SÁNG ĐÔI MẮT MÙ – Tác giả: Tràm Cà Mau- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 SÁNG ĐÔI MẮT MÙ

https://youtu.be/zsptS3lRPIA

Con người cần điều gì  ?

– cần đôi mắt sáng, cần có ánh sáng. Đôi mắt và ánh sáng như là phương tiện cho cuộc sống mỗi con người.

Dạo đó, khi cả miền Nam đang bấn loạn lên, vì cuộc chiến tranh mấy mươi năm sắp đến hồi kết cuộc.

Bắc quân hồ hởi tiến mau như chẻ tre. Nam quân rút bỏ, tan rả mau chóng. Những người không am hiểu tình hình chính trị quốc tế thì ngỡ ngàng, ngạc nhiên, không tin được về sự thực đang xẫy ra trên đất nước nầy.

Dân miền Nam đua nhau bỏ chạy ra biển, chưa biết sẽ trôi nổi về đâu, cũng chưa biết sẽ đi nơi nào, làm gì mà sống, sống có được hay không.

Không cần biết. Cứ chạy trốn đã.

Những người nầy, đã có một ít hiểu biết hoặc kinh nghiệm sống với cộng sản, nên liều chết ra khơi.

Mấy cụ già miền Nam vuốt râu nói:

“Cộng sản cũng là người Việt Nam mình với nhau, việc chi mà sợ?

Cọp nó còn chưa ăn con, huống hồ chi họ với mình cùng tổ tiên, cùng giòng giống.

Miền Bắc hay miền Nam đều là anh em với nhau cả mà. Chạy đi đâu làm chi cho mệt.”

Những người trong chính quyền miền Bắc chắc cũng không hiểu nổi, tại sao nhân dân miền Nam sắp được “giải phóng”, sắp được sung sướng, sao mà lại bỏ chạy.

E rằng, họ bị Mỹ Ngụy tuyên truyền đầu độc, nên dại dột dong thuyền ra khơi. Họ cho rằng, những người bỏ trốn họ, là loại trây lười, sợ lao động, sợ khổ.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh sắp tàn.

Bạn của Tâm hối hả đến tận nhà lo lắng nói :

“Anh sửa soạn hai bộ áo quần. Đem theo một ít thức ăn khô, một chai nước. Tôi đã ghi danh cho anh được xuống xà lan ở Tân Cảng, và sẽ được kéo ra khơi hôm nay hoặc ngày mai.”

Tâm trầm ngâm:

“ Không đi đâu cả. Tôi sinh ra trên quê hương nầy, và sẽ sống và chết với quê hương.”

“Anh chấp nhận sống với cộng sản.?”

“Anh chưa hiểu ý tôi. Nếu phải chọn tự do và cộng sản, thì tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ một chính thể tự do.

Nhưng nếu phải chọn quê hương và một nơi vô định khác, thì tôi chọn quê hương.

Đất nước mình đã chịu chiến tranh tàn phá ba mươi năm nay. Tan tác, đổ vở quá nhiều.

Bây giờ là lúc toàn dân cần góp tay xậy dựng lại quê hương thân yêu của chúng ta. Tôi đã chuẩn bị tinh thần rồi.

Chấp nhận đi tù vài ba năm, nếu phải đi đập đá Trường Sơn, thì đá đó cũng để xây dựng đường sá và nhà cửa cho quê hương nầy.

Đi ra ngoài, dù có làm được gì, thì cũng là làm cho người ta. Tôi chấp nhận mọi gian khổ để đổi lấy cuộc sống còn có quê hương.”

Người bạn nhìn Tâm với ánh mắt u buồn:

“Tôi ước mong sao ý nghĩ của anh là đúng, và sau nầy không ân hận”

Tâm quả quyết:

“ Tôi sẽ không bao giờ ân hận với chọn lựa nầy. Tôi chọn quê hương.”

Nửa tháng sau ngày miền Bắc thắng trận, một ông chú của Tâm, là cán bộ có vai vế, từ Hà Nội vào tiếp thu Sài gòn. Ông  ghé lại nhà thăm.

Ông nầy đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến từ thời khởi đầu năm 1945.

Trong tình thân gia đình, ông bực bội hỏi:

“ Sao không bỏ chạy, mà giờ nầy còn ở đây? Thế thì khổ đời anh rồi.”

Tâm ngỡ ngàng, nhưng cũng quả quyết nói:

“ Cháu ở lại, để góp một tay xây dựng lại quê hương đổ vở. Chỉ mong làm một hạt cát nhỏ trong công cuộc tái thiết đất nước nầy”

Ông chú cười buồn mà nói:

“Ai cho anh xây dựng mà hòng?

Anh tưởng dễ lắm sao?”

“ Cháu không hiểu hết ý của chú.”

“ Rồi anh sẽ hiểu. Anh phải “kinh qua” mới thấm và hiểu. Chưa thực sự sống trong chế độ, thì dù cho có đọc ngàn cuốn sách, anh cũng còn mơ hồ và đầy ảo vọng.”

Tâm mạnh dạn nói mà không sợ ông chú buồn lòng:

“ Nếu cháu không lầm, thì chú cũng đang là một rường cột của chế độ nầy. Với cái vai vế của chú, thì chú cũng có thể tạo điều kiện cho những người yêu mến quê hương nầy có cơ hội phục vụ đất nước. Quê hương nầy là của chung, gia sản của tổ tiên nhiều đời gây dựng lại, không của riêng ai, không của riêng đảng phái nào.”

Ông chú cười, ánh mắt có vẻ thương xót người cháu, ông nói:

“Không. Anh nói vậy là chưa hiểu chi về xã hội chủ nghĩa cả. Chú cũng chỉ là một bánh xe trong guồng máy đang vận hành. Bánh xe nào không hoàn toàn ăn khớp, thì bị loại ra ngay.

Bị vứt bỏ không thương tiếc.

Bị chà đạp, bị hành hạ, sống không được, chết không xong.

Anh không có quyền yêu mến quê hương theo tâm ý của anh.

Phải yêu theo lối của người khác vạch ra, hoàn toàn đi trong đường lối đó, nếu anh muốn sống còn. 

Tôi xin anh, đừng có nói cái giọng điệu quê hương là gia sản chung cho ai khác nghe, mà không có lợi cho bản thân anh.”

Tâm thở dài.

Một lúc sau ông chú nói tiếp:

“Điều cần thiết nhất chú dặn anh, là đừng có dại mà thành thật khai báo lý lịch và tội lỗi của mình.  Anh đã ở miền Nam, thì dù anh có làm gì, hay không làm gì, cũng có tội với cách mạng cả.

Phải tự nhận là có tội, và chỉ nhận những tội khơi khơi thôi. 

Chuẩn bị một bản lý lịch cá nhân.

Cái gì không lợi thì đừng khai.

Cái gì giấu được thì giấu.

Viết càng ngắn, gọn, rõ ràng càng tốt. Khai cho y hệt nhau, đừng sai chạy. 

Đó, chú chỉ giúp anh được chừng ấy thôi, anh nhớ cứ làm theo, thì bớt được vận hạn khó khăn.”

Tâm chấp nhận đi tù cải tạo với sự bình tỉnh, không chút lo lắng buồn phiền.

Anh đã chuẩn bị trước, và đây là chuyện phải đến.

Tâm cũng không có ảo vọng đi “học tập” một tháng hay hai tuần như thông cáo do chính quyền phổ biến. Nhưng Tâm vẫn mong rằng, anh nghĩ sai. Anh đã chuẩn bị cho một cuộc đời tù tội lâu dài. Mang theo những vật dụng thật bền, chắc chắn.

Những tuần đầu trong trại cải tạo, Tâm thấy bạn bè xài phí những vật dụng mang theo, anh nói với các bạn trong một buổi họp tổ:

“Các anh nên tiêu xài tiết kiệm lại một chút. Đâu đã chắc một tháng là được về ngay !”

Các bạn anh nhao nhao phản đối :

“ Cánh mạng trước sau như một.

Anh không tin tưởng chính sách của cách mạng sao? Anh còn tư tưởng lạc hậu lắm. Cách mạng nói một tháng, là một tháng, không sai chậy đâu.”

Thấy tất cả bạn bè đều phản đối dữ dội, và nếu cán bộ quản giáo biết được,

hay có người báo cáo thì bất lợi cho bản  thân, Tâm vội vàng cười giả lả:

“ Thôi mà, tôi nói chơi cho vui, mà làm anh em sợ. Nói đùa , anh em bỏ qua đi.”

“Đùa làm đứng tim người ta.

Cách mạng không bao giờ nói sai cả.”

Tâm biết anh em sợ, không dám nghe nói sự thực. Muốn nuôi ảo tưởng là một tháng sẽ được tha về, nên phản đối lời khuyên của Tâm.

Sau ba tuần mà chưa thấy “bài vở và học tập” chi cả.

Đám tù lao nhao tiên đoán rằng, cách mạng sẽ khoan hồng cho về, mà không cần học tập lôi thôi.

Đoán rằng, họ sẽ phát tài liệu cho anh em đọc, vì ai cũng đã có trình độ học vấn khá, không cần phải giảng dạy.

Tâm chỉ cười, và mong sao cái mơ ước hão huyền của anh em đúng sự thực, chứ trong lòng Tâm, không hề có ảo tưởng nào.

Nhiều đêm, khi chín giờ, đèn điện tắt, có tiếng tắc kè kêu vang dội rất rõ trên đồi cao:

“ Tắc kè. Tắc kè.”

Anh em diễn dịch ra là có điềm tốt thông báo, nên tắc kè kêu là “ Sắp về. Sắp về.”

Có nhiều anh loan tin rằng, mấy đêm nay xem thiên văn, thấy nhiều sao chiếu đồng quy về hướng Sài gòn, bởi vậy, anh em cũng sắp được tha về nay mai.

Nhiều tháng sau vẫn chưa được tha về, mà thời gian tù không xác định.

Tiếng tắc kè được diễn dịch lại là “Đếch về. Đếch về.”

Một người bạn nói với Tâm:

“ Cán bộ luôn luôn nhắc nhở là “yên tâm cải tạo”, làm sao mà yên tâm, khi gia đình còn lắm việc bộn bề, vợ con không biết sinh sống ra làm sao, ngày ra trại chưa được xác định.

Thì làm sao mà yên tâm cải tạo được?”

Tâm cười và trả lời:

“Yên tâm cải tạo. Đúng. Mấy ông cán bộ nói đúng. Yên tâm đi, ngày về còn xa lắm lắm.  Đừng nôn nóng, vô ích.

Không yên tâm, thì cũng không được gì. Bận lòng thêm khổ. Chúng ta bị mắc bẩy rồi, cứ đừng hy vọng, đừng mong ước gì cả.

Yên lòng. Nếu có một ngày nào đó, được kêu tên cho ra về, thì sung sướng lắm. Nếu chưa được về, cũng đừng mong. Có mong là có bồn chồn, có khổ tâm.

Hãy yên tâm đi, yên tâm cải tạo”

Mấy người bạn Tâm bây giờ đã bớt ảo tưởng, nhưng vẫn chưa tắt niềm hy vọng. Họ thường tỏ vẻ bực bội khi nghe các bạn khác đọc các câu thơ: 

“Bao giờ cọc sắt nở hoa.

Bà Đen hết đá thì ta mới về”

hoặc

“Khi đi vợ mới mang bầu.

Ngày về con đã bạc đầu như cha.”

Nhờ lời khuyên của ông chú đã từng kinh qua dày dạn trong chế độ, là đừng dại dột thành thật khai báo, nên Tâm được tha tù, về nhà sớm hơn bạn bè cùng trang lứa, cũng mất hơn ba năm, gần với thời gian anh đã  tiên đoán và chấp nhận. 

Trong thời gian nầy, tình hình lương thực vô cùng khó khăn.

Cả nước đều đói vàng mắt, nhà nhà ăn độn khoai sắn, bo bo, mì sợi.

Bụng dạ mọi người khi nào cũng lưng lửng, nhột nhạt, có kiến bò.

Miệng thì luôn thòm thèm.

Đời sống thường ngày vô cùng khó khăn.

Ít còn ai đủ dại để tin tưởng vào tương lai tươi sáng hạnh phúc.

Không biết ai bày, mà bọn trẻ con hàng xóm thường ngêu ngao hát bài ca sửa lời:

“…tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá, kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài, kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn toàn khoai…”

Một lần nghe cuộc bàn cãi giữa hai ông cậu, ông cậu nhỏ là người đi tập kết ở miền Bắc về, nói với ông cậu lớn tuổi rằng:

“ Anh chưa ‘giác ngộ cánh mạng’ thì anh đừng nói, đừng bàn luận về xã hội chủ nghĩa. Phê bình mà chưa biết rõ bản chất, thì đừng nên nói, không có lợi cho anh và gia đình.”

