Lần đầu tiên có hai phụ nữ tranh cử tổng thống ở Đài Loan

Lần đầu tiên có hai phụ nữ tranh cử tổng thống ở Đài Loan

Nguoi-viet.com

ĐÀI BẮC, Đài Loan (AP) – Hai đảng lớn nhất ở Đài Loan đã đều đề cử một phụ nữ đại diện họ ra tranh cử tổng thống trong kỳ bầu cử năm 2016, một hành động lịch sử cho thấy sự chấp nhận khả năng lãnh đạo của phụ nữ ở quốc gia này.

Bà Hung Hsiu-chu, một cựu nhà giáo và hiện là phó chủ tịch Quốc Hội, vẫy cờ
sau khi bà được Đảng Quốc Dân Đảng Đài Loan đề nghị ra tranh cử tổng thống.
(Hình: AP Photo/Chiang Ying-ying)

Quốc Dân Đảng Đài Loan, hiện đang là đảng cầm quyền, hôm Chủ Nhật đề cử bà Hung Hsiu-chu, một cựu nhà giáo và hiện là phó chủ tịch Quốc Hội, đại diện họ ra tranh cử tổng thống. Bà Hung, người ủng hộ có quan hệ thân thiện với lục địa Trung Quốc, sẽ đối đầu với bà Tsai Ing-wen, chủ tịch đảng đối lập Dân Chủ Cấp Tiến (DDP), với lập trường dè dặt hơn trong quan hệ với Bắc Kinh. Bà Tsai hiện được coi là có thế thượng phong theo các cuộc thăm dò dư luận trước ngày bầu cử vào Tháng Giêng năm 2016.

Mối quan hệ với Trung Quốc hiện đang ngày càng trở thành một vấn đề quan trọng trong cuộc bầu cử tới. Cử tri Đài Loan cho đến nay chưa hề bỏ phiếu cho phụ nữ lên làm tổng thống hay có cơ hội chọn lựa hai phụ nữ đại diện cho cả hai đảng lớn tại quốc gia này.

Bà Joana Lei, giám đốc điều hành cơ quan nghiên cứu Chunghua 21st Century Think Tank ở Đài Loan, nói rằng một số phụ nữ trẻ hơn vẫn còn gặp khó khăn khi vào vai trò lãnh đạo ở Đài Loan, nhưng xã hội này chấp nhận các phụ nữ lớn tuổi hơn, từ 50 trở lên, vì truyền thống lịch sử đã có từ ở lục địa.

Phụ nữ này điều hành 10 bộ chính quyền cũng như một số công ty hàng đầu ở Đài Loan. Có tới 1/3 dân biểu quốc hội Đài Loan là phụ nữ, so với 13% ở Nhật và 16% ở Nam Hàn, theo lời ông Sean King, phó chủ tịch công ty Park Strategies, một công ty tư vấn có trụ sở đặt tại New York.

Ở các quốc gia khác tại Á Châu, bà Park Geun-hye đắc cử tổng thống Nam Hàn hai năm trước đây và bà Sheikh Hasian hiện là thủ tướng Bangladesh. Philippines đã từng có hai tổng thống là phụ nữ.

Quốc Dân Đảng của bà Hung bị mất 9 ghế thị trưởng và quận hạt trong kỳ bầu cử địa phương hồi Tháng Mười Một vừa qua vì cử tri cáo buộc chính phủ của Tổng Thống Mã Anh Cửu quá thân thiện với chính quyền lục địa trong khi không quan tâm đến khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn trong nước. Ông Mã không được tái tranh cử lần tới vì đã ở hai nhiệm kỳ. (V.Giang)

Chúng ta không còn là lọai người ở tỉnh lẻ nữa.

Chúng ta không còn là lọai người ở tỉnh lẻ nữa.

( We are no longer provincial )

Đòan Thanh Liêm

Vào đầu năm 1916, Tổng Thống Woodrow Wilson đã bắt đầu công việc vận động thuyết phục Quốc Hội là nước Mỹ cần phải tham gia giúp đỡ Liên minh Anh Pháp trong cuộc Đệ nhất chiến tranh thế giới khởi sự từ năm 1914. Ông phát biểu một câu đã thành nổi danh như sau : “Chúng ta không thể còn là một dân tộc ở tỉnh lẻ nữa” (nguyên văn tiếng Anh : “We can no longer be a provincial nation” ).Tức là ông muốn xác nhận rằng nước Mỹ đã là một cường quốc với trách nhiệm trong công cuộc bảo vệ tự do và hòa bình trên khắp thế giới, chứ không còn là một quốc gia nhỏ bé, mà tự cô lập khỏi cộng đồng nhân lọai được nữa.

