Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó – Nguyễn Duy An – Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó – Nguyễn Duy An

Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President, phụ trách Infor- mation Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC

*****

Một buổi chiều Chúa Nhật, vợ chồng tôi chở các con đi tham dự buổi đấu bóng rổ chung kết giữa các trường Công Giáo ở Hoa Thịnh Đốn và vùng phụ cận về; vừa bước chân vô cửa đã nghe tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi.. Vợ tôi nhấc điện thoại, nói chuyện trong giây lát rồi quay sang bảo tôi:

– Anh Dũng muốn nói chuyện với anh. Bà cụ Thanh đang hấp hối ở bệnh viện George Washington.

Tôi vội vàng đến cầm điện thoại:

– Hello anh Dũng. Cụ bị sao vậy anh?

– Bà cụ nhà tôi bị mệt vài tuần nay, đã nhập viện được mấy hôm rồi. Sợ không qua khỏi. Anh chị sắp xếp lên một tý được không? Bà cụ muốn gặp vợ chồng anh. Các em tôi cũng tề tựu đây cả.

– Vâng. Chúng em lên ngay.

Vừa lái xe từ nhà lên Washington, DC tôi vừa tưởng nhớ lại kỷ niệm quen biết bà cụ Thanh từ mấy tháng nay…

*****

Tôi đến phi trường Chicago – Illinois vào một buổi tối mùa đông. Ngoài trời gió thổi vù vù, và tuyết vẫn tiếp tục rơi… Hôm đó chuyến máy bay của tôi đến trễ hơn một tiếng đồng hồ vì bão tuyết. Tôi biết mình đã lỡ chuyến bay chuyển tiếp để trở về Washington D..C. nên chạy vội vàng tìm văn phòng lo thủ tục đổi vé. Khi biết tôi là người Việt Nam vì mang họ Nguyễn, cô nhân viên của hãng Delta đã nhờ tôi làm thông dịch viên để nói chuyện với một bà cụ khoảng 80 tuổi đang ngồi ủ rũ bên quầy bán vé. Bà cụ Thanh cũng bị lỡ chuyến bay về Maryland, nhưng vì không nói được tiếng Anh nên cụ không biết phải làm sao, cứ ngồi lim dim, lặng lẽ đọc kinh lần chuỗi…

Lo xong thủ tục giấy tờ cho hai người, tôi quay sang:

– Để con dẫn cụ đi nhận phòng ngủ rồi kiếm gì ăn tối. Sáng mai mới có máy bay cụ ạ.

– Cám ơn cậu. Cậu gì nhỉ?

– Dạ con tên Huy. Cụ để con xách hành lý cho. Con dẫn cụ lên phòng cụ trước, rồi con tìm phòng con sau. Sắp xếp xong con sẽ qua dẫn cụ đi ăn tối.

– Cậu cho tôi ở chung với được không? Tôi không biết tiếng Mỹ, làm sao ở một mình trong nhà trọ được.

Tôi dở khóc dở cười trước đề nghị của bà cụ; nhưng đã nhận lời vì nghĩ tới mẹ tôi. Cụ Thanh làm tôi nhớ mẹ thật nhiều với những lần đưa mẹ đi đây, đi đó thăm anh em bà con lúc mẹ tôi qua Mỹ du lịch… Tôi dẫn bà cụ về phòng trọ. Cũng may trong phòng có sẵn hai chiếc giường đôi. Tôi gọi điện thoại về nhà báo tin cho vợ con biết hôm sau mới về được vì bị bão tuyết. Sau khi nói chuyện với vợ con xong, tôi quay sang hỏi cụ Thanh:

– Cụ có mang theo số điện thoại của các anh chị không? Con giúp cụ gọi điện thoại về báo tin máy bay bị trễ tới mai, kẻo các anh chị ấy lại lo lắng.

Cụ Thanh mở “ruột tượng”, lần mãi mới lấy ra một xấp tiền và mấy tờ giấy cuộn tròn trao cho tôi:

– Cậu Huy coi rồi giúp dùm tôi nhé.. Tôi có biết số nào ra số nào đâu.

Tôi mở xấp giấy ra xem, có cả một tờ giấy ghi sẵn bằng tiếng Anh phòng khi gặp trở ngại thì trao cho nhân viên ở phi trường để xin giúp đỡ… Tìm ra tờ giấy đánh máy số điện thoại của nhiều người, tôi hỏi cụ:

– Con nên gọi cho ai bây giờ?

– Nhờ cậu gọi về Texas cho con Lành dùm tôi. Vợ chồng nó thương tôi nhất, chỉ tội nghèo. Đi đâu tôi cũng nói chuyện với nó, rồi nó nói lại với mấy đứa khác, nhất là với vợ chồng thằng Dũng ở Thủ Đô vì hôm nay tôi về trên đó.

– Nếu thế con gọi thẳng về Maryland cho anh chị Dũng luôn cũng được.

– Tuỳ cậu.

Tôi để lại lời nhắn trong máy cho anh chị Dũng, và hẹn hôm sau sẽ gọi lại cho biết chuyến bay và giờ giấc bà cụ về tới phi trường BWI (Baltimore Washington Internation Airport) để họ ra đón. Phần tôi sẽ bay về phi trường National Airport nên không đi chung chuyến bay với cụ được. Sau khi tắm rửa, tôi mời cụ đi ăn, nhưng cụ từ chối vì trong xắc tay đã có sẵn vài nắm cơm vắt với muối mè và giò lụa. Thay vì ra ngoài kiếm gì ăn, tôi đã nhận lời ngồi lại ăn cơm nắm, muối mè và giò lụa với bà cụ Thanh…

Tối hôm đó, tôi đã thức trắng đêm nghe bà cụ tâm sự.

*****

“Tôi mới qua Mỹ được gần 2 năm nay thôi cậu Huy à… nhưng tôi cứ phải đi lung tung nhiều chỗ vì con cháu mỗi đứa một nơi, và chúng nó cứ đẩy qua đẩy lại làm tôi chóng cả mặt. Tôi buồn lắm, chỉ muốn về Việt Nam, nhưng không biết phải làm sao. Hơn 70 tuổi đầu tôi mới học được điều này là con cháu sang Mỹ khác xưa nhiều lắm. Trước đây ở Việt Nam, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, còn bây giờ qua Mỹ thì… ngược lại: Con đặt đâu cha mẹ ngồi đó! Cậu nghĩ tôi nói có đúng không?”

Tôi đang nằm mơ mơ màng màng nhớ mẹ, chưa kịp lên tiếng trả lời, bà cụ Thanh lại tiếp tục:

“Vợ chồng tôi có 5 người con; cứ đứa trai rồi đứa gái cách nhau 3 tuổi. Nhờ trời thương, gia đình làm ăn cũng khấm khá nên đứa lớn được ông nhà tôi gởi đi du học bên Mỹ từ năm 70, rồi lấy vợ và ở lại luôn bên này. Năm 75, vợ chồng đứa con gái kế đưa thêm được thằng út nhà tôi đi, bây giờ đang ở bên Ca-li. Thằng thứ ba đi lính ngoài Trung, lấy cô vợ người Huế, rồi làm mai cho ông anh vợ lấy con em gái kế nó. Hai thằng đi cải tạo về rồi cũng sang Mỹ theo diện H.O.. và định cư ở Texas. Vợ chồng tôi có giấy tờ bảo lãnh từ lâu, nhưng ông nhà tôi nhất định không đi; và tôi cũng chẳng ham muốn gì chuyện đi Mỹ, chỉ mong thỉnh thoảng chúng nó đưa các cháu về thăm là mãn nguyện lắm rồi.. Nhưng hơn 4 năm trước, Chúa đã gọi ông nhà tôi về với ông bà. Chúng nó cứ thúc ép mãi, nhưng tôi cũng không đi. Ngày giỗ mãn tang ông nhà tôi, vợ chồng thằng lớn về thăm quê hương, và tìm đủ lý lẽ thuyết phục tôi đi Mỹ vì “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nên tôi đành “nhắm mắt đưa chân”.

Ngày đặt chân đến Mỹ phải nói là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi, cậu Huy ạ. Con cháu dâu rể tề tựu đông đủ hết, cả cô bồ của thằng út Đức cũng bay sang mừng ngày đoàn tụ của gia đình tôi. Nếu như chúng nó chỉ khóc chứ đừng nói gì như lúc gặp nhau ở phi trường thì chắc tôi còn vui nhiều nữa. Đằng này, vừa gặp tôi, thằng Đức đã xì lồ xì lào có một câu ‘hi mom’ rồi lo quấn quýt với con bồ người Mỹ của nó. Tôi thấy chướng mắt quá, chỉ muốn chửi cho nó một trận, nhưng con Hoa đã phân trần cho em: ‘Con xin mẹ đừng giận cậu út… Nó sang Mỹ từ nhỏ, chúng con lại bận rộn công ăn việc làm nên không có thì giờ dạy cho em nó hiểu phong tục tập quán của mình. Mẹ thấy đó, từ cách đi đứng, nói năng, cử chỉ của em Đức đều đúng y chang là một thanh niên người Mỹ, chỉ khác có màu da. Mẹ đừng buồn.’

Cậu Huy nghĩ coi làm sao mà tôi không buồn cho được. Tôi thương thằng Đức nhất nhà vì nó là út đã đành, nhưng vì nó phải xa tôi từ lúc mới 6 tuổi đầu. Hơn 20 năm trời mới gặp mẹ mà có cứ lo xà nẹo với con bồ Mỹ trước mặt tôi và các anh chị nó… và nhất là các cháu nhỏ. Coi chướng mắt hết sức! Tôi thất vọng quá cậu Huy à. Nhưng đó chỉ là bước đầu… Suốt một tuần liền chúng nó lôi tôi đi chụp hình khắp thủ đô, rồi mạnh đứa nào bay về chỗ đứa đó, giam tôi một mình trong căn nhà rộng thênh thang của thằng Dũng. Vợ chồng nó đi làm suốt ngày. Hai đứa con cũng đi học và ở luôn trong trường, mà nếu bọn nhỏ có ở nhà cũng chẳng nên cơm cháo gì vì chúng nó chỉ nói toàn tiếng Mỹ! Tôi ngồi một mình suốt ngày nhìn ra đường, lúc nào cũng “vắng như chùa bà đanh” nên tôi cứ nghĩ mình đang bị tù cậu Huy ạ. Riết rồi tôi chịu không thấu nên ngã bệnh. Vợ chồng thằng Dũng đưa tôi đi khám bác sĩ, lấy thuốc uống…. Rồi không biết vợ chồng nó bàn nhau sao đó, tự động mua vé máy bay đẩy tôi sang Ca-li ở với vợ chồng con Hoa.

