ĐTC: Chúa Kitô không để các con ngã quỵ

ĐTC: Chúa Kitô không để các con ngã quỵ

Chuacuuthe.com

DTC-2015-01-17

VRNs (17.01.2015) -Philippines- Đức Thánh Cha vừa kết thúc thánh lễ tại phi trường Tacloban. Từ đây ngài về tòa Giám mục địa phận Tacloban và dùng cơm trưa với 30 người đại diện là những nạn nhân sống sót sau cơn bão Hải Yến hồi năm ngoái. Trên quảng đường về tòa Giám mục, người dân hai bên đường vỗ tay reo hò từng chặng khi xe chở ngài tiến qua.

Sau đây là nguyên văn nội dung bài giảng của ĐTC trong thánh lễ tại Phi trường Tacloban.

Hôm nay cha muốn giảng bằng Tiếng Tây Ban Nha vì cha đã có một thông dịch viên tuyệt vời!

Chúng ta có vị linh mục cao cả có khả năng cảm thông những yếu đuối của chúng ta. Chúa Giêsu giống như chúng ta, sống như chúng ta và giống ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi vì Ngài không phải là một tội nhân. Nhưng để giống chúng ta hơn, Ngài mang lấy tất cả mọi khốn khổ và tội lỗi của chúng ta. Chính Ngài chấp nhận đi vào trong tội. Đây là điều mà thánh Phaolô Tông đồ nói với chúng ta.

Chúa Giêsu luôn luôn đi trước chúng ta và khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm, một thập giá thì Ngài đã trải qua trước chúng ta. Sự hiện diện của chúng ta hôm nay tại đây, sau 14 tháng hứng chịu cơn bão Hải Yến là vì chúng ta không đánh mất niềm tin vào Chúa Giêsu vì chính Ngài đã ở đây trước chúng ta.

Trong cuộc khổ nạn của Ngài, Chúa Giêsu đã mang lấy tất cả nỗi đau của chúng ta. Vì thế Ngài có khả năng thấu hiểu chúng ta như chúng ta đã nghe trong bài đọc I.

Cha muốn nói với các con một vài điều từ sâu thẳm cõi lòng của cha. Khi cha còn ở Rôma, cha chứng kiến thảm họa các con phải chịu cha nghĩ rằng cha phải ở đây với các con. Và trong những ngày đó, cha đã quyết định phải đến đây. Cha ở đây hơi trễ nhưng lúc này cha đang ở đây. Cha đến để nói với các con rằng, Chúa Giêsu chính là Chúa. Và Ngài không bao giờ để chúng ta phải quỵ ngã. Các con có thể nói với cha rằng, cha ơi con đã bị quỵ ngã vì con đã mất quá nhiều thứ: nhà cửa, cuộc sống. Điều đó đúng nếu các con nói như thế và cha tôn trọng cảm nghĩ này của các con. Nhưng Chúa Giêsu đã ở đó, chịu đóng đinh trên thập giá và từ thập giá Ngài không để chúng ta bị quỵ ngã. Ngài đã được thánh hiến cho Thiên Chúa trên thập giá và ở đó Ngài đã kinh nghiệm tất cả những tai ương mà chúng ta đã trải nghiệm. Chúa Giêsu là Chúa. Và từ trên thập giá Ngài thấu hiểu tất cả chúng ta. Và trong mọi thứ Ngài giống như chúng ta. Đó là điều tại sao chúng ta có một Vị Thiên Chúa đã khóc với chúng ta và đi với chúng ta trong những giây phút đau khổ nhất của cuộc sống.

Vì thế nhiều người trong các con đã mất mọi thứ. Cha không biết phải nói như thế nào với các con. Nhưng Thiên Chúa biết những gì phải nói với các con. Một số trong các con đã mất một số thành viên trong gia đình. Nhưng điều cha có thể làm là giữ thinh lặng và đi với các con bằng con tim thinh lặng của cha. Nhiều người trong các con đã trách Chúa tại sao lại xảy ra như thế và mỗi các con trong tận cõi lòng mình đã nghe tiếp trả lời của Đức Kitô. Từ trên thánh giá, Ngài đã trả lời cho các con. Cha không cần nói thêm lời nào nữa. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Kitô. Ngài là Chúa. Ngài hiểu chúng ta vì Ngài trải qua tất cả những thử thách mà chúng ta đã kinh nghiệm.

Và bên cạnh thập giá là Mẹ của Ngài. Chúng ta giống như trẻ nhỏ trong những giây phút mà chúng ta có quá nhiều đau khổ và không còn hiểu điều gì cả. Tất cả chúng ta có thể làm là nắm chặt lấy tay Mẹ và nói “Mẹ ơi!” Giống như trẻ thơ nói như thế khi nó sợ hãi. Có lẽ lời duy nhất cha có thể nói trong thời khắc khó khăn là: “Mẹ ơi!”

Chúng ta hãy thinh lặng một phút với nhau và nhìn lên Đức Kitô trên thập giá. Ngài hiểu chúng ta vì Ngài đã chịu đựng tất cả mọi thứ. Chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria và giống như trẻ thơ chúng ta hãy nắm lấy tà áo của Mẹ và với một con tim thành tâm nói rằng: “Mẹ ơi!”

Trong thinh lặng hãy nói với Mẹ những gì các con đang cảm nhận trong lòng. Chúng ta biết rằng chúng ta có một người Mẹ là Mẹ Maria và có Một Người Anh tuyệt vời là Chúa Giêsu. Chúng ta không cô đơn. Chúng ta cũng có rất nhiều anh em, những người trong những lúc khó khăn đã giúp đỡ chúng ta. Và vì thế chúng ta cũng cảm nhận chúng ta là anh chị em của nhau.

Đó là những gì xuất phát từ cõi lòng của cha. Hãy thứ lỗi cho cha nếu như cha không có đủ lời để diễn tả. Xin hãy biết rằng Chúa Giêsu không bao giờ để các con phải quỵ ngã. Hãy biết rằng với sự dịu dàng của Mẹ sẽ không để các con phải quỵ ngã và hãy nắm lấy tà áo của Mẹ. Và với sức mạnh đến từ tình yêu của Chúa Giêsu trên thập giá, chúng ta hãy đứng dậy và cùng bước đi như những anh chị em trong Chúa Kitô.

Pv. VRNs tại Philippines (dịch)

