NGƯỜI VỢ ĐI TÌM CHỒNG – Truyen ngan HAY

BẢO TỒN TIẾNG VIỆT

NGƯỜI VỢ ĐI TÌM CHỒNG

Sau ngày miền Nam đổi thay, anh bị đưa đi tù cải tạo.

Ngày lên đường, anh chỉ kịp ôm vợ thật lâu rồi nhìn đứa con trai mới lên sáu.

— Em ở nhà lo cho con. Anh đi ít bữa rồi về.

Chị cố cười.

— Anh cứ yên tâm. Em chờ.

Chiếc xe chở anh khuất dần cuối con đường.

Chị đứng đó, một tay nắm tay con, một tay giữ chặt chiếc áo cũ của chồng.

Chị không biết “ít bữa” ấy sẽ kéo dài bao nhiêu năm.

Chỉ biết rằng từ ngày hôm đó, chị bắt đầu sống bằng một chữ chờ.

Một năm.

Hai năm.

Rồi nhiều năm trôi qua.

Tin tức về anh lúc có lúc không.

Người ta nói anh bị chuyển từ trại này sang trại khác.

Có người bảo tận miền Bắc.

Có người lại nói:

— Chắc không còn đâu chị à…

Chị không bao giờ chịu nghe hết câu.

— Chồng tôi còn chưa nói với tôi là ảnh không về, thì tôi chưa tin.

Ban ngày chị làm đủ thứ để nuôi con. Tối đến, chị lại ngồi bên ngọn đèn nhỏ, vá từng chiếc áo, dành dụm từng đồng.

Căn nhà nghèo. Bữa cơm nhiều khi chỉ có rau và chút cá khô.

Nhưng trong chiếc tủ gỗ cũ, chị luôn giữ một bộ quần áo mới. Không phải cho con. Mà cho chồng. Chị vẫn tin một ngày nào đó anh sẽ trở về.

Một buổi chiều, một người đàn ông lạ tìm đến.

Ông nhìn chị thật lâu rồi hỏi:

— Chị có phải vợ của anh… không?

Chị đứng bật dậy.

— Dạ phải. Anh là ai?

— Tôi là bạn tù của ảnh.

Chị run giọng:

— Anh biết chồng tôi?

— Tôi từng ở cùng trại với ảnh.

Chị nắm lấy cánh tay ông.

— Ảnh còn sống không anh?

Người đàn ông cúi đầu… Một khoảng im lặng kéo dài.

Rồi ông nói:

— Tôi phải nói thật với chị…

Tim chị như ngừng đập.

— Ảnh… mất rồi.

Chị đứng chết lặng, sụp xuống đất!

Nhưng ngay sau đó, người bạn tù nói tiếp:

— Ảnh mất trong trại. Những ngày cuối, ảnh cứ nhắc tới chị và đứa con. Ảnh nói… chỉ mong được gặp hai mẹ con một lần nữa.

Chị ngồi bệt xuống.Hai bàn tay ôm lấy mặt. Không có tiếng khóc lớn. Chỉ có đôi vai run lên từng hồi.

Bao nhiêu năm chị đi tìm một người sống. Cuối cùng lại nhận được tin về một người đã nằm xuống ở một nơi rất xa.

Người bạn tù lấy trong túi ra một mảnh giấy cũ.

— Tôi giữ được cái này của ảnh.

Đó là vài dòng chữ nguệch ngoạc. Chị đọc đi đọc lại. Chữ đã nhòe. Nhưng chị nhận ra ngay nét chữ của chồng. Chỉ mấy chữ:

“Nếu tôi không về được, nhờ anh báo cho vợ tôi biết. Tôi nhớ hai mẹ con nhiều lắm.”

Chị áp mảnh giấy vào ngực.

— Ảnh nằm ở đâu?

Người bạn tù nói tên một vùng đất xa xôi.

Chị hỏi:

— Tôi có thể tìm được mộ ảnh không?

— Khó lắm chị ơi. Sau từng ấy năm…

Chị im lặng.

Rồi nói:

— Khó cũng phải tìm.

Chị bắt đầu chuyến đi cuối cùng. Không còn là đi tìm chồng. Mà là đi tìm người chồng đã nằm lại.

Chị nghèo đến mức tiền mua vé tàu cũng phải chắt chiu từng đồng.

Người con khuyên:

— Má ở nhà đi. Con sẽ tìm cách.

Chị lắc đầu.

— Không.

— Má lớn tuổi rồi.

— Má là vợ mà.

Chị nhìn con.

— Nếu ba con nằm ở nơi nào đó một mình suốt hàng chục năm, má không thể để ba con nằm lại đó.

Chị bán đi vài món đồ trong nhà. Những thứ ít ỏi mà hai mẹ con đã dành dụm.

Người ta hỏi:

— Bán hết vậy rồi sống sao?

Chị chỉ nói:

— Nhà nghèo thì sống nghèo. Nhưng ba của con em phải về nhà.

Chuyến đi ấy gian nan hơn tất cả những chuyến đi trước.

Chị hỏi từng người. Tìm từng địa chỉ. Lần theo tên những tù trại cải tạo cũ.

Có nơi người ta không còn nhớ.

Có nơi nghĩa trang đã thay đổi.

Có những nấm mộ vô danh nằm lặng lẽ dưới cỏ.

Chị đi từng hàng. Đọc từng cái tên.

Có lúc không tìm thấy gì.

Chị ngồi xuống bên một gốc cây, nước mắt chảy dài.

— Anh ơi…

— Em đến tìm anh đây.

Không ai trả lời.

Chị đứng lên.

Lại đi.

Cuối cùng, nhờ người bạn tù và những người từng ở cùng trại, chị lần ra được nơi anh được chôn cất.

Một ngôi mộ đơn sơ.

Không bia.

Không ảnh.

Chỉ có một cái tên được ghi lại trong ký ức của những người còn sống.

Chị quỳ xuống. Bàn tay run run chạm vào mặt đất.

— Anh…

Chỉ một tiếng ấy. Bao nhiêu năm chờ đợi tan thành nước mắt.

— Em tới trễ quá.

Chị cúi đầu thật lâu.

— Nhưng cuối cùng em cũng tìm được anh.

Người ta khuyên chị:

— Thôi chị à. Để anh ấy nằm đây cũng được. Đường xa lắm, tốn kém lắm.

Chị lắc đầu.

— Không.

— Chị đưa ảnh về bằng cách nào?

Chị nhìn xuống ngôi mộ.

— Tôi chưa biết.

Rồi chị nói thật chậm:

— Nhưng tôi sẽ đưa chồng tôi về.

Ngày làm thủ tục cải táng, chị chỉ có vài người giúp đỡ.

Không có tiền.

Không có phương tiện.

Không có gì ngoài một lời hứa đã nói từ mấy chục năm trước.

“Anh cứ yên tâm. Em chờ.”

