CHỒNG ĐIÊN – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

 CHỒNG ĐIÊN

Đó là đêm mưa bão, chị bị sốt, anh chạy ngược chạy xuôi lo cho chị. Nửa đêm, nhắm tình hình không ổn, mặc trời mưa gió, anh bế chị vào viện. Vừa chạy vừa kêu tên chị mãi, không có tiền, vay mượn mãi chỉ đủ cho chỉ nằm trong một ngày. Sáng hôm sau, anh phải đi bán máu để có tiền mua thuốc cho chị. Những ngày chị bệnh, anh phải một tay kiếm tiền, một tay nấu cháo, thuốc thang cho chị. Để có tiền anh phải làm việc nhiều hơn trong tình trạng mệt mỏi vì thức khuya dậy sớm và bán máu. Ngày chị lành bệnh , cũng là ngày anh ngục ngã.

Anh bị ngã xe trên đường về vì hoa mắt. Tai nạn đó không lấy đi sinh mệnh của anh nhưng lấy đi của chị rất nhiều nước mắt khi anh trở thành một đứa trẻ lên ba. Anh không biết gì cả, thích cười thích khóc, không hiểu mình đang nghĩ gì. Nghe tin anh bệnh như thế , cả nhà chị tìm mọi cách tác động tới chị để chị bỏ anh mà về sống với gia đình. Không nhẫn tâm bỏ anh lại một mình, chị bị gia đình mình bỏ rơi. Không còn cách nào khác, chị đành cùng anh sống trong căn nhà lạnh lẽo. Chị đành bán đi miếng đất sinh nhai của hai vợ chồng để lấy tiền chữa trị cho anh. Chạy hết bệnh viện này tới bệnh viện khác, bệnh anh vẫn không khỏi.

Không còn cách nào khác, chị đành gửi anh vào bệnh viện tâm thần. Một tuần sau, nước mắt chị lại trào ra khi nhìn thấy anh đứng trước nhà gọi chị. Dù anh đang là đứa trẻ lên ba nhưng anh vẫn nhớ đường về nhà tìm chị.

Chị rụng rời chân tay ôm anh khóc không thôi.

Chị thề với lòng sẽ không đưa anh đi đâu cả.

Chị siết lấy anh cứ như sợ anh lại biến mất.

Vậy là từ đó, chị đâu anh ở đó. Anh ăn rất khỏe dáng người cao to. Nhìn đằng sau cứ như tràn trề sinh lực, nhưng chỉ khi nói chuyện với anh, mọi người mới vỡ lẽ.

Mỗi ngày sáng sáng anh lại gánh giỏ cá ra chợ cho chị bán, xong rồi lại đi lang thang. Đúng 11h anh lại đến gánh về cho chị. Anh hiền lành, thấy ai làm gì nặng cũng nhào vào giúp nên mọi người ở chợ rất thương. Họ vẫn thường cho anh bánh trái, ai khá hơn thì dúi cho chút tiền. Anh đều bỏ vào bọc, dành cho chị tất.

Mọi người đùa với anh gì anh cũng chỉ cười giả lả. Nhưng ai đó không biết lỡ lời gì tới chị là anh sẵn sàng cho người đó một cú đấm. Có lần, anh nổi cơn đánh một người bán sống bán chết chỉ vì người ấy khen chị xinh. Chỉ đến khi chị đến ôm anh, anh mới thôi.

Ở cái chợ này, chả ai dám tranh chỗ bán với chị cả, vì mỗi lần có cãi nhau với chị hay là giành khách, anh cũng đều có mặt, đứng che chị lại, tay lăm lăm thanh gỗ sẵn sàng ăn thua với họ.

Ai cũng ngán ngại, họ bảo chấp chi thằng điên nên họ bỏ qua điều đó.

Rồi ba chị sinh tật uống rượu. Ngày càng nghiện, ông mất. Được tin chị khóc ngất, thấy chị khóc, anh cũng ôm chị vào lòng và khóc theo. Khóc xong, chị dẫn anh ra tiệm vàng bán sợi dây chuyền mà anh tặng khi quen cưới nhau. Thấy chị tháo sợi dây, anh giật lại. Anh biết chị rất thích nó nên không muốn cho chị bán. Chị cười buồn, bán để cho má làm đám ma ba, sau này anh đi làm mua cho em cái khác lớn hơn, đẹp hơn. Anh mới chịu buông tay cười cười theo chị. Từ đó, anh chỉ đem cái bánh, chai nước về cho chị chứ không hề thấy đưa chị tiền.

Không biết tại vì không uống thuốc hay lý do gì mà dạo này anh lại có thêm bệnh động kinh. Mỗi lần lên cơn co giật lại sùi bọt mép. Hết cơn anh lại đập phá những ai đứng gần đó, nhưng khi chị ôm anh vào lòng, anh đều trở lại bình thường. Người ta khuyên chị cho anh vào viện. Bác sĩ bảo anh đã chuyển sang tâm thần nặng, phải đưa vào khu cách ly. Chị đành nói dẫn anh đi chơi. Đưa vào đó anh cứ khóc, ôm chầm lấy chị, chị cũng ôm chặt anh, mãi chị mới buông anh ra được. Nước mắt chảy dòng, chị phải cố chạy thật nhanh để không nghe tiếng anh gọi.

Tháng nào chị cũng xuống thăm anh. Chẳng làm gì cả cứ nhìn anh , khóc đã đời rồi về. Anh cũng vậy gặp chị là đòi về. Nhiều lúc chị cũng muốn đưa anh về lắm nhưng không thể.

Rồi một ngày, bệnh viện thông báo anh đã mất vì trong một lần lên cơn anh đã đập đầu vào tường.

Họ bảo trước lúc mất anh luôn miệng gọi tên chị. Chị ngất lên ngất xuống .

Hôm làm thủ tục chôn cất anh. Chị được bệnh viện đưa túi đồ của anh, bên trong toàn là hình của chị. Dưới những bộ đồ có một cái hộp, trong đó có một sợi dây chuyền bạc cùng tờ giấy anh ghi nguệch ngoạc tên chị.

Nước mắt chị chảy ròng…, nhớ người chồng điên!

Fb Lão Ngoan Đồng


 

Người mẹ bỏ con gái 12 tuổi trong rạp chiếu phim rồi biến mất

My Lan Pham 

Người mẹ bỏ con gái 12 tuổi trong rạp chiếu phim rồi biến mất… Sự thật phía sau khiến cả thế giới xúc động

Một người mẹ đưa cô con gái mười hai tuổi vào một rạp chiếu phim ở Paris.

Bà mỉm cười và nói:

“Con cứ ngồi xem phim nhé. Mẹ sẽ quay lại trước khi bộ phim kết thúc.”

Cô bé Marie Claude ngoan ngoãn gật đầu.

Bộ phim kết thúc. Đèn trong rạp bật sáng. Khán giả lần lượt ra về.

Cô bé vẫn ngồi đó, chờ mẹ.

Nhưng người mẹ đã không bao giờ trở lại.

Không phải vì bà bỏ rơi con.

Mà bởi ngay sau khi rời khỏi rạp, bà lao đi để cảnh báo các đồng đội trong lực lượng Kháng chiến rằng Gestapo đang chuẩn bị bao vây họ.

Bà không đến kịp.

Gestapo đã bắt chính bà trước.

Người phụ nữ ấy là Odette Fabius.

Sinh năm 1910 trong một gia đình Do Thái lâu đời tại Pháp, bà hoàn toàn có thể chọn cách im lặng để bảo toàn tính mạng dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc xã.

Nhưng bà đã chọn con đường nguy hiểm hơn.

Tháng 11 năm 1941, Odette gia nhập mạng lưới tình báo Réseau Alliance, bí mật chuyển những thông tin quân sự quan trọng cho Anh quốc.

Tháng 4 năm 1943, bà bị bắt, bị giam biệt lập, bị tra khảo, nhưng tuyệt nhiên không tiết lộ bất cứ điều gì.

Đầu năm 1944, bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück cùng hàng nghìn nữ tù nhân khác.

Số tù nhân của bà là 27393.

Giữa cái lạnh cắt da, sự đói khát và những hàng rào thép gai, Odette vẫn không từ bỏ hy vọng.

Bà tìm cách vượt ngục.

Ba ngày sau, bà bị bắt lại.

Theo những lời kể còn được lưu truyền, hình phạt dành cho bà là năm mươi roi giữa sân trại trước sự chứng kiến của các nữ tù nhân khác.

Bà không hề kêu một tiếng.

Người ta kể rằng khi viên cai ngục hỏi vì sao bà có thể chịu đựng được như vậy, bà chỉ bình thản đáp:

“Tôi là người Pháp.”

Sau đó, bà tiếp tục bị biệt giam trong phòng tối rồi chuyển đến khu trừng phạt khắc nghiệt nhất của trại.

Đầu năm 1945, khi sức khỏe gần như suy kiệt, bác sĩ Anne Spoerry đã bí mật che giấu bà trong bệnh xá, giúp bà tránh khỏi những đợt tuyển chọn tù nhân đưa đi tử hình.

Tháng 4 năm 1945, chỉ ít ngày trước khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc, Hội Chữ thập đỏ đã đưa bà sang Thụy Điển điều trị.

Bà hôn mê gần một tháng rồi dần hồi phục.

Sau chiến tranh, Odette sống thêm bốn mươi lăm năm, viết hồi ký, được trao nhiều huân chương cao quý của nước Pháp và trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm.

Còn cô bé Marie Claude ngày nào cũng sống sót qua chiến tranh cùng cha mình.

Nhiều năm sau, khi được hỏi liệu mẹ mình có nên mạo hiểm như thế hay không, bà chỉ mỉm cười và nói:

“Mẹ tôi không thể sống theo cách nào khác. Đó chính là con người của bà.”

Có những người sống rất lâu nhưng dần bị lãng quên.

Có những người ra đi từ rất lâu, nhưng lòng dũng cảm của họ vẫn sống mãi.

Odette Fabius là một trong những con người như thế.

#MyLanPham #OdetteFabius #LịchSử #ThếChiếnThứHai #Pháp #Ravensbruck #PhụNữPhiThường #LòngDũngCảm #KhôngBaoGiờLãngQuên 


 

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi…Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam.                                    

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

24 Tháng 6, 2026

Cô giáo không chồng nhận nuôi hai anh em mồ côi, khi trở thành Phi Công người mẹ ruột quay trở lại đưa 10 triệu tiền lệ phí mong nhận lại con…

Cô giáo Lan năm ấy đã ngoài ba mươi, vẫn sống một mình trong căn phòng tập thể cũ của trường vùng ven. Lương giáo viên ít ỏi, bữa cơm chỉ đủ đạm bạc, nhưng lòng cô thì chưa bao giờ cạn yêu thương.

Một chiều mưa tầm tã, trên bậc thềm trạm y tế xã, cô Lan nhìn thấy hai bé trai sinh đôi quấn chung một tấm áo mỏng, khóc khàn cả giọng. Bên cạnh chỉ có mảnh giấy nhàu nát: “Nhờ ai đó nuôi giúp, tôi không đủ khả năng…”

Cô Lan bế cả hai lên, tim thắt lại. Từ giây phút ấy, cuộc đời cô rẽ sang một lối khác.

Cô đặt tên cho hai em là Minh và Nam. Sáng cô đi dạy, trưa tranh thủ về nấu nồi cháo lớn, chiều lại dắt hai đứa ra ngã tư bán vé số. Những đêm mất điện, ba mẹ con ngồi học dưới ánh đèn dầu leo lét. Minh học giỏi Toán, Nam mê Vật lý và luôn hỏi cô:

— “Cô ơi, sao máy bay lại bay được?”

Cô Lan mỉm cười, xoa đầu:

— “Vì có ước mơ nâng nó lên.”