Ông cậu lớn tức tối nói:

“ Làm sao mà tôi giác ngộ cách mạng của các người được? Còn bản chất của xã hội chủ nghĩa, không nói ra, ai cũng biết là cái gì rồi.”

“Anh có biết giác ngộ cách mạng là gì không?

Giác ngộ nghĩa là biết rõ, biết đến nơi đến chốn, không phải biết lơ mơ như các anh.

Biết cái gì?

Biết cách mạng vô cùng nghiêm khắc, tàn bạo, không khoan nhượng.

Nghĩa là biết sợ cách mạng trù dập, sợ bị thanh toán, thủ tiêu, sợ bị giam đói, bị bao vây kinh tế, bao vây tình cảm.

Tóm lại, giác ngộ cách mạng là biết sợ cách mạng, sợ vô cùng, không dám hó hé chi cả.

Cách mạng nói sao, mình  nghe vậy, nói theo y như vậy, đừng sai chạy mảy may, đừng để cái lý trí phán đoán sai đúng xen vào.

Người giác ngộ cách mạng sẽ dễ sống, dễ thở, và an toàn hơn trong cái xã hội chủ nghĩa.”

Ông cậu lớn nói với giọng chán nản:

“ Thế thì giác ngộ cách mạng là phải biết hèn nhát, nói như vẹt, mềm như bún. Không kể gì đến sĩ khí, nhân cách nữa sao?”

Ông cậu ‘cách mạng’ trả lời:

“Hừ, sĩ khí và nhân cách để làm gì nếu cái bao tử trống không, đói khát hành hạ, vợ con nheo nhóc, xóm giềng xa lánh, hất hủi mình vì sợ liên lụy?”

Ngừng một lát, ông nầy nói tiếp:

“ Thời nầy, tốt nhất là bịt tai, nhắm mắt mà sống. Đừng bao giờ nói ý nghĩ trung thực của mình cho ai nghe.

Có lẽ, tốt hơn hết là đừng có ý kiến chi khác với mọi người. Ai sao mình vậy. Đúng hay sai, thật hay giả, không cần biết đến làm chi. Đó là thái độ khôn ngoan nhất.”

Ông cậu lớn tuổi lắc đầu:

“ Không được. Phải can đảm nhìn thẳng vào sự thật, và đừng tự dối lòng để giả tin vào lời lừa mị láo khoét.

Nếu ai cũng dám nhìn thẳng vào sự thực, nói lên sự thực, thì bọn dối trá sẽ không còn đất sống, và không còn cơ hội ức hiếp, áp bức kẻ hiền lương.

Người miền Bắc và miền Trung khôn ngoan quá, cẩn trọng quá, nên gắng nhịn nhục để sống còn, bởi vậy nên bị ức chế, bị chà đạp, bị dày xéo,  không còn thể thống chi cả.

Chú ra ngoài chợ Sài gòn mà xem, hay chú lên xe đò mà nghe các bà chữi cho nát mặt, nát mày, có dám bỏ tù hết cả nhân dân miền Nam nầy không?

Ban đầu, các anh ‘cách mạng’ cũng hung hăng, doạ dẫm, định áp đặt chính sách cai trị hà khắc như cai trị dân miền Bắc lên vùng đất nầy.

Nhưng không ai sợ cả, không ai hùa theo lời nói láo khoét. Mấy anh bị hố. Dân miền Nam không hèn nhát đâu.”

Ông cậu ‘cách mạng’ hạ thấp giọng:

“Nhân dân miền Nam nầy ăn nói phản động, không có lợi lộc gì cả, mà lại hại đến bản thân, gia đình.

Nói lời phản động, để được cái gì chứ? Anh tưởng chúng tôi đều ngu muội, mù quáng cả, không nhìn thấy và phân biết được sự thực và dối trá sao?

Sống theo nếp sống mới thì phải biết ‘nói điều mình không tin, và tin điều mình không dám nói’

Đó là thái độ khôn ngoan, thức thời.”

Mỗi ngày từ sáng tinh mơ, loa đã oang oang kêu gọi dân chúng sống theo nếp sống văn minh.

Tâm không biết nếp sống văn minh của xã hội chủ nghĩa ra làm sao, đem hỏi ông một ông chú ‘cách mạng’ khác.

Ông hạ giọng thầm thì:

“Cái gì người ta thiếu, thì nói nhiều đến cái đó. Văn minh bây giờ là xe chạy bằng than cũi, ăn cơm độn khoai sắn, xới vườn hoa trồng rau khoai rau dền, nuôi heo trên tầng lầu chúng cư, áo quần xám xịt một màu, ăn nói một lời giống nhau y hệt. Văn minh mà nhà nước ta đang nhắm đến là làm sao cho miền Nam tiến kịp miền Bắc trong tiêu chuẩn … nghèo đói.”

Tâm cười:

“Các ông bà con đi tập kết về khuyên đừng ăn nói phản động. Thế mà lời của chú, nghe ra còn phản động hơn ai hết. Thế thì hai mươi mấy năm đi theo cách mạng, chú đã làm được công trạng gì trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa?”

Nét mặt ông chú có vẻ tức tối:

“Công trạng cái con khỉ. Vì chú không biết a dua, không hèn nhát nói theo lời lếu láo dối trá của bọn chúng, nên chú bị bao vây, bị cô lập, bị bỏ đói trong hai mươi năm tập kết ra Nghệ An. Chú kiếm sống bằng nghề ‘hớt tóc chui’.

Cả nước đã đói cho vàng mắt ra, gia đình chú còn đói hơn ai cả.

Con cái không được nhận vào trường, thất học cả đám. Chẳng bị tù rục xương là may mắn lắm rồi cháu à.”

“Thế thì xin chú cho cháu một lời khuyên, để sống còn trong xã hội mới nầy.”

Ông chú lắc đầu:

“Không còn cách nào để cho các thành phần như cháu sống còn cả.

Ngoại trừ… ngoại trừ bỏ nước ra đi.

Chỉ có con đường đó thôi.”

Một năm sau, Tâm đến được bến bờ tự do sau bao lần suýt bỏ mạng trên biển cả. /./.

Tác giả Tràm Cà Mau


 

Đó không phải kỹ năng. Đó là lòng dũng cảm. Truyen ngan HAY

Annie Mỹ AnhSự Thật Lề Đường (STLĐ)

 Ngày 21 tháng 8 năm 2015, chuyến tàu cao tốc Thalys chở 554 hành khách đang chạy từ Amsterdam đến Paris thì một người đàn ông bước ra từ nhà vệ sinh trong tình trạng cởi trần, mang theo súng trường tấn công, súng ngắn, dao rọc giấy và 270 viên đạn.

Con tàu đang lao đi với tốc độ gần 320 km mỗi giờ. Tất cả các cửa đều đóng kín. Không ai có thể chạy trốn.

Một hành khách người Pháp là người đầu tiên lao vào ngăn cản tên tấn công và ngay lập tức bị bắn xuyên qua cổ.

Chỉ vài giây sau, một thanh niên Mỹ 23 tuổi tên Spencer Stone, khi đó còn đang ngái ngủ trên ghế, bật dậy và chạy thẳng về phía kẻ có súng.

Stone không phải một khách du lịch bình thường. Anh là quân nhân của Không quân Hoa Kỳ, được đào tạo như một nhân viên quân y. Anh đang du lịch châu Âu cùng hai người bạn thân từ thuở nhỏ ở Sacramento là Alek Skarlatos, một quân nhân Vệ binh Quốc gia bang Oregon vừa trở về từ Afghanistan, và Anthony Sadler, một sinh viên đại học. Không ai trong số họ ngờ rằng chỉ ít giây nữa họ sẽ phải đối mặt với thử thách sinh tử.

Mọi chuyện diễn ra trong tích tắc.

Một hành khách người Pháp đã cố khống chế tên tấn công nhưng bị hất văng. Sau đó, Mark Moogalian, một giáo sư người Pháp gốc Mỹ 51 tuổi, đã giằng được khẩu súng trường khỏi tay hắn. Khi ông quay lại che chắn cho vợ mình, tên tấn công rút súng ngắn và bắn ông từ phía sau. Viên đạn xuyên qua phổi rồi thoát ra ở cổ. Moogalian gục xuống và giả chết.

Đó là lúc Spencer Stone lao tới.

Không một chút do dự, anh xông thẳng vào kẻ khủng bố. Alek Skarlatos lập tức theo sau. Anthony Sadler cũng tham gia. Rồi đến Chris Norman, một doanh nhân người Anh 62 tuổi chưa từng gặp họ trước đó.

Bản năng của con người là bỏ chạy khi đối mặt với hiểm nguy chết người.

Nhưng bốn người đàn ông ấy lại chạy thẳng về phía nó.

Stone là người tiếp cận đầu tiên. Anh khóa cổ tên tấn công và quật hắn xuống sàn tàu. Trong khoảng 90 giây tiếp theo, một cuộc vật lộn dữ dội diễn ra trong lối đi hẹp.

Tên tấn công rút dao rọc giấy và chém Stone một nhát sâu ở cổ, gần như cắt lìa ngón tay cái của anh.

Stone vẫn không buông tay.

Bốn người đàn ông cuối cùng đã khống chế được tên tấn công, đánh hắn bất tỉnh và trói lại trước khi hắn có thể tiếp cận hàng trăm hành khách còn lại.

Nhưng điều phi thường nhất vẫn còn ở phía sau.

Chỉ cách đó vài mét, Mark Moogalian, người duy nhất bị bắn, đang nằm trên sàn trong vũng máu, còn vợ ông liên tục kêu cứu.

Dù chính mình cũng bị thương rất nặng, Spencer Stone vẫn bò đến bên ông.

Một tay giữ chặt vết thương ở cổ của mình, tay còn lại thực hiện các thao tác sơ cứu cho Moogalian. Với kỹ năng của một quân y, anh đã giữ cho ông sống sót cho đến khi đoàn tàu dừng khẩn cấp và các nhân viên y tế đến nơi.

Các bác sĩ sau này cho biết vết thương ở cổ của Stone chỉ lệch vài milimét nữa là có thể cướp đi mạng sống của anh.

Cả hai người đều sống sót.

Khi tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, câu hỏi đầu tiên Spencer Stone hỏi không phải là tình trạng của bản thân.

Anh chỉ hỏi:

“Có ai khác bị thương không?”

Câu trả lời là không.

Không còn ai thiệt mạng.

Ba ngày sau, Tổng thống Pháp François Hollande đã trao cho Spencer Stone, Alek Skarlatos, Anthony Sadler và Chris Norman Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp.

Sau đó, Tổng thống Barack Obama cũng đón tiếp họ tại Nhà Trắng.

Dù được cả thế giới ca ngợi, Spencer Stone vẫn luôn nói rằng anh chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng sẽ làm.

Có lẽ chỉ có một điều trong câu nói ấy là không đúng.

Các nghiên cứu về hành vi con người trong những tình huống bạo lực cho thấy phần lớn mọi người sẽ đứng sững lại, bỏ chạy hoặc tìm nơi ẩn nấp.

Việc lao thẳng vào một kẻ cầm súng chỉ với hai bàn tay không không phải điều mà ai cũng làm được.

Đó là điều chỉ rất ít người có đủ can đảm để lựa chọn.

Quá trình huấn luyện quân đội giúp Stone biết cách chiến đấu, biết cách xử lý tình huống và cứu chữa người bị thương.

Nhưng nó không thể giải thích vì sao anh lại tự nguyện lao vào nơi gần như chắc chắn sẽ mất mạng.

Đó không phải kỹ năng.

Đó là lòng dũng cảm.

Có lẽ cách ngắn gọn nhất để hiểu những gì Spencer Stone đã làm là thế này:

Người đàn ông chấm dứt vụ tấn công cũng chính là người đã cứu sống nạn nhân duy nhất bị bắn.

Anh vừa ngăn chặn thảm sát, vừa cứu một mạng người, trong khi bản thân cũng đang bị thương nghiêm trọng.

Việc 554 hành khách đều có thể trở về nhà ngày hôm đó là nhờ một vài con người đã chấp nhận đối mặt với cái chết để bảo vệ những người xa lạ.

