SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN

Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa

Bệnh Viện Vì Dân (BVVD) thành lập trên ba mươi năm nay bởi Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội (PNPSXH), Chủ Tịch Hội là Bà Nguyễn Văn Thiệu, với sự trợ giúp của nhiều cơ quan, đoàn thể thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc, các phái bộ quân sự đồng minh, và nhất là phủ Tổng Thống (TT). Một đồng nghiệp sống nhiều năm ở Pháp bảo chúng tôi viết về sự hình thành của bệnh viện này. Vì thời gian đã qua lâu, chúng tôi có thể bỏ sót một vài chi tiết hay bị lầm lẫn, độc giả nào nhận thấy xin cho chúng tôi biết để chúng tôi bổ túc hay đính chánh, chúng tôi xin đa tạ.

Khoảng đầu năm 1969, Đại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống có mời tôi lên nói là Bà Nguyễn Văn Thiệu muốn thành lập một bệnh viện tư làm việc thiện với danh nghĩa Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội, ông bà Tổng Thống thấy tôi có kinh nghiệm trong việc thành lập Bệnh Viện Trưng Vương cho Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ năm 1967, nên muốn tôi tham gia vào việc này. Lúc đó tôi đã giải ngũ được hơn một năm, có ý định xin đi tu nghiệp để về gia nhập ban giảng huấn của YKĐH Saigon. Tôi phân vân vì nghĩ là việc này sẽ kéo dài nhiều năm, bắt đầu từ số không, sẽ gặp nhiều khó khăn về đủ mọi phương diện và đòi hỏi rất nhiều thì giờ, nếu làm đàng hoàng thì không còn thì giờ hành nghề tư, và xong việc có khi bị thay thế, đó là thường tình ở các nước chậm tiến! Nhưng tôi cũng có một ý nghĩ khác là khi mới bước chân vào trường Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1951, đến tập sự tại Bệnh Viện Yersin (Phủ Gioãn) thấy dụng cụ giải phẫu, máy móc cũ kỹ, thiếu thốn do Pháp để lại từ trước Đệ Nhị Thế Chiến, tôi vẫn tâm niệm làm sao cho có được một bệnh viện trang bị đầy đủ để các thầy thuốc làm việc thoải mái, có cơ hội tiến về kỹ thuật, cứu được bệnh nhân đến mức tối đa. Thêm vào đó khi còn học PCB tại Khoa Học Đại Học Hà Nội tôi đã được nghe một lời phê phán nghiêm khắc của một Giáo Sư Pháp, GS P.L., về khả năng của người Việt như sau: “Người Việt Nam chẳng làm được việc gì nên hồn cả”, câu này đã in sâu vào tâm khảm tôi. Ngoài ra BVVD sẽ giúp đỡ nhiều cho bệnh nhân nghèo, đó là ba động cơ thúc đẩy tôi hy sinh thì giờ để nhận việc này.

Một Ủy Ban xây cất được thành lập gồm có:

  • Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng phủ T T, Chủ Tịch
  • Ô. Nguyễn Đình Xướng, Tổng Thư Ký phủ T T, Ủy viên
  • Phạm Ngọc Tỏa, Bộ Y Tế, Ủy viên
  • Kiến Trúc Sư Nguyễn văn Chuyên, phủ T T, Ủy viên

Ủy ban này thường họp vào buổi trưa hay sau giờ làm việc công sở, tổ chức các buổi hội họp với các bộ Y Tế, Công Chánh và các ban Giám Đốc các bệnh viện tư Saigon, Chợ Lớn (Triều Châu, Sùng Chính v.v…) để học hỏi các kinh nghiệm của họ vào buổi tối. Riêng phần tôi còn phải lo về lập quy chế của bệnh viện, lo trang bị dụng cụ máy móc y khoa, vật dụng văn phòng, tổ chức tiếp liệu, tuyển dụng nhân viên chuyên môn và hành chánh. Tất cả khởi sự từ số không, trong thâm tâm tôi nghĩ là không thể nào khánh thành đợt đầu kịp vào tháng chín 1971 được, thời hạn này do phủ TT ấn định!

  • Đặt tên bệnh viện:

Ông Nguyễn Đình Xướng đề nghị nên đặt tên là Bệnh Viện Vì Dân. Phủ TT chấp thuận tên đó.

  • Kiếm địa điểm để xây cất:

Sau mấy tháng tìm kiếm mới chọn được lô đất trống ở đường Lý Thái Tổ cũ Chợ Lớn, gần mấy nhà Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến ở, chủ đất là người Trung Hoa vui lòng cho xử dụng một nửa, còn một nửa họ tính xây khách sạn nếu giải tỏa được, và họ hứa sẽ yểm trợ bệnh viện. Lô đất đó hình như dành để xây cất một trường Đại Học Kinh Doanh và Thương mại thì phải, nhưng vì chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện được. Thủ tục chưa làm xong, anh em Thương Phế Binh chiếm đất xây nhà lên lô đất đó, đành phải tìm nơi khác. Cũng may sau tìm được ở góc đường Lê Văn Duyệt nối dài và đường Nguyễn Văn Thoại, gần Ngã Tư Bảy Hiềàn, thuộc Gia Định một khu đất bị trưng dụng từ lâu, hiện dùng làm Kho Đạn cho Sư Đoàn Dù, bom đạn được chứa trong những hầm bê tông tường dầy một thước, nóc cũng vậy. Lô đất thuộc quyền sở hữu của nhà Chung. Sau khi được sự chấp thuận giải tỏa của Bộ Quốc Phòng, phải điều đình với nhà Chung. Nhà Chung bằng lòng bán cho Hội PNPSXH khu đất đó khoảng gần 2 mẫu tây với giá tượng trưng một đồng bạc. Có đất rồi phải lo phá các hầm bê-tông bằng cách nổ mìn rồi san bằng. Công tác này làm gãy chân vợ một quân nhân. Người này được bồi thường thỏa đáng.

  • Kiến trúc sư vẽ kiểu:

Hội PNPSXH mướn KTS Trần Đình Quyền, vừa tu nghiệp về xây cất bệnh viện ở Hoa Kỳ về, để vẽ kiểu. Tôi phải góp ý về một số chi tiết với KTS. Sau khi sơ đồ được bà Chủ Tịch Hội chấp thuận thì nhà thầu xây cất khởi công. Việc kiểm soát công trường xây cất là của KTS Nguyễn Văn Chuyên. Sau này Đại Tá Võ Văn Cầm có yêu cầu tôi lưu tâm cả về việc này nữa.

  • Việc gây quỹ xây cất và điều hành:

Hội PNPSXH chỉ góp phần nhỏ thôi như thỉnh thoảng có tổ chức chợ phiên chẳng hạn, như chợ phiên Đồng Tâm v.v.. Các buổi tiếp tân tại phủ TT để gây quỹ xây cất BVVD mới quyên được nhiều: như mời các nhà tài phiệt gốc Hoa (các ông Trần Thành, Lý Long Thân v.v…), mời các ngân hàng nhân dịp đầu năm. Riêng ngân hàng Việt Nam Thương Tín đang xây cất trụ sở mới còn cho thêm đá cẩm thạch nữa để trang trí bệnh viện. Ngoài ra mỗi vé xi-nê lấy thêm mấy đồng cho BVVD. Trường đua ngựa Phú Thọ thỉnh thoảng tổ chức một cuộc đua đặc biệt để ủng hộ BVVD. Đông Phương Ngân Hàng ứng trước từng đợt hai chục triệu để xây cất. Đồng bào cư ngụ ở Nouvelle Calédonie về thăm Miền Nam cũng ủng hộ một số tiền lớn (hình như là một triệu đồng thì phải) v.v… Tóm lại việc gây quỹ thành công là nhờ ở thế lực của phủ TT. Vì tiền có dư dả nên lúc đầu chỉ định xây 5 tầng lầu cho Khu Điều Trị, sau xây thành bảy tầng.

  • Việc trang bị bệnh viện:

Tôi được ủy quyền đi gặp các cơ quan thiện nguyện, các phái bộ quân sự đồng minh để xin viện trợ y cụ và vật dụng. Đầu tiên tôi đến tiếp xúc với phái bộ quân sự Hoa kỳ, tôi được một vị Thiếu Tướng Quân Y tiếp đãi rất nhã nhặn, sau khi nghe tôi trình bày việc xin yểm trợ cho BVVD, ông ta trả lời vấn đề viện trợ ông không rành và kêu một vị Đại tá Hành Chánh Quân Y ra tiếp tôi. Vị này hỏi tôi là định thiết lập một bệnh viện mấy trăm giường, gồm những khoa nào, tôi trả lời chúng tôi có kế hoạch làm một bệnh viện toàn khoa 500 giường, ông bèn tham khảo cuốn sách về bảng cấp số các quân y viện, rồi đưa cho tôi xem nhu cầu trang bị một bệnh viện như vậy gồm có những thứ gì, trong cuốn sách có ghi đầy đủ hết không thiếu một thứ gì. Xong ông ta cho biết là rất tiếc hiện không có chỉ thị nào cho cơ quan của ông viện trợ một bệnh viện tư, nếu làm sai luật các thanh tra của Quốc Hội Mỹ sẽ khiển trách cơ quan ông. Mới ra quân lần đầu đã thất bại, tôi ra về lòng tràn ngập lo âu, thất vọng, vì đồng minh lớn nhất và giàu có nhất từ chối không giúp thì ít hi vọng nơi khác trợ giúp cho mình được gì! Tôi báo cáo cho ĐT Cầm biết và khuyến cáo TT nên biếu cho BVVD một trang bị có giá trị để cho các Mạnh Thường Quân khác noi gương, như châm ngôn “mình tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình” (Aide-toi le Ciel t’aidera). Vài bữa sau ĐT Cầm cho tôi biết là TT hỏi nên cho BVVD cái gì, tôi trả lời quý nhất là đồ trang bị cho Khu Quang Tuyến X, vì trang bị này đắt tiền ít người cho nếu có thì có khi là đồ cũ lỗi thời dễ hư hỏng khó bảo trì không xứng đáng với một bệnh viện tối tân. TT chấp thuận lời đề nghị này.

Với các phái bộ đồng minh khác và các cơ quan thiện nguyện thì cuộc vận động của tôi có kết quả như sau:

– Phái bộ quân sự Úc và Tân Tây Lan: trang bị cho hai phòng chữa răng và phòng thí nghiệm nha khoa với các dụng cụ đều mới và nhập cảng từ Tây Đức.

– Phái bộ quân sự Đại Hàn: bàn ghế mới cho khu Hành Chánh, một xe Hồng Thập Tự kiểu mới, và toàn bộ một nhà máy giặt cũ giao cho BVVD khi Sư đoàn của họ rút khỏi Việt Nam (nhà máy này giặt quần áo cho quân số một Sư Đoàn do ĐT Cầm điều dình xin được)

– Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan): một xe HTT mới

– Cơ quan UNICEF: trang bị cho khu Nhi Khoa khoảng 100 giường bệnh trẻ em, 20 lồng ấp (couveuses) cho trẻ sơ sinh thiếu tháng, dụng cụ cho Nhi khoa và Sản Phụ Khoa.

