BÀN TAY CHA – TG: VÔ DANH – Truyen ngan HAY
BÀN TAY CHA – TG: VÔ DANH
(Kính gửi đến những người Cha, những người lính quân lực VNCH anh hùng)
Bàn Tay Cha
Father’s Day lại về trên đất Mỹ. Trong các cửa hàng, người ta bày bán những tấm thiệp in hình chiếc cà vạt, cây gậy golf, chiếc ly có dòng chữ “World’s Best Dad”. Nó đứng lặng giữa những kệ hàng rực rỡ ấy, và không hiểu sao mắt bỗng thấy cay cay. Bởi trên đời này, không một tấm thiệp nào vẽ nổi đôi bàn tay của cha nó.
Đôi bàn tay ấy, đã có một thời cầm súng.
Nó không được tận mắt thấy những năm tháng cha nó khoác áo lính, nhưng nó biết — trong những bức hình cũ ố vàng, người sĩ quan trẻ đứng nghiêm dưới lá cờ vàng 3 sọc đỏ, ánh mắt sáng và sống lưng thẳng như cây tùng. Cha nó thuộc về một thế hệ mang lý tưởng giữ gìn miền Nam, một thế hệ chọn chữ “trách nhiệm” làm lẽ sống. Rồi tháng Tư năm ấy, đất trời sụp đổ. Người ta bắt cha nó buông súng, và cũng từ đó, bắt luôn cả tuổi xuân, cả tự do của người cha.
Cộng sản đày cha nó ra tận Sơn La — cái tên mà mỗi lần cha nó nhắc đến, giọng cha nó lại chùng xuống như có gì đó vĩnh viễn nằm lại nơi ấy. Rừng thiêng nước độc, nơi sương mù phủ kín đỉnh núi quanh năm, nơi muỗi rừng và sốt rét rình rập từng thân người. Hơn 9 năm trong những trại tù mà họ gọi bằng cái tên mỹ miều “cải tạo”. 9 năm đôi bàn tay từng quen với bản đồ và quân lệnh phải cuốc đất, phá rừng, gánh đá.
Cha nó kể, phần ăn mỗi ngày chỉ là vài củ sắn sượng, một nắm hột bắp mốc, mà bụng thì cồn cào như có lửa đốt. Đói đến mức người tù phải nhặt cả những đọt rau rừng, con cào cào, con dế mèn để cầm hơi. Đói đến mức có người bạn tù của cha nó, ăn cả trái bả đậu để vượt qua cơn đói, sáng còn gọi nhau dậy đi lao động, chiều đã không gượng nổi mà nằm xuống sàn cầu xí vì cơn tiêu chảy hành hạ sau khi ăn trái bả đậu, tối đến người bạn tù mắt nhắm lại giữa cơn sốt rét cuối cùng.
Và chính đôi bàn tay cha nó — đôi bàn tay từng cầm súng giữ nước — đã cầm lấy chiếc cuốc, lặng lẽ đào huyệt chôn người đồng đội ngay bên triền rừng âm u ấy. Không một vòng hoa. Không một tiếng kèn. Chỉ có nắm đất đỏ và những giọt nước mắt nuốt ngược vào trong, vì khóc lớn cũng là một thứ xa xỉ mà người tù không được phép. Cha nó bảo, mỗi lần lấp đất cho một người bạn, là một lần cha nó tự hỏi không biết ngày mai có ai lấp đất cho mình. Vậy mà cha nó vẫn sống. Vẫn gắng sống. Bởi ở quê nhà, có một người vợ và một đàn con đang ngày đêm ngóng đợi.
Cha nó trở về với mái tóc đã điểm bạc trước tuổi, với đôi bàn tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn không hề van xin ai một điều gì. Ngày về, không có quân hàm, không có chức phận, chỉ còn một người chồng, một người cha với đàn con nheo nhóc và một mái nhà dột nát. Và thế là đôi bàn tay từng cầm súng, từng đào huyệt chôn bạn nơi rừng sâu ấy, nay ghì lấy càng chiếc xe xích lô.
Mười năm trời. Nó nhớ lại — mười năm còng lưng trên chiếc yên xe, dưới cái nắng miền Nam chói chang như đổ lửa. Mười năm tấm lưng cha nó gò xuống, ướt đẫm mồ hôi, từng thớ thịt căng ra đạp ngược những con dốc giữa trưa hè bỏng rát. Mặt đường nhựa nóng đến mức bốc hơi, hắt lên rát cả mặt người. Cha nó đạp xe dưới mưa, dưới nắng, đạp từ tờ mờ sáng đến khi đèn đường đã lên.
Người đời nhìn cha nó, họ thấy gì? Họ thấy một thằng cu li đạp xích lô. Một gã phu xe đen đúa, áo rách lưng còng, một kẻ tay chân đen đúa không một mảnh giấy lận lưng. Có những người khách ngồi ngoảnh lưng lại cha nó mà chẳng buồn nhìn mặt, có kẻ còn buông lời sai khiến, mặc cả từng đồng như mặc cả với một thân phận thấp hèn.
Họ đâu biết — họ đâu thể biết — người phu xe đang gò mình kéo họ đi kia từng là một sĩ quan đứng thẳng dưới lá quân kỳ, từng chỉ huy cả một đơn vị, từng đọc sách thánh hiền và mang trong tim một lý tưởng lớn hơn cả mạng sống mình. Cái nhìn khinh miệt của người đời, cha nó nuốt vào lòng như đã từng nuốt ngược nước mắt nơi rừng Sơn La.
Cha nó chẳng bao giờ thấy nhục. Bởi mỗi đồng bạc lẻ cha nó mang về, nhàu nát và thấm mồ hôi, là một bữa cơm, là một quyển vở, là một ngày con được tiếp tục đến trường. Người lính ngày xưa không gục trong trại tù, thì nay cũng quyết không để đàn con thất học giữa cảnh nghèo.
Rồi cánh cửa nước Mỹ mở ra theo diện nhân đạo. Cánh cửa mà cha đã trả giá bằng cả 9 năm tù đày. Nó cứ ngỡ sang đến miền đất hứa, cha sẽ được nghỉ ngơi. Nhưng không. Ở cái tuổi lẽ ra phải an dưỡng, cha nó lại lao vào những nhà xưởng, đứng dây chuyền, bưng bê, lau dọn, với đồng lương tối thiểu và thứ tiếng Anh chắp vá.
Nó không bao giờ quên những buổi sáng mùa đông xứ người. Trời còn tối đen, tuyết phủ trắng xóa, cái lạnh cắt da cắt thịt mà người miền nhiệt đới như cha nó chưa từng quen. Cha nó lái chiếc xe cũ kỹ mua lại bằng những đồng tiền dành dụm — chiếc xe già nua đến mức mỗi sáng phải khấn vái mới chịu nổ máy. Rồi có những đêm tuyết giá, trên con đường vắng tanh, chiếc xe ấy chết máy giữa đường, nằm ì ra như một con vật kiệt sức.
Cha nó đứng đó, một mình giữa trời tuyết, hai bàn tay tê cóng run rẩy lật từng nắp máy, hơi thở phả thành khói trắng, trong lúc cái lạnh thấu xương và bóng đêm vây quanh. Cha nó về đến nhà, đôi tay đỏ ửng nứt nẻ, nhưng vẫn mỉm cười bảo với nó: “Không sao, ba quen rồi.”
Khi ấy nó đâu hiểu hết hai chữ “quen rồi” ấy nặng đến nhường nào. Cha nó già đi từng ngày trong im lặng, chẳng một lời than. Tất cả, chỉ để anh em nó được bước vào giảng đường đại học — nơi mà chính cha đã phải bỏ dở vì chiến cuộc, vì tù tội, vì cả một đời dâng hiến cho những điều lớn hơn bản thân mình.
Và rồi cái ngày ấy đã đến. Ngày nó đứng trên bục, đội chiếc mũ tốt nghiệp, tay nâng tấm bằng đại học danh giá. Nó đưa mắt tìm cha giữa đám đông. Cha nó ngồi đó, trong bộ áo vest đã cũ, đôi bàn tay chai sần đặt lên đầu gối. Và lần đầu tiên trong đời, nó thấy người lính ấy khóc. Những giọt nước mắt lăn trên gò má hằn vết thời gian — không phải nước mắt của yếu đuối, mà là nước mắt của một đời người cuối cùng đã thấy hạt giống mình gieo trong gian khó nở thành hoa.