Lúc ở bên nhà, tôi cũng nghe nói Ca-li có nhiều người Việt, có khu chợ Việt Nam rất sầm uất, không khác chi Sàigòn nên tôi cũng mừng trong bụng. Thêm vào đó, tôi cũng muốn được ở gần thằng út để hướng dẫn nó được tý nào hay tý đó. Gần 30 tuổi đầu rồi mà cứ lang thang, không chịu cưới vợ gì cả… Nhưng vợ chồng con Hoa lại ở đâu miệt phía bắc, nghe nói phải lái xe cả ngày mới tới vùng Quận Cam nên tôi lại buồn hơn vì vợ chồng thằng Dũng đi làm công sở, khoảng 6 giờ chiều đã về nhà. Đàng này vợ chồng con Hoa mở cái tiệm gì đó, tối nào cũng nửa đêm mới về.. Con cái thì mạnh đứa nào đứa đó lo, đi học về là chui ngay vào phòng riêng. Tôi muốn vào nói chuyện với các cháu thì tụi nó không cho, lại còn nói tiếng Mỹ với nhau tỏ vẻ nhạo báng bà ngoại cổ hủ, lỗi thời, không tôn trọng “xi xi” gì đó (privacy).

Tôi tủi thân chỉ biết ngồi khóc một mình. Tôi sang đó cả tuần cũng không gặp được thằng út. Mãi sau này tôi mới biết là nó thuê “pạc-măng” (apartment) ở riêng với con bồ Mỹ chứ chẳng cưới xin gì hết. Chúa Nhật cũng không thấy đi lễ đi lạy gì cả. Tôi khổ tâm lắm, bắt con Hoa gọi nó về, chửi cho một trận. Nhưng tôi nói gì mặc tôi, nó cứ ngồi trợn mắt ngó lên trần nhà chứ có hiểu tôi nói gì đâu!

Quá thật vọng với mấy đứa con và các cháu ở Ca-li, tôi nói với cái Lành mua vé máy bay cho tôi về Texas ở với chúng nó và vợ chồng thằng Hiền. Cậu biết đó, chúng nó mới sang sau này theo diện H.O.. nên còn nghèo lắm; được cái là hai anh em lấy hai chị em nên chúng nó hòa thuận thương yêu nhau. Hai gia đình chung nhau mua một cái nhà khá lớn vì cả hai đều đông con.

Thằng Hiền và thằng Khanh đi làm cho một hãng cuốn chả giò vì không có nghề nghiệp chuyên môn. Hai con vợ nhận hàng về nhà may tối ngày sáng đêm. Nhà đông người, lại chất đầy vải vóc, kim chỉ… Thôi thì bụi bậm, rác rưởi không thua gì mấy khu vực lao động bên Sàigòn. Tôi bảo chúng nó là thằng Dũng và con Hoa đều giàu có, sao không kêu anh chị giúp vốn cho mà làm ăn buôn bán cho đỡ vất vả… Tôi nói mặc tôi, chúng nó không đứa nào trả lời trả vốn gì hết.

Tôi chờ tới hôm thằng Dũng và con Hoa gọi điện thoại hỏi thăm mới la cho một trận là tại sao không giúp đỡ các em. Cả hai đứa đều nại đủ lý do phải chi tiêu khoản này khoản nọ, không có khả năng để cưu mang cho ai. Con Hoa lại còn kể công đã nuôi thằng Đức bao nhiêu năm từ ngày thằng út mới đi học lớp một! Tôi mở hết hầu bao, có vài ngàn bạc để dành từ Việt Nam, tôi giao hết cho con Lành, nói nó dùng làm vốn mở tiệm gì đó buôn bán cho đỡ cực hơn làm nghề may khoán. Lúc đó tôi mới biết là số tiền vài ngàn bạc ở Mỹ này chẳng làm được gì hết!

Ở chung với vợ chồng con Lành và thằng Hiền được mấy tháng thì bệnh suyễn của tôi tái phát. Bác sĩ bắt tôi phải đi ở chỗ thoáng mát, tránh bụi bậm ô nhiễm… Thằng Dũng đã không biết thương em thì chớ, lại chửi chúng nó là không biết lo cho mẹ, tự động mua vé máy bay bắt con Lành đưa tôi trở về.

Tôi ở nhà vợ chồng đứa con trai trưởng mà cứ nghĩ như mình bị đưa đi tù vậy đó, cậu Huy à. Nó giam tôi từ mùa thu cho tới mùa Xuân, cứ ngồi trong cửa sổ nhìn lá vàng rồi lá rụng, tuyết xuống phủ đầy sân rồi tuyết tan… Tôi cứ thui thủi một mình lần chuỗi suốt ngày, ngoại trừ Chúa Nhật nó chở tôi đi lễ ở nhà thờ Mỹ gần nhà. Tới mùa hè, vợ chồng nó bàn nhau đi “cu” đi “cụ” gì đó (cruise) 3 tuần trên biển, nên gọi cho con Hoa nói sẽ gởi tôi về bên đó vài tháng. Tôi quá thất vọng với con cháu bên Mỹ nên cũng chẳng thèm nói năng gì, mặc kệ chúng nó. Tôi lại lạch cạch khăn gói về Ca-li. Mới ở được vài tháng chúng nó lại “tống” cổ tôi về Houston vì “không có thì giờ để hầu mẹ”!

Tôi chỉ muốn chết đi cho xong, nhưng mình là người Công Giáo đâu dám nghĩ chuyện làm bậy. Không biết vợ chồng hai đứa “nghèo” bàn nhau làm sao mà tôi mới về ở được vài tuần, chúng nó nói sẽ đi mướn một một chỗ riêng cho tôi ở để bệnh suyễn của tôi không phát lại vì bụi bậm trong nhà nó. Tôi thương các con, các cháu còn nghèo nên đòi về lại “nhà tù” của thằng Dũng chịu khổ một mình hơn là gây thêm gánh nặng cho mấy đứa nhà nghèo. Cực chẳng đã, chúng nó đã phải mua vé máy bay cho tôi trở về với thằng Dũng giữa mùa đông như thế này. Cũng may mà gặp được cậu…”

Bà cụ Thanh bật khóc nức nở. Tôi không biết phải làm gì nên cứ để cụ khóc một lúc cho nguôi ngoai… Và chợt nhớ tới khu “nhà già” của các cụ cao niên ở gần nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nên nhỏ nhẹ nói với cụ:

– Để mai về bên đó con liên lạc với anh Dũng xem có thể sắp xếp gởi cụ tới ở chung với các cụ trong Hội Cao Niên bên giáo xứ chúng con cho vui. Vừa có bạn bè người Việt, vừa có các bạn trẻ tới chở đi lễ nhà thờ Việt Nam…

– Được thế thì còn gì bằng. Mà ở đó có gần nhà cậu Huy không?

– Cũng gần cụ ạ. Và cũng không xa chỗ anh Dũng lắm đâu, tuy là 2 tiểu bang khác nhau nhưng chỉ cách con sông Potomac…

– Thế cậu Huy giúp dùm tôi nhé. Tôi chẳng trông mong gì nơi vợ chồng thằng Dũng cả..

– Vâng. Đàng nào con cũng đã ghi số điện thoại anh Dũng đây rồi, cuối tuần con sẽ nói chuyện và nếu tiện con sẽ chở vợ con sang thăm cụ cho vui; và thỉnh thoảng chúng con xin phép đón cụ sang bên này đi lễ Việt Nam cho biết..

– Giêsu Lạy Chúa tôi. Được thế thì có chết tôi cũng mãn nguyện. Tôi đi nhà thờ Mỹ cứ như vịt nghe sấm chứ có hiểu gì đâu. Tôi nói vợ chồng nó chở đi nhà thờ Việt Nam nhưng chúng nó bảo giờ giấc không thuận tiện nên chưa bao giờ đưa tôi đi cả cậu ơi!

– Cũng gần sáng rồi, cụ nghỉ một lát cho đỡ mệt rồi còn sửa soạn ra phi trường.

– Cậu nghỉ đi, tôi già cả rồi có cần gì ngủ nghỉ. Tôi làm khổ cậu thức suốt đêm. Xin Chúa Mẹ thay tôi báo đáp công ơn cho cậu.

Sau khi trở về Virginia, tôi đã liên lạc với vợ chồng anh Dũng. Anh chị ấy đã mời chúng tôi qua chơi ngay cuối tuần đó để cám ơn tôi giúp đỡ bà cụ hôm bị lỡ máy bay ở phi trường Chicago. Tôi nói sơ qua về việc gởi cụ vào “nhà già” bên Virginia cho có bạn, có bè… nhưng anh đã kịch liệt phản đối vì sợ các em trách là “vợ chồng anh đẩy mẹ vô viện dưỡng lão”! Tôi giải thích mãi là mình chỉ muốn sắp xếp làm sao cho cụ vui lúc tuổi già, nhưng anh chị ấy cũng không nghe theo. Cuối cùng tôi chỉ xin phép đón cụ sang nhà tôi chơi với mấy đứa nhỏ vài lần vào dịp cuối tuần, và chở cụ đi nhà thờ Việt Nam.. Ôi thôi, cụ mừng như đứa trẻ mới lớn, lần đầu được mẹ cho đi chợ sắm quần áo mới và sách vở đi học lớp vỡ lòng! Lần nào tôi chở về lại nhà anh Dũng cụ cũng rươm rướm nước mắt, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao hơn được. Vợ chồng tôi bàn nhau, nếu mùa hè này mẹ tôi qua Mỹ du lịch lần nữa, chúng tôi sẽ xin phép anh Dũng để cho hai bà đi chơi với nhau một thời gian cho cụ đỡ buồn… Nhưng mùa hè chưa tới!