– Hội Việt Hoa Thân Hữu Hương Cảng: trang bị cho phòng cấp cứu tim mạch gồm 4 máy điện tâm ký (electrocardiographe) cho 4 giường bệnh, mỗi máy được nối với một máy điện tâm ký trung ương đặt trong phòng y tá trực ở phòng kế bên để theo dõi 4 bệnh nhân, khi có một bệnh nhân trở bệnh nặng thì y tá trực làm ngay điệân tâm đồ ở máy trung ương và kêu Bác sĩ ngay.

– Hãng Schimadzu (sản xuất máy quang tuyến X) và ngân hàng Sumitomo: trang bị cho một phòng mổ đặc biệt có máy quang tuyến X giúp Bác sĩ nhìn rõ chỗ phải chẩn đoán qua màn truyền hình của máy quang tuyến X rồi mổ. Nếu muốn chụp phim ngay lúc đó để lưu trữ cũng được. Thật là tiện lợi và nhanh chóng cho các trường hợp giải phẫãu chỉnh hình, hay mổ lấy đạn v.v…

– Hãng Roussel Vietnam: trang bị cho phòng thí nghiệm máy chụp quang phổ (spectrophotometre) v.v…

Tất cả các tặng phẩm nhận được chúng tôi đều gắn danh hiệu của quốc gia, cơ quan hay cá nhân đã tặng cho BVVD. Một số vật dụng như dụng cụ vật lý trị liệu thì BVVD bỏ tiền ra mua.

Riêng việc trang bị Khu Quang Tuyến X (do TT tặng) định đặt mua của hãng CGR Pháp rồi hãng Phillips Hòa Lan đều không được, họ trả lời không đủ thời gian để giao hàng trước tháng chín năm 1971 được, vì đơn đặt hàng của hãng họ quá nhiều rồị. Thế là đầu 1971, ĐT Cầm cử tôi đi Nhật với lời dặn phải làm sao mua cho bằng được đồ trang bị cho Khu Quang tuyến X và ráp xong trước tháng chín 1971, đúng là làm việc theo lối nhà binh (système D). Tôi tiếp xúc với hãng Schimadzu là hãng sản xuất lớn nhất máy móc quang tuyến X ở Nhật. Nhà máy tọa lạc ở Osaka, khởi thủy chỉ là một nhà nhỏ lợp mái tranh, thành lập một năm sau khi nhà bác học Đức Rontgen tìm ra được tia X hồi cuối thế kỷ thứ 19. Bây giờ nhà máy choán một diện tích lớn như một thành phố và sản xuất cả nhiều bộ phận điện tử cho hãng Boeing Mỹ, sản xuất máy quang tuyến chỉ chiếm một khu thôi. Sau khi xem nhà máy, họ dẫn tôi gập vị Giám đốc kỹ thuật để cho biết nhu cầu của BVVD, và sơ đồ của khu Quang Tuyến X. Đại cương khu này có 4 phòng vây quanh một trung tâm điều khiển máy móc, đó là nơi làm việc của Bác sĩ và chuyên viên, tường của trung tâm này làm bằng kính cản tia X để có thể nhìn sang các phòng khác, tường của các phòng này bằng bê-tông dầy 25cm, đủ cản tia X. Về máy móc thì dự trù như sau:

– phòng số 1: một máy hoàn toàn tự động, có máy truyền hình, chuyên viên điều khiển máy ngồi tại phòng điều khiển và liên lạc với bệnh nhân qua một hệ thống âm thanh, trong phòng này có máy truyền hình liên hệ với máy quang tuyến X ở phòng số 1.

– phòng số 2: trang bị một máy bán tự động, có máy truyền hình

– phòng số 3: trang bị một máy chụp X-quang cắt lớp (tomographie)

– phòng số 4: trang bị một máy chụp phổi phim nhỏ.

Sau khi biết nhu cầu của BVVD, ông Giám Đốc Kỹ Thuật trả lời ngay là vì có nhiều đơn đặt hàng quá từ trước rồi, không thể giao hàng kịp thời hạn ấn định. Tôi đã thất vọng, nhưng vẫn bình tĩnh cố níu kéo ông ta, cho ông ta biết là BVVD là một bệnh viện làm việc thiện, tối tân nhất Đông Nam Á, khi khánh thành sẽ có mặt toàn thể ngoại giao đoàn, nếu ông cố gắng giúp chúng tôi, đó là một dịp chúng tôi quảng cáo không công cho hãng của ông, nhất là máy phòng số 1 là kiểu mới nhất của loại này như ông nói, chúng tôi lại là người đầu tiên đặt mua. Sau một lúc suy nghĩ ông ta trả lời sẽ ráng thu xếp công việc, để ưu tiên cung cấp cho BVVD kịp ngày khánh thành. Giá cả là 220.000 đô la, phải đặt trước 20.000 đô la sau một tháng, hai tháng sau sẽ nhận được hàng, kỹ sư sẽ tới ráp ngay khi hàng tới. Thế là tôi yên tâm về Saigon.

Hãng Schimadzu gửi ngay một kỹ sư đến BVVD xem vị trí xây cất của khu Quang Tuyến X, lúc đó khu này đã xây cất xong ở tầng 1 Khu Ngoại Chẩn. Mọi chi tiết đều được cả, trừ một điểm là các máy sẽ được đặt lên một tấm thép dầy mấy phân để cản tia X không đi xuống tầng trệt, nên phải phá một khúc tường của tầng 1 để câu các tấm thép này lên.

Khi các máy móc về đủ , hãng Schimadzu cử 3 kỹ sư tới làm việc: một chuyên về máy phát tia X, một chuyên về điện và một chuyên về máy truyền hình. Họ bắt tay ngay vào việc ráp máy. Tôi gửi họ 3 chuyên viên về quang tuyến X để phụ tá cho họ và nhờ họ huấn luyện luôn trong lúc làm việc để những người này biết điều khiển các máy sau khi ráp xong. Ngày 3/9/71 họ hoàn tất công việc sau hai tháng trời làm việc cực nhọc. Ngày hôm sau là ngày khánh thành BVVD đợt đầu (khu Ngoại Chẩn).

Sau này hãng Schimadzu cho tôi biết tính ra còn dư 20.000 đô la, xin tôi quyết định, tôi đề nghị cung cấp cho một máy rửa phim tự động, còn dư tiền thì dùng hết vào việc mua phim và các hóa chất xử dụng cho việc rửa phim.

  • Quy chế và tuyển dụng nhân viên:

BVVD là một bệnh viện tư thuộc Hội PNPSXH dành 25% sô’ giường cho bệnh nhân nghèo (gia đình tiểu công chức, gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ, gia đình nghèo có giấy chứng nhận của khu phố) được giảm phí hay miễn phí tùy trường hợp do sự cứu xét và quyết định của Ban Xã Hội hàng ngày tới BVVD làm việc. Bệnh nhân nghèo được săn sóc, ăn uống như bệnh nhân hạng trả tiền, chỉ có khác là hưởng thuốc miễn phí do Bộ Y Tế hay các tổ chức thiện nguyện cho và nằm phòng 4 giường.

Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (HDQT) là Chủ Tịch Hội PNPSXH tức là bà Nguyễn Văn Thiệu, các thành viên của HDQT đều là hội viên của Hội .

Giám Đốc bệnh viện có hai Phụ tá: một Phụ tá Kỹ Thuật (Bác sĩ Lê Phước Thiện) và một Phụ tá Hành Chánh (Trung tá Hành chánh Quân Y Phạm văn Sinh).

Các nhân viên chuyên môn như Bác sĩ , Dược sĩ, Nha sĩ, Nữ Hộ Sinh, Chuyên Viên Gây Mê, Chuyên viên Quang Tuyến X, Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Y tá và Tá Viên Điều Dưỡng trong giai đoạn đầu xin Bộ Y Tế và Cục Quân Y biệt phái. Ngoài lương bổng do cơ quan gốc đài thọ, họ được hưởng thêm một phụ cấp do Hội PNPSXH đài thọ. Các Giáo Sư, Giảng Sư Đại Học Y khoa có thể gửi bệnh nhân của mình tới nằm BVVD để điều trị dưới sự săn sóc của họ.

Trong thời kỳ đang xây cất, BVVD có nhờ Bộ Y Tế huấn luyện cho một khóa Tá Viên Điều Dưỡng, chương trình một năm, học viên là những cô nhi quả phụ quân nhân có bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, do BVVD tuyển dụng. Trong tương lai BVVD sẽ thành lập một trường Cán Sự Điều Dưỡng, chương trình học ba năm và tuyển dụng các cô nhi, quả phụ quân nhân có bằng tú tài cho đi học để làm nhân viên cốt cán cho bệnh viện. Tầng thứ bảy của Khu Điều Trị sẽ xây cất nhiều phòng để làm lớp học, và một thính đường lớn 500 chỗ dùng làm nơi hội nghị. Trên nóc Khu này có bãi đáp trực thăng để nhận bệnh nhân cần cấp cứu từ các nơi khác đưa tới, có thang máy đưa ngay xuống phòng mổ hay khu cấp cứu ở các tầng dưới.

Chúng tôi phải tuyển dụng khoảng 400 nhân viên đủ các loại: chuyên môn, hành chánh, y công, thợ thuyền v.v… (nếu bệnh viện hoạt động với 400 giường thì trung bình mỗi giường bệnh có một nhân viên). Sau khi họ đã được xét là đủ tiêu chuẩn thì được nhận việc tạm thời, đợi kết quả điều tra của An Ninh Quân Đội , nếu không có hoạt động cho Việt Cộng thì được tuyển dụng chính thức.

  • Tiếp liệu :

Vì các nguồn cung cấp vật dụng, y cụ, thuốc men rất phức tạp, đa nguyên, nên chúng tôi áp dụng kế toán sổ sách, phiếu xuất nhập theo kiểu Hoa Kỳ như ở các đơn vị Quân Y QLVNCH, để dễ kiểm soát bất thần, bất cứ lúc nào cũng có thể biết rõ số lượng tồn kho, biết rõ các nơi đã được phân phối của mỗi món hàng. Theo hệ thống tiếp liệu này ngay từ đầu, việc quản trị vật dụng không có khó khăn gì cả.

Riêng về dược phòng phải làm 2 phòng riêng biệt:

1/ Phòng thuốc miễn phí: quản trị các thuốc men do Bộ Y Tế, các cơ quan thiện nguyện cung cấp để phát miễn phí cho các bệnh nhân nghèo.

