Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng – Bs Nguyễn Bảo Trung-Truyen ngan HAY

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng Bs Nguyễn Bảo Trung

Một lần nọ tôi đi khám bệnh từ thiện cho những đứa trẻ mồ côi tật nguyền ở Thủ Đức. Thật ra tôi không muốn đi, vì đó là Chủ Nhật, ngày để nghỉ ngơi. Ngày mà tôi có thể nằm dài trên sofa vừa uống bia vừa xem trận bóng ngoại hạng, thi thoảng gào lên tức tối, cứ y như là cả cuộc đời chỉ có mỗi chuyện đá bóng vào gôn là có ý nghĩa.

Tôi khám qua quýt cho xong. Lúc ra về tôi lướt qua những ma sơ chăm sóc trẻ. Họ chẳng có gì đặc biệt, không phấn son với những chiếc áo dòng màu xanh. Nhưng khi gần tới cổng, tôi thấy một ma sơ dáng người nhỏ thó, chiếc lưng còng xuống, vẻ như đang gánh một vật gì đó quá lớn trên vai. Cam chịu. Cô chỉ có một cánh tay trái, cánh tay phải đã cụt.

Khi bước qua, tôi cúi đầu chào theo phép lịch sự tối thiểu của một bác sĩ. Nhưng lúc cúi xuống, vô tình tôi cảm nhận được một mùi hương thanh thoát tỏa lan nhẹ nhàng từ cánh tay đang kéo chiếc cổng sắt nặng nề.

Tại sao ma sơ tật nguyền này lại có đôi tay thơm tho đến thế?

Câu hỏi đó theo tôi suốt chặng đường về. Để rồi từng đêm từng đêm tôi bị mùi hương đó ám ảnh. Tôi nói với đồng nghiệp, Mọi người đều bật cười và trêu: Mày nên đi khám tâm thần, bị ảo khứu, nguy hiểm lắm. Ha ha… sau những nụ cười vui vẻ ấy tôi đâm hoang mang. Không lẽ mình bị tâm thần? Không lẽ đôi tay xấu xí, tật nguyền ấy lại có thể ám mình? Tôi có rất nhiều đôi tay để ám cơ mà? Những đôi tay hồng hào, mềm mát như gió của bạn tình, những đôi tay đầy ma lực từng ngón như rắn lên xuống, làm tôi kiệt sức bao lần.

Quyết không để mình bị tâm thần lãng như vậy, tôi đi Thủ Đức một chuyến nữa. Vẫn người ma sơ có đôi tay gớm ghiếc ấy mở cổng và vẫn mùi hương thanh khiết bay, váng vất như hương hoa hồ điệp. Người ma sơ tên Thị Mây bối rối cúi xuống trả lời khi nghe tôi hỏi: Dạ… tại sơ bị tai nạn giao thông. Chỉ vậy thôi, đúng chỉ vậy thôi, tai nạn giao thông nghiền nát cánh tay phải của ma sơ. Như vậy đó, ừ thì cũng như bao người cụt chân, cụt tay khác bị tai nạn. Thế thôi. Có gì mà vướng bận?

Tôi quay về Sài Gòn, nhủ lòng mình rảnh và vớ vẩn quá. Lo công việc đi, còn bao nhiêu thú để ăn chơi, còn bao nhiêu bàn tay đẹp để nắm, để sờ mò những khi bản năng thôi thúc, đúng không? Nhưng tất cả vẫn như cũ. Hết ngày rồi lại đêm mùi hương cánh tay đó vẫn thoang thoảng quanh tôi. Khi thì dịu dàng như mùi hoa chanh, khi thì nồng nàn như mùi hoa nguyệt quế. Tôi sợ đến nỗi, tưởng mình đã điên. Sao kỳ lạ đến như vậy? Một ma sơ có đôi tay cụt vì tai nạn thì có gì là bất thường? Tôi điện thoại cho thằng bạn thân, thạc sĩ chuyên khoa tâm thần, nó cười hú hú lên rồi phán: Mày bị con nhỏ “viêm cánh “ bỏ bùa rồi, ha ha ha, mày có gu với mùi hôi đó, cưới đi, để tối tối hít hít ngửi ngửi cho sướng, ha ha ha. Tôi cũng ha ha ha trong ngượng ngùng.

Nhân dịp có chuyên gia tâm lý bên Mỹ qua dự hội nghị Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân tai biến mạch máu não. Tôi liên lạc xin một cuộc hẹn để tư vấn. Thật khó, vì bà ta không có ý định là qua Việt Nam khám chữa bệnh. Người nước ngoài rất rõ ràng trong công việc. Sau khi hỏi hết mọi chuyện, bà Rose, chuyên gia tâm lý Mỹ, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi dừng ở khoảng giữa. Tôi hơi ngượng một chút với cái nhìn soi mói ấy.

– Lần cuối cậu quan hệ tình dục khi nào?

Tôi quan hệ tình dục thì liên quan gì đến vụ ám ảnh cánh tay cụt, tôi suy nghĩ như thế, nhưng vẫn trả lời: “Cách đây ba tháng”.

– Tại sao lâu thế? Tôi nghĩ vấn đề của cậu là thiếu thốn trong việc quan hệ, hay không thỏa mãn trong vấn đề chăn gối nên mới như vậy. Trời… Sao người nước ngoài hay liên kết mọi sự rắc rối cuộc sống vào trong tình dục thế kia? Hay họ xem việc đó cũng giống như ăn, ngủ, cầu nguyện?

Bó tay. Tôi hay dùng nhiều từ “thông dụng” như thế. Chứ còn biết làm gì? Nhiều khi ngủ tôi mở bung hết cửa sổ xịt nước hoa khắp phòng mà không thể đuổi được mùi hương đó.

Tôi đành quấy quả trở xuống Thủ Đức. Vẫn người ma sơ có cái tên quê mùa Thị Mây ấy mở cổng. Và vẫn lời đáp nhẹ như bấc, sơ bị tai nạn giao thông. Nhưng ánh mắt ma sơ nhìn tôi rất khó hiểu.

Lần này tôi không về vội, tôi đi lang thang trong khuôn viên ngôi nhà dòng dưới hàng cây bàng xanh thẳm lá. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Không gian thật thoáng đãng và thanh bình. Bầu trời rất trong và mây trắng trôi nhởn nhơ. Tôi giật mình tự hỏi, sao tháng ngày qua tôi cuống cuồng hết đi rồi chạy, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng để được gì? Tôi chưa bao giờ chịu dừng lại ngồi xuống bên một tách trà thơm để ngắm nhìn cuộc sống, hay đơn giản hơn để đọc một trang sách.

Vô tình tôi nhìn vào căn phòng đối diện. Tiếng cười the thé của lũ trẻ tật nguyền vọng ra, có một ma sơ già ngồi giữa chúng. Bà ta vỗ tay nhè nhẹ vào nhau, hết nghiêng nhìn đứa này ríu rít cười, đến nghiêng nhìn đứa kia nheo mắt. Cả căn phòng như bừng sáng. Thứ ánh sáng trong trẻo thánh thiện. Nụ cười móm mém không có son môi, không có phấn má, mà sao đẹp đến thế. Lũ trẻ bu quanh chạy tới chạy lui ríu rít. Tiếng ú ớ vỡ ra thành hàng ngàn tiếng leng keng reo lên trong gió. Tôi như chết lặng, sững sờ trước hình ảnh ấy. Đẹp quá, thật quá, lộng lẫy quá. Nắng chan hoà, gió cũng chan hoà. Không biết bao lâu tôi mới choàng tỉnh. Bối rối nhận ra có một linh mục già ngồi kế bên. Khuôn mặt ông ta toát lên một vẻ hiền từ bình an. Ánh mắt như chờ đợi tôi trút nỗi lòng. Tôi hỏi, sao cánh tay ma sơ Mây bị cụt. Trầm ngâm một chút ông kể:

“Năm 16 tuổi, thay vì như những cô gái khác, ngây thơ vui đùa cùng bạn bè, Mây cùng mẹ Mây đến nhà dòng này xin khấn trọn đời. Lúc đó Mẹ bề trên nhìn Mây ái ngại, vì Mây là con một, gia đình lại giàu có. Mẹ ruột của Mây rưng rưng nước mắt, nhưng trong giọt nước mắt ấy có một tình yêu, một niềm tự hào.

Năm 18 tuổi, Mây ra dáng một thiếu nữ mơn mởn, tóc dài đen nhánh, đôi tay xinh đẹp mềm mại, rất khéo nấu ăn, thêu thùa. Nhưng lúc nào Mây cũng giấu mình trong chiếc áo dòng tu kín đáo.

