BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG

Con trai à,

Giờ nay vợ chồng con và các cháu đã ngủ chưa. 10 gio  đêm mẹ mới dọn hàng cá để về, trời mưa nên cá vẫn ế rất nhiều. Trên đường về nhà, mắt mờ nên mẹ chẳng nhìn rõ đường nữa, không may va phải một nhóm thanh niên, khiến quần áo của họ bị thùng cá đổ lên. Mẹ đã vội vàng giải thích và xin lỗi, nhưng nhóm người đó chỉ nhìn mẹ rồi nói:

”Chó thật, bà đi đứng thế à?. Biết bộ quần áo này đắt tiền thế nào không? Già rồi thì ở nhà đi, ra đường làm gì gây phiền phức cho người khác.”

Với người bình thường khi nghe câu đó chắc hẳn họ phải tức giận lắm, nhưng mẹ lại thấy bình thản, thậm chí là vui lắm. Lâu nay mẹ đều muốn làm một con chó, nhưng là con chó mà vợ chồng con vẫn đang nuôi ấy.

Con trai biết không, bố mất sớm, một mình mẹ với gánh cá cũng đã hơn 35 năm nuôi con khôn lớn. Ra trường con tìm được công việc ổn định, cưới vợ đẹp, có nhà, có xe. Mẹ mừng lắm, cuối cùng con trai mẹ cũng bằng người ta.

Nhưng căn nhà của con lộng lẫy quá, khác xa căn nhà cấp 4 mẹ đang ở, nắng thì oi bức mà mưa thì mẹ phải mang hết nồi niêu xoong chảo ra để hứng nước.

Mẹ nhớ con vô cùng, mỗi lần con gọi điện về mẹ vui mừng lắm. Còn bảo con có thể về đón mẹ lên chơi nhà con, thăm vợ chồng con và 2 đứa cháu nội được không.

Mẹ có thể nghe thấy tiếng thở dài, khó chịu và có chút hậm hực của con:

Mẹ lên đây làm gì, con bận bao nhiêu việc đâu thể về chăm sóc cho mẹ được. Hơn nữa giá xăng thì đang lên, con về chở mẹ lên thì mua được 5 kg thịt cho con Mực ăn rồi. Mẹ nhớ đúng không? Con mực là con chó mà con được đối tác tặng ấy, giá của nó là 40 triệu đấy.

Làm sao mà mẹ không nhớ được, hồi nhỏ con cũng rất thích nuôi chó. Nhưng lúc đó nhà mình nghèo, tiền ăn tiền học cho con mẹ còn phải chắt góp từng đồng thì sao đủ gạo mà nuôi chó được. Mẹ định bảo thôi không chở mẹ lên thành phố thì 1 tuần con gọi mẹ 2 lần cũng được. Nhưng chưa kịp nói thì đã thấy con Mực sủa lên đòi ăn thì con đã tắt máy để chăm sóc cho con chó rồi.

Từ cuộc điện thoại đó đến nay cũng 3 tháng rồi con chưa gọi cho mẹ lần nào. Bệnh đau khớp chân của mẹ lúc nào cũng tái phát, mẹ đau chẳng thể ngủ nổi. Nhưng mẹ không dám gọi làm phiền con.

Chờ mãi không thấy con gọi, cũng chẳng thấy con đưa vợ con về thăm mẹ. Thế là có đứa cháu ông Tư hàng xóm nhà mình lái xe lên thành phố nên mẹ nhờ chở mẹ đến thăm con, tạo bất ngờ cho con luôn.

Mẹ mang cá, rau, thịt mua ở quê mang lên cho các con ăn cho đảm bảo sức khỏe. Nhưng vừa thấy mẹ ở cổng tay xách nách mang con đã hậm hực:

“Mẹ lên sao không báo trước, mà mẹ ăn mặc kiểu gì thế? Trông quê không chịu được. Mấy mớ rau cá này mang lên làm gì, ai ăn đâu”.

Lúc đầu mẹ chỉ nghĩ con sợ mẹ không có tiền nên bảo vậy. Nhưng không, lúc nào con mang toàn đồ thức ăn mẹ mang lên ném vào thùng rác.

Đến giờ cơm trưa mẹ thấy con mang thịt bò, hải sản loại tốt mua ở siêu thị lớn để cho con Mực ăn. Cách con chăm sóc con chó khiến mẹ chạnh lòng. Con ơi, có thể nào con cũng chăm sóc cho mẹ giống như con chó của con được không. Mẹ định thốt lên như thế nhưng sợ con giận nên lại không dám nói gì.

Chiều đến con lại mang con Mực đi tắm, đi dạo rồi ôm nó vuốt ve. Nhà của con Mực cũng đẹp, còn có tấm nệm bằng lông cừu mà con khoe là mua tận bên nước ngoài lần đi công tác. Nệm của nó còn ấm và đắt hơn cả chiếc nệm mẹ nằm 10 năm nay nữa. Mẹ chợt nhận ra đã lâu con không ôm mẹ, những chuyện con kể với con Mực còn nhiều hơn với mẹ.

Lúc mẹ đói lả người, tìm đồ ăn nhưng đồ đạc nhà con toàn thứ hiện đại mẹ dùng chẳng quen. Tới lúc con Mực sủa lên vì đói thì mẹ thấy con trộn thứ cơm gì đó thơm ngon lắm, nhìn hấp dẫn vô cùng. Lúc này mẹ bèn xin con một bát thì con quát lên:

”Đến cơm của chó mẹ cũng đòi ăn sao? Nhà con đầy thứ ăn đó, mẹ không tự lấy được à?”

Con đi làm về câu đầu tiên không chào mẹ mà chạy đến ôm lấy con Mực mà vuốt ve nó, nựng yêu nó. Nó có bị ốm thì con cho đi bác sỹ, chăm sóc hết sức chu đáo. Nhưng tới lúc mẹ ốm thì con chẳng hỏi thăm, còn quát:

“Thôi mẹ về đi, lên đây không hợp khí hậu nên mới ốm. Vợ chồng con đi làm cả ngày, mẹ mà để lây bệnh sang chúng con thì làm sao có tiền đây. Thế này thì con Mực nó đói là chết con đấy”

Đêm đó mẹ nghĩ mẹ chẳng thể chịu đựng được nữa. Cách con quan tâm con chó, mẹ thấy sinh mạng của nó còn quan trọng hơn mẹ nữa.

Con trai à, nếu có kiếp sau, để mẹ được đầu thai làm con chó mà con nuôi được không?.

Câu nói này khiến tất cả những đứa con phải suy ngẫm: Kiếp sau mẹ muốn làm con chó của con có được không?. Bởi lẽ con chó còn được quan tâm, yêu thương hơn cả cha mẹ mình.

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển. Vậy mà có những người con coi trọng con chó hơn cả cha mẹ của mình. Đây là một trong số câu chuyện có thật ở ngoài xã hội kia. Cũng là câu chuyện tiêu biểu về tình thân trong gia đình.


 

NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG

Anh Hai là con trai duy nhất mà 30 tuổi vẫn độc thân nên ba má tôi sốt ruột lắm.

Hồi đó, tới tuổi băm mà “chưa có gì” thì thế nào cũng xảy ra nhiều suy diễn kiểu như “chắc thằng đó kỹ tính quá”.

Đàn ông con trai mà bị mang tiếng kỹ tính thì coi như… hết cứu.

Chị em tôi lần lượt “bấm còi” vượt mặt, anh Hai vẫn giậm chân tại chỗ, mặc kệ má tôi bồng bế cháu ngoại, nói gần nói xa, rồi hỏi thẳng:

– “Tới chừng nào con mới chịu cho má bế cháu nội?”.

Anh Hai cười hì hì trốn sự thúc giục của má bằng cách xách cưa và búa lên chùa.

Ba má tôi là Phật tử, từ khi còn nhỏ, anh chị em tôi đã được ba má dắt tới chùa lễ Phật và tập làm công quả như quét sân, kết hoa vải, dọn dẹp trong những ngày lễ lớn…

Nhà chùa đang chuẩn bị mở lớp học cho các em nhỏ lang thang.

Bàn ghế thu gom từ các nơi cần được sửa chữa và anh Hai đảm nhận phần việc này.

Trong số các giáo viên tình nguyện đến dạy các em, có một cô dạy toán là người theo đạo Công giáo.

Chuyện bắt đầu từ đây.

Anh Hai tôi thường xuyên lên chùa nhưng không chỉ để làm công quả mà còn để đưa đón cô dạy toán.

Ba má tôi cắn răng thở dài, ông bà mong biết mấy được thấy con trai có đôi có cặp, nhưng khi có rồi thì vui không nổi.

Con trai đầu có bổn phận cúng kính mà lấy vợ khác đạo thì làm sao?

Anh Hai biết tình yêu của mình gây khó cho ba má, nên chẳng dám nói năng gì, cũng không dám đưa chị về chào gia đình.

Tôi hỏi nhỏ:

– “Anh đã tới chào ba má chị chưa?”. Anh Hai lắc đầu.

Tôi hiểu là nhà bên đó cũng chẳng đồng tình.

Hai gia đình biết rõ con mình thương ai, nhưng làm như không biết.

Thời đó, chuyện yêu đương mà chưa có tiếng nói của người lớn thì coi như chuyện ngoài đường.

Giả vờ như không biết, nhưng ba má tôi âm thầm theo dõi, thấy anh đưa chị đi lễ nhà thờ.

Và nhà bên ấy cũng thầm theo dõi, thấy chị theo anh lên chùa lễ Phật ngày rằm.

Hai bên cùng thấy, cùng biết và cùng nín lặng chờ đợi.

Chờ đợi gì cũng không rõ, có lẽ, không bên nào muốn là phía đầu tiên thốt lời khiến con mình đau khổ.

