Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về-Truyen ngan HAY

ban nguyen truong to- Xuan-Huong T Nguyen

 Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không?

Căn nhà rộng 132m vuông. Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà:

“Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu”

Bà cụ tiếp tục nói:

“Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện”.

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu.

Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói:

“Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp”

Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói:

“Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con”.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống, bởi đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà, tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà, nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu…

Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần… 

Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng. Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình, nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm.

Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ, có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua…

Tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi công tác đột xuất nên không thể gõ cửa nhà bà …

Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa, nhưng không nghe tiếng trả lời của bà. Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé, pháp y nói: “Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim”.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói:

“Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à!”

Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng…

Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào…

Nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng đó… nhớ lại những khoảnh khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực …

Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói: “Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao”.

Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà và lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu:

Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi..!

( Trish Nguyen )


 

Sức mạnh của sự tha thứ: Chặt cây làm chết người, con trai nạn nhân xin giảm nhẹ hình phạt

Ông bà ta có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Một câu nói rất quen thuộc, nhưng phải đến khi đứng trước một mất mát thật sự, người ta mới hiểu rằng để mở lòng với người đã gây ra đau thương cho mình chưa bao giờ là điều dễ dàng.

Vụ cây xà cừ đổ đè trúng một người đi đường tại xã Quảng Bình, tỉnh Thanh Hóa khiến nhiều người day dứt không chỉ bởi một sinh mạng đã mất, mà còn bởi cách những con người trong câu chuyện đối diện với nhau sau tai nạn.

Sáng ngày 9 tháng 9, gia đình ông N.Q.H. thuê anh Nguyễn Quang Thọ cưa cây xà cừ đã chết trước nhà trên Tỉnh lộ 511. Cây đã được trồng khoảng 20 năm, trước đó từng được cắt tỉa vì gia đình lo ngại nguy cơ gãy đổ trong mùa mưa bão. Đến năm nay, cây héo úa rồi chết khô, nên gia đình quyết định cắt hạ.

Ban đầu, họ dự tính có xe nâng hỗ trợ, nhưng hôm ấy người có phương tiện đi vắng. Anh Thọ vốn là thợ mộc, lại là người họ hàng sống gần nhà nên nhận cưa cây. Khi việc cắt hạ được tiến hành, ông H. cũng ra đường cảnh báo người đi qua.

Thế nhưng tai nạn vẫn xảy ra. Đúng lúc cây đổ xuống đường, ông L.Đ.T., sinh năm 1958, điều khiển xe máy đi tới và bị thân cây đè trúng. Mọi người vội vàng đưa ông đi cấp cứu, nhưng ông đã không thể trở về với gia đình nữa.

Một người đã mất. Đó là hậu quả không thể nói nhẹ đi chỉ bằng hai chữ “vô tình”.

Gia đình ông H. là người thuê chặt cây, còn anh Thọ là người trực tiếp thực hiện. Dù ban đầu chỉ muốn loại bỏ một cây chết có thể gây nguy hiểm, họ vẫn phải đối diện với hậu quả do sự bất cẩn gây ra. Chỉ một phút chủ quan cũng đủ khiến một người mất đi sinh mạng và để lại nỗi đau quá lớn cho những người ở lại.

Nhưng đau nhất vẫn là gia đình ông T. Buổi sáng hôm ấy, ông vẫn rời nhà như bao ngày bình thường khác. Có lẽ chẳng ai nghĩ đó lại là lần cuối cùng người thân nhìn thấy ông bước ra khỏi cửa.

Nỗi đau mất người thân đột ngột có những lúc chẳng biết phải diễn tả thế nào cho đủ. Có những cuộc chia ly còn kịp một cái nắm tay, một lời từ biệt. Nhưng cũng có những người sáng còn ở bên gia đình, vài giờ sau đã trở thành một ký ức không bao giờ có thể gọi trở về.

Với anh Hải, sự ra đi bất ngờ của cha để lại một khoảng trống rất khó lấp đầy. Gần một tuần sau tai nạn, gia đình mới hoàn tất việc mai táng.

Từ đó, căn nhà sẽ thiếu đi một người. Một chỗ ngồi quen thuộc sẽ bỏ trống. Những bữa cơm sau này dù vẫn được dọn ra như trước cũng không thể còn nguyên vẹn như ngày ông còn sống.

Trong hoàn cảnh ấy, nếu anh Hải và gia đình giận dữ, muốn đòi lại công bằng cho cha, muốn những người gây ra tai nạn phải chịu trách nhiệm đến cùng, đó cũng là điều chẳng ai có thể trách. Bởi người nằm xuống là cha của anh.

Thế nhưng khi nhìn thấy sự chân thành của gia đình ông H. và anh Thọ, gia đình ông T. lại lựa chọn một cách ứng xử khiến nhiều người xúc động.

Gia đình ông H. cùng người thân anh Thọ sang nhà thăm hỏi, phụ lo hậu sự, xin lỗi và tìm cách bù đắp phần nào mất mát mà mình đã gây ra. Con gái ông H. đang ở Hà Nội, nghe tin cũng vội bắt xe trở về để cùng cha sang chia sẻ với gia đình người mất.

Những việc ấy không thể đưa ông T. trở về. Tiền bạc càng không thể bù lại một mạng người.

Nhưng ít nhất, họ đã không trốn tránh. Họ sang tận nơi, đối diện với gia đình người mất, cúi đầu trước nỗi đau mà tai nạn đã để lại.

Gia đình ông H. mang 200 triệu đồng sang hỗ trợ, nhưng anh Hải chỉ nhận 150 triệu đồng, số tiền gia đình cho rằng vừa đủ để lo việc mai táng cho cha.

Một chi tiết tưởng như nhỏ nhưng lại khiến người ta phải suy nghĩ rất lâu.

Gia đình vừa mất đi một người thân. Họ hoàn toàn có thể yêu cầu nhiều hơn, bởi tiền bạc bao nhiêu cũng không thể đổi lại được một người cha. Nhưng cuối cùng, họ chỉ nhận phần mà mình cho rằng đủ để lo hậu sự cho người đã khuất.

Có thể thấu hiểu nỗi đau khi bị xa người thân yêu, nên chính anh cũng không muốn điều ấy xảy đến với những người con của gia đình ông H. Vì thế anh Hải đã làm đơn xin giảm nhẹ cho những người có liên quan, để họ còn có cơ hội trở về chăm sóc con cái.

Có lẽ chính lúc ấy, câu “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” mới trở nên thấm thía.

Anh Hải và gia đình không phải không đau. Cũng không phải một lời xin lỗi hay một khoản tiền có thể khiến họ quên được người thân của mình.

Nhưng khi nhìn thấy gia đình ông H. và anh Thọ không bỏ mặc mọi chuyện, biết sang xin lỗi, chia sẻ và cố gắng khắc phục hậu quả, họ đã lựa chọn nhìn sự việc bằng tình làng nghĩa xóm và bằng cái tâm.

Anh Hải chỉ nói một điều rất mộc mạc: “Con người sống với nhau thì nên nhìn nhận sự việc bằng sự cảm thông”.

Có lẽ lòng bao dung đôi khi chỉ đơn giản như vậy. Không phải quên đi mất mát. Không phải coi chuyện đã xảy ra là nhẹ nhàng. Mà là khi bản thân đang đau nhất, vẫn còn có thể nhìn thấy sự hối hận và chân thành của người khác.

Câu chuyện này cũng nhắc mỗi chúng ta về sự cẩn trọng trong cuộc sống. Có những việc tưởng như rất quen thuộc, có những nguy hiểm tưởng như vẫn nằm trong tầm kiểm soát, nhưng chỉ một phút bất cẩn cũng có thể khiến người khác phải trả một cái giá quá lớn.

Không ai mong tai nạn xảy ra. Nhưng khi mọi chuyện đã không thể thay đổi, cách con người đối diện với nhau lại khiến người ta nhớ mãi.

Một bên biết nhận lỗi, biết cúi đầu và tìm cách bù đắp. Một bên vừa mất người thân nhưng vẫn không để nỗi đau biến thành oán hận.