Có một đêm cô gõ cửa Mẹ bề trên, xin cho được ra làng mồ côi, chăm nuôi mấy em nhỏ. Mẹ bề trên ưng thuận. Thế là đôi tay đẹp kia hằng ngày mớm cơm đút cháo cho mấy em. Có khi các em sốt, Mây thức trắng đưa bàn tay mình đặt lên trán chúng, xem nhiệt độ thế nào, rồi nhúng khăn lau tới lau lui. Bàn tay búp măng mũm mĩm không còn nữa, mà thay vào đó là bàn tay không ngần ngại hốt phân dãi của các em đi đổ. Nhiều đêm, thấy đôi tay ấy chắp lại trước ngực cầu nguyện. Cầu nguyện điều gì không ai biết. Chỉ biết rằng đôi tay đó không còn như xưa…

Hôm kia, có một bé chạy tung tăng trong sân, cổng để mở, bé băng ra đường. Xe tải dìu dập trên xa lộ lớn. Em bé ấy quá nhỏ, và lao ra quá nhanh, nên không ai kịp trở tay. Rầm, khi tất cả các sơ chạy ra thì tiếng em bé khóc lên thất thanh thật to. Bên cạnh em, Mây nằm nhắm nghiền mắt. Cánh tay phải bị bánh xe nghiền nát. Máu chảy lênh láng.

Khi tỉnh dậy cô kể: Lúc đó, con đang đứng trên dải phân cách chờ băng qua đường thì thấy nó lao ra giữa xa lộ, con sợ quá, chạy ào đến, ôm nó, lăn vội vào. Tội nghiệp nó lắm, nó sợ quá, khóc thét lên. Nghe Mây kể, mọi người chưa hết bàng hoàng. Sao cô kể chuyện hồn nhiên đến thế? Liều cả mạng mình mà không tiếc chỉ để cứu một đứa bé tật nguyền, rồi còn tội nghiệp vì nó sợ khóc thét lên. Có lẽ Mây bị khùng mất rồi. Không khùng ai làm thế ? Từ đó cô lại xin Mẹ bề trên đứng gác cổng ra vào, cô sợ các em tật nguyền kia, không ý thức lại lao ra giữa dòng xe. Cô nói cuộc sống đáng quý lắm.

– Con xin lỗi mẹ, vì con cứ đòi hỏi mẹ hết lần này đến lần khác. Mẹ bề trên bật khóc: Con đâu có gì phải xin lỗi. Con luôn đòi hỏi để phụng sự người khác.

Thế là từ đó, Mây thành người gác cổng. Khi được hỏi tại sao cô bị cụt tay, cô đáp nhẹ như bấc, bị tai nạn giao thông.

Tôi không dám hỏi, cô có tiếc vì mất cánh tay không. Vì hỏi như vậy là thừa. Ngay cả mạng mình cô còn không tiếc.

Vị linh mục già kết thúc câu chuyện. Nắng chiều rải rác xuống thềm như một tràng hoa rực rỡ. Chỉ có hoa nắng mới kết vừa vương miện cho những con người ở đây. Tất cả loài hoa thế gian, tất cả kim cương, ngọc bảo thế gian khi đính vào vương miện chỉ làm cho nó trần tục hơn, vật chất hơn mà thôi.

Bây giờ tôi mới biết, vì sao đôi tay của Mây có hương thơm kỳ lạ. Và bây giờ tôi mới biết tại sao nụ cười và ánh mắt những người ở đây luôn ẩn chứa một trời long lanh nắng sớm.

Bởi vì như linh mục Nguyễn Tầm Thường đã viết: Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại.

Tôi về thành phố, thấy lòng mình bỗng chật. Những gì trước đây tôi cho là đúng, bây giờ tôi đâm nghi ngờ. Những gì trước đây tôi luôn theo đuổi, giành giật để có, bây giờ thấy chẳng còn quan trọng nữa.

Những tay thét ra lửa, những tay sừng sỏ mà tôi từng kính nể, bỗng dưng tôi thấy họ bình thường. Họ cố gắng dùng đôi bàn tay chứng tỏ mình, khuếch trương mình, những cái họ có được chỉ là thứ trơ trẽn. Họ không bình yên trên vật chất họ có được. Họ khoác những chiếc áo sang trọng, tay đeo đầy những kim cương, xịt toàn nước hoa hảo hạng, nhưng không bao giờ có mùi hương thanh tao, dịu ngọt, tỏa lan khắp bầu trời.

Tôi bị ám ảnh, vì trong tôi hoài thai một lối sống. Tôi muốn thoát khỏi bàn tay của chính mình. Tôi là người tìm kiếm bàn tay đẹp.

Bàn tay biết dang ra, biết sẻ chia là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nắm lấy tay người bất hạnh hơn mình để cùng bước là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nâng niu, gìn giữ cái đẹp, cái chân, cái thiện, là bàn tay đẹp. Và hàng ngàn định nghĩa về bàn tay đẹp khác.

Có bàn tay cầm nắm rất nhiều, có thể điều khiển người khác. Có bàn tay xoè ra ăn xin từng đồng lẻ bố thí. Có bàn tay khéo léo làm nên những tuyệt tác nghệ thuật. Có bàn tay vụng về chỉ làm đổ vỡ mọi thứ khi chạm vào. Có bàn tay cho đi. Có bàn tay giữ lại. Nhưng khi về với đất, bàn tay nào cũng rỗng. Rỗng tuyệt đối.

Vậy sao không ướp hương cho đôi tay mình, tôi tự hỏi lòng như thế. Có hàng ngàn cách ướp hương. Như masơ Mây, ướp hương thánh thiện, âm thầm, khiêm cung, bé nhỏ, mà hương thơm lại bay vượt mọi không gian. Có bao giờ Mây kể lể với Giêsu về mình không? Chắc không, vì Mây không có thời gian cho mình, chỉ biết lo cho mọi người thôi.

Khi sinh ra, tay tôi nắm chặt. Khi chết đi tay tôi buông thõng. Từ nắm chặt đến buông thõng, một hành trình dài đầy nụ cười hạnh phúc và nước mắt đau thương.

Bs Nguyễn Bảo Trung


 

Chuyện Trú Mưa – Loc Duong

Kimtrong Lam

 Loc Duong.

Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :

-Có phải cháu đây không?

Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :

-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.

-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?

-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?

-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?

-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.

-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?

-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.

-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?

Cô bé vui vẻ hẳn lên :

-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.

-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?

-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối l‎ý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :

“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết làm sao em biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”

Loc Duong


 

Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi- Truyen ngan HAY

Câu chuyện thật cảm động về lòng nhân ái.

Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi

(Posted by Ho Bình)

Một nữ phục vụ nhận được tiền tip 500 đô cùng dòng chữ: “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”

Tôi vẫn giữ chiếc khăn giấy ấy, gấp gọn trong ngăn tủ của mình.

Năm trăm đô la và một mảnh giấy viết:

> “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”

Ban đầu, tôi không hiểu.

Mỗi ngày, có quá nhiều khách ra vào — thật khó để nhớ hết từng gương mặt.

Rồi tôi thấy dòng chữ nhỏ ở cuối:

“Bàn số 7, thứ Ba.”

Và mọi ký ức ùa về.

Người phụ nữ lớn tuổi ấy.

Tất nhiên là tôi nhớ.

Bà bắt đầu đến quán khoảng sáu tháng trước.

Luôn là thứ Ba, 11 giờ sáng, bàn số 7, cạnh cửa sổ.

Và luôn gọi:

 “Hai ly cà phê Mỹ, làm ơn. Một có đường, một không.”

Lần đầu, tôi tưởng bà đang đợi ai đó.

Tôi mang hai ly cà phê ra, đặt một ly trước mặt bà, và một ly trước chiếc ghế trống đối diện.

Bà chỉnh tách cà phê ấy thật cẩn thận, như đang phục vụ cho một vị khách quan trọng.

 “Cảm ơn con yêu. Ông ấy thích uống nóng.”

Tôi đứng đó, cuốn sổ ghi order trên tay.

Chiếc ghế đối diện hoàn toàn trống.

>“Bà muốn gọi thêm món gì không ạ?” – tôi hỏi, theo phản xạ, vẫn nói “bà” và “ông”.

“Chưa đâu, cô bé. Cho chúng tôi xem thực đơn một lát nhé.”

Rồi bà bắt đầu nói chuyện.

Với chiếc ghế trống. Với khoảng không trước mặt.

 “Anh nhớ không, hồi những năm 60 mình hay tới đây? Họ vẫn còn làm món sandwich gà tây anh thích đấy.”

Lúc đầu, tôi thấy hơi sợ. Tôi suýt nữa đã gọi quản lý.

Nhưng ánh mắt bà… không có chút lẫn lộn nào. Không điên dại.

Chỉ có niềm hạnh phúc.

Một thứ hạnh phúc trong trẻo, dịu dàng, như thể bà thật sự nghe thấy ai đó trả lời.

 “Anh nói đúng! Ta nên gọi một phần cho hai người như mọi khi.”

Tôi không biết vì sao, nhưng tôi đã nhập cuộc.

 “Một phần sandwich gà tây để chia đôi ạ?”

“Vâng, cảm ơn con. À, và ông ấy vẫn thích khoai tây chiên hơn salad, con biết mà.”

“Dĩ nhiên rồi. Còn ông, có muốn thêm gì không ạ?”