Trong giây phút ấy, nó chợt hiểu ra một điều mà nó sẽ mang theo đến hết cuộc đời. Người đời có thể gọi cha nó là thằng cu li đạp xích lô. Người đời có thể bảo cha nó là kẻ dốt nát, không một tấm bằng. Nhưng họ đã lầm. Tấm bằng nó đang cầm trên tay đây, ghi tên nó, nhưng không phải của nó. Nó là tấm bằng của xương máu pha lẫn mồ hôi & nước mắt người cha. Bao nhiêu năm nó đèn sách, là kết tinh của mấy mươi năm cha nó còng lưng dưới nắng. Cái mũ tốt nghiệp nó đội trên đầu, được dệt nên từ những đêm cha nó run rẩy giữa trời tuyết.
Cái học vị cao nhất ở xứ người mà nó đạt tới ấy, thật ra chính là học vị của một người cha chưa từng được ngồi giảng đường — người đã viết luận án của đời mình không phải bằng mực, mà bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng cả máu thịt mình suốt mấy mươi năm. Cha nó không có bằng cấp, nhưng cha đã tốt nghiệp trường đời với tấm bằng cao quý nhất: tấm bằng của lòng hy sinh.
Người ta thường nói đến những vị anh hùng trong sử sách. Nhưng với nó, anh hùng là người đã nhiều lần đứng dậy từ đống tro tàn của đời mình — là người lính giữ nước, là người tù đào huyệt chôn bạn mà vẫn không gục ngã, là người phu xe mười năm còng lưng nuôi con giữa những lời khinh miệt, là người công nhân già lặng lẽ giữa trời tuyết xứ người — mà chưa một lần để lòng tự trọng và tình thương phai nhạt.
Cha nó là người lính trọn đời không phản bội lời thề với tổ quốc. Là người chồng chưa một ngày buông tay người vợ tào khang giữa cơn hoạn nạn. Là người cha đã đem cả cuộc đời mình lót đường cho các con đi tới.
Mùa Father’s Day này, nó không còn được mua tấm thiệp nào cả. Nó chỉ còn biết cúi đầu, quỳ xuống trước mộ người cha và lặng lẽ thốt lên:
“Con cảm ơn cha”
-Father Day 2026-
From: Tu-Phung
CÁCH MẠNG MUÔN NĂM – Truyen ngan
CÁCH MẠNG MUÔN NĂM.
Trích đoạn truyện ngắn: (NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TẮM) của Thiết Ngưng (chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc) về cách mạng văn hóa Mao ít.
… Một ngày mùa thu năm 1966, Khiêu mới là học sinh lớp 1, được dự đại hội phê đấu rất ồn ào náo loạn diễn ra ở sân trường …
Cứ từng đợt từng đợt học sinh lại giơ cánh tay non nớt, từng đợt từng đợt hô rất mạnh mẽ những khẩu hiệu như: “đả đảo con đĩ Đường Tân Tân” là cô giáo của trường, dạy toán bậc trung học phổ thông. Khiêu còn nghe những bạn nam bàn luận ở phía sau, chẳng nhẽ cô giáo ấy lại là một con đĩ sao?
Cô giáo Tân bị mấy nữ học sinh dẫn lên sân khấu, trước ngực viết mấy hàng chữ bằng mực đen: “Tôi là một con đĩ”… dòng chữ làm Khiêu ghê người, trong ý niệm của cô bé, con đĩ không chỉ là xấu xa mà còn là xấu xa nhất trong những người xấu xa, xấu hơn cả địa chủ, nhà tư bản. Khiêu nghĩ không hiểu một người lớn lại tự nhận “tôi là một con đĩ” nhỉ ?
Cô giáo Tân chừng 30 tuổi, da trắng, người gầy, quá gầy và trắng, cắt tóc ngắn và sống mũi cao, trông như một cây tăm… Cô đúng là một cây tăm mà không phải là cây dương liễu, bởi trông cô mảnh mai nhưng cứng rắn, cô như cây tăm cắm trên mặt bàn, mấy nữ học sinh lớp trên cứ xô đẩy nhưng cô vẫn không chịu quì mà cũng không cúi đầu… Khiêu có phần đồng tình với cô giáo Tân bởi cô đẹp. Đẹp, chỉ thế thôi.
… chợt có một phụ nữ trạc tuổi trung niên mặc áo cánh xẻ tà mầu mỡ gà lên sân khấu, xỉa xói vào cô giáo Tân:
– “Gọi mày là con đĩ oan ức lắm à? tao hỏi mày, mày đã lấy chồng chưa? Mày chưa bao giờ lấy chồng, mày chưa lấy chồng mà đã có con, thế thì mày ngủ với ai? khai thật ra”.
Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên:
“Mụ Tân phải khai ra! không khai thì thầy giáo và học sinh cách mạng sẽ không tha!”…
Một học sinh nam lớn tuổi đi vòng ra phía sau cô giáo Tân đạp mạnh vào khuỷu chân cô giáo, cô giáo “hự” lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống. Cả sân trường hoan hô, vậy là cái cô giáo chết cũng không chịu quỳ đã bị bọn học sinh lớn khuất phục. Đại hội phê đấu tiếp tục, mấy giáo viên trẻ thay nhau lên phát biểu, chỉ trích gay gắt cô giáo Tân đã giấu giếm chuyện quan trọng trong cuộc sống riêng, lừa dối để được đồng nghiệp tin tưởng, nhà trường tín nhiệm, học sinh tin yêu. Các em học sinh hãy nghĩ xem, một sự việc ghê tởm biết chừng nào, một phụ nữ suy đồi về đạo đức, tác phong xấu xa như thế mà có thể là cô giáo… Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên: – “Mụ Tân phải cút khỏi trường, không cút thì những người kế tục sự nghiệp cách mạng của nhà trường sẽ không tha!”… “còn nữa, hàng xóm của mụ còn phản ánh, ở trường mụ Tân giả bộ giản dị, ở nhà thì sống theo lối sống của giai cấp tư sản, mụ nuôi mèo, đối với mèo còn tốt hơn đối với người, có hôm mụ ta dám ngồi ngoài sân ôm con mèo, hôn hít nó! trời đất ơi, hôn mèo!”
Cả sân trường cười ồ lên, tiếp theo là khẩu hiệu tỏ ra phẫn nộ hơn: “đả đảo con đĩ Tân Tân”
Những cái xấu của cô giáo Tân càng nói càng nhiều, chỉ bắt cô quỳ nghe khẩu hiệu thôi thì chưa đủ. Nhất là khuôn mặt gầy, trắng trẻo kia tỏ vẻ đối địch, nhất định không nói điều gì càng làm cho những người trên sân khấu thêm phần nộ khí xung thiên. Một học sinh nam lớn tuổi gí ngay chiếc giầy lính hắn đang đi vào mặt cô giáo và nói:
– “Mèo của giai cấp tư sản mày còn hôn, chẳng nhẽ mày không hôn giầy của giai cấp vô sản hay sao!”
Hắn vừa nói vừa gí giày vào mặt cô giáo. Một nữ sinh đến gần ấn đầu cô giáo xuống, bắt cô áp miệng vào chiếc giày của thằng kia; rất nhiều cái chân cùng giơ ra, bắt cô giáo phải áp miệng vào những chiếc giầy đầy bụi bẩn.
Cả sân trường sôi sục, trên sân khấu người đứng lố nhố. Học sinh ngồi dưới cũng không trật tự nữa, chúng xô đẩy, có đứa trèo lên ghế, có đứa chen nháo nhào lên sân khấu để xem cho rõ…
Bỗng có mùi thối, không hiểu ai đã đem đến 1 ca phân. Chỉ nghe có tiếng nói:
– “Quá lắm, mụ Tân không chịu hôn giầy của chúng ta, mồm mụ chỉ xứng đáng ăn cứt! Đúng, đúng… bắt mụ phải khai thành thật , không khai phải ăn cứt!”
Phân xuất hiện làm cả sân trường trật tự trở lại, mùi thối làm mọi người ngơ ngác. Đúng là phân được đựng vào ca uống nước đưa lên sân khấu đã kích thích dây thần kinh sâu nhất trong cơ thể con người. Sức uy hiếp của phân đã lên đài như thế.