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, máy bay và văn bản

Nhiều năm trôi qua, Minh và Nam lớn lên trong tiếng rao vé số, trong những buổi phụ hồ cuối tuần, và trong những trang sách mượn từ thư viện trường. Cô Lan chưa từng mua cho mình chiếc váy mới, nhưng tiền học của hai con thì chưa bao giờ thiếu.

Ngày Minh và Nam đậu vào trường đào tạo phi công, cô Lan khóc suốt đêm. Đó là lần đầu tiên cô cho phép mình tin rằng: hi sinh rồi sẽ có ngày nở hoa.

Mười lăm năm sau, tại sân bay rộn ràng ánh đèn, hai chàng phi công trẻ trong bộ đồng phục chỉnh tề đứng đón một người phụ nữ tóc đã bạc nhiều. Cô Lan run run nhìn hai con, còn chưa kịp nói gì thì phía sau có một người đàn bà khác bước tới.

Bà ta tự nhận là mẹ ruột của Minh và Nam. Bà kể về những năm tháng túng quẫn, về quyết định bỏ con trong nước mắt. Cuối câu chuyện, bà đặt lên bàn phong bì 10 triệu đồng, nói là “tiền chi phí nuôi nấng ngày xưa”, rồi xin được nhận lại con.

Sân bay bỗng lặng đi.

Minh khẽ đẩy phong bì lại, giọng bình tĩnh nhưng dứt khoát:

— “Chúng tôi không nhận.”

Nam tiếp lời, mắt đỏ hoe nhưng không run:

— “Mẹ sinh ra chúng tôi, nhưng người nuôi chúng tôi thành người là cô Lan.”

Hai anh em quay sang nắm tay cô giáo, rồi đưa ra quyết định cuối cùng:

“Chúng tôi sẽ làm thủ tục pháp lý để cô Lan là mẹ hợp pháp của chúng tôi. Từ hôm nay, mọi phụng dưỡng, yêu thương, và danh phận làm mẹ — chỉ dành cho một người.”

Người phụ nữ kia bật khóc, còn cô Lan thì òa lên trong vòng tay của hai “đứa trẻ” năm nào. Ngoài kia, một chiếc máy bay rẽ mây cất cánh.

Có những người mẹ không sinh ra con — nhưng chính họ đã cho con đôi cánh để bay cả cuộc đời.


 

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung – Truyen ngan HAY

Mẹ tôi – Tác giả Từ Dung

April 2, 2019 

*** Tác giả Từ Dung là con gái út Nhà Văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long (1907-1948) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn

Tôi không biết phải bắt đầu ra sao khi viết về mẹ tôi, vì có rất nhiều điều để nói. Cũng có thể dưới con mắt chủ quan, tôi nghĩ bà là một trong những người phụ nữ phương Đông tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Người mẹ dịu hiền mà tôi được may mắn biết đến, với đầy đủ những đức tính về công, dung, ngôn, hạnh của một người đàn bà Á Đông, đã hy sinh cả một cuộc đời mình cho chồng, cho con và cho những nghĩa cử từ thiện ngoài xã hội với nụ cười luôn trên môi cùng chiếc răng khểnh duyên dáng.

Công, Dung, Ngôn, Hạnh

Về mặt dung nhan, vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm của mẹ tôi đã hơn một lần làm rung động những người phái nam có địa vị quan trọng trong nhiều lãnh vực xã hội. Bà cao dong dỏng, thân hình đều đặn thanh tú, nước da mịn màng trắng trẻo, dáng đi yểu điệu và uyển chuyển, khuôn mặt trái soan, cặp mắt hơi hiếng (lé kim), mơ màng nhưng sâu sắc, miệng cười duyên dáng với chiếc răng khểnh và cặp môi đầy đặn. Tôi có đọc vài cuốn sách viết về mẹ tôi với những lời mô tả thiên lệch bắt nguồn từ những ghen ghét nhỏ mọn. Những người viết này cố tình hạ thấp dung nhan, phẩm hạnh của bà vì đố kị nên những người từng được tiếp xúc với bà vô cùng bất mãn vì những dối trá trắng trợn đó. Theo ý một số những người có dịp tiếp xúc với bà, bà là một trong những người đẹp và hợp thời trang nhất tại Hà Nội vào những thập niên 1930-40. Ngay cả về sau, khi đã trên bốn mươi tuổi và có bốn người con lớn, bà vẫn là một phụ nữ có vẻ đẹp sang trọng và thanh lịch có tiếng ở Sài Gòn.

Tôi còn nhớ, trong lúc ở giá để nuôi các con ăn học thành tài, mẹ tôi đã từ chối khéo léo và khiêm nhượng những người đàn ông theo đuổi bà và về sau họ vẫn quý mến và nể phục tư cách của mẹ tôi. Một trong những người này đã qua đời đã giữ lòng thương quý mẹ tôi ngay cả khi bà đã tạ thế. Khi ra đi nước ngoài, ông gửi thơ về nhờ tôi đặt lên mộ mẹ tôi một bó hồng đỏ thắm mỗi tuần lễ, như ông vẫn thường làm trước khi ra đi!

Mẹ tôi đã từ chối tất cả những người đàn ông đến sau, vì trong trái tim của bà chỉ có hình bóng của một người yêu duy nhất, đó là ba tôi, Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long.

Về công, tức là tài năng khéo léo, ít có người phụ nữ nào có tài nấu nướng những món ăn Việt cũng như Pháp tuyệt xảo như mẹ tôi. Nào canh bóng, vây, bào ngư, nấm nhồi giò, chả nem rán, bánh chưng gói, món Tây thì súp legume, bò hầm đậu, cua phá xi…

Các ngày giỗ chạp, tiệc rượu linh đình, một mặt mẹ tôi nấu ăn và chỉ dẫn cho người giúp việc, một mặt tiếp đãi khách với nụ cười hiền thục trên môi. Ai cũng phải mến yêu bà. Chị Thu tôi đã lớn thì giúp một tay, còn tôi bé út nhất nhà (cách anh Lân đến 9 tuổi) chỉ chạy chơi và chực ăn trứng luộc trên bàn thờ!

Sau này mẹ tôi mở tiệm Chả Cá Thăng Long (1959) ở đầu đường Phan Thanh Giản. Tiệm rất đắt khách và là một trong những tiệm ăn sang trọng thanh lịch và ngon lành tinh khiết nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Về ngôn, khoa ăn nói, mẹ tôi ăn nói nhã nhặn, điềm đạm và nhu thuận, lúc nào cũng giữ vẻ bình tĩnh. Bà cũng dạy các con phải ăn nói đàng hoàng. Ngoài phái nam ra, phái nữ cũng thương mến bà, bạn bè và các bà cô, dì hai bên họ đều tìm đến bà khi hoạn nạn, nhưng cũng có một số nhỏ đem lòng ganh tị và tìm cách bôi nhọ thanh danh bà.

Về phẩm hạnh, không ai có thể chối cãi rằng mẹ tôi là một phụ nữ đảm đang, hy sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con mà không hề phàn nàn, than vãn.

THỜI THƠ ẤU CỦA MẸ TÔI BA MẸ TÔI GẶP GỠ NHAU

Sinh ra trong một gia đình quý phái, trưởng giả, mẹ tôi lại có những đức tính đơn giản, tốt bụng hay thương người. Ông ngoại tôi làm tham tá công chánh dưới thời Pháp thuộc, bà ngoại tôi là một mệnh phụ đài các nhưng khôn ngoan, biết quản lý tài sản của ông tôi, biết tiết kiệm. Mẹ tôi lại là con một nên được lo toan rất chu đáo, quá chu đáo đến nỗi mẹ tôi cảm thấy ngộp thở. Bà ngoại tôi tính tình độc đoán, muốn chồng con phải phục tùng theo cách sinh hoạt của bà. Thậm chí mẹ tôi chỉ được quyền chơi những đồ chơi bà ngoại cho phép. Mẹ tôi kể lại rằng một lần ông ngoại lén cho mẹ một con búp bê mà mẹ tôi thích, khi bà ngoại biết được, bà lập tức vứt đi. Mẹ tôi khóc và nhớ mãi chuyện ấy. Bà ngoại rất yêu mẹ tôi, nhưng cụ vẫn giữ tính khắc nghiệt đó nên có những đụng chạm cãi vã không thể tránh được giữa hai mẹ con.

Khi ba mẹ tôi gặp gỡ nhau, họ bị tiếng sét ái tình đánh choáng váng. Một bên cảm vì sắc, một bên mến vì tài. Ba tôi tuy ít nói, nhưng có lối châm biếm khôi hài thật duyên dáng và sâu sắc đã chinh phục được trái tim trong trắng của mẹ tôi. Tính cách khôi hài này được thể hiện trong tập “Trước vành móng ngựa”. Mối tình của ba mẹ tôi là nguồn hứng khởi của mối tình của Duy và Thơ trong “Con đường sáng”. Là một phụ nữ có tâm hồn nhạy cảm và chịu ảnh hưởng phong trào văn hóa mới vì mẹ tôi theo học trường Pháp và tốt nghiệp trường Pháp, bà thông cảm và hỗ trợ chí hướng phi thường của ba tôi, người đã từ chối chức tri huyện khi tốt nghiệp cử nhân luật, sau lại bỏ chức biện lý vì chống lại tòa án Pháp thuộc ngày đó. Điều này thể hiện trong tác phẩm “Trước vành móng ngựa”.

Phải là một phụ nữ phi thường mới thấu hiểu và tôn trọng một tâm hồn phi thường như ba tôi, và mới hy sinh tuổi xuân sắc để giúp đỡ chồng một cách đắc lực trong quá trình tranh đấu cho dân tộc và đất nước.

Lần đầu khi đi xem mắt mẹ tôi tại tòa biệt thự của bà ngoại tôi ở bãi biển Sầm Sơn, ba tôi đã bị tiếng sét ái tình. Mối tình đẹp như thơ đó đã bị cả hai bên gia đình phản đối, bên nội vì lý do bà nội tôi không chuộng gia đình trưởng giả, bên ngoại vì không cho là đủ môn đăng hộ đối. Nhưng ba mẹ tôi đã vượt thắng tất cả để tìm đến nhau và lập gia đình!

MỘT CUỘC HÔN NHÂN ĐẦY HY SINH VÀ CHIA LY

Chị cả tôi, chị Minh Thu, ra đời năm 1934, là tác phẩm đầu tiên của sự kết hợp tuyệt vời đó. Năm kế là anh Nguyễn Tường Ánh và cách một năm nữa là anh Nguyễn Lân. Ba mẹ tôi những tưởng anh Lân là con út rồi vì lúc đó ba tôi rất ít khi ở nhà, ông đã bị quay vào guồng máy thời cuộc lúc ấy. Khi ba tôi bị bắt, bị tra tấn tại sở mật thám và sau bị đi đày ở Vụ Bản, Chân Lạp Sơn, mẹ tôi rất lo buồn và đi lại tiếp tế nhiều lần. Tháng Tám, 1946, ba tôi cầm đầu phái đoàn hòa giải, trong đó có cả người của Việt Nam Quốc Dân Đảng, của bên Việt Minh, và có nhân viên bộ Công Chính là kỹ sư Đỗ Xuân Dung để xem tình hình nước lụt ở Việt Trì (ngã ba sông Hồng Đào) và ba tôi bị bắt. Khi được thả ra, ba tôi sang Trung Hoa gặp gỡ bác Nguyễn Tường Tam và các anh em khác. Thời gian đó mẹ tôi thường xuyên mang vật phẩm và tiền bạc sang tiếp tế cho ba tôi và các anh em khác. Ngoài ra, một tay bà lo dạy dỗ các con, chăm sóc mẹ già và cũng một tay bà lo toan hỗ trợ người chồng cách mạng lưu vong nơi xứ người. Phụ nữ như thế không phải ở thời đại nào cũng có!