*****

Vợ chồng tôi vừa bước vào khu vực ICU (Intensive Care Unit, khu chăm sóc đặc biệt) ở nhà thương George Washington đã gặp vợ chồng anh Dũng và mấy người nữa đang ngồi nơi hành lang phòng chờ đợi (waiting room). Anh Dũng chạy tới bắt tay tôi: “Cha tuyên uý đang làm các phép cho bà cụ nhà tôi… Chắc cũng sắp xong rồi. Tôi sẽ dẫn anh vào ngay cho cụ gởi gắm ít lời. Cụ nhắc anh mãi. Họ chỉ cho vào mỗi lần 2 người thôi. Bác sĩ nói chắc bà cụ nhà tôi không qua khỏi đêm nay. Cụ đang nuối anh đó, anh Huy à. Tôi là con mà không lo được cho cụ như vợ chồng anh..”

Nói rồi anh Dũng giới thiệu vợ chồng tôi với gia đình các em của anh. Chúng tôi ngồi chờ mấy phút thì cha tuyên uý đi ra. Ngài nói vài lời an ủi gia đình rồi lại vội vàng đi xức dầu cho một bệnh nhân ở lầu dưới. Anh Dũng kéo tôi đi vào gặp bà cụ… Đôi mắt cụ sáng hẳn lên khi nhìn thấy tôi và anh Dũng bước tới bên giường. Cụ thều thào:

– Dũng con. Mẹ chỉ còn một ước muốn cuối cùng, và mẹ muốn con hứa với mẹ truớc mặt cậu Huy là con sẽ…

– Vâng, con sẽ nghe lời mẹ. Con xin mẹ tha thứ cho chúng con đã làm mẹ buồn lòng.

– Mẹ không buồn giận các con. Hai năm nay mẹ đã đi đông, về tây theo sự sắp xếp của các con… Các con đặt đâu mẹ ngồi đó! Nhưng sau khi Chúa cất mẹ về, mẹ xin con một điều… con cho mẹ được về nằm bên cạnh mộ cha con bên Việt Nam… Cậu Huy, tôi mang ơn vợ chồng cậu nhiều lắm… đã cho tôi được hưởng sự ấm cúng của một gia đình bên Mỹ. Xin Chúa Mẹ trả công cho… gia… đình…

Tôi đang thầm thì kêu Tên Cực Trọng: “Giêsu, Maria, Giuse…. Xin Ba Đấng gìn giữ và đón tiếp linh hồn Anna” thì nghe anh Dũng òa lên khóc nức nở. Tôi nhìn qua thấy bà cụ Thanh miệng vẫn như mỉm cười nhưng hơi thở đã tắt!

Nguyễn Duy-An

*****

Bạn đọc thân mến:

Ai trong chúng ta cũng có mẹ, có cha. Sau khi đọc những tâm tình trên đây, nếu bạn là người may mắn vì cha mẹ còn sống, hãy dành một ít phút tự vấn lương tâm, xét lại thái độ, cử chỉ hay lời nói của mình đối với cha mẹ. Hãy làm một việc gì “nho nhỏ” cho cha mẹ vui lòng. Nếu cha mẹ không còn, hãy đọc một bài kinh cầu nguyện cho các cụ được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời.

Con ra đời có mẹ cha

Là trời cao biển lớn bao la

Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà

Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà

Nhờ công cha, nhờ nghĩa mẹ

Con khôn lớn trong muôn lời ca.

Xin ơn trên đổ xuống chan hòa

Giúp mẹ cha ngày tháng an hòa

Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa

Xin cho con ở giữa gia đình

Sống làm sao đền đáp ân tình

Ơn biển trời ghi khắc trong tim.

Nuôi con bằng sữa tình thương

Và dạy con bằng tiếng thương yêu

Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ

Con nhờ mẹ cha mới trở nên người

Bàn tay cha, giòng sữa mẹ

Xin ghi nhớ không bao giờ quên. 


 

Truyện hy hữu nhưng có thật

 

    Một bé trai 15 tuổi bị bắt vì trộm từ một cửa hàng ở Mỹ. Khi cố gắng để trốn thoát, cậu bé cũng đã làm hư một cái kệ. Người chủ cửa hàng đã bắt giữ được cậu bé và kiện ra tòa án và phán quyết của tòa án Mỹ đã làm nhiều người rơi lệ

     Sau khi thẩm phán nghe được vụ án, ông ấy hỏi cậu bé:

– “Cháu có thật sự ăn cắp gì không?”

Cậu bé xấu hổ, cúi đầu xuống, trả lời:

– “Có ạ! Cháu đã ăn cắp bánh mì, phô mai và làm hư cái kệ.”.

Thẩm phán lại hỏi:

– “Tại sao cháu lại ăn cắp?”

Đứa bé trả lời:

– “Vì nó cần thiết.”

Thẩm phán lại hỏi:

– “Sao Cháu không mua mà ăn cắp nó.”

Cậu bé nói:

– “Cháu không có tiền.”

Thẩm phán nói:

– “Cháu có thể xin tiền Cha mẹ.”

Cậu bé nói:

– “Cháu chỉ có Mẹ, nhưng mẹ cháu đang bị bệnh và không đi làm việc được, nên cháu phải ăn cắp bánh mì, phô mai để cho Mẹ ăn.”

Thẩm phán hỏi:

– “Cháu không làm gì à? Cháu không có việc làm sao?”

Cậu bé trả lời:

– “Cháu làm việc ở tiệm rửa xe. Cháu phải nghỉ để chăm sóc cho mẹ nên đã bị đuổi việc.”

Thẩm phán nói:

– “Cháu không tìm kiếm việc gì khác để tiếp tục làm việc ở nơi khác sao?

– Dạ, mẹ cháu đang ốm nặng mà không có người chăm sóc, nên cháu không thể đi làm được.

     Thẩm phán cho người đi xác minh những gì cậu bé nói thì thấy tất cả đều là sự thật. Sau khi biết rõ ngọn ngành mọi chuyện. Thẩm phán ra tuyên bố phán quyết:

– “Tội ăn cắp, đặc biệt lại là ăn cắp bánh mì là MỘT TỘI ÁC thật đáng xấu hổ…! Và ở đây, tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm cho tội ác này…”

Cả phòng xử án đột ngột im lặng…

– “Tất cả mọi người trong phòng xử án hôm nay, trong đó có Tôi, đều phải chịu trách nhiệm cho tội ác này. Do đó, ai đang hiện diện tại đây đều phải bị phạt 10 Dollars, không ai được đi ra khỏi đây mà không bị phạt 10 Dollars.”

     Thẩm phán lấy tờ tiền 10 Dollars từ túi áo ông ấy, rồi lấy một cây bút và bắt đầu viết tên những người phải nộp phạt.

– “Ngoài ra, Tôi còn phạt 1000 Dollars Chủ cửa hàng bánh mỳ, vì giao một đứa trẻ đói bụng cho Cảnh sát. Nếu không đóng phạt trong vòng một giờ, cửa hàng sẽ bị đóng cửa.”

– “Mọi người ở đây đều nên xin lỗi cậu bé và nộp phạt 10 Dollars, để cậu bé có tiền chăm sóc mẹ. Chúng ta đã ích kỷ và thiếu quan tâm đến những cảnh đời kém may mắn hơn mình.”

     Sau những lời phán quyết của thẩm phán, cậu bé oà khóc và ôm lấy ông. Tất cả mọi người trong phòng xử án đều xúc động rơi nước mắt.

     Tôi tự hỏi liệu xã hội, hệ thống Tòa án của nước Pháp chúng ta có thể đưa ra một phán quyết giống như toà án Mỹ như vậy không?

Thẩm phán nói thêm:

– “Nếu một người bị bắt quả tang ăn cắp bánh mì do bị đói, tất cả thành viên của Cộng đồng, Xã hội và Đất nước này đều phải thấy xấu hổ.!”

*****

     Một tòa án  bên VN đã xử 1 người ăn cắp 1 con gà với hình phạt là 7 năm tù ở.  Nếu đem cái luật bây giờ “nộp tiền ăn cắp được, dù tiền muôn bạc tỷ, cũng sẽ được nhẹ tội (vụ án chuyến bay Covid). Nếu anh ăn cắp gà sẽ trả lại con gà. Các cụ đoán xem hình phạt của anh ta là bao nhiêu ??? 

From: KimBằngNguyễn  


 

LẼ SỐNG – Truyen ngan HAY

Cang Huynh 

LẼ SỐNG – Truyen ngan HAY

Ở tuổi 40, đôi tay người phụ nữ này run rẩy dữ dội đến nỗi cô không thể cầm nổi tách cà phê mà không làm đổ. Tháng 6 năm 2001, chẩn đoán đến như một cú sốc: cô mắc một dạng bệnh Parkinson nặng và khởi phát sớm. Đối với nữ tu người Pháp thuộc dòng Nữ tu Nhỏ của Cộng đồng Mẹ Công giáo, vốn thuận tay trái từ khi sinh ra, việc mất khả năng sử dụng cánh tay trái đồng nghĩa với việc không còn viết được, không còn lái xe được, và phải dần dần từ bỏ tất cả công việc chăm sóc người bệnh.

Trong bốn năm, cuộc sống hàng ngày của Sơ Marie-Simon-Pierre chỉ toàn là đau đớn, cứng khớp và những đêm mất ngủ.

Cơ thể bà dần dần suy yếu.

Mùa xuân năm 2005, sau khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời – bản thân ngài cũng mắc căn bệnh tương tự – tình trạng của sơ trở nên tồi tệ hơn đáng kể. Sự cứng khớp lan rộng khắp bên trái cơ thể. Sự mệt mỏi trở nên không thể chịu đựng được.

Ngày 2 tháng 6 năm 2005, hoàn toàn kiệt sức, sơ đến văn phòng bề trên để xin được miễn nhiệm vĩnh viễn.

Mẹ bề trên lắng nghe một cách tử tế, cầm lấy một cây viết và yêu cầu sơ thử lần cuối: viết tên “John Paul II” lên một mảnh giấy.

Sơ Marie-Simon-Pierre làm theo, nhưng tay sơ không phản ứng. Trên trang giấy, cái tên chỉ là một nét nguệch ngoạc vô định hình, không thể đọc được.

Tối hôm đó, sơ trở về phòng, lòng nặng trĩu nhưng tràn đầy một linh cảm kỳ lạ.

