thằng đó, nghe chưa ?

Nó bật cười, lần đầu tiên, lão thấy nụ cười của nó tươi đến như vậy.

– Nói thì nhớ đó nha, tui ghi sổ đó.

Sau đám cưới tôi và anh đúng một năm, ba ruột anh có về tìm. Làm tới Giám đốc gì đó, rất ngon lành, ông mong muốn nhận lại anh với lý do đơn giản, là kiếm hoài không có con trai nối dõi tông đường, chỉ có bốn đứa con gái.

Tôi liếc ba chồng, thấy lão buồn hiu, ra sân ngồi, nhìn vu vơ những tia nắng chiều sắρ tắt. Trong nhà, anh đang tiếρ ba ruột.

Thấy lão tội nghiệρ quá, tôi trấn an:

– Ba yên tâm đi, ảnh không bao giờ bỏ ba đâu.

Giọng lão buồn buồn:

– Một giọt máu đào hơn ao nước lã mà con. Ba cũng có đối xử tốt gì với nó đâu.

Tôi mỉm cười:

– Nhưng con tin chắc, ảnh không có về đó đâu.

Đúng như lời tôi, anh nhận ba ruột, không oán hận gì, sẵn sàng lui tới chăm nom, nhưng dứt khoát, không về hưởng gia tài gì đó. Ba chồng tôi sung sướng lắm, nhưng làm bộ không có gì

Đêm đó, anh vuốt tóc tôi, hỏi:

– Hỏi thật nha, em có tiếc gia tài đồ sộ đó không ? Anh chỉ hỏi vậy thôi, có nói có, không nói không, đừng nổi пóпg với anh nha.

Tôi nheo mắt:

– Em con nhà giàu từ nhỏ tới lớn, không ham làm dâu nhà giàu đâu, chỉ thích làm vợ người giàu thôi.

– Tức là chỉ xài tiền tui cày mới chịu ρhải không ? Công nhận, chưa ai khôn bằng vợ tui.

Tôi bật cười. Anh cũng cười. Nhìn sâu vào mắt anh, tôi thì thầm:

– Em biết, anh sẽ quyết định như vậy, em biết anh không bao giờ bỏ ba. Nhưng có một điều em muốn hỏi anh, tại sao ngày xưa, anh từng bị đòn nhiều với ba như thế, nhưng anh vẫn thươпg ba, không giận ba. Chính ba cũng không biết tại sao đó.

Anh trầm giọng:

– Vì nếu không có ba, thì không có anh. Ba nuôi dưỡng anh bằng lòng thù hận, nhưng sự thật là ông đã không ném anh ra đường khi má anh bỏ đi, và suốt hai mươi mấy năm, ba và anh đã gắn bó với nhau, theo một cái kiểu không tốt đẹρ chút nào, nhưng vẫn là gắn bó.

Không một giọt máu đào, nhưng đời đã ném ba và anh vào chung một ao nước lã. Đó là lý do trong lòng anh, ba vẫn là người cha duy nhất.

Sưu tầm 


 

Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó – Nguyễn Duy An – Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó – Nguyễn Duy An

Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President, phụ trách Infor- mation Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC

*****

Một buổi chiều Chúa Nhật, vợ chồng tôi chở các con đi tham dự buổi đấu bóng rổ chung kết giữa các trường Công Giáo ở Hoa Thịnh Đốn và vùng phụ cận về; vừa bước chân vô cửa đã nghe tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi.. Vợ tôi nhấc điện thoại, nói chuyện trong giây lát rồi quay sang bảo tôi:

– Anh Dũng muốn nói chuyện với anh. Bà cụ Thanh đang hấp hối ở bệnh viện George Washington.

Tôi vội vàng đến cầm điện thoại:

– Hello anh Dũng. Cụ bị sao vậy anh?

– Bà cụ nhà tôi bị mệt vài tuần nay, đã nhập viện được mấy hôm rồi. Sợ không qua khỏi. Anh chị sắp xếp lên một tý được không? Bà cụ muốn gặp vợ chồng anh. Các em tôi cũng tề tựu đây cả.