Tỉnh Kontum tiếp tục xâm phạm quyền tự do tôn giáo

Tỉnh Kontum tiếp tục xâm phạm quyền tự do tôn giáo

Chuacuuthe.com

n2

VRNs (17.01.2015)Sài gòn– Nhà cầm quyền xã Đăk Môn, huyện Đăk Glei, tỉnh Kontum xâm phạm quyền tự do tôn giáo và hạn chế các hoạt động tôn giáo của người dân tại giáo xứ Đăk Jâk thuộc giáo phận Kotum.
Nhà cầm quyền nói rằng, giáo xứ Đăk Jâk không phải là cơ sở tôn giáo. Chính vì thế, họ không cho linh mục dâng lễ và cư trú tại đây, và không cho giáo dân xây dựng nhà thờ.
Lược lại quá trình lịch sử, giáo xứ Đăk Jâk hình thành từ những năm 1957 do vị Chủ chăn tiên khởi là cha Léo Dujon.
Sau đó, từ những năm 1975 cho đến 1988, giáo dân xứ Đăk Jâk bị bắt bớ rất gắt gao, giáo xứ không có linh mục, không có nhà thờ, bà con tự giữ Đạo, tự đọc kinh…
Vào khoảng 1984 – 1988, Hội Yao Phu Đăk Jâk được hình thành, nhằm mục đích cộng tác với các linh mục trong nhiệm vụ tông đồ truyền giáo, nhưng nhà cầm quyền lại bắt bớ và bỏ tù các Yao phu.
Về sau, vào tháng 11.2011, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh – Giám mục Giáo phận Kotum bổ nhiệm Cha Đaminh Trần Văn Vũ làm chính xứ Đăk Jâk. Cha Vũ là cha xứ đầu tiên ở cùng với dân cho dù không được nhà cầm quyền công nhận.
Tuy đời sống đạo của giáo dân gặp nhiều nguy nan và gian truân nhưng đời sống Đức tin của bà con không chùn bước mà còn phát triển mạnh mẽ hơn. Cho đến nay, giáo xứ đã có hơn 5000 giáo dân gồm người Kinh, Sêđăng, Hơlăng và Jeh.
Mặc dù giáo xứ được hình thành từ khá lâu và số giáo dân càng ngày càng gia tăng nhưng nhà cầm quyền nhất quyết không cho giáo xứ xây dựng nhà thờ, ngăn cản các hoạt động tôn giáo của các Chức sắc và Tín đồ.
Không cho linh mục thực hiện lễ nghi Tôn giáo trong phạm vi phụ trách và giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở Tôn giáo.
Nhân sự kiện này, chúng tôi thấy, nhà cầm quyền đang nhầm lẫn các hoạt động tôn giáo của các Chức sắc, Nhà tù hành với các hoạt động tôn giáo của Tín đồ. Trong khi đó, Pháp lệnh về Tín ngưỡng – Tôn giáo quy định hai hoạt động này hoàn toàn khác biệt nhau. Cũng vậy, hoạt động tôn giáo của các Chức sắc gồm việc “thực hiện lễ nghi Tôn giáo” và việc “giảng đạo, truyền đạo” cũng được quy định hoàn toàn khác nhau. Thế nhưng, ít nhiều cán bộ nhà nước hoặc ngay chính các vị Chức sắc, Nhà tu hành có lẽ chưa xem xét kỹ những nội dung của Pháp lệnh, dẫn đến việc tự mình làm khó hoặc lạm dụng để làm khó, xâm phạm quyền tự do Tôn giáo.
Trước hết, căn bản của Hiến pháp và pháp luật nhắm đến “tôn trọng, bảo đảm quyền tự do Tôn Giáo” được quy định tại Điều 24 Hiến pháp; tại Điều 1 Pháp lệnh về Tín ngưỡng- Tôn giáo; tại Điều 2 Nghị định 92/2012/NĐ-CP. Do vậy, Pháp lệnh về Tín ngưỡng- Tôn giáo quy định tại khoản 1 Điều 9: “Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo.”. Và khoản 1 Điều 11 cũng quy định “Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo.”. Như vậy tín đồ không bị ràng buộc việc thực hiện các hoạt động Tôn giáo ở cơ sở Tôn giáo, nghĩa là việc thực hành các lễ nghi, cầu nguyện… là bất kỳ ở đâu. Còn các nhà chức sắc, nhà tu hành bị ràng buộc “thực hiện lễ nghi Tôn giáo” trong phạm vi phụ trách và “giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở Tôn giáo”. Ví dụ, Đức Giám Mục có quyền thực hiện lễ nghi Tôn giáo ở bất kỳ nơi nào trong giáo phận của Ngài phụ trách, còn việc ‘giảng đạo, truyền đạo” thì Ngài phải giảng dạy tại các cơ sơ Tôn giáo. Chính vì lẽ đó mà tại Quyết định số 1119/QĐ-BNV ngày 10/10/2013 của Bộ Nội vụ về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tín ngưỡng Tôn giáo (“Quyết định số 1119/QĐ-BNV”) chỉ có thủ tục “chấp thuận việc giảng đạo, truyền đạo của chức sắc, nhà tu hành ngoài cơ sở tôn giáo”.
Xin nhấn mạnh, khoản 4 Điều 5 Luật đất đai 2013 qui định, cơ sở Tôn giáo “gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo”. Cha Đa Minh Trần Văn Vũ được Đức Giám mục -trong phạm vi phụ trách Giáo phận- bổ nhiệm phụ trách khu vực Giáo xứ Đăk Jâk; và ngôi nhà tạm mà Giáo dân cât lên để thực hành các Lễ nghi Tôn giáo, sinh hoạt… phải được xem là “cơ sở khác của Tôn giáo”.
Do đó, nhà cầm quyền xã Đăk Môn ngăn cấm không cho cha Đa Minh Trần Văn Vũ “thực hiện lễ nghi Tôn giáo” trong phạm vi phụ trách và “giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở Tôn giáo” là vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và Luật pháp hiện hành.
Ngăn cản giáo dân xây dựng mới công trình Tôn giáo
Từ khi giáo xứ Đăk Jâk thành lập từ năm 1957 cho đến nay, giáo xứ chưa có nhà thờ nên giáo dân liên tục làm đơn xin phép Nhà nước nhưng nhà cầm quyền không cho. Do đó, vào tháng 4.2013, giáo dân quyết định dựng một “nhà thờ tạm” bằng cột tròn, lợp tôn, không thưng vách, thô sơ, với diện tích khoảng 1000 m2, để che nắng che mưa khi linh mục thực hiện lễ nghi Tôn giáo cho giáo dân, để họ tham dự một cách trang nghiêm hơn.
Chưa đầy một tháng sau đó tức vào tháng 5.2013, nhà cầm quyền quyết định tháo dỡ ngôi nhà thờ tạm này, nhưng giáo dân kiên quyết phản đối và họ chỉ đồng tình cho tháo dỡ với điều kiện nhà cầm quyền phải cho họ xây dựng mới ngôi nhà thờ.
Được biết, Tòa Giám mục Kontum và Giáo xứ đã nhiều lần làm việc với nhà cầm quyền huyện Đăk Glei và tỉnh Kontum. Trong quá trình thương thảo, Tòa Giám mục đồng ý tháo dỡ ngôi nhà thờ tạm khi Huyện Đăk Glei có văn thư quyết định cho giáo xứ xây dựng nhà thờ với diện tích 200 mét vuông trên đất của Giáo xứ. Cả 2 bên đều thống nhất giải pháp này vào ngày 22.08.2014. Thế nhưng, nhà cầm quyền nói mà không làm, khiến lòng dân mất niềm tin vào Nhà nước nên phản ứng của họ càng gay gắt hơn.
Không những vậy, việc ngăn cản của nhà cầm quyền không cho giáo dân xây dựng mới công trình Tôn giáo trên khu đất của giáo xứ là vi phạm pháp luật. Cụ thể:
Theo qui định tại khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh về Tín ngưỡng- Tôn giáo và khoản 4 Điều 34 Nghị định 92/2012/NĐ-CP thì việc xây dựng mới các công trình Tôn giáo là theo qui định của pháp luật về xây dựng.
Công trình Tôn giáo, theo Nghị định 92/2012/NĐ-CP là “… những công trình như: Trụ sở của tổ chức tôn giáo, chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất, niệm phật đường, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, tượng đài, bia, tháp và những công trình tương tự của các tổ chức tôn giáo”.
Như vậy – trong trường hợp xây dựng Nhà thờ là công trình Tôn giáo – phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bao gồm việc có đất xây dựng và có giấy phép xây dựng.
Về đất xây dựng công trình Tôn giáo thì Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 qui định rõ, “trường hợp đất do cơ sở Tôn giáo đang sử dụng” với “trường hợp được giao đất”.
Đối với trường hợp của Giáo xứ Đắk Jâk nếu đất có ngôi nhà thờ tạm được cất lên thuộc các trường hợp qui định tại khoản 4 Điều 51 Luật đất đai 2003, và khoản 4 Điều 102 Luật đất đai 2013 thì ‘cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau đây: thứ nhất, được Nhà nước cho phép hoạt động; thứ hai, không có tranh chấp; thứ ba, không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 7 năm 2004” thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cần nhấn mạnh Luật đất đai mới 2013 đã bỏ cái điều kiện “có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất của cơ sở Tôn giáo”. Điều mà hiện nay, nhà cầm quyền Đăk Môn nói riêng và nhiều nơi khác nói chung thường nại ra để từ chối giao đất, cấp phép xây dựng Nhà Thờ là “người dân không có nhu cầu…”
Về giấy phép xây dựng công trình Tôn giáo, đáng chú ý là Nghị định 64/2012/NĐ-CP và Thông tư 10/2012/TT-BXD qui định, “đối với công trình Tôn giáo phải có văn bản chấp thuận của Ban Tôn giáo cấp có thẩm quyền”. Thế nhưng, tại Quyết định số 1119/2012/QĐ-BNV lại không có thủ tục “chấp thuận cho xây dựng công trình Tôn giáo.” Tuy nhiên, pháp luật về Tín ngưỡng Tôn giáo, về đất đai, về xây dựng, … không có qui định nào để hạn chế hay không cho phép công nhận quyền sử đất đang sử dụng cho cơ sở Tôn giáo hoặc cấp giấy phép xây dựng cho cơ sở Tôn giáo. Xét về pháp lý, Giáo xứ Đăk Jâk- có đất đang sử dụng cất Nhà Thờ tạm, có lượng Giáo dân đông đảo, có nhu cầu thực hành và trên thực tế đã và đang thực hành các hoạt động Tôn giáo… thì không có lý gì lại không được giải quyết xây mới Nhà Thờ.
Việc ngăn cản, buộc tháo dỡ ngôi nhà thờ tạm tại một Giáo xứ đã có từ năm 1957, với số lượng giáo dân hơn 5000 người như Giáo xứ Đắk Jấk, và không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã và đang sử dụng, không cấp phép xây dựng công trình Tôn giáo cho Giáo xứ Đắk Jấk là xâm phạm quyền tự do Tôn giáo, hạn chế hoạt động Tôn giáo. Điều mà Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn Giáo khẳng định: “Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy.”

Pv.VRNs

Xem thêm:

Giáo dân xứ Đăk Jâk thắp nến cầu nguyện (Dòng Chúa Cứu Thế)

n1

Ca sĩ Khánh Ly nói lời vĩnh biệt chồng

Ca sĩ Khánh Ly nói lời vĩnh biệt chồng
Nguoi-viet.com


Ðức Tuấn/Người Việt (ghi)

Lời Tòa Soạn: Những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt người quả phụ, những câu chuyện kể về tình yêu, đời sống và nhiều lắm những kỷ niệm của 40 năm vợ chồng chung sống với nhau…

“Nếu không có các con chị, chắc chị sẽ không về căn nhà này đâu, mặc dù cũng chẳng biết sẽ phải đi đâu nữa…” Hay “Lúc nào có bạn bè, người thân đến đây, ngồi nhắc chuyện về anh, lúc đó còn thấy được an ủi và mừng vì thấy anh được nhiều người thương, chứ khi đêm về, một mình mới biết nổi cô đơn kinh hoàng lắm!”

Ca sĩ Khánh Ly không ngăn được xúc động khi nói chuyện chúng tôi, trong căn phòng khách trống trải, phía trên tường là bức ảnh chân dung của anh Nguyễn Hoàng Ðoan, và các ngọn nến lung linh, chiếu rọi lên đôi mắt anh nhìn xuống buồn bã.

Dưới đây là bài viết ngắn của ca sĩ Khánh Ly bày tỏ nỗi lòng hụt hẫng, trước sự ra đi vĩnh viễn của chồng chị, nhà báo Nguyễn Hoàng Ðoan:



Ca sĩ Khánh Ly và chồng, nhà báo Nguyễn Hoàng Ðoan. (Hình: Ca sĩ Khánh Ly cung cấp)

Dẫu vẫn biết “sanh lão bệnh tử,” thế nhưng đối với tất cả mọi người, cái chết luôn luôn là một bất ngờ, bởi làm sao có thể biết trước được một phút nữa, một giờ nữa, một ngày nữa… Mình sẽ chết, người thân của mình sẽ chết.

Nhưng là một người Công Giáo, bằng vào một niềm tin tuyệt đối, Thánh ý Chúa, khi Chúa đã gọi thì mình về. Tôi nghĩ nhà tôi đã luôn luôn dọn mình đón nhận ý Chúa. Xin vâng!