Khoảng 9 giờ 30 tối, sau một lời cầu nguyện ngắn, một thôi thúc bên trong khiến sơ cầm bút lên lần nữa.

Sơ đặt ngòi viết lên giấy.

Cổ tay sơ không run.

Các ngón tay sơ khép lại mà không đau.

Sơ viết từng chữ một cách trôi chảy hoàn hảo.

Sáng hôm sau, ngày 3 tháng 6 năm 2005, nữ tu thức dậy khi bình minh ló dạng. Lần đầu tiên sau nhiều năm, chứng cứng khớp đã biến mất. Sơ bật dậy, cánh tay trái đung đưa tự nhiên bên hông, và cơn đau đã hoàn toàn biến mất.

Không nói ngay với ai, sơ quyết định ngừng tất cả các phương pháp điều trị y tế.

Vài ngày sau, khi đến gặp bác sĩ thần kinh để kiểm tra sức khỏe, bác sĩ đã vô cùng kinh ngạc: tất cả các triệu chứng lâm sàng của bệnh Parkinson đã hoàn toàn biến mất một cách khó hiểu.

Mười tháng sau, không cần dùng thuốc, Sơ Marie-Simon-Pierre đã trở lại cuộc sống hoàn toàn bình thường, đi bộ, viết lách và lái xe như thể căn bệnh chưa từng tồn tại. Hồ sơ bệnh án của sơ sau này trở thành một trong những tài liệu quan trọng được các chuyên gia xem xét trong quá trình phong chân phước cho Đức Giáo Hoàng Paul II.

Chúng ta thường nghĩ rằng khi mọi thứ dường như đã mất hết và y học đạt đến giới hạn của nó, thì không còn gì để hy vọng trong cuộc sống. Đôi khi chúng ta quên rằng ranh giới giữa tuyệt vọng và chữa lành có thể nằm ở một khoảnh khắc duy nhất của việc không chịu bỏ cuộc.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.


 

NHỮNG BƯỚC CHÂN – Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

 Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

 Nói đi vào hoặc đi ra là nói đến những bước chân.  Nhưng khi vào đời, tôi không vào đời bằng chân vì tôi chỉ là hài nhi không biết đi.  Ra khỏi cuộc đời, tôi cũng chẳng ra khỏi bằng chân vì tôi chết.  Như thế, vào đời hay ra khỏi cuộc đời là những bước chân thiêng liêng.  Đó là những bước chân liên quan đến hạnh phúc và ơn cứu độ.

 Trong khoảng thời gian từ lúc tôi mới sinh ra, không biết đi, đến khi tôi không thể đi vì tôi chết, là một hành trình thật dài.  Trong hành trình dằng dặc này của cuộc sống, tôi bước những bước chân.  Tôi đi.  Tôi đi rất nhiều.  Vì tôi vào đời đón sự sống bằng bước chân thiêng liêng.  Tôi từ giã cuộc đời, ra khỏi sự sống bằng vết chân thiêng liêng, nên những bước chân hàng ngày tôi đi trên mặt đất rất liên quan đến những ý nghĩa thiêng liêng.

 Hướng chân đi

 Đi, là đi đâu.  Đi không định hướng sẽ là cuộc đi thiếu năng lực.  Vì không có lí tưởng để tiến tới nên chân mỏi mệt lắm.  Rồi, cuộc đời là cuộc đi buồn bã.  Có bước chân ban sáng, có bước chân chiều tà.  Bước đi trong đời, ai cũng mang một trong hai bước chân đó.  Đức Kitô biết rõ những loại chân này, nên Ngài nói với các môn đệ: “Khi còn sáng ngày Ta phải làm việc của Cha Ta.  Đến tối không ai còn làm việc nữa” (Ga. 9:4).  Thời gian sẽ ngắn lại, bước chân ta chậm theo dòng đời.  Bình minh gọi, kẻ không bước đi sẽ muộn phiền hối tiếc khi chiều buông xuống.

 Có người đi ban đêm.  Có kẻ đi ban ngày.  Có người đi trên đường.  Có kẻ đi dưới rãnh.  Có nhiều thứ đi.  Có nhiều thứ bước chân.  Khi Đức Kitô bị bắt thì có những bước chân chạy trốn mà cũng có những bước chân đến gần.  Khi Đức Kitô gọi, thì có những bước chân theo mà cũng có bước chân chối từ.  Có bước chân đi phân vân và cũng có bước chân dứt khoát.  Từ khởi điểm của vào đời và ra khỏi đời là trăm ngàn ngõ bước, lối đi, những bước chân khác nhau.

 Điệu chân đi

 Nói đến đi thì cũng  nói tới bước chân đi và lối ngõ để bước chân đi trên đó.  Có những lối ngõ khác nhau và phải bước theo cách thế của mỗi lối đi.  Không thể bước trên đường sỏi đá giống như bước trên đồi cỏ.  Rồi ngay mỗi người cũng có nhiều đoạn đường khác nhau trong một lối đường.  Bởi đó, người ta phải học cách bước của mỗi đoạn đường.  Đoạn đường Maria đi thăm chị họ mình để báo tin vui là bước chân đon đả, không giống đoạn đường trốn sang Ai Cập.  Cách Đức Kitô bước vào dinh tổng trấn Philatô chắc không giống cách Người bước vào nhà người thu thuế.  Thích nghi với hoàn cảnh, văn hóa trong công cuộc rao giảng Tin Mừng chẳng những là sáng tạo mà còn là một định luật.  Chọn cho mình một lối đúng mà không bước đúng cách cũng chưa là đi đúng.

 Người ta nói: Bước vào yêu.  Thì nghe cũng như đúng vậy thôi.  Tình yêu ở đâu để mà bước vào?  Tình yêu tự nó không là thửa đất, không là cánh đồng.  Tình yêu không giống như một bản đồ vẽ sẵn.  Rồi ai nấy chọn một ngã.  Tình không chờ sẵn như căn nhà rồi ta vào ở.  Đức Kitô không bước vào yêu mà Ngài là Tình Yêu vào thế gian (Ga 3:16).  Như thế, bước vào yêu theo nghĩa đẹp nhất là tình yêu đưa ta bước tới.  Tình yêu nơi trái tim Đức Kitô đưa bước chân Ngài lên Núi Sọ.  Ngài không lên Núi Sọ tìm tình yêu mà là tinhd yêu thúc đẩy Đức Kitô gặp thập giá, để thập giá có tình yêu.

 Tình yêu và bước chân

 Trong cuộc đời sẽ có hai bước chân của hai lối đi khác nhau về tình yêu.  Một bước chân vào đời do tình yêu đưa lối.  Và một bước chân tìm lối đi của tình yêu trong đời.

 – Bước chân do tình yêu đưa lối thì có năng lực và không bao giờ bước sai. “Bỏ lại chín mươi chín con chiên đó mà đi tìm con chiên lạc” (Mt.18:12-13).  Những bước chân này đi tới đâu là rộn rã yêu thương tới đó.  “Vì Cha quá yêu thế gian nên đã sai Con Một vào thế gian” (Ga 3:16).  Không là chân đi tìm tình yêu mà là tình yêu đẩy chân đi tìm.

 – Còn lối bước thứ hai là bước chân đi tìm tình yêu.  Bước chân này rất dễ lầm đường lạc lối.  Tình yêu không co sẵn khơi khơi.  Bởi đó, làm sao tìm thấy tình yêu được.  Họ không thấy tình yêu mà chỉ  thấy cái họ thích yêu.

 Khi tôi gặp người tôi thương mến, điều ấy có nghĩa là tôi bắt gặp điều làm tôi yêu thích.  Tôi phải để tình yêu trong tôi lên tiếng thẩm định cho sự gặp gỡ này.  Rạo rực của con tim khi gặp người tôi mến thương thúc đẩy tôi phải ôm giữ.  Rồi, từ đó tôi ngỡ rằng đó là tình yêu và tôi đã gặp tình yêu.  Khi trong tim tôi không có tình yêu thì sự ôm giữ này trở thành cuồng phong, vì tôi lầm lẫn cho đó là tình yêu.  Nếu trái tim tôi có tình yêu thì tình yêu sẽ lên tiếng thẩm định và câu trả lời có thể là không cho phép tôi bước tới.  Nếu bước tới, bước chân đó sẽ sai vì không nghe tiếng tình yêu nói mà chỉ là tìm cái tôi thích yêu.

 Nếu nói gặp người tôi thương mến là gặp tình yêu thì làm sao có trung thành trong hôn nhân luôn luôn gặp những người yêu mới.

 Đức Kitô không bao giờ đi sai vì chân Ngài được tình yêu thúc đẩy.  Trước giờ chết, trước kẻ có quyền kết tội, Ngài không chối từ, không trốn tránh vì Ngài có tình yêu làm sức mạnh.  Trên đường đời có những quãng vắng khắc nghiệt vì sỏi đá.  Tình yêu sẽ đẩy chân bước tới.  Còn bước chân đi tìm tình yêu sẽ phân vân ngại ngùng tránh né.  Bởi đó, trong hôn nhân, và người tu sĩ cũng thế, không có lạc lối trong tình yêu mà chỉ là không có tình yêu nên mới lạc lối.

 Những bước chân riêng

 Mỗi người có một lối nên không thể lấy bước chân kẻ khác làm bước chân của mình.  Sự nghèo khó, lý tưởng, con cái, giáo dục, thân xác, hoàn cảnh của mỗi gia đình không giống nhau.  Áng màu nào cũng đẹp nhưng nó phải phù hợp với ơn gọi của nó.  Bước lẫn sang lối đi của người khác là lạc lối.  Vì lối đi của người khác đúng với họ mà thôi nên khi lấy cái đúng của họ làm của mình nó dễ trở thành cái sai.  Khó mà nhận ra cái lạc lối của mình khi mình đi trong lối đi của kẻ khác, bởi vì cứ nghĩ rằng nó đúng với tha nhân thì cũng đúng với mình.

 Những bước chân phải cùng nhau đi mà không đi cùng nhau là đi sai.  Những bước chân phải đi đơn lẻ mà cứ quyến luyến nhau cũng là đi không đúng.  Huyền nhiệm của những bước chân là thế.