– Vâng. Chúng em lên ngay.

Vừa lái xe từ nhà lên Washington, DC tôi vừa tưởng nhớ lại kỷ niệm quen biết bà cụ Thanh từ mấy tháng nay…

*****

Tôi đến phi trường Chicago – Illinois vào một buổi tối mùa đông. Ngoài trời gió thổi vù vù, và tuyết vẫn tiếp tục rơi… Hôm đó chuyến máy bay của tôi đến trễ hơn một tiếng đồng hồ vì bão tuyết. Tôi biết mình đã lỡ chuyến bay chuyển tiếp để trở về Washington D..C. nên chạy vội vàng tìm văn phòng lo thủ tục đổi vé. Khi biết tôi là người Việt Nam vì mang họ Nguyễn, cô nhân viên của hãng Delta đã nhờ tôi làm thông dịch viên để nói chuyện với một bà cụ khoảng 80 tuổi đang ngồi ủ rũ bên quầy bán vé. Bà cụ Thanh cũng bị lỡ chuyến bay về Maryland, nhưng vì không nói được tiếng Anh nên cụ không biết phải làm sao, cứ ngồi lim dim, lặng lẽ đọc kinh lần chuỗi…

Lo xong thủ tục giấy tờ cho hai người, tôi quay sang:

– Để con dẫn cụ đi nhận phòng ngủ rồi kiếm gì ăn tối. Sáng mai mới có máy bay cụ ạ.

– Cám ơn cậu. Cậu gì nhỉ?

– Dạ con tên Huy. Cụ để con xách hành lý cho. Con dẫn cụ lên phòng cụ trước, rồi con tìm phòng con sau. Sắp xếp xong con sẽ qua dẫn cụ đi ăn tối.

– Cậu cho tôi ở chung với được không? Tôi không biết tiếng Mỹ, làm sao ở một mình trong nhà trọ được.

Tôi dở khóc dở cười trước đề nghị của bà cụ; nhưng đã nhận lời vì nghĩ tới mẹ tôi. Cụ Thanh làm tôi nhớ mẹ thật nhiều với những lần đưa mẹ đi đây, đi đó thăm anh em bà con lúc mẹ tôi qua Mỹ du lịch… Tôi dẫn bà cụ về phòng trọ. Cũng may trong phòng có sẵn hai chiếc giường đôi. Tôi gọi điện thoại về nhà báo tin cho vợ con biết hôm sau mới về được vì bị bão tuyết. Sau khi nói chuyện với vợ con xong, tôi quay sang hỏi cụ Thanh:

– Cụ có mang theo số điện thoại của các anh chị không? Con giúp cụ gọi điện thoại về báo tin máy bay bị trễ tới mai, kẻo các anh chị ấy lại lo lắng.

Cụ Thanh mở “ruột tượng”, lần mãi mới lấy ra một xấp tiền và mấy tờ giấy cuộn tròn trao cho tôi:

– Cậu Huy coi rồi giúp dùm tôi nhé.. Tôi có biết số nào ra số nào đâu.

Tôi mở xấp giấy ra xem, có cả một tờ giấy ghi sẵn bằng tiếng Anh phòng khi gặp trở ngại thì trao cho nhân viên ở phi trường để xin giúp đỡ… Tìm ra tờ giấy đánh máy số điện thoại của nhiều người, tôi hỏi cụ:

– Con nên gọi cho ai bây giờ?

– Nhờ cậu gọi về Texas cho con Lành dùm tôi. Vợ chồng nó thương tôi nhất, chỉ tội nghèo. Đi đâu tôi cũng nói chuyện với nó, rồi nó nói lại với mấy đứa khác, nhất là với vợ chồng thằng Dũng ở Thủ Đô vì hôm nay tôi về trên đó.

– Nếu thế con gọi thẳng về Maryland cho anh chị Dũng luôn cũng được.