2/ Phòng thuốc trả tiền: cho các bệnh nhân nằm hạng trả tiền , thuốc do các Bác Sĩ Điều Trị kê toa và các Hãng Bào Chế OPV, Trang Hai và Tenamyd cung cấp, nếu các hãng này không đủ món nào thì BVVD có thể mua ở ngoài theo giá thị trường. Đây là quyết định của HĐQT. Đầu tiên chúng tôi có đề nghị cho đấu thầu phòng thuốc thứ hai này, nhưng không được HĐQT chấp thuận.

  • Khánh thành BVVD:

Ngày 4/9/1971 TT đến cắt băng khánh thành khu Ngoại Chẩn BVVD do Hội PNPSXH mời. Quan khách có Ngoại Giao Đoàn, các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các Tổng Bộ Trưởng, các vị Đại Diện Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm, các thân hào nhân sĩ v.v… Đại Sứ Mỹ Bunker cũng tới dự.

Bà Chủ Tịch đọc diễn văn trình bày mục tiêu của BVVD, diễn tiến việc thành lập xây cất bệnh viện và cảm ơn các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc đã giúp nhiều trong việc trang bị và xây cất BVVD, những tặng phẩm như xe cộ vật dụng máy móc gì đều kể ra hết, lẽ dĩ nhiên là không nói tới Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ vì không có tặng phẩm nào cả.

Khu Ngoại Chẩn có hai tầng, hình chữ L, một phần chạy song song với đường Lê Văn Duyệt nối dài, phần kia song song với đường Nguyễn văn Thoại , Gia Định. Ngoài một số phòng dùng để khám bệnh: Ngoại khoa, Nội khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa, Tai Mũi Họng, Nhãn khoa, Bệnh Tiêu Hóa, Bệnh Phổi v. v., phòng phát thuốc, phòng băng bó, ở tầng trệt còn phòng Vật Lý Trị Liệu, tiếp giáp vơi Khu Cấp Cứu. Trên tầng 1 là khu Nha Khoa với hai phòng khám và chữa răng, và phòng làm răng giả, kế bên là Phòng Thí nghiệm của Bệnh Viện, tiếp theo là khu Quang Tuyến X, rồi tới tám phòng mổ và phòng Hồi Sinh.

Sau bài diễn văn của Bà Chủ Tịch , quan khách được hướng dẫn đi thăm bệnh viện. Hôm đó quan khách đều chú ý tới khu Quang Tuyến X, các máy móc đều do Kỹ sư Nhật trình bày và cho chạy thử. Buổi tiếp tân kéo dài đến quá trưa mới chấm dứt.

  • Sau khi khánh thành:

Khoảng hơn hai giờ chiều, tôi đang ngồi nghỉ ở trong văn phòng thì có hai người Mỹ của phái bộ viện trợ Hoa Kỳ USAID xin gặp tôi. Một người là quan chức hành chánh và một người là Thiếu Tướng Quân Y Hải Quân hồi hưu tên là Iron. Hai người cho biết là nếu BVVD cần gì sẽ viện trợ cho. Tôi bèn hỏi họ sao trước chúng tôi xin viện trợ thì không được giúp. Họ trả lời bây giờ tình thế đã thay đổi: Hiện nay Việt Nam Hóa chiến tranh, Quân Đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, nên có thể giúp cho BVVD các dụng cụ của Quân Y Hoa Kỳ.

Chúng tôi xin được vài chiếc xe vận tải để chuyên chở vật dụng cho bệnh viện, mấy trăm giường bệnh đủ trang bị cho mấy tầng lầu đang xây cất, các máy móc dụng cụ trang bị đầy đủ cho một phòng thí nghiệm và nhất là ba máy phát điện 250 KW để làm một nhà máy điện nhỏ đủ cung cấp điện cho những nơi quan trọng như các khu Cấp Cứu, Giải Phẫu, Hồi Sinh, Quang Tuyến X và Thí Nghiệm khi điện thành phố bị cắt.

Chúng tôi cho thực hiện ngay một phòng bảo trì để sơn phết lại các giường bệnh và vật dụng nhận được, sơn luôn cả phù hiệu hai bàn tay nắm chặt cùng với quốc kỳ Mỹ-Việt như trên các hàng viện trợ Mỹ cho dân chúng. Sau mỗi lần nhận hàng và tân trang lại thì sắp đặt vào các nơi sẽ xử dụng, chúng tôi mời B.S. Iron lại xem để ông biết là hàng không bị thất thoát.

Sau này B.S. Iron tín nhiệm BVVD, cho luôn cả những vật dụng dành cho bệnh viện thực tập tương lai của Y Khoa Đại Học, vì chờ mãi không có ngân khoản để xây cất bệnh viện này! Ngoài ra BVVD có xuất tiền ra mua một số giường có máy điện tự động thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân để trang bị cho một số phòng một giường. Bệnh viện chỉ có ba loại phòng: hạng một giường, hạng hai giường và hạng bốn giường.

  • Nhận bệnh nằm điều trị :

Khi đã có tạm đủ đồ trang bị và xây cất gần xong, chúng tôi bắt đầu nhận bệnh nhân nằm điều trị. Trước đó chúng tôi xin Cục Quân Y biệt phái cho một số bác sĩ chuyên môn làm nòng cốt. Các vị này thường quá 15 năm quân vụ, nhưng vì chiến tranh triền miên họ chưa được giải ngũ. Danh sách dưới đây có thể thiếu sót vì đã trên ba mươi năm rồi, xin lỗi đồng nghiệp nào mà chúng tôi quên không ghi tên:

Y Sĩ Đại Tá Lưu Thế Tế, chuyên khoa tim mạch

Y Sĩ Đại Tá Nguyễn Quang Huấn, giải phẫu ung thư, thường trú ở ngay trong BVVD

Y Sĩ Trung Tá Lê Thế Linh, giải phẫu chỉnh hình

Y Sĩ Trung Tá Trịnh Cao Hải, giải phẫu chỉnh hình

Y Sĩ Trung Tá Phạm Hữu Phước, giải phẫu thần kinh

Y Sĩ Trung Tá Trần văn Khoan, giải phẫu tổng quát

Y Sĩ Trung Tá Hồ Hữu Hưng , nhãn khoa

Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Thế Huy, Tai Mũi Họng

Y Sĩ Trung Tá Vũ Ban, Quang Tuyến X

Các vị trên đây có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và từng đã đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, ngoài ra một số bác sĩ vẫn làm việc trong ngành Quân Y nhưng giúp BVVD ngoài giờ làm việc như các B.S. Cao Xuân An (bệnh lý học), B.S. Đặng Như Tây (Vi Trùng Học), B.S. Bạch Toàn Vinh (Vi Trùng Học), Ngô Tôn Liên (Gây Mê , Hồi Sức)

Bộ Y Tế biệt phái cho BVVD:

B.S. Phạm Ngọc Tỏa, Giám Đốc, Sản Phu. Khoa, năm 1972 có đi tu nghiệp tại Singapore về giải phẫu triệt sản qua âm đạo (sterilisation par voie culdoscopique) do Ford Foundation tổ chức, mang về cho BVVD một bộ đồ giải phẫu theo thủ thuật này, do Ford Foundation tặng.

Nha Sĩ : Bà Nguyễn đình Hiệu, Cô Võ thi Văn (?)

Các đồng nghiệp trong Ban Giảng Huấn của Y Khoa Đại Học Saigon cộng tác với BVVD có:

G.S. Trần Kiêm Thục , Bệnh Tiêu Hóa

G.S. Trần Hữu Chí, Bệnh Phổi

G.S. Bùi Thị Nga, Nhi Khoa

G.S. Nguyễn Bích Tuyết, Sản Phụ Khoa

G.S. Vũ Thiện Phương, Sản Phụ Khoa

G.S. Trương Minh Ký, Tai Mũi Họng

BVVD có tuyển dụng:

B.S. Nguyễn Xuân Xương, Nội Khoa và tim mạch

Bà Nguyễn Gia Kiểng, B.S chuyên về Huyết học mới ở Pháp về

Dược sĩ Nguyễn Thị Dung, coi Dược Phòng

Dược sĩ Tôn Nữ Duy Thạnh, Phòng Thí Nghiệm (Hóa Học)

Ngoài ra còn một số quân y sĩ chuyên làm việc trực ngoài giờ làm việc của công sở.

Tóm lại có gần ba chục Y Nha Dược sĩ tham gia vào việc điều hành chuyên môn trong giai đoạn đầu.

Các y công được huấn luyện xử dụng máy móc lau chùi nhà cửa luôn luôn sạch sẽ chẳng kém gì các bệnh viện ngoại quốc. Hồi đó Việt Cộng thường kiểm soát các khu rừng ở miền Nam, sách nhiễu các người khai thác nên gỗ rất đắt, do đó tất cả các cửa đều làm bằng alumimium nhập cảng từ bên Nhật, vừa đẹp, vừa bền lại dễ bảo trì.

Vấn đề thực phẩm cho bệnh nhân lúc đầu do chủ nhân nhà hàng Đồng Khánh ở Chợ Lớn và Lê Lai ở Saigon cung cấp. Tôi thấy thức ăn phẩm lượng rất kém, lại không hợp vệ sinh, nên đề nghị HĐQT tìm nhà cung cấp khác vì thực phẩm bổ túc cho việc điều trị và cần cho việc phục hồi sức khỏe của bệnh nhân. HĐQT đồng ý, bèn cử hội viên ra đảm nhiệm việc nấu ăn cho bệnh nhân, nên sau này thức ăn rất tinh khiết ngon lành.

Trong giai doạn đầu khi các giường bệnh hạng trả tiền chưa choán hết, lại cho miễn phí, giảm phí rất nhiều, để giữ cho bệnh viện ở mức độ cao việc bảo trì rất tốn kém, đó là nguyên nhân lỗ vốn của giai đoạn này.

Một vài thân chủ đặc biệt là: vợ một Tham vụ Ngoại giao Mỹ nhờ một Bác Sĩ Quân Y Mỹ đỡ đẻ tại BVVD, trả giá đặc biệt; con Bà Chủ tịch HĐQT mổ cesarienne ở BVVD, khi ra về Bà Chủ Tịch tặng cho Quỹ Xã Hội một số tiền rất lớn; hãng Air America nhờ BVVD săn sóc sức khỏe cho nhân viên của hãng.

  • Vài sự kiện đáng ghi nhớ:

1/ Trường Y Khoa Đại Học Minh Đức muốn xin HĐQT cho sinh viên đến tập sự HĐQT hỏi ý kiến chúng tôi, chúng tôi trình bày muốn thu hút nhiều bệnh nhân hạng trả tiền để quân bình ngân sách nên tránh thâu nhận sinh viên y đến tập sự. Sau này nên mở các lớp chuyên khoa cho các Bác sĩ đã ra trường, muốn theo chương trình thường trú (resident) dự trù sẽ được tổ chức tại BVVD với sự cộng tác của các trường Đại Học Âu Mỹ. BVVD đã dự trù xây cất các phòng ở cho các B.S. thường trú tương lai. Như vậy họ vừa được huấn luyện tại chỗ các chuyên khoa, sau rồi ở lại làm việc tại VN, đỡ thất thoát chất xám. Ngược lại các trường Y khoa Đại Học ngoại quốc có dịp cử Giáo Sư đến VN dạy học, có thể nghiên cứu thêm bệnh lý đặc biệt của người Việt. Đề nghị này đươc chấp thuận.