Món quà lớn nhất mà họ dành cho tất cả hành khách trên chuyến tàu ấy là điều này:

Họ sẽ không bao giờ phải biết chuyện gì đáng sợ đã có thể xảy ra.

https://www.facebook.com/share/p/1bk7A2coi3/?mibextid=wwXIfr 


 

CHỒNG ĐIÊN – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

 CHỒNG ĐIÊN

Đó là đêm mưa bão, chị bị sốt, anh chạy ngược chạy xuôi lo cho chị. Nửa đêm, nhắm tình hình không ổn, mặc trời mưa gió, anh bế chị vào viện. Vừa chạy vừa kêu tên chị mãi, không có tiền, vay mượn mãi chỉ đủ cho chỉ nằm trong một ngày. Sáng hôm sau, anh phải đi bán máu để có tiền mua thuốc cho chị. Những ngày chị bệnh, anh phải một tay kiếm tiền, một tay nấu cháo, thuốc thang cho chị. Để có tiền anh phải làm việc nhiều hơn trong tình trạng mệt mỏi vì thức khuya dậy sớm và bán máu. Ngày chị lành bệnh , cũng là ngày anh ngục ngã.

Anh bị ngã xe trên đường về vì hoa mắt. Tai nạn đó không lấy đi sinh mệnh của anh nhưng lấy đi của chị rất nhiều nước mắt khi anh trở thành một đứa trẻ lên ba. Anh không biết gì cả, thích cười thích khóc, không hiểu mình đang nghĩ gì. Nghe tin anh bệnh như thế , cả nhà chị tìm mọi cách tác động tới chị để chị bỏ anh mà về sống với gia đình. Không nhẫn tâm bỏ anh lại một mình, chị bị gia đình mình bỏ rơi. Không còn cách nào khác, chị đành cùng anh sống trong căn nhà lạnh lẽo. Chị đành bán đi miếng đất sinh nhai của hai vợ chồng để lấy tiền chữa trị cho anh. Chạy hết bệnh viện này tới bệnh viện khác, bệnh anh vẫn không khỏi.

Không còn cách nào khác, chị đành gửi anh vào bệnh viện tâm thần. Một tuần sau, nước mắt chị lại trào ra khi nhìn thấy anh đứng trước nhà gọi chị. Dù anh đang là đứa trẻ lên ba nhưng anh vẫn nhớ đường về nhà tìm chị.

Chị rụng rời chân tay ôm anh khóc không thôi.

Chị thề với lòng sẽ không đưa anh đi đâu cả.

Chị siết lấy anh cứ như sợ anh lại biến mất.

Vậy là từ đó, chị đâu anh ở đó. Anh ăn rất khỏe dáng người cao to. Nhìn đằng sau cứ như tràn trề sinh lực, nhưng chỉ khi nói chuyện với anh, mọi người mới vỡ lẽ.

Mỗi ngày sáng sáng anh lại gánh giỏ cá ra chợ cho chị bán, xong rồi lại đi lang thang. Đúng 11h anh lại đến gánh về cho chị. Anh hiền lành, thấy ai làm gì nặng cũng nhào vào giúp nên mọi người ở chợ rất thương. Họ vẫn thường cho anh bánh trái, ai khá hơn thì dúi cho chút tiền. Anh đều bỏ vào bọc, dành cho chị tất.

Mọi người đùa với anh gì anh cũng chỉ cười giả lả. Nhưng ai đó không biết lỡ lời gì tới chị là anh sẵn sàng cho người đó một cú đấm. Có lần, anh nổi cơn đánh một người bán sống bán chết chỉ vì người ấy khen chị xinh. Chỉ đến khi chị đến ôm anh, anh mới thôi.

Ở cái chợ này, chả ai dám tranh chỗ bán với chị cả, vì mỗi lần có cãi nhau với chị hay là giành khách, anh cũng đều có mặt, đứng che chị lại, tay lăm lăm thanh gỗ sẵn sàng ăn thua với họ.

Ai cũng ngán ngại, họ bảo chấp chi thằng điên nên họ bỏ qua điều đó.

Rồi ba chị sinh tật uống rượu. Ngày càng nghiện, ông mất. Được tin chị khóc ngất, thấy chị khóc, anh cũng ôm chị vào lòng và khóc theo. Khóc xong, chị dẫn anh ra tiệm vàng bán sợi dây chuyền mà anh tặng khi quen cưới nhau. Thấy chị tháo sợi dây, anh giật lại. Anh biết chị rất thích nó nên không muốn cho chị bán. Chị cười buồn, bán để cho má làm đám ma ba, sau này anh đi làm mua cho em cái khác lớn hơn, đẹp hơn. Anh mới chịu buông tay cười cười theo chị. Từ đó, anh chỉ đem cái bánh, chai nước về cho chị chứ không hề thấy đưa chị tiền.

Không biết tại vì không uống thuốc hay lý do gì mà dạo này anh lại có thêm bệnh động kinh. Mỗi lần lên cơn co giật lại sùi bọt mép. Hết cơn anh lại đập phá những ai đứng gần đó, nhưng khi chị ôm anh vào lòng, anh đều trở lại bình thường. Người ta khuyên chị cho anh vào viện. Bác sĩ bảo anh đã chuyển sang tâm thần nặng, phải đưa vào khu cách ly. Chị đành nói dẫn anh đi chơi. Đưa vào đó anh cứ khóc, ôm chầm lấy chị, chị cũng ôm chặt anh, mãi chị mới buông anh ra được. Nước mắt chảy dòng, chị phải cố chạy thật nhanh để không nghe tiếng anh gọi.

Tháng nào chị cũng xuống thăm anh. Chẳng làm gì cả cứ nhìn anh , khóc đã đời rồi về. Anh cũng vậy gặp chị là đòi về. Nhiều lúc chị cũng muốn đưa anh về lắm nhưng không thể.

Rồi một ngày, bệnh viện thông báo anh đã mất vì trong một lần lên cơn anh đã đập đầu vào tường.

Họ bảo trước lúc mất anh luôn miệng gọi tên chị. Chị ngất lên ngất xuống .

Hôm làm thủ tục chôn cất anh. Chị được bệnh viện đưa túi đồ của anh, bên trong toàn là hình của chị. Dưới những bộ đồ có một cái hộp, trong đó có một sợi dây chuyền bạc cùng tờ giấy anh ghi nguệch ngoạc tên chị.

Nước mắt chị chảy ròng…, nhớ người chồng điên!

Fb Lão Ngoan Đồng


 

Người mẹ bỏ con gái 12 tuổi trong rạp chiếu phim rồi biến mất

My Lan Pham 

Người mẹ bỏ con gái 12 tuổi trong rạp chiếu phim rồi biến mất… Sự thật phía sau khiến cả thế giới xúc động

Một người mẹ đưa cô con gái mười hai tuổi vào một rạp chiếu phim ở Paris.

Bà mỉm cười và nói:

“Con cứ ngồi xem phim nhé. Mẹ sẽ quay lại trước khi bộ phim kết thúc.”

Cô bé Marie Claude ngoan ngoãn gật đầu.

Bộ phim kết thúc. Đèn trong rạp bật sáng. Khán giả lần lượt ra về.

Cô bé vẫn ngồi đó, chờ mẹ.

Nhưng người mẹ đã không bao giờ trở lại.

Không phải vì bà bỏ rơi con.

Mà bởi ngay sau khi rời khỏi rạp, bà lao đi để cảnh báo các đồng đội trong lực lượng Kháng chiến rằng Gestapo đang chuẩn bị bao vây họ.

Bà không đến kịp.

Gestapo đã bắt chính bà trước.

Người phụ nữ ấy là Odette Fabius.

Sinh năm 1910 trong một gia đình Do Thái lâu đời tại Pháp, bà hoàn toàn có thể chọn cách im lặng để bảo toàn tính mạng dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc xã.

Nhưng bà đã chọn con đường nguy hiểm hơn.

Tháng 11 năm 1941, Odette gia nhập mạng lưới tình báo Réseau Alliance, bí mật chuyển những thông tin quân sự quan trọng cho Anh quốc.

Tháng 4 năm 1943, bà bị bắt, bị giam biệt lập, bị tra khảo, nhưng tuyệt nhiên không tiết lộ bất cứ điều gì.

Đầu năm 1944, bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück cùng hàng nghìn nữ tù nhân khác.

Số tù nhân của bà là 27393.

Giữa cái lạnh cắt da, sự đói khát và những hàng rào thép gai, Odette vẫn không từ bỏ hy vọng.

Bà tìm cách vượt ngục.

Ba ngày sau, bà bị bắt lại.

Theo những lời kể còn được lưu truyền, hình phạt dành cho bà là năm mươi roi giữa sân trại trước sự chứng kiến của các nữ tù nhân khác.

Bà không hề kêu một tiếng.

Người ta kể rằng khi viên cai ngục hỏi vì sao bà có thể chịu đựng được như vậy, bà chỉ bình thản đáp:

“Tôi là người Pháp.”

Sau đó, bà tiếp tục bị biệt giam trong phòng tối rồi chuyển đến khu trừng phạt khắc nghiệt nhất của trại.

Đầu năm 1945, khi sức khỏe gần như suy kiệt, bác sĩ Anne Spoerry đã bí mật che giấu bà trong bệnh xá, giúp bà tránh khỏi những đợt tuyển chọn tù nhân đưa đi tử hình.

Tháng 4 năm 1945, chỉ ít ngày trước khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, Hội Chữ thập đỏ đã đưa bà sang Thụy Điển điều trị.

Bà hôn mê gần một tháng rồi dần hồi phục.

Sau chiến tranh, Odette sống thêm bốn mươi lăm năm, viết hồi ký, được trao nhiều huân chương cao quý của nước Pháp và trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm.

Còn cô bé Marie Claude ngày nào cũng sống sót qua chiến tranh cùng cha mình.

Nhiều năm sau, khi được hỏi liệu mẹ mình có nên mạo hiểm như thế hay không, bà chỉ mỉm cười và nói:

“Mẹ tôi không thể sống theo cách nào khác. Đó chính là con người của bà.”

Có những người sống rất lâu nhưng dần bị lãng quên.

Có những người ra đi từ rất lâu, nhưng lòng dũng cảm của họ vẫn sống mãi.

Odette Fabius là một trong những con người như thế.

#MyLanPham #OdetteFabius #LịchSử #ThếChiếnThứHai #Pháp #Ravensbruck #PhụNữPhiThường #LòngDũngCảm #KhôngBaoGiờLãngQuên 


 

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi…Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam.                                    

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

24 Tháng 6, 2026

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

Cô giáo Lan năm ấy đã ngoài ba mươi, vẫn sống một mình trong căn phòng tập thể cũ của trường vùng ven. Lương giáo viên ít ỏi, bữa cơm chỉ đủ đạm bạc, nhưng lòng cô thì chưa bao giờ cạn yêu thương.

Một chiều mưa tầm tã, trên bậc thềm trạm y tế xã, cô Lan nhìn thấy hai bé trai sinh đôi quấn chung một tấm áo mỏng, khóc khàn cả giọng. Bên cạnh chỉ có mảnh giấy nhàu nát: “Nhờ ai đó nuôi giúp, tôi không đủ khả năng…”

Cô Lan bế cả hai lên, tim thắt lại. Từ giây phút ấy, cuộc đời cô rẽ sang một lối khác.

Cô đặt tên cho hai em là Minh và Nam. Sáng cô đi dạy, trưa tranh thủ về nấu nồi cháo lớn, chiều lại dắt hai đứa ra ngã tư bán vé số. Những đêm mất điện, ba mẹ con ngồi học dưới ánh đèn dầu leo lét. Minh học giỏi Toán, Nam mê Vật lý và luôn hỏi cô:

— “Cô ơi, sao máy bay lại bay được?”

Cô Lan mỉm cười, xoa đầu:

— “Vì có ước mơ nâng nó lên.”

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, máy bay và văn bản

Nhiều năm trôi qua, Minh và Nam lớn lên trong tiếng rao vé số, trong những buổi phụ hồ cuối tuần, và trong những trang sách mượn từ thư viện trường. Cô Lan chưa từng mua cho mình chiếc váy mới, nhưng tiền học của hai con thì chưa bao giờ thiếu.

Ngày Minh và Nam đậu vào trường đào tạo phi công, cô Lan khóc suốt đêm. Đó là lần đầu tiên cô cho phép mình tin rằng: hi sinh rồi sẽ có ngày nở hoa.

Mười lăm năm sau, tại sân bay rộn ràng ánh đèn, hai chàng phi công trẻ trong bộ đồng phục chỉnh tề đứng đón một người phụ nữ tóc đã bạc nhiều. Cô Lan run run nhìn hai con, còn chưa kịp nói gì thì phía sau có một người đàn bà khác bước tới.

Bà ta tự nhận là mẹ ruột của Minh và Nam. Bà kể về những năm tháng túng quẫn, về quyết định bỏ con trong nước mắt. Cuối câu chuyện, bà đặt lên bàn phong bì 10 triệu đồng, nói là “tiền chi phí nuôi nấng ngày xưa”, rồi xin được nhận lại con.

Sân bay bỗng lặng đi.

Minh khẽ đẩy phong bì lại, giọng bình tĩnh nhưng dứt khoát:

— “Chúng tôi không nhận.”