– Tuỳ cậu.

Tôi để lại lời nhắn trong máy cho anh chị Dũng, và hẹn hôm sau sẽ gọi lại cho biết chuyến bay và giờ giấc bà cụ về tới phi trường BWI (Baltimore Washington Internation Airport) để họ ra đón. Phần tôi sẽ bay về phi trường National Airport nên không đi chung chuyến bay với cụ được. Sau khi tắm rửa, tôi mời cụ đi ăn, nhưng cụ từ chối vì trong xắc tay đã có sẵn vài nắm cơm vắt với muối mè và giò lụa. Thay vì ra ngoài kiếm gì ăn, tôi đã nhận lời ngồi lại ăn cơm nắm, muối mè và giò lụa với bà cụ Thanh…

Tối hôm đó, tôi đã thức trắng đêm nghe bà cụ tâm sự.

*****

“Tôi mới qua Mỹ được gần 2 năm nay thôi cậu Huy à… nhưng tôi cứ phải đi lung tung nhiều chỗ vì con cháu mỗi đứa một nơi, và chúng nó cứ đẩy qua đẩy lại làm tôi chóng cả mặt. Tôi buồn lắm, chỉ muốn về Việt Nam, nhưng không biết phải làm sao. Hơn 70 tuổi đầu tôi mới học được điều này là con cháu sang Mỹ khác xưa nhiều lắm. Trước đây ở Việt Nam, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, còn bây giờ qua Mỹ thì… ngược lại: Con đặt đâu cha mẹ ngồi đó! Cậu nghĩ tôi nói có đúng không?”

Tôi đang nằm mơ mơ màng màng nhớ mẹ, chưa kịp lên tiếng trả lời, bà cụ Thanh lại tiếp tục:

“Vợ chồng tôi có 5 người con; cứ đứa trai rồi đứa gái cách nhau 3 tuổi. Nhờ trời thương, gia đình làm ăn cũng khấm khá nên đứa lớn được ông nhà tôi gởi đi du học bên Mỹ từ năm 70, rồi lấy vợ và ở lại luôn bên này. Năm 75, vợ chồng đứa con gái kế đưa thêm được thằng út nhà tôi đi, bây giờ đang ở bên Ca-li. Thằng thứ ba đi lính ngoài Trung, lấy cô vợ người Huế, rồi làm mai cho ông anh vợ lấy con em gái kế nó. Hai thằng đi cải tạo về rồi cũng sang Mỹ theo diện H.O.. và định cư ở Texas. Vợ chồng tôi có giấy tờ bảo lãnh từ lâu, nhưng ông nhà tôi nhất định không đi; và tôi cũng chẳng ham muốn gì chuyện đi Mỹ, chỉ mong thỉnh thoảng chúng nó đưa các cháu về thăm là mãn nguyện lắm rồi.. Nhưng hơn 4 năm trước, Chúa đã gọi ông nhà tôi về với ông bà. Chúng nó cứ thúc ép mãi, nhưng tôi cũng không đi. Ngày giỗ mãn tang ông nhà tôi, vợ chồng thằng lớn về thăm quê hương, và tìm đủ lý lẽ thuyết phục tôi đi Mỹ vì “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nên tôi đành “nhắm mắt đưa chân”.

Ngày đặt chân đến Mỹ phải nói là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi, cậu Huy ạ. Con cháu dâu rể tề tựu đông đủ hết, cả cô bồ của thằng út Đức cũng bay sang mừng ngày đoàn tụ của gia đình tôi. Nếu như chúng nó chỉ khóc chứ đừng nói gì như lúc gặp nhau ở phi trường thì chắc tôi còn vui nhiều nữa. Đằng này, vừa gặp tôi, thằng Đức đã xì lồ xì lào có một câu ‘hi mom’ rồi lo quấn quýt với con bồ người Mỹ của nó. Tôi thấy chướng mắt quá, chỉ muốn chửi cho nó một trận, nhưng con Hoa đã phân trần cho em: ‘Con xin mẹ đừng giận cậu út… Nó sang Mỹ từ nhỏ, chúng con lại bận rộn công ăn việc làm nên không có thì giờ dạy cho em nó hiểu phong tục tập quán của mình. Mẹ thấy đó, từ cách đi đứng, nói năng, cử chỉ của em Đức đều đúng y chang là một thanh niên người Mỹ, chỉ khác có màu da. Mẹ đừng buồn.’