2/ Có một phái đoàn Bác Sĩ Mỹ sang VN để giải phẫu tim (hình như là thuộc trường Đại Học Loma Linda thì phải) cho bệnh nhân VN. Xong việc họ mới biết Saigon có BVVD, họ đến thăm và không ngờ có một cơ sở tốt như vậy. Họ hứa lần sau sẽ đến mổ tại BVVD, rồi để lại cho bệnh viện các dụng cụ giải phẫu tim

3/ Trong đầu thập niên 70 Pháp tái lập bang giao với VN, muốn tân trang lại BV Grall, cử một phái đoàn của bộ Y Tế Pha’p trong đó có một Giáo Sư Đại Học Y Khoa, một ky õsư Bách Khoa. Ông Giám Đốc BV Grall điện thoại cho tôi xin phép cho phái đoàn đến thăm BVVD. Tôi dẫn họ xem các phòng ốc, đồ trang bị và trình bày diễn tiến của việc thành lập BVVD. Khi ra về họ nói không ngờ trong nước còn đang có chiến tranh mà đã làm được một cơ sở quá tốt như thế này.

4/ Khoảng năm 1973 bà Chủ Tịch HDQT có hỏi tôi: BVVD nên có một cái gì khác các bệnh viện khác. Tôi trả lời quý bà là Hội PNPSXH thì nên giúp cho phụ nữ VN, mà phụ nữ thì hay bị ung thư, hiện nay Viện Ung Thư Quốc Gia được Cơ Quan Y Tế Quốc Tế (OMS) viện trợ cho một bom Cobalt để trị liệu, nhưng không có ngân khoản để xây cất chỗ chứa và cơ sở tiếp bệnh nhân. Nếu bây giờ mình có khả năng xây cất nhanh chóng thì nên mở thêm khu điều trị ung thư. Đúng vào thời điểm đó một Bác Sĩ kiêm Kiến Trúc Sư chuyên về xây cất bệnh viện, làm việc cho OMS, lại thăm BVVD thấy còn nhiều đất trống, ông ta hỏi sao không xử dụng bỏ phí quá. Tôi có kể lại với ông là đang dự trù làm cơ sở dùng bom Cobalt trị liệu ung thư. Ông ta sốt sắng xung phong vẽ kiểu cho và hứa sẽ tìm người viện trợ trái bom này. Ít lâu sau tôi rời khỏi BVVD, nghe đâu ông ta đã vận động xin Hoàng Gia Đan Mạch viện trợ cho thì phải.

Khoảng tháng mười 1974 ĐT Cầm nói với tôi Ủy Ban Xây Cất chấm dứt nhiệm vụ vì việc xây cất đã xong. Tôi nghĩ mình làm việc gần năm năm rồi từ trước khi kiếm được địa điểm xây cất, nay đã hoàn thành việc tổ chức, trang bị và điều hành giai đoạn đầu, mỗi ngày làm việc trung bình 9, 10 giờ, nên tôi đệ đơn xin trở về Bộ Y Tế. Tôi phải chờ hơn hai tháng, đến 31/12/1974 HĐQT mới tìm được người thay thế: đó là Giáo Sư Đặng Văn Chiếu, cựu Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Saigon. Có sự thay đổi trong Sơ Đồ Tổ Chức BVVD: Dược Sĩ Nguyễn Thị Hai được Hội PNPSXH cử ra làm Giám Đốc BVVD, G.S. Đặng Văn Chiếu làm Giám Đốc Kỹ Thuật và Dược Sĩ Nguyễn Tiến Đức, có bằng Cao Học Y Tế Công Cộng Mỹ (MPH), làm Giám Đốc Hành Chánh.

Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu trao quyền cho Phó TT Trần văn Hương. Ngày 22/4/1975 bà Nguyễn Văn Thiệu trao BVVD cho Bộ Y Tế. Ngày 30/4/1975 Cộng Sản cưỡng chiếm Saigon, BVVD được chúng đổi tên là Bệnh Viện Thống Nhất (BVTN). Như vậy danh hiệu BVVD sống được 3 năm 7 tháng 26 ngày tính từ ngày khánh thành đến 30/4/1975, trong thời gian đó tôi phục vụ được 3 năm 3 tháng.

  • Vài hàng về BVTN:

Khi tiếp thu, theo lời các nhân viên cấp nhỏ còn được ở lại làm việc, thì CS vào ở bừa bãi trong bệnh viện, thấy phòng Thí Nghiệm luôn luôn cho chạy máy điều hòa không khí, họ chỉ trích tư bản phung phí tiền của nhân dân, họ đâu có biết trong đó có nhiều máy móc điện tử cần lúc nào cũng phải điều hòa không khí. Họ lạm dụng thang máy, những thang máy để chuyên chở một giường bệnh lớn hay hơn 10 người, họ xử dụng bừa bãi. Cuối tháng tiền điện tăng lên quá cao, họ la lối có địch phá hoại, phải điều tra! Thật là “Ngọc để Ngâu vầy”, không biết vật dụng có mất mát gì không hoặc có bảo trì đúng mức không ! Có một đồng nghiệp nghe người nhà cũng ở trong ngành y ở lại làm việc ở miền Bắc kể lại trong thời chiến miền Bắc có được một nước bạn Đông Âu viện trợ cho toàn bộ đồ trang bị một bệnh viện nhỏ, sau vài tháng đến thăm vật dụng bị mất cắp gần hết!

Sau 30/04/1975 trong vài tháng đầu, để mị dân BVTN nhận tất cả mọi người vào nằm điều trị. Được vài tháng, họ tuyên bố BVTN chỉ thâu nhận đảng viên và cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp thì được nằm ở BV Trưng Vương, còn nhân dân thì nằm BV Bình Dân. Thật là phân chia giai cấp rõ ràng, đến nỗi một cán bộ nhỏ không được nằm BVTN phải than rằng: “Thời Thiệu Kỳ ai muốn nằm BVVD cũng được, bây giờ BVTN chỉ dành cho mấy ông lớn!”. Thê’ mới biết: BVVD thì lo điều trị cho Dân, còn BVTN chỉ lo phục vụ cho Đảng!”

Sau mấy tuần họ tưởng là đã học hết công việc điều hành của bệnh viện rồi , nên họ chỉ giữ lại các y công, còn thuyên chuyển đi nơi khác tất cả các nhân viên trung cấp như một số y tá phải đổi lên nhà thương điên Biên Hòa, trong số đó có một nữ chuyên viên Gây Mê Hồi Sức rất giỏi ! Vì họ chú trọng “Hồng hơn chuyên”, nên chính những cán bộ cao cấp nằm điều trị tại BVTN, tuy nằm ở đó, mà không tin tưởng vào B.S. của họ, nên vẫn tìm B.S. “ngụy” để chữa trị!

Kết luận :

Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chiến cuộc gia tăng mạnh mẽ, BVVD ra đời nhờ sự cố gắng của trong nước và sự yểm trợ của các nước đồng minh, các cơ quan thiện nguyện và các vị hảo tâm trong và ngoài nước để bù đắp một phần nào sự thiếu thốn một hệ thống An Sinh Xã Hội (Securité Sociale). Ở thời điểm đó BVVD tương đối đầy đủ nhưng chưa thể so sánh được với các bệnh viện tối tân hiện đại của các nước Âu Mỹ ngày nay. Riêng phần tôi vì muốn làm việc xã hội mà không làm chính trị và muốn thực hiện những gì mình ấp ủ từ lâu nên đã nắm lấy cơ hội để thử sức mình. Kết quả: mang tiếng chạy theo chế độ và mất hết thân chủ phòng mạch tư, nên bị bà xã trách móc cho đến tận bây giờ!!!

Bộ Ngoại giao: Tây Ban Nha đang thu thập chứng cứ vụ án tố 2 nghệ sĩ Việt hiếp dâm

Bộ Ngoại giao: Tây Ban Nha đang thu thập chứng cứ vụ án tố 2 nghệ sĩ Việt hiếp dâm

07/07/2022

Bãi biển ở đảo Mallorca, Tây Ban Nha, nơi thu hút nhiều du khách quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng. Hai nghệ sĩ Việt Nam bị tố cáo xâm hại tình dục tại đảo này.

Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 7/7 cho biết các cơ quan chức năng Tây Ban Nha hiện đang thu thập các thông tin, chứng cứ để phục vụ cho việc điều tra vụ án tố cáo hai nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam hiếp dâm một thiếu nữ người Anh trong lúc đi du lịch tại đây.

“Hai công dân nói trên sức khoẻ bình thường, được hỗ trợ pháp lý theo đúng quy định”, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cho biết trong cuộc họp báo vào ngày 7/7 khi được yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về tình hình hai công dân Việt Nam, được cho là diễn viên Hồng Đăng và nhạc sĩ Hồ Hoài Anh, hiện đang bị cảnh sát Tây Ban Nha điều tra với cáo buộc xâm hại tình dục.

Trước đó, vào ngày 1/7, Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận Đại sứ quán Việt Nam tại Tây Ban Nha đã nhận được thông báo từ cảnh sát đảo Mallorca của nước này cho biết đã bắt giữ 2 công dân Việt Nam với cáo buộc “xâm hại tình dục đối với trẻ vị thành niên 17 tuổi” và “xâm phạm quyền riêng tư”, sau khi hàng loạt hãng truyền thông Anh và Tây Ban Nha đưa tin một thiếu nữ Anh 17 tuổi đã tố cáo với cảnh sát Tây Ban Nha rằng cô đã bị hai người là “nam diễn viên và nhạc sĩ nổi tiếng” người Việt, ở độ tuổi 37 và 42, cưỡng hiếp trong khách sạn tại Majorca (Mallorca), sau khi cô gặp các nghệ sĩ này ở một nhà hàng gần đó và giao lưu với họ.

Hai nghệ sĩ Việt đã bị cảnh sát Tây Ban Nha bắt vào ngày 25/6 và ra hầu tòa vào ngày 28/6. Mặc dù đã được tại ngoại, nhưng họ bị tịch thu hộ chiếu, bị cấm rời khỏi Tây Ban Nha trong khi cuộc điều tra đang diễn, theo truyền thông địa phương của Tây Ban Nha.

Thiếu nữ người Anh đã trở về nước cùng với gia đình sau khi đưa lời khai đầy đủ cho cảnh sát Tây Ban Nha.