Câu nói này cũng có thể áp dụng cho người Việt đang sinh sống ở trên 60 quốc gia tiến bộ khắp thế giới hiện nay. Nhất là đối với lớp người trẻ là con em chúng ta đang vào lớp tuổi 30-40 đã trưởng thành chững chạc rồi, mà lại tiếp thu được một nền giáo dục văn minh với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao độ tại các nước Âu Mỹ, thì rõ rệt là các em đã có một nhãn quan rộng rãi, thông thóang rất nhiều so sánh với thế hệ cha bác của mình.Đó là điều làm chúng ta thật vui mừng, vì như người xưa vẫn thường nói : “Hậu sinh khả úy”, và “Con hơn cha, nhà có phúc” vậy.

Vì được sinh sống trong một môi trường văn hóa xã hội tiền tiến như vậy, nên chúng ta dễ hấp thụ được những cái hay, cái đẹp của thế giới hiện đại. Nhờ vậy, mà số trên 3 triệu người Việt hải ngọai có thể đóng góp phần trí tuệ này vào công cuộc xây dựng và phát triển cho quê hương đất nước Việt nam của mình. Chứ không phải chỉ có sự chi viện kinh tế vật chất cho bà con ruột thịt ở quê nhà, như là đóng vai trò của một thứ “con bò sữa”. Cụ thể mà nói, thì chúng ta cần phải có được cái suy nghĩ tòan cuộc, cái viễn kiến sâu xa (global thinking/global vision) về tình hình các sự việc của tòan bộ thế giới ngày nay, cũng như của nước Việt nam nhỏ bé của mình trong khuôn khổ của cái thế giới ấy. Đúng như lời của Tổng Thống De Gaulle vào năm 1964-65 đã nhắn nhủ thanh niên sinh viên nước Pháp là : “Các bạn cần phải có một tầm nhìn vũ trụ (vision cosmique)”. Và còn hơn thế nữa, chúng ta lại có thể mời gọi, thuyết phục được các bạn bè quốc tế rất đông đảo, hùng hậu của mình, để cùng nhập cuộc liên đới với chúng ta trong sự nghiệp tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền của Việt nam, trong tinh thần ôn hòa, bất bạo động vốn là xu thế thời đại trong thế giới văn minh hiện nay.

Với ý hướng đó, trong bài viết này, tôi xin được trình bày về kinh nghiệm cụ thể rằng: “Phát triển Xã hội Dân sự chính là phương cách hiệu quả nhất để đi tới được một nền Dân chủ Tham gia” (Participatory Democracy). Như ta đã biết, XHDS là một trong ba khu vực cấu tạo thành cái không gian xã hội mà mỗi người chúng ta sinh sống trong một miền địa lý nhất định. Định nghĩa này có thể ghi vắn tắt thành một công thức như sau:

Không gian xã hội  =  Nhà nước + Thị trường kinh tế + Xã hội Dân sự.

( The Social Space   =  The State   + The Marketplace   + The Civil Society).

Cả ba khu vực này đều tồn tại song hành với nhau trong tư thế của sự cộng đồng sinh tồn (Coexistence), tức là không một khu vực nào lại tìm cách thay thế hay lọai trừ đơn vị kia.

Thông thường, thì ta có XHDS trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, hay trong một đơn vị hành chánh nhất định. Nhưng với xu thế tòan cầu hóa ngày nay, thì đã có nhiều tác giả đề cập đến các khía cạnh của một thực thể lớn rộng hơn nữa, đó là “Xã hội Dân sự Tòan cầu” (Global Civil Society), mà thành phần đơn vị cụ thể là các Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Phong Trào Green Peace (Bảo vệ Môi sinh), Tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), các Tổ chức Nhân đạo như Ford, Rockefeller, Bill Gates Foundation  v.v… Cũng tương tự như tổ chức Liên Hiệp Quốc (The United Nations = UN ), được khai sinh từ sau thế chiến thứ hai, thì cũng được coi như là một thực thể chính trị bao gồm mọi quốc gia trên thế giới ngày nay. Ta sẽ bàn chi tiết về XHDS Tòan cầu trong một dịp khác, vì bài này tập chú vào hiện tình XHDS tại Việt nam trong bối cảnh của phong trào phát triển về Dân chủ và Nhân quyền của thế giới ngày nay.