Những người chen đến sát sân khấu bỗng lùi lại, những người đứng trên ghế ngồi cả xuống. Giống như một vở diễn, bắt đầu mở màn người xem còn nhốn nháo, khi vở diễn đến hồi gay cấn thì mọi người cùng chăm chú thưởng thức. Bắt cô giáo ăn phân có thể là hồi gay cấn của đại hội phê đấu này.
Ca phân đặt trước mặt cô giáo Tân, chỉ cách cô chừng 1 mét. Vẫn khuôn mặt trắng trẻo. Mọi người chờ cô khai báo thành thật, vì cớ gì mà không nói…
Trái tim Khiêu như có ai bóp chặt, nó cứ mong cho cô giáo nói ngay ra, như thế cô giáo không phải ăn phân. Nhưng nhiều người không nghĩ như Khiêu, bon họ không muốn cô giáo khai báo. Khi mọi người phải lựa chọn khai báo và ăn phân thì bọn họ muốn không phải là thấy người kia khai báo, mà muốn thấy người đó ăn phân.
Cô giáo không nói mà cũng không chịu ăn. Lúc này có 1 một thằng học sinh lớn đến nói với cô giáo Tân:
– “Nếu mụ không chịu khai báo, không chịu ăn cứt thì chúng ta còn có cách khác, lẽ nào quần chúng cách mạng lại chịu thua con đĩ này, chúng ta điệu đứa con gái của mụ lên đây cho mọi người thấy, cho mọi người trông thấy đứa con gái của mụ, bằng chứng cho hành động đĩ thõa tội lỗi của mụ ta”.
Cô giáo Tân không còn giữ nổi bình tĩnh nữa. Khiêu thấy cô lê bằng đầu gối đến trước ca phân, cô không chờ cho tiếng hò hét đinh tai nhức óc của bọn người kia tắt đi mà đi đến quyết định dứt khoát, để lại cho Khiêu một ấn tượng suốt đời không thể quên. Cô giáo quì gối bưng ca phân lên, nhìn vào trong ca một lúc, rồi trước mặt mọi người, đưa lên ăn…
Khiêu về nhà, việc đầu tiên là đánh răng súc miệng, tưởng như phải dùng hết ống kem đánh răng. Đánh răng làm Khiêu nôn ọe, nôn ọe rồi lại đánh răng. Đánh răng xong, Khiêu đưa nhẹ cái bàn chải vào họng cho nôn thốc nôn tháo. Khiêu nôn ra thức ăn, cuối cùng là nước nhờn. Nôn xong lại đánh răng, hai tay bịt mũi bịt miệng, bịt thật chặt, hà hơi thật mạnh. Rồi Khiêu cũng yên tâm trong miệng mình sạch sẽ, sạch như kem đánh răng. Khiêu lấy khăn lau miệng, lau đi lau lại, miệng đỏ lên, bật cả máu, đau cả miệng… Khiêu ở trong nhà vệ sinh rất lâu…
(Copy từ: Lê Tích).
Chỉ là một sinh mạng. Chỉ là một đứa trẻ.
Vào lúc 0 giờ 30 phút rạng sáng ngày 11 tháng 7 năm 2022, Nick Bostic, 25 tuổi, đang lái xe trên những con đường gần như vắng lặng của thành phố Lafayette, bang Indiana. Anh vừa cãi nhau với bạn gái và đang trải qua một trong những đêm mà người ta chỉ muốn lái xe để suy nghĩ. Cửa kính xe hạ xuống, không có điểm đến cụ thể.
Rồi anh nhìn thấy một ngọn lửa nhỏ bốc ra từ một ngôi nhà trên phố Union.
Anh phanh gấp. Lùi xe lại. Rẽ vào lối dẫn vào nhà. Anh không mang theo điện thoại. Anh cố ra hiệu cho một chiếc xe đang đi ngang qua, nhưng không ai dừng lại. Anh chạy tới cửa sau ngôi nhà và hét lớn:
“Có ai ở trong nhà không? Có ai ở đây không?”
Khi lên tới giữa cầu thang, anh tìm thấy họ: một cô gái 18 tuổi tên là Seionna Barrett, một em bé 20 tháng tuổi, hai bé gái 13 tuổi và một bé gái 6 tuổi. Giữa sự hoảng loạn, khói và hỗn loạn, anh đã đưa được một số người ra sân sau an toàn trước.
Nhưng rồi Seionna bắt đầu nhìn quanh với vẻ tuyệt vọng. Khuôn mặt cô tái nhợt.
Cô không tìm thấy Kaylani, em gái mình. Bé mới sáu tuổi. Bé vẫn còn mắc kẹt bên trong.
Lửa đã lan rộng. Ngọn lửa giờ đây có thể nhìn thấy từ nhiều cửa sổ. Khói đen cuồn cuộn bốc ra khỏi ngôi nhà. Nick nhìn vào bên trong thêm một lần nữa rồi quay lại lao vào.
Anh lục tìm từng căn phòng, vừa gọi tên Kaylani. Khói dày đặc đến mức không thể nhìn thấy bàn tay trước mặt. Nhiệt độ nóng đến nghẹt thở. Có lúc anh đã nghĩ đến việc nhảy qua cửa sổ để thoát thân khi vẫn còn cơ hội.
Rồi anh nghe thấy tiếng khóc.
Tiếng khóc của một đứa trẻ.
Ở tầng dưới.
Trong phòng khách.
Một trong những khu vực nguy hiểm nhất của ngôi nhà.
Anh kéo áo thun che mặt rồi tiến về phía âm thanh. Anh nằm rạp xuống sàn và bò qua làn khói dày đặc. Cuối cùng anh tìm thấy cô bé.
Kaylani Barrett.
Sáu tuổi.
Một mình trong bóng tối.
Lúc này, việc xuống cầu thang đã không còn khả thi. Lựa chọn duy nhất là quay trở lên tầng trên, tìm một cửa sổ và nhảy xuống. Anh bế Kaylani tới một căn phòng rồi đập vỡ kính bằng chính nắm tay trần của mình. Máu chảy dọc cánh tay. Chân cô bé bị mắc vào dây kéo rèm cửa. Anh buộc mình phải giữ bình tĩnh, nhẹ nhàng gỡ ra trong khi ngôi nhà vẫn đang bốc cháy xung quanh.
Anh đặt Kaylani vào tư thế có thể bảo vệ cô bé nhiều nhất có thể rồi nhảy từ tầng hai xuống.
Cú tiếp đất rất mạnh.
Cánh tay phải của anh bị rách sâu.
Cơ thể bị bỏng.
Anh hít phải lượng lớn khói độc đến mức phải nhập viện.
Các sĩ quan cảnh sát thành phố Lafayette tới nơi đúng lúc anh rơi xuống. Camera gắn trên người họ ghi lại cảnh Nick loạng choạng bước tới, trao Kaylani cho người khác, rồi gục xuống vỉa hè và liên tục hỏi chỉ một câu:
“Con bé có ổn không? Làm ơn nói với tôi rằng con bé ổn.”
Kaylani chỉ bị thương nhẹ.
Cả năm người đều sống sót.
Nick được chuyển khẩn cấp tới bệnh viện trong tình trạng nghiêm trọng. Phổi của anh bị tổn thương. Cánh tay phải được băng bó kín. Nhưng anh đã sống sót.
Anh không muốn được gọi là anh hùng.
Anh nói với các phóng viên rằng mình chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm; rằng nếu chính anh bị mắc kẹt trong một ngôi nhà đang cháy, anh cũng hy vọng người đi ngang qua sẽ làm điều tương tự.
Năm 2023, Nick Bostic được trao Carnegie Medal, một trong những phần thưởng dân sự cao quý nhất dành cho lòng dũng cảm tại Hoa Kỳ và Canada. Giải thưởng này được trao từ năm 1904 cho những người sẵn sàng liều mạng để cứu người khác.
Kaylani Barrett lớn lên với sự thật rằng em vẫn còn sống vì một người xa lạ đã quyết định quay trở lại bên trong ngôi nhà đang cháy.
Nick vẫn sống ở Lafayette. Khi được hỏi về đêm hôm đó, anh thường trả lời giống nhau:”Mọi thứ đều xứng đáng.”