Từ năm 1976 đến nay, tôi hoàn toàn tin cậy và sống dựa vào anh, tôi chỉ biết hát, trông con, làm những công việc đàn bà trong gia đình – Chồng tôi không hề có ý kiến, tôi trực tiếp nhận “show,” hát ở đâu? bao nhiêu tiền? chồng tôi không biết.

Ai gọi anh đều nói, “Tôi không biết.” Hay “Ðợi bà ấy về.”

Nhưng tôi lại không biết giữ tiền, tôi giao hết cho chồng. Anh phải lo từ cái “bill” rác, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, anh toàn quyền quyết định từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, tôi luôn tôn trọng anh cũng như những quyết định của anh, dẫu có mất mát thiệt thòi, tôi chưa hề có một lời trách anh, hay to tiếng giận hờn, bởi vì: “Thôi kệ, đừng nghĩ ngợi làm gì, coi như mình gặp xui đi anh.”

Chúng tôi chia sẻ những ngày vui, những niềm vui, an ủi nhau lúc thiếu thốn, khó khăn. Cứ như thế, chúng tôi dựa vào nhau mà sống, qua bao nhiêu gian nan, cay đắng – Chính những lúc như thế, chúng tôi lại gắn bó hơn.

Cái quan trọng hơn tiền bạc là cả hai chúng tôi không có điều gì che đậy, giấu giếm đời sống riêng tư ngày xưa, tôi tôn trọng những người mà anh đã tôn trọng và ngược lại.

Chồng tôi chỉ chuyên tâm lo mọi chuyện để tôi chỉ biết hát mà thôi. Anh nghe và nhìn tôi như một khán thính giả chứ không phải là chồng của một ca sĩ, lúc nào cũng coi vợ là nhất.

Giữ gìn sức khỏe, sự quan tâm của chồng tôi là một áp lực nặng nề, đôi khi làm tôi muốn điên, mà vẫn phải cắn răng chịu đựng, chỉ vì tôi biết dù đôi khi hơi quá, nhưng mà đúng.

Và tôi hãnh diện vì sự quan tâm không cường điệu của chồng khi anh dán lên tủ lạnh mảnh giấy anh viết: “mập quá, xấu quá,” ai đến nhà thấy cũng cười.

Khi tôi cằn nhằn tại sao mọi người ai cũng được ăn, mà tôi, cái người đứng hát cả 30 bài lại không có gì ăn? Bầu “show” nói nhỏ… “Tại anh dặn thế, sợ chị mập, mặc áo dài không đẹp…”

Quang Thành lén đưa đồ ăn cho tôi, cười… Ðây là bi kịch của người lương thiện. Thật ra anh chỉ muốn tôi ăn những gì tốt cho sức khỏe, trong khi… Gà không có… da, tôi không chịu, chỉ thích những đồ độc thôi.

Bây giờ vắng anh – Chẳng có ai, chẳng có gì có thể bù đắp được, nhưng tôi không tuyệt vọng – Tôi không được quyền đó vì suốt 5 năm qua, chúng tôi (Ðoan-Thành-Mai), như những lời hứa không khế ước, chúng tôi đến với nhau, đi cùng nhau, làm bạn đường một cách hồn nhiên.

Anh luôn tâm nguyện dâng trọn những gì tốt đẹp nhất cho Ðức Mẹ và xin vâng tất cả những gì Mẹ đã trọn cho chúng tôi, những ngày tháng còn lại, chúng tôi sẽ đi tiếp đoạn đường, đến với những con người bất hạnh, khổ đau.

Bởi chính những người sống khốn cùng đáng thương đó sẽ cho chúng tôi hạnh phúc, sẽ làm cho lòng chúng tôi ấm lại.

Đứa con của biển Đông.

Đứa con của biển Đông.

Đây là câu chuyện có thật được cha Nguyễn Tầm Thường, Dòng Tên, thuật lại nhân kỷ niệm 5 năm ngày Mẹ Têrêsa Calcutta qua đời năm 2002.

Giao Chỉ, San Jose đặt lại tựa đề và chuyển tiếp từ internet. Bài này phổ biến cách đây hơn 10 năm. Lịch sử Thuyền Nhân Việt Nam trên biển Đông suốt 20 năm từ 1975 đến 1995 với 1 triệu người đến bến tự do và một phần tư là thảm kịch. Sóng gió tầu chìm chết ngay lại là những cái chết hạnh phúc. Năm mười lần hải tặc là bi kịch hãi hùng. Bị bắt giữ trên hoang đảo là những ngày dài thảm khốc. Đau thương hơn cả là những em bé gái bất hạnh bị bắt có thể vẫn còn sống trong các nhà chứa bên Thái Lan. Nhưng câu chuyện này là một phép lạ viết về đứa con của biển Đông 3 tuổi. Câu chuyện liên quan đến 3 bà mẹ. Bà mẹ Việt Nam, bà mẹ Tàu và đức mẹ Teresa. Cha của đứa bé là ông Việt Nam ngồi lặng thinh tráng bánh trong trại chuyển tiếp trên đất Phi, ba tháng góp được 20 Mỹ kim gửi cho vợ con bên trại Hồng Kông. Giấc mơ vô vọng của ông là tìm lại đứa con trai 3 tuổi bị bắt đi đang lưu lạc trong số hàng tỷ dân Tàu. Chúng ta có 40 năm trôi nổi trên thế giới và hiện đã an cư lạc nghiệp. Xin ngồi xuống đây nghe cha Tầm Thường kể chuyện về đứa con của biển Đông. Xin linh mục tác giả vui lòng liên lạc với chúng tôi, Viện bảo tàng Thuyền Nhân tại San Jose. Ai biết gia đình này hiện ở đâu, xin cho chúng tôi biết.  (giaochi12@gmail.com) Sau đây là nguyên văn câu chuyện.

(Linh mục Nguyễn Tầm Thường) Năm 2000, tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu…

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ta ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng bên đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy,1 US dollar được 25 pesos tiềnPhilippines.

Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông này lại phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ xách nước, người kiếm củi, phần ông lo tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ. Cha già Crawford người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào,. Phần ông Việt Nam rời cửa biển Cam Ranh ngày 2/9/1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót.

Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này. Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn đường sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không hy sinh đứa bé, toàn ghe có thể chết.

Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Ðau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu ?

Vợ chồng mỗi người một ngả. Ðứa con mất tích sẽ ra sao? Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi. Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha M ỹ gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào tìm cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già Mỹ nghe chuyện mất con. Phần tôi, tác giả bài này kể tiếp….Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu về chuyến đi sau của vợ con.

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển nhưng hơn ba tháng sau nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Ðó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Tiếp theo là câu chuyện mất đứa con trai. Những lần giảng trong Thánh Lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông.. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ. Không nghe ông oán trách sao vợ lại bỏ con của ông. Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán. Bao giờ ông mới được định cư ? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước ? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Ðất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm ? Bao nhiêu khó khăn tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Ðỏ Hongkong ?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha Mỹ già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu bốn phương…

Những lá thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Tỵ Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand.

Ðợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên Nhà Thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông Nhà Thờ bạc vôi sơn và vẳng nghe có tiếng chuông mỗi chiều.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây Thánh Giá trên nóc Nhà Thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây Thánh Giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ đi từ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Ðêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến.. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến.. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé. Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Ðó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam. Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền sinh hoạt trong gia đình Tàu Hải Nam. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột.

Ðể thỏa mãn điều kiện, Sở Di Trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo, sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui đến như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng, không tin chuyện có thể xảy ra như thế. Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không nhận mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy Tỵ Nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì đói. Hải tặc Thái Lan tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết hết để bịt miệng. Ðối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm ?

Ðây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Ðộ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin Bộ Ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế..

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ Bề Trên. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh cho Mẹ Têrêsa.

Một Linh Mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha. Tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. ….

Nghe tiếng người đàn ông gọi. Quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn.

Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia.

Không ngờ vào ngày Lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở Nhà Thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi Nhà Thờ nhỏ miền quê độc nhất.

Ðêm Noel năm 1985 sau khi đến Nhà Thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác. Trong câu chuyện này cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Khi tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi.

Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết , còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ ?

Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

Từ Thức (Paris)

(VNTB) – André Gide nói ‘’ C’est avec des beaux sentiments qu’on fait de mauvaise littérature ‘’  ( Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở ).

Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt , chỉ có tình người. Một nhân vật nói về một nhân vật khác trong truyện ngắn ‘’Made in Vietnam’’ : người chi mà tình nghĩa quá héng ? ‘’ . Độc giả nghĩ tới câu đó mỗi lần lại gần những nhân vật của Tiểu Tử. Người chi mà tình nghĩa quá héng. Độc giả chai đá tới đâu , đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghĩa đồng bào vẫn còn những người tử tế . Và thấy đời còn đáng sống. Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động. Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực.

Miệt Vườn

Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không ‘’ làm văn ‘’ . Ông kể chuyện ; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách, ông viết với tấm lòng.

Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Điệp , Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My , Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm , bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hoà, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa chỉ rất ‘’miệt vườn ‘’, chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương , lạ tai , ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ.

Tiểu Tử , 88 tuổi, kỹ sư dầu khí, tác giả nhiều tập truyện ngắn ( Những Mảnh Vụn, Bài ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời ) học ở Marseilles, hiện sống ở ngoại ô Paris,  nhưng văn của ông không lai Tây một chút nào. Rất Việt nam, đúng ra rất Nam Việt, với lối viết như người ta kể chuyện bên ly la de, bên tô hủ tíu, với những chữ nghen, chữ héng, chữ nghe..’’ Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà ..’’. Dưới ngòi bút của một tác giả người Bắc, người Trung, gọi người đàn bà là con Huê, con Nhàn có vẻ hỗn, ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân ái.

Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Tiểu Tử đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương làm giầu cho văn hoá dân tộc. Cố gắng bắt chước lối diễn tả Hà Nội là một lầm lỗi, nó chỉ làm cái vốn văn hoá của ta nghèo đi . ( Sự thực Hà Nội ngày nay không còn gì là nơi văn vật, cái gì cũng ‘’ đéo ‘’. Còn báo Nhân Dân không ? Đéo còn, chỉ còn Người Hà Lội )

Những giọt nước mắt

Văn chương là hư cấu, nhưng đọc Tiểu tử, người ta thấy cái chân thực, có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của tưởng tượng. Tất cả đều la những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại . Vả lại, ở Việt Nam, thực tế vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã, đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra. Trong ‘’ Thầy Năm Chén ‘’, ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghiã, bị cách mạnh hành hạ, chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con , thằng Kiệt, ‘’ một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút, nói : cho con cái ni (ông là người gốc Huế ). Con giữ trong người để hộ thân.’’ Kiệt đến Cannada an toàn, một ngày dở cái gói của cha cho ngày vượt biển. Trong đó có ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén , nghèo đói quá, đã cạy ba cái răng vàng cho con làm của hộ thân  đi tìm đường sống ở xứ người. Độc giả hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén chỉ ăn cháo.

‘’ Chiếc khăn mùi xoa ‘’ có thể coi là  điển hình cho truyện ngắn Tiểu Tử , trong đó có sự xúc động cao độ, đẫm nước mắt, với những nhân vật nhân hậu, giầu tình nghĩa, những chi tiết éo le như một cuốn phim tình lãng mạn, nhưng đơn giản, chân thực.

Một người Việt tị nạn ở Pháp về thăm nhà, gặp những người bạn học cũ , trong đó có nhân vật chính, ‘’ con Huê ‘’, sự thực là một người đàn bà đã đứng tuổi. Ông ta kể lại : ‘’ Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ : Anh qua bên Tây , gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh . Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê nói với tao : Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận .  Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên , phải có nước lớn nước ròng‘’.

Tiểu Tử viết chuyện tình âm thầm của người đàn bà từ ngày còn đi học, tới ngày nay đã bạc đầu, với người bạn trai ngày xưa tên là Cương, nhưng sóng gíó 75 đã khiến người đàn ông bỏ nước đi lánh nạn. Người con gái của ông Cương, đang sống ở Bruxelles, đọc truyện, cho tác giả hay bố mẹ đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái : ‘’ Con ráng tìm cách về Nhơn Hoà, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết ‘’. ‘’Cái này ‘’ là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thấy thương bố , thương cô Hai Huê không cùng. Cô gái đi Việt Nam, một xứ xa lạ, tìm về Nhơn Hoà , Cầu cỏ , tìm người bà tên Huê để trao lại kỷ vật của người đã qua đời. Cô Hai Huê xỉu đi khi nghe tin người bạn xưa đã chết. Hai người đàn bà, một già, một trẻ ôm nhau khóc.Nếu bạn là người tưởng mình có tâm hồn sỏi đá vì đã sống, đã chứng kiến đủ mọi thảm kịch của đời sống, nhất là đời sống của một người Việt Nam, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang lau nước mắt.

Không Điên Cũng Khùng

Thế giới truyện ngắn của Tiểu Tử xoay quanh hai đề tài chính : những kỷ niệm về một Miền Nam hiền hoà, chất phác, nhân hậu ngày xưa, với những trò vui đưà nghịch ngợm của đám bạn bè trẻ , những mói tình mộc mạc của những người dân quê và, sau đó,  những đảo lộn sau 75, khi tai họa trên trời giáng xuống. ‘’ Tất cả đều bị xáo trộn, bị nghịch lý đến nỗi tao sống trong đó mà lắm khi phải tự hỏi : làm sao có thể như vậy được ‘’. Một xã hội vô tư , kể cả vùng quê, trở thành địa ngục. Chỉ còn hận thù, phản trắc , gian sảo, cướp đoạt, dối trá.

Những nhân vật của Tiểu Tử không còn cười đùa, vui chơi, dễ dãi nữa. Đó là những nhân vật đầy ưu phiền như ông Tư , như bà Hai , như thầy Năm Chén, như anh Bẩy, như bà Năm cháo lòng. Một xã hội đổ nát, rách bươm. ‘’Những người ‘’cách mạng’’ xông vào nhà, ngang nhiên hùng hổ, như một bọn cướp. Họ ‘’bươi ‘’ từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước…giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm tra nấy. Vậy rồi…hốt hết. ‘’

Sau 75 , người ta truyền nhau một câu ca dao mới : Thằng khôn thì đã vượt biên. Những thằng ở lại không điên cũng khùng. Các nhân vật của Tiểu Tử, vốn là những người miền Nam hiền lành, dễ tin, yêu đời, nhiều người đã hết lòng với ‘’kháng chiến ‘’, sau ‘’ cách mạng’’, đều bị đàn áp, gia sản bị cướp đoạt trắng trợn trong những chiến dịch ‘’ đáng tư sản mại bản ‘’ trở thành không điên cũng khùng

***

Ông Tư ( trong IM LẶNG ) là người có gia sản ở Sàigòn, đã bí mật đóng góp tài chánh cho ‘’Giải Phóng’’. Khi Cộng Sản vào miền Nam, không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị cướp sạch. ‘’ Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ cuả ông đang chờ đợi ông ở nhà ‘’. Nhưng bà vợ tiếc cuả, uất hận vì bị cách mạng lừa gạt, suốt ngày đay nghiến trách móc chồng. Rốt cuộc hai vợ chồng tìm được cách chạy sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cưả sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn. Ông con nói, giọng đặc ‘’Việt kiều yêu nước’’ : ‘’ Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết ; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý ‘’. Ông Tư trở thành một người câm , không nói gì với ai nưã. Cho đến một hôm lầm lũi lội chết dưới  biển.

Bà Hai ( trong Thằng Đi Mất Biệt ), con cái chết, gia tình tan nát, suốt ngày ngồi chờ đứa con trai còn lại bị đưa đi cải tạo. ‘’ Khi trời nắng ráo, bà đi tuốt ra ngoài vàm rạch, lên ngồi trên môi đất có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, ‘ khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông, mình cũng nhìn ra đươc nó liền hà ‘’.

Thầy Năm Chén ( trong truyện cùng tên ) phòng mạch bị chiếm, con trai phải bỏ đi kiếm ăn . ‘’Chia tay nhau mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý, Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý, Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ chỉ thở dài là không ai để ý. Bởi vì ai cũng thở dài hết ‘’.

Ông già bới rác ( truyện cùng tên ) là một ông già có công với ‘’cách mạng’’, bi cách mạng cướp hết không còn manh giáp, trở thành khùng, suốt ngày lang thang ngoài đường bới rác, ‘’ tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng tao đã nuôi trong nhà ‘’

Trong Những Mảnh Vụn , người yêu ‘’ đi chui  bán chánh thức ‘’, nghĩa là đi vượt biển do cán bộ tổ chức, biệt tăm, chắc mất xác vì tầu quá cũ bị chìm , anh Bẩy suốt ngày, như một người mất hồn, đi qua lại tất cả những nơi ngày xưa hai người vẫn hẹn hò. ‘’ Bẩy không biết mình đang đi lượm những những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái ‘’ngày cách mạng thành công ‘’ đã thật sự thành công trong nhiệm vụ đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt, tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó ‘’.

Đọc Tiểu Tử, người ta không thể không xúc động. Nhưng văn Tiểu Tử cũng đầy nét khôi hài, những nhận xét ngộ nghĩnh . Phòng mạch của Thầy Năm Chén ‘’bịnh nhơn cũng vắng. Làm như người ta sợ quá rồi… quên bịnh. Trái lại, bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như người ta chỉ còn biết …dựa vào Phật. ‘’. Qua vài nét chấm phá, ông ghi lại những cảnh trái tai gai mắt, những cảnh lố bịch của những người thắng trận. Những cảnh không biết nên cười hay nên khóc diễn ra trước mắt, mỗi ngày, chỉ cần ghi lại, không thêm thắt, bình luận. André Gide : Plus un humouriste est intelligent, moins il a besoin de déformer la réalité pour le rendre significative ( Một nhà khôi hài càng thông minh, càng không cần bóp méo sự thực để làm cho nó có ý nghĩa ). Tiểu Tử không cần bóp méo sự thực, chỉ việc cúi xuống lượm, ghi lại những cái lố lăng, đảo lộn luân thường diễn ra mỗi ngày, trước mắt.

Truyện ngắn Tiểu Tử, với lối hành văn dễ dãi, linh động là một cuốn tự điển sống của ngôn ngữ miền Nam thời chưa loạn. Đó là kho tàng quý, trong khi ở hải ngoại, chữ Việt càng ngày càng lai Tây, lai Mỹ ; trong nước càng ngày càng lai Tầu, với những chữ, những lối nói ngớ ngẩn, đôi khi kỳ quái , khiến tiếng Việt không còn là tiếng Việt, báo hiệu một ngày người Việt không còn là người Việt . Truyện ngắn Tiểu Tử là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài, nụ cười trong những ngày bình an và ngay cả trong cơn đớn đau cùng cực. Ông là một nhân chứng quý báu của một giai đoạn bi thảm , một cuộc đổi đời ghê rợn nhất trong lịch sử Việt.

Người Việt ở Paris và ‘Tinh thần Charlie’

Người Việt ở Paris và ‘Tinh thần Charlie’

Người dân đặt hoa phía trước văn phòng báo Charlie Hebdo ở Paris, ngày 8/1/2015.

Người dân đặt hoa phía trước văn phòng báo Charlie Hebdo ở Paris, ngày 8/1/2015.

Hoài Hương-VOA

09.01.2015

Vụ tấn công khủng bố nhắm vào toà soạn tuần báo trào phúng Charlie ở Paris đã gây nên một làn sóng công phẫn không chỉ tại Paris hay nước Pháp, mà tại nhiều nước trên thế giới, bởi vì vụ khủng bố trong đó hàng chục nhà báo và nghệ sĩ vẽ tranh biếm hoạ bị thảm sát, được coi là một cuộc tấn công trực tiếp vào tự do ngôn luận, một trong những quyền nền tảng của dân chủ. Người Việt cảm nhận như thế nào về hành động khủng bố tàn bạo diễn ra ngay giữa lòng thủ đô nước Pháp, nơi họ đã sinh sống từ lâu? Ban Việt ngữ đặt câu hỏi này với Tiến sĩ Lê Đình Thông, từng giảng dạy tại trường Đại học Paris-Nanterre.