Trong vòng 30-40 năm nay, ý niệm về XHDS đã được phát triển phổ biến khắp nơi trên thế giới, qua môi trường hàn lâm đại học, cũng như qua các phương tiện truyền thông báo chí, và nhất là thông qua sự lớn mạnh của hàng triệu các tổ chức phi chánh phủ (NGO = Non-Governmental Organisations), các tổ chức từ thiện nhân đạo, các nhóm họat động xã hội dựa trên cơ sở một niềm tin tôn giáo (Faith-based social action groups) v.v… nhan nhản tại khắp các quốc gia trên thế giới, thì vai trò của XHDS lại càng được chú ý và được đề cao, cổ võ. Đặc biệt, kể từ khi chế độc độc tài tòan trị cộng sản bị xụp đổ tại Đông Âu và tại chính Liên Xô kể từ 20 năm nay, thì vấn đề “Phục hồi và Xây dựng lại XHDS tại các quốc gia cựu cộng sản này” lại càng được đặt ra một cách sôi nổi cấp thiết.

Xu thế chung tại các quốc gia “hậu cộng sản” này là : Quần chúng nhân dân dành lại được cái quyền chủ động của mình trong mọi lãnh vực chính trị, xã hội, kinh tế cũng như về mặt văn hóa, tâm linh. Cụ thể là các hội thiện nguyện về nhân đạo từ thiện cũng như về y tế, giáo dục và tôn giáo v.v… đã được phục hồi để cho các tư nhân được thỏai mái tham gia sáng kiến và hành động, mà không còn bị quyền lực của Nhà nước o ép, kiềm chế gắt gao như dưới chế độ cộng sản nữa. Và đây mới chính là sự thể hiện cái “Quyền Tự quyết, Quyền Tự Làm chủ” của người dân đối với xã hội và đất nước của mình. Kết quả là tại hạ tầng cơ sở của các xóm làng, các khu phố, người dân đã nô nức, phấn khởi hợp tác với nhau để tham gia vào công việc cụ thể và thiết thực, nhằm cải tiến môi trường sinh họat tại địa phương nhỏ bé của chính mình. Và xuyên qua những công tác cải tiến dân sinh cụ thể như thế, người dân càng thêm gắn bó thân mật với nhau và nhờ vậy mà xã hội được phát triển trong tình thân ái, tương trợ và liên đới giữa các thành viên với nhau hơn mãi. Tình trạng “Gắn bó xã hội” (Social Cohesion) này lại càng làm phong phú thêm cái nguồn” Vốn Xã hội” (Social Capital) của tòan thể cộng đồng. Nói cho gọn lại, thì XHDS trong giai đọan hậu cộng sản này đang đóng trọn vẹn cái vai trò làm “Đối tác với Nhà nước” (Counterpart) trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội ngay từ cấp hạ tầng cơ sở tại nông thôn cũng như tại môi trường đô thị.

Mặt khác, vì có tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do nghiệp đòan… là những nhân quyền căn bản như đã được ghi rõ trong Bộ Luật Quốc Tế về Nhân Quyền (The International Bill of Human Rights), nên XHDS đã có thể đóng trọn vẹn một vai trò khác nữa, đó là vai trò làm “Đối trọng” (Counterbalance) đối với Nhà nước, khiến cho chánh quyền không thể vượt quá giới hạn, lạm dụng quyền hành, tự tung tự tác, như dưới thời cộng sản chuyên chế độc tài được nữa. Tại Đông Âu hiện nay, giới sĩ phu trí thức, giới hàn lâm đại học, giới văn nghệ sĩ, cũng như giới lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, thì đều có điều kiện thỏai mái để góp phần phê phán, sửa sai đối với chánh quyền. Tiếng nói của họ được coi như “Tiếng nói Lương tâm” (The voice of conscience) của cả một dân tộc. Nhờ vậy, mà xã hội có thể tránh được bao nhiêu điều sai lầm tệ hại, thất nhân thất đức như đã xảy ra đầy rẫy dưới thời cộng sản, hay dưới thời độc tài phát xít Đức quốc xã trước đây. Kinh nghiệm này rất có ích cho quê hương chúng ta.