Mối tình của anh Hai kéo dài đến năm thứ ba thì má tôi không kiên nhẫn được nữa.

Con mình là con trai, lỡ có bề gì thì mang tiếng ác với con gái người ta.

Má ra tối hậu thư “hoặc tình, hoặc hiếu”.

Anh Hai cúi đầu chọn bên hiếu.

Lựa chọn của anh Hai khiến má mềm lòng, nhưng thật ra, do âm thầm theo dõi, má đã sinh lòng mến thương người con gái hiền ngoan, vừa đẹp vừa nhân hậu, biết đến với trẻ em khốn khó.

Được con dâu như vậy thì cũng đáng để má chịu lùi một bước.

Má thuyết phục ba cho phép anh Hai ngỏ lời với nhà bên đó, với điều kiện đạo ai nấy giữ.

Ba má chị lắc đầu, với lời phân tích ngọn ngành rành mạch là phải từ chối người con trai nghề nghiệp đàng hoàng, tính tình tử tế, hiền lành thì cũng tiếc lắm, nhưng mai này sinh con ra thì làm sao?

Đứa nào theo cha lên chùa, đứa nào theo mẹ đi nhà thờ?

Ừ thì cho phép chúng tự chọn đức tin, nhưng khi mới sinh ra chưa biết gì thì cha mẹ là người dìu dắt, lúc đó làm lễ rửa tội thì sao?

Đã nhận lễ rồi thì dĩ nhiên là con của Chúa, ông bà nội có chịu không?

Câu trả lời của ba má tôi là không, cháu nội nhất định phải theo đạo nhà mình.

Vậy là anh chị chia tay.

Để khỏi gặp gỡ, khỏi xao lòng, chị không đến chùa dạy lớp học tình thương nữa,

người thay thế chị là anh Hai.

Trước đó, anh chỉ làm những việc công quả cần sức vóc đàn ông, tới lúc ấy, anh nhận luôn việc dạy học. Bọn trẻ thắc mắc:

– “Sao cô không dạy tụi em nữa hả thày?”,anh Hai trả lời:

-“Tại các em làm cô buồn”.

Bọn nhóc chẳng hiểu câu trả lời này, thường ngày đứa nào cũng có nhiều lần nói chuyện trong lớp, không làm bài tập về nhà, rồi cãi nhau chí chóe…

Cô giáo buồn là đúng rồi.

Anh Hai gầy sọm đi. Cả nhà tôi thở dài, bệnh buồn tình chỉ có thầy thuốc

thời gian chữa lành mà thôi.

Chữa lành thật không, tôi tự hỏi khi thấy anh Hai vẫn đi về một mình, vẫn cười cười nói nói nhưng ánh mắt chẳng còn sáng lên lấp lánh.

Bỗng một ngày, tai nạn xe cộ bất ngờ cướp đi mạng sống của anh Hai.

Đám tang anh, chị lặng lẽ đến vào buổi tối, khi khách viếng đã ra về hết.

Chị lặng lẽ chảy nước mắt trước di ảnh của anh.

Nén nhang chị thắp cũng như người, lặng lẽ tỏa làn khói mỏng mà làm cay mắt tất cả.

Ba tôi lau nước mắt quay mặt đi, còn má tôi ôm lấy chị mà nức nở.

Quá muộn màng!

Sư thầy nói tục lệ đốt quần áo cho người chết đem theo là mê tín dị đoan,

lãng phí, thay vì vậy, hãy đem làm từ thiện để làm phước.

Tôi rủ chị xếp áo quần của anh để đem đi cho.

Những ngón tay chị run run vuốt từng nếp vải như đây mới đúng là lần cuối cùng chị được chạm vào anh.

Tôi chọn cái áo màu xám tro anh hay mặc, muốn nói chị hãy đem về giữ cho riêng mình, nhưng cái đầu tỉnh táo của tôi lại nghĩ, nỗi nhớ đã đủ làm khổ chị rồi, tốt nhất là để chị quên anh đi.

Tục lệ quê tôi là người vừa nằm xuống sẽ cảm thấy lạnh lẽo nên hằng ngày sẽ đốt củi sưởi ấm ngôi mộ.

Sáng sớm, tôi chở má xuống nghĩa trang, ngang qua cổng, ông bảo vệ hỏi thay lời chào:

-“Con dâu của dì là cô giáo hả?”.

Má tôi chảy nước mắt nhìn chị và bọn nhỏ lớp tình thương xúm xít mỗi đứa một khúc củi xếp lên nhau.

Rồi những bàn tay nhỏ bé khum khum nối nhau che gió cho chị mồi lửa.

Tôi và má đứng lại ở xa xa nhìn tới, để cho chị được tự do chăm sóc anh.

Má tôi vừa khóc vừa nói:

-“Biết vậy thì hồi đó má đã gật đầu. Chúa và Phật đều dạy người ta thiện tâm mà”.

Không ai biết trước được điều gì, nếu biết trước thì chẳng ai nỡ làm đau người khác.

Tôi thường nói vậy để an ủi ba má và cũng là tự nói với mình.

Tới tận ngày giỗ lần thứ bảy của anh Hai, sáng sớm mang hoa xuống mộ,

tôi vẫn gặp chị bên cạnh đống lửa; lứa học trò ngày đó đã phiêu bạt khắp nơi, chị ngồi một mình…

Truyện: Tương Giang

Nguồn fb Tuấn Mai SG 


 

 Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen…

Phan Thế Nghĩa

 Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen mà không ai muốn nhận: 46 năm sau, cuộc đời của họ sẽ khiến bạn không khỏi xúc động…

 Năm 1979, thế giới của Richard Miller như lặng đi khi người vợ Anne qua đời. Ngôi nhà vốn tràn đầy những ước mơ về một gia đình có con cái, giờ đây trở nên trống vắng. Bạn bè khuyên ông nên tái hôn, nhưng ông vẫn ghi nhớ những lời cuối cùng của Anne:

“Đừng để tình yêu chết cùng em. Hãy trao tình yêu ấy cho một nơi

nào đó để nó tiếp tục sống.”

Vào một đêm mưa bão, số phận đưa ông đến một cô nhi viện mang tên St. Mary’s. Tại đó, ông nhìn thấy chín bé gái nhỏ, tất cả đều bị bỏ rơi cùng một lúc. Tiếng khóc yếu ớt của các em vang vọng dọc những hành lang.

Không ai muốn nhận cả chín đứa trẻ. Việc các em bị chia lìa dường như là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng Richard cúi xuống trước các em, giọng nghẹn ngào, rồi nói:

“Tôi sẽ nhận nuôi tất cả các cháu.”

Lúc đó nhưng người xung quanh cho rằng ông đã điên. Nhân viên xã hội nghi ngờ khả năng của ông. Người thân chế giễu. Hàng xóm xì xào:

“Một người đàn ông da trắng thì làm gì với việc nuôi chín bé gái da đen?”

Nhưng Richard bán đi những tài sản mình có, làm thêm hai ca, và tự tay đóng chín chiếc nôi cho các con.

Những đêm dài của ông giờ đây là những bình sữa, những lời ru và việc chải tóc, tết tóc cho các con dưới ánh đèn trong căn bếp.

  Cuộc sống vô cùng vất vả, nhưng tiếng cười của các cô bé, những câu chuyện mà Anne từng kể và cá tính ngày càng lớn của từng đứa trẻ đã gắn kết cả gia đình lại với nhau.

Sarah với tiếng cười lan tỏa đến mọi người.

Naomi tinh nghịch và đầy sức sống.

Leah với một trái tim nhân hậu.

Từng đứa một, họ lớn lên thành những thiếu nữ – có người trở thành giáo viên, có người làm y tá, có người trở thành những người mẹ.

Nhưng họ chưa bao giờ quên người đàn ông đã lựa chọn họ vào thời điểm mà không ai muốn nhận họ.

  Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Trong khoảnh khắc ấy, ông nhìn thấy điều kỳ diệu mà Anne từng mong ước:

Tình yêu không chết đi cùng Anne. Nó đã được trao cho chín cô bé, và từ đó lớn lên thành cả một đại gia đình.

46 năm sau…

Căn nhà nhỏ ngày nào đã thay đổi hoàn toàn.

Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Chín cô bé năm nào giờ đã trở thành những người phụ nữ trưởng thành.

Họ không chỉ xây dựng cuộc sống riêng mà còn luôn giữ một điều đặc biệt trong lòng: họ chưa bao giờ quên rằng Richard đã chọn họ khi cả thế giới dường như muốn chia lìa họ.

Có lần một người hỏi Sarah:

“Điều gì khiến cô nhớ nhất về cha mình?”

Sarah mỉm cười và trả lời:

“Tôi không nhớ ông đã mua cho chúng tôi những gì. Tôi nhớ ông chưa bao giờ để chúng tôi cảm thấy mình là những đứa trẻ bị bỏ rơi.”

Naomi cũng kể rằng ngày nhỏ, mỗi khi một trong các chị em hỏi:

“Ba có phải ba ruột của chúng con không?”

Richard luôn trả lời:

“Ba không sinh ra các con. Nhưng ba đã chọn các con. Và ba sẽ chọn các con mỗi ngày.”

Câu nói ấy đã theo họ suốt cuộc đời.

Nhiều năm trôi qua, chín người con lần lượt lập gia đình, có công việc và có những đứa con của riêng mình. Ngôi nhà của Richard ngày càng vui vẻ hơn.

Ngày trước, ông phải thức dậy giữa đêm để pha chín bình sữa.

Giờ đây, ông lại thức dậy vì tiếng chân của những đứa cháu chạy khắp nhà.

Vào một buổi tối năm 2025, tất cả các con và các cháu cùng trở về nhà.

Richard ngồi ở đầu bàn, nhìn quanh.

Một bên là những cô con gái mà ông từng bế trên tay.

Bên kia là những đứa cháu mà ông chưa bao giờ tưởng tượng mình sẽ có.