Bà nhìn tôi, ánh mắt chan chứa biết ơn.

“Cô thật dễ thương, cô bé.”

Từ đó, thứ Ba nào cũng vậy.

Hai tách cà phê. Hai đĩa đồ ăn. Một cuộc trò chuyện dành cho người đã khuất.

Tôi luôn rót đầy hai ly.

Tôi hỏi xem “ông” có cần thêm khăn ăn không.

Các đồng nghiệp nghĩ tôi điên.

Một hôm, quản lý hỏi:

 “Tại sao em lại lãng phí cà phê cho một chiếc ghế trống?”

Tôi chỉ đáp:

“Vì điều đó khiến bà ấy hạnh phúc.”

Và đúng vậy.

Trong những giờ phút ấy, bà không cô đơn.

Bà không lạc lối.

Bà đang yêu, đang được yêu, đang sống.

Bà kể về những chuyến du lịch, những đứa con, ngôi nhà bên hồ.

Thỉnh thoảng, bà bật cười đến chảy nước mắt.

 “Anh lúc nào cũng khiến em cười, sau 52 năm vẫn thế.”

Năm mươi hai năm.

Lần cuối cùng bà đến, cách đây ba tuần, bà trông yếu hơn.

Bà vẫn gọi hai ly cà phê, nhưng tay run rẩy.

> “Bà ổn chứ?”

“Ừ, chỉ là mệt thôi, cô bé. Rất mệt.”

Bà nhìn chằm chằm chiếc ghế trống, ánh mắt thoáng buồn.

> “Đôi khi tôi tự hỏi, liệu ông có thật sự ở đây không… Nhưng rồi tôi ngửi thấy mùi nước hoa của ông, và tôi biết là có.”

Khi trả tiền, bà nắm tay tôi:

> “Cảm ơn con, vì đã đối xử với chúng tôi bằng cả tấm lòng.”

Đó là lần cuối cùng tôi thấy bà.

Cho đến hôm nay.

Một người phụ nữ trẻ bước vào — khoảng ba mươi tuổi, ánh mắt mệt mỏi nhưng dịu dàng.

> “Cô là người phục vụ vào thứ Ba, bàn số 7, phải không?”

“Vâng.”

“Tôi là Carolina. Người phụ nữ ấy… là mẹ tôi.”

Là.

> “Mẹ tôi qua đời hai tuần trước. Bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Cuối cùng, mẹ không còn nhớ nổi tên mình.”

Nước mắt tôi ứa ra trước khi cô nói tiếp.

> “Chúng tôi tìm thấy nhật ký của mẹ. Trong đó, mẹ viết về những bữa trưa ở đây. Về cô.

Nơi mà mẹ có thể ‘gặp lại’ ba tôi.”

> “Ba cô à?”

“Ông mất năm năm trước. Ung thư tụy. Họ đã bên nhau 52 năm.

Khi mẹ bắt đầu mất trí, bác sĩ bảo mẹ sẽ quên hết.

Nhưng có một điều mẹ không bao giờ quên — là ông ấy.

Trong tâm trí mẹ, ba tôi vẫn còn sống.

Và vào những ngày thứ Ba, họ cùng ăn trưa — như trước đây.”

Carolina lấy ra một chiếc khăn giấy và 500 đô.

> “Đây là từ di chúc của mẹ. Mẹ viết:

‘Gửi người phục vụ đã luôn phục vụ cả hai chúng tôi mà không bao giờ đặt câu hỏi.

Cảm ơn cô đã cho tôi thêm một năm được sống bên người tôi yêu.’”

Tôi không thể nói gì, chỉ biết khóc.

Carolina cũng khóc.

> “Điều tuyệt vời nhất,” cô nói qua nước mắt,

“là những ngày thứ Ba ấy là khoảnh khắc tỉnh táo cuối cùng của mẹ.

Trước khi qua đời, mẹ không nhớ nổi tôi là ai, nhưng khi tôi nhắc đến quán cà phê,

mẹ đã mỉm cười và nói:

‘Nơi mà mẹ ăn trưa cùng ba con.’”

Tôi thì thầm:

> “Tôi… tôi chỉ mang cà phê ra cho bà thôi.”

“Không,” Carolina đáp. “Cô đã mang lại cho mẹ tôi lòng nhân ái. Một nơi mà tình yêu của mẹ vẫn được công nhận. Cô không tưởng tượng nổi điều đó có ý nghĩa thế nào đâu.”

Chúng tôi ôm nhau — hai người xa lạ, gắn kết bởi một người mẹ và một chiếc ghế trống.

Và từ đó, mỗi thứ Ba lúc 11 giờ, tôi luôn để bàn số 7 trống một lát.

Tôi đặt hai tách cà phê — một có đường, một không.

Và tôi nhớ rằng:

Đôi khi, tình yêu lớn nhất chỉ đơn giản là nhìn thấy người khác — thật sự thấy họ — ngay cả khi không ai khác nhìn thấy.

S.T.

From: Tu-Phung

NHƯ ĐÃ DẤU YÊU – Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh – Truyen ngan HAY

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Đưa vợ vào làm xong tất cả các thủ tục, chỉ còn ít phút nữa là phải ra máy bay, anh vẫn lấy cớ chạy ra ngoài. Trời mưa như trút nước. Anh dáo dác nhìn khắp bốn xung quanh. Chỉ đến khi xác nhận một lần cuối cùng là chị không tới anh mới thẫn thờ đi vào.

Anh đâu có biết rằng đã mấy tiếng đồng hồ chị nép trong góc cột, nhìn từ lúc vợ chồng anh bước xuống xe taxi, đẩy hành lý qua bảo vệ. Nhìn thấy anh bước đi mà đầu luôn ngoảnh lại kiếm tìm. Nhìn thôi là đủ rồi, gặp nhau để mà làm gì?

Họ quen nhau cũng vào một ngày mưa tầm tã như thế này. Anh đi đám cưới về cũng đúng lúc chị vừa đi hẹn bạn bước ra khỏi khách sạn. Nhìn thấy chị đứng co ro giữa trời mưa gió, anh hạ cửa kính hỏi chị về đâu anh cho đi nhờ. Trông chị cũng tầm ngoài 40, vóc dáng thon thả, nước da trắng hồng. Nhìn sống mũi cao thanh tú của chị anh đoán ngày trẻ chị đẹp lắm. Chị vừa vào xe thì điện thoại vang lên, chị cố gắng nói rất nhỏ nhưng anh nghe thấy hết.

– Tớ đang đi nhờ xe về nhà. Trời mưa to quá không bắt được xe. Ông Dũng nhà tớ đang bận đi gặp bồ cũ. Thì vẫn bà ấy đó, năm nào cũng bay từ Sài Gòn ra Hà Nội 2 lần thăm nhà, rồi tổ chức gặp gỡ bạn cũ. Bạn nói sao? Tớ làm sao ngăn cản được, ông ấy luôn mồm nói là gặp cả đống bạn bè, có làm gì đâu. Họ có quá nhiều kỉ niệm với nhau. Mình là người đến sau cũng nên tôn trọng họ. Tớ không sao đâu.

Chị cười to rồi ngồi im. Anh liếc qua thấy mắt chị như có ngấn nước. Chả bù cho vợ anh, lấy nhau 25 năm rồi mà anh lúc nào cũng cảm thấy như đang sống trong tù. Anh chả có ai mà chị ghen suốt ngày đêm. Lâu lâu chị lên công ty anh đi dạo một vòng qua các phòng ban, để kiểm tra xem có em nhân viên nữ nào mới không, và thể hiện uy quyền của vợ giám đốc. Thư kí của anh toàn là nam. Vợ chồng cãi nhau suốt nhưng chị không sửa đổi. Anh là người rất thương con, muốn êm cửa ấm nhà nên phải nhịn. Có đêm anh thức giấc, bất chợt thấy chị đang ngồi nhìn anh rất hung dữ. Anh còn chưa tỉnh ngủ nên lắp bắp hỏi:

– Em làm sao vậy?

Chị tru tréo:

– Tôi nằm mơ thấy anh chở bồ đi chơi, hai người ôm nhau mà tôi rượt theo không kịp.

Ngày hôm sau anh dỗ dành hết sức chị mới chịu để anh đưa đi khám. Kết luận của bác sĩ rất đáng buồn. Chị có dấu hiệu bệnh tâm thần dạng hoang tưởng. Vì anh đẹp trai, giỏi giang nên chị nghe lời người ngoài lúc nào cũng nghi ngờ chồng mình có bồ. Riết rồi thành tâm bệnh. Hai đứa con lúc ấy mới 16 ,17 tuổi rất buồn. Anh hứa với các con sẽ chăm sóc chị thật chu đáo để các con yên tâm đi du học. Được vài năm thì chị đòi lên chùa cúng vái suốt. Nhiều lúc chị nửa tỉnh, nửa mơ bảo anh thích ai thì cứ lấy, chị sẽ vào chùa ở luôn.