Trả lời tại buổi họp báo ngày 7/7, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết thêm rằng “Đại sứ quán đã khẩn trương bước đầu triển khai các biện pháp bảo hộ công dân”, và những thông tin liên quan đến vụ án cũng như việc bảo hộ công dân “sẽ được Bộ Ngoại giao cung cấp theo đúng chức năng nhiệm vụ và thẩm quyền phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam”.

Cho đến nay, mặc dù danh tính của hai nghệ sĩ người Việt vẫn chưa được các cơ quan chức năng tiết lộ, nhưng công luận và truyền thông Việt Nam đều đưa thông tin ám chỉ đến diễn viên Hồng Đăng và nhạc sĩ Hồ Hoài Anh, là hai nghệ sĩ có cùng độ tuổi và cũng đang có chuyến công tác kết hợp nghỉ dưỡng tại Italy và tại đảo Majorca của Tây Ban Nha.

Sau khi thông tin về vụ bê bối được đưa ra, hai nghệ sĩ này dù chưa xuất hiện nhưng đã bị các hình thức kỷ luật ảnh hưởng nặng nề đến sự nghiệp.

Ngay ngày 1/7, ngày đầu tiên thông tin được công bố tại Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam (VTV) đã ra chỉ thị thay thế hoặc cắt bỏ tất cả các chương trình có sự xuất hiện của diễn viên Hồng Đăng và nhạc sĩ Hồ Hoài Anh, dù họ đang là hai tên tuổi đang ăn khách của làng giải trí Việt.

Đến tối 1/7, Ban giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, nơi nhạc sĩ Hồ Hoài Anh đang là giảng viên, đã có cuộc họp khẩn cấp và đưa ra quyết định đình chỉ công tác của nhạc sĩ này với lý do “vi phạm quy định tự động ra nước ngoài nhưng không xin phép hay thông báo tới nhà trường”.

Hôm 5/7, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tạ Quang Đông cho biết diễn viên Hồng Đăng và nhạc sĩ Hồ Hoài Anh đã có luật sư và vẫn đang ở Tây Ban Nha để chờ gặp thẩm phán.

Tuổi trẻ tài cao: Cậu bé 13 tuổi ở Minnesota tốt nghiệp đại học

Tuổi trẻ tài cao: Cậu bé 13 tuổi ở Minnesota tốt nghiệp đại học

April 24, 2022

Nguoi-viet

MINNEAPOLIS, Minnesota (NV) – Một cậu bé ở tiểu bang Minnesota chuẩn bị tốt nghiệp cử nhân đại học chuyên ngành vật lý và toán khi chỉ mới 13 tuổi, theo hãng thông tấn AP hôm Thứ Bảy, 23 Tháng Tư.

Sinh viên Elliott Tanner, 13 tuổi, đạt điểm trung bình (GPA) 3.78/4.0 tại Đại Học Minnesota. Em hiện đang tham gia nghiên cứu bậc đại học và dạy kèm các bạn cùng lớp.

Elliott Tanner. (Hình: Tanner Family)

Em mong muốn trở thành nhà vật lý lý thuyết năng lượng cao và sau đó thành giáo sư vật lý của trường.

“Tôi có một niềm đam mê rất lớn đối với ngành vật lý. Đó là một trong những thứ mà tôi yêu thích từ lâu nay,” Tanner cho hay.

Bà Michelle Tanner, mẹ của Elliott, cho biết em bắt đầu biết đọc và làm toán khi lên 3 tuổi.

“Những người nghe về câu chuyện của Elliott đều nói rằng thằng bé không có được thời tuổi thơ hoặc nó lớn quá nhanh. Con tôi vẫn còn là một đứa trẻ và điểm khác biệt duy nhất là thằng bé đi học ở một ngôi trường khác với bạn bè cùng lứa,” bà nói.

Ngoài việc sắp tốt nghiệp đại học, Elliott đã được nhận vào chương trình Tiến Sĩ Vật Lý của Đại Học Minnesota. Hiện ba mẹ em đang tìm cách chi trả số tiền học phí.

“Chúng tôi đang nỗ lực tìm hiểu mọi lựa chọn song đều đi đến ngõ cụt. Dù là nộp đơn xin học bổng, nghiên cứu sinh hay trợ cấp, chúng tôi đều không thành công,” bà Michelle cho hay. (V.Giang) [kn]

Cảnh sát Tây Ban Nha bắt hai nghệ sĩ từ Hà Nội vì tội hiếp dâm

Cảnh sát Tây Ban Nha bắt hai nghệ sĩ từ Hà Nội vì tội hiếp dâm

Khách sạn Andratx, nơi xảy ra sự vụ (Ảnh: Agoda)

Cảnh sát Tây Ban Nha cho hay một cô gái người Anh, 17 tuổi, đã tố cáo với cảnh sát mình bị cưỡng hiếp ở Majorca bởi hai nghệ sĩ Việt Nam (một diễn viên và một nhạc sĩ). Hai kẻ này sau khi hành sự đã bắt cô tắm rửa để làm sạch bằng chứng cuộc tấn công tình dục ngay trong khách sạn mà họ đang ở tại Andratx. Một nguồn tin của báo chí địa phương cho biết hai nghệ sĩ Việt Nam này đã bị bắt tại khách sạn vào ngày 26 Tháng Sáu, và bị cấm rời khỏi Tây Ban Nha để được điều tra.

Cô gái người Anh kể hai người đàn ông trên tiếp cận làm quen với cô ở khách sạn. Họ tự mô tả là “diễn viên và nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam”. Sau đó, vụ tấn công tình dục xảy ra. Hồ sơ cảnh sát không tiết lộ chi tiết cuộc tấn công cưỡng hiếp. Sau đó, cô gái này về, khóc và lo sợ, kể với dì của mình. DailyMail cho biết là dì của nạn nhân đã báo cảnh sát.

Tờ báo Ultima Hora phát hành trên đảo nói rằng cảnh sát sẽ chưa đưa tin về bất kỳ ai, trước khi có kết quả cuối cùng. Tuy nhiên, cảnh sát xác nhận hai người đàn ông Việt Nam là 37 và 42 tuổi. Hiện tại, cô gái người Anh được cho là đã rời hòn đảo cùng gia đình, sau khi cung cấp đủ lời khai về vụ tấn công cho cảnh sát và một thẩm phán.

Tờ Ultima Hora thuật rằng hai người đàn ông và cô gái ở trong các khách sạn riêng biệt ở khu Andratx. Nạn nhân được tiếp cận và trò chuyện tại một nhà hàng gần đó. Sau đó hai người này mời cô đến nơi mà họ đang ở, để xem một số “tác phẩm” của họ. Trước đó, cả hai người đàn ông đã đi theo cô gái đến bãi biển và bắt chuyện.

Cô gái người Anh 17 tuổi đã được các bác sĩ tại Bệnh viện Son Espases ở Palma (Mallorca) kiểm tra như một phần của quy trình điều tra-xác nhận sự việc. Ngoài việc bị cấm rời khỏi Tây Ban Nha, hai nghi phạm bị yêu cầu xuất trình hộ chiếu, nhờ đó được biết họ mang quốc tịch Việt Nam. Tờ Diario de Navarra nói rằng hai người đàn ông từ chối trả lời các câu hỏi của cảnh sát.

_________

Hai nghệ sĩ Việt Nam bị tình nghi hãm hiếp một thiếu nữ ở Tây Ban Nha là ai?  

Làm sao để cấm một bài hát?

Làm sao để cấm một bài hát?

Jackhammer Nguyễn

30-6-2022

Tác giả Nguyễn Khoa đặt câu hỏi như thế trong một bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên trang Viet-Studies.

Vài ngày sau, chính quyền Việt Nam trong nước, không rõ có đọc bài viết đó hay không, nhưng dường như đã có câu trả lời. Báo Tuổi Trẻ đưa tin (nói là theo nguồn tin riêng của họ) rằng bà Khánh Ly đã bị cơ quan chức năng mời làm việc, vì bà đã cả gan hát bài “Gia tài của mẹ”, của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Cơ quan tổ chức buổi biểu diễn của bà Khánh Ly ở Đà Lạt, cũng bị mời làm việc.

Bà Khánh Ly được xem là ca sĩ hát nhiều bản nhạc của ông Trịnh Công Sơn, hát thành công nhất cho tới nay. Bài “Gia tài của mẹ”, nằm trong nhóm sáng tác Ca khúc da vàng, được xem là phản chiến của cố nhạc sĩ vào thời chiến tranh Việt Nam, trong đó có đề cập đến nội chiến, điều mà nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay không chấp nhận.

Khái niệm nội chiến là vô cùng nhạy cảm đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đến mức một cuốn sách viết về thời Tây Sơn, trước khi Đảng Cộng sản ra đời hàng trăm năm cũng không được ghi là nội chiến khi xuất bản ở Việt Nam (quyển Nước Việt Nam thời Tây Sơn của sử gia Tạ Chí Đại Trường có tên gốc là Lịch sử nội chiến Việt Nam).

Thôi hãy cứ cho là nội chiến hay ngoại chiến là quan điểm, có thể tranh cãi, nhưng khi tôi lướt qua mấy trăm bình luận dưới bài của Nguyễn Khoa trên Facebook của Viet-Studies, thì rõ ràng là nội chiến.

Chẳng phải nội chiến hay sao khi có những phe khác nhau nhưng toàn là người Việt, sử dụng toàn là tiếng Việt, để mắng nhau, thóa mạ nhau, chẳng hề có một… “yếu tố nước ngoài” nào cả, có chăng đó là yếu tố nước ngoài Facebook, sản phẩm công nghệ của … “đế quốc Mỹ”.

Trong những cãi vả chửi bới trên trang Facebook của Viet-Studies, nổi bật lên nhóm ủng hộ chính quyền Hà Nội hiện nay, nhóm ghét ông Trịnh Công Sơn “thuộc” (!?) Việt Nam Cộng hòa, rất ít. Trong số hơn 300 bình luận (đến ngày 29/6/2022), có đến khoảng 50 bình luận là thóa mạ “đế quốc Mỹ”, phủ nhận “nội chiến”, mắng chửi tác giả, dù là tác giả đưa ra những sự việc mang tính chỉ trích cả hai bên.

Có thể là với đoạn cuối của bài viết, nói về sang chấn tâm lý dân tộc, hay là căn bệnh tinh thần có vẻ như vô phương cứu chữa của Việt Nam, tác giả đã làm cho những người ủng hộ Hà Nội, cảm thấy bất an, từ đó có một phản ứng thóa mạ, mạt sát dữ dội như thế.