GS Lê Đình Thông: “Chúng tôi người Việt, chia sẻ cái tâm tình bất khuất và tự do ngôn luận của tờ Charlie. Đó là cuộc tranh đấu cho tự do và những người nằm xuống không khi nào mất đi bởi vì cái tinh thần của họ sẽ luôn luôn được tiếp nối với một ngọn lửa bùng cháy và với một nhiệt tâm, một quyết tâm nơi tất cả những người yêu chuộng tự do trên thế giới. ”

Giáo sư Lê Đình Thông nói ông chia sẻ sự xúc động và phẫn uất của hàng ngàn người biểu tình đã bất chấp thời tiết lạnh giá, vào một ngày giữa tuần làm việc, đã kéo nhau xuống các đường phố Paris để bày tỏ thái độ thách thức trước hành động tàn bạo của khủng bố. Những người biểu tình hô to khẩu hiệu Je suis Charlie, Tôi là Charlie. Giáo sư Lê Đình Thông giải thích ý nghĩa sau khẩu hiệu này.

GS Lê Đình Thông: ‘Je suis Charlie’ là ‘Tôi là Charlie, tôi là tờ báo Charlie, tôi là tiếng nói Charlie. Trong cái tâm tình của chúng tôi là người Việt Nam ở trên nước Pháp, tôi cũng xin nhắc lại cái khẩu hiệu đó:‘Je suis Charlie’. Tôi nghĩ là cái tâm tình của tôi được chia sẻ với rất nhiều người Việt ở Pháp và cả một số người Việt ở nơi khác nữa’

Ông có nhận xét sau đây về những hung thủ đã xông vào toà soạn tờ báo Trào phúng Charlie, kêu đích danh một số nhà báo trước khi nổ súng giết họ:

GS Lê Đình Thông: “Chúng ta đều thấy những kẻ khủng bố đều có mặt nạ và họ dùng súng, hai sự việc này nói lên khía cạnh khủng bố như thế nào. Trước hết là những người giấu mặt. Tại sao? Tại vì họ không có chính nghĩa. Thứ hai, họ dùng súng đạn. Súng đạn để làm gì? Để bịt miệng những người tranh đấu cho tự do, có tiếng nói khác với họ. Đó là những người không chấp nhận cái tư tưởng, cái tự do ngôn luận của người khác mà bắt người khác phải theo cái quan điểm của mình.”

Giáo sư Lê Đình Thông.

Giáo sư Lê Đình Thông.

Trước khi ra tay, những kẻ khủng bố đã hô lên hai câu, thứ nhất là Allah Akbar, Đấng Allah là đấng Tối Cao, và thứ hai là quyết tâm khai tử Charlie. Giáo sư Lê Đình Thông nói những kẻ khủng bố sẽ không bao giờ làm được điều đó.

GS Lê Đình Thông: “Súng đạn không thể nào làm chết đi cái tinh thần Charlie được, bởi vì Paris đây không những chỉ là thành phố ánh sáng, mà còn là ánh sáng của tự do. Chúng ta đều thấy Tượng Nữ Thần Tự Do bên nước Mỹ bây giờ cũng là một cái quà tặng của nước Pháp. Và với bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền cũng được làm tại nước Pháp. Tất cả các sự việc đó nói lên cái tinh thần tự do dân chủ cũng như tinh thần của cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã được thắp sáng từ đó cho đến bây giờ.”

Thưa quý vị, Tiến sĩ Lê Đình Thông là một luât sư, trước đây ông dạy môn Quan hệ Quốc tế tại Đại học Paris-Nanterre. Ông còn là một nhà thơ, một dịch giả, và là thành viên của ban Tu Thư Giáo xứ Paris. Mới đây Giáo sư Lê Đình Thông đã cho ra mắt ‘Tuyển Tập Thơ Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo Đệ Nhị’, do ông dịch.

httpv://www.youtube.com/watch?v=R4L1grczk6E

Phim về chuyện tình cặp vợ chồng già gây sốt ở Hàn Quốc

Phim về chuyện tình cặp vợ chồng già gây sốt ở Hàn Quốc

“My Love, Don’t Cross That River”, tác phẩm về chuyện tình lãng mạn và chân thực của cặp vợ chồng tóc bạc ở Hàn Quốc, không chỉ ăn khách tại phòng vé xứ kim chi mà còn gây chú ý tại nhiều nơi ở châu Á và Bắc Mỹ.

My Love, Don’t Cross That River (Người yêu ơi, đừng băng qua sông) là phim tài liệu dài 85 phút của đạo diễn Jin Mo Young, kể về cuộc sống lãng mạn có thực của vợ chồng ông Jo Byeong Man (98 tuổi) và bà Kang Gye Yeol (89 tuổi).

Cuộc hôn nhân lãng mạn dài 75 năm

Được ghi hình trong 15 tháng, phim bắt đầu với một ngày thức giấc đầy ắp sự yêu thương tinh tế của cặp vợ chồng gần trăm tuổi sống ở một triền núi tại Hàn Quốc. Dù đã gần 100, ông Byeongman vẫn là một lão tiều phu tráng kiện ngày ngày đi chặt củi cõng về còn vợ ông ở nhà chăm sóc sân vườn.

Ở bên nhau, họ luôn nói những lời yêu thương vui vẻ không kém thế hệ trẻ. Họ nhặt những bông hoa dại màu vàng cài lên tóc nhau âu yếm, nắm tay nhau đi dạo trên đường vào lúc thảnh thơi. Mùa hè, bà gội đầu cho ông bên chum nước dưới mé hiên nhà. Mùa đông, ông đứng bên lò sưởi chăm chút sửa cho bà bộ trang phục Hanbok truyền thống. Khi ra đường, họ vốc tuyết ném nhau với niềm hứng khởi tươi mới.

My Lover, Dont Cross That River trở thành bộ phim hiện tượng dịp cuối năm 2014 ở Hàn Quốc.
“My Lover, Don’t Cross That River” trở thành hiện tượng điện ảnh dịp cuối năm 2014 ở Hàn Quốc.

Cuộc sống giản dị nhưng đầy ắp tình yêu thương như cặp chim rừng của họ trôi qua như thế được 75 năm. Cưới nhau từ khi bà Gye Yeol 14 tuổi, giờ đây cả hai có 35 người con, cháu và chắt nhưng tất cả đều sống độc lập. Giờ đây, cặp vợ chồng già sống cùng một chú chó trong căn nhà ở tỉnh Gangwondo. Chuyện tình cổ tích thời hiện đại dần đến hồi kết khi họ bắt đầu cảm thấy cái chết đang tới gần.

Tên phim lấy cảm hứng từ cảnh cuối, khi bà Gye Yeol ngồi bên bờ suối và màn hình chạy lên câu thoại như lời hát dân ca: “Người yêu của em, đừng bỏ lại em một mình. Đừng băng qua con sông mà không có em theo cùng”.

Phim tài liệu kinh phí thấp ăn khách hơn bom tấn Hollywood

Ra rạp từ hôm 27/11 ở Hàn Quốc, My Love, Don’t Cross That River ngay lập tức trở thành hiện tượng phòng vé, thu hút hàng triệu khán giả mọi lứa tuổi. Chỉ trong tuần đầu công chiếu, bộ phim có ngân sách 110.000 USD thu về 4,6 triệu USD và vươn lên đứng đầu doanh thu phòng vé xứ kim chi, soán ngôi các bom tấn Mỹ là InterstellarExodus: Gods & Kings.

Đến gần cuối tháng 12, phim hút hơn ba triệu lượt khán giả Hàn Quốc đến rạp, thu về gần 8 triệu USD và vẫn đang tiếp tục ăn khách. Ban đầu, phim chỉ được chiếu hạn chế ở 186 phòng rạp, đến nay phim có mặt ở 806 phòng chiếu và trở thành tác phẩm độc lập thành công nhất Hàn Quốc. Kỷ lục doanh thu của phim độc lập trước đó là Old Partner năm 2009 với 2,93 triệu USD.

Phim cũng ra mắt ở Bắc Mỹ cùng thời điểm công chiếu tại Hàn Quốc và thu về 180.000 USD trong tuần mở màn, đứng thứ sáu trong bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Mỹ với các phim độc lập. Các báo chuyên về điện ảnh của Mỹ như Hollywood ReporterVariety dành cho bộ phim đến từ châu Á cả sự yêu thích và kính nể. Không chỉ ăn khách, phim còn giành giải thưởng Audience Award (Khán giả bình chọn) tại Liên hoan phim Tài liệu quốc tế DMZ.

Vợ chồng ông bà Jo Byeongman và Kang Gyeyeol.
Vợ chồng ông bà Jo Byeong Man và Kang Gye Yeol.

Thành công của phim được giới quan sát nhận định nhờ hiệu ứng truyền miệng rộng rãi ở Hàn Quốc. Xét về kịch bản, điều đắt giá nhất trong bộ phim này là một câu chuyện tình như mơ có thật về hai cụ già nơi sơn cước được xử lý dưới góc máy quyến rũ đậm chất cine. Không ít người xem điện ảnh ví phim với tác phẩm Amour đoạt Cành Cọ Vàng tại LHP Cannes 2012.

“Tôi cảm thấy rất ấm lòng khi xem và tôi ước mình và chồng sẽ được như thế khi về già, tìm được hạnh phúc trong điều giản dị”, bà Chung Hye Ran, một nội trợ 50 tuổi chia sẻ trên Strait Times sau khi xem phim cùng chồng.