Giờ đây chị lại giữ lời hứa ấy lần nữa.

Chị muốn anh về quê.

Về nơi hai người từng cưới nhau.

Về căn nhà nghèo nơi anh đã ra đi.

Về bên đứa con mà anh chưa kịp nhìn thấy trưởng thành.

Khi chiếc hộp nhỏ được đặt trước mặt, chị đứng lặng rất lâu.

Rồi chị đặt tay lên đó.

— Về nhà thôi anh. Nha.

— Mình về nhà.

Ngày đưa anh về đến quê, người con trai đứng chờ ở đầu đường.

Anh đã trưởng thành. Nhưng khi nhìn thấy mẹ ôm chặt di hài của cha, anh vẫn bật khóc như một đứa trẻ.

— Ba về rồi, má ơi…

Chị gật đầu.

— Ừ.

— Ba về rồi.

Hai mẹ con đưa anh về căn nhà cũ. Bộ quần áo chị cất giữ suốt bao nhiêu năm vẫn còn đó. Chị lấy ra. Đặt ngay ngắn bên cạnh di ảnh.

Rồi chị ngồi xuống. Nhìn người chồng trong tấm hình.

— Em đã nói em chờ.

— Em chờ thật.

— Và em cũng nói… nếu anh không tự về được, em sẽ đi đón anh.

Chị mỉm cười qua nước mắt.

— Em làm được rồi.

Người vợ ấy nghèo. Rất nghèo. Nhưng cả cuộc đời chị có một thứ mà không tiền bạc nào mua được:

Một lời hứa với người mình thương.

Chị đã đi qua những năm tháng dài nhất của đời mình.

Từ miền Nam ra Bắc tìm chồng.

Tìm trong những trại tù.

Tìm trong những danh sách cũ.

Tìm giữa những nghĩa trang xa lạ. Và cuối cùng, khi biết anh đã nằm xuống từ lâu Chị vẫn đi.

Không phải để thay đổi quá khứ.

Không phải để trách móc ai.

Chỉ để làm một điều cuối cùng cho người chồng của mình:

Đưa anh về nhà.

Bởi có những người phụ nữ cả đời không cần chồng tặng mình một món quà.

Họ chỉ cần đến cuối đời có thể nói:

“Anh đã đi xa quá lâu rồi.

Thôi, về nhà với em, với con. Mình ơi ”

Phạm Sơn liêm.


 

 LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO

Xuyên Sơn

 LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO

Nhặt được ví của người giàu có, cậu bé đem trả nhưng lại xin một chút tiền, lý do đưa ra khiến đối phương vừa nghe đã phải xấu hổ

 CHIA SẺ

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring từng có một câu nói được rút ra từ chính kinh nghiệm của bản thân ông như thế này:

Đừng tùy tiện đưa ra lời phỏng đoán về người khác.

Vào thập niên 90 của thế kỷ 20, khi đi ngang qua vịnh San Francisco, Behring đột nhiên phát hiện ví tiền của mình đã biến mất.

Người trợ lý lo lắng:

“Có khi nào sáng nay chúng ta đi bộ qua khu ổ chuột ở Berkeley đã đánh rơi mất rồi, phải làm sao đây?”

Behring bất lực đáp:

“Đành đợi người nhặt được ví liên hệ chúng ta vậy.”

Hai tiếng sau, người trợ lý thất vọng lên tiếng:

“Thôi bỏ đi, đừng đợi nữa. Chúng ta đáng nhẽ không nên ôm hy vọng đối với những người ở khu ổ chuột đó.”

Người trợ lý cảm thấy khó hiểu:

“Trong ví còn có danh thiếp.

Nếu người nhặt được muốn mang trả, thì gọi cuộc điện thoại mất mấy phút đâu cơ chứ. Trong khi chúng ta đã chờ cả buổi chiều rồi, rõ ràng bọn họ không có ý định trả lại cho chúng ta mà.”

Nhưng Behring vẫn khăng khăng chờ đợi.

Khi bóng tối dần bao phủ, đột nhiên có tiếng chuông điện thoại reo lên.

Chính là người nhặt được chiếc ví gọi điện tới, yêu cầu họ đến đường XX nhận lại ví.

Người trợ lý rối rít bên cạnh:

“Đây liệu có phải là cái bẫy?

Có thể họ muốn gài chúng ta tới đó rồi tấn công hoặc tống tiền gì đó?”.

Behring không quan tâm tới lời nói của người trợ lý, lập tức phóng xe tới đó.

Khi tới điểm hẹn, một cậu bé mặc bộ quần áo rách rưới đi về phía họ và cái cậu bé đang cầm trên tay chính là chiếc ví mà Behring đã đánh rơi.

Người trợ lý đón lấy chiếc ví, đếm số tiền trong ví, không thiếu một đồng.

“Cháu có một thỉnh cầu”.

Cậu bé ngập ngừng nói, “Ông có thể cho cháu 1 ít tiền được không?”.

Khi đó, người trợ lý phá lên cười:

“Tôi biết mà…”.

Behring ngắt lời người trợ lý, mỉm cười hỏi cậu bé cần bao nhiêu tiền.

“Chỉ cần 1 đô là đủ ạ.”

Cậu bé ngại ngùng trả lời, “Cháu đi bộ rất lâu mới tìm thấy bốt điện thoại công cộng, nhưng trên người lại không có tiền, đành đi vay người ta 1 đô để gọi điện, bây giờ cháu cần tiền để trả người ta”.

Nhìn thấy đôi mắt trong veo của cậu bé, người trợ lý cúi đầu xấu hổ.

Còn Behring thì xúc động ôm chầm cậu bé.

Ngay sau đó, ông thay đổi kế hoạch từ thiện trước đấy, chuyển tiền đầu tư xây dựng một số trường học trong thành phố Berkeley, chuyên thu nhận những đứa trẻ không có tiền tới trường trong các khu ổ chuột.

Trong buổi lễ khai giảng, Behring phát biểu:

“Xin đừng tùy tiện phỏng đoán hay đánh giá về người khác. Thay vào đó chúng ta cần dành thời gian và cơ hội, đón nhận những trái tim thuần khiết và lương thiện. Một trái tim như vậy thật xứng đáng để chúng ta dày công vun đắp thành tài”.

   Pham Mylan

    Sưu tầm


 

Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.

Một người đàn ông gặp tai nạn xe hơi rất nghiêm trọng trên đường cao tốc và được đưa đến bệnh viện ở một thị trấn gần đó, vì vụ tai nạn xảy ra khá xa thành phố. Trong khi ở đó, anh ta gọi điện cho vợ cũ, người mà anh ta có mối quan hệ tồi tệ: anh ta liên tục kiện tụng cô ta ra tòa về quyền nuôi con trai, cố tình không trả một xu tiền cấp dưỡng nuôi con để ép cô ta nhượng bộ, và thẳng thắn mà nói, anh ta đã bỏ rơi cô ta.