Cậu Huy nghĩ coi làm sao mà tôi không buồn cho được. Tôi thương thằng Đức nhất nhà vì nó là út đã đành, nhưng vì nó phải xa tôi từ lúc mới 6 tuổi đầu. Hơn 20 năm trời mới gặp mẹ mà có cứ lo xà nẹo với con bồ Mỹ trước mặt tôi và các anh chị nó… và nhất là các cháu nhỏ. Coi chướng mắt hết sức! Tôi thất vọng quá cậu Huy à. Nhưng đó chỉ là bước đầu… Suốt một tuần liền chúng nó lôi tôi đi chụp hình khắp thủ đô, rồi mạnh đứa nào bay về chỗ đứa đó, giam tôi một mình trong căn nhà rộng thênh thang của thằng Dũng. Vợ chồng nó đi làm suốt ngày. Hai đứa con cũng đi học và ở luôn trong trường, mà nếu bọn nhỏ có ở nhà cũng chẳng nên cơm cháo gì vì chúng nó chỉ nói toàn tiếng Mỹ! Tôi ngồi một mình suốt ngày nhìn ra đường, lúc nào cũng “vắng như chùa bà đanh” nên tôi cứ nghĩ mình đang bị tù cậu Huy ạ. Riết rồi tôi chịu không thấu nên ngã bệnh. Vợ chồng thằng Dũng đưa tôi đi khám bác sĩ, lấy thuốc uống…. Rồi không biết vợ chồng nó bàn nhau sao đó, tự động mua vé máy bay đẩy tôi sang Ca-li ở với vợ chồng con Hoa.

Lúc ở bên nhà, tôi cũng nghe nói Ca-li có nhiều người Việt, có khu chợ Việt Nam rất sầm uất, không khác chi Sàigòn nên tôi cũng mừng trong bụng. Thêm vào đó, tôi cũng muốn được ở gần thằng út để hướng dẫn nó được tý nào hay tý đó. Gần 30 tuổi đầu rồi mà cứ lang thang, không chịu cưới vợ gì cả… Nhưng vợ chồng con Hoa lại ở đâu miệt phía bắc, nghe nói phải lái xe cả ngày mới tới vùng Quận Cam nên tôi lại buồn hơn vì vợ chồng thằng Dũng đi làm công sở, khoảng 6 giờ chiều đã về nhà. Đàng này vợ chồng con Hoa mở cái tiệm gì đó, tối nào cũng nửa đêm mới về.. Con cái thì mạnh đứa nào đứa đó lo, đi học về là chui ngay vào phòng riêng. Tôi muốn vào nói chuyện với các cháu thì tụi nó không cho, lại còn nói tiếng Mỹ với nhau tỏ vẻ nhạo báng bà ngoại cổ hủ, lỗi thời, không tôn trọng “xi xi” gì đó (privacy).

Tôi tủi thân chỉ biết ngồi khóc một mình. Tôi sang đó cả tuần cũng không gặp được thằng út. Mãi sau này tôi mới biết là nó thuê “pạc-măng” (apartment) ở riêng với con bồ Mỹ chứ chẳng cưới xin gì hết. Chúa Nhật cũng không thấy đi lễ đi lạy gì cả. Tôi khổ tâm lắm, bắt con Hoa gọi nó về, chửi cho một trận. Nhưng tôi nói gì mặc tôi, nó cứ ngồi trợn mắt ngó lên trần nhà chứ có hiểu tôi nói gì đâu!