Ông im lặng rất lâu.

Rồi ông nhìn lên bức ảnh của Anne treo trên tường.

Ông khẽ nói:

“Em thấy không, Anne? Anh đã làm theo lời em.”

Ông từng nghĩ sau khi Anne qua đời, tình yêu của mình cũng sẽ chấm dứt.

Nhưng ông không ngờ rằng tình yêu ấy sẽ được trao cho chín đứa trẻ, rồi từ chín đứa trẻ ấy lại tiếp tục lan sang những người chồng, người vợ, những đứa cháu và cả những thế hệ sau…

Và có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của câu chuyện:

  Gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc cùng chung dòng máu. Đôi khi, gia đình bắt đầu bằng một người quyết định nói: “Tôi sẽ không bỏ các con.”

Và 46 năm sau, chín cô bé từng bị bỏ rơi đã trở thành minh chứng sống cho quyết định ấy.

  • (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ 

  David Attenborough Fans). 


 

ÔNG BA BÁN VÉ SỐ

Phương-Trang Đặng – Miền Nam – Mái Trường Xưa

Hồi đó, mình học lớp ba ở trường Phước Nguyên ngoài Chợ Mới – Bà Rịa. Có một ông già đi bán vé số dạo, ông già bao nhiêu thì mình không đoán được tuổi, chỉ thấy ông đen thui, ốm nhách. Ông ốm lắm, ốm tới nỗi cặp giò khẳng khiu của ông hình như chỉ còn da bọc xương. Ông mà không có cái áo sơ mi rộng thùng thình thì chắc rất giống 1 bộ xương cách trí biết đi. Nội mình hay nói:

– Chắc ống chân của ổng bằng cái ống tay của bà.

Trưa đi học về, mỗi đứa múc 1 tô cơm rồi tự tìm chỗ ngồi ăn. Nội mình lo buôn bán, lại 1 mình lo cho 4 đứa cháu nên chỉ có buổi tối, đóng cửa tiệm, nội nấu ăn rồi ngồi cùng bàn ăn chung, chứ buổi trưa thì Nội nấu sẵn rồi mạnh ai nấy ăn thôi. Mình thì hay ra bậc thềm trước nhà, dựa lưng vô tường, vừa ăn vừa nhìn ngó ông đi qua, bà đi lại. Thoáng thấy dáng ông Ba từ xa, là mình báo trước:

– Ông Ba bán vé số Nội ơi.

Thì dù có đang nằm nghỉ bà cũng dậy, ra sau bếp làm cho ông một dĩa cơm.

Bữa nào có anh On, ở tiệm may ( hình như tiệm may Ngọc Thanh) kế bên thì anh hay nói:

– Ổng đi còn 15 phút nữa mới tới, em hô chi sớm vậy?

Mà nói thiệt, chắc tại ông ốm quá, đi suốt từ Chợ Cũ ra Chợ Mới cũng đã mệt rồi nên ông đi rất chậm, chậm thiệt là chậm. Hai chân ông dù không kéo lê lết, nhưng mỗi cái nhấc chân như đã cố hết sức lực cuối cùng. Đi qua mỗi tiệm, ông dừng lại để mời người ta mua vé số.

Đợi lâu thiệt là lâu thì ông mới tới tiệm của Nội mình. Mỗi lần bà đều chỉ nói

– Hổng mua đâu, mà ông Ba vô đây, có dĩa cơm của ông nè.

Ông Ba đi chậm mà ăn cũng chậm, chậm lắm lắm, không biết tại ông có tánh ăn chậm hay tại ông còn có mấy cái răng làm cảnh nên hổng dám xài hao.

Cứ để trên bàn dĩa cơm với ly nước là Nội mình đi ngủ. Bà hay nói:

– Bà ngủ 1 giấc dậy cũng còn thấy chưa hết dĩa cơm, hổng biết rồi chút nữa, ổng có bán hết vé số hông nữa.

Xong xuôi, ông đứng dậy, chắp tay, cám ơn Nội mình rồi thủng thẳng đi tiếp.

Mình hỏi Nội:

– Nội biết ông Ba lâu rồi ha Nội?

– Từ cái hồi bà còn ở Chợ Cũ lận

– Ông Ba tên gì vậy Nội,

– Kêu ông Ba, chứ hỏi tên đâu mà biết.

– Ổng hổng có con cái ha Nội

– Hình như có, mà giờ thì hông biết, bà cũng hông có hỏi.

Lúc đó nhìn ông Ba chậm rãi, đi nãy giờ còn chưa tới tiệm sắt của bà Ba Nguyễn Thị Phấn. Mình cứ thắc mắc ” Biết chừng nào ổng mới về tới nhà, chời!”

Lâu lâu nhớ lại chuyện xưa, người cũ…

Ờ…chuyện xưa thì vẫn ở đây trong tâm trí vài người, nhưng người xưa thì chắc hổng còn. Hông biết có bạn nào ở Bà Rịa biết ông Ba bán vé số khoảng năm 1973 hông ?

ĐTPT

06/08/2026

Hình xin trên mạng lâu rồi


 

Thủ phạm gây ra 3 vụ trộm tiệm vàng là Bác Sĩ

Người Dưng

 Nhìn gương mặt thư sinh này, ít ai ngờ đây lại là thủ phạm gây ra 3 vụ trộm tiệm vàng.

Điều bất ngờ hơn khi biết rằng, Nguyễn Duy Nhật, người đột nhập, trôm trót lọt lấy đi nhiều nữ trang, tài sản, vàng bạc trị giá khoảng 5 tỉ đồng lại đang là Bác Sĩ đa khoa bệnh viên Trung Ương Huế.

Vì muốn đổi đời mà Nhật dính vào nợ nần do đầu tư tiền ảo Crypto. Thế là chẳng biết từ khi nào, để có tiền trả nợ, tiêu xài mà 1 bác sĩ Khoa Đột Quỵ lại hóa Ninja với khả năng leo trèo, núp mái nhà, cắt mái tôn, leo dây thừng, nạy tủ, lấy tài sản bỏ balo và leo lên dây thừng ra lại bên ngoài mà không hề khó khăn chút nào.

Chuyên nghiệp hơn cả những tên trộm chuyên nghiêp là Nhật biết dùng khăn để che Camera hoặc xoay đi hướng khác, mặc áo mưa để che danh tính và đeo găng tay y tế để ko để lại dấu vết

– Vụ thứ nhất là tại tiệm vàng K.L.Chinh ở chợ Dạ Lê, với cách thức : Leo – Cắt – Tuột – Nạy – Xoay – Trèo thì Nhật lấy được 12 nhẫn vàng và nhiều trang sức bạc và thoát ra ngoài thành công.

Sau đó về bệnh viện thay đồ bác sĩ đóng vai Lương Y như Từ mẫu mà ko hề ai biết đó là kẻ vừa thực hiện những màn trộm cắp rất chuyên nghiệp.

Lần này vàng và bạc bán được 54 triệu đồng và để tránh bị dò la đầu mối thì Nhật đi xe khách từ Huế ra tận Đà Nẵng để bán cho chắc ăn.

– Vụ thứ hai là gần 1 tháng sau đó, mục tiêu là tiệm K.C.Lam ở chợ Trần Phù.

Lần này thì cũng thành công và Nhật cũng lấy được nhiều tài sản Vàng Bạc.

Rồi lại trèo qua tiệm N.Thanh sát bên với thủ đoạn tương tự nhưng xui là bên trong tiệm này ko có gì.

Sau đó mang tài sản về bênh viện, cất giấu tủ riêng rồi chạy xe máy ra chợ Đông Hà – Quảng Trị bán được 54 triệu đồng.

– Vụ thứ ba diễn ra sau vụ thứ 2 đúng 1 tuần, lần này là tiệm Thành 41 ở chợ Cống và Nhật xem đây là tiệm có lượng tài sản rất lớn.

Quan sát phương thức hoạt động của tiệm xong, Nhật quay về bệnh viện tiếp tục công việc rồi 21h quay lại chợ để chờ thời cơ ra tay.

Khác 2 lần trước, lần này Nhật nằm chờ trên mái nhà mấy tiếng, chờ đêm khuya khi người dân xung quanh đã ngủ say, đến con chó giờ có thấy cũng chẳng buồn để sủa ngáp ngắn ngáp dài.

Chỉ với ô chữ nhật rộng 20 x 30 là đủ để Nhật thả dây từ mái xuyên qua cả la phông để leo xuống bên dưới, che camera và lấy đi hàng trăm món trang sức.

681 trang sức được Nhật phân loại và cất vào tủ cá nhân ở bệnh viện khi y quay lại đây làm việc.

Trưa hôm sau, Nhật tiếp tục chạy xe máy ra chợ Đông Hà – Quảng Trị bán bớt 1 số nữ trang được 286 triệu.

Khi quay trở lại bệnh viện Trung Ương Huế thì Nhật bị đội cảnh sát bắt khẩn cấp trong ánh mắt bất ngờ của Đồng Nghiệp và cả chính Nhật.

Ngày 28.07, Nhật chính thức bị đưa ra tòa xét xử.

Dù các bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ cho Nhật vì gia đình bị cáo đã bồi thường phần lớn thiệt hại.

HĐXX cũng xét các tình tiết như khai báo thành khẩn, nhân thân tốt, ăn năn hối lỗi, từng được nhận bằng khen trong phong trào công tác Đoàn thanh niên.

Đặc biệt là nhiều năm học sinh giỏi và đi tham gia hiến m*u nhân đạo.

Tuy nhiên, xét hành vi đặc biệt nghiêm trọng, Nhật bị tuyên án 11 năm tù.

Mỗi ngày, trong trang phục Blouse trắng đi làm thì đố ai biết được Nhật là 1 tay Trộm chuyện nghiêp.

Đúng là Chuyện Không Thể Ngờ.