Tha thứ không thể đưa ông T. trở về. Nhưng giữa một câu chuyện quá nhiều nước mắt, việc anh Hải và gia đình vẫn có thể mở lòng với những người đã gây ra mất mát cho mình khiến người ta hiểu rằng: đôi khi điều làm con người trở nên đáng quý nhất không phải là chưa từng bị tổn thương, mà là sau tổn thương vẫn còn giữ được sự tử tế trong lòng.

vandieuhay.net

Ảnh: internet

CUỘC ĐỜI CAY ĐẮNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LẬP MƯU GIẾT CHỒNG — Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

CUỘC ĐỜI CAY ĐẮNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LẬP MƯU GIẾT CHỒNG

Đã ngoài 60 tuổi và còn gần chục năm nữa mới mãn hạn tù, nhưng đường về của phạm nhân Bảy thật mù mịt, như chính quá khứ đen tối của thị.

Dù đã bước sang bên kia cái dốc của cuộc đời nhưng phạm nhân Trần Thị Bảy

(SN 1958, quê ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) chưa từng có giấc ngủ bình yên kể từ sau khi ra tay sát hại chồng.

Nói chuyện với phóng viên mà nước mắt người phụ nữ đa đoan cứ tuôn dài trên hai gò má sạm đen đầy khắc khổ.

Lúc này, khi có dịp được trải lòng, Bảy mới thực sự hoảng hốt về cuộc đời đầy cay đắng của mình.

Phận người đàn bà “ba chìm bảy nổi”

Gạt hàng nước mắt lăn dài trên gò má, Trần Thị Bảy kể:

“Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Cái tên Bảy được đặt theo thứ tự con cái sinh ra trong nhà. Vì muốn con cái không phải

“bán mặt cho đất bán lưng cho trời” nên bố mẹ cố gắng nuôi tôi ăn học.

Lúc học xong tôi xin được việc vào huyện ủy Than Uyên (nay thuộc Lai Châu) làm”.

Đến năm 1985, Bảy bén duyên và lấy một người đàn ông làm xây dựng.

Nhưng có vẻ như số trời đã định cuộc đời Bảy phải “ba chìm bảy nổi”

như cái tên.

Chưa đầy một tháng sau kết hôn Bảy nhận tin sét đánh chồng qua đời do tai nạn lao động.

Nỗi đau này nhân lên gấp đôi khi Bảy phát hiện mình đang mang trong mình giọt máu đào của người chồng quá cố.

Nén đau thương, Bảy  một mình sinh con, đặt tên là Lê Mạnh Cường.

Bảy chỉ mong con khỏe mạnh, khôn lớn thành một người đàn ông kiên cường để vượt qua mọi sóng gió cuộc đời…

Kể đến đây, Bảy bỗng thốt lên: “Thế nhưng chính tôi lại hại nó!”.

Mãi sau này, Bảy mới biết con trai cũng bị liên đới đến vụ án mạng của bố dượng (chồng “hờ” của Bảy).

Hồi chồng mới mất được 2,3 năm, trông Bảy mặn mà đúng chuẩn “gái một con trông mòn con mắt”.

Bảy lọt vào mắt xanh của biết bao chàng trai nhưng Bảy nghĩ nên ở vậy nuôi con.

Thị từ chối tất cả những lời ong bướm của cánh đàn ông.

Nhưng nào ngờ khi con vừa tròn 3 tuổi, Bảy cảm thấy thiếu thốn tình cảm nên đã lao như con thiêu thân vào vòng tay của người đàn ông tên Lê Hữu B.

(SN 1960, quê ở Việt Trì, Phú Thọ).

Vì B. giới thiệu là “cán bộ nguồn” lên vùng cao công tác nên Bảy càng tin yêu hơn Hồi chính thức yêu nhau, tôi dẫn ông ấy đến ra mắt bố nhưng bố phản đối kịch liệt.

Bố nói rằng không tin tưởng người đàn ông này.

Khi đó tôi như bị bùa mê thuốc lú, không nghe lời bố cứ nhất quyết đòi lấy người dàn ông này. Gia đình bên ngoại cắn răng làm đám cưới lần hai cho tôi và ông B..

Vài ngày sau lễ cưới, tôi khấp khởi theo chồng mới về quê đăng ký kết hôn.

Nhưng đến nơi mới ngã ngửa, anh ta chẳng phải “cán bộ nguồn” gì mà chỉ là một kẻ “ma cô” đang trong diện theo dõi của Pháp luật.

Chính vì thế, thủ tục đăng ký kết hôn của chúng tôi không được chính quyền xã xác nhận”.

Cay đắng cho phận đời long đong của mình, ngay đêm đó Bảy bắt xe ô tô về Lào Cai.

Thấy vợ bỏ về, B. cũng lục đục ra bắt xe lên Lào Cai theo. đứng trước cửa nhà Bảy lạy van xin được tha thứ để làm lại từ đầu. Mủi lòng trước nước mắt cá sấu của B., Bảy lại lại tha thứ, bao nhiêu hờn giận tan biến hết. Bảy xin chuyển công tác về Bảo Thắng, tại đây, hai người thuê một căn nhà nhỏ sinh sống không hôn thú.

Hạnh phúc chẳng tày gang, chưa đầy 2 tháng sau lại có việc động trời xảy ra.

Hôm đó, Bảy đi làm về gọi mãi không thấy chồng đâu, đi tìm khắp nơi cũng không thấy.

Chân mỏi nên Bảy quay về nhà trọ thì điếng người phát hiện chiếc hòm tài sản của mình bị lục tung, toàn bộ vốn liếng đã bị gã chồng “hờ” đốn mạc cướp sạch. Lúc đấy chỉ muốn giết chết gã đàn ông đốn mạc này nhưng một lần nữa,

Bảy phát hiện mình có thai.

Con giun xéo mãi cũng quằn

Suốt thời gian dài, một tay Bảy cáng đáng mọi việc trong gia đình từ kiếm tiền đến nuôi dạy con cái.

Đến năm 1988, Bảy sinh con thứ hai. Giống như anh nó, đứa bé không hề biết bố mình là ai, mặt mũi ra làm sao.

Một nách hai con, tiền bạc không kiếm ra nhiều nên trông Bảy tiều tụy đi rất nhiều.

Biết em phận khổ nên chị gái Bảy đã về đưa cả ba mẹ con vào Bình Thuận lập nghiệp.

Người chị gái này mua nhà, mở quán cà phê cho Bảy buôn bán. Nào ngờ khi công việc vào guồng, mẹ con có tí của ăn của để thì B. lại xuất hiện.

Bảy cúi mặt, hạ giọng nói:

“Ông ta đến vào một buổi chiều muộn, lại cái bài ca van xin rồi nhận hết mọi tội lỗi, trách nhiệm nên tôi lại mủi lòng thêm lần nữa. Và chính sự yếu đuối của đàn bà đã khiến tôi càng chìm sâu vào những năm tháng đen tối của cuộc đời.

Sống với nhau chưa đầy nửa năm thì tôi phát hiện ra ông ta không quay lại với mẹ con tôi vì tình cảm mà chỉ bởi cần tiền.

Ông ta cặp kè, bao nuôi một người phụ nữ khác sống cách nhà tôi không xa.

Ông ta về quán cà phê của tôi lượm nhặt đủ thứ, kể cả đôi dép tổ ong hay cái chổi.

Tôi giận lắm, có lần tôi nói với B. hãy dứt khoát đi nhưng ông ta dọa sẽ giết chết mấy mẹ con nếu tôi đòi bỏ thêm lần nữa”.

Câu chuyện không dừng lại ở đó, B. càng ngày càng lấn tới, nhiều hôm về xin tiền Bảy không được liền

“thượng cẳng chân hạ cẳng tay” luôn.

Có lần, Bảy bị chồng “hờ” đánh thừa sống thiếu chết nằm bẹp trong phòng mấy ngày liền.

Thế rồi không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, đến năm 1994, Bảy lại sinh thêm cho B. một đứa con nữa.

Sau đợt ở cữ, Bảy cảm thấy chán ngán cái cuộc sống tạm bợ với người chồng “hờ” nên quyết định ôm con từ Bình Thuận ra Lào Cai làm lại từ đầu.

Có chút vốn dắt lưng, Bảy mua mảnh đất gần nhà bố đẻ nhưng chưa xây vì chưa có đủ tiền.

Lúc này, Bảy những tưởng đã đoạt tuyệt được với gã chồng “hờ” vũ phu.

Nhưng không, hắn vẫn đeo bám mấy mẹ con, có lần gã đánh thị phải nhập viện nằm mất mấy ngày liền.

Cay đắng quá, đến năm 2004, Bảy quyết định dứt tình với B..