Ba mẹ tôi lúc ấy như Chức Nữ Ngưu Lang, chẳng được thường xuyên gặp gỡ nên mỗi lần trùng phùng thật quý giá vô cùng! Tôi là kết qủa của một trong những lần gặp gỡ đó. Ba tôi gởi thư về dặn mẹ nếu là con gái thì đặt tên Từ Dung, con trai thì Duy hoặc Giản. Như vậy Từ Dung là tên cúng cơm của tôi chứ không phải tên hát xướng đặt theo một nhân vật khác! Từ Dung có nghĩa là hình Dung giống mẹ, vì ba tôi lúc nào cũng tưởng nhớ mẹ tôi.

Tôi ra đời ngày 30 tháng Mười năm 1946 tại Hà Nội trong tình thương yêu của cả nhà. Ba tôi vẫn ở biền biệt bên Trung Hoa nên chẳng thấy mặt tôi, chỉ nhận được tin tức qua thư tín gia đình.

Lần gặp gỡ cuối cùng của ba mẹ tôi năm 1948 tại Hongkong rồi sau đó ba tôi bị một cơn đau tim tạ thế trên đường đi xe lửa về Quảng Châu, lúc đó tôi được 19 tháng. Được tin sét đánh, mẹ tôi phải lo tiền bạc quay trở lại chôn cất ba tôi tại Quảng Châu. Hiện nay không còn biết mộ phần nằm đâu nữa vì các nấm mồ đều bị khai quật dưới chế độ Cộng Sản!

Kể từ đó, mẹ tôi ở vậy nuôi con cho đến khi các con khôn lớn. Bố con tôi chỉ biết nhau qua hình ảnh thư từ. Tôi được nghe kể lại về ba tôi qua lời nói của mẹ, của anh chị và của cậu tôi, Như Phong Lê Văn Tiến.

Tôi nghĩ rằng tôi được thừa hưởng óc khôi hài châm biếm của ba tôi, cũng như dòng máu văn chương chảy cuồn cuộn trong tim óc!

Tại Hà Nội, gia đình tôi sống tại đường Lý Thái Tổ, Hàng Vôi. Trường Hàng Vôi là ngôi trường đầu tiên trên con đường học vấn của tôi. Năm 1990, trước khi rời Việt Nam, tôi ghé thăm ngôi nhà gia đình và ngôi trường thơ ấu. Ngôi nhà xinh đẹp hai tầng có cây bàng trước sân giờ đây ngăn ra cho tám hộ ở, phòng ngăn bằng vải rideau. Bàn thờ tổ tiên vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng chỉ còn một ông lão còn nhớ về nguồn gốc căn nhà.

Trở lại năm 1954, chúng tôi rời căn nhà thân yêu lên đường vào Nam trên một chiếc phi cơ quân đội. Tôi mới có 8 tuổi nên chỉ nhớ là mẹ tôi vội trở lại miền Bắc để thanh toán mấy căn nhà ở Hà Nội của bà tôi và gom tiền bạc để sinh sống trong Nam. Lúc đó sắp sửa đóng cửa ra vào hai miền nên các anh chị, tôi lo lắng sợ mẹ tôi bị kẹt lại Hà Nội.

Khi mẹ về, chúng tôi hết sức mừng rỡ. Chúng tôi tạm ở chia với họ hàng bên ngoại một căn nhà đường Đặng Dung, Tân Định. Đó là thời gian đẹp nhất của đời tôi! Mẹ con, anh chị em đoàn tụ yêu mến nhau. Tôi ở tuổi bắt đầu ý thức được tình cảm quý báu của gia đình. Ý nguyện của tôi là anh chị em tôi sẽ trở lại quây quần như thời đó!

Khi đến học lớp Tư trường Huỳnh Thị Ngà thì tôi gặp khó khăn với cô giáo Nam Kỳ với giọng đọc chính tả mới lạ. Tôi có đến mười lỗi trong bài “Lạc vào rừng” vì tôi không hiểu gì cả. Các bạn chế nhạo accent Bắc kỳ và gọi tôi “Bắc kỳ ăn rau muống”. Đó là bài học đầu tiên của tôi về kỳ thị địa phương dạy tôi sau này chống lại mọi thứ kỳ thị trên cõi đời này!

ĐỜI SỐNG TẠI SAIGON

Cùng lúc ấy, mẹ tôi mở tiệm phở và chả cá Thăng Long trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, sau chuyển về tiệm chả cá Thăng Long trên đường Phan Thanh Giản. Sau này ngẫu nhiên quán cà phê nhạc Từ Dung của tôi mở năm 1978 cũng lại tọa lạc trên con đường Trần Quang Khải và người hầu bàn trưởng tại chả cá Thăng Long tên là anh Tư lại trở thành người pha cà phê chính của quán Từ Dung.

Tiệm chả cá Thăng Long do họa sĩ Nguyễn Gia Trí trang hoàng có một vẻ Á Đông trang nhã với những chiếc cột đỏ, những tấm bình phong và hình vẽ đặc biệt Việt Nam rất mỹ thuật. Một tấm tranh dân gian của Phạm Tăng treo dọc cả bức tường trong căn phòng riêng của quán. Bức tranh này sau tôi bị một tay văn sĩ hạng b, c gì đó lừa lấy mất!

Căn nhà mẹ tôi mua rộng lớn, một bên mở tiệm, còn một bên gồm năm phòng để gia đình tôi ở. Tiệm luôn đông khách tấp nập và các danh nhân, nghệ sĩ như Mặc Thu, Nguyễn Hoạt, bác Nhất Linh, Chu Tử thường xuyên đến ăn chả cá. Thế nhưng vấn đề tài chính không mấy khả quan vì mẹ tôi quá tốt bụng, luôn nuôi ăn ở và trả lương cho 6,7 người giúp việc nên tiền vào tuy khá nhưng ra cũng lắm. Mẹ tôi không bao giờ từ chối mở hầu bao giúp cho những người đến cầu cứu gia đình tôi!

Lúc đó chị Minh Thu, anh Tường Ánh lập gia đình nhưng lúc đầu anh Ánh vẫn ở chung với mẹ tôi. Các anh chị có gia đình riêng nên không còn gần gũi nhau như xưa. Tôi cảm thấy mẹ buồn nhưng không biết an ủi mẹ ra sao, chỉ biết rúc vào lòng mẹ. Khi anh Ánh và vợ dọn đi ở riêng trong một căn nhà mẹ mua cho anh, tôi được thừa hưởng căn phòng trống cạnh phòng anh Lân. Trước mặt hai căn phòng là một sân cement nhỏ trồng vài cây cảnh như cây trúc đào, cây mận sai trái vì tôi chôn xác con mèo dưới gốc cây.

Đằng sau phòng tôi là một cây trứng cá trái mọng nước và rất ngọt. Căn phòng này đã ghi một ấn tượng sâu đậm về thời thơ ấu của tôi sống êm đềm trong tay mẹ hiền. Có phòng riêng rồi nhưng tôi vẫn đòi ngủ với mẹ để được hít mùi da thịt của bà, thơm mùi nước hoa Guerlain và mùi phấn. Tôi cũng đòi mẹ ngâm thơ Kiều hoặc hát quan họ cho nghe như lúc còn bé tí. Cũng vì vậy mà tôi rất thuộc Kiều và những bài thơ ru em. Mẹ tôi yêu nhạc Đông phương nhưng cũng mê nhạc cổ điển Tây phương, nên khi mẹ mất, gia đình tôi mở nhạc Bach và Beethoven bên quan tài để hương hồn mẹ tôi về thưởng thức, thay vì giọng ê a của các vị sư hay kinh của các cha cố!

Sau này mẹ tôi bắt đầu gặp khó khăn về tài chính nên phải bán đi một số nữ trang. Lúc đó là đầu thập niên 1960, quân đội Mỹ đổ sang Việt Nam nên mẹ tôi theo trào lưu cũng dẹp tiệm chả cá và cho Mỹ thuê một bên nhà để mở nhà hàng có âm nhạc tên là Kontiki. Đêm nào tôi cũng được nghe tiếng đàn hát vọng sang từ bên nhà hàng của ban nhạc Đăng Tiến, thỉnh thoảng tôi cũng sang hát chơi những bản như Autumn leaves, A very precious love, Mona Lisa….

(Ảnh: Bà Hoàng Đạo)

Tôi khoảng 16 tuổi, tuổi đầy mộng đẹp và bắt đầu mơ đến tình yêu!

Mấy năm sau mẹ tôi bán căn nhà rộng lớn đường Phan Thanh Giản và mua căn nhà nhỏ hơn có ba phòng ngủ và một căn gác ở Ngã năm bình hòa đường Chu Văn An. Nhiều người ngăn cản bà mua căn nhà này vì nó nằm cuối ngõ cụt và có mộ phần đằng sau nhà nên theo địa lý rất xấu. Không biết có phải là mê tín không mà sau này mẹ tôi bị ung thư nặng và chết tại nhà đó, bà ngoại tôi cũng chết theo ở tuổi 98 vì quá đau đớn, mẹ tôi là con duy nhất của cụ, cậu tôi Như Phong Lê văn Tiến bị bắt giam cũng ở đó, gia đình vợ chồng tôi thì phân tán, chia ly. Năm Mậu Thân 1968 nơi này là tử địa của tàn quân Việt Cộng, sau khi VC thất bại trong trận tổng công kích Saigon đã rút lui về nơi đây. Ngôi nhà chúng tôi bị đạn bắn từ máy bay xuống lỗ chỗ đầy những vết đạn, cũng may là khi cả khu phố bốc cháy như một con rồng lửa thì bỗng dừng lại khi tới nhà chúng tôi. Thật là một phép lạ!

Tôi giúp mẹ, bà ngoại và hai mẹ con bác giúp việc chạy khỏi nhà, chân phải chạy lung tung tránh xác VC nằm đầy ngõ và tránh tầm đạn của hai bên bắn nhau. Một ông hỏi ông khác «ai đánh ai?», ông kia trả lời «quân mình đánh quân ta»!

Từ lúc đó mẹ tôi bị ung thư bên cánh tay trái và căn bệnh kéo dài tới năm 1975 thì mẹ tôi mất. Người y sĩ đã hết lòng chữa chạy cho mẹ là bác sĩ Trần Ngọc Ninh, một người bạn thân của gia đình. Hai bác sĩ khác của gia đình tôi là bác sĩ Phan Huy Quát và bác sĩ Kỳ Quan Thân.

Cánh tay xinh đẹp, nuột nà, trắng bóc của mẹ tôi chỉ để đeo những nữ trang qúy giá nay đã bị cắt đi đến hai lần, và sau cùng căn bệnh quái ác đã ăn vào tủy sống làm mẹ hôn mê trong 24 tiếng đồng hồ trước khi từ gĩa cõi đời. Trước khi bị hôn mê, căn bệnh ăn vào tủy làm bà thấy mọi vật nhuộm muôn màu muôn sắc.

Không có gì diễn tả nổi nỗi đau đớn của người mắc bệnh ung thư. Lầu 5 của viện ung thư ở Gia Định phải rào lại vì nhiều người trong cơn đau đã nhảy xuống tự vận. Trong khoảng cuối cùng của cuộc đời đầy hy sinh, chịu đựng, đau đớn, bà vẫn tiếp tục làm phước, giúp người. Bà bảo trợ cho một số người bị ung thư trong viện, trong số đó có một anh binh sĩ trẻ, đẹp trai như Alain Delon. Anh bị ung thư xương chân, chỉ trong vài tháng là từ trần. Mẹ tôi, lúc đó đã phải dùng tới codein cho bớt đau và bò lết dưới đất rên la, cũng vẫn lo cho anh trong những ngày chót của cuộc đời anh!