Anh ta muốn được tự do và cặp kè với mọi phụ nữ anh ta gặp. Anh ta đang sống cuộc sống xa hoa ở biệt thự vùng quê, cho đến khi tai nạn xảy ra.

Và đó là lúc anh ta nhận ra mình không còn ai để nhờ vả. Cha mẹ anh ta đã già yếu và không thể giúp đỡ anh ta được gì; ngược lại, họ sẽ chỉ càng sợ hãi hơn. Bạn bè? Bạn bè nào chứ? Chỉ là những người quen biết và bạn nhậu, mỗi người đều bận rộn với việc riêng của mình. Tất nhiên, họ cũng chính là những người trước đây đã khuyên anh ta nên chấm dứt mối quan hệ với vợ cũ và cắt đứt nguồn tài chính của cô ta. Nhưng không ai trong số họ sẽ đi đến tận đó, đến một thị trấn hẻo lánh như vậy. Nếu anh ta ở trong một bệnh viện tốt ở thành phố thì có lẽ khác; nhưng ở một thị trấn nhỏ, không đời nào.

Toàn thân anh ta đau nhức khủng khiếp. Và anh ta vô cùng sợ hãi. Gọi điện cho các đối tác kinh doanh hay những cô gái anh ta đang hẹn hò đều vô ích, vì họ sẽ chỉ nói với anh ta câu kinh điển: “Cố lên! Mạnh mẽ lên! Mau chóng khỏe lại!”

Anh ta chắc chắn về điều đó như thể mình chắc chắn mình bị gãy hai chân. Và nỗi đau cũng tương tự.

Vì vậy, anh ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gọi cho vợ cũ: “Nina,” anh ta nói, “Anh bị tai nạn nặng. Anh đang ở bệnh viện này ở thị trấn kia. Anh chỉ gọi báo cho em biết phòng khi anh chết.” “Xin lỗi vì đã làm phiền. Gửi lời chào đến con trai nhỏ của em, Alex nhé.”

Và tất nhiên, Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta. Cô ấy không đến ngay lập tức, vì chính anh ta đã lấy xe của cô ấy. Cô ấy phải đi xe buýt liên tỉnh trước rồi mới đi xe buýt địa phương, nhưng cuối cùng cô ấy cũng đến. Cô ấy mang đến cho anh mọi thứ anh cần và bắt đầu làm mọi cách để chuyển anh đến một bệnh viện trong thành phố.

Một người phụ nữ trung niên, mệt mỏi, thừa cân, không hề quyến rũ, tay xách những túi đồ mua sắm, và không biết vì sao, bên trong một trong những túi đó lại có một bát canh gà nóng hổi và vài viên thịt viên. Còn người đàn ông thì gần như kiệt sức, anh thậm chí không thể tự ăn…

Nhưng anh đã vượt qua được. Anh mất một thời gian để hồi phục, nhưng anh đã vượt qua, và ngày nay anh sống với Nina, bởi vì cô ấy đã trở thành người bạn thân thiết thực sự của anh. Người thân cận nhất và là thành viên gia đình thân thiết nhất của anh. Thân thiết nhất trong tất cả.

Cuối cùng anh cũng nhận ra khi nằm trên giường bệnh: rằng một số mối liên kết mạnh mẽ hơn bất kỳ điều phù phiếm nào khác trong cuộc sống này… Đó là những mối liên kết của tình yêu, của định mệnh và của chính cuộc sống.

Và mỗi chúng ta nên dừng lại và suy nghĩ: chúng ta sẽ gọi cho ai nếu có chuyện không may xảy ra với mình? Ai sẽ bắt xe buýt… với một bát súp trên tay? Ai sẽ ở đó để chăm sóc chúng ta và dọn dẹp mớ hỗn độn khi chúng ta thậm chí không thể tự di chuyển?

Có lẽ không ai cả. Có thể chỉ có một người, hoặc nhiều nhất là hai người… Nhưng chắc chắn đó sẽ là người thân trong gia đình chúng ta. Gia đình đích thực của chúng ta. Những người thân yêu của chúng ta, với tất cả những khuyết điểm và đức tính tốt đẹp của họ. Và chúng ta không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ được thô lỗ với những người đó, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và bản thân chúng ta cũng phải sẵn sàng lên xe buýt nếu có cơ hội… Hoặc xe buýt công cộng, với hộp đựng thức ăn trong túi.

Và với vài xu cuối cùng trong túi quần…

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 Đầu của cô đã bị cạo trọc. Máy chém đang chờ sẵn. Rồi một người đàn ông xuất hiện và cứu mạng cô, bằng cách giao cho cô công việc đáng sợ nhất ở Paris.

Cô sẽ sống sót. Và cô sẽ xây dựng cả một đế chế từ chính điều đó.

Bạn biết tên cô. Madame Tussaud.

Cô sinh ra với tên Anna Maria Grosholtz vào năm 1761, tại thành phố Strasbourg của Pháp, chỉ hai tháng sau khi cha cô tử trận. Người mẹ góa bụa của cô nhận công việc quản gia tại Bern, Thụy Sĩ, trong ngôi nhà của một bác sĩ người Thụy Sĩ trầm lặng và lập dị tên Philippe Curtius, người có một niềm ám ảnh kỳ lạ và ngày càng lớn dần.

Ông tạc tượng bằng sáp.

Ban đầu, ông tạo hình giải phẫu cho sinh viên y khoa. Sau đó, ông bắt đầu tạo khuôn mặt của người chết. Và rồi, cả khuôn mặt của người sống. Ông làm chân dung bằng sáp của các công tước, nữ công tước, triết gia và những người cách mạng, những tác phẩm sống động đến mức đám đông tụ tập tại triển lãm ở Paris chỉ để đứng nhìn.

Curtius coi cô bé Marie như con gái và dạy cô mọi thứ ông biết.

Đến năm 16 tuổi, cô đã tạo tác phẩm đầu tiên, một tượng bán thân bằng sáp của Voltaire, nhà triết học nổi tiếng nhất châu Âu lúc bấy giờ.

Khi mới ngoài hai mươi, Marie Grosholtz đã tài năng đến mức em gái của vua Louis XVI, công chúa Élisabeth of France, đã mời cô đến Versailles làm giáo viên nghệ thuật riêng và người tâm sự. Marie sống nhiều năm trong cung điện hoàng gia Pháp, giữa lụa là, bạc vàng và những lời thì thầm về cách mạng.

Rồi năm 1789, thế giới mà cô biết bốc cháy.

Ngục Bastille sụp đổ. Nhà vua bị bắt. Đường phố Paris ngập tràn đám đông và máu. Và những người cách mạng, truy tìm bất cứ ai có liên hệ với hoàng gia, đã tìm đến cô.

Cô bị tống vào một nhà tù ở Paris.