From: Bang Uong


 

Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.

Đoàn Xuân Thu 

Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.

Giữa thành phố Los Angeles hoa lệ của tiểu bang California, nơi những đại lộ thênh thang chạy qua những khu phố giàu sang, nơi Hollywood mỗi ngày sản xuất những giấc mơ phù hoa cho hàng triệu người trên thế giới, vẫn tồn tại một thế giới khác — thế giới của những con người không nhà cửa, sống lặng lẽ bên lề xã hội. Dưới những gầm cầu xa lộ, trong những khu vực bỏ hoang, bên cạnh những thùng rác của các khu thương mại sang trọng, có những kiếp người mà phần đông chúng ta chỉ nhìn thấy trong vài giây ngắn ngủi rồi vội vàng quay đi.

Năm 2005, nhà viết kịch bản điện ảnh Wayne Powers, trong một lần đi qua đường phố Los Angeles, gặp một người vô gia cư xin tiền. Ông chỉ cho người đàn ông ấy vài Mỹ kim rồi tiếp tục bước đi. Nhưng cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đó lại không rời khỏi tâm trí ông.

Ông tự hỏi: “Nếu thay vì cho người ấy vài đồng bạc lẻ, tôi trao cho ông ta cả một gia tài thì chuyện gì sẽ xảy ra? Số tiền ấy có thể thay đổi cuộc đời ông ta hay ngược lại, nó sẽ hủy hoại ông ta?

Câu hỏi ấy dần trở thành một ám ảnh đối với Wayne Powers. Ông đem ý tưởng này trình bày với đài truyền hình Showtime: chọn một người vô gia cư, trao cho họ 100.000 Mỹ kim tiền mặt, rồi quay phim lại toàn bộ hành trình để xem đồng tiền có thể giúp một con người thoát khỏi cảnh khốn cùng hay không.

Showtime đồng ý thực hiện cuộc thử nghiệm đặc biệt này, nhưng đặt ra hai điều kiện quan trọng: người tham dự phải vượt qua cuộc kiểm tra tâm thần và thử nghiệm ma túy. Họ không muốn chọn một người đang mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hoặc đang chìm trong cơn nghiện không kiểm soát. Mục đích của chương trình là tìm hiểu xem một người lâm vào cảnh nghèo khó vì hoàn cảnh có thể thay đổi cuộc đời ra sao khi bất ngờ nhận được một cơ hội lớn.

Trong nhiều tuần lễ, Wayne Powers đi khắp các khu vực dành cho người vô gia cư ở Los Angeles để trò chuyện, tìm kiếm nhân vật thích hợp cho cuốn phim tài liệu mang tên “Reversal of Fortune” (Sự đảo ngược số phận).

Ông cần một người vừa đủ tỉnh táo để hiểu cuộc thử nghiệm, vừa đủ cởi mở để máy quay có thể ghi lại cuộc sống thật, nhưng đồng thời cũng phải là người mà 100.000 Mỹ kim thật sự có ý nghĩa như một chiếc phao cứu sinh.

Cuối cùng, ông gặp được Ted Rodrigue. Ted lúc ấy 45 tuổi. Ông đã sống cảnh không nhà cửa suốt khoảng 20 năm. Nơi trú ngụ của ông là dưới một gầm cầu xa lộ ở Los Angeles. Những tài sản ít ỏi của ông được cất trong một cái hốc nhỏ dưới chân cầu — vài bộ quần áo, vài vật dụng cá nhân và những thứ cần thiết cho cuộc sống qua ngày.

Mỗi ngày của Ted trôi qua theo một nhịp điệu quen thuộc: ông đi nhặt lon nước ngọt, chai lọ bỏ đi rồi đem đến trung tâm tái chế để đổi lấy tiền. Một ngày khá may mắn, ông kiếm được từ 20 đến 35 Mỹ kim. Số tiền ấy dùng để mua thức ăn, thuốc lá và bia.

Người bạn thân duy nhất của Ted là Mike, một thanh niên 18 tuổi làm việc tại trung tâm tái chế nơi Ted thường mang lon chai đến. Đối với Ted, Mike là người hiếm hoi vẫn đối xử với ông như một con người bình thường, không khinh miệt, không xa lánh.

Tài sản quý giá nhất của Ted là một chiếc xe đạp cũ. Mỗi tuần ông đem xe ra tiệm rửa xe để lau chùi cẩn thận. Điều nghịch lý là ông chăm sóc chiếc xe ấy rất kỹ, dù bản thân ông đã nhiều tháng không được tắm rửa đàng hoàng.

Qua những cuộc trò chuyện trước máy quay, Wayne Powers biết được câu chuyện phía sau cuộc đời Ted. Tuổi thơ của ông đầy bất hạnh với một người mẹ nghiện rượu. Ông bắt đầu uống rượu từ năm 13 tuổi. Những năm tuổi trẻ trôi qua trong vòng xoáy tội phạm và tù tội. Khi ra tù, Ted không có gia đình nâng đỡ, không có nghề nghiệp, không có một mạng lưới xã hội nào để giúp ông trở lại đời sống bình thường.

Hai mươi năm sống trên đường phố đã biến sự sinh tồn thành thói quen.

Ted từng nói trước ống kính: “Nếu có một điều ước, tôi chỉ muốn được sống trong xã hội như một người dân bình thường.”

Ông không biết rằng cuộc đời mình sắp bước sang một chương mới.

Một buổi sáng nọ, trong lúc đang bới tìm lon chai trong đống rác quen thuộc, Ted phát hiện một chiếc va-li cũ kỹ phủ đầy bụi. Ông tò mò lau sạch rồi mở ra.

Bên trong là những bó tiền mặt. Những tờ giấy bạc 20 Mỹ kim, 50 Mỹ kim xếp đầy chiếc va-li. Trên cùng là một mảnh giấy ghi dòng chữ: “Điều gì sẽ xảy ra nếu một người vô gia cư được trao 100.000 Mỹ kim?”

Ted đứng sững người. Ông không tin vào mắt mình. Nước mắt chảy xuống trên khuôn mặt người đàn ông đã quen với những ngày tháng lạnh lẽo dưới gầm cầu.

Máy quay ghi lại trọn vẹn khoảnh khắc ấy: sự kinh ngạc, niềm vui, sự hoài nghi và cảm giác như một phép lạ vừa xảy đến.

Những ngày đầu tiên, Ted tỏ ra khá thận trọng. Ông mua một chiếc xe đạp mới. Ông thuê một phòng khách sạn — lần đầu tiên sau nhiều năm được ngủ trong một căn phòng có mái che. Ông đưa người bạn trẻ Mike đi chơi công viên giải trí. Để cảm ơn người duy nhất từng giúp đỡ mình, Ted mua tặng Mike một chiếc xe hơi cũ.

Những nhà sản xuất chương trình cũng cố gắng giúp Ted chuẩn bị cho tương lai. Họ giới thiệu ông với một chuyên viên hỗ trợ người vô gia cư và một cố vấn tài chính. Họ khuyên ông nên lập ngân sách, tìm nơi ở ổn định, học nghề và đầu tư số tiền để bảo đảm cuộc sống lâu dài.

Ted lắng nghe, gật đầu, nhưng rồi ông làm theo ý mình. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, tin tức lan truyền trong cộng đồng người vô gia cư rằng Ted đang có tiền. Những người trước đây từng tránh xa ông nay tìm đến làm quen. Những người từng không muốn tiếp xúc vì mùi rượu và sự nhếch nhác của ông nay lại tỏ ra thân thiện.

Ted gọi điện cho mẹ và các chị em ở Sacramento. Trong nhiều năm, gia đình gần như đã xa lánh ông vì cuộc sống lang thang. Nhưng khi biết Ted có 100.000 Mỹ kim, họ bắt đầu nghe điện thoại của ông trở lại. Mẹ ông còn mời ông về sống chung.

Ted rời Los Angeles đến Sacramento, nhưng từ đó mọi chuyện bắt đầu đi xuống.

Ông uống rượu mỗi tối tại các quán bar. Tiền bạc ra đi với tốc độ chóng mặt. Có thời điểm ông tiêu khoảng 10.000 Mỹ kim mỗi tuần. Ông mua một chiếc xe Dodge Ram mới giá 35.000 Mỹ kim, thuê căn hộ, mua sắm đồ đạc và bắt đầu cuộc sống xa hoa mà trước đây ông chưa từng có.

Ông cùng lúc quen nhiều phụ nữ, mua cho người này những bữa ăn đắt tiền, tặng người kia một chiếc xe tải.

Các chị em của Ted cố gắng can ngăn. Họ khuyên ông hãy tiết kiệm, tìm việc làm và nghĩ đến tương lai. Nhưng Ted cho rằng họ chỉ muốn kiểm soát mình vì tiền bạc. Ông không còn tin ai.

Sáu tháng sau, bộ phim hoàn tất. Ted từ chối cho biết ông còn lại bao nhiêu tiền. Gia đình ông ước tính số tiền còn chưa tới 5.000 Mỹ kim.

Tháng 12 năm 2006, Ted cùng Wayne Powers xuất hiện trong chương trình truyền hình nổi tiếng “The Oprah Winfrey Show” để giới thiệu bộ phim.

Oprah hỏi thẳng: “Ông còn lại bao nhiêu trong số 100.000 Mỹ kim ấy?”

Ted trả lời ngắn gọn: “Không còn gì cả.”

“Bây giờ ông đang sống ở đâu?”

“Tôi lại vô gia cư.”

Khán giả im lặng sững sờ.

Chỉ trong sáu tháng, Ted đã tiêu hết toàn bộ số tiền. Ông trở lại đúng nơi mình từng sống: dưới gầm cầu ở Los Angeles. Vẫn nhặt lon chai. Vẫn kiếm khoảng 20 Mỹ kim mỗi ngày. Vẫn cuộc đời cũ.