Tại sao một phụ nữ hiền hậu như mẹ tôi và có lòng thương người lại phải chịu một số phận đớn đau như vậy? Khi mẹ tôi chết đi, bà không bám víu vào một niềm tin tôn giáo nào cả vì bà không tìm thấy đức tin nơi cuối đời. Lúc gần chết, bà cảm thấy hoang mang…

Khi nhìn ngắm xác mẹ trong chiếc áo trắng tôi mặc cho bà và cành hoa lan trắng trước ngực bà, tôi mới ý thức được nỗi mất mát lớn lao đến thế nào. Đã quá muộn để chiều chuộng mẹ, để nói rằng mẹ ơi con yêu mẹ, để cám ơn bà cho tôi đời sống hôm nay và niềm tin ngày mai.

Có một con bướm trắng bay quanh quan tài của mẹ nhiều lần trước khi hạ huyệt, có phải chăng linh hồn mẹ muốn từ giã các con lần cuối?

Từ Dung xin thay mặt người quá cố cũng như các anh chị gửi lời cám ơn anh Sơn con của cô Thế đã lo việc rải tro xuống biển cho bà và mẹ chúng tôi tại Việt Nam để linh hồn bà và mẹ chúng tôi được siêu thoát và xin Chuá ban phước lành cho anh và gia đình anh.

Chấm hết

TỪ DUNG


 

BÀN TAY CHA – TG: VÔ DANH – Truyen ngan HAY

 BÀN TAY CHA – TG:  VÔ DANH

(Kính gửi đến những người Cha, những người lính quân lực VNCH anh hùng)

Bàn Tay Cha

Father’s Day lại về trên đất Mỹ. Trong các cửa hàng, người ta bày bán những tấm thiệp in hình chiếc cà vạt, cây gậy golf, chiếc ly có dòng chữ “World’s Best Dad”. Nó đứng lặng giữa những kệ hàng rực rỡ ấy, và không hiểu sao mắt bỗng thấy cay cay. Bởi trên đời này, không một tấm thiệp nào vẽ nổi đôi bàn tay của cha nó.

Đôi bàn tay ấy, đã có một thời cầm súng.

Nó không được tận mắt thấy những năm tháng cha nó khoác áo lính, nhưng nó biết — trong những bức hình cũ ố vàng, người sĩ quan trẻ đứng nghiêm dưới lá cờ vàng 3 sọc đỏ, ánh mắt sáng và sống lưng thẳng như cây tùng. Cha nó thuộc về một thế hệ mang lý tưởng giữ gìn miền Nam, một thế hệ chọn chữ “trách nhiệm” làm lẽ sống. Rồi tháng Tư năm ấy, đất trời sụp đổ. Người ta bắt cha nó buông súng, và cũng từ đó, bắt luôn cả tuổi xuân, cả tự do của người cha.

Cộng sản đày cha nó ra tận Sơn La — cái tên mà mỗi lần cha nó nhắc đến, giọng cha nó lại chùng xuống như có gì đó vĩnh viễn nằm lại nơi ấy. Rừng thiêng nước độc, nơi sương mù phủ kín đỉnh núi quanh năm, nơi muỗi rừng và sốt rét rình rập từng thân người. Hơn 9 năm trong những trại tù mà họ gọi bằng cái tên mỹ miều “cải tạo”. 9 năm đôi bàn tay từng quen với bản đồ và quân lệnh phải cuốc đất, phá rừng, gánh đá.

Cha nó kể,  phần ăn mỗi ngày chỉ là vài củ sắn sượng, một nắm hột bắp mốc, mà bụng thì cồn cào như có lửa đốt. Đói đến mức người tù phải nhặt cả những đọt rau rừng, con cào cào, con dế mèn để cầm hơi. Đói đến mức có người bạn tù của cha nó, ăn cả trái bả đậu để vượt qua cơn đói, sáng còn gọi nhau dậy đi lao động, chiều đã không gượng nổi mà nằm xuống sàn cầu xí vì cơn tiêu chảy hành hạ sau khi ăn trái bả đậu, tối đến người bạn tù mắt nhắm lại giữa cơn sốt rét cuối cùng. 

Và chính đôi bàn tay cha nó — đôi bàn tay từng cầm súng giữ nước — đã cầm lấy chiếc cuốc, lặng lẽ đào huyệt chôn người đồng đội ngay bên triền rừng âm u ấy. Không một vòng hoa. Không một tiếng kèn. Chỉ có nắm đất đỏ và những giọt nước mắt nuốt ngược vào trong, vì khóc lớn cũng là một thứ xa xỉ mà người tù không được phép. Cha nó bảo, mỗi lần lấp đất cho một người bạn, là một lần cha nó tự hỏi không biết ngày mai có ai lấp đất cho mình. Vậy mà cha nó vẫn sống. Vẫn gắng sống. Bởi ở quê nhà, có một người vợ và một đàn con đang ngày đêm ngóng đợi.

Cha nó trở về với mái tóc đã điểm bạc trước tuổi, với đôi bàn tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn không hề van xin ai một điều gì. Ngày về, không có quân hàm, không có chức phận, chỉ còn một người chồng, một người cha với đàn con nheo nhóc và một mái nhà dột nát. Và thế là đôi bàn tay từng cầm súng, từng đào huyệt chôn bạn nơi rừng sâu ấy, nay ghì lấy càng chiếc xe xích lô.

Mười năm trời. Nó nhớ lại — mười năm còng lưng trên chiếc yên xe, dưới cái nắng miền Nam chói chang như đổ lửa. Mười năm tấm lưng cha nó gò xuống, ướt đẫm mồ hôi, từng thớ thịt căng ra đạp ngược những con dốc giữa trưa hè bỏng rát. Mặt đường nhựa nóng đến mức bốc hơi, hắt lên rát cả mặt người. Cha nó đạp xe dưới mưa, dưới nắng, đạp từ tờ mờ sáng đến khi đèn đường đã lên.

Người đời nhìn cha nó, họ thấy gì? Họ thấy một thằng cu li đạp xích lô. Một gã phu xe đen đúa, áo rách lưng còng, một kẻ tay chân đen đúa không một mảnh giấy lận lưng. Có những người khách ngồi ngoảnh lưng lại cha nó mà chẳng buồn nhìn mặt, có kẻ còn buông lời sai khiến, mặc cả từng đồng như mặc cả với một thân phận thấp hèn. 

Họ đâu biết — họ đâu thể biết — người phu xe đang gò mình kéo họ đi kia từng là một sĩ quan đứng thẳng dưới lá quân kỳ, từng chỉ huy cả một đơn vị, từng đọc sách thánh hiền và mang trong tim một lý tưởng lớn hơn cả mạng sống mình. Cái nhìn khinh miệt của người đời, cha nó nuốt vào lòng như đã từng nuốt ngược nước mắt nơi rừng Sơn La. 

Cha nó chẳng bao giờ thấy nhục. Bởi mỗi đồng bạc lẻ cha nó mang về, nhàu nát và thấm mồ hôi, là một bữa cơm, là một quyển vở, là một ngày con được tiếp tục đến trường. Người lính ngày xưa không gục trong trại tù, thì nay cũng quyết không để đàn con thất học giữa cảnh nghèo.

Rồi cánh cửa nước Mỹ mở ra theo diện nhân đạo. Cánh cửa mà cha đã trả giá bằng cả 9 năm tù đày. Nó cứ ngỡ sang đến miền đất hứa, cha sẽ được nghỉ ngơi. Nhưng không. Ở cái tuổi lẽ ra phải an dưỡng, cha nó lại lao vào những nhà xưởng, đứng dây chuyền, bưng bê, lau dọn, với đồng lương tối thiểu và thứ tiếng Anh chắp vá.

Nó không bao giờ quên những buổi sáng mùa đông xứ người. Trời còn tối đen, tuyết phủ trắng xóa, cái lạnh cắt da cắt thịt mà người miền nhiệt đới như cha nó chưa từng quen. Cha nó lái chiếc xe cũ kỹ mua lại bằng những đồng tiền dành dụm — chiếc xe già nua đến mức mỗi sáng phải khấn vái mới chịu nổ máy. Rồi có những đêm tuyết giá, trên con đường vắng tanh, chiếc xe ấy chết máy giữa đường, nằm ì ra như một con vật kiệt sức. 

Cha nó đứng đó, một mình giữa trời tuyết, hai bàn tay tê cóng run rẩy lật từng nắp máy, hơi thở phả thành khói trắng, trong lúc cái lạnh thấu xương và bóng đêm vây quanh. Cha nó về đến nhà, đôi tay đỏ ửng nứt nẻ, nhưng vẫn mỉm cười bảo với nó: “Không sao, ba quen rồi.”

Khi ấy nó đâu hiểu hết hai chữ “quen rồi” ấy nặng đến nhường nào. Cha nó già đi từng ngày trong im lặng, chẳng một lời than. Tất cả, chỉ để anh em  nó được bước vào giảng đường đại học — nơi mà chính cha đã phải bỏ dở vì chiến cuộc, vì tù tội, vì cả một đời dâng hiến cho những điều lớn hơn bản thân mình.

Và rồi cái ngày ấy đã đến. Ngày nó đứng trên bục, đội chiếc mũ tốt nghiệp, tay nâng tấm bằng đại học danh giá. Nó đưa mắt tìm cha giữa đám đông. Cha nó ngồi đó, trong bộ áo vest đã cũ, đôi bàn tay chai sần đặt lên đầu gối. Và lần đầu tiên trong đời, nó thấy người lính ấy khóc. Những giọt nước mắt lăn trên gò má hằn vết thời gian — không phải nước mắt của yếu đuối, mà là nước mắt của một đời người cuối cùng đã thấy hạt giống mình gieo trong gian khó nở thành hoa.

Trong giây phút ấy, nó chợt hiểu ra một điều mà nó sẽ mang theo đến hết cuộc đời. Người đời có thể gọi cha nó là thằng cu li đạp xích lô. Người đời có thể bảo cha nó là kẻ dốt nát, không một tấm bằng. Nhưng họ đã lầm. Tấm bằng nó đang cầm trên tay đây, ghi tên nó, nhưng không phải của nó. Nó là tấm bằng của xương máu pha lẫn mồ hôi & nước mắt người cha. Bao nhiêu năm nó đèn sách, là kết tinh của mấy mươi năm cha nó còng lưng dưới nắng. Cái mũ tốt nghiệp nó đội trên đầu, được dệt nên từ những đêm cha nó run rẩy giữa trời tuyết. 

Cái học vị cao nhất ở xứ người mà nó đạt tới ấy, thật ra chính là học vị của một người cha chưa từng được ngồi giảng đường — người đã viết luận án của đời mình không phải bằng mực, mà bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng cả máu thịt mình suốt mấy mươi năm. Cha nó không có bằng cấp, nhưng cha đã tốt nghiệp trường đời với tấm bằng cao quý nhất: tấm bằng của lòng hy sinh.

Người ta thường nói đến những vị anh hùng trong sử sách. Nhưng với nó, anh hùng là người đã nhiều lần đứng dậy từ đống tro tàn của đời mình — là người lính giữ nước, là người tù đào huyệt chôn bạn mà vẫn không gục ngã, là người phu xe mười năm còng lưng nuôi con giữa những lời khinh miệt, là người công nhân già lặng lẽ giữa trời tuyết xứ người — mà chưa một lần để lòng tự trọng và tình thương phai nhạt.

Cha nó là người lính trọn đời không phản bội lời thề với tổ quốc. Là người chồng chưa một ngày buông tay người vợ tào khang giữa cơn hoạn nạn. Là người cha đã đem cả cuộc đời mình lót đường cho các con đi tới.

Mùa Father’s Day này, nó không còn được mua tấm thiệp nào cả. Nó chỉ còn biết cúi đầu, quỳ xuống trước mộ người cha và lặng lẽ thốt lên: 

“Con cảm ơn cha”

-Father Day 2026-

From: Tu-Phung


 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM – Truyen ngan

Thái Bá Tân Vt 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM.