Tại Việt nam gần đây, tiếng nói phản biện về chuyện Nhà nước cộng sản đã để cho Trung quốc sang khai thác quặng bâu-xít ở miền cao nguyên, hiện đang gây một tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng khắp nơi, cả ở trong cũng như ở ngòai nước. Đó là một dấu hiệu đáng mừng là giới sĩ phu trí thức đã mạnh dạn dấn thân nhập cuộc với tòan thể dân tộc trong việc bảo vệ môi sinh, bảo vệ lẽ sống còn của các sắc tộc thiểu số vốn xưa nay vẫn sinh sống tại miền rừng núi, với sắc thái văn hóa riêng biệt, đặc trưng của mình. Cũng như việc các thanh niên sinh viên đã dũng cảm chống lại việc Trung quốc xâm lấn Hòang Sa, Trường Sa và phần đất ở biên giới phía bắc của Tổ quốc ta. Mặc dầu bị chính quyền Hanoi đã thẳng tay đàn áp thô bạo, giới thanh niên này vẫn kiên trì theo đuổi công cuộc tranh đấu nhằm bảo vệ sự tòan vẹn của lãnh thổ Việt nam. Đây chính là điều rất tích cực góp phần tạo ra khí thế lạc quan, phấn khởi cho việc xây dựng tương lai của xứ sở. Và người ở hải ngọai như chúng ta cần phải hết lòng yểm trợ thật hiệu quả cho sự nghiệp tranh đấu và xây dựng trường kỳ như thế.

Nói vắn tắt lại, chúng ta cần phải chuyển giao cho thế hệ trẻ cái ngọn lửa nồng nàn của tình yêu thương chân thật và liên đới với đồng bào ruột thịt của mình, nêu cao tinh thần bảo vệ Nhân phẩm và Nhân quyền của người dân. Tình yêu thương đó phải được diễn tả cụ thể bằng hành động thiết thực, như tìm cách chấm dứt tệ nạn buôn người (Human Trafficking), đòi hỏi công bằng xã hội cho hàng triệu dân oan hiện đang bị mất nhà, mất đất tại khắp các miền nông thôn hẻo lánh, hỗ trợ cho các nhà tranh đấu cho Dân chủ, Nhân quyền mà đang bị chính quyền cộng sản sách nhiễu, bắt bớ giam cầm trong các nhà tù… Chúng ta cũng phải tận tâm chăm sóc cho các nạn nhân của thiên tai bão lụt, của bệnh tật ngặt nghèo như bênh phong cùi, bệnh HIV/ Aids…, góp phần nâng đỡ các học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo túng để các em có điều kiện tiếp tục việc học v.v…Các lọai việc này hòan tòan nằm trong phạm vi tầm tay của chúng ta, trong lãnh vực xã hội dân sự. Có ra  tay nhập cuộc cụ thể và tích cực như thế, thì ta mới thực sự góp phần vào việc tạo ra được một sự chuyển biến rõ rệt trong xã hội được. Như người Mỹ thường nói : That makes a difference, a change. ( Điều đó tạo ra sự khác biệt,sự chuyển biến).

Bài viết này được thành hình là nhờ ghi lại chi tiết câu chuyện tại bữa tiệc Mừng Xuân Kỷ sửu của Hội Luật gia Việt nam, được tổ chức vào ngày Chủ nhật 8 Tháng Ba 2009, nhằm đúng vào Ngày Quốc tế Phụ nữ, tại thành phố Milpitas, gần San Jose California. Tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Luật sư Ngô Văn Quang trong Ban Chấp Hành Hội Luật gia là hai vị đã gợi ý ra đề tài cho buổi nói chuyện này. Và như đã thưa ở trên, người viết xin hẹn sẽ khai triển chi tiết hơn về đề tài Xã hội Dân sự Tòan cầu trong một dịp khác nữa, bởi lẽ bài viết này đến đây thì đã quá dài rồi./

California, Mùa Xuân Kỷ sửu 2009.

Đòan Thanh Liêm

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Bài của  :  Đoàn Thanh Liêm

Tại nước Mỹ kể từ sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, thì có nhiều vị mục sư nổi danh với ảnh hưởng rất lớn lôi cuốn được số đông quần chúng khắp nước Mỹ và cả ở ngoại quốc nữa. Trong số này, phải kể đến mục sư Billy Graham, mục sư Martin Luther King và mục sư Rick Warren.