Bảy tính đi xuất khẩu lao động kiếm chút tiền lo cho con cái. Trong lần về Hà Nội làm thủ tục thì con trai gọi điện nói B. đánh đứa con thứ hai, nhét giẻ vào miệng và bắt nó phải đưa tiền, sổ đỏ của mẹ ra rồi bỏ đi.

Nhẫn nhục, Bảy đi làm lại sổ đỏ, vay mượn được 110 triệu đồng định xây cái nhà khang trang cho con cái ở.

Số tiền còn lại để đi lao động nước ngoài.

Biết Bảy định xây nhà, B. lại mò về đòi chia tài sản. Đúng lúc này, cơn phẫn nộ của Bảy trào dâng, thị quyết định giết chết B. để trả thù.

Nghĩ là làm, tháng 7/2006, Bảy hòa thuốc ngủ và thuốc chống say rồi nhờ thợ xây tên Ba đang làm nhà cho mình đưa cho chồng uống.

Tuy nhiên người này không đồng ý, thế là kế hoạch bị đổ bể.

Chưa từ bỏ ý định, một tuần sau thị lại đi mua hai chai bia và gọi Ba cùng một thợ xây khác lại để đưa cho B. uống.

Nhưng trước khi đưa bia cho họ, Bảy nạy nắp đổ xuống sâu vào. Và một lần nữa kế hoạch lại đổ bể vì hai người thợ xây quyết không giúp.

Cả hai lần đều thất bại, nỗi uất hận của Bảy dâng cao hơn, thị quyết tâm phải giết bằng được gã chồng “hờ” đốn mạt.

Ngày 27/7/2006, Bảy nhờ một người thợ xây khác giúp sức.

Bảy nói với anh ta rằng, bị người dân tộc bỏ bùa nên cần phải giúp ông ấy giải bùa bằng cách chuốc rượu say rồi cho uống thuốc giải (rượu độc được ngâm bằng mã tiền và ô đầu mà Bảy đã chuẩn bị từ trước).

Tin lời Bảy, người thợ xây này đi về chuẩn bị đồ nhậu. Để lần ra tay này thành công, Bảy còn gọi con trai cả và một số thanh niên khác phục kích ở đoạn đường về nhà phòng trường hợp B. uống rượu không chết thì sẽ đánh chết và tạo hiện trường giả.

Tuy nhiên, rượu độc của Bảy đã giết chết B..

Sau này, mẹ con Bảy và hai thợ xây khác phải hầu tòa về tội Giết người.

Với vai trò chủ mưu, Bảy chịu mức án 20 năm tù giam; con trai chịu án 4 năm tù giam. Ngồi trong song sắt lạnh lẽo, mới thấm thía cái giá phải trả cho tội ác của mình.

Đau đớn hơn nữa là chính tay Bảy đã kéo con trai mình nhúng chàm để giờ trở về xã hội nó không được sống như một người bình thường…

 Thu Nga (t n)

Nguồn fb Thơ Trần

Phạm nhân Trần Thị Bảy ân hận về những lỗi lầm mình đã gây ra 


 

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001 – Cang Huynh

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Vào thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2001, lúc 8 giờ 40 phút sáng tại thành phố New York, một người đàn ông nắm bàn tay nhỏ bé của con trai năm tuổi trước một trường mẫu giáo. Cử chỉ yêu thương này của người cha khi đưa con đến trường trong ngày đầu tiên đã cứu sống cậu bé. Nhưng sáu phút sau, cách đó vài kilomet, chiếc máy bay đầu tiên đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới, ngay bên dưới văn phòng công ty ông.

Người đàn ông đó là Howard Lutnick, Giám đốc điều hành của Cantor Fitzgerald.

Nằm giữa tầng 101 và 105, công ty của ông bị mắc kẹt phía trên khu vực va chạm. Chỉ trong vài giây, 658 nhân viên của ông đã thiệt mạng—hai phần ba số nhân viên. Trong số các nạn nhân có những đồng nghiệp thân thiết nhất, những người bạn thời thơ ấu và cả em trai ông, Gary.

Howard lao xuống chân các tòa tháp giữa sự hỗn loạn, bụi bặm và tiếng la hét. Khi sự im lặng trở lại với đống đổ nát, thực tế ập đến với ông với một sức mạnh không thể tưởng tượng nổi: ông là người sống sót của một công ty đã bị xóa sổ.

Mọi người đều nghĩ công ty sẽ phá sản. Báo chí chỉ trích ông, và sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Nhưng Howard biết rằng nếu ông bỏ cuộc, gia đình của những đồng nghiệp đã mất sẽ không còn gì để sống.

Vì vậy, giữa những giọt nước mắt và nỗi đau buồn, ông đã đưa ra một lời hứa long trọng.

Công ty sẽ không đóng cửa.

Nó sẽ hồi sinh vì họ.

Thành công của nó giờ đây sẽ thuộc về gia đình các nạn nhân.

Trong năm năm, những người sống sót ít ỏi còn lại làm việc ngày đêm trong nỗi đau đớn tột cùng. Howard cam kết quyên góp 25% lợi nhuận của công ty trực tiếp cho các góa phụ và trẻ mồ côi, đồng thời bảo đảm bảo hiểm y tế cho họ trong mười năm. Tổng cộng, hơn 180 triệu đô la đã được phân phát cho các gia đình bị ảnh hưởng bởi thảm kịch.

Nhưng Howard đã đưa ra một lời hứa thứ hai, thậm chí còn cảm động hơn, dành cho tất cả những đứa trẻ đã mất cha hoặc mẹ vào sáng hôm đó: “Khi các con lớn lên, một chỗ ở công ty sẽ chờ các con ở đây.”

Nhiều năm đã trôi qua. Những đứa trẻ năm 2001 đã trưởng thành.

Và Howard đã giữ lời hứa của mình.

Từng đứa trẻ mồ côi một bước qua cánh cửa của công ty. Cho đến ngày nay, 57 đứa trẻ là con của các nạn nhân vẫn làm việc trong cùng những văn phòng đó và tiếp nối di sản của cha mẹ đã khuất. Vào ngày 11 tháng 9 hàng năm, công ty cũng quyên góp toàn bộ lợi nhuận trong ngày cho các tổ chức từ thiện trên toàn thế giới.

Howard Lutnick nhắc nhở chúng ta rằng giá trị của một người đàn ông không được đo bằng những gì anh ta xây dựng trong vinh quang, mà bằng cách anh ta tôn vinh ký ức của những người anh ta yêu thương.

Trong những giờ phút đen tối nhất của cuộc đời, bổn phận thực sự của người sống là giữ cho ánh sáng hy vọng của những người đã khuất luôn tỏa sáng rực rỡ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

Cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Các bác sĩ ước tính cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Sau đó, tình trạng của cô trở nên nguy kịch đến mức ngay cả tỷ lệ mong manh đó cũng giảm xuống chỉ còn một con số.

Tuy nhiên, cô đã sống sót.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Lauren đang trên đường đến văn phòng của mình tại Cantor Fitzgerald, nằm trên tầng 105 của Tháp Bắc thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới.

Ở nhà, cô có một người chồng và một cậu con trai mười tháng tuổi tên là Tyler.

Cô ấy không bao giờ đến được văn phòng của mình.

Khi Lauren bước vào sảnh, chuyến bay 11 đã đâm vào tòa tháp phía trên cô. Nhiên liệu cháy từ máy bay lan rộng qua các trục thang máy, trong khi một bức tường lửa quét qua sảnh.

Lauren đã cố gắng thoát khỏi tòa nhà, nhưng cô bị bỏng hơn 82% cơ thể.

Những gì xảy ra sau đó không được tính bằng ngày.

Mà bằng năm.

Lauren đã trải qua gần hai tháng trong tình trạng hôn mê do thuốc an thần gây ra. Cô ấy đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật, đối mặt với những biến chứng nghiêm trọng và dành nhiều tháng để phục hồi chức năng thể chất và tinh thần.

Cô ấy nằm viện tại Bệnh viện NewYork-Presbyterian trong 91 ngày.

Sau đó, cô được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng, nơi cô ở thêm ba tháng nữa.

Ngay từ đầu, chỉ có một suy nghĩ duy nhất luôn ám ảnh cô.

Cô ấy muốn được gặp lại con trai nhỏ của mình.