Kim Eun Ah, một nhân viên văn phòng 28 tuổi nhận xét: “Chúng ta đang sống trong xã hội thay đổi quá nhanh, ngay cả các mối quan hệ. Vì thế sự cam kết và thủy chung của họ trong thời gian lâu như thế khiến tôi rất cảm động bởi điều đó ngày nay là quá khó kiếm tìm”.

Cụ ông đã mất, cụ bà bị xáo trộn

Nhà làm phim Jin Mo Young chia sẻ, ông biết đến ông bà Jo Byeong Man qua một show truyền hình tài liệu của đài KBS phát năm 2011, giới thiệu cuộc sống lãng mạn của những cặp vợ chồng tóc bạc. Ngay sau đó, ông đã lặn lội đến vùng núi nơi ông bà định cư và đề nghị thực hiện câu chuyện điện ảnh về họ.

Bộ phim truyền cảm hứng về tình yêu chung thủy.
Bộ phim truyền cảm hứng về tình yêu chung thủy.

Được sự đồng ý, đạo diễn Jin Mo Young bấm máy từ tháng 9/2012 và hoàn thành My Love, Don’t Cross That River sau gần hai năm. Suốt thời gian ghi hình, đạo diễn Jin Mo Young rất tinh tế quan sát và luôn đưa vào khung hình những chi tiết đắt giá mỗi ngày của cặp vợ chồng xế bóng, giúp từng cảnh phim chạm tới tim khán giả.

Cụ ông Jo Byeong Man qua đời một thời gian sau khi phim hoàn thành. Giờ đây, thành công của bộ phim lại gây xáo trộn đến cuộc sống của bà Kang Gye Yeol. Nửa tháng trước, đạo diễn Jin Mo Young ra thông cáo báo chí, cảm ơn sự quan tâm của truyền thông nhưng cũng lưu ý: “Cụ bà hiện đã phải chuyển đến sống cùng con gái để tránh sự chú ý và quan tâm quá khích của người hâm mộ, dù cụ rất muốn sống ở nơi đã trải qua 75 năm hôn nhân hạnh phúc với chồng”.

Nhà làm phim chia sẻ thêm: “Hiện cụ không muốn bị mọi người làm xáo trộn cuộc sống và đang hưởng những năm cuối đời bên con cháu. Xin mọi người đừng làm phiền hoặc liên lạc thăm cụ”.

Vũ Văn Việt

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Cảnh báo: Người Cơ đốc giáo bị tiêu diệt ở các nước Hồi giáo

Cảnh báo: Người Cơ đốc giáo bị tiêu diệt ở các nước Hồi giáo

Hầu hết những mối đe dọa đối với người Cơ đốc giáo xuất phát từ một hình thức cực đoan của đạo Hồi.

Jerome Socolovsky

08.01.2015

Một tổ chức truyền giáo quốc tế vừa công bố bản phúc trình hàng năm về nạn bách hại người Cơ đốc giáo trên thế giới. Và cũng giống như những năm trước, Bắc Triều Tiên đứng đầu danh sách những nước mà người theo đạo Cơ đốc bị đàn áp dữ dội nhất. Tuy nhiên, theo tường thuật của thông tín viên Jerome Socolovski của đài VOA, hầu hết những mối đe dọa đối với người Cơ đốc giáo phát xuất từ một hình thức cực đoan của đạo Hồi.

Khi họ đang trên đường về nhà, ông ấy gặp những người thuộc nhóm Boko Haram.

Bà Damaris Atsen, một phụ nữ người Nigeria, đã thuật lại việc chồng bà bị nhóm hiếu chiến Hồi giáo Boko Haram đâm chết. Câu chuyện của người phụ nữ bất hạnh này là một trong những câu chuyện được nêu ra trong bản phúc trình hàng năm của tổ chức truyền giáo Mở Cửa (Open Doors), nói về những nước mà người theo đạo Cơ Đốc gặp phải nhiều mối nguy hiểm nhất.

Ông David Curry, Chủ tịch Phân bộ Hoa Kỳ của tổ chức Mở Cửa, cho biết chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo là mối đe dọa chính của người Cơ đốc giáo ở Nigeria và hầu hết 50 quốc gia khác trong danh sách năm nay.

“Thế giới vẫn chưa nhận thức được tính chất nghiêm trọng của vấn đề. Sự bách hại người Cơ đốc giáo là có thực và thường có tính chất bạo động khủng khiếp.”

Ông Curry giải thích thêm như sau.

“Trong số những nước thuộc danh sách này có một số nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất thế giới. Và thực tế này làm phát sinh câu hỏi là phải chăng nạn bách hại người Cơ đốc giáo nên được phân ra thành một hạng mục riêng biệt.”

Ông Curry cho rằng sự đàn áp những người theo Cơ Đốc có thể là một chiếc phong vũ biểu của tình hình nhân quyền của một nước.

“Sự bách hại người Cơ đốc giáo là một chỉ dấu hàng đầu về những vấn đề khác trong lãnh vực nhân quyền. Khi người ta bắt đầu tấn công những người khác vì sự bày tỏ tín ngưỡng của họ, chúng ta có thể thấy những vấn đề xã hội khác bắt đầu xuất hiện.”

Tại Iraq, những phần tử hiếu chiến cũng tấn công những người theo đạo Hồi – cả Hồi giáo Sunni lẫn Hồi giáo Shia. Nhưng bà Nina Shea của Trung tâm Tự do Tôn giáo cho rằng những người theo đạo Cơ đốc đối mặt với một nguy cơ khác với những người theo đạo Hồi.

“Chúng ta có thể biết chắc là sẽ có sự hiện diện của người Sunni và sự hiện diện của người Shia khi hòa bình được vãn hồi ở Iraq. Nhưng chúng ta không biết chắc là sẽ có sự hiện diện của người Cơ đốc giáo hay không.”

Tổ chức Mở Cửa được thành lập vào thập niên 1950 với hoạt động chính là bí mật đưa Kinh Thánh vào những nước theo chủ nghĩa Cộng Sản. Bắc Triều Tiên, một nước theo chủ nghĩa Cộng Sản và là nơi lãnh tụ Kim Jong Un được thần thánh hóa, đứng đầu danh sách các nước đàn áp Cơ đốc giáo dữ dội nhất trong 13 năm liên tiếp.

Đầy tình người trong lễ tang của một tân tòng

Đầy tình người trong lễ tang của một tân tòng 

Triết Giang

1/6/2015

Chúng tôi khởi hành từ Hà Nội sáng sớm ngày 3-1-2015 về Thái Bình để dự lễ tang của một tân tòng: cụ Giuse Phạm Ngọc Thung, sinh năm 1920, mới gia nhập đạo Chúa ngày 4-5-2014 tức là mới tròn 8 tháng.

Trên xe có đủ các thành phần từ linh mục chính xứ Thái Hà, linh mục linh hướng Tông đoàn Gioan Phaolô 2, anh chị em trí thức, doanh nhân…Về đến gần gia đình tang quyến, chúng tôi thấy có rất nhiều xe với biển số từ nhiều tỉnh thành. Hóa ra, không phải chỉ có chúng tôi mới là người ngoại tỉnh. Khi chúng tôi tới nơi thì Đức Cha FX. Nguyễn Văn Sang đang chủ sự lễ an táng cùng với cả chục linh mục. Các cha đi cùng chúng tôi vội thay lễ phục để tham gia đoàn đồng tế. Có cả hàng ngàn người tham dự. Sân nhà chỉ đủ chỗ cho các nữ tu và vài đội kèn đồng và tang quyến, còn tất cả phải đứng tràn ra kín hết con đường đi.

Đức Cha FX. Nguyễn Văn Sang đã có bài giảng rất hay trong lễ an táng cụ Giuse. Sau khi ca ngợi tấm gương của Cụ Giuse đã sống theo Huấn từ của Đức Bênêdictô XVI: “Người Công Giáo tốt cũng là người công dân tốt”, Đức Cha đã nhắc lại bài thơ đề dưới bức tranh tặng Cụ khi Ngài chủ sự lễ Rửa tội cho Cụ cách đây 8 tháng:

Làm con Thiên Chúa Ba Ngôi
Làm con Hội thánh đời đời quang vinh
Cuộc đời sinh tử, tử sinh
Thánh Linh nhân ái, kết tình anh em
Và Ngài thêm: Bây giờ biết nói gì thêm
Chỉ mong một chữ được lên Thiên Đàng

Cha chính xứ Gia Lạc- người đã đỡ đầu cho Cụ Giuse thay mặt Đức Cha chủ sự nghi thức tiễn biệt. Đức Cha và các cha lần lượt vảy nước phép trên quan tài người quá cố trong tiếng ca trầm buồn của các nữ tu. Thay mặt gia đình, lương y Phạm Cao Sơn đã vô cùng cảm động khi thấy các Đức Cha, các cha, các nam nữ tu sĩ và cộng đoàn đã đến chia buồn và cầu nguyện cho bố ông- một tân tòng, mới gia nhập đạo Chúa. Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ở tậ Châu Sơn, Ninh Bình cũng gửi vòng hoa về viếng. Ông Sơn nói: “Dân gian thường bảo: “ trẻ làm ma, già làm hội. Bố của chúng con sinh năm 1920, đến nay đã sống gần tròn thế kỷ. Vậy là chúng con phải vui vì Chúa đã cho bố cúng con tuổi đại thọ. Gia đình chúng con cũng tự hào, vì bố của chúng con đã được Chúa thương gọi làm con cái của Người và hôm nay lại được Đức Cha, Quý cha, Quý nam nữ tu sĩ, Quý cộng đoàn, anh em cha bác đến cầu nguyện tiễn đưa bố chúng con về với Chúa. Chúng con vô cùng đội ơn”.