Đã hơn chục năm nay anh cứ sống một cuộc sống không giống ai như vậy. Niềm an ủi duy nhất là hai đứa con học hành giỏi giang, tốt nghiệp xong ở lại Úc làm việc và công ty của anh ngày càng phát triển.

Mưa càng lúc càng lớn, cả một dòng xe kẹt cứng lại giữa đường. Anh với chị có cả một khoảng thời gian dài để nói chuyện với nhau. Chị lấy chồng muộn nên cu lớn mới 14, con gái nhỏ lên 10. Anh hỏi:

– Ngày xưa em kén lắm hả?

Chị cười:

– Tại vì đọc tiểu thuyết nhiều nên cứ chờ bằng được hoàng tử giống như trong truyện “Cánh buồm đỏ thắm” đến, mà chờ mãi không thấy, thế là được xếp vào loại gái già, phải lấy chồng vội anh ạ!

Anh cũng là con mọt sách nên họ say sưa nói về các nhà văn yêu thích. Anh kinh ngạc khi thấy chị rất am hiểu về văn học, âm nhạc, hội hoạ. Chị cũng có một công ty nhỏ, theo lời chị là đủ để nuôi các con.

Khi mưa ngớt, anh đưa chị về đến tận nhà và xin số điện thoại của chị, anh nói rất thật lòng:

– Hôm nay gặp em anh rất vui, vì em có rất nhiều sở thích giống anh. Nếu em đồng ý thì thỉnh thoảng anh mời em đi uống cà phê nhé!

Sau đó mỗi tháng một hoặc 2 lần anh mời chị đi uống cà phê hoặc ăn trưa. Chị nói chuyện rất hóm hỉnh và có duyên. Dần dần anh cảm thấy tình cảm mình dành cho chị không còn đơn thuần nữa. Có lần anh kể hơn 10 năm nay vợ anh bị bệnh, chị buột miệng:

– Em đẻ con bé được mấy tháng chồng em đã cặp bồ rồi, bọn em cũng ly thân từ ngày ấy.

Quen nhau hơn một năm anh ngỏ lời:

– Anh rất quý em Thanh à, chúng mình có thể đi xa hơn được không?

Chị đang vui vẻ cười nói bỗng sựng lại và kiếm cớ ra về.

Ít bữa sau anh nhận được cuộn băng thu bài “Như đã dấu yêu” của nhạc sĩ Đức Huy do chị hát, và một bức thư. Giọng chị rất hay, chị vừa hát vừa khóc

“Nhưng em ước gì mình gặp nhau lúc anh chưa ràng buộc.

Và em chưa thuộc về ai”

Và đây là nguyên văn bức thư của chị

Anh à!

Hơn một năm qua em rất vui khi được làm quen với anh, được nhận từ anh những sự quan tâm chân thành. Là phụ nữ em không thể không cảm nhận những tình cảm của anh, mặc dù em cứ quy ra nó chỉ đơn thuần là tình bạn thôi. Đấy là em tự lừa mình dối người. Em đã rất nhiều lần khóc thầm trong đêm khi nhớ đến ánh mắt say đắm, yêu thương của anh mỗi lần chúng mình gặp gỡ.

Muộn màng hết rồi anh ạ!

Em lấy chồng cho bố mẹ em vui lòng, và suốt mười mấy năm qua em luôn luôn phải chiến đấu với một đống bồ cũ, bồ mới của chồng. Em hận những người đàn bà trơ trẽn luôn tìm đủ mọi cách quyến rũ chồng em, moi tiền của anh ấy (thực ra là tiền em làm ra). Vậy nhưng em vẫn phải duy trì cuộc hôn nhân này, vì chồng em tuy tàn nhẫn với vợ nhưng rất thương các con, và em cố nuốt nước mắt vào trong để các con có đủ cả bố lẫn mẹ. Đã mấy lần em đau đớn chạy về nhà xin bố mẹ cho ly hôn vì em đâu phải tượng gỗ, em cũng thèm khát được có một người chồng chung thủy, yêu thương em hết lòng chứ không phải sống với một người chồng trên danh nghĩa, không hề nhớ ngày sinh của vợ,  nhưng rất nhiệt tình tổ chức sinh nhật hoành tráng cho bồ. Bố mẹ em lúc thì van lơn, lúc lại đay nghiến dứt khoát không cho em ly hôn vì “dòng họ nhà mình từ trước đến giờ không có người nào ly hôn cả”. Em cứ sống vật vờ lấy công việc và các con làm nguồn vui, cho đến khi gặp anh. Anh à! em tiếc lắm. Nếu như ngày xưa em được gặp anh, thì chắc chắn chúng mình sẽ có một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc. Nhưng đấy chỉ là “Nếu như” thôi.

Vợ anh, chị ấy bị bệnh cũng vì yêu anh quá (điều mà em không có được trong cuộc hôn nhân của mình). Vì vậy em không thể vì bất hạnh mà đi cướp chồng người khác, giống như những người đàn bà của chồng em.

Mình không nên gặp nhau nữa anh ạ!

Em xin cảm ơn anh vì tất cả.

Đọc xong bức thư của chị, anh cảm thấy người như bị rút hết sức lực.

Hạnh phúc giống như một giấc mơ đẹp, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại được nữa.

Vài tháng sau anh thu xếp công việc, tìm người quản lý giỏi rồi đưa vợ sang sống với các con.

Trước khi đi, anh nhắn tin muốn được nhìn thấy chị một lần cuối cùng.

Chị đến, nấp sau cột, nhìn từ lúc anh đỡ vợ xuống xe, nhìn anh vừa đẩy xe hành lý, vừa ngoái về sau, nhìn anh làm thủ tục xong lại chạy dáo dác ra ngoài. Nước mắt giàn giụa, chị lẩm bẩm “Anh đi may mắn nhé!”

NHƯ ĐÃ DẤU YÊU

Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh

( Mượn tựa đề bài hát của Nhạc sĩ Đức Huy)

Bài và ảnh sưu tầm 


 

TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .- Tác gỉa : Phạm Thành Châu

Nguyen Thi Chau

TRUYỆN TÌNH THỜI CHINH CHIẾN .

Truyện hay cuối tuần

LỜI TỎ TÌNH CŨNG LÀ LỜI TRĂN TRỐI .

Tác gỉa : Phạm Thành Châu .

***

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thuyên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất.

Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào.

Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng.

Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả!

Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.

– Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.

– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.

– Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự.

Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh.

Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường.

Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào.

Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”.

Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô.

Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta.

Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”.

Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình.

Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta.

Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử.

Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng

“Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao.

Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…”

Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi?

Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi.

Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường.

Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận.

Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi”

Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp

“Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi.

Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu.

Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được…

Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà.

Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…”

Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..”

Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế.

Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp

“Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn.

Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”.

Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác.

Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế”

Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau.

Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu.

Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô.

Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi da~ có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay”

Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”

Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh.

Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra.

Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằngmuốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù.

Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm.

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi.

Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi.

Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần.

Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm.

Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.

Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi.

Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi.

Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên.

Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.

Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ.

Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi.

Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò.

Tù chỉ có 15 phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết.

Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ.

Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ.

Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn.

Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên 10 năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt.

Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó,chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe.

Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi.

Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau.

Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.

– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải 5 giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.

– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết là em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.

– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.

– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm…

Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại.

Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.

-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…

Nhưng than ôi ! thật ra là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu 


 

PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Joseph Phạm Nguyên

 PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.

Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.

Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.

Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.

Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.

Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.

Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.

Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.

Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.

Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!

#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao


 

Hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn

Nguyen Huu Nghieu

Vị linh mục đứng bình tĩnh trước đội hành quyết với hai tay dang rộng ra dưới bầu trời Mexico, không để lộ nỗi sợ hãi và không bị bịt mắt trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Vào ngày 23 tháng 11 năm 1927, Đức L.M. Miguel Pro đã phải đối mặt với án tử hình trong một trong những giai đoạn đen tối nhất của cuộc bức hại tôn giáo trong lịch sử Mexico. Là một linh mục Dòng Tên trong những năm bạo lực của cuộc Chiến tranh Cristero, Pro đã bí mật tiếp tục thực hiện công việc truyền giáo bất chấp những cuộc đàn áp của chính phủ đối với Giáo hội Công giáo. Các nhà chức trách cáo buộc ông tham gia vào các hoạt động chống chính phủ, và không có phiên tòa chính thức, ông đã bị xử bắn và bị kết án tử hình.

Những người chứng kiến mô tả một sự im lặng khó quên bao quanh khu vực hành quyết khi các binh sĩ chuẩn bị súng trường trong khi các nhiếp ảnh gia ghi lại khoảnh khắc đó cho công chúng. Khác với nhiều tù nhân bị kết án, Miguel Pro được cho là đã từ chối bịt mắt và thay vào đó đứng công khai trước đội hành quyết với sự bình tĩnh đáng kinh ngạc.

Ngay trước khi tiếng súng nổ ra, ông giơ tay lên trong tư thế giống như Chúa Kitô trên thập tự giá và thốt lên những lời :

“Viva Cristo Rey!”

Nghĩa là “Đức Kitô, Vua muôn năm!”