Khi Lauren cuối cùng cũng được về nhà vào tháng 3 năm 2002, sáu tháng đã trôi qua kể từ buổi sáng tháng 9 định mệnh ấy khi cô rời nhà đi làm.

Nhưng quá trình phục hồi của cô vẫn chưa kết thúc.

Năm ngày một tuần, cô trở lại bệnh viện để trị liệu vài giờ, ngoài ra còn có một buổi trị liệu tại nhà vào Chủ nhật.

Và việc hồi phục không có nghĩa là trở thành người phụ nữ giống hệt như trước đây.

Nó có nghĩa là học cách sống với một cơ thể mang những vết sẹo vĩnh viễn từ buổi sáng định mệnh ấy.

Mười năm sau, Lauren kể lại câu chuyện của mình trong cuốn hồi ký, “Sức Mạnh Vô Biên”.

Cô không miêu tả sức mạnh như việc được miễn nhiễm khỏi bi kịch.

Cuộc đời cô đã chứng minh một điều gì đó khó khăn hơn nhiều.

Sức mạnh cũng có thể là việc thức dậy sau khi mọi thứ đã thay đổi và quyết định, hết lần này đến lần khác, tiếp tục xây dựng lại cuộc sống của mình.

Bạn nghĩ điều gì cần nhiều can đảm hơn: vượt qua một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể vượt qua, hay tiếp tục cuộc chiến trong những năm tháng sau đó?

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

TẤM VÉ KHÔNG BAO GIỜ DÙNG ĐẾN- Phạm Sơn Liêm – Truyen ngan HAY

Liem Pham

TẤM VÉ KHÔNG BAO GIỜ DÙNG ĐẾN

Gửi em, người vợ vẫn còn ở Việt Nam.

Chiều nay ở California trời nắng rực. Xa lộ vẫn đặc xe. Người ta cười nói, xách va li đi nghỉ hè. Còn anh ngồi một mình trong chiếc xe cũ đậu ngoài bãi đậu của sân bay quốc tế, nhìn từng chuyến bay hạ cánh rồi lại cất cánh.

Mười hai năm rồi, em à.

 Mười hai năm kể từ ngày anh đặt chân đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng và một lời hứa.

Anh vẫn nhớ buổi sáng tiễn nhau ở phi trường Tân Sơn Nhất. Em cố cười, nhưng đôi mắt đỏ hoe. Em nhét vào ba lô anh mấy gói ruốc, ít bánh tráng và tấm hình cưới đã ngả màu.

Em nắm tay anh rất lâu.

Em nói:

“Qua đó ổn định rồi nhớ đón mẹ con em nhé.”

Anh gật đầu.

Lúc ấy, anh tin mình làm được. Anh tin chỉ vài năm thôi. Rồi gia đình mình sẽ đoàn tụ.

Nhưng nước Mỹ không giống những điều người ta kể, người ta mơ.

Ban ngày anh phụ cắt cỏ.

Đêm anh rửa chén trong một nhà hàng. Có những hôm tan ca lúc hai giờ sáng, lái xe về căn phòng thuê chật hẹp, người mệt đến mức ngủ quên ngay trên ghế.

Tiền kiếm được vừa đủ trả tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm, gửi chút ít về cho em nuôi con.

Anh cứ nghĩ… Ráng thêm năm sau. Rồi thêm năm nữa.

Con lớn lên qua màn hình điện thoại. Ngày đầu biết đi, anh chỉ nhìn thấy. Ngày vào lớp Một, anh chỉ nhìn thấy.

Ngày sinh nhật mười tuổi, con thổi nến. Anh cũng chỉ nhìn thấy.

Mỗi lần gọi phone kết thúc, màn hình tối đen. Căn phòng lại chỉ còn một mình anh. Có những đêm lạnh sương trắng phủ cửa kính. Anh ôm tấm hình gia đình ngủ như ôm chính quê hương mình.

Suốt mười hai năm, anh không dám mua chiếc xe mới.

Không dám đi du lịch.

Không dám tiêu xài.

Anh chỉ âm thầm bỏ tiền vào một chiếc hộp thiếc. Trên nắp hộp anh dán mảnh giấy nhỏ:

“Vé máy bay cho vợ con.”

Mỗi lần bỏ thêm vài chục đô vào đó, anh lại tưởng tượng ngày em bước ra cửa hải quan. Anh sẽ chạy đến ôm hai mẹ con.

Sẽ không phải gọi video nữa.

Sẽ được nắm tay thật.

Rồi một buổi chiều… Anh nhận điện thoại từ người quen ở quê. Người ta ngập ngừng rất lâu.

Rồi nói:

“Thôi… đừng chờ nữa.”

Anh chưa kịp hiểu. Người ta nói tiếp:

“Cô ấy lấy chồng rồi.”

Anh chết lặng. Chiếc hộp thiếc trên tay rơi xuống nền garage. Những đồng tiền lăn khắp nơi.

Anh ngồi rất lâu.

Không nhặt.

Cũng không khóc.

Chỉ thấy trong lòng mình như có một căn nhà vừa sập xuống.

Anh không trách em. Thật lòng. Mười hai năm. Một người đàn bà phải một mình nuôi con, chăm cha mẹ già, đối diện bao lời dị nghị.

Mười hai năm không có một cái nắm tay. Không có một bữa cơm đủ mặt.

Không có một người đàn ông sửa mái nhà mỗi mùa mưa.

Đợi đến đâu mới gọi là đủ?

Anh chỉ đau… Vì ngày nào anh cũng sống để chờ đoàn tụ.

Còn em… Có lẽ đã mỏi mệt vì chờ.

Chiều nay, anh vẫn đến sân bay. Không phải để đón ai.

Chỉ vì nhiều năm trước anh từng hứa với chính mình rằng sẽ có ngày đứng ở đây đón vợ con. Anh đứng nhìn những gia đình ôm nhau sau cánh cửa nhập cảnh. Đứa trẻ chạy ào vào lòng cha. Người vợ khóc. Người chồng cười.

Tiếng gọi nhau vang một góc.

Anh quay mặt đi. Không phải vì ghen. Mà vì sợ người ta nhìn thấy nước mắt của một người đàn ông đã ngoài sáu mươi.

Chiếc hộp thiếc ấy anh vẫn giữ. Bên trong vẫn còn đủ tiền mua ba tấm vé.

Chỉ tiếc… Không còn ai để bay sang nữa.

Nếu một ngày con hỏi vì sao ba không đón hai mẹ con như đã hứa… Em đừng trách anh.

Cũng đừng trách em. Hãy nói với con rằng…

Có những lời hứa không thất hứa vì người ta quên.

Mà vì thời gian dài quá. Đến mức trái tim của một người không thể chờ thêm được nữa.

Tối nay, anh lại lái xe về căn apartment nhỏ. Ngoài cửa sổ, từng chiếc máy bay vẫn nối nhau bay qua bầu trời nước Mỹ. Ánh đèn của chúng sáng lắm. Nhưng chẳng chiếc nào còn chở theo giấc mơ đoàn tụ của anh nữa. Anh chỉ mong ở nơi rất xa ấy…

Em bình yên.

Con bình yên.

Vậy là đủ.

Còn anh… Sẽ cất tiền ba tấm vé ấy vào ngăn kéo. Để mỗi lần nhìn thấy, anh nhớ rằng đã có một thời mình sống bằng hy vọng, và đã yêu một người nhiều đến mức dành cả tuổi xuân nơi đất khách chỉ để chờ ngày được đón họ sang bên mình.

Phạm Sơn Liêm 


 

 Anh hùng vô danh – TG Văn Chương

TG Văn Chương

 Welles Crowther | The Man in the Red Bandana

Chỉ vài phút sau khi chuyến bay United Airlines 175 đâm vào tòa tháp Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới, Welles Crowther, chàng trai mới 24 tuổi, đã để lại lời nhắn cho mẹ mình:

“Mẹ ơi, là con đây, Welles. Con chỉ muốn nói với mẹ rằng con vẫn ổn.”

Đó  là cuộc gọi cuối cùng của anh — một bằng chứng cuối cùng về tình yêu và sự trấn an.

 Welles làm nghề môi giới tài chính ở tầng 104. Nhưng khi thảm kịch xảy ra, anh không nghĩ đến sự an toàn của riêng mình. Anh chọn một con đường khác: lao xuống nơi hỗn loạn để cứu người.