Quá thật vọng với mấy đứa con và các cháu ở Ca-li, tôi nói với cái Lành mua vé máy bay cho tôi về Texas ở với chúng nó và vợ chồng thằng Hiền. Cậu biết đó, chúng nó mới sang sau này theo diện H.O.. nên còn nghèo lắm; được cái là hai anh em lấy hai chị em nên chúng nó hòa thuận thương yêu nhau. Hai gia đình chung nhau mua một cái nhà khá lớn vì cả hai đều đông con.

Thằng Hiền và thằng Khanh đi làm cho một hãng cuốn chả giò vì không có nghề nghiệp chuyên môn. Hai con vợ nhận hàng về nhà may tối ngày sáng đêm. Nhà đông người, lại chất đầy vải vóc, kim chỉ… Thôi thì bụi bậm, rác rưởi không thua gì mấy khu vực lao động bên Sàigòn. Tôi bảo chúng nó là thằng Dũng và con Hoa đều giàu có, sao không kêu anh chị giúp vốn cho mà làm ăn buôn bán cho đỡ vất vả… Tôi nói mặc tôi, chúng nó không đứa nào trả lời trả vốn gì hết.

Tôi chờ tới hôm thằng Dũng và con Hoa gọi điện thoại hỏi thăm mới la cho một trận là tại sao không giúp đỡ các em. Cả hai đứa đều nại đủ lý do phải chi tiêu khoản này khoản nọ, không có khả năng để cưu mang cho ai. Con Hoa lại còn kể công đã nuôi thằng Đức bao nhiêu năm từ ngày thằng út mới đi học lớp một! Tôi mở hết hầu bao, có vài ngàn bạc để dành từ Việt Nam, tôi giao hết cho con Lành, nói nó dùng làm vốn mở tiệm gì đó buôn bán cho đỡ cực hơn làm nghề may khoán. Lúc đó tôi mới biết là số tiền vài ngàn bạc ở Mỹ này chẳng làm được gì hết!

Ở chung với vợ chồng con Lành và thằng Hiền được mấy tháng thì bệnh suyễn của tôi tái phát. Bác sĩ bắt tôi phải đi ở chỗ thoáng mát, tránh bụi bậm ô nhiễm… Thằng Dũng đã không biết thương em thì chớ, lại chửi chúng nó là không biết lo cho mẹ, tự động mua vé máy bay bắt con Lành đưa tôi trở về.

Tôi ở nhà vợ chồng đứa con trai trưởng mà cứ nghĩ như mình bị đưa đi tù vậy đó, cậu Huy à. Nó giam tôi từ mùa thu cho tới mùa Xuân, cứ ngồi trong cửa sổ nhìn lá vàng rồi lá rụng, tuyết xuống phủ đầy sân rồi tuyết tan… Tôi cứ thui thủi một mình lần chuỗi suốt ngày, ngoại trừ Chúa Nhật nó chở tôi đi lễ ở nhà thờ Mỹ gần nhà. Tới mùa hè, vợ chồng nó bàn nhau đi “cu” đi “cụ” gì đó (cruise) 3 tuần trên biển, nên gọi cho con Hoa nói sẽ gởi tôi về bên đó vài tháng. Tôi quá thất vọng với con cháu bên Mỹ nên cũng chẳng thèm nói năng gì, mặc kệ chúng nó. Tôi lại lạch cạch khăn gói về Ca-li. Mới ở được vài tháng chúng nó lại “tống” cổ tôi về Houston vì “không có thì giờ để hầu mẹ”!