Đầu cô bị cạo.

Cô chỉ còn vài ngày trước khi lên máy chém, số phận giống hàng ngàn người khác, thì Curtius bằng cách nào đó biết được việc cô bị bắt. Ông vội vàng đến gặp những người cách mạng. Ông cho họ xem các tác phẩm của cô, chân dung Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Benjamin Franklin, và cầu xin rằng cô là một nghệ sĩ của tự do, không phải người ủng hộ hoàng gia.

Điều đó đã có hiệu quả.

Marie được thả.

Nhưng chính quyền cách mạng đưa ra một điều kiện. Để chứng minh lòng trung thành, cô phải làm một công việc mà gần như không ai dám làm.

Cô sẽ tạo mặt nạ tử thần cho mọi nhân vật nổi tiếng bị xử bằng máy chém.

Cô bắt đầu với những người mà cô từng quen biết.

Cô làm mặt nạ tử thần của vua Louis XVI, người từng chào đón cô vào cung điện.

Cô làm mặt nạ của Marie Antoinette, người từng bước qua cô trong hành lang Versailles.

Cô làm mặt nạ của công chúa Élisabeth of France, người mà cô từng dạy dỗ và yêu quý.

Khi nhà báo cấp tiến Jean-Paul Marat bị Charlotte Corday đâm chết trong bồn tắm, Marie được gọi đến nhanh đến mức, như bà viết trong hồi ký, “cơ thể ông vẫn còn ấm”. Bà làm mặt nạ tử thần ngay tại đó, trong làn nước nhuốm máu.

Khi Maximilien Robespierre, kiến trúc sư của Thời kỳ Khủng bố, bị xử tử, bà cũng làm mặt nạ của ông. Khuôn mặt ông bị biến dạng vì đã tự bắn mình trước đó một ngày, và bà tái hiện đúng như những gì bà thấy.

Trong hồi ký, bà kể lại một điều gần như quá u tối để tưởng tượng. Sau các cuộc hành quyết, bà viết rằng mình ngồi “trên bậc thềm của triển lãm, với những chiếc đầu đẫm máu đặt trên đầu gối, lấy khuôn khuôn mặt của họ.”

Đó là công việc đáng sợ, nguy hiểm và gần gũi với cái chết đến mức không thể tưởng tượng. Và bà đã làm điều đó suốt nhiều năm, bởi vì lựa chọn còn lại là lưỡi dao.

Khi Curtius qua đời năm 1794, ông để lại cho bà toàn bộ bộ sưu tập sáp và hai bảo tàng. Marie trở thành người sở hữu duy nhất của một trong những ghi chép sống động nhất về Cách mạng Pháp, chính là khuôn mặt thật của những người đã tạo nên và chết trong cuộc cách mạng ấy.

Năm 1802, Marie rời Paris mãi mãi.

Bà đưa con trai nhỏ và các tượng sáp vượt qua eo biển Manche đến Anh và không bao giờ gặp lại chồng nữa. Trong suốt 33 năm, bà đi khắp vùng quê Anh bằng xe ngựa, từ thị trấn này sang thị trấn khác, tổ chức triển lãm trong những hội trường thuê đầy bụi, bán vé với giá một shilling. Những khán giả chưa từng đến Paris giờ có thể tận mắt nhìn thấy mặt nạ tử thần thật của Marie Antoinette, chỉ cách họ vài bước.

Năm 1835, ở tuổi 74, khi nhiều phụ nữ cùng thời đã nghỉ ngơi từ lâu, Marie Tussaud định cư tại London, trên phố Baker, và mở bảo tàng sáp cố định đầu tiên trên thế giới.

Bà là một người mẹ đơn thân đã sống sót qua cuộc cách mạng đẫm máu nhất thời hiện đại. Bà xây dựng đế chế của mình từ những cái đầu bị chặt và ý chí sinh tồn, một mình, tại một đất nước mà bà gần như không nói được ngôn ngữ.

Năm 1842, ở tuổi 81, bà tạo tác phẩm sáp cuối cùng, một bức chân dung tự họa. Một người phụ nữ lớn tuổi với ánh mắt sắc sảo, đội mũ trắng, bình thản nhìn những vị khách.

Bức tượng đó vẫn đứng ở lối vào bảo tàng Madame Tussauds tại London cho đến ngày nay.

Bà “nhìn” từng vị khách, trong suốt 183 năm.

Bà qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 16 tháng 4 năm 1850, ở tuổi 88.

Lần tới khi bạn chụp ảnh cùng một tượng sáp người nổi tiếng, hãy nhớ rằng cả một ngành công nghiệp bắt đầu từ một người phụ nữ trẻ đáng lẽ đã phải chết, ngồi trên bậc thềm ở Paris, với những chiếc đầu của các vị vua trên đầu gối, làm công việc duy nhất có thể giữ bà sống sót.

Có những con người được lịch sử tạo nên.

Còn Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử.


 

MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.

Cô ấy mất cả tay và chân, nhưng cô ấy không để bi kịch cướp đi tương lai của mình.

Ngày 30 tháng 10 năm 2002, cuộc đời của Daniela García, một phụ nữ Chile 22 tuổi, đã mãi mãi chia làm hai giai đoạn “trước” và “sau”.

Cô là sinh viên y khoa năm thứ tư, đang đi tàu đến dự một sự kiện của trường đại học. Khi cố gắng chuyển từ toa này sang toa khác, cô đã ngã xuống đường ray.

Hậu quả thật khủng khiếp: cô mất cả hai tay và cả hai chân.

Dường như cùng với đôi chân, cô cũng mất đi tất cả những gì mình mơ ước: trở thành bác sĩ, sống độc lập, lập gia đình và sống một cuộc sống bình thường.

Nhưng Daniela đã quyết định đi theo một con đường khác.

Cô phải học lại cách làm những việc mà hầu hết chúng ta làm một cách vô thức: mặc quần áo, ăn uống, đi lại, sử dụng chân tay giả và chấp nhận cơ thể mới của mình.

Đây không chỉ là một câu chuyện truyền cảm hứng.

Có những cơn đau, sự kiệt sức, nỗi sợ hãi, và hàng trăm lần cố gắng mỗi ngày.

Dù vậy, cô ấy đã quay trở lại trường đại học.

Bốn năm sau tai nạn, cô tốt nghiệp ngành Y tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Chile. Sau đó, cô chuyên về vật lý trị liệu và phục hồi chức năng.

Cô trở thành bác sĩ trong chính lĩnh vực mà nhiều năm trước đã giúp cô xây dựng lại cuộc sống của mình.

Hiện tại, Daniela làm việc với Teletón Chile, hỗ trợ trẻ em và thanh thiếu niên trải qua quá trình phục hồi chức năng khó khăn. Cô cũng tham gia vào việc đào tạo các chuyên gia tương lai.