Nam tiếp lời, mắt đỏ hoe nhưng không run:

— “Mẹ sinh ra chúng tôi, nhưng người nuôi chúng tôi thành người là cô Lan.”

Hai anh em quay sang nắm tay cô giáo, rồi đưa ra quyết định cuối cùng:

“Chúng tôi sẽ làm thủ tục pháp lý để cô Lan là mẹ hợp pháp của chúng tôi. Từ hôm nay, mọi phụng dưỡng, yêu thương, và danh phận làm mẹ — chỉ dành cho một người.”

Người phụ nữ kia bật khóc, còn cô Lan thì òa lên trong vòng tay của hai “đứa trẻ” năm nào. Ngoài kia, một chiếc máy bay rẽ mây cất cánh.

Có những người mẹ không sinh ra con — nhưng chính họ đã cho con đôi cánh để bay cả cuộc đời.


 

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung – Truyen ngan HAY

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung

April 2, 2019 

*** Tác giả Từ Dung là con gái út Nhà Văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long (1907-1948) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn

Tôi không biết phải bắt đầu ra sao khi viết về mẹ tôi, vì có rất nhiều điều để nói. Cũng có thể dưới con mắt chủ quan, tôi nghĩ bà là một trong những người phụ nữ phương Đông tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Người mẹ dịu hiền mà tôi được may mắn biết đến, với đầy đủ những đức tính về công, dung, ngôn, hạnh của một người đàn bà Á Đông, đã hy sinh cả một cuộc đời mình cho chồng, cho con và cho những nghĩa cử từ thiện ngoài xã hội với nụ cười luôn trên môi cùng chiếc răng khểnh duyên dáng.

Công, Dung, Ngôn, Hạnh

Về mặt dung nhan, vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm của mẹ tôi đã hơn một lần làm rung động những người phái nam có địa vị quan trọng trong nhiều lãnh vực xã hội. Bà cao dong dỏng, thân hình đều đặn thanh tú, nước da mịn màng trắng trẻo, dáng đi yểu điệu và uyển chuyển, khuôn mặt trái soan, cặp mắt hơi hiếng (lé kim), mơ màng nhưng sâu sắc, miệng cười duyên dáng với chiếc răng khểnh và cặp môi đầy đặn. Tôi có đọc vài cuốn sách viết về mẹ tôi với những lời mô tả thiên lệch bắt nguồn từ những ghen ghét nhỏ mọn. Những người viết này cố tình hạ thấp dung nhan, phẩm hạnh của bà vì đố kị nên những người từng được tiếp xúc với bà vô cùng bất mãn vì những dối trá trắng trợn đó. Theo ý một số những người có dịp tiếp xúc với bà, bà là một trong những người đẹp và hợp thời trang nhất tại Hà Nội vào những thập niên 1930-40. Ngay cả về sau, khi đã trên bốn mươi tuổi và có bốn người con lớn, bà vẫn là một phụ nữ có vẻ đẹp sang trọng và thanh lịch có tiếng ở Sài Gòn.

Tôi còn nhớ, trong lúc ở giá để nuôi các con ăn học thành tài, mẹ tôi đã từ chối khéo léo và khiêm nhượng những người đàn ông theo đuổi bà và về sau họ vẫn quý mến và nể phục tư cách của mẹ tôi. Một trong những người này đã qua đời đã giữ lòng thương quý mẹ tôi ngay cả khi bà đã tạ thế. Khi ra đi nước ngoài, ông gửi thơ về nhờ tôi đặt lên mộ mẹ tôi một bó hồng đỏ thắm mỗi tuần lễ, như ông vẫn thường làm trước khi ra đi!

Mẹ tôi đã từ chối tất cả những người đàn ông đến sau, vì trong trái tim của bà chỉ có hình bóng của một người yêu duy nhất, đó là ba tôi, Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long.

Về công, tức là tài năng khéo léo, ít có người phụ nữ nào có tài nấu nướng những món ăn Việt cũng như Pháp tuyệt xảo như mẹ tôi. Nào canh bóng, vây, bào ngư, nấm nhồi giò, chả nem rán, bánh chưng gói, món Tây thì súp legume, bò hầm đậu, cua phá xi…

Các ngày giỗ chạp, tiệc rượu linh đình, một mặt mẹ tôi nấu ăn và chỉ dẫn cho người giúp việc, một mặt tiếp đãi khách với nụ cười hiền thục trên môi. Ai cũng phải mến yêu bà. Chị Thu tôi đã lớn thì giúp một tay, còn tôi bé út nhất nhà (cách anh Lân đến 9 tuổi) chỉ chạy chơi và chực ăn trứng luộc trên bàn thờ!

Sau này mẹ tôi mở tiệm Chả Cá Thăng Long (1959) ở đầu đường Phan Thanh Giản. Tiệm rất đắt khách và là một trong những tiệm ăn sang trọng thanh lịch và ngon lành tinh khiết nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Về ngôn, khoa ăn nói, mẹ tôi ăn nói nhã nhặn, điềm đạm và nhu thuận, lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh. Bà cũng dạy các con phải ăn nói đàng hoàng. Ngoài phái nam ra, phái nữ cũng thương mến bà, bạn bè và các bà cô, dì hai bên họ đều tìm đến bà khi hoạn nạn, nhưng cũng có một số nhỏ đem lòng ganh tị và tìm cách bôi nhọ thanh danh bà.

Về phẩm hạnh, không ai có thể chối cãi rằng mẹ tôi là một phụ nữ đảm đang, hy sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con mà không hề phàn nàn, than vãn.

THỜI THƠ ẤU CỦA MẸ TÔI BA MẸ TÔI GẶP GỠ NHAU

Sinh ra trong một gia đình quý phái, trưởng giả, mẹ tôi lại có những đức tính đơn giản, tốt bụng hay thương người. Ông ngoại tôi làm tham tá công chánh dưới thời Pháp thuộc, bà ngoại tôi là một mệnh phụ đài các nhưng khôn ngoan, biết quản lý tài sản của ông tôi, biết tiết kiệm. Mẹ tôi lại là con một nên được lo toan rất chu đáo, quá chu đáo đến nỗi mẹ tôi cảm thấy ngộp thở. Bà ngoại tôi tính tình độc đoán, muốn chồng con phải phục tùng theo cách sinh hoạt của bà. Thậm chí mẹ tôi chỉ được quyền chơi những đồ chơi bà ngoại cho phép. Mẹ tôi kể lại rằng một lần ông ngoại lén cho mẹ một con búp bê mà mẹ tôi thích, khi bà ngoại biết được, bà lập tức vứt đi. Mẹ tôi khóc và nhớ mãi chuyện ấy. Bà ngoại rất yêu mẹ tôi, nhưng cụ vẫn giữ tính khắc nghiệt đó nên có những đụng chạm cãi vã không thể tránh được giữa hai mẹ con.

Khi ba mẹ tôi gặp gỡ nhau, họ bị tiếng sét ái tình đánh choáng váng. Một bên cảm vì sắc, một bên mến vì tài. Ba tôi tuy ít nói, nhưng có lối châm biếm khôi hài thật duyên dáng và sâu sắc đã chinh phục được trái tim trong trắng của mẹ tôi. Tính cách khôi hài này được thể hiện trong tập “Trước vành móng ngựa”. Mối tình của ba mẹ tôi là nguồn hứng khởi của mối tình của Duy và Thơ trong “Con đường sáng”. Là một phụ nữ có tâm hồn nhạy cảm và chịu ảnh hưởng phong trào văn hóa mới vì mẹ tôi theo học trường Pháp và tốt nghiệp trường Pháp, bà thông cảm và hỗ trợ chí hướng phi thường của ba tôi, người đã từ chối chức tri huyện khi tốt nghiệp cử nhân luật, sau lại bỏ chức biện lý vì chống lại tòa án Pháp thuộc ngày đó. Điều này thể hiện trong tác phẩm “Trước vành móng ngựa”.

Phải là một phụ nữ phi thường mới thấu hiểu và tôn trọng một tâm hồn phi thường như ba tôi, và mới hy sinh tuổi xuân sắc để giúp đỡ chồng một cách đắc lực trong quá trình tranh đấu cho dân tộc và đất nước.

Lần đầu khi đi xem mắt mẹ tôi tại tòa biệt thự của bà ngoại tôi ở bãi biển Sầm Sơn, ba tôi đã bị tiếng sét ái tình. Mối tình đẹp như thơ đó đã bị cả hai bên gia đình phản đối, bên nội vì lý do bà nội tôi không chuộng gia đình trưởng giả, bên ngoại vì không cho là đủ môn đăng hộ đối. Nhưng ba mẹ tôi đã vượt thắng tất cả để tìm đến nhau và lập gia đình!

MỘT CUỘC HÔN NHÂN ĐẦY HY SINH VÀ CHIA LY

Chị cả tôi, chị Minh Thu, ra đời năm 1934, là tác phẩm đầu tiên của sự kết hợp tuyệt vời đó. Năm kế là anh Nguyễn Tường Ánh và cách một năm nữa là anh Nguyễn Lân. Ba mẹ tôi những tưởng anh Lân là con út rồi vì lúc đó ba tôi rất ít khi ở nhà, ông đã bị quay vào guồng máy thời cuộc lúc ấy. Khi ba tôi bị bắt, bị tra tấn tại sở mật thám và sau bị đi đày ở Vụ Bản, Chân Lạp Sơn, mẹ tôi rất lo buồn và đi lại tiếp tế nhiều lần. Tháng Tám, 1946, ba tôi cầm đầu phái đoàn hòa giải, trong đó có cả người của Việt Nam Quốc Dân Đảng, của bên Việt Minh, và có nhân viên bộ Công Chính là kỹ sư Đỗ Xuân Dung để xem tình hình nước lụt ở Việt Trì (ngã ba sông Hồng Đào) và ba tôi bị bắt. Khi được thả ra, ba tôi sang Trung Hoa gặp gỡ bác Nguyễn Tường Tam và các anh em khác. Thời gian đó mẹ tôi thường xuyên mang vật phẩm và tiền bạc sang tiếp tế cho ba tôi và các anh em khác. Ngoài ra, một tay bà lo dạy dỗ các con, chăm sóc mẹ già và cũng một tay bà lo toan hỗ trợ người chồng cách mạng lưu vong nơi xứ người. Phụ nữ như thế không phải ở thời đại nào cũng có!

Ba mẹ tôi lúc ấy như Chức Nữ Ngưu Lang, chẳng được thường xuyên gặp gỡ nên mỗi lần trùng phùng thật quý giá vô cùng! Tôi là kết qủa của một trong những lần gặp gỡ đó. Ba tôi gởi thư về dặn mẹ nếu là con gái thì đặt tên Từ Dung, con trai thì Duy hoặc Giản. Như vậy Từ Dung là tên cúng cơm của tôi chứ không phải tên hát xướng đặt theo một nhân vật khác! Từ Dung có nghĩa là hình Dung giống mẹ, vì ba tôi lúc nào cũng tưởng nhớ mẹ tôi.

Tôi ra đời ngày 30 tháng Mười năm 1946 tại Hà Nội trong tình thương yêu của cả nhà. Ba tôi vẫn ở biền biệt bên Trung Hoa nên chẳng thấy mặt tôi, chỉ nhận được tin tức qua thư tín gia đình.

Lần gặp gỡ cuối cùng của ba mẹ tôi năm 1948 tại Hongkong rồi sau đó ba tôi bị một cơn đau tim tạ thế trên đường đi xe lửa về Quảng Châu, lúc đó tôi được 19 tháng. Được tin sét đánh, mẹ tôi phải lo tiền bạc quay trở lại chôn cất ba tôi tại Quảng Châu. Hiện nay không còn biết mộ phần nằm đâu nữa vì các nấm mồ đều bị khai quật dưới chế độ Cộng Sản!

Kể từ đó, mẹ tôi ở vậy nuôi con cho đến khi các con khôn lớn. Bố con tôi chỉ biết nhau qua hình ảnh thư từ. Tôi được nghe kể lại về ba tôi qua lời nói của mẹ, của anh chị và của cậu tôi, Như Phong Lê Văn Tiến.

Tôi nghĩ rằng tôi được thừa hưởng óc khôi hài châm biếm của ba tôi, cũng như dòng máu văn chương chảy cuồn cuộn trong tim óc!

Tại Hà Nội, gia đình tôi sống tại đường Lý Thái Tổ, Hàng Vôi. Trường Hàng Vôi là ngôi trường đầu tiên trên con đường học vấn của tôi. Năm 1990, trước khi rời Việt Nam, tôi ghé thăm ngôi nhà gia đình và ngôi trường thơ ấu. Ngôi nhà xinh đẹp hai tầng có cây bàng trước sân giờ đây ngăn ra cho tám hộ ở, phòng ngăn bằng vải rideau. Bàn thờ tổ tiên vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng chỉ còn một ông lão còn nhớ về nguồn gốc căn nhà.