Phân tích ngôn ngữ của nhóm này (tạm gọi là nhóm Hà Nội), ta thấy họ bị ảnh hưởng rất mạnh của ngôn ngữ tuyên truyền của cơ quan tuyên giáo của Đảng. Họ dùng những từ mẫu, có sẵn trong các bài viết tuyên truyền của Đảng, mà từ ông đảng trưởng là tổng bí thư cho đến viên chủ tịch xã đều dùng. Ngoài vô vàn lỗi chánh tả, lỗi ghép câu, thì nội dung cũng rất lộn xộn. Khi đọc những bình luận này ta thấy sự trộn lẫn rất thú vị của sự mạt sát, ý muốn làm nhục, tấn công (đánh, giết) người khác, của tầng lớp… “vô sản lưu manh”, với ngôn ngữ chính trị của Đảng Cộng sản, với ngôn ngữ trịch thượng “hủ nho” của các lũy tre làng.

Nếu lấy hơn 300 bình luận làm một mẫu khảo sát nhỏ thì tỷ lệ của nhóm “Hà Nội” này là 1/6, một tỷ lệ khá cao mà chế độ có thể an tâm dựa vào đó mà sống còn.

Tuy nhiên, không thể lấy cái mẫu 300 và 1/6 ấy làm đại diện cho nước Việt Nam hiện tại được, vì có hàng chục triệu nông dân Việt Nam đang lo lắng mùa màng thất bát, hàng triệu công nhân, lương chết đói, không có thì giờ đâu mà vào Facebook.

Nhưng có thể nhóm 1/6 này là nhóm gần với bộ máy của chế độ, hay là những ốc vít của bộ máy chế độ, vì thế nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc vận hành xã hội Việt Nam ngày nay.

Trở lại câu hỏi của Nguyễn Khoa, làm thế nào để cấm một bài hát. Sau vụ mời bà Khánh Lý và cơ quan tổ chức cho bà biểu diễn, tôi vẫn không thể hiểu được là liệu họ có cấm được bài hát “Gia tài của mẹ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay không!

Theo báo Tuổi Trẻ thì, có đến 1000 người đến nghe bà Khánh Ly hát, trong đó ắt hẳn có rất đông người đã biết bài hát ấy. Những người này hát nho nhỏ cho vợ chồng họ nghe trong nhà, trong quán cà phê cho bè bạn, chuyền tay nhau những clip kỹ thuật số, USB, chứ đâu cần những bản chép tay cồng kềnh dễ bị các viên bí thư đoàn thanh niên bắt gặp, hồi hơn 40 năm trước!

Trong bài Gia tài của mẹ, Trịnh Công Sơn hát rằng:

Gia tài của mẹ, một bọn lai căng

Mẹ mong lũ con cùng cha quên hận thù

Gia tài của mẹ, một nước Việt buồn

Đọc lại các bình luận của nhóm Hà Nội 1/6, tôi thật khâm phục sự tiên tri của ông.

Căn nhà nhỏ đơn sơ, vách đất bần cùng của hàn sỹ dị thường Hữu Loan.

Hữu Vũ, con trai Hữu Loan, ngồi bên hiên nhà của ba mình ở Nga Sơn, Thanh Hóa, sáng 25. 6. 2019

Nỗi lòng cha cô Phạm Như Quỳnh, người bị chồng cắt cổ chết ở Florida

Nỗi lòng cha cô Phạm Như Quỳnh, người bị chồng cắt cổ chết ở Florida

June 26, 2022

Đỗ Dzũng/Người Việt

NHA TRANG, Việt Nam (NV) – “Tôi mà biết con tôi bị chồng hành hạ như vậy thì tôi đã tìm cách sang Mỹ để bảo vệ nó. Tôi không biết gì cả, đến khi hay tin cháu qua đời,” ông Phạm Văn Thành, hiện sống ở Nha Trang, nói với nhật báo Người Việt qua Facetime hôm Thứ Bảy, 25 Tháng Sáu.

Cô Phạm Như Quỳnh, ngày rời phi trường Tân Sơn Nhất để đi Mỹ hồi năm 2017. (Hình: Phạm Văn Thành cung cấp)

Ông Thành là cha của cô Phạm Như Quỳnh, 22 tuổi, bị chồng là anh Xichen Yang cắt cổ chết một cách dã man hôm 21 Tháng Sáu ở Altamonte Springs, Florida.

“Từ khi tôi và mẹ cháu ly dị, tôi không biết tin gì về con gái mình. Hôm 21 Tháng Sáu, mẹ cháu cho biết, tôi rất bàng hoàng,” ông Thành nói trong nước mắt.

“Hồi năm 2018, cháu có về chơi, tôi có gặp, nhưng kể từ đó, cháu không liên lạc tôi nữa. Có lần cháu text cho tôi, nói rằng con cố gắng đi học, mai mốt về nuôi bố, tôi rất tự hào, để text lên Facebook khoe với mọi người.”

Ông Thành cho biết, ông không hề biết con gái bị chồng hành hạ.

“Tôi chỉ biết con gái mình bị chồng hành hạ sau khi cháu chết, qua mạng xã hội. Tôi thấy hình điện thoại của cháu bị đập bể, thấy đùi bị bầm dập, biết cháu từng bị chồng cho đi bộ về nhà,” ông Thành rầu rĩ nói. “Tôi mà biết chuyện thì thể nào cũng tìm cách qua đó bảo vệ cháu. Hoặc có thể tôi sẽ nói chuyện với chồng cháu, dù gì hai người đàn ông nói chuyện với nhau cũng dễ hơn.”

Ông Thành cho biết cô Quỳnh sinh năm 2000, được gia đình lo cho qua Mỹ du học hồi năm 2017.

“Lúc đó, tôi phải bán một miếng đất bố tôi để lại để lo cho cháu đi du học, không ngờ kết cuộc bi thảm như bây giờ. Thật là buồn. Mấy ngày nay tôi chỉ biết khóc. Tôi có một con chó, tối nào tôi cũng ôm nó mà khóc vì nhớ con gái mình,” người cha cô gái xấu số kể tiếp. “Có một em trai của Quỳnh, sinh năm 2002, đang học đại học, ở với tôi. Cháu nghe tin chị chết, buồn lắm, nói không biết có học tiếp nổi không.”

Ông Thành cũng kể, ông không ngờ con gái có chồng người gốc Hoa, mặc dù có người khác thích con gái ông.

“Có một cậu rất thương nó, nhưng nó lại thích anh người Hoa này. Có lần, cậu đó gọi về nói với tôi, và rất buồn. Biết sao bây giờ. Con mình nó chọn thì mình chịu thôi,” ông Thành than thở.

Ông cho biết thêm, mấy bữa nay, ngày nào ông cũng lên chùa Mẹ Lộ Thiên cầu khẩn cho thi thể con gái sớm được đưa về Việt Nam để ông nhìn mặt lần cuối. Ông cũng đang tìm nghĩa trang để chôn cất con gái.

“Cho tôi gởi lời cảm ơn tất cả cộng đồng mạng, bà con, đồng hương, chia sẻ tin tức, hỏi thăm, và hỗ trợ con gái tôi thời gian qua,” ông Thành nói thêm.

Hôm 22 Tháng Sáu, cảnh sát thành phố Altamonte Springs cho hay nghi can Xichen Yang, cư dân nơi đây, xác nhận dùng dao cắt cổ vợ, cô Phạm Như Quỳnh, ngay tại nhà của hai người, ở khu chung cư trên đường Ballard St. gần Ronald Reagan Blvd. lúc khoảng 9 giờ sáng 21 Tháng Sáu.

Theo bản tin của đài truyền hình địa phương WFTV Orlando cùng các cơ quan truyền thông khác, nghi can sau đó kéo nạn nhân vào bồn tắm, ngồi cạnh nắm tay, cho nghe bản nhạc nạn nhân ưa thích, trong khi nạn nhân chết dần.

Nghi can khai với cảnh sát rằng anh có thể không làm hành động giết người ghê gớm này, nhưng nói thêm rằng mình là kiểu người “luôn làm mọi sự tới nơi tới chốn.”

Theo hồ sơ cảnh sát, anh Yang cho biết lý do giết vợ vì cô đốt sổ thông hành của anh, và hành động trong cơn giận dữ.

Hai vợ chồng chỉ mới cưới nhau chưa được một năm.

Cảnh sát nói từng hai lần được gọi đến căn chung cư. Một lần là vì nghi can Yang “có hành động gây hại cho chính mình” khiến người vợ lo ngại. Lần thứ nhì là vì nghi can bị tố cáo đánh vào mặt vợ.

Nghi can Yang vẫn bị giam giữ để điều tra, không được tại ngoại.

Ông Phạm Văn Thành khấn vái tại chùa Mẹ Lộ Thiên, Nha Trang, mong sớm gặp con gái. (Hình: Phạm Văn Thành cung cấp)

Trong khi đó, một số người cho hay có quen biết với nạn nhân Phạm Như Quỳnh đang tổ chức quyên góp qua trang GoFundMe để có tiền trang trải chi phí đưa thi thể cô về Việt Nam, nơi cả gia đình cô đang sinh sống, theo lời người đứng ra tổ chức là anh Ryan Trần.

Một người trong số này, Trinh Nguyễn, cho biết trên trang GoFundMe rằng cô Phạm Như Quỳnh còn cha mẹ và hai người em cùng nhiều chú bác cô dì ở Việt Nam.

Cho đến Thứ Bảy, 25 Tháng Sáu, số tiền thu được là gần $30,000 so với mức mong muốn là $10,000. [kn]


Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com

9 tiếp viên hàng không Việt Nam bị bắt ở Úc vì chuyển tiền lậu

9 tiếp viên hàng không Việt Nam bị bắt ở Úc vì chuyển tiền lậu

June 17, 2022

Nguoi-Viet

MELBOURNE, Úc (NV) – Ba ngày sau khi trang 7 News đưa tin về “chín nghi can là tiếp viên hàng không bị bắt quả tang chuyển lậu một lượng lớn tiền mặt,” các báo ở Việt Nam hôm 17 Tháng Sáu dẫn phản hồi của hai hãng hàng không về sự việc.

Bản tin của trang 7 News không đề cập quốc tịch Việt Nam của các nghi can, nhưng tang vật sau vụ bố ráp của cảnh sát Úc tại phi trường Melbourne là 60,000 đô la Úc ($41,939) được chia nhỏ và cất giấu trong hành lý kèm theo chín cuốn sổ thông hành (passport) Việt Nam.

Tang vật vụ chuyển tiền lậu tại phi trường Melbourne, Úc, là chín cuốn sổ thông hành Việt Nam. (Hình: Chụp qua màn hình)

Vụ chuyển tiền lậu được cho là liên quan đến một đường dây vận chuyển ma túy vào Úc. Chín tiếp viên bị cáo buộc “rửa tiền.”

Liên quan vụ này, báo Dân Trí hôm 17 Tháng Sáu cho hay, hiện nay, chỉ có hai hãng hàng không Việt Nam đang khai thác đường bay thẳng thường lệ tới Úc là Vietnam Airlines và Bamboo Airways.