 Có những bước chân âm thầm.  Có những bước chân trong chiều mưa.  Là những bước chân riêng, nhưng bước chân nào thì cũng biết mỏi.  Đường ở đâu hay ở đó, hôm nay hay ngày mai, ở đâu và thời gian nào thì đường cũng có thể làm chân ê ẩm, gây thương tích đau đớn.  Đường đời dài lắm.  Nhất là đường sám hối, đường muốn tập nhân đức.  Bởi vậy, chân cần nghỉ ngơi, cần xoa dịu.  Là những bước chân riêng, nhưng cùng một ơn cứu độ.  Có phải vậy mà đường chiều thập giá là Simon vác thập tự cho Đức Kitô đỡ té ngã.  Có phải thế mà hôn nhân cùng nhau đi.

  Lạy Chúa, khi biết mình sắp xa các môn đệ, Chúa đã rửa chân cho họ.  Nếu chỉ nhìn những bàn chân được rửa như một gương khiêm nhường Chúa đã làm thì con thấy chưa đủ.  Bỏ trời cao xuống trần chưa đủ là khiêm nhường sao.  Sinh ra trong nghèo khó đủ cho con thấy Chúa thế nào rồi.  Thái độ rửa chân cho chúng con là hình ảnh tuyệt vời ý nghĩ của những bước chân.  Cần thiết lắm.  Một ý nghĩ rất sâu của những bàn chân sẽ bước đi rất chơi vơi trong đời.  Sắp chết là Chúa sắp bước những bước chân vô cùng mầu nhiệm.  Ai có thể đi theo những bước chân gian nan khổ nạn ấy?  Phải là những bàn chân được Chúa rửa thì mới có năng lực bước theo Chúa vào khổ nạn được.  Rửa cho rơi đi những ươm hèn, gian dối, nhỏ nhen.  Bàn chân con phải được rửa bằng tình yêu của Chúa để bàn chân ấy có tình yêu thì con mới có thể bước đi trong đời mà không bước sai.

 Vì hệ trọng, nên khi bước, chân phải biết mình đang đi đâu và bước như thế nào.

 Chúa bảo chúng con rửa chân cho nhau.  Bởi, chân nào đi mà không mỏi.  Đường đời dài thăm thẳm.  Lối đi nào mà không nhiều lúc dẵm sang đời nhau.  Chúng con cần nâng đỡ cho đôi chân nghỉ ngơi, cần được nhắc nhở cho đôi chân tỉnh thức, cần thông cảm cho đôi chân khỏi chán nản.

  Lạy Chúa, con phải suy tư như thế nào về bước chân của mình và của người anh em?

 Những người nghèo là người phải đi bộ.  Và đi bộ thường phải đi bên lề đường.  Nếu họ đi bên lề đường chỉ vì nghèo để tránh rộng lối cho con đi, và nếu chỉ vì nghèo mà bước chân bên lề đường ấy làm họ phải bước bên lề cuộc đời thì con nghĩ sao về bước chân của mình.

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, sj.

From: Langthangchieutim


 

ĐIỀU KỲ DIỆU – Truyen ngan HAY

Cang Huynh 

ĐIỀU KỲ DIỆU.

Trong hành lang phục vụ của một sở thú lớn, một người trông coi sở thú tiến đến một hộp điện bị chạm dây điện, nằm ngay cạnh chuồng nuôi vượn lớn. Chỉ vài giây sau khi mở cánh cửa kim loại, một cú sốc điện mạnh hất anh ta ngã mạnh xuống sàn bê tông. Choáng váng, mất phương hướng và không thể cử động, người đàn ông nằm cách một sợi dây điện hở, cách mặt đất chỉ vài centimet.

Phía sau cánh cổng chuồng nuôi, một nhân chứng bất ngờ đã chứng kiến ​​tất cả.

Đó chỉ đơn giản là một con tinh tinh trong chuồn nuôi.

Quan sát cảnh tượng từ cổng ra vào, con vật ngay lập tức trở nên kích động. Nhưng thay vì chạy trốn trở lại môi trường sống của mình theo bản năng bảo vệ, con vật lại vượt qua ngưỡng cửa và đi thẳng vào vùng nguy hiểm.

Nó túm lấy cổ áo khoác của người trông coi sở thú bằng cả hai tay.

Không chút do dự, con tinh tinh bắt đầu kéo người đàn ông bằng tất cả sức lực của mình ra xa vài mét. Cơ thể người trông coi sở thú trượt trên nền bê tông lạnh lẽo, dần dần di chuyển ra xa khỏi những sợi dây điện sáng loáng. Khi người đàn ông đã được kéo ra khỏi nguy hiểm, con vật buông tay và từ từ lùi lại về phía lối vào chuồng của nó.

Trong khi đó, các nhân viên được cảnh báo bởi camera an ninh đã kích hoạt quy trình khẩn cấp.

Chưa đầy một phút sau, ba người cứu hộ xuất hiện tiếp cận với thiết bị y tế.

Khi đến nơi, nhóm cứu hộ thấy người trông coi vườn thú đang ngồi dậy, dần dần tỉnh lại. Cách đó vài mét, con tinh tinh ngồi yên bình gần cửa, lặng lẽ quan sát sự xuất hiện của những người đến trợ giúp.

Ban quản trị vườn thú sau đó xác nhận rằng con vật này chưa từng được huấn luyện để thực hiện bất kỳ loại cứu hộ nào. Nó chỉ đơn giản nhìn thấy một người quen gặp nạn và hành động theo bản năng thuần túy.

Lòng trắc ẩn và bản năng bảo vệ thường được cho là chỉ có ở con người, nhưng thiên nhiên đôi khi nhắc nhở chúng ta rằng bản năng cứu sống vượt qua ranh giới loài.

Nếu câu chuyện này làm bạn xúc động, hãy chia sẻ để tôn vinh trí thông minh và sự nhạy cảm của thế giới động vật.

– Cang Huỳnh lược dịch từ National Géographie.


 

BÀI HỌC LÀM NGƯỜI — Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

BÀI HỌC LÀM NGƯỜI.

Một hôm tại lớp võ của tôi tập có chuyện không vui xảy ra, đây là lần đầu tiên có cô võ sinh đã bị mất tiền từ phòng chứa đồ dành chung cho tất cả mọi thành viên của võ đường.

Nạn nhân là một huyền đai tên Cheng, nữ sinh viên năm cuối, du học sinh từ Singapore, cuối ngày hôm ấy cô đã ghé qua ngân hàng rút một số tiền lớn

(khoảng $5000) để sáng ngày mai sẽ đóng tiền cho trường cô đang theo học và lo một số việc cho gia đình.

Có thể cô quá chủ quan vì suốt ba năm theo tập tại võ đường chúng tôi chưa bao giờ có vấn đề tệ hại này xảy ra.

Trong giờ giải lao năm phút, cô phát hiện ví tiền còn nguyên trong ngăn kéo nhưng tất cả số tiền không cánh mà bay.

Hoảng hốt cô liền lớn tiếng hô mất trộm và quyết định kêu cảnh sát và đề nghị Thầy giữ tất cả mọi người trong lớp chờ điều tra cho ra lẽ.

Lúc đó Thầy tôi – một võ sư gốc Nhật 70 tuổi, đăm chiêu suy nghĩ.

Chờ mọi người xung quanh lắng xuống ông mới ôn tồn nói:

– “Đây là lần đầu tiên trong 50 năm dạy võ của Thầy, 20 năm từ ngày võ đường chúng ta được thành lập mới xảy ra chuyện không vui này, Thầy rất buồn về sự việc đã xảy ra nhưng Thầy hiểu rằng con người ai cũng có những lúc sai lầm và

sa ngã trong việc mình làm.

Là người Thầy dạy các em thì Thầy phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Thầy xin cam đoan với các em nếu hôm nay không tìm ra được số tiền đó thì Thầy xin đứng ra gởi lại số tiền cho người mất.

Tuy nhiên nếu có người lấy cắp số tiền trên tại võ đường này thì chắc chắn phải là một học trò thương yêu nào đó của Thầy…

Thầy xin em Cheng cho Thầy giải quyết theo cách của Thầy nhé!”.

Trong đám võ sinh lố nhố, người im lặng, có người buồn, có đứa giơ tay đề nghị phải làm cho ra lẽ, cứ việc gọi cảnh sát đến điều tra ra trắng đen v.v..

Thầy đưa tay đề nghị mọi người giữ im lặng để Thầy nói:

– “Thầy xin lỗi tất cả trước và đây là cách giải quyết của Thầy, không cần gọi cảnh sát làm gì.

Xin tất cả ra sân đứng sắp hàng không thiếu một ai.

Chút nữa từng người một bước vào võ đường một mình trong vài phút, nếu ai lỡ mượn tiền bạn mình mà chưa xin phép thì cứ lấy ra bỏ lại vào ví cho bạn và tất cả ra đây sắp hàng lại nhé. Người cuối cùng vào xem lại ví tiền sẽ là em Cheng.

Tuy nhiên trước hết xin cho Thầy, cô Cheng cùng một võ sinh lớn tuổi nhất trong lớp chúng ta vào xem nơi mất tiền vài phút nhé”.

Thầy và cô gái mất tiền, vị võ sư đàn anh của chúng tôi cùng vào nơi để chiếc ví trở ra, sau đó tuần tự từng người một đi lặng lẽ vào bên trong võ đường.

Hơn một giờ mọi người đi vào và ra, đúng như dự kiến của Thầy số tiền đã được ai đó trả lại ngay vào trong ví của người mất, cô gái mất tiền cũngthở phào khi tìm lại được đầy đủ số tiền của mình.

Mọi người cảm thấy nhẹ nhàng, nhưng nhìn sâu trong mắt mọi người dường như ai đó cũng có chút tâm trạng.

Trong suy nghĩ của tôi: nếu như Thầy đồng ý gọi sở cảnh sát thì người bạn lấy trộm số tiền từ chiếc ví kia chắc chắn sẽ phải nhận sự trừng phạt của pháp luật.

Việc trừng trị tội phạm không có gì là sai, nhưng nó lại khiến một người nào đó mãi mãi mất đi cơ hội sửa sai, chuộc lại lỗi lầm, làm lại từ đầu.

Những gì Thầy làm đã giúp tìm được tài sản của học trò mình mà còn cho người học trò khác một cơ hội hoàn lương.