Khi được hỏi có hối tiếc không, Ted trả lời rằng ông hài lòng với cuộc sống của mình. Ông không nghĩ mình đã làm điều gì sai và cũng không muốn thay đổi những gì đã xảy ra.

Câu chuyện của Ted Rodrigue đã gây nên một cuộc tranh luận lớn trong dư luận Hoa Kỳ.

Có người cho rằng đây là bằng chứng rằng không thể giúp một người không muốn tự giúp mình. Nhưng cũng có người chỉ trích cuộc thử nghiệm, cho rằng việc trao cho một người từng nghiện rượu, từng chịu nhiều tổn thương tâm lý một số tiền lớn rồi quay phim sự thất bại của họ là một hình thức khai thác con người.

Những người phê bình nói rằng tiền bạc không thể tự nó cứu một cuộc đời. Ted không chỉ thiếu tiền. Ông thiếu những thứ sâu xa hơn: sự chữa trị cho chứng nghiện, sự hỗ trợ tinh thần, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức quản lý tài chính và một môi trường ổn định để làm lại cuộc đời.

100.000 Mỹ kim không thể chữa lành tuổi thơ bất hạnh của ông. Nó không thể xóa bỏ hàng chục năm sống trong cảnh sinh tồn. Nó không thể dạy một người chưa từng học cách lập kế hoạch cho tương lai.

Nó chỉ làm cho những vấn đề cũ trở nên đắt giá hơn.

Câu chuyện Ted cũng phản ánh một bài học rộng lớn trong xã hội hiện đại. Không ít người trúng số rồi phá sản. Không ít vận động viên nổi tiếng kiếm hàng triệu Mỹ kim rồi trắng tay. Không ít người thừa kế gia sản lớn nhưng cuối cùng mất tất cả.

Tiền bạc là một công cụ, nhưng muốn sử dụng công cụ ấy, con người cần có kiến thức, kỷ luật và sự hỗ trợ cần thiết.

Điều khiến câu chuyện của Ted trở nên ám ảnh là ông không chỉ thất bại trong im lặng. Cả thế giới đã nhìn thấy sự thất bại ấy qua màn ảnh.

Nhưng có lẽ cũng cần nhìn Ted như một con người, không chỉ như một bài học cảnh báo. Có thể ông chưa bao giờ thật sự muốn một cuộc đời mà xã hội gọi là “thành công”. Có thể đối với ông, sự tự do dưới gầm cầu — không trách nhiệm, không ai sai khiến, sống theo cách riêng — lại là điều ông quen thuộc và chấp nhận.

Cuối cùng, câu hỏi lớn nhất mà câu chuyện đặt ra không phải là: “Tại sao Ted tiêu hết tiền?”

Mà là: “Nếu thật sự muốn cứu giúp một con người, chúng ta cần trao cho họ tiền bạc, hay cần trao cho họ một con đường?”

Một chiếc va-li đầy tiền có thể đem lại hy vọng trong một khoảnh khắc. Nhưng để xây dựng lại một cuộc đời, con người cần nhiều hơn thế: một mái nhà, sự chăm sóc y tế, sự giáo dục, một công việc, những người bạn chân thành và một cộng đồng sẵn sàng dang tay nâng đỡ.

Ted Rodrigue từng có 100.000 Mỹ kim trong tay. Sáu tháng sau, ông trở lại dưới gầm cầu.

Nhưng câu chuyện của ông vẫn còn đó như một lời nhắc nhở sâu sắc: tiền có thể thay đổi hoàn cảnh trong chốc lát, nhưng chỉ sự thay đổi từ bên trong và sự nâng đỡ đúng cách mới có thể thay đổi số phận của một con người.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày- Truyen ngan HAY

Thuy Phan

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày, và không có gì tôi làm có thể an ủi được nó cho đến khi chúng tôi tìm thấy mẩu giấy được giấu bên trong vòng cổ của nó.

Tên nó là Max. Ít nhất thì vòng cổ ghi như vậy. Một con chó lai giống Pit Bull, khoảng ba tuổi, được nhân viên kiểm soát động vật đưa đến vì bị lạc.

Nhưng Max không phải là một con chó lạc bình thường. Nó không sợ người. Nó không hung dữ. Nó không bị ốm hay bị thương.

Nó đang đau khổ tột cùng.

Tôi là Sarah, và tôi đã làm việc tại Trại cứu hộ động vật của quận được mười một năm. Tôi đã thấy hàng nghìn con chó đi qua cánh cửa này. Những con chó vui vẻ. Những con chó ốm yếu. Những con chó hung dữ. Những con chó sợ hãi. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một con chó nào giống như Max.

Nó không ăn. Không uống. Chỉ ngồi ở góc chuồng, úp mặt vào tường, hai chân che mắt, phát ra những tiếng khóc đau lòng nhất mà tôi từng nghe.

“Nó đã như vậy ba ngày rồi,” đồng nghiệp Jenny nói với tôi vào ngày đầu tiên tôi trở lại làm việc sau kỳ nghỉ. “Chúng tôi đã thử mọi cách. Thức ăn. Bánh thưởng. Đồ chơi. Nó thậm chí không thèm nhìn chúng tôi.”

Tôi đi đến chuồng của Max. Nó đúng như Jenny mô tả. Cuộn tròn trong góc, mặt giấu đi, cơ thể run rẩy với những tiếng nức nở thầm lặng.

“Chào con,” tôi nói nhẹ nhàng. “Không sao đâu. Con an toàn ở đây rồi.”

Nó không cử động. Không hề phản ứng lại tôi. Chỉ tiếp tục khóc.

Tôi ngồi xuống sàn bên ngoài chuồng của nó. “Ta biết con đang buồn. Ta biết con nhớ ai đó. Nhưng con phải ăn gì đó chứ, được không? Con phải uống nước.”

Không có chút động tĩnh gì.

Tình trạng này kéo dài thêm ba ngày nữa. Max không chịu ăn. Chúng tôi phải truyền dịch cho nó để giữ cho nó sống sót. Bác sĩ thú y đã khám kỹ lưỡng cho nó. Không có vết thương. Không có bệnh tật. Chỉ là một trái tim tan vỡ.

“Nếu nó không bắt đầu ăn vào ngày mai, chúng ta sẽ phải đưa ra quyết định,” giám đốc trại cứu hộ nói với tôi vào ngày thứ sáu. Mắt bà ấy đỏ hoe. Bà ấy đã khóc. “Chúng ta không thể để nó chịu đựng như thế này.”

Tôi biết điều đó có nghĩa là gì. Nếu Max đã từ bỏ cuộc sống, chúng tôi không thể ép buộc nó sống trong đau khổ. Đêm đó, tôi ở lại muộn. Ngồi bên ngoài chuồng của Max và chỉ nói chuyện với nó. Về mọi thứ. Về những chuyện không đâu. Về con chó của tôi đã chết vì ung thư hai năm trước. Về việc tôi hiểu nỗi đau mất mát. Về việc tôi biết cảm giác muốn bỏ cuộc là như thế nào.

“Nhưng con không thể bỏ cuộc, Max,” tôi thì thầm. “Ai đó ngoài kia có thể cần con. Ai đó có thể đang tìm kiếm con ngay lúc này.”

Lần đầu tiên sau sáu ngày, Max ngẩng đầu lên. Chỉ một chút thôi. Mắt nó nhìn thẳng vào mắt tôi. Đó là đôi mắt buồn nhất mà tôi từng thấy. Màu nâu. Sâu thẳm. Tràn đầy nỗi đau không thể chịu đựng nổi.

Rồi nó lại úp mặt vào góc chuồng.

Tôi quyết định thử một cách khác. Tôi bước vào chuồng của nó. Chậm rãi. Cẩn thận. Tôi chưa bao giờ làm điều này với một con chó mà tôi không quen biết, nhưng có điều gì đó mách bảo tôi rằng Max sẽ không làm hại tôi.

Nó không di chuyển khi tôi ngồi xuống bên cạnh. Không giật mình khi tôi nhẹ nhàng chạm vào lưng nó.

“Không sao đâu, con. Dù chuyện gì đã xảy ra, buồn cũng không sao cả.”

Đó là lúc tôi cảm nhận được điều đó. Chiếc vòng cổ của nó dày. Quá dày. Tôi nhìn kỹ hơn. Có thứ gì đó được may bên trong lớp vải. Thứ gì đó làm cho chiếc vòng cổ trở nên cồng kềnh.

Với đôi tay run rẩy, tôi cẩn thận kiểm tra chiếc vòng cổ. Có một vết rách nhỏ ở lớp lót bên trong. Tôi nhẹ nhàng kéo nó ra.

Một mảnh giấy rơi ra.

Tôi mở nó ra bằng những ngón tay run rẩy. Đó là chữ viết tay. Mực bị nhòe như thể ai đó đã khóc khi viết nó.

“Gửi người nào tìm thấy Max –

Tôi tên là Daniel Peterson. Tôi 73 tuổi và mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Các bác sĩ cho tôi biết tôi chỉ còn sống được hai tháng nữa. Tôi không có gia đình. Không có ai ngoài Max.

Max là người bạn thân nhất của tôi suốt ba năm qua. Nó là lý do tôi thức dậy mỗi sáng. Lý do tôi tiếp tục chiến đấu. Lý do tôi mỉm cười vượt qua nỗi đau.

Nhưng tôi không thể chăm sóc nó nữa. Ngày mai tôi sẽ vào viện dưỡng lão. Ở đó không cho phép nuôi chó. Tôi không đủ tiền để gửi nó ở trại nuôi chó. Tôi không có ai để gửi gắm nó.

Vì vậy, tôi đang làm điều khó khăn nhất mà tôi từng làm. Tôi đang để nó đi.