Trở lại năm 1954, chúng tôi rời căn nhà thân yêu lên đường vào Nam trên một chiếc phi cơ quân đội. Tôi mới có 8 tuổi nên chỉ nhớ là mẹ tôi vội trở lại miền Bắc để thanh toán mấy căn nhà ở Hà Nội của bà tôi và gom tiền bạc để sinh sống trong Nam. Lúc đó sắp sửa đóng cửa ra vào hai miền nên các anh chị, tôi lo lắng sợ mẹ tôi bị kẹt lại Hà Nội.

Khi mẹ về, chúng tôi hết sức mừng rỡ. Chúng tôi tạm ở chia với họ hàng bên ngoại một căn nhà đường Đặng Dung, Tân Định. Đó là thời gian đẹp nhất của đời tôi! Mẹ con, anh chị em đoàn tụ yêu mến nhau. Tôi ở tuổi bắt đầu ý thức được tình cảm quý báu của gia đình. Ý nguyện của tôi là anh chị em tôi sẽ trở lại quây quần như thời đó!

Khi đến học lớp Tư trường Huỳnh Thị Ngà thì tôi gặp khó khăn với cô giáo Nam Kỳ với giọng đọc chính tả mới lạ. Tôi có đến mười lỗi trong bài “Lạc vào rừng” vì tôi không hiểu gì cả. Các bạn chế nhạo accent Bắc kỳ và gọi tôi “Bắc kỳ ăn rau muống”. Đó là bài học đầu tiên của tôi về kỳ thị địa phương dạy tôi sau này chống lại mọi thứ kỳ thị trên cõi đời này!

ĐỜI SỐNG TẠI SAIGON

Cùng lúc ấy, mẹ tôi mở tiệm phở và chả cá Thăng Long trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, sau chuyển về tiệm chả cá Thăng Long trên đường Phan Thanh Giản. Sau này ngẫu nhiên quán cà phê nhạc Từ Dung của tôi mở năm 1978 cũng lại tọa lạc trên con đường Trần Quang Khải và người hầu bàn trưởng tại chả cá Thăng Long tên là anh Tư lại trở thành người pha cà phê chính của quán Từ Dung.

Tiệm chả cá Thăng Long do họa sĩ Nguyễn Gia Trí trang hoàng có một vẻ Á Đông trang nhã với những chiếc cột đỏ, những tấm bình phong và hình vẽ đặc biệt Việt Nam rất mỹ thuật. Một tấm tranh dân gian của Phạm Tăng treo dọc cả bức tường trong căn phòng riêng của quán. Bức tranh này sau tôi bị một tay văn sĩ hạng b, c gì đó lừa lấy mất!

Căn nhà mẹ tôi mua rộng lớn, một bên mở tiệm, còn một bên gồm năm phòng để gia đình tôi ở. Tiệm luôn đông khách tấp nập và các danh nhân, nghệ sĩ như Mặc Thu, Nguyễn Hoạt, bác Nhất Linh, Chu Tử thường xuyên đến ăn chả cá. Thế nhưng vấn đề tài chính không mấy khả quan vì mẹ tôi quá tốt bụng, luôn nuôi ăn ở và trả lương cho 6,7 người giúp việc nên tiền vào tuy khá nhưng ra cũng lắm. Mẹ tôi không bao giờ từ chối mở hầu bao giúp cho những người đến cầu cứu gia đình tôi!

Lúc đó chị Minh Thu, anh Tường Ánh lập gia đình nhưng lúc đầu anh Ánh vẫn ở chung với mẹ tôi. Các anh chị có gia đình riêng nên không còn gần gũi nhau như xưa. Tôi cảm thấy mẹ buồn nhưng không biết an ủi mẹ ra sao, chỉ biết rúc vào lòng mẹ. Khi anh Ánh và vợ dọn đi ở riêng trong một căn nhà mẹ mua cho anh, tôi được thừa hưởng căn phòng trống cạnh phòng anh Lân. Trước mặt hai căn phòng là một sân cement nhỏ trồng vài cây cảnh như cây trúc đào, cây mận sai trái vì tôi chôn xác con mèo dưới gốc cây.

Đằng sau phòng tôi là một cây trứng cá trái mọng nước và rất ngọt. Căn phòng này đã ghi một ấn tượng sâu đậm về thời thơ ấu của tôi sống êm đềm trong tay mẹ hiền. Có phòng riêng rồi nhưng tôi vẫn đòi ngủ với mẹ để được hít mùi da thịt của bà, thơm mùi nước hoa Guerlain và mùi phấn. Tôi cũng đòi mẹ ngâm thơ Kiều hoặc hát quan họ cho nghe như lúc còn bé tí. Cũng vì vậy mà tôi rất thuộc Kiều và những bài thơ ru em. Mẹ tôi yêu nhạc Đông phương nhưng cũng mê nhạc cổ điển Tây phương, nên khi mẹ mất, gia đình tôi mở nhạc Bach và Beethoven bên quan tài để hương hồn mẹ tôi về thưởng thức, thay vì giọng ê a của các vị sư hay kinh của các cha cố!

Sau này mẹ tôi bắt đầu gặp khó khăn về tài chính nên phải bán đi một số nữ trang. Lúc đó là đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đổ sang Việt Nam nên mẹ tôi theo trào lưu cũng dẹp tiệm chả cá và cho Mỹ thuê một bên nhà để mở nhà hàng có âm nhạc tên là Kontiki. Đêm nào tôi cũng được nghe tiếng đàn hát vọng sang từ bên nhà hàng của ban nhạc Đăng Tiến, thỉnh thoảng tôi cũng sang hát chơi những bản như Autumn leaves, A very precious love, Mona Lisa….

(Ảnh: Bà Hoàng Đạo)

Tôi khoảng 16 tuổi, tuổi đầy mộng đẹp và bắt đầu mơ đến tình yêu!

Mấy năm sau mẹ tôi bán căn nhà rộng lớn đường Phan Thanh Giản và mua căn nhà nhỏ hơn có ba phòng ngủ và một căn gác ở Ngã năm bình hòa đường Chu Văn An. Nhiều người ngăn cản bà mua căn nhà này vì nó nằm cuối ngõ cụt và có mộ phần đằng sau nhà nên theo địa lý rất xấu. Không biết có phải là mê tín không mà sau này mẹ tôi bị ung thư nặng và chết tại nhà đó, bà ngoại tôi cũng chết theo ở tuổi 98 vì quá đau đớn, mẹ tôi là con duy nhất của cụ, cậu tôi Như Phong Lê văn Tiến bị bắt giam cũng ở đó, gia đình vợ chồng tôi thì phân tán, chia ly. Năm Mậu Thân 1968 nơi này là tử địa của tàn quân Việt Cộng, sau khi VC thất bại trong trận tổng công kích Saigon đã rút lui về nơi đây. Ngôi nhà chúng tôi bị đạn bắn từ máy bay xuống lỗ chỗ đầy những vết đạn, cũng may là khi cả khu phố bốc cháy như một con rồng lửa thì bỗng dừng lại khi tới nhà chúng tôi. Thật là một phép lạ!

Tôi giúp mẹ, bà ngoại và hai mẹ con bác giúp việc chạy khỏi nhà, chân phải chạy lung tung tránh xác VC nằm đầy ngõ và tránh tầm đạn của hai bên bắn nhau. Một ông hỏi ông khác «ai đánh ai?», ông kia trả lời «quân mình đánh quân ta»!

Từ lúc đó mẹ tôi bị ung thư bên cánh tay trái và căn bệnh kéo dài tới năm 1975 thì mẹ tôi mất. Người y sĩ đã hết lòng chữa chạy cho mẹ là bác sĩ Trần Ngọc Ninh, một người bạn thân của gia đình. Hai bác sĩ khác của gia đình tôi là bác sĩ Phan Huy Quát và bác sĩ Kỳ Quan Thân.

Cánh tay xinh đẹp, nuột nà, trắng bóc của mẹ tôi chỉ để đeo những nữ trang qúy giá nay đã bị cắt đi đến hai lần, và sau cùng căn bệnh quái ác đã ăn vào tủy sống làm mẹ hôn mê trong 24 tiếng đồng hồ trước khi từ gĩa cõi đời. Trước khi bị hôn mê, căn bệnh ăn vào tủy làm bà thấy mọi vật nhuộm muôn màu muôn sắc.

Không có gì diễn tả nổi nỗi đau đớn của người mắc bệnh ung thư. Lầu 5 của viện ung thư ở Gia Định phải rào lại vì nhiều người trong cơn đau đã nhảy xuống tự vận. Trong khoảng cuối cùng của cuộc đời đầy hy sinh, chịu đựng, đau đớn, bà vẫn tiếp tục làm phước, giúp người. Bà bảo trợ cho một số người bị ung thư trong viện, trong số đó có một anh binh sĩ trẻ, đẹp trai như Alain Delon. Anh bị ung thư xương chân, chỉ trong vài tháng là từ trần. Mẹ tôi, lúc đó đã phải dùng tới codein cho bớt đau và bò lết dưới đất rên la, cũng vẫn lo cho anh trong những ngày chót của cuộc đời anh!

Tại sao một phụ nữ hiền hậu như mẹ tôi và có lòng thương người lại phải chịu một số phận đớn đau như vậy? Khi mẹ tôi chết đi, bà không bám víu vào một niềm tin tôn giáo nào cả vì bà không tìm thấy đức tin nơi cuối đời. Lúc gần chết, bà cảm thấy hoang mang…

Khi nhìn ngắm xác mẹ trong chiếc áo trắng tôi mặc cho bà và cành hoa lan trắng trước ngực bà, tôi mới ý thức được nỗi mất mát lớn lao đến thế nào. Đã quá muộn để chiều chuộng mẹ, để nói rằng mẹ ơi con yêu mẹ, để cám ơn bà cho tôi đời sống hôm nay và niềm tin ngày mai.

Có một con bướm trắng bay quanh quan tài của mẹ nhiều lần trước khi hạ huyệt, có phải chăng linh hồn mẹ muốn từ giã các con lần cuối?

Từ Dung xin thay mặt người quá cố cũng như các anh chị gửi lời cám ơn anh Sơn con của cô Thế đã lo việc rải tro xuống biển cho bà và mẹ chúng tôi tại Việt Nam để linh hồn bà và mẹ chúng tôi được siêu thoát và xin Chuá ban phước lành cho anh và gia đình anh.

Chấm hết

TỪ DUNG


 

BÀN TAY CHA – TG: VÔ DANH – Truyen ngan HAY

 BÀN TAY CHA – TG:  VÔ DANH

(Kính gửi đến những người Cha, những người lính quân lực VNCH anh hùng)

Bàn Tay Cha

Father’s Day lại về trên đất Mỹ. Trong các cửa hàng, người ta bày bán những tấm thiệp in hình chiếc cà vạt, cây gậy golf, chiếc ly có dòng chữ “World’s Best Dad”. Nó đứng lặng giữa những kệ hàng rực rỡ ấy, và không hiểu sao mắt bỗng thấy cay cay. Bởi trên đời này, không một tấm thiệp nào vẽ nổi đôi bàn tay của cha nó.

Đôi bàn tay ấy, đã có một thời cầm súng.

Nó không được tận mắt thấy những năm tháng cha nó khoác áo lính, nhưng nó biết — trong những bức hình cũ ố vàng, người sĩ quan trẻ đứng nghiêm dưới lá cờ vàng 3 sọc đỏ, ánh mắt sáng và sống lưng thẳng như cây tùng. Cha nó thuộc về một thế hệ mang lý tưởng giữ gìn miền Nam, một thế hệ chọn chữ “trách nhiệm” làm lẽ sống. Rồi tháng Tư năm ấy, đất trời sụp đổ. Người ta bắt cha nó buông súng, và cũng từ đó, bắt luôn cả tuổi xuân, cả tự do của người cha.

Cộng sản đày cha nó ra tận Sơn La — cái tên mà mỗi lần cha nó nhắc đến, giọng cha nó lại chùng xuống như có gì đó vĩnh viễn nằm lại nơi ấy. Rừng thiêng nước độc, nơi sương mù phủ kín đỉnh núi quanh năm, nơi muỗi rừng và sốt rét rình rập từng thân người. Hơn 9 năm trong những trại tù mà họ gọi bằng cái tên mỹ miều “cải tạo”. 9 năm đôi bàn tay từng quen với bản đồ và quân lệnh phải cuốc đất, phá rừng, gánh đá.