Đối với những ai suy ngẫm về quyết định của Nick Bostic quay trở lại khi anh đã làm nhiều hơn bất cứ điều gì người ta có thể mong đợi thì câu hỏi anh lặp đi lặp lại trên vỉa hè đã nói lên tất cả:
“Con bé có ổn không?”
Điều đó cho thấy thứ thực sự thôi thúc anh băng qua ngôi nhà đang cháy không phải là danh tiếng, không phải sự công nhận, cũng không phải một khái niệm trừu tượng về chủ nghĩa anh hùng.
Chỉ là một sinh mạng.
Chỉ là một đứa trẻ.
Chỉ là nhu cầu rất đỗi con người: được biết rằng một người khác đã sống sót.
Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng – Bs Nguyễn Bảo Trung-Truyen ngan HAY
Công Tú Nguyễn – Chuyện tuổi Xế Chiều
Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng – Bs Nguyễn Bảo Trung
Một lần nọ tôi đi khám bệnh từ thiện cho những đứa trẻ mồ côi tật nguyền ở Thủ Đức. Thật ra tôi không muốn đi, vì đó là Chủ Nhật, ngày để nghỉ ngơi. Ngày mà tôi có thể nằm dài trên sofa vừa uống bia vừa xem trận bóng ngoại hạng, thi thoảng gào lên tức tối, cứ y như là cả cuộc đời chỉ có mỗi chuyện đá bóng vào gôn là có ý nghĩa.
Tôi khám qua quýt cho xong. Lúc ra về tôi lướt qua những ma sơ chăm sóc trẻ. Họ chẳng có gì đặc biệt, không phấn son với những chiếc áo dòng màu xanh. Nhưng khi gần tới cổng, tôi thấy một ma sơ dáng người nhỏ thó, chiếc lưng còng xuống, vẻ như đang gánh một vật gì đó quá lớn trên vai. Cam chịu. Cô chỉ có một cánh tay trái, cánh tay phải đã cụt.
Khi bước qua, tôi cúi đầu chào theo phép lịch sự tối thiểu của một bác sĩ. Nhưng lúc cúi xuống, vô tình tôi cảm nhận được một mùi hương thanh thoát tỏa lan nhẹ nhàng từ cánh tay đang kéo chiếc cổng sắt nặng nề.
Tại sao ma sơ tật nguyền này lại có đôi tay thơm tho đến thế?
Câu hỏi đó theo tôi suốt chặng đường về. Để rồi từng đêm từng đêm tôi bị mùi hương đó ám ảnh. Tôi nói với đồng nghiệp, Mọi người đều bật cười và trêu: Mày nên đi khám tâm thần, bị ảo khứu, nguy hiểm lắm. Ha ha… sau những nụ cười vui vẻ ấy tôi đâm hoang mang. Không lẽ mình bị tâm thần? Không lẽ đôi tay xấu xí, tật nguyền ấy lại có thể ám mình? Tôi có rất nhiều đôi tay để ám cơ mà? Những đôi tay hồng hào, mềm mát như gió của bạn tình, những đôi tay đầy ma lực từng ngón như rắn lên xuống, làm tôi kiệt sức bao lần.
Quyết không để mình bị tâm thần lãng như vậy, tôi đi Thủ Đức một chuyến nữa. Vẫn người ma sơ có đôi tay gớm ghiếc ấy mở cổng và vẫn mùi hương thanh khiết bay, váng vất như hương hoa hồ điệp. Người ma sơ tên Thị Mây bối rối cúi xuống trả lời khi nghe tôi hỏi: Dạ… tại sơ bị tai nạn giao thông. Chỉ vậy thôi, đúng chỉ vậy thôi, tai nạn giao thông nghiền nát cánh tay phải của ma sơ. Như vậy đó, ừ thì cũng như bao người cụt chân, cụt tay khác bị tai nạn. Thế thôi. Có gì mà vướng bận?
Tôi quay về Sài Gòn, nhủ lòng mình rảnh và vớ vẩn quá. Lo công việc đi, còn bao nhiêu thú để ăn chơi, còn bao nhiêu bàn tay đẹp để nắm, để sờ mò những khi bản năng thôi thúc, đúng không? Nhưng tất cả vẫn như cũ. Hết ngày rồi lại đêm mùi hương cánh tay đó vẫn thoang thoảng quanh tôi. Khi thì dịu dàng như mùi hoa chanh, khi thì nồng nàn như mùi hoa nguyệt quế. Tôi sợ đến nỗi, tưởng mình đã điên. Sao kỳ lạ đến như vậy? Một ma sơ có đôi tay cụt vì tai nạn thì có gì là bất thường? Tôi điện thoại cho thằng bạn thân, thạc sĩ chuyên khoa tâm thần, nó cười hú hú lên rồi phán: Mày bị con nhỏ “viêm cánh “ bỏ bùa rồi, ha ha ha, mày có gu với mùi hôi đó, cưới đi, để tối tối hít hít ngửi ngửi cho sướng, ha ha ha. Tôi cũng ha ha ha trong ngượng ngùng.
Nhân dịp có chuyên gia tâm lý bên Mỹ qua dự hội nghị Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân tai biến mạch máu não. Tôi liên lạc xin một cuộc hẹn để tư vấn. Thật khó, vì bà ta không có ý định là qua Việt Nam khám chữa bệnh. Người nước ngoài rất rõ ràng trong công việc. Sau khi hỏi hết mọi chuyện, bà Rose, chuyên gia tâm lý Mỹ, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi dừng ở khoảng giữa. Tôi hơi ngượng một chút với cái nhìn soi mói ấy.
– Lần cuối cậu quan hệ tình dục khi nào?
Tôi quan hệ tình dục thì liên quan gì đến vụ ám ảnh cánh tay cụt, tôi suy nghĩ như thế, nhưng vẫn trả lời: “Cách đây ba tháng”.
– Tại sao lâu thế? Tôi nghĩ vấn đề của cậu là thiếu thốn trong việc quan hệ, hay không thỏa mãn trong vấn đề chăn gối nên mới như vậy. Trời… Sao người nước ngoài hay liên kết mọi sự rắc rối cuộc sống vào trong tình dục thế kia? Hay họ xem việc đó cũng giống như ăn, ngủ, cầu nguyện?
Bó tay. Tôi hay dùng nhiều từ “thông dụng” như thế. Chứ còn biết làm gì? Nhiều khi ngủ tôi mở bung hết cửa sổ xịt nước hoa khắp phòng mà không thể đuổi được mùi hương đó.
Tôi đành quấy quả trở xuống Thủ Đức. Vẫn người ma sơ có cái tên quê mùa Thị Mây ấy mở cổng. Và vẫn lời đáp nhẹ như bấc, sơ bị tai nạn giao thông. Nhưng ánh mắt ma sơ nhìn tôi rất khó hiểu.
Lần này tôi không về vội, tôi đi lang thang trong khuôn viên ngôi nhà dòng dưới hàng cây bàng xanh thẳm lá. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Không gian thật thoáng đãng và thanh bình. Bầu trời rất trong và mây trắng trôi nhởn nhơ. Tôi giật mình tự hỏi, sao tháng ngày qua tôi cuống cuồng hết đi rồi chạy, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng để được gì? Tôi chưa bao giờ chịu dừng lại ngồi xuống bên một tách trà thơm để ngắm nhìn cuộc sống, hay đơn giản hơn để đọc một trang sách.