Tôi lái xe đưa Max đến một khu phố đẹp và thả nó ra. Tôi bảo nó ở lại. Hãy ngoan ngoãn. Hãy tìm một gia đình mới yêu thương nó như tôi.

Nó không hiểu. Nó cố gắng chạy theo xe của tôi. Tôi phải lái xe đi trong khi nó vẫn chạy theo phía sau. Tiếng khóc của nó là điều tôi sẽ nghe thấy cho đến khi chết.

Tôi là một kẻ hèn nhát. Lẽ ra tôi nên đưa nó đến trại cứu hộ chó. Nhưng tôi không thể làm được. Không thể bỏ đi khi nó đang nhìn tôi. Không thể là người nhốt nó vào lồng.

Làm ơn, bất cứ ai tìm thấy Max, hãy yêu thương nó. Nó là con chó tốt nhất trên thế giới. Nó trung thành. Nó hiền lành. Nó thông minh. Nó thích chơi bóng tennis, thích ngủ dưới ánh nắng mặt trời và thích đi xe ô tô với cửa sổ mở.

Nó đang đau khổ vì tôi. Tôi biết điều đó. Nó không hiểu tại sao tôi lại bỏ rơi nó. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi xin lỗi. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi yêu nó hơn bất cứ điều gì. Làm ơn hãy nói với nó rằng không sao cả nếu nó yêu thương một người khác.

Tôi đã khâu lá thư này vào vòng cổ của nó vì tôi biết nếu ai đó tìm thấy nó, họ sẽ thắc mắc tại sao một con chó tốt như vậy lại hành động đau khổ đến vậy. Bây giờ thì bạn đã biết rồi.

Thức ăn yêu thích của nó là thịt gà. Nó có một con gấu bông nhồi bông để ngủ cùng – tôi không thể mang nó theo vì tôi không muốn nó làm mất. Nó biết các lệnh: ngồi, đứng yên, bắt tay, nằm xuống. Nó đã được huấn luyện đi vệ sinh đúng chỗ. Nó chưa bao giờ cắn ai. Nó rất hoàn hảo.

Làm ơn hãy cho nó một cơ hội. Xin đừng giết nó chỉ vì nó buồn. Nó chỉ cần thời gian. Và tình yêu thương. Rất nhiều tình yêu thương.

Cảm ơn vì đã tìm thấy nó. Cảm ơn vì đã đọc bức thư này. Cảm ơn vì đã cho nó cuộc sống mà tôi không thể cho nó nữa.

Hãy nói với Max rằng Danny yêu nó. Luôn luôn.

Daniel Peterson”

Tôi khóc nức nở. Không thể thở được. Không thể nhìn thấy gì qua những giọt nước mắt. Max đã bị bỏ rơi bởi người mà nó yêu thương nhất trên thế giới. nó không hiểu tại sao. Nó đang chờ Danny quay lại. Khóc vì Danny. Đau buồn vì Danny.

“Ôi Max,” tôi thì thầm. “Ôi con ơi. Ông ấy không muốn bỏ rơi con. Ông ấy buộc phải làm vậy. Ông ấy yêu con rất nhiều.”

Max quay lại. Nhìn tôi. Thấy tôi đang khóc. Và lần đầu tiên sau sáu ngày, nó tiến lại gần một người thay vì tránh xa.

Nó đặt đầu vào lòng tôi. Và nó khóc. Cả hai chúng tôi đều khóc.

Tôi ôm Max suốt đêm. Đọc bức thư cho nó nghe hết lần này đến lần khác. “Danny yêu con. Ông ấy rất xin lỗi. Ông ấy muốn con được hạnh phúc. Ông ấy muốn con tìm được một gia đình mới.”

Sáng hôm sau, tôi mang thịt gà đến. Món ăn yêu thích của Max. Tôi ngồi trong chuồng của nó và đưa cho nó ăn.

Nó ăn. Không nhiều. Nhưng nó đã ăn.

Tiến triển tốt.

Trong tuần tiếp theo, Max dần dần hồi phục. Nó bắt đầu ăn uống đều đặn. Bắt đầu uống nước. Bắt đầu nhận biết mọi người. Nhưng nó vẫn có đôi mắt buồn bã ấy.

Tôi gọi điện đến tất cả các viện dưỡng lão trong khu vực. Cuối cùng cũng tìm thấy nơi mà Daniel Peterson đang ở.

“Tôi rất tiếc,” y tá nói với tôi. “Ông Peterson đã qua đời bốn ngày trước. Một cách thanh thản. Ông ấy cứ hỏi về con chó của mình. Muốn biết liệu có ai tìm thấy nó không. Chúng tôi nói với ông ấy rằng có, có người đã tìm thấy nó. Ông ấy mỉm cười và nói ‘tốt’.” Đó là những lời cuối cùng của ông ấy.”

Tôi cúp máy và khóc suốt một tiếng đồng hồ. Sau đó tôi đến chuồng của Max. Ngồi xuống bên cạnh nó.

“Danny đã ra đi rồi, con ạ. Ông ấy không bỏ rơi con vì không yêu con. Ông ấy bỏ rơi con vì yêu con quá nhiều. Ông ấy muốn con có một cuộc sống tốt hơn. Hạnh phúc hơn. Được yêu thương nhiều hơn.”

Max nhìn tôi bằng đôi mắt buồn bã ấy. Và tôi đã đưa ra một quyết định.

“Con sẽ về nhà với ta.”

Tôi nhận nuôi Max ngày hôm đó. Đưa nó về nhà. Cho nó xem sân vườn. Chiếc ghế sofa. Chiếc giường. Mua cho nó một con gấu bông giống hệt con gấu mà Danny đã mô tả.

Max mang con gấu đó đi khắp mọi nơi trong nhiều tháng. Ngủ cùng nó. Khóc vào nó. Dần dần vết thương lòng cũng lành lại.

Đã hai năm rồi. Max vẫn có những khoảnh khắc buồn bã. Thỉnh thoảng nó vẫn ngồi ở góc nhà và khóc. Nhưng giờ nó cũng chơi đùa. Chạy nhảy. Âu yếm. Yêu thương.

Tuần trước, tôi đưa Max đến thăm mộ của Danny. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy mộ ông ấy sau nhiều tháng tìm kiếm. Max ngửi bia mộ. Nằm xuống bên cạnh. Đặt đầu lên hai chân trước.

“Danny, nếu ông đang nghe thấy, Max vẫn ổn,” tôi nói to. “Nó được yêu thương. Nó an toàn. Hầu hết các ngày nó đều hạnh phúc. Nó nhớ ông. Cả hai chúng tôi đều biết nó sẽ không bao giờ ngừng nhớ ông.” “Nhưng nó đang sống cuộc sống mà ông muốn dành cho nó.”

Max ngước nhìn bầu trời. Cái đuôi của nó vẫy một lần. Rồi hai lần. Như thể nó nghe thấy điều gì đó mà tôi không nghe thấy.

Chúng tôi ở đó khoảng một tiếng. Sau đó Max đứng dậy, rũ người và đi về phía xe. Nó ngoảnh lại nhìn một lần. Rồi nó nhảy vào xe và chờ đợi cuộc phiêu lưu tiếp theo của chúng tôi.

Lá thư của Danny giờ được đóng khung trong phòng khách của tôi. Thỉnh thoạt tôi đọc nó cho Max nghe. Nhắc nhở nó về nguồn gốc của nó. Về việc nó được yêu thương nhiều như thế nào. Về việc người chủ đầu tiên của nó đã từ bỏ tất cả để Max có được mọi thứ.

Max giờ là người bạn thân nhất của tôi. Người bạn đồng hành không thể thiếu của tôi. Là lời nhắc nhở tôi rằng tình yêu không kết thúc chỉ vì cuộc sống kết thúc.

Nếu bạn đang đọc bài này và bạn đang ở trong hoàn cảnh giống như Danny, làm ơn đừng bỏ rơi con chó của bạn. Hãy tự mình đưa chúng đến trại cứu hộ. Hãy nói lời tạm biệt một cách đàng hoàng. Hãy cho chúng thấy rằng bạn yêu chúng ngay cả khi bạn phải rời xa chúng. Hãy viết một lá thư giải thích câu chuyện của chúng.

Bởi vì Max đã trải qua sáu ngày nghĩ rằng mình đã làm điều gì đó sai. Nghĩ rằng Danny không còn muốn nó nữa. Không con chó nào phải chịu đựng nỗi đau đó.

Và nếu bạn đang đọc bài này và bạn làm việc tại một trại cứu hộ, hãy kiểm tra vòng cổ. Kiểm tra kỹ lưỡng. Đôi khi có một câu chuyện được giấu bên trong giải thích tất cả mọi thứ.

Max chưa bao giờ là một con chó bị tổn thương. Nó là một con chó đang đau buồn. Có sự khác biệt.

Nó chỉ cần ai đó hiểu nỗi đau của nó. Cho nó thời gian. Để cho nó thấy rằng việc yêu thương trở lại là điều bình thường.

Danny đã tặng tôi món quà tuyệt vời nhất khi giấu lá thư đó trong vòng cổ của Max. Ông ấy đã tặng Max cho tôi. Và Max, ngược lại, đã cứu tôi khỏi nỗi đau của chính mình.

Chúng tôi đã cứu nhau. Giống như Danny đã hy vọng.

ST


 

GIÂY PHÚT SINH TỬ…Truyen ngan HAY

Võ Hữu Nhậm

GIÂY PHÚT SINH TỬ…

Ông Minh ngoài 60, mái tóc bạc quá nửa, sống ở Mỹ gần 30 năm. Công việc của ông tại lò hỏa táng công lập San Jose không ồn ào, nhưng ông luôn coi đó là trách nhiệm.

 Ông thường nói:

Người sống cần được tôn trọng, người đã mất càng cần hơn.