Ngoài ra, cô đã trở thành vợ và mẹ của ba đứa con.

Câu chuyện của cô không phải về những người mạnh mẽ không bao giờ khóc hay cảm thấy sợ hãi.

Nó nói về điều gì đó sâu sắc hơn nhiều.

Hoàn cảnh có thể làm tổn thương một người, nhưng điều đó không có nghĩa là họ phải mãi mãi bị tổn thương.

Daniela không lấy lại được cuộc sống như trước thảm kịch.

Cô đã xây dựng một cuộc sống mới, tràn đầy đam mê, gia đình, tình yêu và phục vụ người khác.

Đã có thời điểm cô ấy cần đến bác sĩ, chân tay giả và phục hồi chức năng.

Ngày nay, cô ấy đứng bên cạnh những người mới bắt đầu hành trình của mình, chứng minh bằng chính cuộc đời mình rằng:

ngay cả sau mất mát to lớn, cuộc sống không kết thúc. Nó có thể thay đổi mãi mãi nhưng vẫn tươi đẹp và tràn đầy ý nghĩa.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Elle. 


 

TẤM SÉC KHỐNG. – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

TẤM SÉC KHỐNG.

Một chủ doanh nghiệp nhỏ đang chìm trong nợ nần và không còn thấy lối thoát nào. Các chủ nợ liên tục gọi điện, nhà cung cấp đòi thanh toán, và dường như mỗi ngày lại xuất hiện thêm một hóa đơn mà ông không thể trả nổi.

Một buổi chiều nọ, quá tải và kiệt sức, ông đi bộ đến một công viên gần đó chỉ để giải tỏa đầu óc. Ông ngồi xuống một chiếc ghế đá, úp mặt vào hai bàn tay và cố gắng nghĩ ra bất cứ điều gì có thể cứu công ty của mình khỏi phá sản.

Một lúc sau, một người đàn ông lớn tuổi dừng lại trước mặt ông.

“Trông ông có vẻ đang rất lo lắng,” người lạ mặt nói. “Ông có muốn kể cho tôi nghe chuyện gì đang xảy ra không?”

Chủ doanh nghiệp do dự, nhưng cuối cùng cũng kể hết mọi chuyện: khoản nợ, vấn đề dòng tiền, các nhà cung cấp chưa được thanh toán, và các ngân hàng đã từ chối đơn xin vay vốn của ông.

Người đàn ông lớn tuổi lắng nghe mà không ngắt lời.

Khi câu chuyện kết thúc, ông gật đầu và nói, “Tôi nghĩ tôi có thể giúp ông.”

Ông hỏi tên người doanh nhân, lấy ra một cuốn sổ séc, viết một vài dòng và đưa cho ông ta tấm séc.

“Cầm lấy cái này. Gặp tôi ngay đây một năm nữa. Đến lúc đó, anh có thể trả lại tiền cho tôi.”

Trước khi doanh nhân kịp hỏi thêm câu nào, ông lão đã biến mất vào đám đông.

Ông nhìn xuống tờ séc và chết lặng. Trên đó ghi 500.000 đô la.

Và chữ ký ở dưới cùng là: John D. Rockefeller.

Doanh nhân khó có thể tin vào mắt mình. Rockefeller từng là một trong những doanh nhân giàu có và quyền lực nhất trong lịch sử nước Mỹ.

“Với số tiền này,” ông nghĩ, “mình có thể giải quyết mọi vấn đề của mình ngay hôm nay.”

Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, ông đã đưa ra một quyết định khác.

Ông cất tờ séc vào két sắt và quyết định không rút tiền.

Chỉ cần biết nó ở đó đã mang lại cho ông thứ mà ông đã thiếu suốt nhiều tháng: sự tự tin. Ông bắt đầu tin rằng ngay cả khi mọi việc diễn ra tồi tệ, ông vẫn có một chỗ dựa an toàn.

Sự thay đổi trong tư duy đó đã ảnh hưởng đến cách ông làm việc.

Ông quay lại với các nhà cung cấp và thương lượng các điều khoản thanh toán tốt hơn.  Ông ấy đã theo đuổi những cơ hội mà trước đây mình từng quá nản chí để theo đuổi. Ông ấy trở nên tự tin hơn trong các cuộc họp, thực hiện những thương vụ thông minh hơn và chốt được một số hợp đồng lớn.

Dần dần, áp lực giảm bớt.

Trong vòng vài tháng, ông ấy đã trả hết phần lớn nợ nần. Chẳng bao lâu sau, công ty lại có lãi.

Đúng một năm sau, ông ấy quay lại công viên đó với tấm séc còn nguyên vẹn trong túi.

Đúng lúc đó, ông lão xuất hiện.

Người doanh nhân mỉm cười và bước về phía ông, háo hức trả lại tấm séc và nói cho ông biết mọi chuyện đã thay đổi như thế nào.

Nhưng trước khi ông kịp nói gì, một y tá chạy đến và nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay ông lão.

“Ông đây rồi!” cô ấy reo lên. Rồi cô ấy quay sang người doanh nhân. “Tôi hy vọng ông ấy không làm phiền ông. Ông ấy thỉnh thoảng đi lạc khỏi viện dưỡng lão và nói với mọi người rằng ông ấy là John D. Rockefeller.”

Người doanh nhân đứng đó không nói nên lời.

Suốt cả một năm trời, ông đã làm việc, đàm phán, mua bán và xây dựng lại công ty của mình với niềm tin rằng nửa triệu đô la sẽ luôn sẵn có nếu ông thực sự cần đến.

Nhưng tấm séc đó chưa bao giờ có giá trị gì.

Và đột nhiên ông hiểu ra một điều quan trọng.

Không phải tiền bạc – dù là thật hay tưởng tượng – đã cứu vãn công ty của ông.

Mà chính là sự tự tin mà tấm séc mang lại.

Ông đã ngừng suy nghĩ như một người đang chờ đợi thất bại và bắt đầu hành động như một người vẫn còn cơ hội. Niềm tin đó đã thay đổi quyết định, lòng can đảm và cuối cùng là kết quả của ông.

Đôi khi điều thay đổi cuộc đời bạn không phải là một cơ hội mới, một tài khoản ngân hàng lớn hơn, hay ai đó đến giải cứu bạn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là khoảnh khắc bạn bắt đầu tin tưởng vào chính mình một lần nữa.

Hãy chủ động thay vì chờ đợi điều kiện hoàn hảo. Trong những thời điểm quan trọng, sự tự tin có thể là sức mạnh thay đổi mọi thứ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie. 