Nhận được sự tha thứ, khoan dung, kẻ trộm kia có lẽ từ đây cũng sẽ hồi tâm chuyển ý, sống cuộc đời có ý nghĩa hơn.

Tuy nhiên tại sao trong mắt mọi người có vẻ rơm rớm ướt?

Tôi tin là mọi người cũng như tôi, ai cũng đã thấy khi vào nơi mất tiền.

Một bao thư đóng kín còn nguyên đã được đặt trên ghế có ghi chú bằng mực đen bên ngoài:

” Đây là số tiền thu học phí tháng này, trong các em ai kẹt cứ lấy, không cần trả lại thầy…”

và một tờ giấy ai đó viết vài chữ nguệch ngoạc.

” Con xin lỗi Thầy và mọi người, con không dám nhận số tiền của thầy, nhưng con hứa sẽ không bao giờ làm như vậy nữa.”

Sự việc được hóa giải êm đẹp mà không gây tổn thương cho bất cứ người nào là nhờ cách giải quyết tế nhị và lòng bao dung của Thầy, bài học đó khắc sâu mãi trong lòng chúng tôi, nó có giá trị và ý nghĩa không thua gì những chiêu thức võ thuật mà chúng tôi đã từng học.

Le Van Quy sưu tầm


 

DẢI  RUY BĂNG VÀNG BUỘC NƠ TRÊN CÂY SỒI GIÀ – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

*Nước càng ở sâu càng tĩnh!

Người phụ nữ sâu sắc cũng vậy!

DẢI  RUY BĂNG VÀNG BUỘC NƠ TRÊN CÂY SỒI GIÀ.

Nước Mỹ. Năm 1971.

Tại một vùng núi xa xôi, trong một thị trấn nhỏ vô danh có một chàng trai bị kết án tù.

Cảnh sát đã chứng minh được rằng anh ta phạm tội và ba năm là khoảng thời gian vừa đủ để sửa chữa lại lỗi lầm.

Nhưng Mary, người vợ chưa cưới của chàng trai lại không tin điều đó.

Ngày mở phiên toà, mặc cho chàng trai không ngừng quay lại phía sau tìm kiếm thì cô vẫn vắng mặt.

Trước khi lên chiếc xe dành cho tù nhân, chàng trai nhờ chuyển cho Mary một lá thư rồi đi ngay. Anh không kịp nhìn thấy cô đang đứng khuất sau, vừa khóc vừa nắm chặt tờ giấy với những dòng ngắn ngủi:

“Anh biết anh không xứng đáng với tình yêu của em. Anh cũng không còn hi vọng em còn yêu anh sau những chuyện này. Nhưng nếu em tha thứ cho anh, hãy buộc một dải ruy băng màu vàng lên cây sồi già duy nhất ở quảng trường thị trấn vào ngày anh trở về. Và nếu không nhìn thấy dải ruy băng, anh sẽ ra đi mãi mãi và không bao giờ quấy rầy em nữa”.

Trong suốt ba năm ngồi tù, dù cho chàng trai mong mỏi Mary đến đâu thì cô vẫn bặt tin.

Năm đầu tiên, anh tự nhủ có lẽ cô chưa quen được với ý nghĩ chồng sắp cưới của mình là một kẻ phạm tội.

Năm thứ hai, chàng trai nhờ người hỏi han tin tức và chỉ nghe phong phanh là cô đã đi xa, xa lắm và chẳng biết bao giờ mới quay trở lại.

Đến những ngày tháng cuối cùng trong tù, anh đã không còn nghĩ đến dải ruy băng màu vàng nữa, nhớ về người con gái anh yêu lại càng không.

Đến ngày ra tù, anh quyết định sẽ lên xe bus đi thẳng ra thành phố chứ không qua quảng trường thị trấn như đã hẹn.

Một chuyến… hai chuyến xe đã dừng lại rồi chạy tiếp mà chàng trai vẫn không bước lên.

Mãi tới khi chuyến cuối cùng chạy qua, anh mới lầm lủi đi bộ tới quảng trường.

Lý trí bảo anh đi theo hướng ngược lại nhưng tình yêu vẫn bắt anh bước về phía trước.

Và, chiều hôm đó, hàng trăm người dân có mặt tại quảng trường đã ngạc nhiên khi thấy một chàng trai bật khóc nức nở dưới tán sồi vàng rực bởi hàng trăm dải ruy băng…

(st) 


 

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về-Truyen ngan HAY

ban nguyen truong to- Xuan-Huong T Nguyen

 Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không?

Căn nhà rộng 132m vuông. Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà:

“Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu”

Bà cụ tiếp tục nói:

“Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện”.

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu.

Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói:

“Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp”

Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói:

“Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con”.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống, bởi đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà, tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà, nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu…

Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần… 

Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng. Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình, nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm.

Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ, có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua…

Tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi công tác đột xuất nên không thể gõ cửa nhà bà …

Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa, nhưng không nghe tiếng trả lời của bà. Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé, pháp y nói: “Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim”.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói:

“Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à!”

Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng…

Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào…

Nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng đó… nhớ lại những khoảnh khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực …

Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói: “Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao”.

Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà và lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu:

Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi..!

( Trish Nguyen )


 

Sức mạnh của sự tha thứ: Chặt cây làm chết người, con trai nạn nhân xin giảm nhẹ hình phạt

Ông bà ta có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Một câu nói rất quen thuộc, nhưng phải đến khi đứng trước một mất mát thật sự, người ta mới hiểu rằng để mở lòng với người đã gây ra đau thương cho mình chưa bao giờ là điều dễ dàng.

Vụ cây xà cừ đổ đè trúng một người đi đường tại xã Quảng Bình, tỉnh Thanh Hóa khiến nhiều người day dứt không chỉ bởi một sinh mạng đã mất, mà còn bởi cách những con người trong câu chuyện đối diện với nhau sau tai nạn.

Sáng ngày 9 tháng 9, gia đình ông N.Q.H. thuê anh Nguyễn Quang Thọ cưa cây xà cừ đã chết trước nhà trên Tỉnh lộ 511. Cây đã được trồng khoảng 20 năm, trước đó từng được cắt tỉa vì gia đình lo ngại nguy cơ gãy đổ trong mùa mưa bão. Đến năm nay, cây héo úa rồi chết khô, nên gia đình quyết định cắt hạ.

Ban đầu, họ dự tính có xe nâng hỗ trợ, nhưng hôm ấy người có phương tiện đi vắng. Anh Thọ vốn là thợ mộc, lại là người họ hàng sống gần nhà nên nhận cưa cây. Khi việc cắt hạ được tiến hành, ông H. cũng ra đường cảnh báo người đi qua.

Thế nhưng tai nạn vẫn xảy ra. Đúng lúc cây đổ xuống đường, ông L.Đ.T., sinh năm 1958, điều khiển xe máy đi tới và bị thân cây đè trúng. Mọi người vội vàng đưa ông đi cấp cứu, nhưng ông đã không thể trở về với gia đình nữa.

Một người đã mất. Đó là hậu quả không thể nói nhẹ đi chỉ bằng hai chữ “vô tình”.

Gia đình ông H. là người thuê chặt cây, còn anh Thọ là người trực tiếp thực hiện. Dù ban đầu chỉ muốn loại bỏ một cây chết có thể gây nguy hiểm, họ vẫn phải đối diện với hậu quả do sự bất cẩn gây ra. Chỉ một phút chủ quan cũng đủ khiến một người mất đi sinh mạng và để lại nỗi đau quá lớn cho những người ở lại.

Nhưng đau nhất vẫn là gia đình ông T. Buổi sáng hôm ấy, ông vẫn rời nhà như bao ngày bình thường khác. Có lẽ chẳng ai nghĩ đó lại là lần cuối cùng người thân nhìn thấy ông bước ra khỏi cửa.

Nỗi đau mất người thân đột ngột có những lúc chẳng biết phải diễn tả thế nào cho đủ. Có những cuộc chia ly còn kịp một cái nắm tay, một lời từ biệt. Nhưng cũng có những người sáng còn ở bên gia đình, vài giờ sau đã trở thành một ký ức không bao giờ có thể gọi trở về.

Với anh Hải, sự ra đi bất ngờ của cha để lại một khoảng trống rất khó lấp đầy. Gần một tuần sau tai nạn, gia đình mới hoàn tất việc mai táng.

Từ đó, căn nhà sẽ thiếu đi một người. Một chỗ ngồi quen thuộc sẽ bỏ trống. Những bữa cơm sau này dù vẫn được dọn ra như trước cũng không thể còn nguyên vẹn như ngày ông còn sống.

Trong hoàn cảnh ấy, nếu anh Hải và gia đình giận dữ, muốn đòi lại công bằng cho cha, muốn những người gây ra tai nạn phải chịu trách nhiệm đến cùng, đó cũng là điều chẳng ai có thể trách. Bởi người nằm xuống là cha của anh.

Thế nhưng khi nhìn thấy sự chân thành của gia đình ông H. và anh Thọ, gia đình ông T. lại lựa chọn một cách ứng xử khiến nhiều người xúc động.

Gia đình ông H. cùng người thân anh Thọ sang nhà thăm hỏi, phụ lo hậu sự, xin lỗi và tìm cách bù đắp phần nào mất mát mà mình đã gây ra. Con gái ông H. đang ở Hà Nội, nghe tin cũng vội bắt xe trở về để cùng cha sang chia sẻ với gia đình người mất.

Những việc ấy không thể đưa ông T. trở về. Tiền bạc càng không thể bù lại một mạng người.

Nhưng ít nhất, họ đã không trốn tránh. Họ sang tận nơi, đối diện với gia đình người mất, cúi đầu trước nỗi đau mà tai nạn đã để lại.

Gia đình ông H. mang 200 triệu đồng sang hỗ trợ, nhưng anh Hải chỉ nhận 150 triệu đồng, số tiền gia đình cho rằng vừa đủ để lo việc mai táng cho cha.

Một chi tiết tưởng như nhỏ nhưng lại khiến người ta phải suy nghĩ rất lâu.

Gia đình vừa mất đi một người thân. Họ hoàn toàn có thể yêu cầu nhiều hơn, bởi tiền bạc bao nhiêu cũng không thể đổi lại được một người cha. Nhưng cuối cùng, họ chỉ nhận phần mà mình cho rằng đủ để lo hậu sự cho người đã khuất.