Chiều hôm ấy, hồ sơ cuối cùng:

 Trần Mỹ Linh, 28 tuổi, mang thai 8 tháng

Nguyên nhân tử vong:

Ngừng tim đột ngột tại phòng khám tư ở Oakland. Giấy tờ hợp lệ, chữ ký đầy đủ. Nhưng khi đọc đến dòng thai nhi 32 tuần, lòng ông trĩu xuống.

Quan tài được đưa đến.

 Gia đình bên chồng có mặt:

  Nguyễn Hoàng Nam, chồng, tầm 30, gương mặt căng thẳng nhưng không biểu lộ đau buồn.

 Bà Nguyễn Thị Hạnh, mẹ chồng, dáng cứng cỏi, mắt lạnh.

 Jessica, bạn thân gia đình. Không ai tiến lại gần quan tài, không ai muốn nhìn mặt lần cuối, không có lời cầu nguyện.

 Nam liên tục xem đồng hồ, bà Hạnh hỏi thời gian, Jessica nhắn tin. Ông Minh ghi nhận điều khác lạ.

 Đến bước kiểm tra cuối, ông đặt tay lên nắp quan tài như thói quen. Khoảnh khắc ấy, ông cảm nhận một điều khiến tim chậm lại – hơi ấm nhẹ, và một dao động rất nhỏ. Không phải ảo giác. Ông đã chạm vào hàng nghìn quan tài, ông biết cảm giác của gỗ lạnh. Nhưng đây khác. Ông kiểm tra lại, lần này rõ hơn:

  Một chuyển động có nhịp. Ông biết nếu sai sẽ mất việc, nếu đúng thì nhấn nút là sai lầm không thể cứu vãn.

Nam bước tới thúc giục. Bà Hạnh tỏ ý khó chịu. Jessica tiếp tục nhắn tin. Ông Minh đặt tay lên nắp lần thứ ba – dao động rõ ràng hơn. Ông nghĩ đến đứa trẻ chưa chào đời.

 Ông quay sang quản lý:

 “Cần thêm bước xác minh.”

 Nam phản ứng ngay, bà Hạnh yêu cầu không chậm trễ. Họ viện dẫn quyền pháp lý, khẳng định bệnh viện đã xác nhận.

 Ông Minh lắng nghe nhưng không thay đổi. Ông không buộc tội, chỉ nói ông cảm thấy bất thường và cần kiểm tra lại. Giọng ông kiên định.

Căng thẳng leo thang. Quản lý nhắc về lịch trình. Nam mất kiên nhẫn, bà Hạnh cho rằng đó là xúc phạm. Ông Minh hiểu mình đang đơn độc, nhưng ông cũng hiểu nếu bỏ qua sẽ ám ảnh cả đời. Ông tuyên bố tạm dừng quy trình. Không nhấn nút, không kích hoạt lò, cho đến khi có xác nhận bổ sung.

Không khí căng cứng. Nam yêu cầu giải thích căn cứ pháp lý. Bà Hạnh cho rằng thiếu tôn trọng. Jessica trao đổi ánh mắt với Nam. Quản lý muốn kết thúc. Ông Minh gọi 911 báo có nghi vấn về tình trạng sinh tồn của sản phụ đã được xác nhận tử vong.

 Ngay lúc đó, cha mẹ ruột của Linh – ông Trần Văn Hòa và bà Nguyễn Kim Lan – vừa đáp chuyến bay từ Houston đến, chưa từng gặp gia đình bên chồng. Họ chỉ biết con gái đột ngột qua đời. Khi biết quy trình bị tạm dừng vì nghi ngờ, ông Hòa yêu cầu giải thích.

 Ông Minh nói rõ: Ông cảm nhận được chuyển động bất thường. Nam phản đối, bà Hạnh cho rằng làm tổn thương hai bên. Nhưng ông Hòa nói nếu còn một phần nhỏ nghi ngờ, ông muốn kiểm tra.

Tiếng còi xe cấp cứu vang lên. Nhân viên y tế ban đầu hoài nghi, nhưng khi nghe sản phụ 8 tháng, họ trao đổi ánh nhìn. Họ đặt thiết bị cảm biến lên quan tài – một đường dao động mảnh xuất hiện: nhịp tim thai.

 Họ kiểm tra mạch người mẹ qua vị trí cổ – có mạch yếu. Bà Lan bật khóc, ông Hòa gần như khuỵu xuống. Ông Minh đứng yên, trong lòng dâng lên sóng mạnh. Nam không giữ bình tĩnh, khẳng định không thể có chuyện đó. Nhân viên y tế thông báo cần chuyển khẩn cấp đến bệnh viện Stanford.

 Khi nắp quan tài được mở ra, Linh nằm đó, tái nhợt, nhưng mạch yếu được xác nhận, nhịp tim thai nghe rõ bằng thiết bị. Linh và con được đưa lên cáng, xe cứu thương lao đi.

 Ông Minh nhìn theo, nghĩ:

 Nếu ông đã nhấn nút, mọi thứ đã chấm dứt.

Tại Stanford, Linh được đưa thẳng vào phòng mổ khẩn cấp. Huyết áp rất thấp, nhịp tim yếu, thai nhi đang giảm cường độ. Bác sĩ quyết định mổ lấy thai ngay.

 Ông Hòa ký giấy đồng ý, chỉ hỏi một câu: “Còn cơ hội không?”

Bác sĩ: “Nếu hành động ngay thì có thể .”

 Em bé được đưa ra, da tái nhợt, không khóc. Đội hồi sức kích thích, hỗ trợ hô hấp. Nhịp tim dao động, rồi một tiếng khóc yếu ớt vang lên. Bà Lan nghe thấy, quay sang ông Hòa, không dám tin. Nhưng Linh vẫn mất máu nghiêm trọng, các bác sĩ kiểm soát xuất huyết, truyền máu. Sau nhiều nỗ lực, các chỉ số bắt đầu nhích lên. Cả hai mẹ con còn sống.

 Sáng hôm sau, hai thanh tra xuất hiện tại trung tâm hỏa táng. Ông Minh kể chi tiết những gì mình cảm nhận. Họ trích xuất camera, thấy sự vội vã của Nam và bà Hạnh. Họ kiểm tra phòng khám Oakland, phát hiện hồ sơ sơ sài, không có siêu âm cuối cùng, không theo dõi tim thai trước khi tuyên bố tử vong. Bác sĩ được mời làm việc, ban đầu khẳng định quy trình đúng, nhưng đối chiếu dữ liệu từ Stanford cho thấy Linh vẫn có mạch. Điều đó có nghĩa tuyên bố tử vong là sai.

 Rà soát giao dịch:

 200.000 đô la được chuyển từ tài khoản bà Hạnh vào tài khoản bác sĩ vài ngày trước khi Linh nhập viện. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 2 triệu đô, người thụ hưởng ban đầu là hai vợ chồng, một tháng trước được đổi thành duy nhất Nam.

 Tin nhắn giữa Nam và Jessica về “cuộc sống mới” và “kế hoạch phải hoàn tất nhanh”. Bác sĩ thừa nhận đã ký giấy chứng tử trong khi biết bệnh nhân vẫn có dấu hiệu sinh tồn.

 Nam, bà Hạnh, Jessica bị truy tố về âm mưu giết người chưa đạt và gian lận bảo hiểm.

 Tòa tuyên án: bác sĩ 12 năm tù, tước giấy phép hành nghề;

 Nam, bà Hạnh, Jessica mỗi người 20 năm tù.

Linh hồi phục chậm nhưng chắc chắn. Con trai cô nằm trong lồng ấp ba tuần, nhịp tim ổn định, tự thở đều. Khi lần đầu được bế con, Linh không nói nên lời.

 Cô viết thư cho ông Minh:

 “Nếu ông đã làm theo quy trình, tôi và con sẽ không còn cơ hội. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc một người xa lạ đã chọn tin vào trực giác thay vì áp lực.” Ông Minh cất thư vào ngăn bàn, không kể với ai.

 Năm năm sau, Linh đến gặp ông, bế con trai năm tuổi. Cô cúi đầu thật sâu, cảm ơn ông. Cô nói mỗi sinh nhật con đều nhớ đến khoảnh khắc chiếc nút đỏ không được nhấn. Cô đặt vào tay ông một tấm ảnh gia đình: cô, cha mẹ, và con trai. Tất cả đều cười. Ông Minh cầm tấm ảnh rất lâu, đặt cạnh lá thư cũ. Ông quay lại chiếc nút khởi động, vẫn chỉ là nút đỏ bình thường. Nhưng với ông, nó nhắc về trách nhiệm, sự thận trọng và lòng can đảm thầm lặng.

Câu chuyện nhắc nhở:

 Đôi khi lòng can đảm không phải là làm điều phi thường, mà là dám dừng lại khi mọi người đang thúc giục tiến lên. Và trong một thế giới mọi thứ bị quyết định quá nhanh, điều quý giá nhất là khả năng chậm lại đủ lâu để lắng nghe sự thật đang khẽ gõ cửa.

Nguồn:

https://newsyz.com/…/nguoi-vo-vi-et-mang-th-ai-sap-bi…/?

By Sơn Vũ 


 

Con Hoang – Thu Phong- Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

 Con Hoang – Thu Phong.

Hình minh hoạ từ internet

Tôi cầm túi đồ ăn ném mạnh vào giỏ rác, nói như hét: “Đã nói má đừng có lên nữa, sao không chịu nghe vậy? Tiền nè, má về đi”.

Mẹ tôi run rẩy bước tới cạnh thùng rác: “Thôi, con không ăn thì má đem về… Tại má nhớ con quá thì lên thăm chớ má đâu có cần tiền. Mai mốt con về thì hết con nước rồi, má sợ không có cá ngon như vầy nữa…”

Tôi dịu giọng: “Sao má không chịu nhớ? Lâu rồi con đâu có thích ăn cá linh? Cá gì mà xương không…”. Mẹ tôi mở giỏ lấy ra túm bông điên điển: “Vậy má để lại cái này cho con nghen? Nước rút rồi nên bông cũng ít. Hôm qua má phải đi hái cả buổi mới được nhiêu đây”. Tôi thấy chạnh lòng nên gật đầu: “Má cứ để đó cho con. Thôi, má về đi, con phải đi làm đây”.