Billy Graham sinh năm 1918 là một vị giảng thuyết lôi cuốn đến hàng trăm triệu người khắp nước Mỹ và cả trên thế giới. Luther King là vị lãnh đạo kiệt xuất của phong trào tranh đấu dân quyền  (civil rights movement) của người Mỹ gốc Phi châu trong các thập niên 1950-60. Rick Warren là một tác giả cuốn sách “The Purpose Driven Life” (Cuộc sống có mục đích) bán chạy nhất, đến trên 30 triệu cuốn trong vòng có 6-7 năm.

Trong bài này, tôi xin viết về mục sư Rick Warren là người trẻ tuổi nhất, sinh năm 1954 tại San Jose và là người sáng lập nhà thờ Saddleback Valley Community Church tọa lạc tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam, miền Nam California liền sát với khu Little Saigon của người Việt chúng ta. Trong bài sau, tôi sẽ viết riêng về mục sư Billy Graham. Còn về mục sư Luther King, thì đã có quá nhiều người biết đến rồi, nên tôi thiết nghĩ khỏi cần viết gì thêm về ông nữa.

1 / Tóm lược tiểu sử của Rick Warren.

Rick Warren là con của một vị mục sư và chính bản thân ông cũng đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu thế theo truyền thống của phái Tin Lành Southern Baptist. Ông tốt nghiệp bậc cử nhân tại California Baptist University ở Riverside, bậc cao học về Thần học tại Southwestern Baptist Theological Seminary ở Fort Worth, Texas và bậc tiến sĩ về mục vụ tại Fuller Theological Seminary ở Pasadena, California.

Ông thừa nhận mục sư Billy Graham, giáo sư Peter Drucker và mục sư Jimmy Warren người cha của ông là những vị trong số những cố vấn đáng tin cậy nhất của mình (mentor).

Năm 1975, sau khi được truyền chức mục sư, Rick Warren làm lễ thành hôn với Kay Lewis sinh trưởng ở San Diego trong một gia đình có người cha cũng là một vị mục sư. Hai ông bà có 3 người con hiện đều đã trưởng thành và 4 cháu nội ngoại. Cả hai người cùng hợp tác trong việc truyền đạo và phát triển cộng đoàn tín hữu từ con số vài trăm người lúc mới thành lập tại Saddeback trong thành phố Lake Forest vào năm 1980 lên đến con số trên 20,000 tín hữu vào năm 2005. Với số tín đồ thường xuyên tham dự thánh lễ và các sinh họat rất đa dạng hàng tuần đông đảo như vậy, Saddleback Valley Community Church đã trở thành một “Megachurch” đứng hàng thứ 8 trong số trên 1,200 “đại giáo đoàn” của toàn nước Mỹ hiện nay. Megachurch là một hiện tượng tiêu biểu cho phong trào phát triển tôn giáo rất mạnh mẽ, lôi cuốn được hàng triệu tín đồ của các giáo hội Tin lành trong vòng 50 năm qua tại nước Mỹ và cả tại Đại Hàn.

Song song với việc phát triển cơ sở mục vụ này, Rick còn đóng góp rất tích cực vào việc đào tạo, hướng dẫn cho trên 400,000 mục sư và giới chức lãnh đạo hội thánh trên toàn thế giới, dựa theo tinh thần đã được phác họa trong cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1995, được bán rất chạy, với nhan đề là “The Purpose Driven Church”.

Rick Warren lại còn nổi danh hơn nữa với cuốn sách được xếp vào loại bán chạy nhất (bestseller), mà hiện đã lên đến 30 triệu cuốn, đó là cuốn sách có nhan đề “The Purpose Driven Life”. Người viết sẽ giới thiệu chi tiết hơn về hai cuốn sách này trong một dịp khác.

Với số lợi tức thu nhập thật lớn lao do việc bán sách, vào năm 2005 Rick Warren đã hoàn lại cho nhà thờ toàn bộ số lương bổng  ông nhận được trong 25 năm với cương vị một mục sư. Và còn hơn thế nữa, ông tiếp tục đóng góp cho nhà thờ 90% số lợi tức thâu nhập của mình, thay vì số 10% mà người tín đồ thường đóng góp vào công quỹ của hội thánh, được gọi là “tithe” (thập phân).Và ông bà tiếp tục sống thanh đạm trong căn nhà nhỏ bé, với cái xe cũ kỹ, chứ không hề có một biểu hiện xa hoa nào của một gia đình triệu phú thường tình.