Những bức ảnh được chụp trong những khoảnh khắc cuối cùng nhanh chóng lan rộng khắp Mexico và xa hơn nữa, biến vị linh mục trẻ thành một biểu tượng mạnh mẽ của đức tin, sự kháng cự, và sự hy sinh trong một chương đầy bạo lực của lịch sử quốc gia.

Ngay cả sau hàng chục năm, hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn vẫn tiếp tục mang một sức nặng cảm xúc phi thường vì nó ghi lại một khoảnh khắc mà nỗi sợ hãi dường như hoàn toàn vắng bóng trước cái chết.

Đối với nhiều tín đồ, ông đã trở thành một vị tử đạo, lòng dũng cảm của ông đại diện cho niềm tin không lay chuyển trong thời kỳ bách hại và xung đột.

Những bức ảnh ám ảnh đã đóng băng lịch sử vào đúng thời điểm một người đàn ông đối mặt với những người lính vũ trang chỉ với niềm tin và quyết tâm bình tĩnh. Và khi bạn nhìn Miguel Pro đứng đó với đôi tay dang rộng trước khi súng trường nổ, điều đó đặt ra một câu hỏi sâu sắc…

“Niềm tin của một người phải mạnh mẽ đến mức nào để đối mặt với cái chết mà không phải cúi mắt vì sợ hãi?”

ST


 

Lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.

 Anh Chi -Tâm Thức Việt 

 Vài giờ trước khi bị xử tử, một mình trong buồng giam…

Người ta hỏi anh ta: “Điều ước cuối cùng của anh là gì?”

Anh xin một cây bút, một tờ giấy.

Anh lặng lẽ viết vài phút, rồi trao lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.

Trong thư viết:

“Mẹ à, Con nghĩ, nếu thế giới này thật sự có công bằng, thì hôm nay không chỉ mình con bị hành quyết… mà cả mẹ nữa.

Mẹ cũng có tội — nhiều như con — trong cuộc đời hư hỏng mà con đã sống.

Mẹ còn nhớ ngày con ăn trộm chiếc xe đạp của một đứa trẻ khác không?

Mẹ không la mắng, ngược lại còn giúp con giấu nó.

Rồi cái lần con lấy tiền trong ví của hàng xóm…

Mẹ cùng con đi mua sắm ở trung tâm thương mại.

Và mẹ cũng chẳng nói một lời nào rằng điều đó là sai.

Khi thầy giáo đuổi con vì hỗn láo, vì nghỉ học quá nhiều…

Mẹ không hề trách con.

Mẹ đến trường để quát mắng thầy giáo, mà chẳng hề hỏi con một câu,

trong khi con rõ ràng là người sai.

Mẹ còn nhớ những đêm con về muộn, những ngày bỏ học triền miên?

Chưa bao giờ mẹ hỏi tại sao.

Chưa bao giờ mẹ tìm cách kéo con lại đúng đường.

Con chỉ là một đứa trẻ, rồi một thằng thiếu niên…

Và giờ đây, là một gã đàn ông hỏng nát.

Sau khi cha mất, con cần một bàn tay cứng rắn, một ánh mắt dẫn dắt.

Nhưng mẹ đã cho con sự nuông chiều mù quáng.

Con là đứa con cưng của mẹ, nhưng tình thương ấy đã làm con lạc lối.

Mẹ luôn ở đó…

Trong từng lỗi lầm con mắc phải.

Nhưng mẹ chưa bao giờ ở đó để chỉ con thấy con đường đúng.

Con tha thứ cho mẹ.

Nhưng con van xin mẹ hãy gửi lời này đến tất cả những bậc cha mẹ khác:

Họ đang nắm trong tay trách nhiệm — hoặc nuôi dưỡng nên một con người tử tế, hoặc biến thành một kẻ tội phạm.

Cảm ơn mẹ đã cho con sự sống.

Và cũng cảm ơn… vì đã góp phần lấy đi sự sống ấy.

Con trai mẹ,

Kẻ tội phạm.”

TG Văn Chương


 

Mastah Preddi Và Món Nợ Ân Tình Suốt 70 Năm

 My Lan Pham  

Mastah Preddi Và Món Nợ Ân Tình Suốt 70 Năm

Ông đã lang thang một mình suốt ba mươi mốt ngày trong khu rừng do quân Nhật kiểm soát sau khi máy bay bị bắn hạ. Đói khát. Mê sảng. Chỉ còn cách cái chết một bước chân.

Đến ngày thứ ba mươi hai, những giọng nói vang lên từ trong rừng cây.

Fred Hargesheimer khi ấy mới hai mươi bảy tuổi. Ông đang thực hiện một nhiệm vụ trinh sát trên Thái Bình Dương thì máy bay bị rơi xuống đảo New Britain. Suốt một tháng trời, ông lê bước trong rừng sâu, tin rằng bất kỳ âm thanh nào vang lên cũng có thể là điều cuối cùng mình nghe thấy.

Nhưng những giọng nói ấy không phải lính Nhật.

Đó là người Nakanai.

Và điều họ làm tiếp theo bất chấp nguy hiểm khủng khiếp đến tính mạng của chính họ là điều Fred dành bảy mươi năm còn lại của cuộc đời để cố gắng báo đáp.

Dân làng đưa ông về ngôi làng ven biển và bí mật che giấu ông. Quân Nhật treo thưởng cho bất kỳ phi công Đồng Minh nào bị bắt, đồng thời xử tử bất cứ ai dám chứa chấp họ. Người Nakanai hiểu rất rõ cái giá phải trả nếu bị phát hiện.

Nhưng họ vẫn cứu ông.

Fred khi ấy quá yếu để nuốt thức ăn rắn. Cơ thể ông gần như suy kiệt hoàn toàn. Rồi một người mẹ đang cho con bú tên Ida bước vào căn chòi nơi ông nằm và trong suốt mười ngày, bà đã dùng chính dòng sữa của mình để nuôi ông sống sót, trong khi vẫn tiếp tục cho đứa con nhỏ của mình bú.

Fred chưa bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi các toán lính Nhật tiến gần đến làng, sẽ có người thổi một chiếc vỏ ốc tù và giấu gần đó. Fred chỉ có vài giây để chạy trốn vào rừng. Và khi ông chạy trên cát với đôi giày nặng nề, những đứa trẻ trong làng lặng lẽ chạy theo phía sau tay cầm những chiếc chổi lá cọ nhỏ, quét sạch dấu chân ông trước khi lính Nhật xuất hiện.

Nếu chỉ một người trong số họ bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị thảm sát.

Nhưng không ai phản bội ông.

Lũ trẻ không phát âm được cái tên “Freddie”. Chúng gọi ông là “Mastah Preddi”. Ông Freddie. Fred sống cùng họ suốt bảy tháng.

Tháng Hai năm 1944, lực lượng biệt kích Úc đến được ngôi làng và gọi một tàu ngầm Mỹ tới đón. Trong một đêm không trăng, Fred chèo xuồng ra biển để gặp tàu ngầm, còn dân làng đứng lặng trên bờ nhìn theo. Có người kể rằng vài bà mẹ thậm chí còn muốn gửi con mình cho ông mang sang Mỹ hy vọng chúng sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn những gì chiến tranh để lại nơi đây.

Fred sống sót. Ông trở về bang Minnesota và xây dựng một cuộc đời bình thường.

Nhưng có một câu hỏi theo ông suốt quãng đời còn lại:

“Làm sao tôi có thể đền đáp họ đây?”

Năm 1960, mười sáu năm sau đêm chèo xuồng rời khỏi hòn đảo ấy, Fred quay trở lại New Britain một mình.

Khi con thuyền của ông tiến vào bờ biển, dân làng đứng thành hàng dưới ánh trăng.

Rồi họ bắt đầu hát bài tiếng Anh duy nhất mà họ biết:

“God Save the Queen.”

Fred bước xuống bãi cát và bật khóc.

Ông tìm gặp lại Ida. Ông gặp người con trai mà bà từng cho bú cùng lúc với việc cứu sống ông trong chiến tranh. Ông đi qua ngôi làng và nhìn thấy những đứa trẻ năm xưa từng quét dấu chân mình trên cát giờ đã trưởng thành, có con cái riêng.

Một nhà truyền giáo nói với ông rằng ngôi làng rất cần một ngôi trường.

Fred trở về Minnesota và bắt đầu gõ cửa từng nhà. Các nhóm nhà thờ. Hàng xóm. Những khoản quyên góp nhỏ được gom góp từ vô số cuộc trò chuyện. Đến năm 1963, ông quay lại New Britain và giúp xây dựng ngôi trường kiên cố đầu tiên cho ngôi làng.

Rồi ông tiếp tục quay lại. Hết lần này đến lần khác. Trường học. Thư viện. Một phòng khám y tế dần mọc lên tại chính ngôi làng từng che giấu một phi công Mỹ hấp hối ngay dưới mũi quân Nhật.

Cuối cùng, ông và vợ là Dorothy thậm chí rời nước Mỹ suốt bốn năm để sống hẳn ở đó dạy học cho trẻ em dưới chân núi lửa, cách quê hương họ hơn mười hai nghìn dặm.