Cha nó kể,  phần ăn mỗi ngày chỉ là vài củ sắn sượng, một nắm hột bắp mốc, mà bụng thì cồn cào như có lửa đốt. Đói đến mức người tù phải nhặt cả những đọt rau rừng, con cào cào, con dế mèn để cầm hơi. Đói đến mức có người bạn tù của cha nó, ăn cả trái bả đậu để vượt qua cơn đói, sáng còn gọi nhau dậy đi lao động, chiều đã không gượng nổi mà nằm xuống sàn cầu xí vì cơn tiêu chảy hành hạ sau khi ăn trái bả đậu, tối đến người bạn tù mắt nhắm lại giữa cơn sốt rét cuối cùng. 

Và chính đôi bàn tay cha nó — đôi bàn tay từng cầm súng giữ nước — đã cầm lấy chiếc cuốc, lặng lẽ đào huyệt chôn người đồng đội ngay bên triền rừng âm u ấy. Không một vòng hoa. Không một tiếng kèn. Chỉ có nắm đất đỏ và những giọt nước mắt nuốt ngược vào trong, vì khóc lớn cũng là một thứ xa xỉ mà người tù không được phép. Cha nó bảo, mỗi lần lấp đất cho một người bạn, là một lần cha nó tự hỏi không biết ngày mai có ai lấp đất cho mình. Vậy mà cha nó vẫn sống. Vẫn gắng sống. Bởi ở quê nhà, có một người vợ và một đàn con đang ngày đêm ngóng đợi.

Cha nó trở về với mái tóc đã điểm bạc trước tuổi, với đôi bàn tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn không hề van xin ai một điều gì. Ngày về, không có quân hàm, không có chức phận, chỉ còn một người chồng, một người cha với đàn con nheo nhóc và một mái nhà dột nát. Và thế là đôi bàn tay từng cầm súng, từng đào huyệt chôn bạn nơi rừng sâu ấy, nay ghì lấy càng chiếc xe xích lô.

Mười năm trời. Nó nhớ lại — mười năm còng lưng trên chiếc yên xe, dưới cái nắng miền Nam chói chang như đổ lửa. Mười năm tấm lưng cha nó gò xuống, ướt đẫm mồ hôi, từng thớ thịt căng ra đạp ngược những con dốc giữa trưa hè bỏng rát. Mặt đường nhựa nóng đến mức bốc hơi, hắt lên rát cả mặt người. Cha nó đạp xe dưới mưa, dưới nắng, đạp từ tờ mờ sáng đến khi đèn đường đã lên.

Người đời nhìn cha nó, họ thấy gì? Họ thấy một thằng cu li đạp xích lô. Một gã phu xe đen đúa, áo rách lưng còng, một kẻ tay chân đen đúa không một mảnh giấy lận lưng. Có những người khách ngồi ngoảnh lưng lại cha nó mà chẳng buồn nhìn mặt, có kẻ còn buông lời sai khiến, mặc cả từng đồng như mặc cả với một thân phận thấp hèn. 

Họ đâu biết — họ đâu thể biết — người phu xe đang gò mình kéo họ đi kia từng là một sĩ quan đứng thẳng dưới lá quân kỳ, từng chỉ huy cả một đơn vị, từng đọc sách thánh hiền và mang trong tim một lý tưởng lớn hơn cả mạng sống mình. Cái nhìn khinh miệt của người đời, cha nó nuốt vào lòng như đã từng nuốt ngược nước mắt nơi rừng Sơn La. 

Cha nó chẳng bao giờ thấy nhục. Bởi mỗi đồng bạc lẻ cha nó mang về, nhàu nát và thấm mồ hôi, là một bữa cơm, là một quyển vở, là một ngày con được tiếp tục đến trường. Người lính ngày xưa không gục trong trại tù, thì nay cũng quyết không để đàn con thất học giữa cảnh nghèo.

Rồi cánh cửa nước Mỹ mở ra theo diện nhân đạo. Cánh cửa mà cha đã trả giá bằng cả 9 năm tù đày. Nó cứ ngỡ sang đến miền đất hứa, cha sẽ được nghỉ ngơi. Nhưng không. Ở cái tuổi lẽ ra phải an dưỡng, cha nó lại lao vào những nhà xưởng, đứng dây chuyền, bưng bê, lau dọn, với đồng lương tối thiểu và thứ tiếng Anh chắp vá.

Nó không bao giờ quên những buổi sáng mùa đông xứ người. Trời còn tối đen, tuyết phủ trắng xóa, cái lạnh cắt da cắt thịt mà người miền nhiệt đới như cha nó chưa từng quen. Cha nó lái chiếc xe cũ kỹ mua lại bằng những đồng tiền dành dụm — chiếc xe già nua đến mức mỗi sáng phải khấn vái mới chịu nổ máy. Rồi có những đêm tuyết giá, trên con đường vắng tanh, chiếc xe ấy chết máy giữa đường, nằm ì ra như một con vật kiệt sức. 

Cha nó đứng đó, một mình giữa trời tuyết, hai bàn tay tê cóng run rẩy lật từng nắp máy, hơi thở phả thành khói trắng, trong lúc cái lạnh thấu xương và bóng đêm vây quanh. Cha nó về đến nhà, đôi tay đỏ ửng nứt nẻ, nhưng vẫn mỉm cười bảo với nó: “Không sao, ba quen rồi.”

Khi ấy nó đâu hiểu hết hai chữ “quen rồi” ấy nặng đến nhường nào. Cha nó già đi từng ngày trong im lặng, chẳng một lời than. Tất cả, chỉ để anh em  nó được bước vào giảng đường đại học — nơi mà chính cha đã phải bỏ dở vì chiến cuộc, vì tù tội, vì cả một đời dâng hiến cho những điều lớn hơn bản thân mình.

Và rồi cái ngày ấy đã đến. Ngày nó đứng trên bục, đội chiếc mũ tốt nghiệp, tay nâng tấm bằng đại học danh giá. Nó đưa mắt tìm cha giữa đám đông. Cha nó ngồi đó, trong bộ áo vest đã cũ, đôi bàn tay chai sần đặt lên đầu gối. Và lần đầu tiên trong đời, nó thấy người lính ấy khóc. Những giọt nước mắt lăn trên gò má hằn vết thời gian — không phải nước mắt của yếu đuối, mà là nước mắt của một đời người cuối cùng đã thấy hạt giống mình gieo trong gian khó nở thành hoa.

Trong giây phút ấy, nó chợt hiểu ra một điều mà nó sẽ mang theo đến hết cuộc đời. Người đời có thể gọi cha nó là thằng cu li đạp xích lô. Người đời có thể bảo cha nó là kẻ dốt nát, không một tấm bằng. Nhưng họ đã lầm. Tấm bằng nó đang cầm trên tay đây, ghi tên nó, nhưng không phải của nó. Nó là tấm bằng của xương máu pha lẫn mồ hôi & nước mắt người cha. Bao nhiêu năm nó đèn sách, là kết tinh của mấy mươi năm cha nó còng lưng dưới nắng. Cái mũ tốt nghiệp nó đội trên đầu, được dệt nên từ những đêm cha nó run rẩy giữa trời tuyết. 

Cái học vị cao nhất ở xứ người mà nó đạt tới ấy, thật ra chính là học vị của một người cha chưa từng được ngồi giảng đường — người đã viết luận án của đời mình không phải bằng mực, mà bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng cả máu thịt mình suốt mấy mươi năm. Cha nó không có bằng cấp, nhưng cha đã tốt nghiệp trường đời với tấm bằng cao quý nhất: tấm bằng của lòng hy sinh.

Người ta thường nói đến những vị anh hùng trong sử sách. Nhưng với nó, anh hùng là người đã nhiều lần đứng dậy từ đống tro tàn của đời mình — là người lính giữ nước, là người tù đào huyệt chôn bạn mà vẫn không gục ngã, là người phu xe mười năm còng lưng nuôi con giữa những lời khinh miệt, là người công nhân già lặng lẽ giữa trời tuyết xứ người — mà chưa một lần để lòng tự trọng và tình thương phai nhạt.

Cha nó là người lính trọn đời không phản bội lời thề với tổ quốc. Là người chồng chưa một ngày buông tay người vợ tào khang giữa cơn hoạn nạn. Là người cha đã đem cả cuộc đời mình lót đường cho các con đi tới.

Mùa Father’s Day này, nó không còn được mua tấm thiệp nào cả. Nó chỉ còn biết cúi đầu, quỳ xuống trước mộ người cha và lặng lẽ thốt lên: 

“Con cảm ơn cha”

-Father Day 2026-

From: Tu-Phung


 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM – Truyen ngan

Thái Bá Tân Vt 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM.

Trích đoạn truyện ngắn: (NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TẮM) của Thiết Ngưng (chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc) về cách mạng văn hóa Mao ít.

… Một ngày mùa thu năm 1966, Khiêu mới là học sinh lớp 1, được dự đại hội phê đấu rất ồn ào náo loạn diễn ra ở sân trường …

Cứ từng đợt từng đợt học sinh lại giơ cánh tay non nớt, từng đợt từng đợt hô rất mạnh mẽ những khẩu hiệu như: “đả đảo con đĩ Đường Tân Tân” là cô giáo của trường, dạy toán bậc trung học phổ thông. Khiêu còn nghe những bạn nam bàn luận ở phía sau, chẳng nhẽ cô giáo ấy lại là một con đĩ sao?

Cô giáo Tân bị mấy nữ học sinh dẫn lên sân khấu, trước ngực viết mấy hàng chữ bằng mực đen: “Tôi là một con đĩ”… dòng chữ làm Khiêu ghê người, trong ý niệm của cô bé, con đĩ không chỉ là xấu xa mà còn là xấu xa nhất trong những người xấu xa, xấu hơn cả địa chủ, nhà tư bản. Khiêu nghĩ không hiểu một người lớn lại tự nhận “tôi là một con đĩ” nhỉ ?

Cô giáo Tân chừng 30 tuổi, da trắng, người gầy, quá gầy và trắng, cắt tóc ngắn và sống mũi cao, trông như một cây tăm… Cô đúng là một cây tăm mà không phải là cây dương liễu, bởi trông cô mảnh mai nhưng cứng rắn, cô như cây tăm cắm trên mặt bàn, mấy nữ học sinh lớp trên cứ xô đẩy nhưng cô vẫn không chịu quì mà cũng không cúi đầu… Khiêu có phần đồng tình với cô giáo Tân bởi cô đẹp. Đẹp, chỉ thế thôi.

… chợt có một phụ nữ trạc tuổi trung niên mặc áo cánh xẻ tà mầu mỡ gà lên sân khấu, xỉa xói vào cô giáo Tân:

– “Gọi mày là con đĩ oan ức lắm à? tao hỏi mày, mày đã lấy chồng chưa? Mày chưa bao giờ lấy chồng, mày chưa lấy chồng mà đã có con, thế thì mày ngủ với ai? khai thật ra”.

Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên:

“Mụ Tân phải khai ra! không khai thì thầy giáo và học sinh cách mạng sẽ không tha!”…

Một học sinh nam lớn tuổi đi vòng ra phía sau cô giáo Tân đạp mạnh vào khuỷu chân cô giáo, cô giáo “hự” lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống. Cả sân trường hoan hô, vậy là cái cô giáo chết cũng không chịu quỳ đã bị bọn học sinh lớn khuất phục. Đại hội phê đấu tiếp tục, mấy giáo viên trẻ thay nhau lên phát biểu, chỉ trích gay gắt cô giáo Tân đã giấu giếm chuyện quan trọng trong cuộc sống riêng, lừa dối để được đồng nghiệp tin tưởng, nhà trường tín nhiệm, học sinh tin yêu. Các em học sinh hãy nghĩ xem, một sự việc ghê tởm biết chừng nào, một phụ nữ suy đồi về đạo đức, tác phong xấu xa như thế mà có thể là cô giáo… Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên: – “Mụ Tân phải cút khỏi trường, không cút thì những người kế tục sự nghiệp cách mạng của nhà trường sẽ không tha!”… “còn nữa, hàng xóm của mụ còn phản ánh, ở trường mụ Tân giả bộ giản dị, ở nhà thì sống theo lối sống của giai cấp tư sản, mụ nuôi mèo, đối với mèo còn tốt hơn đối với người, có hôm mụ ta dám ngồi ngoài sân ôm con mèo, hôn hít nó! trời đất ơi, hôn mèo!”

Cả sân trường cười ồ lên, tiếp theo là khẩu hiệu tỏ ra phẫn nộ hơn: “đả đảo con đĩ Tân Tân”

Những cái xấu của cô giáo Tân càng nói càng nhiều, chỉ bắt cô quỳ nghe khẩu hiệu thôi thì chưa đủ. Nhất là khuôn mặt gầy, trắng trẻo kia tỏ vẻ đối địch, nhất định không nói điều gì càng làm cho những người trên sân khấu thêm phần nộ khí xung thiên. Một học sinh nam lớn tuổi gí ngay chiếc giầy lính hắn đang đi vào mặt cô giáo và nói:

–  “Mèo của giai cấp tư sản mày còn hôn, chẳng nhẽ mày không hôn giầy của giai cấp vô sản hay sao!”