 Khi đến tầng 78, giữa khói lửa và đổ nát, Welles không còn là một nhân viên văn phòng bình thường. Anh trở thành một điều gì đó lớn lao hơn — “người đàn ông với chiếc khăn bandana đỏ”.

 Anh buộc chiếc khăn đỏ quanh mặt, không phải để che giấu, mà để thở trong làn khói ngột ngạt. Rồi, với mảnh vải ấy, anh bắt đầu dẫn đường cho những người còn sống sót băng qua bóng tối và đống đổ nát.

 Welles đã bế một người phụ nữ bị thương trên tay xuống 15 tầng. Sau đó, không ngần ngại, anh quay lại. Rồi lại cứu thêm người khác. Rồi lại quay lại. Anh đã làm đi làm lại con đường tử sinh ấy nhiều lần.

 Anh nói với mọi người:

“Ai còn có thể đứng, hãy đứng dậy ngay. Và nếu bạn có thể giúp người khác, hãy làm đi.” 

Giữa tiếng kêu khóc, khói đen và nỗi sợ hãi, giọng nói của anh là ngọn đèn soi sáng, mang đến bình tĩnh và quyết tâm. Anh không la hét, không bỏ chạy. Anh chỉ hành động — bằng một sự can đảm và lòng trắc ẩn khó tin, một bản năng bảo vệ mà không trường lớp nào có thể dạy.

 Vài ngày sau, thi thể Welles được tìm thấy bên cạnh một nhóm lính cứu hỏa, trên tay vẫn còn cầm dụng cụ cứu hộ. Anh đã ngã xuống trên đường đi cứu lần cuối cùng.

 Ling Young, một trong những người sống sót nhờ anh, đã nói về Welles bằng những lời đơn giản mà lay động:

“Anh ấy là thiên thần hộ mệnh của tôi. Nếu không có anh ấy, chúng tôi đã kẹt lại ở đó, chờ cái chết.”

 Ngày hôm đó, Welles Crowther đã cứu ít nhất 12 mạng người. Anh ra đi với chiếc khăn bandana đỏ trên mặt — trở thành biểu tượng vĩnh hằng của sự hy sinh thầm lặng.

 Có những anh hùng trở thành huyền thoại. Có người thành lãnh đạo. Nhưng những anh hùng vĩ đại nhất lại có khi chỉ là những con người bình thường, và với một chiếc khăn đỏ giản dị, họ nhắc nhở chúng ta rằng: sức mạnh lớn nhất trên đời này chính là tình yêu và ý chí cứu lấy người khác. ❤️

 TG Văn Chương

 https://youtu.be/mXVeBISOXcA

 Welles Crowther – Wikipedia

From: NguyenNThu


 

CỤ GIÀ NHẶT RÁC VÀ ĐÔI DÉP ĐÁNH RƠI…- Truyen ngan HAY

 Xuyên Sơn

 CỤ GIÀ NHẶT RÁC VÀ ĐÔI DÉP ĐÁNH RƠI…..

” Người với người sống để yêu nhau “

– Cô cho tui vô gom ít rác.

Ông vừa nói vừa chỉ vào mấy đồng rác ở gốc cây cạnh bờ tường.

– Đi ra. Mấy cái thứ đồ cắp vặt, rác cái gì, rình rình mò mò, hở cái là chôm, hở cái là chôm. Đi đi ông già. Tui mà thấy ông lởn vởn ở đây đừng có trách. Tiếng con gái người chủ khu trọ sang sảng giữa trưa.

Lão cúi gằm mặt quay đi.

Cái nghề nhặt rác của lão khổ cực là vậy, nỡ nào cái cuộc đời khốn nạn còn chửi thêm vào, sỉ vả thêm vào.

Nhưng lão chẳng nói gì.

Lão đã quen rồi.

Cực là thế nhưng lão không làm thì lão lấy gì nuôi miệng, nuôi cái thân già đã sắp xuống lỗ này.

Lão không còn trai tráng để mà làm gì nữa. Cả tuổi thơ của lão chỉ biết có rác. Lớn lên cùng rác.

Mẹ lão đã qua đời khi sinh ra lão, cha lão một thân một mình nuôi lão và cũng ra đi vì bệnh nặng khi lão mới 15 tuổi.

Trước khi ra đi, cha lão chỉ có một câu dặn lại:

“Cuộc đời cha chẳng có gì cho con, cái nghề này là phải siêng, phải biết chịu khó, năng nhặt thì chặt bị, sống phải biết cần kiệm nghe con”.

Ông lấy dưới gối một ít tiền rồi bảo lão dùng để lo ma chay, số còn lại giữ gìn mà cưới vợ.

Rồi cũng nhờ đó mà lão tích cóp thêm.

Đến 23 tuổi cũng có tiền để cưới vợ.

Vợ lão cũng làm nghề nhặt rác. Nói đúng hơn là cả cái xóm ven sông này làm nghề nhặt rác. Hằng ngày vợ lão đi gánh chậu nhựa đi đổi chậu cũ, ban đêm thì đi lượm rác phụ lão.

Trong một ngày mưa lớn, vợ lão bị vướng phải sợi giây điện đứt trên đường đi về.

Thế là lão lại một thân một mình cho tới giờ.

Lão chẳng có gì ngoài căn nhà nhỏ, một con chó què và đầy những rác là rác.

Sân nhà lão toàn là bọc nilon, lão rửa sạch rồi phơi lại.

Góc nhà thì chất đầy giấy vụn.

Xó bếp một ít vỏ chai nhựa, nhôm, sắt gỉ và bất cứ cái gì khác mà người ta quẳng đi.

Hôm nay, khi đi trên cầu, chân lão sóc phải miếng mẻ chai, có lẽ gã say nào đó đã làm vỡ trên lề đường.

Đôi dép mòn gót của lão đã đứt quai, lão đã vứt rồi và giờ thì ngồi đây, chân lão chảy máu.

Lão chưa ăn gì cả, dựa lưng vào thành cầu nhìn bọc rác.

Rồi lão lại tiếc rẻ đôi dép.

Lúc đó một người phụ nữ tầm hơn bốn mươi gánh tào hũ ngang qua.

Thấy vậy người phụ nữ đã giúp lão cột vết thương và mời lão ăn một chén tào hũ. Đôi mắt hiền từ nhìn lão, người phụ nữ hỏi:

– Dép ông đâu rồi, nhà ông còn ai không. Sao để ông phải vất vả thế này. Già yếu rồi lỡ có chuyện gì ai lo.

Lão cười nhẹ và đáp lại:

– Cảm ơn cô. Tôi sống có một mình. Con cái thì không có, vợ tôi mất rồi. Cũng chẳng sống bao lâu nữa, được ngày nào hay ngày đó thôi cô ạ. Cô tốt quá. Biết cuộc đời này còn có bao người tốt như cô đây.

Lão nói rồi nhìn vào dòng xe lướt ngang qua trước mặt.

Người phụ nữ tháo dép ra.

– Con tặng ông đôi dép này, ở nhà con còn dép khác.

Ông cứ giữ lấy. Con cũng khổ chẳng giúp gì được nhiều cho ông.

– Không cô ạ. Như vậy là quá đủ cho tôi ngày hôm nay rồi.

Cô thật là nhân hậu.

– Thôi chào ông con phải đi gánh bán chứ không thì muộn mất.

Sau khi người phụ nữ đi khuất, lão lấy dép xỏ vào chân.

Lão nhặt bọc rác lên rồi khập khiễng đi tiếp.

Lão thấy chân mình khỏe lên. Ông già nhặt rác mang dép của một người phụ nữ xa lạ mà không hề xa lạ.

Bởi chỉ có những người đi bộ trên đường phố tới đêm tối trong những cuộc mưu sinh mới cần dùng đến dôi dép bình dị này.

——-

Theo internet

Chia sẻ từ FB Nguyễn Học


 

TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC HẠNH PHÚC ..! Truyen ngan HAY

Chi NguyenNhững Câu Chuyện Thú Vị

– Nếu mày không bỏ thằng đó thì bước ra khỏi nhà ngay

– Con xin bố mẹ, bố mẹ bắt con gì cũng được nhưng đừng chia lìa chúng con,con yêu anh ấy

– Thằng nghèo kiết xác này liệu có nuôi nổi mày không? Mày quen sống trong nhung lụa rồi làm sao mà chịu khổ theo nó được?