Trích đoạn truyện ngắn: (NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TẮM) của Thiết Ngưng (chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc) về cách mạng văn hóa Mao ít.

… Một ngày mùa thu năm 1966, Khiêu mới là học sinh lớp 1, được dự đại hội phê đấu rất ồn ào náo loạn diễn ra ở sân trường …

Cứ từng đợt từng đợt học sinh lại giơ cánh tay non nớt, từng đợt từng đợt hô rất mạnh mẽ những khẩu hiệu như: “đả đảo con đĩ Đường Tân Tân” là cô giáo của trường, dạy toán bậc trung học phổ thông. Khiêu còn nghe những bạn nam bàn luận ở phía sau, chẳng nhẽ cô giáo ấy lại là một con đĩ sao?

Cô giáo Tân bị mấy nữ học sinh dẫn lên sân khấu, trước ngực viết mấy hàng chữ bằng mực đen: “Tôi là một con đĩ”… dòng chữ làm Khiêu ghê người, trong ý niệm của cô bé, con đĩ không chỉ là xấu xa mà còn là xấu xa nhất trong những người xấu xa, xấu hơn cả địa chủ, nhà tư bản. Khiêu nghĩ không hiểu một người lớn lại tự nhận “tôi là một con đĩ” nhỉ ?

Cô giáo Tân chừng 30 tuổi, da trắng, người gầy, quá gầy và trắng, cắt tóc ngắn và sống mũi cao, trông như một cây tăm… Cô đúng là một cây tăm mà không phải là cây dương liễu, bởi trông cô mảnh mai nhưng cứng rắn, cô như cây tăm cắm trên mặt bàn, mấy nữ học sinh lớp trên cứ xô đẩy nhưng cô vẫn không chịu quì mà cũng không cúi đầu… Khiêu có phần đồng tình với cô giáo Tân bởi cô đẹp. Đẹp, chỉ thế thôi.

… chợt có một phụ nữ trạc tuổi trung niên mặc áo cánh xẻ tà mầu mỡ gà lên sân khấu, xỉa xói vào cô giáo Tân:

– “Gọi mày là con đĩ oan ức lắm à? tao hỏi mày, mày đã lấy chồng chưa? Mày chưa bao giờ lấy chồng, mày chưa lấy chồng mà đã có con, thế thì mày ngủ với ai? khai thật ra”.

Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên:

“Mụ Tân phải khai ra! không khai thì thầy giáo và học sinh cách mạng sẽ không tha!”…

Một học sinh nam lớn tuổi đi vòng ra phía sau cô giáo Tân đạp mạnh vào khuỷu chân cô giáo, cô giáo “hự” lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống. Cả sân trường hoan hô, vậy là cái cô giáo chết cũng không chịu quỳ đã bị bọn học sinh lớn khuất phục. Đại hội phê đấu tiếp tục, mấy giáo viên trẻ thay nhau lên phát biểu, chỉ trích gay gắt cô giáo Tân đã giấu giếm chuyện quan trọng trong cuộc sống riêng, lừa dối để được đồng nghiệp tin tưởng, nhà trường tín nhiệm, học sinh tin yêu. Các em học sinh hãy nghĩ xem, một sự việc ghê tởm biết chừng nào, một phụ nữ suy đồi về đạo đức, tác phong xấu xa như thế mà có thể là cô giáo… Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên: – “Mụ Tân phải cút khỏi trường, không cút thì những người kế tục sự nghiệp cách mạng của nhà trường sẽ không tha!”… “còn nữa, hàng xóm của mụ còn phản ánh, ở trường mụ Tân giả bộ giản dị, ở nhà thì sống theo lối sống của giai cấp tư sản, mụ nuôi mèo, đối với mèo còn tốt hơn đối với người, có hôm mụ ta dám ngồi ngoài sân ôm con mèo, hôn hít nó! trời đất ơi, hôn mèo!”

Cả sân trường cười ồ lên, tiếp theo là khẩu hiệu tỏ ra phẫn nộ hơn: “đả đảo con đĩ Tân Tân”

Những cái xấu của cô giáo Tân càng nói càng nhiều, chỉ bắt cô quỳ nghe khẩu hiệu thôi thì chưa đủ. Nhất là khuôn mặt gầy, trắng trẻo kia tỏ vẻ đối địch, nhất định không nói điều gì càng làm cho những người trên sân khấu thêm phần nộ khí xung thiên. Một học sinh nam lớn tuổi gí ngay chiếc giầy lính hắn đang đi vào mặt cô giáo và nói:

–  “Mèo của giai cấp tư sản mày còn hôn, chẳng nhẽ mày không hôn giầy của giai cấp vô sản hay sao!”

Hắn vừa nói vừa gí giày vào mặt cô giáo. Một nữ sinh đến gần ấn đầu cô giáo xuống, bắt cô áp miệng vào chiếc giày của thằng kia; rất nhiều cái chân cùng giơ ra, bắt cô giáo phải áp miệng vào những chiếc giầy đầy bụi bẩn.

Cả sân trường sôi sục, trên sân khấu người đứng lố nhố. Học sinh ngồi dưới cũng không trật tự nữa, chúng xô đẩy, có đứa trèo lên ghế, có đứa chen nháo nhào lên sân khấu để xem cho rõ…

Bỗng có mùi thối, không hiểu ai đã đem đến 1 ca phân. Chỉ nghe có tiếng nói:

– “Quá lắm, mụ Tân không chịu hôn giầy của chúng ta, mồm mụ chỉ xứng đáng ăn cứt! Đúng, đúng… bắt mụ phải khai thành thật , không khai phải ăn cứt!”

Phân xuất hiện làm cả sân trường trật tự trở lại, mùi thối làm mọi người ngơ ngác. Đúng là phân được đựng vào ca uống nước đưa lên sân khấu đã kích thích dây thần kinh sâu nhất trong cơ thể con người. Sức uy hiếp của phân đã lên đài như thế.

Những người chen đến sát sân khấu bỗng lùi lại, những người đứng trên ghế ngồi cả xuống. Giống như một vở diễn, bắt đầu mở màn người xem còn nhốn nháo, khi vở diễn đến hồi gay cấn thì mọi người cùng chăm chú thưởng thức. Bắt cô giáo ăn phân có thể là hồi gay cấn của đại hội phê đấu này.

Ca phân đặt trước mặt cô giáo Tân, chỉ cách cô chừng 1 mét. Vẫn khuôn mặt trắng trẻo. Mọi người chờ cô khai báo thành thật, vì cớ gì mà không nói…

Trái tim Khiêu như có ai bóp chặt, nó cứ mong cho cô giáo nói ngay ra, như thế cô giáo không phải ăn phân. Nhưng nhiều người không nghĩ như Khiêu, bon họ không muốn cô giáo khai báo. Khi mọi người phải lựa chọn khai báo và ăn phân thì bọn họ muốn không phải là thấy người kia khai báo, mà muốn thấy người đó ăn phân.

Cô giáo không nói mà cũng không chịu ăn. Lúc này có 1 một thằng học sinh lớn đến nói với cô giáo Tân:

– “Nếu mụ không chịu khai báo, không chịu ăn cứt thì chúng ta còn có cách khác, lẽ nào quần chúng cách mạng  lại chịu thua con đĩ này, chúng ta điệu đứa con gái của mụ lên đây cho mọi người thấy, cho mọi người trông thấy đứa con gái của mụ, bằng chứng cho hành động đĩ thõa tội lỗi của mụ ta”.

Cô giáo Tân không còn giữ nổi bình tĩnh nữa. Khiêu thấy cô lê bằng đầu gối đến trước ca phân, cô không chờ cho tiếng hò hét đinh tai nhức óc của bọn người kia tắt đi mà đi đến quyết định dứt khoát, để lại cho Khiêu một ấn tượng suốt đời không thể quên. Cô giáo quì gối bưng ca phân lên, nhìn vào trong ca một lúc, rồi trước mặt mọi người, đưa lên ăn…

Khiêu về nhà, việc đầu tiên là đánh răng súc miệng, tưởng như phải dùng hết ống kem đánh răng. Đánh răng làm Khiêu nôn ọe, nôn ọe rồi lại đánh răng. Đánh răng xong, Khiêu đưa nhẹ cái bàn chải vào họng cho nôn thốc nôn tháo. Khiêu nôn ra thức ăn, cuối cùng là nước nhờn. Nôn xong lại đánh răng, hai tay bịt mũi bịt miệng, bịt thật chặt, hà hơi thật mạnh. Rồi Khiêu cũng yên tâm trong miệng mình sạch sẽ, sạch như kem đánh răng. Khiêu lấy khăn lau miệng, lau đi lau lại, miệng đỏ lên, bật cả máu, đau cả miệng… Khiêu ở trong nhà vệ sinh rất lâu…

(Copy từ: Lê Tích).


 

Chỉ là một sinh mạng. Chỉ là một đứa trẻ.

My Lan Pham 

Vào lúc 0 giờ 30 phút rạng sáng ngày 11 tháng 7 năm 2022, Nick Bostic, 25 tuổi, đang lái xe trên những con đường gần như vắng lặng của thành phố Lafayette, bang Indiana. Anh vừa cãi nhau với bạn gái và đang trải qua một trong những đêm mà người ta chỉ muốn lái xe để suy nghĩ. Cửa kính xe hạ xuống, không có điểm đến cụ thể.

Rồi anh nhìn thấy một ngọn lửa nhỏ bốc ra từ một ngôi nhà trên phố Union.

Anh phanh gấp. Lùi xe lại. Rẽ vào lối dẫn vào nhà. Anh không mang theo điện thoại. Anh cố ra hiệu cho một chiếc xe đang đi ngang qua, nhưng không ai dừng lại. Anh chạy tới cửa sau ngôi nhà và hét lớn:

“Có ai ở trong nhà không? Có ai ở đây không?”

Khi lên tới giữa cầu thang, anh tìm thấy họ: một cô gái 18 tuổi tên là Seionna Barrett, một em bé 20 tháng tuổi, hai bé gái 13 tuổi và một bé gái 6 tuổi. Giữa sự hoảng loạn, khói và hỗn loạn, anh đã đưa được một số người ra sân sau an toàn trước.

Nhưng rồi Seionna bắt đầu nhìn quanh với vẻ tuyệt vọng. Khuôn mặt cô tái nhợt.

Cô không tìm thấy Kaylani, em gái mình. Bé mới sáu tuổi. Bé vẫn còn mắc kẹt bên trong.

Lửa đã lan rộng. Ngọn lửa giờ đây có thể nhìn thấy từ nhiều cửa sổ. Khói đen cuồn cuộn bốc ra khỏi ngôi nhà. Nick nhìn vào bên trong thêm một lần nữa rồi quay lại lao vào.

Anh lục tìm từng căn phòng, vừa gọi tên Kaylani. Khói dày đặc đến mức không thể nhìn thấy bàn tay trước mặt. Nhiệt độ nóng đến nghẹt thở. Có lúc anh đã nghĩ đến việc nhảy qua cửa sổ để thoát thân khi vẫn còn cơ hội.

Rồi anh nghe thấy tiếng khóc.

Tiếng khóc của một đứa trẻ.

Ở tầng dưới.

Trong phòng khách.

Một trong những khu vực nguy hiểm nhất của ngôi nhà.

Anh kéo áo thun che mặt rồi tiến về phía âm thanh. Anh nằm rạp xuống sàn và bò qua làn khói dày đặc. Cuối cùng anh tìm thấy cô bé.

Kaylani Barrett.

Sáu tuổi.

Một mình trong bóng tối.

Lúc này, việc xuống cầu thang đã không còn khả thi. Lựa chọn duy nhất là quay trở lên tầng trên, tìm một cửa sổ và nhảy xuống. Anh bế Kaylani tới một căn phòng rồi đập vỡ kính bằng chính nắm tay trần của mình. Máu chảy dọc cánh tay. Chân cô bé bị mắc vào dây kéo rèm cửa. Anh buộc mình phải giữ bình tĩnh, nhẹ nhàng gỡ ra trong khi ngôi nhà vẫn đang bốc cháy xung quanh.