Vô tình tôi nhìn vào căn phòng đối diện. Tiếng cười the thé của lũ trẻ tật nguyền vọng ra, có một ma sơ già ngồi giữa chúng. Bà ta vỗ tay nhè nhẹ vào nhau, hết nghiêng nhìn đứa này ríu rít cười, đến nghiêng nhìn đứa kia nheo mắt. Cả căn phòng như bừng sáng. Thứ ánh sáng trong trẻo thánh thiện. Nụ cười móm mém không có son môi, không có phấn má, mà sao đẹp đến thế. Lũ trẻ bu quanh chạy tới chạy lui ríu rít. Tiếng ú ớ vỡ ra thành hàng ngàn tiếng leng keng reo lên trong gió. Tôi như chết lặng, sững sờ trước hình ảnh ấy. Đẹp quá, thật quá, lộng lẫy quá. Nắng chan hoà, gió cũng chan hoà. Không biết bao lâu tôi mới choàng tỉnh. Bối rối nhận ra có một linh mục già ngồi kế bên. Khuôn mặt ông ta toát lên một vẻ hiền từ bình an. Ánh mắt như chờ đợi tôi trút nỗi lòng. Tôi hỏi, sao cánh tay ma sơ Mây bị cụt. Trầm ngâm một chút ông kể:
“Năm 16 tuổi, thay vì như những cô gái khác, ngây thơ vui đùa cùng bạn bè, Mây cùng mẹ Mây đến nhà dòng này xin khấn trọn đời. Lúc đó Mẹ bề trên nhìn Mây ái ngại, vì Mây là con một, gia đình lại giàu có. Mẹ ruột của Mây rưng rưng nước mắt, nhưng trong giọt nước mắt ấy có một tình yêu, một niềm tự hào.
Năm 18 tuổi, Mây ra dáng một thiếu nữ mơn mởn, tóc dài đen nhánh, đôi tay xinh đẹp mềm mại, rất khéo nấu ăn, thêu thùa. Nhưng lúc nào Mây cũng giấu mình trong chiếc áo dòng tu kín đáo.
Có một đêm cô gõ cửa Mẹ bề trên, xin cho được ra làng mồ côi, chăm nuôi mấy em nhỏ. Mẹ bề trên ưng thuận. Thế là đôi tay đẹp kia hằng ngày mớm cơm đút cháo cho mấy em. Có khi các em sốt, Mây thức trắng đưa bàn tay mình đặt lên trán chúng, xem nhiệt độ thế nào, rồi nhúng khăn lau tới lau lui. Bàn tay búp măng mũm mĩm không còn nữa, mà thay vào đó là bàn tay không ngần ngại hốt phân dãi của các em đi đổ. Nhiều đêm, thấy đôi tay ấy chắp lại trước ngực cầu nguyện. Cầu nguyện điều gì không ai biết. Chỉ biết rằng đôi tay đó không còn như xưa…
Hôm kia, có một bé chạy tung tăng trong sân, cổng để mở, bé băng ra đường. Xe tải dìu dập trên xa lộ lớn. Em bé ấy quá nhỏ, và lao ra quá nhanh, nên không ai kịp trở tay. Rầm, khi tất cả các sơ chạy ra thì tiếng em bé khóc lên thất thanh thật to. Bên cạnh em, Mây nằm nhắm nghiền mắt. Cánh tay phải bị bánh xe nghiền nát. Máu chảy lênh láng.
Khi tỉnh dậy cô kể: Lúc đó, con đang đứng trên dải phân cách chờ băng qua đường thì thấy nó lao ra giữa xa lộ, con sợ quá, chạy ào đến, ôm nó, lăn vội vào. Tội nghiệp nó lắm, nó sợ quá, khóc thét lên. Nghe Mây kể, mọi người chưa hết bàng hoàng. Sao cô kể chuyện hồn nhiên đến thế? Liều cả mạng mình mà không tiếc chỉ để cứu một đứa bé tật nguyền, rồi còn tội nghiệp vì nó sợ khóc thét lên. Có lẽ Mây bị khùng mất rồi. Không khùng ai làm thế ? Từ đó cô lại xin Mẹ bề trên đứng gác cổng ra vào, cô sợ các em tật nguyền kia, không ý thức lại lao ra giữa dòng xe. Cô nói cuộc sống đáng quý lắm.
– Con xin lỗi mẹ, vì con cứ đòi hỏi mẹ hết lần này đến lần khác. Mẹ bề trên bật khóc: Con đâu có gì phải xin lỗi. Con luôn đòi hỏi để phụng sự người khác.
Thế là từ đó, Mây thành người gác cổng. Khi được hỏi tại sao cô bị cụt tay, cô đáp nhẹ như bấc, bị tai nạn giao thông.
Tôi không dám hỏi, cô có tiếc vì mất cánh tay không. Vì hỏi như vậy là thừa. Ngay cả mạng mình cô còn không tiếc.
Vị linh mục già kết thúc câu chuyện. Nắng chiều rải rác xuống thềm như một tràng hoa rực rỡ. Chỉ có hoa nắng mới kết vừa vương miện cho những con người ở đây. Tất cả loài hoa thế gian, tất cả kim cương, ngọc bảo thế gian khi đính vào vương miện chỉ làm cho nó trần tục hơn, vật chất hơn mà thôi.
Bây giờ tôi mới biết, vì sao đôi tay của Mây có hương thơm kỳ lạ. Và bây giờ tôi mới biết tại sao nụ cười và ánh mắt những người ở đây luôn ẩn chứa một trời long lanh nắng sớm.
Bởi vì như linh mục Nguyễn Tầm Thường đã viết: Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại.
Tôi về thành phố, thấy lòng mình bỗng chật. Những gì trước đây tôi cho là đúng, bây giờ tôi đâm nghi ngờ. Những gì trước đây tôi luôn theo đuổi, giành giật để có, bây giờ thấy chẳng còn quan trọng nữa.
Những tay thét ra lửa, những tay sừng sỏ mà tôi từng kính nể, bỗng dưng tôi thấy họ bình thường. Họ cố gắng dùng đôi bàn tay chứng tỏ mình, khuếch trương mình, những cái họ có được chỉ là thứ trơ trẽn. Họ không bình yên trên vật chất họ có được. Họ khoác những chiếc áo sang trọng, tay đeo đầy những kim cương, xịt toàn nước hoa hảo hạng, nhưng không bao giờ có mùi hương thanh tao, dịu ngọt, tỏa lan khắp bầu trời.
Tôi bị ám ảnh, vì trong tôi hoài thai một lối sống. Tôi muốn thoát khỏi bàn tay của chính mình. Tôi là người tìm kiếm bàn tay đẹp.
Bàn tay biết dang ra, biết sẻ chia là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nắm lấy tay người bất hạnh hơn mình để cùng bước là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nâng niu, gìn giữ cái đẹp, cái chân, cái thiện, là bàn tay đẹp. Và hàng ngàn định nghĩa về bàn tay đẹp khác.
Có bàn tay cầm nắm rất nhiều, có thể điều khiển người khác. Có bàn tay xoè ra ăn xin từng đồng lẻ bố thí. Có bàn tay khéo léo làm nên những tuyệt tác nghệ thuật. Có bàn tay vụng về chỉ làm đổ vỡ mọi thứ khi chạm vào. Có bàn tay cho đi. Có bàn tay giữ lại. Nhưng khi về với đất, bàn tay nào cũng rỗng. Rỗng tuyệt đối.
Vậy sao không ướp hương cho đôi tay mình, tôi tự hỏi lòng như thế. Có hàng ngàn cách ướp hương. Như masơ Mây, ướp hương thánh thiện, âm thầm, khiêm cung, bé nhỏ, mà hương thơm lại bay vượt mọi không gian. Có bao giờ Mây kể lể với Giêsu về mình không? Chắc không, vì Mây không có thời gian cho mình, chỉ biết lo cho mọi người thôi.
Khi sinh ra, tay tôi nắm chặt. Khi chết đi tay tôi buông thõng. Từ nắm chặt đến buông thõng, một hành trình dài đầy nụ cười hạnh phúc và nước mắt đau thương.
Bs Nguyễn Bảo Trung
Chuyện Trú Mưa – Loc Duong
Loc Duong.
Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.
Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :
-Có phải cháu đây không?
Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :
-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.
-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?
-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?
-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?
-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.
-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?
-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.
-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?
Cô bé vui vẻ hẳn lên :
-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.
-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?
-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?
Hắn cứng họng. Không phải vì đuối lý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.
Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :
“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết làm sao em biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”
Loc Duong
Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi- Truyen ngan HAY
Câu chuyện thật cảm động về lòng nhân ái.
Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi
(Posted by Ho Bình)
Một nữ phục vụ nhận được tiền tip 500 đô cùng dòng chữ: “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”
Tôi vẫn giữ chiếc khăn giấy ấy, gấp gọn trong ngăn tủ của mình.
Năm trăm đô la và một mảnh giấy viết:
> “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”
Ban đầu, tôi không hiểu.
Mỗi ngày, có quá nhiều khách ra vào — thật khó để nhớ hết từng gương mặt.