– Bây giờ anh ấy nghèo nhưng không có nghĩa là cả đời anh ấy nghèo,rồi sẽ có ngày anh ấy có được 1 sự nghiệp rực rỡ,con tin vào năng lực của anh ấy

– Thế thì mày xách đồ theo nó luôn đi!

– Bố,mẹ!

– Xem như tao không có đứa con gái như mày

Cô lững thững xách va li ra khỏi nhà,đưa ánh mắt van nài nhìn bố mẹ lần cuối nhưng đáp lại ánh mắt của cô là sự lạnh lùng đến đáng sợ. Bố mẹ cô là vậy,họ đã nói là làm,họ không chấp nhận 1 chàng rể nghèo. Họ đã cố tình gán ghép cô với những anh chàng giàu có lắm tiền nhưng cô không yêu ai trong số họ.

Cô yêu anh,yêu từ cái tính thật thà chất phác tới sự chăm chỉ cần cù không biết ngại khổ. Nhưng bố mẹ cô không cần những điều đó,với họ,chàng rể môn đăng hộ đối mới là nhất. Cô cắn chặt môi nhìn căn nhà mình sinh ra và lớn lên cùng bố mẹ lần cuối rồi cùng anh bước đi.

Anh ở trong 1 khu trọ khá xa trung tâm thành phố. Đó là 1 phòng trọ nhỏ,tính ra còn chẳng to bằng phòng ăn nhà cô,nhưng có điều rất gọn gàng và ngăn nắp. Cô đặt va li xuống rồi xắn tay vào sắp xếp đồ đạc.

Ngày hôm sau,cô và anh rong ruổi trên chiếc xe máy cũ của anh. Cô cần tìm cho mình 1 công việc. Trước giờ cô chỉ lo ăn học,học đại học xong thì phụ giúp cho công ty của bố. Bây giờ,cô cần đi làm để cùng anh lo cho cuộc sống của cả 2.

Cô được nhận vào làm ở 1 shop thời trang. Sáng sáng,cô và anh dậy sớm,ăn sáng rồi anh đưa cô đi làm sau đó tới công ty. Chiều tan làm,anh đón cô rồi về nhà cùng nấu nướng ăn tối. Vốn sinh ra và lớn lên trong gia đình giàu có nên mới đầu cô hơi khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống mới,bố mẹ cô thi thoảng vẫn hay điện thoại kêu cô trở về nhưng cô cương quyết ở lại bên anh. Cô hạnh phúc khi ở bên anh,cuộc sống tuy vất vả nhưng luôn tràn ngập tiếng cười,niềm vui và hạnh phúc.

Anh luôn làm việc hết sức mình và không ngừng cố gắng,anh luôn muốn kiếm thật nhiều tiền để cô được sống trong sung sướng như trước kia. Dần dần,anh được cất nhắc lên những vị trí cao hơn,việc làm ăn liên tục phất lên như diều gặp gió. Sau 3 năm,anh tự mở cho mình 1 công ty và mua nhà ở trung tâm thành phố để sinh sống.

Anh không cho cô đi làm nữa,để cô ở nhà chăm lo cho gia đình và dành thời gian nghỉ ngơi thư giãn.

Thế nhưng,từ ngày có công ti riêng,anh bận rộn hơn rất nhiều,cả ngày có khi không về nhà cùng vợ ăn 1 bữa cơm. Anh liên tục nhận điện thoại và đi khỏi nhà bất cứ lúc nào. Anh đi sớm về khuya,thường xuyên về nhà trong trạng thái say xỉn. Anh quên ngày sinh nhật của vợ,quên ngày kỉ niệm của cả 2,dần dần cô có cảm giác căn nhà như cái nhà trọ để anh trú chân lúc nhát,còn nhà thật sự của anh có lẽ là công ty ,là nhà hàng,là khách sạn,là quán cà phê,là bàn nhậu,bàn tiếp khách… anh có mặt ở những chỗ đó nhiều hơn có mặt ở nhà. Căn nhà lúc nào cũng chỉ có 1 mình cô đi ra đi vào sớm trưa chiều tối. Cô nói với anh rằng cô rất cô đơn,cô muốn anh bớt công việc lại để dành thời gian cho cô,nhưng lúc nào anh cũng nói : “Anh muốn em có cuộc sống sung túc đầy đủ,anh không muốn em phải khổ,mà muốn vậy thì phải có tiền chứ,anh đi kiếm tiền chứ có làm gì có lỗi với em đâu”.

Ngày hôm đó là sinh nhật cô,anh hứa về sớm cùng cô ăn tối. Cô đợi anh,8h,9h,rồi 1h,2h,gọi điện thoại thì anh không nhắc máy,nhắn tin không trả lời. Tới 3h,anh trở về trong men say nồng nặc. Mở cửa cho anh vào,nước mắt cô chảy dài,bao kìm nén bỗng chốc vỡ òa:

– Anh đã hứa sẽ về sớm ăn tối với em kia mà? Đã bao lâu rồi mình không cùng ăn với nhau 1 bữa cơm anh biết không? Anh có biết em đã kì công chuẩn bị bao nhiêu món anh thích và chờ anh bao lâu không?

– Anh xin lỗi,có 1 bản hợp đồng đáng giá mấy tỉ cần ký gấp,sau đó anh cùng đối tác đi ăn

– Sao anh không nghe điện thoại?

– Điện thoại?…. Thôi chết anh đưa cho thư kí cầm rồi,anh có dặn trong lúc anh bàn chuyện với khách thì để chế độ im lặng

– Mấy bản hợp đồng đó quan trọng thế cơ à? Chậm 1 buổi tối thì sao chứ? Nó quan trọng hơn em nhiều phải không? – cô nói trong nước mắt

– Anh xin lỗi em,nhưng em nghĩ mà xem,bỏ lỡ bản hợp đồng đó anh sẽ mất mấy tỉ đó

– Tiền,tiền,lúc nào cũng tiền,bắt đầu từ bao giờ anh yêu tiền hơn vợ thế?

– Em nói gì lạ thế,anh yêu tiền hơn vợ lúc nào? Anh rất yêu em,nhưng tiền rất quan trọng,không có tiền làm sao có nhà sang cho em ở,xe đẹp cho em đi,quần áo trang sức hàng hiệu cho em?

– Em không cần,không cần những thứ đó,em thà thuê cái nhà trọ nhỏ xíu để ở,đi làm cực nhọc từ sáng tới tối như trước kia nhưng hàng ngày được cùng anh ăn cơm với nhau,được anh đưa đi đón về,được cùng anh trò chuyện mỗi tối

– Anh không muốn em khổ như thế,anh muốn em sống trong sung túc như trước kia khi em còn ở với gia đình em

– Như thế em thấy rất vui,rất hạnh phúc chứ không hề khổ.Em bỏ nhà đi,cãi lại lời bố mẹ mà theo anh không phải vì mong muốn 1 ngày nào đó anh sẽ cho em cuộc sống như bố mẹ em cho em mà là vì em yêu anh và muốn cùng anh sống hạnh phúc,tiền không mua được hạnh phúc anh hiểu không?

Trút hết bao bức bối trong lòng,cô lao ra khỏi nhà với khuôn mặt ướt đẫm nước mắt,nhưng vừa ra khỏi cửa được vài bước chân bỗng chốc cô ngã quỵ xuống,ngất lịm. Nghe tiếng “uỵch” như thể có gì rớt xuống,anh vội chạy ra ngoài xem. Anh như tỉnh hết men say khi thấy cô nằm bất động dưới sàn,mặt tái xanh,tay chân lạnh ngắt. Anh vội đưa cô tới bệnh viện,cô nằm trong phòng cấp cứu suốt 3 tiếng đồng hồ bác sĩ mới hớt hải chạy ra. Anh vội níu tay bác sĩ lại hỏi:

– Bác sĩ,vợ tôi thế nào rồi?