Năm 2000, người Nakanai phong ông làm tù trưởng bộ tộc và trao cho ông danh hiệu “Suara Auru”.

“Chiến binh trưởng.”

Năm 2006, khi đã chín mươi tuổi, dân làng cõng ông băng qua rừng để ông có thể nhìn lại xác chiếc máy bay của mình lần cuối. Phần cánh gãy vẫn nằm dưới những tán cây nơi nó rơi xuống sáu mươi ba năm trước khoảnh khắc đã đưa một phi công trẻ hấp hối vào vòng tay của những con người chọn cứu ông, dù phải đánh đổi bằng chính mạng sống của họ.

Fred Hargesheimer qua đời năm 2010, hưởng thọ chín mươi bốn tuổi.

Những ngôi trường và phòng khám mà ông xây dựng vẫn hoạt động cho đến ngày nay. 


 

Người mẹ kéo sự sống suốt 300 dặm- Truyen ngan HAY

Nguyễn Hoàng Tuấn

Người mẹ kéo sự sống suốt 300 dặm

Có những câu chuyện không cần đến phép màu, bởi chính tình yêu đã là phép màu lớn nhất.

Mùa đông năm 1931, trên những cánh đồng khô cằn của Texas, người ta có thể bắt gặp một người phụ nữ trẻ gầy gò đang kéo theo một chiếc xe gỗ cũ kỹ. Trong xe là cô con gái sáu tuổi, quấn chặt trong những tấm chăn sờn cũ. Người mẹ ấy tên là Rosa Delgado. Cô mới 24 tuổi.

Bác sĩ đã nói với Rosa một sự thật tàn nhẫn: đứa bé bị nhiễm trùng xương nặng. Nếu không được phẫu thuật ở bệnh viện lớn tại San Antonio, con gái cô sẽ không còn sống được bao lâu nữa.

Khoảng cách giữa họ và hy vọng là gần 300 dặm.

Khoảng cách ấy ngày nay có thể được vượt qua bằng vài giờ lái xe. Nhưng với Rosa khi đó, nó là một hành trình gần như bất khả thi. Không xe hơi. Không tiền mua vé tàu. Không người thân để nhờ cậy.

Nhiều người sẽ gọi đó là ngõ cụt.

Nhưng tình mẫu tử không biết thế nào là ngõ cụt.

Rosa tự đóng một chiếc xe kéo bằng những tấm ván hàng rào cũ. Cô buộc một sợi dây vào phía trước, đặt con gái vào trong cùng vài chiếc chăn, một túi đậu khô, ít bánh tortilla và một chiếc cốc thiếc. Rồi cô bắt đầu bước đi.

Ngày thứ nhất.

Ngày thứ hai.

Ngày thứ mười.

Ngày thứ hai mươi.

Suốt 26 ngày liên tiếp, Rosa kéo chiếc xe từ lúc trời chưa sáng cho đến khi bóng tối phủ kín mặt đất. Gió lạnh cắt qua quần áo. Bão bụi quất vào mặt. Bàn tay cô rách toạc vì sợi dây thừng. Có những hôm máu thấm cả vào lòng bàn tay nhưng cô vẫn không dừng lại.

Bởi mỗi lần nghĩ đến việc nghỉ ngơi, cô lại nhớ rằng căn bệnh trong cơ thể Elena cũng không hề nghỉ ngơi.

Nó đang tiến dần về trái tim đứa trẻ.

Trên đường đi, lòng tốt của những con người xa lạ đôi khi xuất hiện như những đốm lửa nhỏ trong đêm tối. Một người nông dân cho nước uống. Một phụ nữ tặng ít sữa. Một công nhân đường sắt cho hai mẹ con trú gió trong nhà kho.

Nhưng phần lớn chặng đường, Rosa phải đối mặt với cô đơn, đói khát và nỗi sợ hãi.

Mỗi đêm, cô nằm co người bên cạnh chiếc xe kéo để chắn gió cho con. Nhiều lần giữa đêm, cô giật mình thức giấc chỉ để áp tai vào ngực Elena, kiểm tra xem con còn thở hay không.

Nỗi sợ lớn nhất của một người mẹ không phải là gian khổ.

Mà là mất con.

Đến ngày thứ hai mươi lăm, đôi giày của Rosa đã rách nát hoàn toàn. Cô phải quấn giẻ quanh chân để tiếp tục bước đi. Vai cô rớm máu vì dây kéo cọ xát liên tục. Elena sốt cao, mê man, lúc tỉnh lúc mê.

Nhưng Rosa vẫn bước.

Bởi phía trước còn có bệnh viện.

Và phía trước còn có cơ hội.

Ngày 4 tháng 12 năm 1931, sau gần 300 dặm đường, Rosa kéo chiếc xe qua cổng Bệnh viện Robert B. Green ở San Antonio rồi gục ngã xuống đất.

Các y tá chạy tới khi nghe tiếng gọi yếu ớt của Elena.

Ca phẫu thuật được thực hiện ngay trong ngày.

Sáng hôm sau, cơn sốt của cô bé đã giảm.

Elena mở mắt, xin một ngụm nước và nói với mẹ:

“Con thấy dễ thở hơn rồi.”

Có lẽ đó là câu nói đẹp nhất mà Rosa từng nghe trong đời.

Nhiều năm sau, Elena lớn lên, lập gia đình và có cuộc sống riêng. Bà vẫn đi hơi khập khiễng, như một dấu vết còn sót lại của cuộc chiến năm xưa.

Trong tang lễ của Rosa năm 1978, Elena nghẹn ngào nói:

“Mẹ tôi đã kéo tôi gần 300 dặm trên một chiếc xe gỗ. Mẹ không có gì ngoài một sợi dây thừng và quyết tâm rằng tôi phải được sống. Mỗi bước chân của mẹ là một bước chống lại tử thần. Tôi có mặt trên đời hôm nay vì mẹ đã không bao giờ dừng lại.”

Có những tượng đài được xây bằng đá.

Có những tượng đài được đúc bằng đồng.

Nhưng cũng có những tượng đài vô hình, được dựng nên từ những bàn tay chai sần, những bước chân rớm máu và tình yêu vô điều kiện của một người mẹ.

Chiếc xe gỗ năm ấy có thể đã cũ kỹ theo thời gian.

Nhưng câu chuyện về Rosa Delgado vẫn nhắc chúng ta nhớ rằng: sức mạnh lớn nhất trên thế giới không nằm ở cơ bắp, tiền bạc hay quyền lực. Sức mạnh lớn nhất là tình yêu của một người mẹ khi đứng giữa con mình và cái chết.

Sưu tầm.


 

CHẤM HẾT MỘT CUỘC TÌNH !- Bùi Mạnh Toàn – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

CHẤM HẾT MỘT CUỘC TÌNH !- Bùi Mạnh Toàn 

Sau bao nhiêu ngày nghĩ tới, nghĩ lui bữa nay ăn cơm xong chị nhẹ nhàng mở lời với anh:

“Chỉ còn nửa tháng nữa là hết hợp đồng nhà, em tính nói với anh dạo này em không khỏe, mình trả nhà rồi ai về nhà nấy… “

Anh giãy nảy lên: “ Em nói thế mà nghe được à! thằng này có phải con nít đâu mà vui thì ở, buồn thì đi”

Chị đành phải tung chiêu cuối cùng:

“ Em bị viêm gan siêu vi C, giờ nếu ở chung lây sang cho anh thì nguy hiểm lắm”.

Anh hoảng hốt:

“Ờ vậy thì đường ai nấy đi, còn tiền cọc tính sao?”

Chị cười buồn: “ Mai em về nhà em, anh cứ ở cho hết tháng rồi làm việc với chủ nhà, tiền cọc (thật ra là tiền của chị) anh cứ lấy mà tiêu”

Anh : “ ừ” nhẹ tênh! Vậy là chấm hết một cuộc tình.

Chuyện là vầy:

Nửa năm trước chị gặp anh ở câu lạc bộ dưỡng sinh. Cùng cảnh góa bụa nên cả hai dễ dàng tìm được tiếng nói chung.Tuy đã 60 tuổi nhưng trông chị vẫn trắng trẻo, đầy đặn, phúc hậu.

Anh hơn chị 5 tuổi nhưng vì chăm tập thể thao nên nhìn anh rất phong độ, đẹp trai. So với ông chồng già đã khuất của chị thì anh hơn hẳn, vừa chiều chuộng, vừa ga lăng.

Muốn hoa có hoa, muốn thơ có thơ. Facebook, Zalo, Viber suốt ngày tưng bừng, rộn rã. Ánh mắt lấp lánh của chị như ngầm công bố cho mọi người biết về quan hệ mới của hai anh chị.