Theo báo này, từ Melbourne về Sài Gòn gần đây có chuyến bay VN780 của Vietnam Airlines ngày 13 Tháng Sáu và QH89 của Bamboo Airways ngày 12 Tháng Sáu.

Ông Đặng Anh Tuấn, trưởng Ban Truyền Thông của Vietnam Airlines, được dẫn lời: “Cho tới nay, các tổ bay, tiếp viên của Vietnam Airlines vẫn bay đi và về bình thường.”

Ông Tuấn cho biết thêm là Vietnam Airlines đang đề nghị nhà chức trách Úc “thông tin rõ hơn.”

Trong khi đó, đại diện hãng hàng không Bamboo Airways phủ nhận cáo buộc tiếp viên của hãng liên quan tới sự việc nêu trên.

“Mọi hoạt động của Bamboo Airways và cán bộ nhân viên hãng đều tuân thủ quy định của nhà chức trách tại Việt Nam cũng như các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ quốc tế nơi hãng có hoạt động,” theo báo Dân Trí.

Báo Zing dẫn lời một giới chức ẩn danh của Cục Hàng Không Việt Nam về sự việc: “Sơ bộ cho thấy vụ việc không quá nghiêm trọng nên các tiếp viên được về nước và nhà chức trách Úc chưa có phản hồi gì với nhà chức trách Việt Nam. Có thể chỉ là kiểm tra hành chính và nhắc nhở.”

Một nghi can bị dẫn giải trong vụ chuyển tiền lậu liên quan đến một đường dây vận chuyển ma túy tại phi trường Melbourne, Úc. (Hình: Chụp qua màn hình)

Giới chức này nói thêm, nhà chức trách Úc mời chín tiếp viên của một hãng hàng không Việt Nam vào thẩm vấn và kiểm tra, phát hiện có số lượng tiền mặt. Sau đó, tám người được bay về nước ngay trong ngày, một người về vào ngày hôm sau.

Tuy vậy, người này không nêu cụ thể đó là hãng hàng không nào của Việt Nam.

Cũng theo báo Zing, quan thuế Úc quy định mỗi người ngoại quốc nhập cảnh vào nước này không được đem quá 10,000 đô la Úc ($6,989). Sau vụ này, cơ quan quản lý tiếp viên Vietnam Airlines đã yêu cầu tất cả tiếp viên bay quốc tế không được đem quá $500 tiền mặt. (N.H.K) 

Chuyện của Sam, cậu bé gốc Việt có khuôn mặt lạ

Chuyện của Sam, cậu bé gốc Việt có khuôn mặt lạ

Gia đình tràn ngập tình yêu vĩ đại của ông bà Ettore. Sam (thứ 4 từ trái qua) trong ngày tốt nghiệp. Ảnh: Hope Ettore

Còn gần 10 phút nữa đến giờ hẹn phỏng vấn. Như mọi lần, tôi vào sớm, đăng nhập vào đường dẫn Zoom đã tạo trước để chờ đợi nhấn nút “accept.” Thế nhưng lần này, trên màn ảnh hiện ra thông báo “có người đang chờ.” Bà Hope Ettore, từ thành phố Ramona, Calif, đã chờ sẵn. Khoảng một phút sau, Samuel (Sam) Ian Ettore đến ngồi bên cạnh. Một bà mẹ Mỹ trắng bên cạnh cậu con trai Á châu. Cả hai gửi lời chào với nụ cười rạng rỡ, hạnh phúc.

Hai ngày trước, Sam làm lễ tốt nghiệp trung học và cũng là lần đầu tiên sau 18 năm, cậu nhìn thấy cha mẹ ruột của mình ở Việt Nam qua màn hình điện thoại.

Từ một giấc mơ

Năm 2005, lần đầu tiên thấy gương mặt của cậu bé Nguyễn Lê Hùng với khối thịt to trên má, che một phần mắt bên phải, toàn thân bị nhiễm da xanh, nằm lẻ loi trong trại mồ côi Gò Vấp, ông bà John Ettore và Hope Ettore đã không quay lưng bước đi. Ông bà đã làm thủ tục nhận Hùng làm con, đón em về Mỹ chữa trị, cho em một cuộc đời mới. Hùng hiện giờ là Samuel Ian Ettore – một thanh niên khoẻ mạnh, yêu đời. Khối u ác nghiệt hoàn toàn biến mất, chỉ để lại trên mặt em một dấu vết mờ, nếu không nhìn kỹ sẽ không thấy. Sức mạnh nào đã giúp ông bà tái sinh Sam một lần nữa?

Sam (bên phải) và em gái Lilah Ettore ngày tốt nghiệp trung học. Ảnh: Hope Ettore

Quay về những năm 90, bà Hope (khi đó chưa kết hôn với John Ettore) là nhà dịch tể học làm việc ở Manila, Phillippines. Tại đó, bà nhìn thấy những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong một xã hội nghèo khổ, không có bảo hiểm y tế, không có điều kiện chữa trị. Bà nhận ra sự khác biệt to lớn với Mỹ quốc của bà, nơi mà “cho dù có người rất nghèo nhưng có nhiều chương trình y tế có thể giúp họ có được bảo hiểm”. Từ đó, bà luôn nghĩ đến việc nhận một hoặc hai đứa trẻ làm con nuôi.

“Đó không chỉ là những đứa trẻ cần mái ấm gia đình mà còn cần sự chăm sóc tốt về y tế để khỏi bệnh,” bà Hope kể lại với Saigon Nhỏ qua cuộc gặp trên Zoom.

Sau khi kết hôn, bà vẫn giữ ý định này và chia sẻ với chồng mình, ông John Ettore. Vài năm sau đó, cả hai bắt đầu tìm kiếm, liên hệ với các tổ chức nhận con nuôi.“Bởi vì hầu hết người nhận con nuôi đều muốn nhận những đứa trẻ khoẻ mạnh. Họ không muốn nhận những đứa bé bệnh tật,” bà nói. Danh sách chờ xin những đứa trẻ khoẻ mạnh vì vậy mà tỉ lệ thuận với danh sách những đứa trẻ bệnh tật. Bà và chồng luôn cầu nguyện mỗi ngày.

Một đêm nọ, bà bỗng nằm mơ thấy mình đang đi bộ trên đường phố Sài Gòn.

“Điều này làm cho tôi nghĩ có lẽ đây là một điềm báo chỉ cho chúng tôi biết cần phải làm gì.”

Cuộc tìm kiếm lại tiếp tục với hướng đến là Việt Nam. Nhưng tại đây, ông bà lại gặp một trở ngại khác. Năm đó, nạn buôn bán trẻ em bùng phát. Mỹ và Việt Nam phải tạm hoãn quy chế xin con nuôi. Không nản lòng, ông bà Ettore liên lạc với ba tổ chức lớn. Một trong ba tổ chức này có một dòng chữ nhỏ ghi chú ở vị trí cuối cùng của website, đó là “Nếu bạn thật sự muốn nhận nuôi một đứa trẻ “very sick”, hãy gọi đến số điện thoại này.” Có một thoả thuận đặc biệt giữa hai quốc gia cho phép đứa trẻ đó được người Mỹ nhận nuôi vì cần chế độ chữa trị cấp bách.

Đứa trẻ đó là Nguyễn Lê Hùng, quê ở Phú Riềng. Hùng bị sinh non và có một anh em sinh đôi. Vì Hùng bị bệnh khá nặng nên cha mẹ gửi em trong trại trẻ mồ côi Gò Vấp, giữ lại người anh em song sinh. Nhiều lần cha mẹ Hùng vì nhớ con muốn đón về, nhưng vì Hùng cần phải được chăm sóc y tế, nếu không cậu sẽ khó sống được. Cha mẹ của Hùng đành gạt nước mắt để con ở lại, mong có gia đình nước ngoài nhận em về nuôi để chữa bệnh.

Bà Hope không hình dung được lời cảnh báo “đứa trẻ rất cần được chữa trị” là như thế nào cho đến khi nhìn tấm ảnh của Hùng qua email. Bà nhớ lại lúc đó đang đứng trong phòng làm việc của ông John, bà chỉ thốt lên “Wow.” Ông bà nhìn nhau và họ quyết định rất nhanh: “Chúng ta cần phải làm gì với tình trạng này? Nếu đứa trẻ này có một cơ hội nào đó, thì đó phải là ở Mỹ, nơi có chế độ chăm sóc y tế tốt nhất thế giới. Chúng ta cần phải làm điều đó.”

Sau bảy tháng làm tất cả những thủ tục hành chính cần thiết, ông bà bay sang Việt Nam. Ngày đầu tiên nhìn thấy Hùng – lúc đó 16 tháng tuổi, nằm chơ vơ trong chiếc cũi với bình sữa và cái gối bên cạnh, bà Hope đã tự nói “phải cứu đứa bé.”

Bà kể lại: “Có nhiều lời lẽ dị đoan về hình dáng bên ngoài của Sam lúc đó. Họ nghĩ những đứa trẻ như thằng bé là do hậu quả của gia đình làm gì không tốt. Và thật sự là trong trại mồ côi họ không biết cách nào để chăm sóc đứa trẻ như Sam. Họ chỉ để thằng bé nằm trong nôi, để bên cạnh là cái gối và bình sữa. Thông thường 16 tháng tuổi là đứa trẻ có thể chập chững đi, bập bẹ nói và nhận biết xung quanh. Nhưng Sam lúc đó thậm chí không tự giữ vững được đầu và cổ, vì không ai đỡ thằng bé dậy, tập cho xương cổ đủ cứng để hoạt động.”

Chặng đường tái sinh Sam

Tháng Mười Một, 2005, ông bà Ettore đón Sam về Mỹ, bắt đầu cuộc chiến giành lại cuộc sống phát triển bình thường cho Sam. Cậu bé đã trải qua tổng cộng 11 cuộc phẫu thuật, trong đó là năm lần phẫu thuật để cắt bỏ khối u trên má phải vì khối u quá lớn không thể thực hiện trong một lần.

“Họ lấy một phần sụn ở tai để tạo hình mũi cho Sam. Sam cũng phải làm phẫu thuật mắt phải để có thể nhìn thấy vì nó nằm phía sau khối u. Sau đó là rất nhiều lần chữa trị bằng tia laser để làm mịn phần da mặt. Rồi những năm dài tiếp theo là tập vật lý trị liệu về đi đứng, giọng nói, sức khoẻ…”

Bà Hope nói đến đâu, Sam ngồi bên cạnh chỉ tay vào những phần đó trên gương mặt. Em đưa thật sát mặt vào màn hình, lấy kính cận xuống để cho thấy phần mặt từng phải trải qua 11 lần phẫu thuật. Phải nhìn gần lắm mới thấy vết những vết dư tích mờ sót lại.