Tôi chỉ muốn chết đi cho xong, nhưng mình là người Công Giáo đâu dám nghĩ chuyện làm bậy. Không biết vợ chồng hai đứa “nghèo” bàn nhau làm sao mà tôi mới về ở được vài tuần, chúng nó nói sẽ đi mướn một một chỗ riêng cho tôi ở để bệnh suyễn của tôi không phát lại vì bụi bậm trong nhà nó. Tôi thương các con, các cháu còn nghèo nên đòi về lại “nhà tù” của thằng Dũng chịu khổ một mình hơn là gây thêm gánh nặng cho mấy đứa nhà nghèo. Cực chẳng đã, chúng nó đã phải mua vé máy bay cho tôi trở về với thằng Dũng giữa mùa đông như thế này. Cũng may mà gặp được cậu…”

Bà cụ Thanh bật khóc nức nở. Tôi không biết phải làm gì nên cứ để cụ khóc một lúc cho nguôi ngoai… Và chợt nhớ tới khu “nhà già” của các cụ cao niên ở gần nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nên nhỏ nhẹ nói với cụ:

– Để mai về bên đó con liên lạc với anh Dũng xem có thể sắp xếp gởi cụ tới ở chung với các cụ trong Hội Cao Niên bên giáo xứ chúng con cho vui. Vừa có bạn bè người Việt, vừa có các bạn trẻ tới chở đi lễ nhà thờ Việt Nam…

– Được thế thì còn gì bằng. Mà ở đó có gần nhà cậu Huy không?

– Cũng gần cụ ạ. Và cũng không xa chỗ anh Dũng lắm đâu, tuy là 2 tiểu bang khác nhau nhưng chỉ cách con sông Potomac…

– Thế cậu Huy giúp dùm tôi nhé. Tôi chẳng trông mong gì nơi vợ chồng thằng Dũng cả..

– Vâng. Đàng nào con cũng đã ghi số điện thoại anh Dũng đây rồi, cuối tuần con sẽ nói chuyện và nếu tiện con sẽ chở vợ con sang thăm cụ cho vui; và thỉnh thoảng chúng con xin phép đón cụ sang bên này đi lễ Việt Nam cho biết..

– Giêsu Lạy Chúa tôi. Được thế thì có chết tôi cũng mãn nguyện. Tôi đi nhà thờ Mỹ cứ như vịt nghe sấm chứ có hiểu gì đâu. Tôi nói vợ chồng nó chở đi nhà thờ Việt Nam nhưng chúng nó bảo giờ giấc không thuận tiện nên chưa bao giờ đưa tôi đi cả cậu ơi!

– Cũng gần sáng rồi, cụ nghỉ một lát cho đỡ mệt rồi còn sửa soạn ra phi trường.

– Cậu nghỉ đi, tôi già cả rồi có cần gì ngủ nghỉ. Tôi làm khổ cậu thức suốt đêm. Xin Chúa Mẹ thay tôi báo đáp công ơn cho cậu.

Sau khi trở về Virginia, tôi đã liên lạc với vợ chồng anh Dũng. Anh chị ấy đã mời chúng tôi qua chơi ngay cuối tuần đó để cám ơn tôi giúp đỡ bà cụ hôm bị lỡ máy bay ở phi trường Chicago. Tôi nói sơ qua về việc gởi cụ vào “nhà già” bên Virginia cho có bạn, có bè… nhưng anh đã kịch liệt phản đối vì sợ các em trách là “vợ chồng anh đẩy mẹ vô viện dưỡng lão”! Tôi giải thích mãi là mình chỉ muốn sắp xếp làm sao cho cụ vui lúc tuổi già, nhưng anh chị ấy cũng không nghe theo. Cuối cùng tôi chỉ xin phép đón cụ sang nhà tôi chơi với mấy đứa nhỏ vài lần vào dịp cuối tuần, và chở cụ đi nhà thờ Việt Nam.. Ôi thôi, cụ mừng như đứa trẻ mới lớn, lần đầu được mẹ cho đi chợ sắm quần áo mới và sách vở đi học lớp vỡ lòng! Lần nào tôi chở về lại nhà anh Dũng cụ cũng rươm rướm nước mắt, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao hơn được. Vợ chồng tôi bàn nhau, nếu mùa hè này mẹ tôi qua Mỹ du lịch lần nữa, chúng tôi sẽ xin phép anh Dũng để cho hai bà đi chơi với nhau một thời gian cho cụ đỡ buồn… Nhưng mùa hè chưa tới!