Các con của chị đều rất thương mẹ nên vui vẻ tán đồng. Mấy người con của anh đã có gia đình riêng cũng không phản đối. Vẫn là đứa con gái mà chị coi như bạn đề nghị:

“Mẹ với bác đi thuê căn hộ ở chừng vài tháng xem sao, nếu hợp thì tiến tới, thông báo với họ hàng hai bên, làm một cái lễ nho nhỏ mẹ à! còn nếu không hợp thì thôi, cũng đỡ mang tiếng”

Vậy là chị bàn với anh rồi cùng đi thuê căn hộ nho nhỏ.Tiền cọc một tháng, tiền nhà 3 tháng chị trả hết vì anh nói số tiết kiệm của anh chưa tới kì hạn.

Ngay bữa cơm chung đầu tiên chị đã ngỡ ngàng! Anh ngồi cắm cúi ăn hết món này đến món khác, miệng thì sai chị liên tục.

Bữa cơm có một tiếng mà chị đứng lên ngồi xuống không biết bao nhiêu lần, lúc thì lấy ớt, lúc thì thêm mì chính, món thì bỏ thêm một chút đường… Sau đó vừa nhìn chị dọn dẹp bát đĩa anh vừa xỉa răng tanh tách và nói

“Vợ anh ngày xưa nấu ăn ngon lắm, em cố gắng xem sách dạy nấu ăn đi, anh là ngày phải ăn đủ ba bữa tươm tất, món ăn lúc nào cũng phải nóng sốt, không ăn lại đồ cũ được đâu em”.

Chị chạnh lòng nhớ đến chồng mình. Vì lớn hơn chị nhiều tuổi nên anh rất nhường chị, chị nấu gì anh ăn nấy, đến bữa cơm anh toàn gắp cho chị những món mới còn anh lẳng lặng ăn lại đồ ăn cũ từ bữa trước.

Mấy chục năm chung sống chưa khi nào anh đòi hỏi chị bất cứ điều gì.

Ngày nối ngày chị bắt đầu nuối tiếc cuộc sống yên ả trước khi gặp anh. Sáng làm biếng gặm trái bắp rồi coi phim bộ, trưa chiều gọi ông đi qua bà đi lại tô hủ tiếu, đĩa xôi cũng xong.

Còn giờ đây mới mở mắt ra chị đã phải tất tả ra chợ lo mua đồ ăn cho đủ 3 bữa tươm tất như lời anh dặn. Về nhà hì hụi, lọ mọ dưới bếp cả buổi, đến bữa thì ngồi như học sinh chưa thuộc bài chờ anh kiểm tra, ban phát những lời khen tặn tiện.

Con anh 3 đứa cộng 6 đứa cháu nội ngoại thường xuyên ghé chơi xem chị chăm anh như thế nào. Mỗi lần tới trẻ con thì la hét, bầy bừa người lớn thì ăn nhậu tới khuya.

Khách về chị rửa bát, dọn dẹp còn anh ôm cây đàn guitar ra ban công ngồi gảy. Ngày mới quen nhau chị mê đắm tiếng đàn của anh, ngồi hàng giờ ngắm mái tóc bồng bềnh của anh buông xõa xuống trán.

Giờ đây chị mỏi mệt, hững hờ đấm cái lưng nhức nhối vì suốt ngày phải hầu con, trông cháu người ta. (Chồng cũ chị không biết đàn, biết hát nhưng trong nhà từ việc lớn đến việc bé anh cặm cụi làm, lo cho chị hết)

Mới hơn 2 tháng chị đã phải tới nhà anh nấu 3 cái đám giỗ, rửa cả một nhà chén bát. Mấy cô em gái anh không hề phụ chị một chút nào mà còn ngồi thi nhau kể anh ngày xưa đẹp trai như thế nào, tài giỏi ra sao, bao nhiêu người đẹp hơn hoa hậu theo đuổi mà anh lại chọn chị, phúc ba đời nhà chị đó nên chị cố gắng mà lo liệu cho tốt.

Thỉnh thoảng hai đứa con chị đảo qua xem mẹ có khỏe không thì anh đi tới, đi lui nhìn đồng hồ ngầm nhắc chị sắp đến giờ nấu cơm. Chị biết ý nói với con lần tới mẹ con gặp nhau ở nhà riêng của chị, giờ chị vẫn đang để không, tranh thủ mỗi lần đi chợ chị ghé về tưới cây, nhổ cỏ, thắp nén nhang cho chồng đỡ quạnh hiu.

Mới hơn 2 tháng mà tiền để dành của chị vơi đi quá nhiều.Trước lúc mất chồng chị đưa cho chị 2 quyển sổ tiết kiệm hơn 2 tỉ.

Tiền lãi hàng tháng, tiền các con biếu thêm chị sống rất thoải mái, thỉnh thoảng còn đi du lịch đó đây.

Từ ngày quen anh đến giờ mọi chi phí chị phải lo, ngoại trừ tháng đầu chung sống anh góp 5 triệu tiền cơm, anh luôn nói là chờ đến hạn rút tiết kiệm anh sẽ đưa cho chị. Tiền giỗ chạp, tiền đóng học cho cháu anh chị cũng phải bỏ ra.

Chị chán lắm rồi, chị nản lắm rồi. Ngày khổ một thì đêm khổ mười. Anh thì còn đang hừng hực mà chị nào huyết áp cao, nào tiểu đường chị chiều anh không nổi. Mới vài ngày trước đây sau khi gần gũi anh dài giọng đay nghiến

“Em lúc nào cũng nằm như khúc gỗ ấy, chả bằng một góc vợ anh”.

Rồi anh lăn ra ngáy, còn chị cả đêm ra ban công ngồi ôm mặt khóc. Đến sáng chị quyết định bằng mọi giá phải về nhà cũ thôi.

Anh chị chia tay rất nhẹ nhàng! Giờ mỗi lần nhớ lại chị coi quãng thời gian gần 3 tháng ấy như một giấc mơ, có điều giấc mơ dù đẹp, dù xấu thì cũng phải tỉnh thôi.

Bùi Mạnh Toàn 

 


 

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa-Truyen ngan HAY

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa

09/05/2026

Phương Hoa

TG Phương Hoa nhận giải Chung Kết TG-TP VVNM từ nhà thơ Du Tử Lê và  Chủ khảo Trương Ngọc Bảo Xuân 

Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, “Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên,” tác giả đã nhận giải Chung Kết 2014, giải Trùng Quang 2018 và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Góp vào loạt bài đón mừng ngày Lễ Mẹ, tác giả kể lại một câu chuyện về tình mẹ con với kết thúc có hậu. 

***

 (Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi)

Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời.  Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than.  Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai.

Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt. Cô nào biết, sẽ có ngày mình phải hát khúc biệt ly trong khoảng cách giữa đại ngàn trùng điệp núi non và vực thẳm từ xứ sở văn minh.

Năm ấy, theo tiếng gọi của tình yêu và giấc mơ về một vùng trời tự do, Lũ cùng người yêu, Mịch, chàng thanh niên đẹp trai học thức, ngoan cường trong bản con của Già Làng khả kính, dấn thân vào cuộc vượt biên đầy bão táp để đi tìm tự do nơi đất nước Thái Lan. Họ theo một nhóm người đi bộ xuyên qua những cánh rừng già thâm u, nơi mà lân tinh của cái chết luôn rập rình trong từng lùm cây, ngọn cỏ. Đêm ở rừng biên giới lạnh thấu xương, tiếng thú dữ gầm vang hòa cùng tiếng bước chân đạp trên lá khô xào xạc, khiến kẻ lữ hành phải lạnh cả sống lưng. Đôi bàn chân Lũ rướm máu, đôi vai gầy run rẩy dưới những cơn mưa rừng xối xả, cô nắm chặt tay Mịch và bước theo anh, để mặc cho đám vắt đói bám vào người hút máu. 

Qua bao gian truân, trải nhiều khiếp hãi, cuối cùng nhóm người từ Bắc Việt Nam cũng đến được đất tự do. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã giáng một đòn chí mạng khi họ vừa chạm chân đến Thái Lan. Một tai nạn kinh hoàng trên cung đường tị nạn đã cướp đi sinh mạng của Mịch. Giữa lòng đất lạ, Lũ khuỵu xuống bên nấm mồ đất đỏ vừa đắp, tiếng gào khóc của cô tan loãng vào hư không. Người thanh niên duy nhất cô tin cậy đã vĩnh viễn nằm lại dưới tán rừng già, để lại một mình cô bơ vơ, tâm hồn vụn vỡ như mảnh gương tan.

Qua bao mùa xuân hạ vất vả khó khăn, bấy nhiêu lần nhìn trăng tròn rồi khuyết hồi họp đợi chờ, cuối cùng Lũ cũng đặt chân được đến Mỹ, định cư ở miền Bắc California. Với vốn tiếng Anh bằng không, Lũ như người mù đi trong ánh sáng. Cô chấp nhận làm công việc dọn dẹp lau chùi, do người nhà thờ giới thiệu, cho một gia đình giàu có gần bờ biển Berkeley.