 

BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

BỨC THƯ MẸ GỬI CON TRAI GÂY BÃO CỘNG ĐỒNG

Con trai à,

Giờ nay vợ chồng con và các cháu đã ngủ chưa. 10 gio  đêm mẹ mới dọn hàng cá để về, trời mưa nên cá vẫn ế rất nhiều. Trên đường về nhà, mắt mờ nên mẹ chẳng nhìn rõ đường nữa, không may va phải một nhóm thanh niên, khiến quần áo của họ bị thùng cá đổ lên. Mẹ đã vội vàng giải thích và xin lỗi, nhưng nhóm người đó chỉ nhìn mẹ rồi nói:

”Chó thật, bà đi đứng thế à?. Biết bộ quần áo này đắt tiền thế nào không? Già rồi thì ở nhà đi, ra đường làm gì gây phiền phức cho người khác.”

Với người bình thường khi nghe câu đó chắc hẳn họ phải tức giận lắm, nhưng mẹ lại thấy bình thản, thậm chí là vui lắm. Lâu nay mẹ đều muốn làm một con chó, nhưng là con chó mà vợ chồng con vẫn đang nuôi ấy.

Con trai biết không, bố mất sớm, một mình mẹ với gánh cá cũng đã hơn 35 năm nuôi con khôn lớn. Ra trường con tìm được công việc ổn định, cưới vợ đẹp, có nhà, có xe. Mẹ mừng lắm, cuối cùng con trai mẹ cũng bằng người ta.

Nhưng căn nhà của con lộng lẫy quá, khác xa căn nhà cấp 4 mẹ đang ở, nắng thì oi bức mà mưa thì mẹ phải mang hết nồi niêu xoong chảo ra để hứng nước.

Mẹ nhớ con vô cùng, mỗi lần con gọi điện về mẹ vui mừng lắm. Còn bảo con có thể về đón mẹ lên chơi nhà con, thăm vợ chồng con và 2 đứa cháu nội được không.

Mẹ có thể nghe thấy tiếng thở dài, khó chịu và có chút hậm hực của con:

Mẹ lên đây làm gì, con bận bao nhiêu việc đâu thể về chăm sóc cho mẹ được. Hơn nữa giá xăng thì đang lên, con về chở mẹ lên thì mua được 5 kg thịt cho con Mực ăn rồi. Mẹ nhớ đúng không? Con mực là con chó mà con được đối tác tặng ấy, giá của nó là 40 triệu đấy.

Làm sao mà mẹ không nhớ được, hồi nhỏ con cũng rất thích nuôi chó. Nhưng lúc đó nhà mình nghèo, tiền ăn tiền học cho con mẹ còn phải chắt góp từng đồng thì sao đủ gạo mà nuôi chó được. Mẹ định bảo thôi không chở mẹ lên thành phố thì 1 tuần con gọi mẹ 2 lần cũng được. Nhưng chưa kịp nói thì đã thấy con Mực sủa lên đòi ăn thì con đã tắt máy để chăm sóc cho con chó rồi.

Từ cuộc điện thoại đó đến nay cũng 3 tháng rồi con chưa gọi cho mẹ lần nào. Bệnh đau khớp chân của mẹ lúc nào cũng tái phát, mẹ đau chẳng thể ngủ nổi. Nhưng mẹ không dám gọi làm phiền con.

Chờ mãi không thấy con gọi, cũng chẳng thấy con đưa vợ con về thăm mẹ. Thế là có đứa cháu ông Tư hàng xóm nhà mình lái xe lên thành phố nên mẹ nhờ chở mẹ đến thăm con, tạo bất ngờ cho con luôn.

Mẹ mang cá, rau, thịt mua ở quê mang lên cho các con ăn cho đảm bảo sức khỏe. Nhưng vừa thấy mẹ ở cổng tay xách nách mang con đã hậm hực:

“Mẹ lên sao không báo trước, mà mẹ ăn mặc kiểu gì thế? Trông quê không chịu được. Mấy mớ rau cá này mang lên làm gì, ai ăn đâu”.

Lúc đầu mẹ chỉ nghĩ con sợ mẹ không có tiền nên bảo vậy. Nhưng không, lúc nào con mang toàn đồ thức ăn mẹ mang lên ném vào thùng rác.

Đến giờ cơm trưa mẹ thấy con mang thịt bò, hải sản loại tốt mua ở siêu thị lớn để cho con Mực ăn. Cách con chăm sóc con chó khiến mẹ chạnh lòng. Con ơi, có thể nào con cũng chăm sóc cho mẹ giống như con chó của con được không. Mẹ định thốt lên như thế nhưng sợ con giận nên lại không dám nói gì.

Chiều đến con lại mang con Mực đi tắm, đi dạo rồi ôm nó vuốt ve. Nhà của con Mực cũng đẹp, còn có tấm nệm bằng lông cừu mà con khoe là mua tận bên nước ngoài lần đi công tác. Nệm của nó còn ấm và đắt hơn cả chiếc nệm mẹ nằm 10 năm nay nữa. Mẹ chợt nhận ra đã lâu con không ôm mẹ, những chuyện con kể với con Mực còn nhiều hơn với mẹ.

Lúc mẹ đói lả người, tìm đồ ăn nhưng đồ đạc nhà con toàn thứ hiện đại mẹ dùng chẳng quen. Tới lúc con Mực sủa lên vì đói thì mẹ thấy con trộn thứ cơm gì đó thơm ngon lắm, nhìn hấp dẫn vô cùng. Lúc này mẹ bèn xin con một bát thì con quát lên:

”Đến cơm của chó mẹ cũng đòi ăn sao? Nhà con đầy thứ ăn đó, mẹ không tự lấy được à?”

Con đi làm về câu đầu tiên không chào mẹ mà chạy đến ôm lấy con Mực mà vuốt ve nó, nựng yêu nó. Nó có bị ốm thì con cho đi bác sỹ, chăm sóc hết sức chu đáo. Nhưng tới lúc mẹ ốm thì con chẳng hỏi thăm, còn quát:

“Thôi mẹ về đi, lên đây không hợp khí hậu nên mới ốm. Vợ chồng con đi làm cả ngày, mẹ mà để lây bệnh sang chúng con thì làm sao có tiền đây. Thế này thì con Mực nó đói là chết con đấy”

Đêm đó mẹ nghĩ mẹ chẳng thể chịu đựng được nữa. Cách con quan tâm con chó, mẹ thấy sinh mạng của nó còn quan trọng hơn mẹ nữa.

Con trai à, nếu có kiếp sau, để mẹ được đầu thai làm con chó mà con nuôi được không?.

Câu nói này khiến tất cả những đứa con phải suy ngẫm: Kiếp sau mẹ muốn làm con chó của con có được không?. Bởi lẽ con chó còn được quan tâm, yêu thương hơn cả cha mẹ mình.

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển. Vậy mà có những người con coi trọng con chó hơn cả cha mẹ của mình. Đây là một trong số câu chuyện có thật ở ngoài xã hội kia. Cũng là câu chuyện tiêu biểu về tình thân trong gia đình.


 

NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG

Anh Hai là con trai duy nhất mà 30 tuổi vẫn độc thân nên ba má tôi sốt ruột lắm.