Vì phải trải qua những cuộc phẫu thuật và điều trị kéo dài nên Sam từng là một đứa trẻ chậm phát triển. Khoảng bốn tuổi, Sam mới biết nói. Nhiều năm liền cậu học ở một trường đặc biệt dành cho những đứa trẻ có vấn đề về phát triển như mình. Cho đến cách đây hai năm, Sam đã hoàn toàn bình phục.

“Sam tốt nghiệp lớp 12 từ một ngôi trường bình thường như những đứa trẻ khác. Mùa thu năm nay, Sam sẽ vào đại học” – Bà Hope nói, đôi mắt đầy hạnh phúc.

Chàng trai cao to, da ngăm đen rắn rỏi, chiếc kính cận làm cho cậu ra dáng một thư sinh, ngồi sát bên bà Hope. Mỗi khi muốn hỏi gì, cậu lại ghé sát tai của mẹ thì thầm như một cậu bé nhỏ. Sam cảm ơn mẹ và gia đình đã luôn ở bên cạnh mình, giúp Sam vượt qua thời gian khắc nghiệt nhất.

Đó không chỉ là những năm chiến đấu để lấy lại hình hài bình thường, mà đó còn là khoảng thời gian dài khi còn nhỏ, Sam nghĩ mình là đứa trẻ tự kỷ. Khi thấy mình phải học tập trong một ngôi trường đặc biệt, phải gặp bác sĩ thường xuyên, không giao tiếp nhiều với xã hội, Sam gọi đó là “tự kỷ.”

“Em đã từng nghĩ em không bao giờ có thể hoà nhập với xã hội, nhưng em đã vào được trường công, tốt nghiệp như một đứa trẻ bình thường, bây giờ em đã làm được điều đó. Thật là kỳ lạ,” Sam diễn giải niềm vui của mình.

14 tháng còn lại của bà Hope và cuộc điện thoại sau 18 năm

Ông bà Ettore không dấu Sam về nguồn gốc của anh. Ông bà cũng nói rõ nguyên nhân vì sao anh phải nằm lại trại trẻ mồ côi Gò Vấp. Ngoài Sam, ông bà Ettore còn một cậu con trai nuôi tên Josiah. Mẹ của Josiah chết vì bệnh lao. Josiah được ông bà Ettore nhận nuôi từ một trại trẻ mồ côi ở Ethiopia. Dù bị mất một chân, Josiah vẫn giành chức vô địch tiểu bang môn “adaptive track.”

Josiah và cha mẹ nuôi, ông Ettore. Ảnh: Hope Ettore

Bà Ettore đã thực hiện đúng mong mỏi của bà thời còn trẻ – nhận nuôi một, hoặc hai đứa trẻ cần sự giúp đỡ về điều kiện y tế. Ông bà không chỉ tái sinh cuộc đời của Sam, của Josiah mà còn trả về cho cả hai nguồn gốc của họ. Hai năm trước, ông bà đã tìm được cha ruột của Josiah nên cũng có niềm tin sẽ tìm được cha mẹ ruột của Sam.

Ngoài niềm tin đó, bà Hope còn một lý do khác, đó là vào Thứ Hai tuần trước, bác sĩ chuyên khoa ung thư cho bà biết bà chỉ còn khoảng 14 tháng để chống lại những di căn đã vào xương. Bà phát hiện mình bị ung thư ngực năm 2015. Những tưởng đã qua khỏi, nhưng đến 2019 căn bệnh tái phát và nặng hơn. “Đến 2020, 2021 là giai đoạn bốn,” bà nói.

“Trung bình thời gian cho người bị ung thư vú bộ ba âm tính như tôi là hai năm. Những di chứng của loại bệnh này tập trung ở xương. Điều đó chẳng tốt hơn là nó đi vào não, vào gan chúng ta sao? Tôi rất đau đớn nhưng có thể tôi sẽ sống lâu hơn hai năm thì sao? Tôi luôn lạc quan. Tôi có nhiều kế hoạch để thực hiện. Tôi sẽ tiếp tục cuộc sống của mình. Tôi không chỉ ngồi đây và đợi cho đến khi chết,” bà Hope nói với nụ cười và ánh mắt đầy sức mạnh.

Sam ngồi kế bên, choàng tay ôm vai mẹ. Lúc này, nhìn Sam như một dũng sĩ luôn cận kề bảo vệ cho mẹ trong mọi tình huống. Sam nói anh ước mơ trở thành đầu bếp. Sam thích nấu ăn. Thời gian bà Hope chống chọi với ung thư ngực, Sam là bác sĩ dinh dưỡng tuyệt vời của bà.

Một trong những kế hoạch của bà Hope là tìm lại cha mẹ ruột cho Sam. Bà đã làm được điều đó. Như một phép màu nhiệm, câu chuyện của bà Hope kể cho người bạn Mỹ gốc Việt thời đại học đăng tải bằng tiếng Việt trên mạng xã hội. Bà kể: “Một phụ nữ Việt ở Seattle chia sẻ lại. Dì của người này, sống ở Phú Riềng, đọc được và nhận ra vì cha mẹ của Sam đang làm việc cho người này.”

Thế là sau vài cuộc gọi vượt đại dương, xuyên tiểu bang California – Seattle – Vietnam, bà Hope đã tìm lại được cha mẹ ruột của Samuel.

Ngày Sam tốt nghiệp trung học, cũng là ngày anh được nhìn và nói chuyện với cha mẹ ruột của mình ở Việt Nam. Đó là món quà 18 tuổi tuyệt vời ông bà Ettore dành cho đứa con trai nuôi của mình. Tạm biệt bà Hope và Sam, tôi chúc mừng anh có một gia đình tràn ngập tình yêu. Sam nói: “Bây giờ tôi có hai gia đình.”

Nếu tạo hoá có quyền định sẵn hoặc an bài tất cả những gì không nằm trong lòng bàn tay của con người, thì đó gọi là duyên phận. Một trong duyên phận đó, chính là sự sắp đặt để vợ chồng ông bà John Ettore nhìn thấy tấm ảnh của cậu bé tám tháng tuổi Nguyễn Lê Hùng – Samuel Ettore. Lúc đó Hùng trong một hình hài và một sức khoẻ mà trại trẻ mồ côi ở quận Gò Vấp đã báo trước: “Ai gặp một lần cũng không trở lại.

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC, giáo sư Hoàng Xuân Hãn…

Nhân việc mỗi năm thay đổi bộ sách GK mới, nhớ đến BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC TRONG CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM 1945

————

Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ.

Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.

Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, “một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. Năm 1943, Hội Khuyến học Nam kỳ (SAMIPIC) tặng giải thưởng” (theo giáo sư Nguyễn Đình Đầu)

Năm 1945, cụ được mời là Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim.

Vừa nhậm chức, nhận thấy chương trình trung học ở ta khi đó còn dạy theo lối Pháp, giáo sư Hoàng Xuân Hãn liền họp các giáo sư trung học và yêu cầu lập chung một chương trình có tính cách hoàn toàn quốc gia Việt Nam.

Cụ kể lại “Tôi tự đặt ra một số nguyên tắc mới, mà sau này chính chương trình Trung học Pháp cũng theo (như vượt lên về toán, lý, hóa, bỏ chia trung học ra hai phần. . .). Chính tôi đã đặt ra những từ: Phổ thông và Chuyên khoa. Nhất là như tôi đã nói, tôi thấy về văn học ta thiếu những người học sâu về cổ văn, để hiểu và dạy quốc văn nghiêm túc, và nhận văn bản đúng hay sai. Vì lẽ ấy tôi đã đặt Ban chuyên khoa cổ văn như trong các chương trình Âu châu. Trong những người có công lớn trong việc cải cách, có Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… Cuối tháng 6, lần đầu mở kỳ thi trung học bằng tiếng Việt tại Huế. Những bài làm rất tốt, kể cả bài thi triết học”.

Chương trình trung học của Hoàng Xuân Hãn được các Bộ Giáo dục VNDCCH và VNCH áp dụng rất lâu. Mà nơi lâu nhất là VNCH dùng tới 1972. Các chương trình sau đó có cải cách nhưng vẫn nằm cơ bản trong nền tảng của chương trình này.

Sau ngày chính phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm, Hoàng Xuân Hãn trở về dạy và viết sách toán bằng tiếng Việt, cùng cứu vãn những sách cũ, sách cổ bị đưa bán làm giấy lộn khắp đường phố Hà Nội. Sau 1945, ông tham gia phong trào diệt giặc dốt và nghĩ ra phương pháp học chữ Quốc ngữ rất mau, viết trong 1 cuốn sách của ông. Cuốn sách này đã giúp người mù chữ chỉ sau 3-6 tháng thì đọc thông viết thạo.

Nhận xét về giáo sư Hoàng Xuân Hãn, giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: “Ông đã có công lớn trong việc dùng tiếng Việt và chữ Việt ở mọi cấp bậc học ở nước ta: Chúng ta không còn phải mượn tiếng người, chữ người nữa, tiếng Việt là vấn đề khỏi bàn, còn chữ Việt đây là chữ Quốc ngữ La tinh hóa. Ông đã mổ xẻ Quốc ngữ ra từng chữ i chữ tờ rồi đề nghị mở rộng cách ghi âm Quốc ngữ làm cho tiếng Việt phong phú hơn, đặc biệt về mặt khoa học.

Ông rút kinh nghiệm của cả Tàu lẫn Nhật. Ông dịch các danh từ khoa học thông thường như Tàu. Ông phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn như Nhật. Song với chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thì việc Phiên âm các danh từ khoa học chuyên môn – mà đa số là tiếng La tinh rồi – được thuận tiện hơn tiếng Nhật và chữ Nhật nhiều. Từ dạng chữ đến cách đọc Việt Nam sẽ rất gần với cách ghi âm và phát âm quốc tế. Ông lại phục sinh nền quốc học và cho gắn liền với chương trình giáo dục. Việc đào tạo nhân cách Việt Nam phải bắt đầu bằng tiếng ta, chữ ta, văn hóa ta. Ông không chỉ sáng tạo Danh từ khoa học, chỉ đặt Chương trình Trung học, mà còn trước tác rất nhiều công trình khoa học có giá trị lớn để làm mẫu mực cho việc giáo dục và quốc học nước ta. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có công lớn lắm vậy”.

Cụ Hoàng Xuân Hãn năm 1951 quay lại Paris sinh sống và học tiếp để trở thành kỹ sư nguyên tử. Cụ tiếp tục nghiên cứu về văn hóa VN. Năm 1996, cụ mất tại Paris. Tháng 8 năm 2011, Trường Đại học Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris), một trong những đại học có uy tín hàng đầu của Pháp đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống Trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.

Thật kính trọng tài năng và đức độ của cụ. Chỉ 4 tháng ngắn ngủi trong cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cụ đã làm được những việc vô cùng ý nghĩa cho nền giáo dục của đất nước.

FB Hùng Đinh