Ba đội kèn đồng, 1 đội chiêng của xứ Phú Lạc, 1 đội trống lần lượt cử những bài tiễn đưa linh hồn Giuse về nơi an nghỉ. Nghĩa trang của xã cách nhà khoảng 2km, nhưng các đoàn hội và người đưa đi rải kín đường đi. Các đoàn hội và người đưa tang phải đứng cả ở trên đê, chỉ có linh mục chủ sự lễ hạ huyệt, các nữ tu và gia quyến mới được đi vào nghĩa trang vì mặt bằng không đủ chỗ. Hai ngôi mộ bằng đá vừa xây xong có Thánh giá bằng đá khá lớn, nổi bật ở nghĩa trang vì đây là nghĩa trang của người không Công Giáo. Tôi đi cạnh hai người, một người nói ở tận Quảng Ninh vừa về sáng nay để kịp tiễn đưa Cụ Giuse, một người bên Nam Định sang vì có chịu ơn của lương y Phạm Cao Sơn đã khám chữa bệnh miễn phí trong các dịp ông Sơn đi khám từ thiện ở Bùi Chu. Nhiều người dân ở địa phương nói với chúng tôi rằng, lễ tang của Cụ Giuse quá trọng thể, quá linh đình, cả tỉnh Thái Bình cũng khó có đám tang nào sánh bằng. Họ nói, chỉ có người Công Giáo mới đối xử với nhau được như thế chứ tiền của nào mua được tình người. Chúng tôi lần lượt rắc những bông hoa trên quan tài của Cụ như một lời tiễn biệt.

Một triết gia đã nói, muốn biết người ta sống thế nào, hãy trông đám tang của họ. Vâng, nếu nhìn vào đám tang của Cụ Giuse với cả hàng ngàn con người đủ các thành phần từ mọi miền đến chia buồn, hàng trăm vòng hoa viếng của các hội đoàn, giáo xứ, dòng tu thì có thể nói, Cụ Giuse- một tân tòng đã sống một cuộc đời tử tế và công chính. Nguyện xin Chúa nhân từ sớm cho linh hồn Giuse được hưởng dung nhan Người trên nước Trời.

Vụ thảm sát người Việt: Cha nạn nhân ‘tha thứ’ cho thủ phạm

Vụ thảm sát người Việt: Cha nạn nhân ‘tha thứ’ cho thủ phạm

Hoa và thú nhồi bông trước căn nhà ở Edmonton, Alberta, nơi xảy ra vụ xả súng giết chết 8 người Việt,ngày 31/12/2014.

Hoa và thú nhồi bông trước căn nhà ở Edmonton, Alberta, nơi xảy ra vụ xả súng giết chết 8 người Việt,ngày 31/12/2014.

VOA Tiếng Việt

06.01.2015

Ông Tâm Nguyễn, người đàn ông có vợ và con gái thiệt mạng trong vụ xả súng làm 8 người Việt thiệt mạng tại thành phố Edmonton, Canada, cho các nhà sư chủ trì buổi lễ cầu siêu mới đây biết rằng ông tha thứ cho tay súng.

Một tuần trước đó, Phú Lâm, 53 tuổi, đã sát hại vợ, con cùng sáu người khác trong đó có bố mẹ vợ. Sau đó, thủ phạm đã tự sát khi bị cảnh sát bao vây.

Phu nhân của ông Tâm là em gái của vợ hung thủ, và hai người chị em này đã thiệt mạng cùng với hai người con của họ, một trai và một gái.

Nhiều người Việt hôm 4/1 đã tề tựu về Thiền viện Trúc Lâm để cầu nguyện cho các nạn nhân.

Thầy Thích Thiện Tâm, Viện trưởng Viện Phật học Edmonton ở Canada, nơi đặt thiền viện trên, cho VOA Việt Ngữ biết thêm:

“Gia đình người còn sống sót là anh Tâm, một phật tử, về chùa xin làm lễ cầu siêu cho tất cả những người trong cuộc thảm sát, trong đó 6 người bên vợ của anh với một đứa con của anh. Đây là một việc làm cho cộng đồng cũng rất là đau xót. 9 mạng người. Bây giờ cảnh sát cũng chưa xác nhận lý do như thế nào. Đó là một việc hết sức đau lòng của cộng đồng ở đây, và cũng làm xôn xao cộng đồng ở đây.”

Theo báo chí Canada, ông Lâm và người vợ 35 tuổi gặp nhau ở Việt Nam năm 2000 và cưới nhau vài tháng sau đó. Người đàn ông giết vợ, con từng bảo lãnh cho cha mẹ và chị em nhà vợ tới Canada vài năm trước.

Năm 2012, vợ ông Lâm từng nói trước tòa rằng chồng mình “từng đe dọa sẽ giết cả nhà bà”, sau khi hai người trở nên xung khắc. Tin cho hay, ông Lâm từng dính vào nợ nần do bài bạc.

Tại buổi lễ, Thầy Thích Thiện Tâm nói rằng “những người đã chết có thể là vợ, chồng, con trai, hay con gái của chúng ta nên, thay vì hận thù, hãy hướng đến tình thương, và cầu nguyện cho những người đã khuất tái sinh ở miền cực lạc”.

Viện trưởng Viện Phật học Edmonton nói thêm rằng ông Tâm đã cho ông biết rằng muốn tha thứ cho hung thủ, người cũng chính là anh em cọc chèo.

“Trong buổi lễ cầu nguyện đó, chính anh Tâm, người mà còn sống sót, anh cũng nói, thôi, anh cũng tha thứ. Anh cũng nói chuyện đã rồi, bây giờ có uất hận thì cũng không tốt lành gì. Anh cũng biết rằng hai bên có những sự đối đãi với nhau không được đẹp cũng nhiều năm rồi. Theo Phật giáo, linh hồn của những người mất vẫn còn phảng phất đâu đó, và vì sự uất hận đó, có thể họ chưa tái sinh. Trong giai đoạn đó, đôi khi họ cũng nhận diện được, biết được những lỗi lầm, sai trái của mình.  Việc tha thứ, đó là cá nhân của anh ấy, gia đình anh ấy, chứ còn người khác có thể họ không tha thứ, họ sẽ còn uất hận lắm.”

Thầy Thích Thiện Tâm cho biết tất cả các hội đoàn và các nhóm tôn giáo ở Edmonton đã nhóm họp lại để tìm cách quyên góp, giúp đỡ cho cô bé một tuổi, con gái ông Lâm, cùng người cháu trai 8 tháng tuổi mà ông ta đã tha mạng.

Người Việt ở Edmonton có trên dưới 10.000 người, và được coi là một trong những nơi nhiều người gốc Việt sinh sống nhất ở Canada.

Giáo hoàng bổ nhiệm một tân Hồng y VN

Giáo hoàng bổ nhiệm một tân Hồng y VN

Đức Giáo hoàng Francis trong một cuộc gặp với các vị Hồng y, tháng 12/2014

Một vị Tổng giám mục từ Việt Nam vừa được Giáo hoàng Francis chỉ định làm Hồng y, theo Tòa thánh Vatican.

Tổng giám mục Hà Nội, Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, sinh năm 1938, vừa được Đức Giáo hoàng nêu tên trong số 20 vị Hồng y mới từ nhiều quốc gia khác nhau trên toàn cầu như Việt Nam, Myanmar, Tonga và Ethiopia v.v…

Tổng giám mục Nhơn từng được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục từ tháng 10/1991, theo thông tin trên trang của Dòng tên Việt Nam.

Ngài thụ phong Giám mục tại Đà Lạt ngày vào tháng 12/1991 và trở thành Giám mục phó giáo phận Đà Lạt từ 1991 đến 1994.

Tháng 3/1994, ngài làm Giám Mục giáo phận Đà Lạt và từ tháng 4/2010, được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Phó Tổng Giáo Phận Hà Nội.

Ngày 13/5/2014, ngài trở thành Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội.

‘Dưới 80 tuổi’

Đức Tổng giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn

Trong số các vị Hồng y mới được Giáo hoàng Francis chỉ định, 15 vị có độ tuổi dưới 80, tức có đủ điều kiện để tham gia mật nghị bầu người kế vị Đức Giáo hoàng.

Đức Giáo hoàng Francis nói việc chỉ định Hồng y từ 14 quốc gia trên mỗi lục địa của thế giới cho thấy “mối liên hệ không thể chia tách” của Vatican với Giáo hội Công giáo trên toàn cầu.

Các tân Hồng y sẽ chính thức được thụ phong vào ngày 14/02/2015.

Danh sách tên các tân Hồng y gồm năm vị Giám mục sẽ tham gia Hồng y đoàn nhưng đều đã trên 80 tuổi nên sẽ không được tham gia dự lễ bầu Giáo hoàng mới.

Đây là lần thứ hai Đức Giáo hoàng Francis chỉ định các vị tân Hồng y từ nhiều quốc gia khác nhau.

Tháng Giêng năm ngoái, ông đã chỉ định thêm 19 vị đến từ nhiều quốc gia trong đó có Haiti và Burkina Faso.

Điều này cho thấy ‘cam kết’ của Đức Giáo hoàng với người nghèo, theo một phát ngôn viên của Tòa Thánh.

Xem thêm:

Conggiaovietnam.net

ĐỨC TGM PHÊ RÔ NGUYỄN VĂN NHƠN ĐƯỢC CHỌN LÀM HỒNG Y

Giáo hạt Cách Tâm Phát Diệm: Thánh lễ tạ ơn nhân dịp kỷ niệm hôn phối

Giáo hạt Cách Tâm Phát Diệm: Thánh lễ tạ ơn nhân dịp kỷ niệm hôn phối

LM. Nguyễn Hồng Phúc

Ngày lễ Thánh Gia thất, quan thầy Chương trình TTHNGĐ giáo phận Phát Diệm đã diễn ra hết sức tốt đẹp, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng đã về chủ sự thánh lễ vào ngày 28/12/2014 tại giáo xứ Cách Tâm đúng theo chương trình đã định. Cùng Đồng tế với Đức Cha có cha trưởng ban mục vụ gia đình của giáo phận, các cha linh nguyền và các cha trong giáo hạt Cách Tâm. Thánh lễ quy tụ khoảng trên 1000 giáo dân, trong đó hầu hết là các anh chị Song nguyền. Đặc biệt trong Thánh lễ này có 63 cặp gia đình kỷ niệm thành hôn được Đức Cha chúc phúc và trao bằng kỷ niệm. Trong đó gồm có 5 cặp Ngọc khánh, 23 cặp Kim khánh, 27 cặp tròn 40 năm và 45 năm, 8 cặp Ngân khánh hôn phối.