Anh đặt Kaylani vào tư thế có thể bảo vệ cô bé nhiều nhất có thể rồi nhảy từ tầng hai xuống.

Cú tiếp đất rất mạnh.

Cánh tay phải của anh bị rách sâu.

Cơ thể bị bỏng.

Anh hít phải lượng lớn khói độc đến mức phải nhập viện.

Các sĩ quan cảnh sát thành phố Lafayette tới nơi đúng lúc anh rơi xuống. Camera gắn trên người họ ghi lại cảnh Nick loạng choạng bước tới, trao Kaylani cho người khác, rồi gục xuống vỉa hè và liên tục hỏi chỉ một câu:

“Con bé có ổn không? Làm ơn nói với tôi rằng con bé ổn.”

Kaylani chỉ bị thương nhẹ.

Cả năm người đều sống sót.

Nick được chuyển khẩn cấp tới bệnh viện trong tình trạng nghiêm trọng. Phổi của anh bị tổn thương. Cánh tay phải được băng bó kín. Nhưng anh đã sống sót.

Anh không muốn được gọi là anh hùng.

Anh nói với các phóng viên rằng mình chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm; rằng nếu chính anh bị mắc kẹt trong một ngôi nhà đang cháy, anh cũng hy vọng người đi ngang qua sẽ làm điều tương tự.

Năm 2023, Nick Bostic được trao Carnegie Medal, một trong những phần thưởng dân sự cao quý nhất dành cho lòng dũng cảm tại Hoa Kỳ và Canada. Giải thưởng này được trao từ năm 1904 cho những người sẵn sàng liều mạng để cứu người khác.

Kaylani Barrett lớn lên với sự thật rằng em vẫn còn sống vì một người xa lạ đã quyết định quay trở lại bên trong ngôi nhà đang cháy.

Nick vẫn sống ở Lafayette. Khi được hỏi về đêm hôm đó, anh thường trả lời giống nhau:”Mọi thứ đều xứng đáng.”

Đối với những ai suy ngẫm về quyết định của Nick Bostic quay trở lại khi anh đã làm nhiều hơn bất cứ điều gì người ta có thể mong đợi thì câu hỏi anh lặp đi lặp lại trên vỉa hè đã nói lên tất cả:

“Con bé có ổn không?”

Điều đó cho thấy thứ thực sự thôi thúc anh băng qua ngôi nhà đang cháy không phải là danh tiếng, không phải sự công nhận, cũng không phải một khái niệm trừu tượng về chủ nghĩa anh hùng.

Chỉ là một sinh mạng.

Chỉ là một đứa trẻ.

Chỉ là nhu cầu rất đỗi con người: được biết rằng một người khác đã sống sót.


 

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng – Bs Nguyễn Bảo Trung-Truyen ngan HAY

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng Bs Nguyễn Bảo Trung

Một lần nọ tôi đi khám bệnh từ thiện cho những đứa trẻ mồ côi tật nguyền ở Thủ Đức. Thật ra tôi không muốn đi, vì đó là Chủ Nhật, ngày để nghỉ ngơi. Ngày mà tôi có thể nằm dài trên sofa vừa uống bia vừa xem trận bóng ngoại hạng, thi thoảng gào lên tức tối, cứ y như là cả cuộc đời chỉ có mỗi chuyện đá bóng vào gôn là có ý nghĩa.

Tôi khám qua quýt cho xong. Lúc ra về tôi lướt qua những ma sơ chăm sóc trẻ. Họ chẳng có gì đặc biệt, không phấn son với những chiếc áo dòng màu xanh. Nhưng khi gần tới cổng, tôi thấy một ma sơ dáng người nhỏ thó, chiếc lưng còng xuống, vẻ như đang gánh một vật gì đó quá lớn trên vai. Cam chịu. Cô chỉ có một cánh tay trái, cánh tay phải đã cụt.

Khi bước qua, tôi cúi đầu chào theo phép lịch sự tối thiểu của một bác sĩ. Nhưng lúc cúi xuống, vô tình tôi cảm nhận được một mùi hương thanh thoát tỏa lan nhẹ nhàng từ cánh tay đang kéo chiếc cổng sắt nặng nề.

Tại sao ma sơ tật nguyền này lại có đôi tay thơm tho đến thế?

Câu hỏi đó theo tôi suốt chặng đường về. Để rồi từng đêm từng đêm tôi bị mùi hương đó ám ảnh. Tôi nói với đồng nghiệp, Mọi người đều bật cười và trêu: Mày nên đi khám tâm thần, bị ảo khứu, nguy hiểm lắm. Ha ha… sau những nụ cười vui vẻ ấy tôi đâm hoang mang. Không lẽ mình bị tâm thần? Không lẽ đôi tay xấu xí, tật nguyền ấy lại có thể ám mình? Tôi có rất nhiều đôi tay để ám cơ mà? Những đôi tay hồng hào, mềm mát như gió của bạn tình, những đôi tay đầy ma lực từng ngón như rắn lên xuống, làm tôi kiệt sức bao lần.

Quyết không để mình bị tâm thần lãng như vậy, tôi đi Thủ Đức một chuyến nữa. Vẫn người ma sơ có đôi tay gớm ghiếc ấy mở cổng và vẫn mùi hương thanh khiết bay, váng vất như hương hoa hồ điệp. Người ma sơ tên Thị Mây bối rối cúi xuống trả lời khi nghe tôi hỏi: Dạ… tại sơ bị tai nạn giao thông. Chỉ vậy thôi, đúng chỉ vậy thôi, tai nạn giao thông nghiền nát cánh tay phải của ma sơ. Như vậy đó, ừ thì cũng như bao người cụt chân, cụt tay khác bị tai nạn. Thế thôi. Có gì mà vướng bận?

Tôi quay về Sài Gòn, nhủ lòng mình rảnh và vớ vẩn quá. Lo công việc đi, còn bao nhiêu thú để ăn chơi, còn bao nhiêu bàn tay đẹp để nắm, để sờ mò những khi bản năng thôi thúc, đúng không? Nhưng tất cả vẫn như cũ. Hết ngày rồi lại đêm mùi hương cánh tay đó vẫn thoang thoảng quanh tôi. Khi thì dịu dàng như mùi hoa chanh, khi thì nồng nàn như mùi hoa nguyệt quế. Tôi sợ đến nỗi, tưởng mình đã điên. Sao kỳ lạ đến như vậy? Một ma sơ có đôi tay cụt vì tai nạn thì có gì là bất thường? Tôi điện thoại cho thằng bạn thân, thạc sĩ chuyên khoa tâm thần, nó cười hú hú lên rồi phán: Mày bị con nhỏ “viêm cánh “ bỏ bùa rồi, ha ha ha, mày có gu với mùi hôi đó, cưới đi, để tối tối hít hít ngửi ngửi cho sướng, ha ha ha. Tôi cũng ha ha ha trong ngượng ngùng.

Nhân dịp có chuyên gia tâm lý bên Mỹ qua dự hội nghị Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân tai biến mạch máu não. Tôi liên lạc xin một cuộc hẹn để tư vấn. Thật khó, vì bà ta không có ý định là qua Việt Nam khám chữa bệnh. Người nước ngoài rất rõ ràng trong công việc. Sau khi hỏi hết mọi chuyện, bà Rose, chuyên gia tâm lý Mỹ, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi dừng ở khoảng giữa. Tôi hơi ngượng một chút với cái nhìn soi mói ấy.

– Lần cuối cậu quan hệ tình dục khi nào?

Tôi quan hệ tình dục thì liên quan gì đến vụ ám ảnh cánh tay cụt, tôi suy nghĩ như thế, nhưng vẫn trả lời: “Cách đây ba tháng”.

– Tại sao lâu thế? Tôi nghĩ vấn đề của cậu là thiếu thốn trong việc quan hệ, hay không thỏa mãn trong vấn đề chăn gối nên mới như vậy. Trời… Sao người nước ngoài hay liên kết mọi sự rắc rối cuộc sống vào trong tình dục thế kia? Hay họ xem việc đó cũng giống như ăn, ngủ, cầu nguyện?

Bó tay. Tôi hay dùng nhiều từ “thông dụng” như thế. Chứ còn biết làm gì? Nhiều khi ngủ tôi mở bung hết cửa sổ xịt nước hoa khắp phòng mà không thể đuổi được mùi hương đó.

Tôi đành quấy quả trở xuống Thủ Đức. Vẫn người ma sơ có cái tên quê mùa Thị Mây ấy mở cổng. Và vẫn lời đáp nhẹ như bấc, sơ bị tai nạn giao thông. Nhưng ánh mắt ma sơ nhìn tôi rất khó hiểu.

Lần này tôi không về vội, tôi đi lang thang trong khuôn viên ngôi nhà dòng dưới hàng cây bàng xanh thẳm lá. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Không gian thật thoáng đãng và thanh bình. Bầu trời rất trong và mây trắng trôi nhởn nhơ. Tôi giật mình tự hỏi, sao tháng ngày qua tôi cuống cuồng hết đi rồi chạy, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng để được gì? Tôi chưa bao giờ chịu dừng lại ngồi xuống bên một tách trà thơm để ngắm nhìn cuộc sống, hay đơn giản hơn để đọc một trang sách.

Vô tình tôi nhìn vào căn phòng đối diện. Tiếng cười the thé của lũ trẻ tật nguyền vọng ra, có một ma sơ già ngồi giữa chúng. Bà ta vỗ tay nhè nhẹ vào nhau, hết nghiêng nhìn đứa này ríu rít cười, đến nghiêng nhìn đứa kia nheo mắt. Cả căn phòng như bừng sáng. Thứ ánh sáng trong trẻo thánh thiện. Nụ cười móm mém không có son môi, không có phấn má, mà sao đẹp đến thế. Lũ trẻ bu quanh chạy tới chạy lui ríu rít. Tiếng ú ớ vỡ ra thành hàng ngàn tiếng leng keng reo lên trong gió. Tôi như chết lặng, sững sờ trước hình ảnh ấy. Đẹp quá, thật quá, lộng lẫy quá. Nắng chan hoà, gió cũng chan hoà. Không biết bao lâu tôi mới choàng tỉnh. Bối rối nhận ra có một linh mục già ngồi kế bên. Khuôn mặt ông ta toát lên một vẻ hiền từ bình an. Ánh mắt như chờ đợi tôi trút nỗi lòng. Tôi hỏi, sao cánh tay ma sơ Mây bị cụt. Trầm ngâm một chút ông kể:

“Năm 16 tuổi, thay vì như những cô gái khác, ngây thơ vui đùa cùng bạn bè, Mây cùng mẹ Mây đến nhà dòng này xin khấn trọn đời. Lúc đó Mẹ bề trên nhìn Mây ái ngại, vì Mây là con một, gia đình lại giàu có. Mẹ ruột của Mây rưng rưng nước mắt, nhưng trong giọt nước mắt ấy có một tình yêu, một niềm tự hào.

Năm 18 tuổi, Mây ra dáng một thiếu nữ mơn mởn, tóc dài đen nhánh, đôi tay xinh đẹp mềm mại, rất khéo nấu ăn, thêu thùa. Nhưng lúc nào Mây cũng giấu mình trong chiếc áo dòng tu kín đáo.