Hắn vừa nói vừa gí giày vào mặt cô giáo. Một nữ sinh đến gần ấn đầu cô giáo xuống, bắt cô áp miệng vào chiếc giày của thằng kia; rất nhiều cái chân cùng giơ ra, bắt cô giáo phải áp miệng vào những chiếc giầy đầy bụi bẩn.

Cả sân trường sôi sục, trên sân khấu người đứng lố nhố. Học sinh ngồi dưới cũng không trật tự nữa, chúng xô đẩy, có đứa trèo lên ghế, có đứa chen nháo nhào lên sân khấu để xem cho rõ…

Bỗng có mùi thối, không hiểu ai đã đem đến 1 ca phân. Chỉ nghe có tiếng nói:

– “Quá lắm, mụ Tân không chịu hôn giầy của chúng ta, mồm mụ chỉ xứng đáng ăn cứt! Đúng, đúng… bắt mụ phải khai thành thật , không khai phải ăn cứt!”

Phân xuất hiện làm cả sân trường trật tự trở lại, mùi thối làm mọi người ngơ ngác. Đúng là phân được đựng vào ca uống nước đưa lên sân khấu đã kích thích dây thần kinh sâu nhất trong cơ thể con người. Sức uy hiếp của phân đã lên đài như thế.

Những người chen đến sát sân khấu bỗng lùi lại, những người đứng trên ghế ngồi cả xuống. Giống như một vở diễn, bắt đầu mở màn người xem còn nhốn nháo, khi vở diễn đến hồi gay cấn thì mọi người cùng chăm chú thưởng thức. Bắt cô giáo ăn phân có thể là hồi gay cấn của đại hội phê đấu này.

Ca phân đặt trước mặt cô giáo Tân, chỉ cách cô chừng 1 mét. Vẫn khuôn mặt trắng trẻo. Mọi người chờ cô khai báo thành thật, vì cớ gì mà không nói…

Trái tim Khiêu như có ai bóp chặt, nó cứ mong cho cô giáo nói ngay ra, như thế cô giáo không phải ăn phân. Nhưng nhiều người không nghĩ như Khiêu, bon họ không muốn cô giáo khai báo. Khi mọi người phải lựa chọn khai báo và ăn phân thì bọn họ muốn không phải là thấy người kia khai báo, mà muốn thấy người đó ăn phân.

Cô giáo không nói mà cũng không chịu ăn. Lúc này có 1 một thằng học sinh lớn đến nói với cô giáo Tân:

– “Nếu mụ không chịu khai báo, không chịu ăn cứt thì chúng ta còn có cách khác, lẽ nào quần chúng cách mạng  lại chịu thua con đĩ này, chúng ta điệu đứa con gái của mụ lên đây cho mọi người thấy, cho mọi người trông thấy đứa con gái của mụ, bằng chứng cho hành động đĩ thõa tội lỗi của mụ ta”.

Cô giáo Tân không còn giữ nổi bình tĩnh nữa. Khiêu thấy cô lê bằng đầu gối đến trước ca phân, cô không chờ cho tiếng hò hét đinh tai nhức óc của bọn người kia tắt đi mà đi đến quyết định dứt khoát, để lại cho Khiêu một ấn tượng suốt đời không thể quên. Cô giáo quì gối bưng ca phân lên, nhìn vào trong ca một lúc, rồi trước mặt mọi người, đưa lên ăn…

Khiêu về nhà, việc đầu tiên là đánh răng súc miệng, tưởng như phải dùng hết ống kem đánh răng. Đánh răng làm Khiêu nôn ọe, nôn ọe rồi lại đánh răng. Đánh răng xong, Khiêu đưa nhẹ cái bàn chải vào họng cho nôn thốc nôn tháo. Khiêu nôn ra thức ăn, cuối cùng là nước nhờn. Nôn xong lại đánh răng, hai tay bịt mũi bịt miệng, bịt thật chặt, hà hơi thật mạnh. Rồi Khiêu cũng yên tâm trong miệng mình sạch sẽ, sạch như kem đánh răng. Khiêu lấy khăn lau miệng, lau đi lau lại, miệng đỏ lên, bật cả máu, đau cả miệng… Khiêu ở trong nhà vệ sinh rất lâu…

(Copy từ: Lê Tích).


 

Chỉ là một sinh mạng. Chỉ là một đứa trẻ.

My Lan Pham 

Vào lúc 0 giờ 30 phút rạng sáng ngày 11 tháng 7 năm 2022, Nick Bostic, 25 tuổi, đang lái xe trên những con đường gần như vắng lặng của thành phố Lafayette, bang Indiana. Anh vừa cãi nhau với bạn gái và đang trải qua một trong những đêm mà người ta chỉ muốn lái xe để suy nghĩ. Cửa kính xe hạ xuống, không có điểm đến cụ thể.

Rồi anh nhìn thấy một ngọn lửa nhỏ bốc ra từ một ngôi nhà trên phố Union.

Anh phanh gấp. Lùi xe lại. Rẽ vào lối dẫn vào nhà. Anh không mang theo điện thoại. Anh cố ra hiệu cho một chiếc xe đang đi ngang qua, nhưng không ai dừng lại. Anh chạy tới cửa sau ngôi nhà và hét lớn:

“Có ai ở trong nhà không? Có ai ở đây không?”

Khi lên tới giữa cầu thang, anh tìm thấy họ: một cô gái 18 tuổi tên là Seionna Barrett, một em bé 20 tháng tuổi, hai bé gái 13 tuổi và một bé gái 6 tuổi. Giữa sự hoảng loạn, khói và hỗn loạn, anh đã đưa được một số người ra sân sau an toàn trước.

Nhưng rồi Seionna bắt đầu nhìn quanh với vẻ tuyệt vọng. Khuôn mặt cô tái nhợt.

Cô không tìm thấy Kaylani, em gái mình. Bé mới sáu tuổi. Bé vẫn còn mắc kẹt bên trong.

Lửa đã lan rộng. Ngọn lửa giờ đây có thể nhìn thấy từ nhiều cửa sổ. Khói đen cuồn cuộn bốc ra khỏi ngôi nhà. Nick nhìn vào bên trong thêm một lần nữa rồi quay lại lao vào.

Anh lục tìm từng căn phòng, vừa gọi tên Kaylani. Khói dày đặc đến mức không thể nhìn thấy bàn tay trước mặt. Nhiệt độ nóng đến nghẹt thở. Có lúc anh đã nghĩ đến việc nhảy qua cửa sổ để thoát thân khi vẫn còn cơ hội.

Rồi anh nghe thấy tiếng khóc.

Tiếng khóc của một đứa trẻ.

Ở tầng dưới.

Trong phòng khách.

Một trong những khu vực nguy hiểm nhất của ngôi nhà.

Anh kéo áo thun che mặt rồi tiến về phía âm thanh. Anh nằm rạp xuống sàn và bò qua làn khói dày đặc. Cuối cùng anh tìm thấy cô bé.

Kaylani Barrett.

Sáu tuổi.

Một mình trong bóng tối.

Lúc này, việc xuống cầu thang đã không còn khả thi. Lựa chọn duy nhất là quay trở lên tầng trên, tìm một cửa sổ và nhảy xuống. Anh bế Kaylani tới một căn phòng rồi đập vỡ kính bằng chính nắm tay trần của mình. Máu chảy dọc cánh tay. Chân cô bé bị mắc vào dây kéo rèm cửa. Anh buộc mình phải giữ bình tĩnh, nhẹ nhàng gỡ ra trong khi ngôi nhà vẫn đang bốc cháy xung quanh.

Anh đặt Kaylani vào tư thế có thể bảo vệ cô bé nhiều nhất có thể rồi nhảy từ tầng hai xuống.

Cú tiếp đất rất mạnh.

Cánh tay phải của anh bị rách sâu.

Cơ thể bị bỏng.

Anh hít phải lượng lớn khói độc đến mức phải nhập viện.

Các sĩ quan cảnh sát thành phố Lafayette tới nơi đúng lúc anh rơi xuống. Camera gắn trên người họ ghi lại cảnh Nick loạng choạng bước tới, trao Kaylani cho người khác, rồi gục xuống vỉa hè và liên tục hỏi chỉ một câu:

“Con bé có ổn không? Làm ơn nói với tôi rằng con bé ổn.”

Kaylani chỉ bị thương nhẹ.

Cả năm người đều sống sót.

Nick được chuyển khẩn cấp tới bệnh viện trong tình trạng nghiêm trọng. Phổi của anh bị tổn thương. Cánh tay phải được băng bó kín. Nhưng anh đã sống sót.

Anh không muốn được gọi là anh hùng.

Anh nói với các phóng viên rằng mình chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm; rằng nếu chính anh bị mắc kẹt trong một ngôi nhà đang cháy, anh cũng hy vọng người đi ngang qua sẽ làm điều tương tự.

Năm 2023, Nick Bostic được trao Carnegie Medal, một trong những phần thưởng dân sự cao quý nhất dành cho lòng dũng cảm tại Hoa Kỳ và Canada. Giải thưởng này được trao từ năm 1904 cho những người sẵn sàng liều mạng để cứu người khác.

Kaylani Barrett lớn lên với sự thật rằng em vẫn còn sống vì một người xa lạ đã quyết định quay trở lại bên trong ngôi nhà đang cháy.

Nick vẫn sống ở Lafayette. Khi được hỏi về đêm hôm đó, anh thường trả lời giống nhau:”Mọi thứ đều xứng đáng.”

Đối với những ai suy ngẫm về quyết định của Nick Bostic quay trở lại khi anh đã làm nhiều hơn bất cứ điều gì người ta có thể mong đợi thì câu hỏi anh lặp đi lặp lại trên vỉa hè đã nói lên tất cả:

“Con bé có ổn không?”

Điều đó cho thấy thứ thực sự thôi thúc anh băng qua ngôi nhà đang cháy không phải là danh tiếng, không phải sự công nhận, cũng không phải một khái niệm trừu tượng về chủ nghĩa anh hùng.

Chỉ là một sinh mạng.

Chỉ là một đứa trẻ.

Chỉ là nhu cầu rất đỗi con người: được biết rằng một người khác đã sống sót.


 

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng – Bs Nguyễn Bảo Trung-Truyen ngan HAY

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng Bs Nguyễn Bảo Trung

Một lần nọ tôi đi khám bệnh từ thiện cho những đứa trẻ mồ côi tật nguyền ở Thủ Đức. Thật ra tôi không muốn đi, vì đó là Chủ Nhật, ngày để nghỉ ngơi. Ngày mà tôi có thể nằm dài trên sofa vừa uống bia vừa xem trận bóng ngoại hạng, thi thoảng gào lên tức tối, cứ y như là cả cuộc đời chỉ có mỗi chuyện đá bóng vào gôn là có ý nghĩa.

Tôi khám qua quýt cho xong. Lúc ra về tôi lướt qua những ma sơ chăm sóc trẻ. Họ chẳng có gì đặc biệt, không phấn son với những chiếc áo dòng màu xanh. Nhưng khi gần tới cổng, tôi thấy một ma sơ dáng người nhỏ thó, chiếc lưng còng xuống, vẻ như đang gánh một vật gì đó quá lớn trên vai. Cam chịu. Cô chỉ có một cánh tay trái, cánh tay phải đã cụt.

Khi bước qua, tôi cúi đầu chào theo phép lịch sự tối thiểu của một bác sĩ. Nhưng lúc cúi xuống, vô tình tôi cảm nhận được một mùi hương thanh thoát tỏa lan nhẹ nhàng từ cánh tay đang kéo chiếc cổng sắt nặng nề.

Tại sao ma sơ tật nguyền này lại có đôi tay thơm tho đến thế?

Câu hỏi đó theo tôi suốt chặng đường về. Để rồi từng đêm từng đêm tôi bị mùi hương đó ám ảnh. Tôi nói với đồng nghiệp, Mọi người đều bật cười và trêu: Mày nên đi khám tâm thần, bị ảo khứu, nguy hiểm lắm. Ha ha… sau những nụ cười vui vẻ ấy tôi đâm hoang mang. Không lẽ mình bị tâm thần? Không lẽ đôi tay xấu xí, tật nguyền ấy lại có thể ám mình? Tôi có rất nhiều đôi tay để ám cơ mà? Những đôi tay hồng hào, mềm mát như gió của bạn tình, những đôi tay đầy ma lực từng ngón như rắn lên xuống, làm tôi kiệt sức bao lần.