Tôi đứng nhìn theo mẹ bước thấp, bước cao khuất dần nơi đầu hẻm. Tôi để mẹ đi một mình vì không muốn người trong hẻm biết tôi có một người mẹ tật nguyền…

“Cô Tư què”, “bà Tư què”… là những tiếng mà tôi nghe người ta gọi từ khi tôi nhận biết sự bất thường của đôi chân mẹ.

Lớn lên một chút, tôi biết mẹ tôi bị tật cả hai chân từ lúc mới lọt lòng. Bà ngoại mất khi mẹ tôi mới 16 tuổi. Sống một mình giữa đồng nước mênh mông, một đêm mưa nọ, mẹ đã bị một gã đàn ông cùng xóm cưỡng hiếp. Kết quả là – tôi có mặt trên cõi đời này với bao nhiêu điều tiếng xấu xa.

Thế nhưng với mẹ thì ngược lại. Bà xem đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban cho mình. “Má nói thật đi, ai là cha con?”. Không phải chỉ một lần, tôi hỏi mẹ câu đó. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ chỉ lặng im. Có lần tôi làm dữ thì mẹ nói: “Con biết thì cũng đâu có lợi ích gì mà còn làm cho gia đình người ta xào xáo. Thật lòng, má phải mang ơn người ta chớ thân má như vầy, ai mà thèm…”.

Tôi lớn lên như một cái cây non thiếu ánh sáng. Sau lưng tôi, người ta xầm xì: “Đồ con hoang”. Rồi đến những đứa bạn học cùng lớp cũng trêu chọc: “Đồ không cha”.

Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình.

Trong mắt tôi – mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…

Lên lớp 10, tôi ra thị xã học. Suốt những năm học cấp 3, tôi chỉ về nhà dịp hè và Tết dù từ nhà ra thị xã chỉ mất 30 phút đi xe máy.

Thằng Kiên con bác Ba Bảo ở cạnh nhà có nhiệm vụ “tiếp tế” cho tôi mỗi tuần. Có lần nó bảo: “Ê, sao mày không về thăm má mày? Tao thấy tội nghiệp má mày lắm. Hôm trước hình như bả bị bịnh đó”. Tôi có hơi băn khoăn nhưng rồi lại quên ngay. “Mày về nói với má tao là nhớ mua thuốc uống, lúc này tao bận học lắm nên không về được”. Thằng Kiên bĩu môi: “Mày đúng là con bất hiếu”.

Học hết lớp 12, tôi quyết định lên Sài Gòn. “Lên trên đó dễ kiếm tiền lắm”- chị Thu con bác chủ nhà tôi ở trọ bảo. Chị làm đầu bếp trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn, lương mỗi tháng cả chục triệu. Chị hứa sẽ đỡ đầu nếu tôi muốn lên trên ấy.

Mẹ tôi đã khóc cả đêm khi biết ý định này. “Con lên trên đó làm sao má đi thăm?”- mẹ tôi sụt sịt. Tôi nạt: “Ai cần má thăm? Má cứ ở nhà, con làm có tiền sẽ gởi về nuôi má”.

Vậy là tôi đi. 4 năm qua, tôi về thăm nhà đúng 1 lần. Mẹ tôi nhờ thằng Kiên dò la tin tức.

Biết chỗ tôi làm, nó gọi điện thoại trách: “Mày đúng là con bất hiếu. Nếu tao không gọi, chắc mày cũng im luôn. Má mày lo tới bịnh luôn đó”. Tôi bực vì cái tiếng “bất hiếu” của nó nên nạt: “Mày còn nói cái giọng đó nữa thì đừng có gọi điện cho tao nghe chưa”. Nói rồi tôi cúp máy.

Có lẽ – nó tức lắm nên dẫn mẹ tôi lên tận Sài Gòn tìm tôi. Dĩ nhiên là nó bị tôi chửi vuốt mặt không kịp. Mẹ tôi cũng bị vạ lây: “Còn má nữa, ai biểu má lên đây?”.

Thật sự thì đâu có ai biểu mà chỉ có tấm lòng, tình yêu của một người mẹ đã thúc giục mẹ tôi lặn lội đi tìm con. “Tại con không về nên má nhớ…” – mẹ tôi rưng rưng. Thấy vậy, tôi cũng không nỡ rầy la: “Thôi được, má muốn lên thì cứ lên; nhưng con nói trước là con không có về dưới nữa đâu”.

Từ đó, cứ vài tháng, mẹ tôi lại lặn lội từ Châu Đốc lên Sài Gòn thăm con. Thỉnh thoảng thằng Kiên rảnh thì lại đi cùng với mẹ.

Có lần nó đùa: “Ê, má bà đã hứa gả bà cho tui rồi đó nghen. Bà ở trên này đừng có lộn xộn”. Tôi không nhớ nó đã đổi cách xưng hô từ khi nào nhưng vừa nghe vậy đã đổ quạu: “Đừng có mơ. Tui không bao giờ trở về cái xứ đó. Mà ông cũng đừng có ăn nói bậy bạ”. Nó cười hì hì: “Giỡn bà thôi chớ cái thứ con cái không ra gì như bà, có cho tui cũng… không thèm lấy”.

Mọi chuyện sẽ không có gì nếu như tôi không tình cờ quen một người. Anh là trưởng phòng của một công ty lớn. Chân dung của tôi trong mắt anh là một đứa trẻ mồ côi, tự lập, tự bươn chải vào đời… “Anh yêu em vì những điều đó. Em là một cô gái đầy nghị lực” – có lần anh bảo tôi như vậy.

Tôi gọi điện cho Kiên: “Ông đừng có dẫn bà già lên nữa nghe chưa. Tôi nói với người ta là tôi mồ côi…”.

Vừa nghe vậy, Kiên đã sừng sộ: “Bà ăn nói gì bất nhơn thất đức vậy? Má bà còn sống sờ sờ đó mà”.

“Tui nói rồi, ông mà còn dẫn má tui lên là đừng có trách sao tui cạn tình nghen” – tôi nói dứt khoát.

Kiên còn dẫn mẹ tôi lên một lần nữa. Sau đó, hắn mất biệt. Mẹ tôi lại lặn lội đi một mình. Tôi bực bội ra tối hậu thư: “Má đừng có lên đây nữa, con khó ăn khó nói với người ta. Nếu má không nghe lời, con sẽ đổi chỗ ở, không cho biết số điện thoại luôn”.

Lần đó về, mãi 4 tháng sau mẹ tôi mới dám lên.

Đó chính là cái lần tôi đã vứt giỏ đồ ăn mà mẹ lụm cụm mang từ nhà lên cho tôi. Và vì giận mẹ không nghe lời nên tôi đã đổi chỗ ở và không thèm gọi điện thoại về nhà.

******

Cho đến một hôm, tôi bỗng thấy ruột gan mình bồn chồn. Tôi lục tìm số điện thoại của Kiên. Nhưng tôi tìm mãi mà chẳng thấy.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi sắp xếp lại đồ đạc, tôi tìm được quyển sổ trong đó có ghi số điện thoại của Kiên. Tôi mừng quýnh vội gọi ngay.

Vừa nghe tiếng Kiên, tôi đã líu lo: “Xin lỗi nghen, tui bỏ mất số điện thoại của ông, giờ mới tìm được. Ông sao rồi? Khỏe không? Cưới vợ chưa hay là còn chờ tui?”.

Không nghe Kiên trả lời, tôi lại ghẹo: “Ê, bộ còn giận hả?”.

Bên kia, giọng Kiên thật chậm: “Giận làm gì cái thứ không phải con người như bà”.

Tôi chột dạ: “Làm gì mà nặng lời như vậy? Ông thấy má tui khỏe không?”.

Không có tiếng trả lời.

Tôi sốt ruột: “Nói đi chớ, tốn tiền điện thoại của người ta…”.

Kiên thủng thẳng: “Giỏi lắm thì bà cũng chỉ tốn tiền điện thoại một lần này chớ mai mốt có muốn tốn cũng không được…”.

Tôi phát bực nên gắt: “Nói gì thì nói lẹ lẹ lên, không thôi tui cúp máy à”.

Lần này tôi không phải chờ lâu vì Kiên nói ngay: “Má bà mất rồi”. Tôi nghĩ là Kiên nói đùa: “Ê, hết chuyện giỡn rồi sao? Má tui đang mạnh sần, ông trù ẻo hả? Đồ xấu xa”.

“Còn bà là đồ bất hiếu. Muốn biết thì về. Tui cúp máy đây”.

Giọng Kiên cụt ngủn. Hắn cúp máy thật. Tôi gọi lại, chuông vẫn đổ nhưng hắn nhất quyết không nghe máy.

Bán tín, bán nghi, hôm sau tôi chạy về…

Kiên không hề nói đùa. Mẹ tôi đã mất cách nay hơn 3 tháng. Trước đó, bà đã bệnh không ăn uống cả tuần…

Kiên kể với tôi, hôm đám tang mẹ tôi, trời mưa tầm tã. Những người đưa đám đều khóc khi thấy người đứng ra lo ma chay cho mẹ tôi lại là Kiên.

“Tui có nhờ nhắn tin trên truyền hình, cả đăng báo nữa…” – giọng Kiên buồn buồn.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ. Kiên đã nói đúng. Tôi không chỉ là một đứa con bất hiếu mà thậm chí, tôi cũng không đáng làm một con người.

Tôi có mẹ mà như một đứa con hoang…

Thu Phong.