Có một đêm cô gõ cửa Mẹ bề trên, xin cho được ra làng mồ côi, chăm nuôi mấy em nhỏ. Mẹ bề trên ưng thuận. Thế là đôi tay đẹp kia hằng ngày mớm cơm đút cháo cho mấy em. Có khi các em sốt, Mây thức trắng đưa bàn tay mình đặt lên trán chúng, xem nhiệt độ thế nào, rồi nhúng khăn lau tới lau lui. Bàn tay búp măng mũm mĩm không còn nữa, mà thay vào đó là bàn tay không ngần ngại hốt phân dãi của các em đi đổ. Nhiều đêm, thấy đôi tay ấy chắp lại trước ngực cầu nguyện. Cầu nguyện điều gì không ai biết. Chỉ biết rằng đôi tay đó không còn như xưa…

Hôm kia, có một bé chạy tung tăng trong sân, cổng để mở, bé băng ra đường. Xe tải dìu dập trên xa lộ lớn. Em bé ấy quá nhỏ, và lao ra quá nhanh, nên không ai kịp trở tay. Rầm, khi tất cả các sơ chạy ra thì tiếng em bé khóc lên thất thanh thật to. Bên cạnh em, Mây nằm nhắm nghiền mắt. Cánh tay phải bị bánh xe nghiền nát. Máu chảy lênh láng.

Khi tỉnh dậy cô kể: Lúc đó, con đang đứng trên dải phân cách chờ băng qua đường thì thấy nó lao ra giữa xa lộ, con sợ quá, chạy ào đến, ôm nó, lăn vội vào. Tội nghiệp nó lắm, nó sợ quá, khóc thét lên. Nghe Mây kể, mọi người chưa hết bàng hoàng. Sao cô kể chuyện hồn nhiên đến thế? Liều cả mạng mình mà không tiếc chỉ để cứu một đứa bé tật nguyền, rồi còn tội nghiệp vì nó sợ khóc thét lên. Có lẽ Mây bị khùng mất rồi. Không khùng ai làm thế ? Từ đó cô lại xin Mẹ bề trên đứng gác cổng ra vào, cô sợ các em tật nguyền kia, không ý thức lại lao ra giữa dòng xe. Cô nói cuộc sống đáng quý lắm.

– Con xin lỗi mẹ, vì con cứ đòi hỏi mẹ hết lần này đến lần khác. Mẹ bề trên bật khóc: Con đâu có gì phải xin lỗi. Con luôn đòi hỏi để phụng sự người khác.

Thế là từ đó, Mây thành người gác cổng. Khi được hỏi tại sao cô bị cụt tay, cô đáp nhẹ như bấc, bị tai nạn giao thông.

Tôi không dám hỏi, cô có tiếc vì mất cánh tay không. Vì hỏi như vậy là thừa. Ngay cả mạng mình cô còn không tiếc.

Vị linh mục già kết thúc câu chuyện. Nắng chiều rải rác xuống thềm như một tràng hoa rực rỡ. Chỉ có hoa nắng mới kết vừa vương miện cho những con người ở đây. Tất cả loài hoa thế gian, tất cả kim cương, ngọc bảo thế gian khi đính vào vương miện chỉ làm cho nó trần tục hơn, vật chất hơn mà thôi.

Bây giờ tôi mới biết, vì sao đôi tay của Mây có hương thơm kỳ lạ. Và bây giờ tôi mới biết tại sao nụ cười và ánh mắt những người ở đây luôn ẩn chứa một trời long lanh nắng sớm.

Bởi vì như linh mục Nguyễn Tầm Thường đã viết: Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại.

Tôi về thành phố, thấy lòng mình bỗng chật. Những gì trước đây tôi cho là đúng, bây giờ tôi đâm nghi ngờ. Những gì trước đây tôi luôn theo đuổi, giành giật để có, bây giờ thấy chẳng còn quan trọng nữa.

Những tay thét ra lửa, những tay sừng sỏ mà tôi từng kính nể, bỗng dưng tôi thấy họ bình thường. Họ cố gắng dùng đôi bàn tay chứng tỏ mình, khuếch trương mình, những cái họ có được chỉ là thứ trơ trẽn. Họ không bình yên trên vật chất họ có được. Họ khoác những chiếc áo sang trọng, tay đeo đầy những kim cương, xịt toàn nước hoa hảo hạng, nhưng không bao giờ có mùi hương thanh tao, dịu ngọt, tỏa lan khắp bầu trời.

Tôi bị ám ảnh, vì trong tôi hoài thai một lối sống. Tôi muốn thoát khỏi bàn tay của chính mình. Tôi là người tìm kiếm bàn tay đẹp.

Bàn tay biết dang ra, biết sẻ chia là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nắm lấy tay người bất hạnh hơn mình để cùng bước là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nâng niu, gìn giữ cái đẹp, cái chân, cái thiện, là bàn tay đẹp. Và hàng ngàn định nghĩa về bàn tay đẹp khác.

Có bàn tay cầm nắm rất nhiều, có thể điều khiển người khác. Có bàn tay xoè ra ăn xin từng đồng lẻ bố thí. Có bàn tay khéo léo làm nên những tuyệt tác nghệ thuật. Có bàn tay vụng về chỉ làm đổ vỡ mọi thứ khi chạm vào. Có bàn tay cho đi. Có bàn tay giữ lại. Nhưng khi về với đất, bàn tay nào cũng rỗng. Rỗng tuyệt đối.

Vậy sao không ướp hương cho đôi tay mình, tôi tự hỏi lòng như thế. Có hàng ngàn cách ướp hương. Như masơ Mây, ướp hương thánh thiện, âm thầm, khiêm cung, bé nhỏ, mà hương thơm lại bay vượt mọi không gian. Có bao giờ Mây kể lể với Giêsu về mình không? Chắc không, vì Mây không có thời gian cho mình, chỉ biết lo cho mọi người thôi.

Khi sinh ra, tay tôi nắm chặt. Khi chết đi tay tôi buông thõng. Từ nắm chặt đến buông thõng, một hành trình dài đầy nụ cười hạnh phúc và nước mắt đau thương.

Bs Nguyễn Bảo Trung


 

Chuyện Trú Mưa – Loc Duong

Kimtrong Lam

 Loc Duong.

Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :

-Có phải cháu đây không?

Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :

-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.

-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?

-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?

-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?

-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.

-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?

-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.

-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?

Cô bé vui vẻ hẳn lên :

-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.

-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?

-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối l‎ý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :

“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết làm sao em biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”

Loc Duong


 

Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi- Truyen ngan HAY

Câu chuyện thật cảm động về lòng nhân ái.

Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi

(Posted by Ho Bình)

Một nữ phục vụ nhận được tiền tip 500 đô cùng dòng chữ: “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”

Tôi vẫn giữ chiếc khăn giấy ấy, gấp gọn trong ngăn tủ của mình.

Năm trăm đô la và một mảnh giấy viết:

> “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”

Ban đầu, tôi không hiểu.

Mỗi ngày, có quá nhiều khách ra vào — thật khó để nhớ hết từng gương mặt.

Rồi tôi thấy dòng chữ nhỏ ở cuối:

“Bàn số 7, thứ Ba.”

Và mọi ký ức ùa về.

Người phụ nữ lớn tuổi ấy.

Tất nhiên là tôi nhớ.

Bà bắt đầu đến quán khoảng sáu tháng trước.

Luôn là thứ Ba, 11 giờ sáng, bàn số 7, cạnh cửa sổ.

Và luôn gọi:

 “Hai ly cà phê Mỹ, làm ơn. Một có đường, một không.”

Lần đầu, tôi tưởng bà đang đợi ai đó.

Tôi mang hai ly cà phê ra, đặt một ly trước mặt bà, và một ly trước chiếc ghế trống đối diện.

Bà chỉnh tách cà phê ấy thật cẩn thận, như đang phục vụ cho một vị khách quan trọng.

 “Cảm ơn con yêu. Ông ấy thích uống nóng.”

Tôi đứng đó, cuốn sổ ghi order trên tay.

Chiếc ghế đối diện hoàn toàn trống.

>“Bà muốn gọi thêm món gì không ạ?” – tôi hỏi, theo phản xạ, vẫn nói “bà” và “ông”.

“Chưa đâu, cô bé. Cho chúng tôi xem thực đơn một lát nhé.”

Rồi bà bắt đầu nói chuyện.

Với chiếc ghế trống. Với khoảng không trước mặt.

 “Anh nhớ không, hồi những năm 60 mình hay tới đây? Họ vẫn còn làm món sandwich gà tây anh thích đấy.”

Lúc đầu, tôi thấy hơi sợ. Tôi suýt nữa đã gọi quản lý.

Nhưng ánh mắt bà… không có chút lẫn lộn nào. Không điên dại.

Chỉ có niềm hạnh phúc.

Một thứ hạnh phúc trong trẻo, dịu dàng, như thể bà thật sự nghe thấy ai đó trả lời.

 “Anh nói đúng! Ta nên gọi một phần cho hai người như mọi khi.”

Tôi không biết vì sao, nhưng tôi đã nhập cuộc.

 “Một phần sandwich gà tây để chia đôi ạ?”

“Vâng, cảm ơn con. À, và ông ấy vẫn thích khoai tây chiên hơn salad, con biết mà.”

“Dĩ nhiên rồi. Còn ông, có muốn thêm gì không ạ?”

Bà nhìn tôi, ánh mắt chan chứa biết ơn.

“Cô thật dễ thương, cô bé.”

Từ đó, thứ Ba nào cũng vậy.

Hai tách cà phê. Hai đĩa đồ ăn. Một cuộc trò chuyện dành cho người đã khuất.

Tôi luôn rót đầy hai ly.

Tôi hỏi xem “ông” có cần thêm khăn ăn không.

Các đồng nghiệp nghĩ tôi điên.

Một hôm, quản lý hỏi:

 “Tại sao em lại lãng phí cà phê cho một chiếc ghế trống?”

Tôi chỉ đáp:

“Vì điều đó khiến bà ấy hạnh phúc.”

Và đúng vậy.

Trong những giờ phút ấy, bà không cô đơn.

Bà không lạc lối.

Bà đang yêu, đang được yêu, đang sống.

Bà kể về những chuyến du lịch, những đứa con, ngôi nhà bên hồ.

Thỉnh thoảng, bà bật cười đến chảy nước mắt.

 “Anh lúc nào cũng khiến em cười, sau 52 năm vẫn thế.”

Năm mươi hai năm.

Lần cuối cùng bà đến, cách đây ba tuần, bà trông yếu hơn.

Bà vẫn gọi hai ly cà phê, nhưng tay run rẩy.

> “Bà ổn chứ?”

“Ừ, chỉ là mệt thôi, cô bé. Rất mệt.”

Bà nhìn chằm chằm chiếc ghế trống, ánh mắt thoáng buồn.

> “Đôi khi tôi tự hỏi, liệu ông có thật sự ở đây không… Nhưng rồi tôi ngửi thấy mùi nước hoa của ông, và tôi biết là có.”

Khi trả tiền, bà nắm tay tôi:

> “Cảm ơn con, vì đã đối xử với chúng tôi bằng cả tấm lòng.”

Đó là lần cuối cùng tôi thấy bà.

Cho đến hôm nay.

Một người phụ nữ trẻ bước vào — khoảng ba mươi tuổi, ánh mắt mệt mỏi nhưng dịu dàng.

> “Cô là người phục vụ vào thứ Ba, bàn số 7, phải không?”

“Vâng.”

“Tôi là Carolina. Người phụ nữ ấy… là mẹ tôi.”

Là.

> “Mẹ tôi qua đời hai tuần trước. Bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Cuối cùng, mẹ không còn nhớ nổi tên mình.”

Nước mắt tôi ứa ra trước khi cô nói tiếp.

> “Chúng tôi tìm thấy nhật ký của mẹ. Trong đó, mẹ viết về những bữa trưa ở đây. Về cô.

Nơi mà mẹ có thể ‘gặp lại’ ba tôi.”

> “Ba cô à?”

“Ông mất năm năm trước. Ung thư tụy. Họ đã bên nhau 52 năm.

Khi mẹ bắt đầu mất trí, bác sĩ bảo mẹ sẽ quên hết.

Nhưng có một điều mẹ không bao giờ quên — là ông ấy.