Hồi đó, tới tuổi băm mà “chưa có gì” thì thế nào cũng xảy ra nhiều suy diễn kiểu như “chắc thằng đó kỹ tính quá”.

Đàn ông con trai mà bị mang tiếng kỹ tính thì coi như… hết cứu.

Chị em tôi lần lượt “bấm còi” vượt mặt, anh Hai vẫn giậm chân tại chỗ, mặc kệ má tôi bồng bế cháu ngoại, nói gần nói xa, rồi hỏi thẳng:

– “Tới chừng nào con mới chịu cho má bế cháu nội?”.

Anh Hai cười hì hì trốn sự thúc giục của má bằng cách xách cưa và búa lên chùa.

Ba má tôi là Phật tử, từ khi còn nhỏ, anh chị em tôi đã được ba má dắt tới chùa lễ Phật và tập làm công quả như quét sân, kết hoa vải, dọn dẹp trong những ngày lễ lớn…

Nhà chùa đang chuẩn bị mở lớp học cho các em nhỏ lang thang.

Bàn ghế thu gom từ các nơi cần được sửa chữa và anh Hai đảm nhận phần việc này.

Trong số các giáo viên tình nguyện đến dạy các em, có một cô dạy toán là người theo đạo Công giáo.

Chuyện bắt đầu từ đây.

Anh Hai tôi thường xuyên lên chùa nhưng không chỉ để làm công quả mà còn để đưa đón cô dạy toán.

Ba má tôi cắn răng thở dài, ông bà mong biết mấy được thấy con trai có đôi có cặp, nhưng khi có rồi thì vui không nổi.

Con trai đầu có bổn phận cúng kính mà lấy vợ khác đạo thì làm sao?

Anh Hai biết tình yêu của mình gây khó cho ba má, nên chẳng dám nói năng gì, cũng không dám đưa chị về chào gia đình.

Tôi hỏi nhỏ:

– “Anh đã tới chào ba má chị chưa?”. Anh Hai lắc đầu.

Tôi hiểu là nhà bên đó cũng chẳng đồng tình.

Hai gia đình biết rõ con mình thương ai, nhưng làm như không biết.

Thời đó, chuyện yêu đương mà chưa có tiếng nói của người lớn thì coi như chuyện ngoài đường.

Giả vờ như không biết, nhưng ba má tôi âm thầm theo dõi, thấy anh đưa chị đi lễ nhà thờ.

Và nhà bên ấy cũng thầm theo dõi, thấy chị theo anh lên chùa lễ Phật ngày rằm.

Hai bên cùng thấy, cùng biết và cùng nín lặng chờ đợi.

Chờ đợi gì cũng không rõ, có lẽ, không bên nào muốn là phía đầu tiên thốt lời khiến con mình đau khổ.

Mối tình của anh Hai kéo dài đến năm thứ ba thì má tôi không kiên nhẫn được nữa.

Con mình là con trai, lỡ có bề gì thì mang tiếng ác với con gái người ta.

Má ra tối hậu thư “hoặc tình, hoặc hiếu”.

Anh Hai cúi đầu chọn bên hiếu.

Lựa chọn của anh Hai khiến má mềm lòng, nhưng thật ra, do âm thầm theo dõi, má đã sinh lòng mến thương người con gái hiền ngoan, vừa đẹp vừa nhân hậu, biết đến với trẻ em khốn khó.

Được con dâu như vậy thì cũng đáng để má chịu lùi một bước.

Má thuyết phục ba cho phép anh Hai ngỏ lời với nhà bên đó, với điều kiện đạo ai nấy giữ.

Ba má chị lắc đầu, với lời phân tích ngọn ngành rành mạch là phải từ chối người con trai nghề nghiệp đàng hoàng, tính tình tử tế, hiền lành thì cũng tiếc lắm, nhưng mai này sinh con ra thì làm sao?

Đứa nào theo cha lên chùa, đứa nào theo mẹ đi nhà thờ?

Ừ thì cho phép chúng tự chọn đức tin, nhưng khi mới sinh ra chưa biết gì thì cha mẹ là người dìu dắt, lúc đó làm lễ rửa tội thì sao?

Đã nhận lễ rồi thì dĩ nhiên là con của Chúa, ông bà nội có chịu không?

Câu trả lời của ba má tôi là không, cháu nội nhất định phải theo đạo nhà mình.

Vậy là anh chị chia tay.

Để khỏi gặp gỡ, khỏi xao lòng, chị không đến chùa dạy lớp học tình thương nữa,

người thay thế chị là anh Hai.

Trước đó, anh chỉ làm những việc công quả cần sức vóc đàn ông, tới lúc ấy, anh nhận luôn việc dạy học. Bọn trẻ thắc mắc:

– “Sao cô không dạy tụi em nữa hả thày?”,anh Hai trả lời:

-“Tại các em làm cô buồn”.

Bọn nhóc chẳng hiểu câu trả lời này, thường ngày đứa nào cũng có nhiều lần nói chuyện trong lớp, không làm bài tập về nhà, rồi cãi nhau chí chóe…

Cô giáo buồn là đúng rồi.

Anh Hai gầy sọm đi. Cả nhà tôi thở dài, bệnh buồn tình chỉ có thầy thuốc

thời gian chữa lành mà thôi.

Chữa lành thật không, tôi tự hỏi khi thấy anh Hai vẫn đi về một mình, vẫn cười cười nói nói nhưng ánh mắt chẳng còn sáng lên lấp lánh.

Bỗng một ngày, tai nạn xe cộ bất ngờ cướp đi mạng sống của anh Hai.

Đám tang anh, chị lặng lẽ đến vào buổi tối, khi khách viếng đã ra về hết.

Chị lặng lẽ chảy nước mắt trước di ảnh của anh.

Nén nhang chị thắp cũng như người, lặng lẽ tỏa làn khói mỏng mà làm cay mắt tất cả.

Ba tôi lau nước mắt quay mặt đi, còn má tôi ôm lấy chị mà nức nở.

Quá muộn màng!

Sư thầy nói tục lệ đốt quần áo cho người chết đem theo là mê tín dị đoan,

lãng phí, thay vì vậy, hãy đem làm từ thiện để làm phước.

Tôi rủ chị xếp áo quần của anh để đem đi cho.

Những ngón tay chị run run vuốt từng nếp vải như đây mới đúng là lần cuối cùng chị được chạm vào anh.

Tôi chọn cái áo màu xám tro anh hay mặc, muốn nói chị hãy đem về giữ cho riêng mình, nhưng cái đầu tỉnh táo của tôi lại nghĩ, nỗi nhớ đã đủ làm khổ chị rồi, tốt nhất là để chị quên anh đi.

Tục lệ quê tôi là người vừa nằm xuống sẽ cảm thấy lạnh lẽo nên hằng ngày sẽ đốt củi sưởi ấm ngôi mộ.