*****

Vợ chồng tôi vừa bước vào khu vực ICU (Intensive Care Unit, khu chăm sóc đặc biệt) ở nhà thương George Washington đã gặp vợ chồng anh Dũng và mấy người nữa đang ngồi nơi hành lang phòng chờ đợi (waiting room). Anh Dũng chạy tới bắt tay tôi: “Cha tuyên uý đang làm các phép cho bà cụ nhà tôi… Chắc cũng sắp xong rồi. Tôi sẽ dẫn anh vào ngay cho cụ gởi gắm ít lời. Cụ nhắc anh mãi. Họ chỉ cho vào mỗi lần 2 người thôi. Bác sĩ nói chắc bà cụ nhà tôi không qua khỏi đêm nay. Cụ đang nuối anh đó, anh Huy à. Tôi là con mà không lo được cho cụ như vợ chồng anh..”

Nói rồi anh Dũng giới thiệu vợ chồng tôi với gia đình các em của anh. Chúng tôi ngồi chờ mấy phút thì cha tuyên uý đi ra. Ngài nói vài lời an ủi gia đình rồi lại vội vàng đi xức dầu cho một bệnh nhân ở lầu dưới. Anh Dũng kéo tôi đi vào gặp bà cụ… Đôi mắt cụ sáng hẳn lên khi nhìn thấy tôi và anh Dũng bước tới bên giường. Cụ thều thào:

– Dũng con. Mẹ chỉ còn một ước muốn cuối cùng, và mẹ muốn con hứa với mẹ truớc mặt cậu Huy là con sẽ…

– Vâng, con sẽ nghe lời mẹ. Con xin mẹ tha thứ cho chúng con đã làm mẹ buồn lòng.

– Mẹ không buồn giận các con. Hai năm nay mẹ đã đi đông, về tây theo sự sắp xếp của các con… Các con đặt đâu mẹ ngồi đó! Nhưng sau khi Chúa cất mẹ về, mẹ xin con một điều… con cho mẹ được về nằm bên cạnh mộ cha con bên Việt Nam… Cậu Huy, tôi mang ơn vợ chồng cậu nhiều lắm… đã cho tôi được hưởng sự ấm cúng của một gia đình bên Mỹ. Xin Chúa Mẹ trả công cho… gia… đình…

Tôi đang thầm thì kêu Tên Cực Trọng: “Giêsu, Maria, Giuse…. Xin Ba Đấng gìn giữ và đón tiếp linh hồn Anna” thì nghe anh Dũng òa lên khóc nức nở. Tôi nhìn qua thấy bà cụ Thanh miệng vẫn như mỉm cười nhưng hơi thở đã tắt!

Nguyễn Duy-An

*****

Bạn đọc thân mến:

Ai trong chúng ta cũng có mẹ, có cha. Sau khi đọc những tâm tình trên đây, nếu bạn là người may mắn vì cha mẹ còn sống, hãy dành một ít phút tự vấn lương tâm, xét lại thái độ, cử chỉ hay lời nói của mình đối với cha mẹ. Hãy làm một việc gì “nho nhỏ” cho cha mẹ vui lòng. Nếu cha mẹ không còn, hãy đọc một bài kinh cầu nguyện cho các cụ được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời.

Con ra đời có mẹ cha

Là trời cao biển lớn bao la

Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà

Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà

Nhờ công cha, nhờ nghĩa mẹ

Con khôn lớn trong muôn lời ca.

Xin ơn trên đổ xuống chan hòa

Giúp mẹ cha ngày tháng an hòa

Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa

Xin cho con ở giữa gia đình

Sống làm sao đền đáp ân tình

Ơn biển trời ghi khắc trong tim.

Nuôi con bằng sữa tình thương

Và dạy con bằng tiếng thương yêu

Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ

Con nhờ mẹ cha mới trở nên người

Bàn tay cha, giòng sữa mẹ

Xin ghi nhớ không bao giờ quên.