Trong tâm trí mẹ, ba tôi vẫn còn sống.

Và vào những ngày thứ Ba, họ cùng ăn trưa — như trước đây.”

Carolina lấy ra một chiếc khăn giấy và 500 đô.

> “Đây là từ di chúc của mẹ. Mẹ viết:

‘Gửi người phục vụ đã luôn phục vụ cả hai chúng tôi mà không bao giờ đặt câu hỏi.

Cảm ơn cô đã cho tôi thêm một năm được sống bên người tôi yêu.’”

Tôi không thể nói gì, chỉ biết khóc.

Carolina cũng khóc.

> “Điều tuyệt vời nhất,” cô nói qua nước mắt,

“là những ngày thứ Ba ấy là khoảnh khắc tỉnh táo cuối cùng của mẹ.

Trước khi qua đời, mẹ không nhớ nổi tôi là ai, nhưng khi tôi nhắc đến quán cà phê,

mẹ đã mỉm cười và nói:

‘Nơi mà mẹ ăn trưa cùng ba con.’”

Tôi thì thầm:

> “Tôi… tôi chỉ mang cà phê ra cho bà thôi.”

“Không,” Carolina đáp. “Cô đã mang lại cho mẹ tôi lòng nhân ái. Một nơi mà tình yêu của mẹ vẫn được công nhận. Cô không tưởng tượng nổi điều đó có ý nghĩa thế nào đâu.”

Chúng tôi ôm nhau — hai người xa lạ, gắn kết bởi một người mẹ và một chiếc ghế trống.

Và từ đó, mỗi thứ Ba lúc 11 giờ, tôi luôn để bàn số 7 trống một lát.

Tôi đặt hai tách cà phê — một có đường, một không.

Và tôi nhớ rằng:

Đôi khi, tình yêu lớn nhất chỉ đơn giản là nhìn thấy người khác — thật sự thấy họ — ngay cả khi không ai khác nhìn thấy.

S.T.

From: Tu-Phung

NHƯ ĐÃ DẤU YÊU – Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh – Truyen ngan HAY

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Đưa vợ vào làm xong tất cả các thủ tục, chỉ còn ít phút nữa là phải ra máy bay, anh vẫn lấy cớ chạy ra ngoài. Trời mưa như trút nước. Anh dáo dác nhìn khắp bốn xung quanh. Chỉ đến khi xác nhận một lần cuối cùng là chị không tới anh mới thẫn thờ đi vào.

Anh đâu có biết rằng đã mấy tiếng đồng hồ chị nép trong góc cột, nhìn từ lúc vợ chồng anh bước xuống xe taxi, đẩy hành lý qua bảo vệ. Nhìn thấy anh bước đi mà đầu luôn ngoảnh lại kiếm tìm. Nhìn thôi là đủ rồi, gặp nhau để mà làm gì?

Họ quen nhau cũng vào một ngày mưa tầm tã như thế này. Anh đi đám cưới về cũng đúng lúc chị vừa đi hẹn bạn bước ra khỏi khách sạn. Nhìn thấy chị đứng co ro giữa trời mưa gió, anh hạ cửa kính hỏi chị về đâu anh cho đi nhờ. Trông chị cũng tầm ngoài 40, vóc dáng thon thả, nước da trắng hồng. Nhìn sống mũi cao thanh tú của chị anh đoán ngày trẻ chị đẹp lắm. Chị vừa vào xe thì điện thoại vang lên, chị cố gắng nói rất nhỏ nhưng anh nghe thấy hết.

– Tớ đang đi nhờ xe về nhà. Trời mưa to quá không bắt được xe. Ông Dũng nhà tớ đang bận đi gặp bồ cũ. Thì vẫn bà ấy đó, năm nào cũng bay từ Sài Gòn ra Hà Nội 2 lần thăm nhà, rồi tổ chức gặp gỡ bạn cũ. Bạn nói sao? Tớ làm sao ngăn cản được, ông ấy luôn mồm nói là gặp cả đống bạn bè, có làm gì đâu. Họ có quá nhiều kỉ niệm với nhau. Mình là người đến sau cũng nên tôn trọng họ. Tớ không sao đâu.

Chị cười to rồi ngồi im. Anh liếc qua thấy mắt chị như có ngấn nước. Chả bù cho vợ anh, lấy nhau 25 năm rồi mà anh lúc nào cũng cảm thấy như đang sống trong tù. Anh chả có ai mà chị ghen suốt ngày đêm. Lâu lâu chị lên công ty anh đi dạo một vòng qua các phòng ban, để kiểm tra xem có em nhân viên nữ nào mới không, và thể hiện uy quyền của vợ giám đốc. Thư kí của anh toàn là nam. Vợ chồng cãi nhau suốt nhưng chị không sửa đổi. Anh là người rất thương con, muốn êm cửa ấm nhà nên phải nhịn. Có đêm anh thức giấc, bất chợt thấy chị đang ngồi nhìn anh rất hung dữ. Anh còn chưa tỉnh ngủ nên lắp bắp hỏi:

– Em làm sao vậy?

Chị tru tréo:

– Tôi nằm mơ thấy anh chở bồ đi chơi, hai người ôm nhau mà tôi rượt theo không kịp.

Ngày hôm sau anh dỗ dành hết sức chị mới chịu để anh đưa đi khám. Kết luận của bác sĩ rất đáng buồn. Chị có dấu hiệu bệnh tâm thần dạng hoang tưởng. Vì anh đẹp trai, giỏi giang nên chị nghe lời người ngoài lúc nào cũng nghi ngờ chồng mình có bồ. Riết rồi thành tâm bệnh. Hai đứa con lúc ấy mới 16 ,17 tuổi rất buồn. Anh hứa với các con sẽ chăm sóc chị thật chu đáo để các con yên tâm đi du học. Được vài năm thì chị đòi lên chùa cúng vái suốt. Nhiều lúc chị nửa tỉnh, nửa mơ bảo anh thích ai thì cứ lấy, chị sẽ vào chùa ở luôn.

Đã hơn chục năm nay anh cứ sống một cuộc sống không giống ai như vậy. Niềm an ủi duy nhất là hai đứa con học hành giỏi giang, tốt nghiệp xong ở lại Úc làm việc và công ty của anh ngày càng phát triển.

Mưa càng lúc càng lớn, cả một dòng xe kẹt cứng lại giữa đường. Anh với chị có cả một khoảng thời gian dài để nói chuyện với nhau. Chị lấy chồng muộn nên cu lớn mới 14, con gái nhỏ lên 10. Anh hỏi:

– Ngày xưa em kén lắm hả?

Chị cười:

– Tại vì đọc tiểu thuyết nhiều nên cứ chờ bằng được hoàng tử giống như trong truyện “Cánh buồm đỏ thắm” đến, mà chờ mãi không thấy, thế là được xếp vào loại gái già, phải lấy chồng vội anh ạ!

Anh cũng là con mọt sách nên họ say sưa nói về các nhà văn yêu thích. Anh kinh ngạc khi thấy chị rất am hiểu về văn học, âm nhạc, hội hoạ. Chị cũng có một công ty nhỏ, theo lời chị là đủ để nuôi các con.

Khi mưa ngớt, anh đưa chị về đến tận nhà và xin số điện thoại của chị, anh nói rất thật lòng:

– Hôm nay gặp em anh rất vui, vì em có rất nhiều sở thích giống anh. Nếu em đồng ý thì thỉnh thoảng anh mời em đi uống cà phê nhé!

Sau đó mỗi tháng một hoặc 2 lần anh mời chị đi uống cà phê hoặc ăn trưa. Chị nói chuyện rất hóm hỉnh và có duyên. Dần dần anh cảm thấy tình cảm mình dành cho chị không còn đơn thuần nữa. Có lần anh kể hơn 10 năm nay vợ anh bị bệnh, chị buột miệng:

– Em đẻ con bé được mấy tháng chồng em đã cặp bồ rồi, bọn em cũng ly thân từ ngày ấy.

Quen nhau hơn một năm anh ngỏ lời:

– Anh rất quý em Thanh à, chúng mình có thể đi xa hơn được không?

Chị đang vui vẻ cười nói bỗng sựng lại và kiếm cớ ra về.

Ít bữa sau anh nhận được cuộn băng thu bài “Như đã dấu yêu” của nhạc sĩ Đức Huy do chị hát, và một bức thư. Giọng chị rất hay, chị vừa hát vừa khóc

“Nhưng em ước gì mình gặp nhau lúc anh chưa ràng buộc.

Và em chưa thuộc về ai”

Và đây là nguyên văn bức thư của chị

Anh à!

Hơn một năm qua em rất vui khi được làm quen với anh, được nhận từ anh những sự quan tâm chân thành. Là phụ nữ em không thể không cảm nhận những tình cảm của anh, mặc dù em cứ quy ra nó chỉ đơn thuần là tình bạn thôi. Đấy là em tự lừa mình dối người. Em đã rất nhiều lần khóc thầm trong đêm khi nhớ đến ánh mắt say đắm, yêu thương của anh mỗi lần chúng mình gặp gỡ.

Muộn màng hết rồi anh ạ!

Em lấy chồng cho bố mẹ em vui lòng, và suốt mười mấy năm qua em luôn luôn phải chiến đấu với một đống bồ cũ, bồ mới của chồng. Em hận những người đàn bà trơ trẽn luôn tìm đủ mọi cách quyến rũ chồng em, moi tiền của anh ấy (thực ra là tiền em làm ra). Vậy nhưng em vẫn phải duy trì cuộc hôn nhân này, vì chồng em tuy tàn nhẫn với vợ nhưng rất thương các con, và em cố nuốt nước mắt vào trong để các con có đủ cả bố lẫn mẹ. Đã mấy lần em đau đớn chạy về nhà xin bố mẹ cho ly hôn vì em đâu phải tượng gỗ, em cũng thèm khát được có một người chồng chung thủy, yêu thương em hết lòng chứ không phải sống với một người chồng trên danh nghĩa, không hề nhớ ngày sinh của vợ,  nhưng rất nhiệt tình tổ chức sinh nhật hoành tráng cho bồ. Bố mẹ em lúc thì van lơn, lúc lại đay nghiến dứt khoát không cho em ly hôn vì “dòng họ nhà mình từ trước đến giờ không có người nào ly hôn cả”. Em cứ sống vật vờ lấy công việc và các con làm nguồn vui, cho đến khi gặp anh. Anh à! em tiếc lắm. Nếu như ngày xưa em được gặp anh, thì chắc chắn chúng mình sẽ có một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc. Nhưng đấy chỉ là “Nếu như” thôi.

Vợ anh, chị ấy bị bệnh cũng vì yêu anh quá (điều mà em không có được trong cuộc hôn nhân của mình). Vì vậy em không thể vì bất hạnh mà đi cướp chồng người khác, giống như những người đàn bà của chồng em.

Mình không nên gặp nhau nữa anh ạ!

Em xin cảm ơn anh vì tất cả.

Đọc xong bức thư của chị, anh cảm thấy người như bị rút hết sức lực.

Hạnh phúc giống như một giấc mơ đẹp, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại được nữa.

Vài tháng sau anh thu xếp công việc, tìm người quản lý giỏi rồi đưa vợ sang sống với các con.

Trước khi đi, anh nhắn tin muốn được nhìn thấy chị một lần cuối cùng.

Chị đến, nấp sau cột, nhìn từ lúc anh đỡ vợ xuống xe, nhìn anh vừa đẩy xe hành lý, vừa ngoái về sau, nhìn anh làm thủ tục xong lại chạy dáo dác ra ngoài. Nước mắt giàn giụa, chị lẩm bẩm “Anh đi may mắn nhé!”

NHƯ ĐÃ DẤU YÊU

Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh

( Mượn tựa đề bài hát của Nhạc sĩ Đức Huy)

Bài và ảnh sưu tầm