Trước thánh lễ, Đức Cha đã dành thời gian 30 phút để huấn dụ, ngài đồng cảm với quý anh chị Song nguyền trong đời sống yêu thương giữa các gia đình, ngài tạ ơn về thời gian quý giá như ngọc, như vàng, như bạc với các gia đình kỷ niệm thành hôn. Không chỉ đánh giá ơn gọi cao quý của hôn nhân, Đức Cha Giuse còn phân tích những hoa trái trong gia đình kiến tạo nên hạnh phúc của cả nhiều thế hệ. Ngược lại, những đổ vỡ trong gia đình gây tổn thương cho Giáo Hội và xã hội biết bao! Ngài kết thúc huấn từ bằng những câu chuyện dí dỏm, những phương pháp giản dị đời thường nhằm gắn kết những bất đồng đổ vỡ. Đức Cha hướng gia đình vượt trên những khó khăn để xây dựng đời sống hôn nhân bền vững. Những ví dụ thực tế mà sâu sắc như quả chanh chua không ai ăn trực tiếp được nhưng biết cách pha loãng và thêm chút đường dịu ngọt sẽ thành một ly nước chanh ngọt mát trong cuộc đời, mẻ kia chua không ai ăn được nhưng pha chế thành giấm hay nấu canh chua sẽ là món ăn ngon bổ trong cuộc sống…

Đoàn rước gồm có quý anh chị Song nguyền và các gia đình kỷ niệm thành hôn rước đoàn chủ sự tiến lên lễ đài. Đây là linh đài La Vang Cách Tâm vừa hoàn thành dịp tháng 5/2014.

Linh đài rộng 200m2 đủ cho vài trăm linh mục cùng đồng tế. Dưới chân Mẹ La Vang, khung cảnh uy nghiêm và thiêng thánh của buổi lễ đã được hiện lên.

Trước thánh lễ, cha Tổng linh nguyền đã đọc thư email của cha Sáng lập chúc mừng Giáng Sinh và Năm mới tới quý cha và quý anh chị Song nguyền, ai cũng vui mừng và xúc động.

Cha Tổng linh nguyền cũng giới thiệu lên Đức Cha sơ lược về Chương trình TTHNGĐ tại Phát Diệm: … “ Chương trình TTHNGĐ giáo phận Phát Diệm chúng con, từ khóa đầu tiên do cha sáng lập Phêrô Chu Quang Minh mở tại Phát Diệm đến nay đã được 9 năm. Ban đầu chỉ mới hình thành Liên hợp gia Phát Diệm gồm 130 cặp gia đình, ngày nay đã phát triển thành 15 liên hợp gia với tổng số là 750 cặp gia đình. Những gia đình thường xuyên sinh hoạt liên gia và liên hợp gia, trên thực tế vào khoảng 282 và đều có mặt trong thánh lễ Quan thầy hôm nay. Bản thân con số chưa nói lên điều gì, nhưng thiện chí của mỗi gia đình khi tham gia vào chương trình đều tâm niệm giữ gìn hạnh phúc gia đình bền vững, hoạt động Tông đồ song đôi trong giáo xứ và trong chương trình. Cộng tác với mọi người trong phụng sự tin yêu để cùng nhau xây dựng Nước Chúa muôn đời. Nền tảng thực hành là Khiêm nhường biết lỗi, nhận lỗi, xin lỗi, sửa lỗi và tha lỗi. Phương pháp thực hành là khiêm nhường nói ra một yếu đuối để sửa chữa và thay đổi đời sống, nhằm đạt tới mục đích yêu thương và gần gũi bằng việc làm trong gia đình. Xét theo linh đạo thì đây là chương trình đơn giản nhất nhưng đó lại chính là đoàn sủng của chương trình. Trong suốt những năm qua, chúng con luôn nhận được sự quan tâm, khích lệ và giáo huấn của Đức Cha, đặc biệt trong năm Phúc Âm hóa đời sống gia đình vừa qua. Chính sự quan tâm này đã thúc đẩy chúng con luôn cố gắng để không phụ tình thương của Đức Cha và hơn nữa, không phụ tình thương hải hà của Thánh Gia”.

Thánh lễ cử hành dưới bầu trời se lạnh, không mưa, không nắng nhưng lộng gió như trong một không gian đầy ắp Thánh Thần. Đức Cha đề cao vai trò gia đình trong bài giảng lễ vì chính Chúa Giêsu cũng đã sinh xuống trong một gia đình để thánh hóa gia đình trở nên thánh. Ngài mời gọi các gia đình hãy noi gương Thánh Gia để xây dựng gia đình hạnh phúc. Cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng thuận vợ thuận chồng nhưng nhiều khi đầy những cay đắng, đau khổ. Để có đời sống hạnh phúc, mỗi người phải tôn trọng luật Chúa, tôn trọng lẫn nhau, hãy đặt tình yêu vào đời sống hôn nhân.

Cuối thánh lễ, anh Giuse Lê Văn Hoàng, chủ nguyền chương trình TTHNGĐ Phát Diệm đã thay mặt anh chị em Song nguyền và các gia đình kỷ niệm thành hôn lên cám ơn. Trong đó có nội dung chính:

“…Đối với chúng con là những người sống trong ơn gọi hôn nhân, nay tham gia vào chương trình TTHNGĐ, chúng con lắng nghe và thấm sâu lời kêu gọi của Thư Chung HĐGMVN đã kêu gọi: “Gia đình là cộng đoàn cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa, đền thờ tại gia. Hiệp thông trong kinh nguyện vừa là hoa trái vừa là đòi hỏi của sự hiệp thông bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và Hôn Phối. Chúa Giêsu hiện diện trong gia đình khi vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng cầu nguyện, và khi đó, chính cuộc sống gia đình trở thành lời kinh sống động. Hoàn cảnh sống hiện nay gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc gia đình cùng sum họp cầu nguyện. Tuy nhiên đây là đòi hỏi quan trọng trong đời sống gia đình Công Giáo. Vì thế, cùng với việc siêng năng tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các bí tích, chúng tôi tha thiết xin anh chị em duy trì giờ kinh chung trong gia đình, và cố gắng đưa Lời Chúa vào giờ kinh này”(Thư chung HĐGMVN năm 2013 số 6,1).

Đúng như thư HĐGMVN đã nhận định: “Hoàn cảnh sống hiện nay gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc gia đình cùng sum họp cầu nguyện”. Mặt khác, chúng con cũng nhận thức rằng bối cảnh phức tạp của xã hội hiện nay đang làm lung lay nền tảng đạo đức và luân lý của các gia đình, nhiều gia đình mất phương hướng. Nền văn hóa mới toàn cầu đang nổi dậy cho cá nhân chủ nghĩa. Những lối sống và cách suy nghĩ nặc mùi thực dụng tục hóa đang là mối đe dọa cho gia đình. Những mâu thuẫn, tranh chấp đã xua đuổi con người ra khỏi mái ấm gia đình của mình. Các phương tiện truyền thông xã hội và những chính sách cưỡng bức, hạn chế sinh sản đang gây ảnh hưởng trên các giá trị gia đình. Việc gia tăng các gia đình đổ vỡ và những gia đình ly hôn là dấu hiệu cho thấy tình trạng rạn nứt trong gia đình và những nguy cơ khác cực kỳ nghiêm trọng đang làm xói mòn tình yêu hôn nhân. Tình yêu hôn nhân chân thật hiện đang biến mất tới mức báo động. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhận định: “Nếu các trái tim bị phân tán thành hàng ngàn mảnh, thì không dễ tạo được hòa bình đích thực trong xã hội” (Tông huấn Evangelii Gaudium số 229).

Từ những nhận định trên, chúng con càng thấy cần thiết và đúng đắn khi chúng con đã được tham gia chương trình TTHNGĐ để giữ gìn gia đình bền vững theo mẫu gương Thánh Gia. Chương trình là một trong những phương thế Chúa dùng để giúp các gia đình vượt qua được thách đố thời đại. Phương thế của CT/TTHNGGĐ đơn giản là vợ chồng khiêm nhường XIN LỖI và CẢM ƠN mỗi tuần ít là hai lần trước nghỉ đêm. Hàng ngày và trong các giờ sinh hoạt chung, chúng con luôn đọc Kinh Hôn Nhân Gia Đình để

“Xin cho gia đình chúng con:

– Biết CẢM THÔNG và SỐNG theo Lời Chúa.

– Biết LẮNG NGHE và KÍNH TRỌNG NHAU lúc vui cũng như khi buồn.

– Biết NHẪN NHỤC và HÒA GIẢI, khi tính tình và cách cư xử khác nhau.

– Biết HIẾU NGHĨA và CHUNG THỦY, từ trong gia đình cho tới ngoài xã hội.

– Biết lấy GƯƠNG LÀNH mà dưỡng dục con cái.

Kính xin Đức Cha, quý cha tiếp tục cầu nguyện cho chương trình TTHNGĐ và anh chị em Song nguyền chúng con được vững vàng tiến bước trong ơn Chúa và thăng tiến theo đúng đoàn sủng của Chương trình”.

Sau thánh lễ, Đức Cha còn chụp ảnh lưu niệm với anh chị em Song nguyền chung theo từng giáo hạt và riêng cho từng gia đình kỷ niệm thành hôn. Tiệc mừng đã phải muộn lại mãi sau giờ Ngọ, nhưng không ai than phiền vì niềm vui đã tràn đầy cõi lòng. Tạ ơn thánh Gia đã ban cho chúng con một ngày Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa. Giữa mùa đông lạnh giá nhưng mọi người ra về vẫn thấy lòng mình ấm áp mãi tình Chúa và tình người.

Lm Phêrô Hồng Phúc.