Quyết không để mình bị tâm thần lãng như vậy, tôi đi Thủ Đức một chuyến nữa. Vẫn người ma sơ có đôi tay gớm ghiếc ấy mở cổng và vẫn mùi hương thanh khiết bay, váng vất như hương hoa hồ điệp. Người ma sơ tên Thị Mây bối rối cúi xuống trả lời khi nghe tôi hỏi: Dạ… tại sơ bị tai nạn giao thông. Chỉ vậy thôi, đúng chỉ vậy thôi, tai nạn giao thông nghiền nát cánh tay phải của ma sơ. Như vậy đó, ừ thì cũng như bao người cụt chân, cụt tay khác bị tai nạn. Thế thôi. Có gì mà vướng bận?

Tôi quay về Sài Gòn, nhủ lòng mình rảnh và vớ vẩn quá. Lo công việc đi, còn bao nhiêu thú để ăn chơi, còn bao nhiêu bàn tay đẹp để nắm, để sờ mò những khi bản năng thôi thúc, đúng không? Nhưng tất cả vẫn như cũ. Hết ngày rồi lại đêm mùi hương cánh tay đó vẫn thoang thoảng quanh tôi. Khi thì dịu dàng như mùi hoa chanh, khi thì nồng nàn như mùi hoa nguyệt quế. Tôi sợ đến nỗi, tưởng mình đã điên. Sao kỳ lạ đến như vậy? Một ma sơ có đôi tay cụt vì tai nạn thì có gì là bất thường? Tôi điện thoại cho thằng bạn thân, thạc sĩ chuyên khoa tâm thần, nó cười hú hú lên rồi phán: Mày bị con nhỏ “viêm cánh “ bỏ bùa rồi, ha ha ha, mày có gu với mùi hôi đó, cưới đi, để tối tối hít hít ngửi ngửi cho sướng, ha ha ha. Tôi cũng ha ha ha trong ngượng ngùng.

Nhân dịp có chuyên gia tâm lý bên Mỹ qua dự hội nghị Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân tai biến mạch máu não. Tôi liên lạc xin một cuộc hẹn để tư vấn. Thật khó, vì bà ta không có ý định là qua Việt Nam khám chữa bệnh. Người nước ngoài rất rõ ràng trong công việc. Sau khi hỏi hết mọi chuyện, bà Rose, chuyên gia tâm lý Mỹ, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi dừng ở khoảng giữa. Tôi hơi ngượng một chút với cái nhìn soi mói ấy.

– Lần cuối cậu quan hệ tình dục khi nào?

Tôi quan hệ tình dục thì liên quan gì đến vụ ám ảnh cánh tay cụt, tôi suy nghĩ như thế, nhưng vẫn trả lời: “Cách đây ba tháng”.

– Tại sao lâu thế? Tôi nghĩ vấn đề của cậu là thiếu thốn trong việc quan hệ, hay không thỏa mãn trong vấn đề chăn gối nên mới như vậy. Trời… Sao người nước ngoài hay liên kết mọi sự rắc rối cuộc sống vào trong tình dục thế kia? Hay họ xem việc đó cũng giống như ăn, ngủ, cầu nguyện?

Bó tay. Tôi hay dùng nhiều từ “thông dụng” như thế. Chứ còn biết làm gì? Nhiều khi ngủ tôi mở bung hết cửa sổ xịt nước hoa khắp phòng mà không thể đuổi được mùi hương đó.

Tôi đành quấy quả trở xuống Thủ Đức. Vẫn người ma sơ có cái tên quê mùa Thị Mây ấy mở cổng. Và vẫn lời đáp nhẹ như bấc, sơ bị tai nạn giao thông. Nhưng ánh mắt ma sơ nhìn tôi rất khó hiểu.

Lần này tôi không về vội, tôi đi lang thang trong khuôn viên ngôi nhà dòng dưới hàng cây bàng xanh thẳm lá. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Không gian thật thoáng đãng và thanh bình. Bầu trời rất trong và mây trắng trôi nhởn nhơ. Tôi giật mình tự hỏi, sao tháng ngày qua tôi cuống cuồng hết đi rồi chạy, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng để được gì? Tôi chưa bao giờ chịu dừng lại ngồi xuống bên một tách trà thơm để ngắm nhìn cuộc sống, hay đơn giản hơn để đọc một trang sách.

Vô tình tôi nhìn vào căn phòng đối diện. Tiếng cười the thé của lũ trẻ tật nguyền vọng ra, có một ma sơ già ngồi giữa chúng. Bà ta vỗ tay nhè nhẹ vào nhau, hết nghiêng nhìn đứa này ríu rít cười, đến nghiêng nhìn đứa kia nheo mắt. Cả căn phòng như bừng sáng. Thứ ánh sáng trong trẻo thánh thiện. Nụ cười móm mém không có son môi, không có phấn má, mà sao đẹp đến thế. Lũ trẻ bu quanh chạy tới chạy lui ríu rít. Tiếng ú ớ vỡ ra thành hàng ngàn tiếng leng keng reo lên trong gió. Tôi như chết lặng, sững sờ trước hình ảnh ấy. Đẹp quá, thật quá, lộng lẫy quá. Nắng chan hoà, gió cũng chan hoà. Không biết bao lâu tôi mới choàng tỉnh. Bối rối nhận ra có một linh mục già ngồi kế bên. Khuôn mặt ông ta toát lên một vẻ hiền từ bình an. Ánh mắt như chờ đợi tôi trút nỗi lòng. Tôi hỏi, sao cánh tay ma sơ Mây bị cụt. Trầm ngâm một chút ông kể:

“Năm 16 tuổi, thay vì như những cô gái khác, ngây thơ vui đùa cùng bạn bè, Mây cùng mẹ Mây đến nhà dòng này xin khấn trọn đời. Lúc đó Mẹ bề trên nhìn Mây ái ngại, vì Mây là con một, gia đình lại giàu có. Mẹ ruột của Mây rưng rưng nước mắt, nhưng trong giọt nước mắt ấy có một tình yêu, một niềm tự hào.

Năm 18 tuổi, Mây ra dáng một thiếu nữ mơn mởn, tóc dài đen nhánh, đôi tay xinh đẹp mềm mại, rất khéo nấu ăn, thêu thùa. Nhưng lúc nào Mây cũng giấu mình trong chiếc áo dòng tu kín đáo.

Có một đêm cô gõ cửa Mẹ bề trên, xin cho được ra làng mồ côi, chăm nuôi mấy em nhỏ. Mẹ bề trên ưng thuận. Thế là đôi tay đẹp kia hằng ngày mớm cơm đút cháo cho mấy em. Có khi các em sốt, Mây thức trắng đưa bàn tay mình đặt lên trán chúng, xem nhiệt độ thế nào, rồi nhúng khăn lau tới lau lui. Bàn tay búp măng mũm mĩm không còn nữa, mà thay vào đó là bàn tay không ngần ngại hốt phân dãi của các em đi đổ. Nhiều đêm, thấy đôi tay ấy chắp lại trước ngực cầu nguyện. Cầu nguyện điều gì không ai biết. Chỉ biết rằng đôi tay đó không còn như xưa…

Hôm kia, có một bé chạy tung tăng trong sân, cổng để mở, bé băng ra đường. Xe tải dìu dập trên xa lộ lớn. Em bé ấy quá nhỏ, và lao ra quá nhanh, nên không ai kịp trở tay. Rầm, khi tất cả các sơ chạy ra thì tiếng em bé khóc lên thất thanh thật to. Bên cạnh em, Mây nằm nhắm nghiền mắt. Cánh tay phải bị bánh xe nghiền nát. Máu chảy lênh láng.

Khi tỉnh dậy cô kể: Lúc đó, con đang đứng trên dải phân cách chờ băng qua đường thì thấy nó lao ra giữa xa lộ, con sợ quá, chạy ào đến, ôm nó, lăn vội vào. Tội nghiệp nó lắm, nó sợ quá, khóc thét lên. Nghe Mây kể, mọi người chưa hết bàng hoàng. Sao cô kể chuyện hồn nhiên đến thế? Liều cả mạng mình mà không tiếc chỉ để cứu một đứa bé tật nguyền, rồi còn tội nghiệp vì nó sợ khóc thét lên. Có lẽ Mây bị khùng mất rồi. Không khùng ai làm thế ? Từ đó cô lại xin Mẹ bề trên đứng gác cổng ra vào, cô sợ các em tật nguyền kia, không ý thức lại lao ra giữa dòng xe. Cô nói cuộc sống đáng quý lắm.

– Con xin lỗi mẹ, vì con cứ đòi hỏi mẹ hết lần này đến lần khác. Mẹ bề trên bật khóc: Con đâu có gì phải xin lỗi. Con luôn đòi hỏi để phụng sự người khác.

Thế là từ đó, Mây thành người gác cổng. Khi được hỏi tại sao cô bị cụt tay, cô đáp nhẹ như bấc, bị tai nạn giao thông.

Tôi không dám hỏi, cô có tiếc vì mất cánh tay không. Vì hỏi như vậy là thừa. Ngay cả mạng mình cô còn không tiếc.

Vị linh mục già kết thúc câu chuyện. Nắng chiều rải rác xuống thềm như một tràng hoa rực rỡ. Chỉ có hoa nắng mới kết vừa vương miện cho những con người ở đây. Tất cả loài hoa thế gian, tất cả kim cương, ngọc bảo thế gian khi đính vào vương miện chỉ làm cho nó trần tục hơn, vật chất hơn mà thôi.

Bây giờ tôi mới biết, vì sao đôi tay của Mây có hương thơm kỳ lạ. Và bây giờ tôi mới biết tại sao nụ cười và ánh mắt những người ở đây luôn ẩn chứa một trời long lanh nắng sớm.

Bởi vì như linh mục Nguyễn Tầm Thường đã viết: Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại.

Tôi về thành phố, thấy lòng mình bỗng chật. Những gì trước đây tôi cho là đúng, bây giờ tôi đâm nghi ngờ. Những gì trước đây tôi luôn theo đuổi, giành giật để có, bây giờ thấy chẳng còn quan trọng nữa.

Những tay thét ra lửa, những tay sừng sỏ mà tôi từng kính nể, bỗng dưng tôi thấy họ bình thường. Họ cố gắng dùng đôi bàn tay chứng tỏ mình, khuếch trương mình, những cái họ có được chỉ là thứ trơ trẽn. Họ không bình yên trên vật chất họ có được. Họ khoác những chiếc áo sang trọng, tay đeo đầy những kim cương, xịt toàn nước hoa hảo hạng, nhưng không bao giờ có mùi hương thanh tao, dịu ngọt, tỏa lan khắp bầu trời.

Tôi bị ám ảnh, vì trong tôi hoài thai một lối sống. Tôi muốn thoát khỏi bàn tay của chính mình. Tôi là người tìm kiếm bàn tay đẹp.

Bàn tay biết dang ra, biết sẻ chia là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nắm lấy tay người bất hạnh hơn mình để cùng bước là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nâng niu, gìn giữ cái đẹp, cái chân, cái thiện, là bàn tay đẹp. Và hàng ngàn định nghĩa về bàn tay đẹp khác.

Có bàn tay cầm nắm rất nhiều, có thể điều khiển người khác. Có bàn tay xoè ra ăn xin từng đồng lẻ bố thí. Có bàn tay khéo léo làm nên những tuyệt tác nghệ thuật. Có bàn tay vụng về chỉ làm đổ vỡ mọi thứ khi chạm vào. Có bàn tay cho đi. Có bàn tay giữ lại. Nhưng khi về với đất, bàn tay nào cũng rỗng. Rỗng tuyệt đối.

Vậy sao không ướp hương cho đôi tay mình, tôi tự hỏi lòng như thế. Có hàng ngàn cách ướp hương. Như masơ Mây, ướp hương thánh thiện, âm thầm, khiêm cung, bé nhỏ, mà hương thơm lại bay vượt mọi không gian. Có bao giờ Mây kể lể với Giêsu về mình không? Chắc không, vì Mây không có thời gian cho mình, chỉ biết lo cho mọi người thôi.

Khi sinh ra, tay tôi nắm chặt. Khi chết đi tay tôi buông thõng. Từ nắm chặt đến buông thõng, một hành trình dài đầy nụ cười hạnh phúc và nước mắt đau thương.

Bs Nguyễn Bảo Trung


 

Chuyện Trú Mưa – Loc Duong

Kimtrong Lam

 Loc Duong.

Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :

-Có phải cháu đây không?

Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :

-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.

-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?

-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?

-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?

-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.

-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?

-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.

-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?

Cô bé vui vẻ hẳn lên :

-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.

-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?

-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối l‎ý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :

“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết làm sao em biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”

Loc Duong