Rồi tôi thấy dòng chữ nhỏ ở cuối:
“Bàn số 7, thứ Ba.”
Và mọi ký ức ùa về.
Người phụ nữ lớn tuổi ấy.
Tất nhiên là tôi nhớ.
Bà bắt đầu đến quán khoảng sáu tháng trước.
Luôn là thứ Ba, 11 giờ sáng, bàn số 7, cạnh cửa sổ.
Và luôn gọi:
“Hai ly cà phê Mỹ, làm ơn. Một có đường, một không.”
Lần đầu, tôi tưởng bà đang đợi ai đó.
Tôi mang hai ly cà phê ra, đặt một ly trước mặt bà, và một ly trước chiếc ghế trống đối diện.
Bà chỉnh tách cà phê ấy thật cẩn thận, như đang phục vụ cho một vị khách quan trọng.
“Cảm ơn con yêu. Ông ấy thích uống nóng.”
Tôi đứng đó, cuốn sổ ghi order trên tay.
Chiếc ghế đối diện hoàn toàn trống.
>“Bà muốn gọi thêm món gì không ạ?” – tôi hỏi, theo phản xạ, vẫn nói “bà” và “ông”.
“Chưa đâu, cô bé. Cho chúng tôi xem thực đơn một lát nhé.”
Rồi bà bắt đầu nói chuyện.
Với chiếc ghế trống. Với khoảng không trước mặt.
“Anh nhớ không, hồi những năm 60 mình hay tới đây? Họ vẫn còn làm món sandwich gà tây anh thích đấy.”
Lúc đầu, tôi thấy hơi sợ. Tôi suýt nữa đã gọi quản lý.
Nhưng ánh mắt bà… không có chút lẫn lộn nào. Không điên dại.
Chỉ có niềm hạnh phúc.
Một thứ hạnh phúc trong trẻo, dịu dàng, như thể bà thật sự nghe thấy ai đó trả lời.
“Anh nói đúng! Ta nên gọi một phần cho hai người như mọi khi.”
Tôi không biết vì sao, nhưng tôi đã nhập cuộc.
“Một phần sandwich gà tây để chia đôi ạ?”
“Vâng, cảm ơn con. À, và ông ấy vẫn thích khoai tây chiên hơn salad, con biết mà.”
“Dĩ nhiên rồi. Còn ông, có muốn thêm gì không ạ?”
Bà nhìn tôi, ánh mắt chan chứa biết ơn.
“Cô thật dễ thương, cô bé.”
Từ đó, thứ Ba nào cũng vậy.
Hai tách cà phê. Hai đĩa đồ ăn. Một cuộc trò chuyện dành cho người đã khuất.
Tôi luôn rót đầy hai ly.
Tôi hỏi xem “ông” có cần thêm khăn ăn không.
Các đồng nghiệp nghĩ tôi điên.
Một hôm, quản lý hỏi:
“Tại sao em lại lãng phí cà phê cho một chiếc ghế trống?”
Tôi chỉ đáp:
“Vì điều đó khiến bà ấy hạnh phúc.”
Và đúng vậy.
Trong những giờ phút ấy, bà không cô đơn.
Bà không lạc lối.
Bà đang yêu, đang được yêu, đang sống.
Bà kể về những chuyến du lịch, những đứa con, ngôi nhà bên hồ.
Thỉnh thoảng, bà bật cười đến chảy nước mắt.
“Anh lúc nào cũng khiến em cười, sau 52 năm vẫn thế.”
Năm mươi hai năm.
Lần cuối cùng bà đến, cách đây ba tuần, bà trông yếu hơn.
Bà vẫn gọi hai ly cà phê, nhưng tay run rẩy.
> “Bà ổn chứ?”
“Ừ, chỉ là mệt thôi, cô bé. Rất mệt.”
Bà nhìn chằm chằm chiếc ghế trống, ánh mắt thoáng buồn.
> “Đôi khi tôi tự hỏi, liệu ông có thật sự ở đây không… Nhưng rồi tôi ngửi thấy mùi nước hoa của ông, và tôi biết là có.”
Khi trả tiền, bà nắm tay tôi:
> “Cảm ơn con, vì đã đối xử với chúng tôi bằng cả tấm lòng.”
Đó là lần cuối cùng tôi thấy bà.
Cho đến hôm nay.
Một người phụ nữ trẻ bước vào — khoảng ba mươi tuổi, ánh mắt mệt mỏi nhưng dịu dàng.
> “Cô là người phục vụ vào thứ Ba, bàn số 7, phải không?”
“Vâng.”
“Tôi là Carolina. Người phụ nữ ấy… là mẹ tôi.”
Là.
> “Mẹ tôi qua đời hai tuần trước. Bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Cuối cùng, mẹ không còn nhớ nổi tên mình.”
Nước mắt tôi ứa ra trước khi cô nói tiếp.
> “Chúng tôi tìm thấy nhật ký của mẹ. Trong đó, mẹ viết về những bữa trưa ở đây. Về cô.
Nơi mà mẹ có thể ‘gặp lại’ ba tôi.”
> “Ba cô à?”
“Ông mất năm năm trước. Ung thư tụy. Họ đã bên nhau 52 năm.
Khi mẹ bắt đầu mất trí, bác sĩ bảo mẹ sẽ quên hết.
Nhưng có một điều mẹ không bao giờ quên — là ông ấy.
Trong tâm trí mẹ, ba tôi vẫn còn sống.
Và vào những ngày thứ Ba, họ cùng ăn trưa — như trước đây.”
Carolina lấy ra một chiếc khăn giấy và 500 đô.
> “Đây là từ di chúc của mẹ. Mẹ viết:
‘Gửi người phục vụ đã luôn phục vụ cả hai chúng tôi mà không bao giờ đặt câu hỏi.
Cảm ơn cô đã cho tôi thêm một năm được sống bên người tôi yêu.’”
Tôi không thể nói gì, chỉ biết khóc.
Carolina cũng khóc.
> “Điều tuyệt vời nhất,” cô nói qua nước mắt,
“là những ngày thứ Ba ấy là khoảnh khắc tỉnh táo cuối cùng của mẹ.
Trước khi qua đời, mẹ không nhớ nổi tôi là ai, nhưng khi tôi nhắc đến quán cà phê,
mẹ đã mỉm cười và nói:
‘Nơi mà mẹ ăn trưa cùng ba con.’”
Tôi thì thầm:
> “Tôi… tôi chỉ mang cà phê ra cho bà thôi.”
“Không,” Carolina đáp. “Cô đã mang lại cho mẹ tôi lòng nhân ái. Một nơi mà tình yêu của mẹ vẫn được công nhận. Cô không tưởng tượng nổi điều đó có ý nghĩa thế nào đâu.”
Chúng tôi ôm nhau — hai người xa lạ, gắn kết bởi một người mẹ và một chiếc ghế trống.
Và từ đó, mỗi thứ Ba lúc 11 giờ, tôi luôn để bàn số 7 trống một lát.
Tôi đặt hai tách cà phê — một có đường, một không.
Và tôi nhớ rằng:
Đôi khi, tình yêu lớn nhất chỉ đơn giản là nhìn thấy người khác — thật sự thấy họ — ngay cả khi không ai khác nhìn thấy.
S.T.
From: Tu-Phung
NHƯ ĐÃ DẤU YÊU – Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh – Truyen ngan HAY
Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn
Đưa vợ vào làm xong tất cả các thủ tục, chỉ còn ít phút nữa là phải ra máy bay, anh vẫn lấy cớ chạy ra ngoài. Trời mưa như trút nước. Anh dáo dác nhìn khắp bốn xung quanh. Chỉ đến khi xác nhận một lần cuối cùng là chị không tới anh mới thẫn thờ đi vào.
Anh đâu có biết rằng đã mấy tiếng đồng hồ chị nép trong góc cột, nhìn từ lúc vợ chồng anh bước xuống xe taxi, đẩy hành lý qua bảo vệ. Nhìn thấy anh bước đi mà đầu luôn ngoảnh lại kiếm tìm. Nhìn thôi là đủ rồi, gặp nhau để mà làm gì?