– Anh làm chồng cái kiểu gì mà để bệnh tình của vợ ra tới nông nỗi này? Suy hô hấp nặng,đang rất nguy kịch

Nói rồi bác sĩ lại chạy vụt đi. Anh như chết lặng,vợ anh bị suy hô hấp ư? Lại còn nặng nữa? Cô bị bệnh này từ bao giờ anh hoàn toàn không hề hay biết. Lâu nay quá mải mê với ông việc mà anh đã không quan tâm tới sức khỏe của vợ mình mất rồi…

Vị bác sĩ trở lại cùng 3 4 vị bác sĩ nữa,ai nấy đều hớt hải,bất giác anh thấy sợ. Cảm giác tội lỗi lấn át tâm trí anh,hình như đã quá lâu rồi anh không còn đưa cô đi khám sức khỏe định kì,đi sớm về khuya anh cũng chẳng biết cô khỏe hay đang đau ốm,cũng lâu lắm rồi anh và cô không cùng ngồi trò chuyện,cùng ngồi ăn chung 1 bữa cơm. Đã quá lâu rồi anh để tiền thay mình lo cho vợ. Anh ôm đầu tự dằn vặt mình,anh chỉ mong vợ mình không sao,để anh có cơ hội bù đắp cho cô.

Thêm 3 tiếng nữa,các vị bác sĩ trở ra,nhưng ai nấy đều mặt buồn rười rượi. Anh chạy tới bên chỗ các bác sĩ nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Anh lao vào phòng cấp cứu,cô nằm bất động,ống thở đã rút,máy điện tâm đồ hiện lên chỉ là 1 đường ngang lạnh lùng. Anh chạy tới nắm lấy bàn tay cô,lạnh ngắt như đá,khuôn mặt cô trắng nhợt,anh quỳ xuống bên cô mà khóc,là tại anh,tại anh không chăm sóc lo lắng cho cô để rồi chính anh trao tay vợ mình cho thần chết. Nếu như căn bệnh của cô được phát hiện và điều trị sớm thì cô sẽ không chết,chắc chắn thế,thế nhưng anh đã để cô chịu đựng quá nhiều,cả căn bệnh quái ác kia và cả những uất ức buồn tủi do anh mang lại. Quá muộn rồi,anh chẳng thể chuộc lại lỗi lầm được nữa.

Ngày hôm nay mưa phùn nhẹ,mây đen phủ đầy trời,anh đứng lặng nhìn trân trân vào tấm di hình của vợ trên tấm bia đá xám ngắt. Tim anh se lại,chắc có lẽ cả quãng đời còn lại anh sẽ chẳng thể thoát khỏi dằn vặt và đau thương.

Thế đấy,tiền không phải là tất cả,nó là 1 phần không thể thiếu của cuộc sống nhưng chẳng thể mang lại hạnh phúc toàn vẹn. Hạnh phúc thật sự phải do con người tự tay tạo nên bằng tình yêu và trái tim cũng ngập tràn yêu thương. Đừng để tiền làm bạn quên đi những giá trị đích thực của cuộc sống và rồi có ngày phải thấy hối tiếc.!

TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC HẠNH PHÚC ..!

Bài & ảnh sưu tầm


 

“TÔI TỪNG LÀ MỘT BÁC SĨ”.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

“TÔI TỪNG LÀ MỘT BÁC SĨ”.

Bác sĩ Álvaro Salguero nổi tiếng khắp San José, Costa Rica. Là một bác sĩ phẫu thuật danh tiếng, ông lái xe sang trọng, đeo đồng hồ đắt tiền và có trí thông minh sắc sảo. Ông giúp đỡ nhiều người, nhưng không quên thể hiện rõ ai mới là người nắm quyền. Một buổi chiều nọ, khi đang rời khỏi bệnh viện tư nhân nơi ông làm việc, ông gặp một người đàn ông bẩn thỉu, chân trần và lưng còng ngồi trên vỉa hè.

“Thưa ông,” người ăn xin nói, “ông có thể cho tôi chút gì ăn được không?”

Álvaro nhìn ông ta với vẻ khinh bỉ, không hề chậm lại.

“Kiếm việc làm đi, như mọi người khác.”

“Tôi bị ốm,” người đàn ông thì thầm đáp. “Tôi bị sốt mấy ngày rồi và hầu như không đi nổi.”

Vị bác sĩ im lặng vài giây.

“Đó không phải vấn đề của tôi. Đến Caja, bệnh viện công đi.”

Và ông bỏ đi.

Nhưng đêm đó, có điều gì đó làm ông băn khoăn. Ông mơ thấy mình nằm trên đường, đói khát, và mọi người cứ thế đi ngang qua mà không hề liếc nhìn.

Sáng hôm sau, anh quyết định mang cho người đàn ông một túi thức ăn. Không phải vì lòng tốt, mà để xoa dịu cảm giác tội lỗi của mình.

“Đây,” anh nói mà không nhìn người ăn xin. “Tôi không có thói quen làm điều này, nhưng…”

Người ăn xin run rẩy nhận lấy túi thức ăn và mỉm cười.

“Cảm ơn bác sĩ. Mong cuộc sống sẽ đền đáp bác sĩ gấp bội.”

“Làm sao anh biết tôi là bác sĩ?”

“Qua cách anh đi. Những người nghĩ mình là cứu tinh của thế giới luôn đi như vậy, đầu ngẩng cao hơn cả trái tim.”

Álvaro cảm thấy nhói lòng.

“Và anh biết gì về chuyện đó?”

“Đủ rồi. Tôi cũng từng là bác sĩ. Bác sĩ nội khoa. Tôi mất tất cả sau một bi kịch mà tôi không muốn nhớ lại. Đôi khi bạn nghĩ bằng cấp của mình là áo giáp. Nhưng hóa ra nó chỉ là một lớp ngụy trang mà cuộc sống có thể xé toạc chỉ trong một đêm tồi tệ.”

Lần đầu tiên, vị bác sĩ nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt ông, dù hằn sâu những nếp nhăn, vẫn toát lên vẻ thông minh, kiên định.

“Ông từng là bác sĩ mà cuối cùng lại lang thang trên đường phố?”

“Vâng. Không phải lúc nào cũng chỉ dựa vào trí thông minh hay nỗ lực. Đôi khi, cuộc sống có những kế hoạch mà mình không hiểu. Điều đó đã xảy ra với tôi. Ngày mai nó cũng có thể xảy ra với anh. Và khi điều đó xảy ra, anh sẽ nhận ra rằng người ta không đánh giá anh dựa trên những gì anh biết, mà dựa trên những gì anh khoác lên mình khi tất cả những chiếc mặt nạ rơi xuống.”

Álvaro không nói gì. Anh để lại chiếc túi và bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua. Mỗi buổi chiều, anh đều mang thức ăn cho ông, đôi khi là quần áo. Họ bắt đầu nói chuyện nhiều hơn. Người ăn xin—tên là Rogelio—chia sẻ những câu chuyện y khoa mà chỉ một bác sĩ thực thụ mới biết.

Một ngày nọ, Rogelio không còn ở bên cạnh anh nữa.

Khi anh hỏi thăm xung quanh khu vực, một người bán trái cây nói với anh:

“Họ đưa ông ấy đi bằng xe cứu thương. Ông ấy bị nhiễm trùng rất nặng. Ông ấy đang nằm viện.”

Álvaro đến thăm ông. Ông tìm thấy Rogelio một mình trong phòng chung, sốt cao và yếu ớt.

“Tôi không nghĩ anh sẽ đến,” Rogelio nói với một nụ cười.

“Anh đã dạy tôi nhiều điều trong vài tuần qua hơn nhiều đồng nghiệp của tôi đã dạy trong nhiều năm.”

“Anh đã học được gì?”

“Rằng phẩm giá không phải lúc nào cũng đến từ chiếc áo khoác trắng. Rằng lòng bác ái thực sự không được ban phát từ trên cao. Và đôi khi, những người có ít nhất lại cho đi nhiều nhất.”

“Vậy thì tôi đã không lãng phí thời gian trên vỉa hè này,” Rogelio nói, nhắm mắt lại với một vẻ bình tĩnh kỳ lạ. “Dù sao thì tôi cũng đã đào tạo được một học trò cuối cùng.”

Rogelio qua đời vài ngày sau đó.

Álvaro đã lo liệu tang lễ cho ông. Và trên bia mộ của ông, ông đã khắc một câu nói sẽ theo ông suốt phần đời còn lại:

“Người đã nuôi dưỡng tâm hồn của một bác sĩ.”

Từ đó trở đi, bất cứ khi nào có ai đó đến gần ông trên đường phố để xin điều gì đó, Álvaro không còn vội vã bước đi nữa. Ông nhớ rằng có một ngày, không mặc áo khoác phòng thí nghiệm hay có chức danh gì, ông chỉ là một người ăn xin.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie. 


 

NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ.