Có thể thấu hiểu nỗi đau khi bị xa người thân yêu, nên chính anh cũng không muốn điều ấy xảy đến với những người con của gia đình ông H. Vì thế anh Hải đã làm đơn xin giảm nhẹ cho những người có liên quan, để họ còn có cơ hội trở về chăm sóc con cái.

Có lẽ chính lúc ấy, câu “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” mới trở nên thấm thía.

Anh Hải và gia đình không phải không đau. Cũng không phải một lời xin lỗi hay một khoản tiền có thể khiến họ quên được người thân của mình.

Nhưng khi nhìn thấy gia đình ông H. và anh Thọ không bỏ mặc mọi chuyện, biết sang xin lỗi, chia sẻ và cố gắng khắc phục hậu quả, họ đã lựa chọn nhìn sự việc bằng tình làng nghĩa xóm và bằng cái tâm.

Anh Hải chỉ nói một điều rất mộc mạc: “Con người sống với nhau thì nên nhìn nhận sự việc bằng sự cảm thông”.

Có lẽ lòng bao dung đôi khi chỉ đơn giản như vậy. Không phải quên đi mất mát. Không phải coi chuyện đã xảy ra là nhẹ nhàng. Mà là khi bản thân đang đau nhất, vẫn còn có thể nhìn thấy sự hối hận và chân thành của người khác.

Câu chuyện này cũng nhắc mỗi chúng ta về sự cẩn trọng trong cuộc sống. Có những việc tưởng như rất quen thuộc, có những nguy hiểm tưởng như vẫn nằm trong tầm kiểm soát, nhưng chỉ một phút bất cẩn cũng có thể khiến người khác phải trả một cái giá quá lớn.

Không ai mong tai nạn xảy ra. Nhưng khi mọi chuyện đã không thể thay đổi, cách con người đối diện với nhau lại khiến người ta nhớ mãi.

Một bên biết nhận lỗi, biết cúi đầu và tìm cách bù đắp. Một bên vừa mất người thân nhưng vẫn không để nỗi đau biến thành oán hận.

Tha thứ không thể đưa ông T. trở về. Nhưng giữa một câu chuyện quá nhiều nước mắt, việc anh Hải và gia đình vẫn có thể mở lòng với những người đã gây ra mất mát cho mình khiến người ta hiểu rằng: đôi khi điều làm con người trở nên đáng quý nhất không phải là chưa từng bị tổn thương, mà là sau tổn thương vẫn còn giữ được sự tử tế trong lòng.

vandieuhay.net

Ảnh: internet

CUỘC ĐỜI CAY ĐẮNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LẬP MƯU GIẾT CHỒNG — Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

CUỘC ĐỜI CAY ĐẮNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LẬP MƯU GIẾT CHỒNG

Đã ngoài 60 tuổi và còn gần chục năm nữa mới mãn hạn tù, nhưng đường về của phạm nhân Bảy thật mù mịt, như chính quá khứ đen tối của thị.

Dù đã bước sang bên kia cái dốc của cuộc đời nhưng phạm nhân Trần Thị Bảy

(SN 1958, quê ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) chưa từng có giấc ngủ bình yên kể từ sau khi ra tay sát hại chồng.

Nói chuyện với phóng viên mà nước mắt người phụ nữ đa đoan cứ tuôn dài trên hai gò má sạm đen đầy khắc khổ.

Lúc này, khi có dịp được trải lòng, Bảy mới thực sự hoảng hốt về cuộc đời đầy cay đắng của mình.

Phận người đàn bà “ba chìm bảy nổi”

Gạt hàng nước mắt lăn dài trên gò má, Trần Thị Bảy kể:

“Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Cái tên Bảy được đặt theo thứ tự con cái sinh ra trong nhà. Vì muốn con cái không phải

“bán mặt cho đất bán lưng cho trời” nên bố mẹ cố gắng nuôi tôi ăn học.

Lúc học xong tôi xin được việc vào huyện ủy Than Uyên (nay thuộc Lai Châu) làm”.

Đến năm 1985, Bảy bén duyên và lấy một người đàn ông làm xây dựng.

Nhưng có vẻ như số trời đã định cuộc đời Bảy phải “ba chìm bảy nổi”

như cái tên.

Chưa đầy một tháng sau kết hôn Bảy nhận tin sét đánh chồng qua đời do tai nạn lao động.

Nỗi đau này nhân lên gấp đôi khi Bảy phát hiện mình đang mang trong mình giọt máu đào của người chồng quá cố.

Nén đau thương, Bảy  một mình sinh con, đặt tên là Lê Mạnh Cường.

Bảy chỉ mong con khỏe mạnh, khôn lớn thành một người đàn ông kiên cường để vượt qua mọi sóng gió cuộc đời…

Kể đến đây, Bảy bỗng thốt lên: “Thế nhưng chính tôi lại hại nó!”.

Mãi sau này, Bảy mới biết con trai cũng bị liên đới đến vụ án mạng của bố dượng (chồng “hờ” của Bảy).

Hồi chồng mới mất được 2,3 năm, trông Bảy mặn mà đúng chuẩn “gái một con trông mòn con mắt”.

Bảy lọt vào mắt xanh của biết bao chàng trai nhưng Bảy nghĩ nên ở vậy nuôi con.

Thị từ chối tất cả những lời ong bướm của cánh đàn ông.

Nhưng nào ngờ khi con vừa tròn 3 tuổi, Bảy cảm thấy thiếu thốn tình cảm nên đã lao như con thiêu thân vào vòng tay của người đàn ông tên Lê Hữu B.

(SN 1960, quê ở Việt Trì, Phú Thọ).

Vì B. giới thiệu là “cán bộ nguồn” lên vùng cao công tác nên Bảy càng tin yêu hơn Hồi chính thức yêu nhau, tôi dẫn ông ấy đến ra mắt bố nhưng bố phản đối kịch liệt.

Bố nói rằng không tin tưởng người đàn ông này.

Khi đó tôi như bị bùa mê thuốc lú, không nghe lời bố cứ nhất quyết đòi lấy người dàn ông này. Gia đình bên ngoại cắn răng làm đám cưới lần hai cho tôi và ông B..

Vài ngày sau lễ cưới, tôi khấp khởi theo chồng mới về quê đăng ký kết hôn.

Nhưng đến nơi mới ngã ngửa, anh ta chẳng phải “cán bộ nguồn” gì mà chỉ là một kẻ “ma cô” đang trong diện theo dõi của Pháp luật.

Chính vì thế, thủ tục đăng ký kết hôn của chúng tôi không được chính quyền xã xác nhận”.

Cay đắng cho phận đời long đong của mình, ngay đêm đó Bảy bắt xe ô tô về Lào Cai.

Thấy vợ bỏ về, B. cũng lục đục ra bắt xe lên Lào Cai theo. đứng trước cửa nhà Bảy lạy van xin được tha thứ để làm lại từ đầu. Mủi lòng trước nước mắt cá sấu của B., Bảy lại lại tha thứ, bao nhiêu hờn giận tan biến hết. Bảy xin chuyển công tác về Bảo Thắng, tại đây, hai người thuê một căn nhà nhỏ sinh sống không hôn thú.

Hạnh phúc chẳng tày gang, chưa đầy 2 tháng sau lại có việc động trời xảy ra.

Hôm đó, Bảy đi làm về gọi mãi không thấy chồng đâu, đi tìm khắp nơi cũng không thấy.

Chân mỏi nên Bảy quay về nhà trọ thì điếng người phát hiện chiếc hòm tài sản của mình bị lục tung, toàn bộ vốn liếng đã bị gã chồng “hờ” đốn mạc cướp sạch. Lúc đấy chỉ muốn giết chết gã đàn ông đốn mạc này nhưng một lần nữa,

Bảy phát hiện mình có thai.

Con giun xéo mãi cũng quằn

Suốt thời gian dài, một tay Bảy cáng đáng mọi việc trong gia đình từ kiếm tiền đến nuôi dạy con cái.

Đến năm 1988, Bảy sinh con thứ hai. Giống như anh nó, đứa bé không hề biết bố mình là ai, mặt mũi ra làm sao.

Một nách hai con, tiền bạc không kiếm ra nhiều nên trông Bảy tiều tụy đi rất nhiều.

Biết em phận khổ nên chị gái Bảy đã về đưa cả ba mẹ con vào Bình Thuận lập nghiệp.

Người chị gái này mua nhà, mở quán cà phê cho Bảy buôn bán. Nào ngờ khi công việc vào guồng, mẹ con có tí của ăn của để thì B. lại xuất hiện.

Bảy cúi mặt, hạ giọng nói:

“Ông ta đến vào một buổi chiều muộn, lại cái bài ca van xin rồi nhận hết mọi tội lỗi, trách nhiệm nên tôi lại mủi lòng thêm lần nữa. Và chính sự yếu đuối của đàn bà đã khiến tôi càng chìm sâu vào những năm tháng đen tối của cuộc đời.

Sống với nhau chưa đầy nửa năm thì tôi phát hiện ra ông ta không quay lại với mẹ con tôi vì tình cảm mà chỉ bởi cần tiền.

Ông ta cặp kè, bao nuôi một người phụ nữ khác sống cách nhà tôi không xa.

Ông ta về quán cà phê của tôi lượm nhặt đủ thứ, kể cả đôi dép tổ ong hay cái chổi.

Tôi giận lắm, có lần tôi nói với B. hãy dứt khoát đi nhưng ông ta dọa sẽ giết chết mấy mẹ con nếu tôi đòi bỏ thêm lần nữa”.

Câu chuyện không dừng lại ở đó, B. càng ngày càng lấn tới, nhiều hôm về xin tiền Bảy không được liền

“thượng cẳng chân hạ cẳng tay” luôn.

Có lần, Bảy bị chồng “hờ” đánh thừa sống thiếu chết nằm bẹp trong phòng mấy ngày liền.

Thế rồi không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, đến năm 1994, Bảy lại sinh thêm cho B. một đứa con nữa.

Sau đợt ở cữ, Bảy cảm thấy chán ngán cái cuộc sống tạm bợ với người chồng “hờ” nên quyết định ôm con từ Bình Thuận ra Lào Cai làm lại từ đầu.