Họ quen nhau cũng vào một ngày mưa tầm tã như thế này. Anh đi đám cưới về cũng đúng lúc chị vừa đi hẹn bạn bước ra khỏi khách sạn. Nhìn thấy chị đứng co ro giữa trời mưa gió, anh hạ cửa kính hỏi chị về đâu anh cho đi nhờ. Trông chị cũng tầm ngoài 40, vóc dáng thon thả, nước da trắng hồng. Nhìn sống mũi cao thanh tú của chị anh đoán ngày trẻ chị đẹp lắm. Chị vừa vào xe thì điện thoại vang lên, chị cố gắng nói rất nhỏ nhưng anh nghe thấy hết.
– Tớ đang đi nhờ xe về nhà. Trời mưa to quá không bắt được xe. Ông Dũng nhà tớ đang bận đi gặp bồ cũ. Thì vẫn bà ấy đó, năm nào cũng bay từ Sài Gòn ra Hà Nội 2 lần thăm nhà, rồi tổ chức gặp gỡ bạn cũ. Bạn nói sao? Tớ làm sao ngăn cản được, ông ấy luôn mồm nói là gặp cả đống bạn bè, có làm gì đâu. Họ có quá nhiều kỉ niệm với nhau. Mình là người đến sau cũng nên tôn trọng họ. Tớ không sao đâu.
Chị cười to rồi ngồi im. Anh liếc qua thấy mắt chị như có ngấn nước. Chả bù cho vợ anh, lấy nhau 25 năm rồi mà anh lúc nào cũng cảm thấy như đang sống trong tù. Anh chả có ai mà chị ghen suốt ngày đêm. Lâu lâu chị lên công ty anh đi dạo một vòng qua các phòng ban, để kiểm tra xem có em nhân viên nữ nào mới không, và thể hiện uy quyền của vợ giám đốc. Thư kí của anh toàn là nam. Vợ chồng cãi nhau suốt nhưng chị không sửa đổi. Anh là người rất thương con, muốn êm cửa ấm nhà nên phải nhịn. Có đêm anh thức giấc, bất chợt thấy chị đang ngồi nhìn anh rất hung dữ. Anh còn chưa tỉnh ngủ nên lắp bắp hỏi:
– Em làm sao vậy?
Chị tru tréo:
– Tôi nằm mơ thấy anh chở bồ đi chơi, hai người ôm nhau mà tôi rượt theo không kịp.
Ngày hôm sau anh dỗ dành hết sức chị mới chịu để anh đưa đi khám. Kết luận của bác sĩ rất đáng buồn. Chị có dấu hiệu bệnh tâm thần dạng hoang tưởng. Vì anh đẹp trai, giỏi giang nên chị nghe lời người ngoài lúc nào cũng nghi ngờ chồng mình có bồ. Riết rồi thành tâm bệnh. Hai đứa con lúc ấy mới 16 ,17 tuổi rất buồn. Anh hứa với các con sẽ chăm sóc chị thật chu đáo để các con yên tâm đi du học. Được vài năm thì chị đòi lên chùa cúng vái suốt. Nhiều lúc chị nửa tỉnh, nửa mơ bảo anh thích ai thì cứ lấy, chị sẽ vào chùa ở luôn.
Đã hơn chục năm nay anh cứ sống một cuộc sống không giống ai như vậy. Niềm an ủi duy nhất là hai đứa con học hành giỏi giang, tốt nghiệp xong ở lại Úc làm việc và công ty của anh ngày càng phát triển.
Mưa càng lúc càng lớn, cả một dòng xe kẹt cứng lại giữa đường. Anh với chị có cả một khoảng thời gian dài để nói chuyện với nhau. Chị lấy chồng muộn nên cu lớn mới 14, con gái nhỏ lên 10. Anh hỏi:
– Ngày xưa em kén lắm hả?
Chị cười:
– Tại vì đọc tiểu thuyết nhiều nên cứ chờ bằng được hoàng tử giống như trong truyện “Cánh buồm đỏ thắm” đến, mà chờ mãi không thấy, thế là được xếp vào loại gái già, phải lấy chồng vội anh ạ!
Anh cũng là con mọt sách nên họ say sưa nói về các nhà văn yêu thích. Anh kinh ngạc khi thấy chị rất am hiểu về văn học, âm nhạc, hội hoạ. Chị cũng có một công ty nhỏ, theo lời chị là đủ để nuôi các con.
Khi mưa ngớt, anh đưa chị về đến tận nhà và xin số điện thoại của chị, anh nói rất thật lòng:
– Hôm nay gặp em anh rất vui, vì em có rất nhiều sở thích giống anh. Nếu em đồng ý thì thỉnh thoảng anh mời em đi uống cà phê nhé!
Sau đó mỗi tháng một hoặc 2 lần anh mời chị đi uống cà phê hoặc ăn trưa. Chị nói chuyện rất hóm hỉnh và có duyên. Dần dần anh cảm thấy tình cảm mình dành cho chị không còn đơn thuần nữa. Có lần anh kể hơn 10 năm nay vợ anh bị bệnh, chị buột miệng:
– Em đẻ con bé được mấy tháng chồng em đã cặp bồ rồi, bọn em cũng ly thân từ ngày ấy.
Quen nhau hơn một năm anh ngỏ lời:
– Anh rất quý em Thanh à, chúng mình có thể đi xa hơn được không?
Chị đang vui vẻ cười nói bỗng sựng lại và kiếm cớ ra về.
Ít bữa sau anh nhận được cuộn băng thu bài “Như đã dấu yêu” của nhạc sĩ Đức Huy do chị hát, và một bức thư. Giọng chị rất hay, chị vừa hát vừa khóc
“Nhưng em ước gì mình gặp nhau lúc anh chưa ràng buộc.
Và em chưa thuộc về ai”
Và đây là nguyên văn bức thư của chị
Anh à!
Hơn một năm qua em rất vui khi được làm quen với anh, được nhận từ anh những sự quan tâm chân thành. Là phụ nữ em không thể không cảm nhận những tình cảm của anh, mặc dù em cứ quy ra nó chỉ đơn thuần là tình bạn thôi. Đấy là em tự lừa mình dối người. Em đã rất nhiều lần khóc thầm trong đêm khi nhớ đến ánh mắt say đắm, yêu thương của anh mỗi lần chúng mình gặp gỡ.
Muộn màng hết rồi anh ạ!
Em lấy chồng cho bố mẹ em vui lòng, và suốt mười mấy năm qua em luôn luôn phải chiến đấu với một đống bồ cũ, bồ mới của chồng. Em hận những người đàn bà trơ trẽn luôn tìm đủ mọi cách quyến rũ chồng em, moi tiền của anh ấy (thực ra là tiền em làm ra). Vậy nhưng em vẫn phải duy trì cuộc hôn nhân này, vì chồng em tuy tàn nhẫn với vợ nhưng rất thương các con, và em cố nuốt nước mắt vào trong để các con có đủ cả bố lẫn mẹ. Đã mấy lần em đau đớn chạy về nhà xin bố mẹ cho ly hôn vì em đâu phải tượng gỗ, em cũng thèm khát được có một người chồng chung thủy, yêu thương em hết lòng chứ không phải sống với một người chồng trên danh nghĩa, không hề nhớ ngày sinh của vợ, nhưng rất nhiệt tình tổ chức sinh nhật hoành tráng cho bồ. Bố mẹ em lúc thì van lơn, lúc lại đay nghiến dứt khoát không cho em ly hôn vì “dòng họ nhà mình từ trước đến giờ không có người nào ly hôn cả”. Em cứ sống vật vờ lấy công việc và các con làm nguồn vui, cho đến khi gặp anh. Anh à! em tiếc lắm. Nếu như ngày xưa em được gặp anh, thì chắc chắn chúng mình sẽ có một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc. Nhưng đấy chỉ là “Nếu như” thôi.
Vợ anh, chị ấy bị bệnh cũng vì yêu anh quá (điều mà em không có được trong cuộc hôn nhân của mình). Vì vậy em không thể vì bất hạnh mà đi cướp chồng người khác, giống như những người đàn bà của chồng em.
Mình không nên gặp nhau nữa anh ạ!
Em xin cảm ơn anh vì tất cả.
Đọc xong bức thư của chị, anh cảm thấy người như bị rút hết sức lực.
Hạnh phúc giống như một giấc mơ đẹp, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại được nữa.
Vài tháng sau anh thu xếp công việc, tìm người quản lý giỏi rồi đưa vợ sang sống với các con.