Mình nhớ năm 1983, mình đi xích lô từ bến xe về nhà, qua vài câu trao đổi và nhìn gương mặt của bác xích lô, mình dè dặt hỏi:

-“Dạ cho con hỏi bác có phải cải tạo về?”.

Bác ngạc nhiên:

-“Sao cô biết”.

Mình trả lời:

-“Dạ tại con thấy bác giống ba con”.

Thật sự những ngày đó, người đi cải tạo về hầu như chọn chiếc xích lô hay xe đạp để làm kế sinh nhai. Nhìn họ, mình đều nhận ra điểm chung là nét nhẫn nhục, buồn buồn trên gương mặt và một điểm khiến họ khác với những người cùng hành nghề như mình là ăn nói nhỏ nhẹ và lịch sự ngay từ câu mời khách lên xe.

Còn có một điểm mà mình không thể diễn đạt nổi mà mình nghĩ đó là phong thái và cốt cách của người trí thức:

từ tốn, điềm tĩnh.

Họ cứ lẳng lặng đứng từ xa để ai đến hỏi thì đi chứ không bao giờ lao vào giành giật khách mỗi khi xe đến bến.

Khánh Đặng

ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ.

Đó là dịp tết năm 1995.

Lần đầu tiên tôi về thăm quê hương.

Người đàn ông đạp xích lô, gầy guộc và khắc khổ.

Nhìn ông già hơn tuổi.

Có lẽ cuộc sống đầy khó khăn, nên sự lo âu, buồn buồn, hiện rõ trên nét mặt của ông.

Lúc đó, cũng có dăm ba người mời tôi đi xe của họ.

Nhìn qua nhìn lại, tôi chọn đi xe của ông.

Tôi nghĩ, ông già yếu hơn mấy anh kia, nên có thể ông ít được khách mời ông đi.

Tôi muốn ông có thêm thu nhập, nên đồng ý lời mời của ông.

Hôm đó tôi bao xe đi nguyên ngày, đi vòng quanh Vũng Tàu,

ngắm lại phong cảnh quê hương, sau 5 năm xa cách.

Khi biết ý muốn của tôi, ông mừng vui lắm.

Nét mặt rạng rỡ hẵn ra.

Trước khi lên xe, tôi nghe mấy anh kia còn nói.

“Trúng mánh nhe ông già.

Gặp Việt kiều là ngon rồi.”

Ông đạp xe chở tôi đi.

Hai ông cháu nói chuyện rất thân thiện.

Qua câu chuyện, tôi biết ông đi tù cải tạo về.

Trãi qua bao tháng ngày cực khổ trong chốn lao tù, hình như sức lực của ông cũng hao mòn, yếu dần đi.

Cuộc sống vốn dĩ khó khăn, nay về nuôi thêm mẹ già,

nên càng khó khăn hơn. Khi biết tôi qua Mỹ theo diện HO, ông trầm ngâm:

– Bác giờ cũng đã già.

Với lại đang nuôi mẹ già.

Giờ bác đi cũng được.

Nhưng mẹ bác để cho ai coi đây.

Bao nhiêu năm đi tù xa cách mẹ già, giờ bỏ đi nữa thì mang tội bất hiếu.

Rồi bác nói không biết bây giờ qua Mỹ bác sẽ làm gì.

Bạn bè của bác đã đi gần hết.

Họ nói họ đi vì tương lai của con cháu. Chứ bác đâu còn gia đình gì đâu nữa mà đi.

Tôi hỏi bác vậy vợ con của bác đâu rồi. Bác im lặng một hồi.

Tôi quay lại, ngước mắt lên nhìn bác. Bác vẫn đạp xe, nhưng hình như bác buồn lắm.

Mắt bác đỏ hoe.

Như đoán được chuyện gì, tôi chỉ im lặng nhìn theo hướng phía trước.

Chừng 5 phút sau, bác mới nói được:

– Bác có 3 đứa con. Chúng nó đi vượt biên, khi bác còn ở trong tù.

– Giờ mấy anh chị đang ở nước nào hả bác.

Bác lại im lặng…một hồi…rồi nói tiếp.

– Chuyến đi đó mất tích luôn.

Không một ai có tin tức gì hết.

Tôi lặng điếng người.

Thật không ngờ, kiếp người sao khổ vậy trời.

Tôi cũng khổ nhiều, nhưng so với ông, nỗi khổ kia chẳng thấm vào đâu.

Lòng tôi cảm thấy thương bác nhiều hơn. Không biết là tình thương đồng loại, hay thương vì tội nghiệp cho những bất hạnh của ông.

– Vậy bác gái đâu rồi bác.

– Ngày xưa thời VNCH, một mình bác làm nuôi cả nhà.

Sau năm 1975 bác bị đi tù, bác gái phải tần tảo mà cũng không nuôi nổi mấy đứa con.

Rồi có người giúp đỡ…

Nói đến đó bác không nói nữa.

Tự nhiên tôi thấy mình hơi tàn nhẫn khi vô tình khơi lại vết thương đau của bác.

Bác chở tôi đi về từ theo đường bãi Dâu, bãi Dứa.

Con đường này, cách đây 20 năm, vẫn một bên là núi, một bên là vực sâu của biển.

Có đoạn lên dốc, có đoạn xuống dốc rất khó đi. Nhưng vì muốn tôi ngắm cảnh đẹp của đất trời, mênh mông của biển cả, bác chọn hướng đi này.

Những đoạn lên dốc, tôi nhảy xuống, vì sợ bác mệt đuối sức, nhưng ông nhất định không chịu.

Bác thấy chân tôi bị yếu đi cà quẹo, bác càng không để tôi bước xuống.

Chỗ nào bác đạp không nổi, bác nhảy xuống đẩy hay kéo xe.

Thật lòng những lúc đó, tôi cảm thấy khó chịu quá trời.

Thế rồi chuyện đời cũng lắm cái ngờ. Trong khi đang xuống dốc, chiếc xe chạy nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, hơn nữa.

Tôi nghe bác hốt hoảng la lên.

– Chết rồi, thắng xe bị tuôn.

Xe càng chạy nhanh hơn.

Tôi quá sợ hãi.

Trong đầu lúc đó, tôi chỉ nghĩ mình sẽ bị lao xuống vực sâu.

Bác vội nhảy xuống, dùng hết sức lực kéo chiếc xe lại, nhưng chiếc xe chỉ khựng lại tí xíu rồi vẫn chạy nhanh.

Tôi nhắm mắt lại và nghĩ đến Gia đình. Cũng lúc đó, một tiếng đùng vang lên. Cả xe và tôi ngã nghiêng về vách núi và dừng lại.

Sau khi bình tĩnh trở lại, tôi thấy bác máu ra nhiều ở 2 bàn chân.

Vì khi bác cố gắng kéo chiếc xe lại.

Sức mạnh của chiếc xe đã kéo đôi chân của bác chà xát trên mặt đường,

và bây giờ nhìn vào đôi chân ấy, chỉ thấy toàn là máu.

Trong lúc xảy ra tình huống giữa chết và sống, bác lanh trí bẻ tay lái cho xe tông vào núi. Dù có bị gì đi nữa, còn hơn rơi xuống vực sâu.

Về đến nhà, bác không lấy tiền xe vì tai nạn xảy ra.

Bác tha thiết năn nỉ tôi đừng bắt đền cái máy chụp hình, vì bác không có tiền.

Thật sự lúc đó tôi thấy bác thật tội nghiệp và đáng thương.

Tôi nói bác đừng lo gì cả, rồi tôi tặng cho bác 100 đô.

Bác ngỡ ngàng nói đây là tờ 100 đô chứ không phải tờ 10 đô.

Tôi nói tôi biết.

Bác nói như vui mừng lắm.

– Con cho bác 2 chỉ vàng hả con.

Đáng lý ra tôi không nên kể chuyện tặng bác tiền. Nhưng tôi nghĩ, nếu như những ai trong trường hợp của tôi lúc đó, tôi tin cũng đều làm như vậy.

Trước khi chia tay, tôi đã ôm bác thật lâu.

Lúc đó tôi vẫn còn nhớ là có mùi

khen khét từ làn da cháy nắng của bác.

Sau này tôi có dịp về thăm quê hương và có hỏi thăm bác.

Người ta nói bác đã đi Mỹ theo diện HO rồi.

(sưu tầm)

Nguồn fb Cong Pham