Có chút vốn dắt lưng, Bảy mua mảnh đất gần nhà bố đẻ nhưng chưa xây vì chưa có đủ tiền.

Lúc này, Bảy những tưởng đã đoạt tuyệt được với gã chồng “hờ” vũ phu.

Nhưng không, hắn vẫn đeo bám mấy mẹ con, có lần gã đánh thị phải nhập viện nằm mất mấy ngày liền.

Cay đắng quá, đến năm 2004, Bảy quyết định dứt tình với B..

Bảy tính đi xuất khẩu lao động kiếm chút tiền lo cho con cái. Trong lần về Hà Nội làm thủ tục thì con trai gọi điện nói B. đánh đứa con thứ hai, nhét giẻ vào miệng và bắt nó phải đưa tiền, sổ đỏ của mẹ ra rồi bỏ đi.

Nhẫn nhục, Bảy đi làm lại sổ đỏ, vay mượn được 110 triệu đồng định xây cái nhà khang trang cho con cái ở.

Số tiền còn lại để đi lao động nước ngoài.

Biết Bảy định xây nhà, B. lại mò về đòi chia tài sản. Đúng lúc này, cơn phẫn nộ của Bảy trào dâng, thị quyết định giết chết B. để trả thù.

Nghĩ là làm, tháng 7/2006, Bảy hòa thuốc ngủ và thuốc chống say rồi nhờ thợ xây tên Ba đang làm nhà cho mình đưa cho chồng uống.

Tuy nhiên người này không đồng ý, thế là kế hoạch bị đổ bể.

Chưa từ bỏ ý định, một tuần sau thị lại đi mua hai chai bia và gọi Ba cùng một thợ xây khác lại để đưa cho B. uống.

Nhưng trước khi đưa bia cho họ, Bảy nạy nắp đổ xuống sâu vào. Và một lần nữa kế hoạch lại đổ bể vì hai người thợ xây quyết không giúp.

Cả hai lần đều thất bại, nỗi uất hận của Bảy dâng cao hơn, thị quyết tâm phải giết bằng được gã chồng “hờ” đốn mạt.

Ngày 27/7/2006, Bảy nhờ một người thợ xây khác giúp sức.

Bảy nói với anh ta rằng, bị người dân tộc bỏ bùa nên cần phải giúp ông ấy giải bùa bằng cách chuốc rượu say rồi cho uống thuốc giải (rượu độc được ngâm bằng mã tiền và ô đầu mà Bảy đã chuẩn bị từ trước).

Tin lời Bảy, người thợ xây này đi về chuẩn bị đồ nhậu. Để lần ra tay này thành công, Bảy còn gọi con trai cả và một số thanh niên khác phục kích ở đoạn đường về nhà phòng trường hợp B. uống rượu không chết thì sẽ đánh chết và tạo hiện trường giả.

Tuy nhiên, rượu độc của Bảy đã giết chết B..

Sau này, mẹ con Bảy và hai thợ xây khác phải hầu tòa về tội Giết người.

Với vai trò chủ mưu, Bảy chịu mức án 20 năm tù giam; con trai chịu án 4 năm tù giam. Ngồi trong song sắt lạnh lẽo, mới thấm thía cái giá phải trả cho tội ác của mình.

Đau đớn hơn nữa là chính tay Bảy đã kéo con trai mình nhúng chàm để giờ trở về xã hội nó không được sống như một người bình thường…

 Thu Nga (t n)

Nguồn fb Thơ Trần

Phạm nhân Trần Thị Bảy ân hận về những lỗi lầm mình đã gây ra 


 

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001 – Cang Huynh

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Vào thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2001, lúc 8 giờ 40 phút sáng tại thành phố New York, một người đàn ông nắm bàn tay nhỏ bé của con trai năm tuổi trước một trường mẫu giáo. Cử chỉ yêu thương này của người cha khi đưa con đến trường trong ngày đầu tiên đã cứu sống cậu bé. Nhưng sáu phút sau, cách đó vài kilomet, chiếc máy bay đầu tiên đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới, ngay bên dưới văn phòng công ty ông.

Người đàn ông đó là Howard Lutnick, Giám đốc điều hành của Cantor Fitzgerald.

Nằm giữa tầng 101 và 105, công ty của ông bị mắc kẹt phía trên khu vực va chạm. Chỉ trong vài giây, 658 nhân viên của ông đã thiệt mạng—hai phần ba số nhân viên. Trong số các nạn nhân có những đồng nghiệp thân thiết nhất, những người bạn thời thơ ấu và cả em trai ông, Gary.

Howard lao xuống chân các tòa tháp giữa sự hỗn loạn, bụi bặm và tiếng la hét. Khi sự im lặng trở lại với đống đổ nát, thực tế ập đến với ông với một sức mạnh không thể tưởng tượng nổi: ông là người sống sót của một công ty đã bị xóa sổ.

Mọi người đều nghĩ công ty sẽ phá sản. Báo chí chỉ trích ông, và sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Nhưng Howard biết rằng nếu ông bỏ cuộc, gia đình của những đồng nghiệp đã mất sẽ không còn gì để sống.

Vì vậy, giữa những giọt nước mắt và nỗi đau buồn, ông đã đưa ra một lời hứa long trọng.

Công ty sẽ không đóng cửa.

Nó sẽ hồi sinh vì họ.

Thành công của nó giờ đây sẽ thuộc về gia đình các nạn nhân.

Trong năm năm, những người sống sót ít ỏi còn lại làm việc ngày đêm trong nỗi đau đớn tột cùng. Howard cam kết quyên góp 25% lợi nhuận của công ty trực tiếp cho các góa phụ và trẻ mồ côi, đồng thời bảo đảm bảo hiểm y tế cho họ trong mười năm. Tổng cộng, hơn 180 triệu đô la đã được phân phát cho các gia đình bị ảnh hưởng bởi thảm kịch.

Nhưng Howard đã đưa ra một lời hứa thứ hai, thậm chí còn cảm động hơn, dành cho tất cả những đứa trẻ đã mất cha hoặc mẹ vào sáng hôm đó: “Khi các con lớn lên, một chỗ ở công ty sẽ chờ các con ở đây.”

Nhiều năm đã trôi qua. Những đứa trẻ năm 2001 đã trưởng thành.

Và Howard đã giữ lời hứa của mình.

Từng đứa trẻ mồ côi một bước qua cánh cửa của công ty. Cho đến ngày nay, 57 đứa trẻ là con của các nạn nhân vẫn làm việc trong cùng những văn phòng đó và tiếp nối di sản của cha mẹ đã khuất. Vào ngày 11 tháng 9 hàng năm, công ty cũng quyên góp toàn bộ lợi nhuận trong ngày cho các tổ chức từ thiện trên toàn thế giới.

Howard Lutnick nhắc nhở chúng ta rằng giá trị của một người đàn ông không được đo bằng những gì anh ta xây dựng trong vinh quang, mà bằng cách anh ta tôn vinh ký ức của những người anh ta yêu thương.

Trong những giờ phút đen tối nhất của cuộc đời, bổn phận thực sự của người sống là giữ cho ánh sáng hy vọng của những người đã khuất luôn tỏa sáng rực rỡ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

Cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Các bác sĩ ước tính cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Sau đó, tình trạng của cô trở nên nguy kịch đến mức ngay cả tỷ lệ mong manh đó cũng giảm xuống chỉ còn một con số.

Tuy nhiên, cô đã sống sót.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Lauren đang trên đường đến văn phòng của mình tại Cantor Fitzgerald, nằm trên tầng 105 của Tháp Bắc thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới.

Ở nhà, cô có một người chồng và một cậu con trai mười tháng tuổi tên là Tyler.

Cô ấy không bao giờ đến được văn phòng của mình.

Khi Lauren bước vào sảnh, chuyến bay 11 đã đâm vào tòa tháp phía trên cô. Nhiên liệu cháy từ máy bay lan rộng qua các trục thang máy, trong khi một bức tường lửa quét qua sảnh.

Lauren đã cố gắng thoát khỏi tòa nhà, nhưng cô bị bỏng hơn 82% cơ thể.

Những gì xảy ra sau đó không được tính bằng ngày.

Mà bằng năm.

Lauren đã trải qua gần hai tháng trong tình trạng hôn mê do thuốc an thần gây ra. Cô ấy đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật, đối mặt với những biến chứng nghiêm trọng và dành nhiều tháng để phục hồi chức năng thể chất và tinh thần.

Cô ấy nằm viện tại Bệnh viện NewYork-Presbyterian trong 91 ngày.

Sau đó, cô được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng, nơi cô ở thêm ba tháng nữa.

Ngay từ đầu, chỉ có một suy nghĩ duy nhất luôn ám ảnh cô.

Cô ấy muốn được gặp lại con trai nhỏ của mình.

Khi Lauren cuối cùng cũng được về nhà vào tháng 3 năm 2002, sáu tháng đã trôi qua kể từ buổi sáng tháng 9 định mệnh ấy khi cô rời nhà đi làm.

Nhưng quá trình phục hồi của cô vẫn chưa kết thúc.

Năm ngày một tuần, cô trở lại bệnh viện để trị liệu vài giờ, ngoài ra còn có một buổi trị liệu tại nhà vào Chủ nhật.

Và việc hồi phục không có nghĩa là trở thành người phụ nữ giống hệt như trước đây.

Nó có nghĩa là học cách sống với một cơ thể mang những vết sẹo vĩnh viễn từ buổi sáng định mệnh ấy.

Mười năm sau, Lauren kể lại câu chuyện của mình trong cuốn hồi ký, “Sức Mạnh Vô Biên”.

Cô không miêu tả sức mạnh như việc được miễn nhiễm khỏi bi kịch.

Cuộc đời cô đã chứng minh một điều gì đó khó khăn hơn nhiều.

Sức mạnh cũng có thể là việc thức dậy sau khi mọi thứ đã thay đổi và quyết định, hết lần này đến lần khác, tiếp tục xây dựng lại cuộc sống của mình.

Bạn nghĩ điều gì cần nhiều can đảm hơn: vượt qua một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể vượt qua, hay tiếp tục cuộc chiến trong những năm tháng sau đó?

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.