Trước khi đi, anh nhắn tin muốn được nhìn thấy chị một lần cuối cùng.
Chị đến, nấp sau cột, nhìn từ lúc anh đỡ vợ xuống xe, nhìn anh vừa đẩy xe hành lý, vừa ngoái về sau, nhìn anh làm thủ tục xong lại chạy dáo dác ra ngoài. Nước mắt giàn giụa, chị lẩm bẩm “Anh đi may mắn nhé!”
NHƯ ĐÃ DẤU YÊU
Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh
( Mượn tựa đề bài hát của Nhạc sĩ Đức Huy)
Bài và ảnh sưu tầm
TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .- Tác gỉa : Phạm Thành Châu
TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .
Truyện hay cuối tuần
LỜI TỎ TÌNH CŨNG LÀ LỜI TRĂN TRỐI .
Tác gỉa : Phạm Thành Châu .
***
Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.
Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thuyên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi
– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất.
Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.
Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào.
Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng.
Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.
– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.
Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?
Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả!
Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.
– Đây là lần chót!
Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.
– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!
Tôi cười bảo.
– Không phải vợ thì ai vào đây?
Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.
Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.
Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.
. . .
– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự.
Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh.
Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường.
Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…
Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào.
Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”.
Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô.
Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta.
Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”.
Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.
Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình.
Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta.
Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử.
Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng
“Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao.
Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…”
Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.
Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi?
Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”
Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi.
Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường.
Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận.
Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi”
Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp
“Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi.
Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu.
Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được…
Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà.
Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…”
Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..”
Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế.
Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp
“Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.
Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn.
Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”.
Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác.
Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế”
Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau.
Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu.
Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô.
Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”
Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi da~ có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay”
Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”
Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh.
Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra.
Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”
Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.
– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?
– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằngmuốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù.
Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.
– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?
Anh trầm ngâm.
– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi.
Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi.
Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần.
Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm.
Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.
Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi.
Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi.
Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên.
Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.
Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ.
Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.
Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.
Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi.
Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.
Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò.
Tù chỉ có 15 phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết.
Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ.
Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.
Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ.
Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn.
Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.
Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.
Chúng tôi ở tù trên 10 năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt.
Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó,chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.
Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.
Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.
Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe.
Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi.
Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.
Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau.
Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.
Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.
– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!
Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.
– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?
Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.
– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?
– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?
– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải 5 giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.
– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.
Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.
Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.
– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…
Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.
– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…
Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.
– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?
– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…
Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.
– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.
Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.
– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết là em yêu thương ảnh…
Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.
– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.
Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.
– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm…
Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?
Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại.
Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.
– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.
Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.
– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!
Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.
– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.
Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.
-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…
Nhưng than ôi ! thật ra là chị ấy đã trăn trối với chồng.
Phạm Thành Châu
PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI
PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI
Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.
Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.
Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.
Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.
Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.
Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.
Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.
Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.
Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.
Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.
Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!
#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao
Hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn
Nguyen Huu Nghieu
Vị linh mục đứng bình tĩnh trước đội hành quyết với hai tay dang rộng ra dưới bầu trời Mexico, không để lộ nỗi sợ hãi và không bị bịt mắt trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Vào ngày 23 tháng 11 năm 1927, Đức L.M. Miguel Pro đã phải đối mặt với án tử hình trong một trong những giai đoạn đen tối nhất của cuộc bức hại tôn giáo trong lịch sử Mexico. Là một linh mục Dòng Tên trong những năm bạo lực của cuộc Chiến tranh Cristero, Pro đã bí mật tiếp tục thực hiện công việc truyền giáo bất chấp những cuộc đàn áp của chính phủ đối với Giáo hội Công giáo. Các nhà chức trách cáo buộc ông tham gia vào các hoạt động chống chính phủ, và không có phiên tòa chính thức, ông đã bị xử bắn và bị kết án tử hình.
Những người chứng kiến mô tả một sự im lặng khó quên bao quanh khu vực hành quyết khi các binh sĩ chuẩn bị súng trường trong khi các nhiếp ảnh gia ghi lại khoảnh khắc đó cho công chúng. Khác với nhiều tù nhân bị kết án, Miguel Pro được cho là đã từ chối bịt mắt và thay vào đó đứng công khai trước đội hành quyết với sự bình tĩnh đáng kinh ngạc.
Ngay trước khi tiếng súng nổ ra, ông giơ tay lên trong tư thế giống như Chúa Kitô trên thập tự giá và thốt lên những lời :
“Viva Cristo Rey!”
Nghĩa là “Đức Kitô, Vua muôn năm!”
Những bức ảnh được chụp trong những khoảnh khắc cuối cùng nhanh chóng lan rộng khắp Mexico và xa hơn nữa, biến vị linh mục trẻ thành một biểu tượng mạnh mẽ của đức tin, sự kháng cự, và sự hy sinh trong một chương đầy bạo lực của lịch sử quốc gia.
Ngay cả sau hàng chục năm, hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn vẫn tiếp tục mang một sức nặng cảm xúc phi thường vì nó ghi lại một khoảnh khắc mà nỗi sợ hãi dường như hoàn toàn vắng bóng trước cái chết.
Đối với nhiều tín đồ, ông đã trở thành một vị tử đạo, lòng dũng cảm của ông đại diện cho niềm tin không lay chuyển trong thời kỳ bách hại và xung đột.
Những bức ảnh ám ảnh đã đóng băng lịch sử vào đúng thời điểm một người đàn ông đối mặt với những người lính vũ trang chỉ với niềm tin và quyết tâm bình tĩnh. Và khi bạn nhìn Miguel Pro đứng đó với đôi tay dang rộng trước khi súng trường nổ, điều đó đặt ra một câu hỏi sâu sắc…
“Niềm tin của một người phải mạnh mẽ đến mức nào để đối mặt với cái chết mà không phải cúi mắt vì sợ hãi?”
ST
Lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.
Vài giờ trước khi bị xử tử, một mình trong buồng giam…
Người ta hỏi anh ta: “Điều ước cuối cùng của anh là gì?”
Anh xin một cây bút, một tờ giấy.
Anh lặng lẽ viết vài phút, rồi trao lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.
Trong thư viết:
“Mẹ à, Con nghĩ, nếu thế giới này thật sự có công bằng, thì hôm nay không chỉ mình con bị hành quyết… mà cả mẹ nữa.
Mẹ cũng có tội — nhiều như con — trong cuộc đời hư hỏng mà con đã sống.
Mẹ còn nhớ ngày con ăn trộm chiếc xe đạp của một đứa trẻ khác không?
Mẹ không la mắng, ngược lại còn giúp con giấu nó.
Rồi cái lần con lấy tiền trong ví của hàng xóm…
Mẹ cùng con đi mua sắm ở trung tâm thương mại.
Và mẹ cũng chẳng nói một lời nào rằng điều đó là sai.
Khi thầy giáo đuổi con vì hỗn láo, vì nghỉ học quá nhiều…
Mẹ không hề trách con.
Mẹ đến trường để quát mắng thầy giáo, mà chẳng hề hỏi con một câu,
trong khi con rõ ràng là người sai.
Mẹ còn nhớ những đêm con về muộn, những ngày bỏ học triền miên?
Chưa bao giờ mẹ hỏi tại sao.
Chưa bao giờ mẹ tìm cách kéo con lại đúng đường.
Con chỉ là một đứa trẻ, rồi một thằng thiếu niên…
Và giờ đây, là một gã đàn ông hỏng nát.
Sau khi cha mất, con cần một bàn tay cứng rắn, một ánh mắt dẫn dắt.
Nhưng mẹ đã cho con sự nuông chiều mù quáng.
Con là đứa con cưng của mẹ, nhưng tình thương ấy đã làm con lạc lối.
Mẹ luôn ở đó…
Trong từng lỗi lầm con mắc phải.
Nhưng mẹ chưa bao giờ ở đó để chỉ con thấy con đường đúng.
Con tha thứ cho mẹ.
Nhưng con van xin mẹ hãy gửi lời này đến tất cả những bậc cha mẹ khác:
Họ đang nắm trong tay trách nhiệm — hoặc nuôi dưỡng nên một con người tử tế, hoặc biến thành một kẻ tội phạm.
Cảm ơn mẹ đã cho con sự sống.
Và cũng cảm ơn… vì đã góp phần lấy đi sự sống ấy.
Con trai mẹ,
Kẻ tội phạm.”
TG Văn Chương