Henry, người đàn ông Mỹ vừa ly dị vợ, mang vẻ ngoài lịch lãm nhưng ẩn chứa sự độc đoán. Sắc đẹp của bông hoa rừng núi đã lọt vào mắt xanh của người đàn ông này. Ông ta ép cô vào một mối quan hệ không hôn thú. Trong căn biệt thự lộng lẫy nhưng lạnh lẽo ấy, Lũ sống như một cái bóng, nhẫn nhục và câm lặng vì sự ngăn cách ngôn ngữ.

Hằng đêm, Lũ phải cắn răng chịu tủi nhục, bị hành hạ dục tình. Vì tuổi lớn ông ta luôn cần thuốc trợ lực nên việc ấy rất dẻo dai. Và Lũ bị bắt buộc đáp ứng, tuân theo những trò làm tình đầy quái đản không phải của con người, nếu không sẽ bị đánh đập. Cô luôn đuối sức gần như ngất đi sau mỗi cuộc truy hoan, nên thân thể cô ngày càng héo úa. Cộng với sự nhớ thương về Mịch, nhiều lần Lũ nghĩ quẩn, muốn bỏ cuộc đời.

Nhưng sau đó bé Kathy chào đời. Đứa trẻ là ánh sáng duy nhất, là sợi dây mỏng manh níu giữ cô với cuộc đời đầy ảm đạm. Một lần, nhân dịp đưa con đi dạo ngoài shopping mall, Lũ ghé vào một tiệm vàng người Việt. Với số tiền chắt chiu từ những giờ làm lụng vất vả, cô đặt làm hai sợi dây chuyền vàng 14 cara, mặt hình trái tim giống hệt nhau. Trên mặt mỗi trái tim ấy là dòng chữ khắc rất đẹp: “Kathy – Lũ”.

“Mẹ đeo một sợi, con đeo một sợi. Sau này dù có lạc mất nhau, nhìn thấy trái tim này, con sẽ biết mẹ vẫn luôn ở bên con”. Lũ thì thầm vào tai bé, dù nó chẳng hiểu một chữ tiếng Việt.

Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, vì bi kịch xảy ra. Khi Kathy lên sáu, Henry chán chường vì sự im lặng chịu đựng và ngày càng tàn tạ của Lũ.  Ông ta đưa một người đàn bà Mỹ về nhà và nhẫn tâm đuổi cô ra khỏi cửa.  Cay đắng hơn, ông dùng quyền lực và tiền bạc để tước đoạt quyền nuôi con, dứt bé Kathy ra khỏi vòng tay mẹ.

Vì không biết tiếng Anh, Lũ không thể kêu cứu, không thể ra tòa. Cô chỉ biết hằng ngày sau khi đi làm về lại đến rình rập bên hàng rào sắt, với đôi mắt đỏ hoe nhìn qua khe lá để được thấy bóng dáng con thơ đang chạy nhảy hoặc ngồi xích đu trong sân.

Một chiều hoàng hôn tím ngắt, khi Lũ đang cố với tay gọi tên con qua kẽ hở, Henry bất ngờ lao ra. Trên tay ông ta là khẩu súng đen ngòm, họng súng lạnh lùng dí thẳng vào trán cô.

“Cút đi, hoặc tôi sẽ bắn nát đầu cô!”  Tiếng thét của ông ta vang lên như sấm sét. “Từ bây giờ, nếu gặp cô ở đây lần nữa là tôi sẽ bắn!”

Lũ hoảng loạn bỏ chạy rớt cả dép, đôi chân trần đạp trên sỏi đá bên đường chảy máu, trái tim cô như bị xé toạc khi tiếng khóc xé lòng của Kathy vọng lại phía sau:

“Mommy! Mommy! Don’t go! I want mommy!” Mẹ ơi! Mẹ ơi! Đừng đi! Con muốn mẹ!

Dù trong sự sợ hãi tột cùng và nỗi nhớ thương con đến cháy cả tâm can, Lũ cũng quyết định rời bỏ California, trốn chạy sang Arizona theo lời khuyên của một người bạn mới quen vừa từ Cali dọn qua đó, để bảo toàn mạng sống, ôm theo lời thề sẽ có ngày trở lại tìm con.

Tại Arizona, Lũ tìm việc làm rồi lao vào học như một kẻ điên. Đêm về, cô thức trắng với những cuốn từ điển dày cộm, nước mắt rơi nhòe cả những trang sách y khoa.  Cô hiểu rằng, chỉ có tri thức và việc làm ổn định trong xã hội mới giúp cô cơ hội tìm lại con gái.

Mười bảy năm ròng rã, Lũ từ người đàn bà không biết một chữ tiếng Anh bẻ đôi đã trở thành một LVN (Y Tá Điều Dưỡng) làm việc tận tụy trong bệnh viện. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, hình bóng bé Kathy với sợi dây chuyền hình trái tim vẫn là một vết thương chưa bao giờ khép miệng. Mỗi khi thấy những người mẹ bế con trong bệnh viện, lòng cô lại quặn thắt.  

Cuối cùng, Lũ xin được việc làm tại bệnh viện Summit Medical Center Bắc Cali, và dọn về thành phố cũ, chấp nhận đối mặt với quá khứ đau thương để tìm lại máu mủ của mình. Lần mò đến nhà xưa, Lũ theo dõi nhiều ngày không thấy bóng dáng người chồng cũ độc ác ra vào, mà chủ nhân là những người lạ mặt. Thì ra ông ta đã đổi chỗ dời nhà, lòng cô đau như cắt, không biết tìm con nơi nào. Từ đó Lũ làm việc và sống vất vưởng như kẻ không hồn. 

Ba năm sau, trong một đêm trực khuya tại bệnh viện, sau nhiều ngày làm việc quá sức và nỗi nhớ con bào mòn sức lực, khi ra về Lũ ngất xỉu ngay tại hành lang. Khi tỉnh lại, ánh đèn trắng của phòng cấp cứu làm Lũ chói mắt nên vội nhắm lại ngay. Một bàn tay ấm áp đang nắm chặt lấy tay cô, và một giọng Mỹ run run cất lên:

“Bà ơi… bà tỉnh rồi sao?”

Lũ lờ mờ hé mắt và thấy một cô gái Mỹ trẻ tuổi, tóc vàng xinh đẹp trong chiếc áo blouse trắng tinh khôi đang ngồi nhìn cô với ánh mắt kinh ngạc đến khó tả, đôi môi thì run rẩy. Một người nam y tá trẻ bước vào hỏi: “Bác sĩ, nhịp tim bệnh nhân đã…”

Chưa nói hết câu, anh ta bỗng khựng lại, nhìn vào mặt người bác sĩ và kêu lên: “Chuyện gì đang xảy ra vậy, bác sĩ?

Lũ lật đật ngồi hẳn dậy, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên, nhìn chăm chăm vào người bác sĩ ngồi bên cạnh giường, tay còn đang nắm chặt tay cô. Trên khuôn mặt vô cùng xinh đẹp ấy có những giọt nước mắt đang lăn xuống, lấp lánh dưới ánh đèn. Lũ vội nhìn lên bảng tên trên áo vị bác sĩ: “Kathy Williams M.D. – Attending Physician”

 Lũ há hốc miệng, mắt trợn tròn, người run lẩy bẩy vội chỉ tay vào cái bảng tên, lắp bắp: “Ka…thy! Cô… là…Kathy?”

“Yes! Mẹ… ơi! Con là Kathy đây!” Kathy nói trong nghẹn ngào, xong thò tay vào trong cổ áo, lôi ra sợi dây chuyền mặt trái tim có khắc chữ, “Kathy – Lũ” và nói tiếp.  “Con nhận ra nó trên cổ mẹ khi kích tim làm cấp cứu cho mẹ. Con rất nhớ mẹ nên giữ kỹ sợi dây chuyền này đến tận bây giờ, vì con tin mẹ sẽ quay về tìm con… Con vẫn còn nhớ như in ngày bố chỉa súng đuổi mẹ đi.”

Lũ sững sờ không thốt nên lời. Cô ôm chầm lấy con gái, tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa giữa phòng cấp cứu yên tĩnh. Hai mảnh ghép của trái tim sau gần hai thập niên xa cách đã khớp lại hoàn hảo. Bác sĩ Kathy cũng bật khóc lớn trước sự ngỡ ngàng của người y tá, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lên bàn tay gầy guộc của Lũ. Cô hít một hơi dài. Mùi hương tóc con, hơi ấm của con, những thứ Lũ đã hằng đêm mơ thấy suốt hai chục năm qua, giờ đây đà hiện hữu. Nỗi đau của rừng thiêng bão tố, họng súng lạnh lùng của Henry, sự thương nhớ Kathy, và những đêm trắng học hành vất vả… tất cả đều tan biến trong khoảnh khắc này.

Dưới ánh đèn neon sáng rực, hai trái tim yêu thương – mẹ hiền và con gái – đã chạm vào nhau, lấp lánh một tình yêu bất diệt. Lũ hiểu rằng, sau bao “trận lũ” của cuộc đời, cuối cùng cô cũng đã tìm thấy bến đỗ bình yên nhất: Đó chính là vòng tay của con gái Kathy…

 Phương Hoa