Sáng sớm, tôi chở má xuống nghĩa trang, ngang qua cổng, ông bảo vệ hỏi thay lời chào:

-“Con dâu của dì là cô giáo hả?”.

Má tôi chảy nước mắt nhìn chị và bọn nhỏ lớp tình thương xúm xít mỗi đứa một khúc củi xếp lên nhau.

Rồi những bàn tay nhỏ bé khum khum nối nhau che gió cho chị mồi lửa.

Tôi và má đứng lại ở xa xa nhìn tới, để cho chị được tự do chăm sóc anh.

Má tôi vừa khóc vừa nói:

-“Biết vậy thì hồi đó má đã gật đầu. Chúa và Phật đều dạy người ta thiện tâm mà”.

Không ai biết trước được điều gì, nếu biết trước thì chẳng ai nỡ làm đau người khác.

Tôi thường nói vậy để an ủi ba má và cũng là tự nói với mình.

Tới tận ngày giỗ lần thứ bảy của anh Hai, sáng sớm mang hoa xuống mộ,

tôi vẫn gặp chị bên cạnh đống lửa; lứa học trò ngày đó đã phiêu bạt khắp nơi, chị ngồi một mình…

Truyện: Tương Giang

Nguồn fb Tuấn Mai SG 


 

 Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen…

Phan Thế Nghĩa

 Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen mà không ai muốn nhận: 46 năm sau, cuộc đời của họ sẽ khiến bạn không khỏi xúc động…

 Năm 1979, thế giới của Richard Miller như lặng đi khi người vợ Anne qua đời. Ngôi nhà vốn tràn đầy những ước mơ về một gia đình có con cái, giờ đây trở nên trống vắng. Bạn bè khuyên ông nên tái hôn, nhưng ông vẫn ghi nhớ những lời cuối cùng của Anne:

“Đừng để tình yêu chết cùng em. Hãy trao tình yêu ấy cho một nơi

nào đó để nó tiếp tục sống.”

Vào một đêm mưa bão, số phận đưa ông đến một cô nhi viện mang tên St. Mary’s. Tại đó, ông nhìn thấy chín bé gái nhỏ, tất cả đều bị bỏ rơi cùng một lúc. Tiếng khóc yếu ớt của các em vang vọng dọc những hành lang.

Không ai muốn nhận cả chín đứa trẻ. Việc các em bị chia lìa dường như là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng Richard cúi xuống trước các em, giọng nghẹn ngào, rồi nói:

“Tôi sẽ nhận nuôi tất cả các cháu.”

Lúc đó nhưng người xung quanh cho rằng ông đã điên. Nhân viên xã hội nghi ngờ khả năng của ông. Người thân chế giễu. Hàng xóm xì xào:

“Một người đàn ông da trắng thì làm gì với việc nuôi chín bé gái da đen?”

Nhưng Richard bán đi những tài sản mình có, làm thêm hai ca, và tự tay đóng chín chiếc nôi cho các con.

Những đêm dài của ông giờ đây là những bình sữa, những lời ru và việc chải tóc, tết tóc cho các con dưới ánh đèn trong căn bếp.

  Cuộc sống vô cùng vất vả, nhưng tiếng cười của các cô bé, những câu chuyện mà Anne từng kể và cá tính ngày càng lớn của từng đứa trẻ đã gắn kết cả gia đình lại với nhau.

Sarah với tiếng cười lan tỏa đến mọi người.

Naomi tinh nghịch và đầy sức sống.

Leah với một trái tim nhân hậu.

Từng đứa một, họ lớn lên thành những thiếu nữ – có người trở thành giáo viên, có người làm y tá, có người trở thành những người mẹ.

Nhưng họ chưa bao giờ quên người đàn ông đã lựa chọn họ vào thời điểm mà không ai muốn nhận họ.

  Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Trong khoảnh khắc ấy, ông nhìn thấy điều kỳ diệu mà Anne từng mong ước:

Tình yêu không chết đi cùng Anne. Nó đã được trao cho chín cô bé, và từ đó lớn lên thành cả một đại gia đình.

46 năm sau…

Căn nhà nhỏ ngày nào đã thay đổi hoàn toàn.

Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Chín cô bé năm nào giờ đã trở thành những người phụ nữ trưởng thành.

Họ không chỉ xây dựng cuộc sống riêng mà còn luôn giữ một điều đặc biệt trong lòng: họ chưa bao giờ quên rằng Richard đã chọn họ khi cả thế giới dường như muốn chia lìa họ.

Có lần một người hỏi Sarah:

“Điều gì khiến cô nhớ nhất về cha mình?”

Sarah mỉm cười và trả lời:

“Tôi không nhớ ông đã mua cho chúng tôi những gì. Tôi nhớ ông chưa bao giờ để chúng tôi cảm thấy mình là những đứa trẻ bị bỏ rơi.”

Naomi cũng kể rằng ngày nhỏ, mỗi khi một trong các chị em hỏi:

“Ba có phải ba ruột của chúng con không?”

Richard luôn trả lời:

“Ba không sinh ra các con. Nhưng ba đã chọn các con. Và ba sẽ chọn các con mỗi ngày.”

Câu nói ấy đã theo họ suốt cuộc đời.

Nhiều năm trôi qua, chín người con lần lượt lập gia đình, có công việc và có những đứa con của riêng mình. Ngôi nhà của Richard ngày càng vui vẻ hơn.

Ngày trước, ông phải thức dậy giữa đêm để pha chín bình sữa.

Giờ đây, ông lại thức dậy vì tiếng chân của những đứa cháu chạy khắp nhà.

Vào một buổi tối năm 2025, tất cả các con và các cháu cùng trở về nhà.

Richard ngồi ở đầu bàn, nhìn quanh.

Một bên là những cô con gái mà ông từng bế trên tay.

Bên kia là những đứa cháu mà ông chưa bao giờ tưởng tượng mình sẽ có.

Ông im lặng rất lâu.

Rồi ông nhìn lên bức ảnh của Anne treo trên tường.

Ông khẽ nói:

“Em thấy không, Anne? Anh đã làm theo lời em.”

Ông từng nghĩ sau khi Anne qua đời, tình yêu của mình cũng sẽ chấm dứt.

Nhưng ông không ngờ rằng tình yêu ấy sẽ được trao cho chín đứa trẻ, rồi từ chín đứa trẻ ấy lại tiếp tục lan sang những người chồng, người vợ, những đứa cháu và cả những thế hệ sau…

Và có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của câu chuyện:

  Gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc cùng chung dòng máu. Đôi khi, gia đình bắt đầu bằng một người quyết định nói: “Tôi sẽ không bỏ các con.”

Và 46 năm sau, chín cô bé từng bị bỏ rơi đã trở thành minh chứng sống cho quyết định ấy.

  • (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ 

  David Attenborough Fans).