Nhưng điều đáng ghi nhận hơn cả về vị mục sư danh tiếng này, chính là việc ông đã tổ chức cho các tín đồ và các bạn hữu thân tín của mình tham gia dấn thân nhập cuộc với các dự án hết sức lớn lao về xã hội, y tế, giáo dục và phát triển có tầm vóc toàn cầu. Ta sẽ xem xét công việc này trong các mục tiếp theo đây.

2 / Sự gắn bó với Phi châu : Khởi sự ở Rwanda.

Sau mấy năm chuẩn bị, Rick Warren đã bắt đầu một loạt chương trình hành động của “đại giáo đoàn Saddenback” được mệnh danh là PEACE plan tại nước Rwanda là nơi có cuộc diệt chủng kinh hoàng vào năm 1994, tàn sát đến gấn một triệu sinh mạng trong một quốc gia với dân số chỉ có 9 triệu người. Chữ PEACE này ngoài ý nghĩa là Hòa bình, lại chính là chữ viết tắt của khẩu hiệu gồm 5 mục : Promote Reconciliation, Equip servant-leaders, Assist the poor, Care for the sick, Educate the next generation (Phát triển công cuộc Hòa giải, Trang bị cho người lãnh đạo-phục vụ, Giúp đỡ người nghèo khó, Chăm sóc người bệnh tật, Giáo dục thế hệ tương lai).

Vào năm 2005, tức là 11 năm sau vụ diệt chủng, Rwanda vẫn còn là một quốc gia vào loại nghèo nhất trên thế giới với 90% dân chúng có thu nhập chưa tới 2 dollars mỗi ngày. Ngay từ lúc đặt chân tới đây, Warren liền phát động ngay một chương trình hành động cấp thời gồm nhiều phương diện y tế, xã hội, giáo dục và nhất là cả kinh tế. Ông dẫn các giám đốc xí nghiệp, các doanh gia từ trong số các thành viên của cộng đoàn Saddenback đến tiếp súc và làm việc với giới doanh nghiệp và nhân viên chánh phủ Rwanda để tìm cách xây dựng nền kinh tế của xứ sở này. Họ chú trọng vào công việc đào tạo huấn luyện cho các nhà doanh nghiệp nhỏ tại các làng quê hẻo lánh, cho đến cả việc yểm trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở rất lớn lên đến nhiều triệu dollar. Điển hình như  dự án xây dựng đường sắt dài 720 miles nối liền Rwanda với Tanzania và Burundi, chi phí lên đến 2.5 tỷ mỹ kim vừa do 3 nước đó ký kết vào tháng Tư năm 2009.

Rick Warren rõ ràng là có tầm nhìn xa và có uy tín để kết hợp được cả giới lãnh đạo chánh quyền, giới doanh nghiệp tư nhân, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo ở hạ tầng cơ sở tại những xóm làng hẻo lành, để cùng nhau thực hiện được rất nhiều dự án cụ thể về y tế đại chúng, từ việc lo chăm sóc cho hàng vạn người mắc bệnh HIV/AIDS, cho bao nhiêu trẻ mồ côi cha mẹ đã chết vì căn bệnh hiểm nghèo này, cho đến việc cấp vốn cho các gia đình nghèo túng để giúp họ phương tiện tự lực mưu sinh, để khỏi phải lệ thuộc mãi vào sự bố thí của người khác.

Phái đòan do Rick Warren hướng dẫn đã được chính Tổng thống Rwanda là Paul Kagame và tòan thể chánh phủ tín nhiệm và hợp tác rất chặt chẽ; nhờ vậy mà sau mấy năm làm việc chung với nhau, thì quốc gia này đã gặt hái được những thành quả rất đáng khích lệ về nhiều mặt kinh tế, xã hội cũng như văn hóa, ngọai giao.

3 / Quần chúng tín đồ các tôn giáo là một nguồn tiềm năng vô biên.

Trong nhiều dịp được mời tham gia các diễn đàn quốc tế như ở New York, Washington DC, ở Davos Thụy sĩ v.v…, Rick Warren đã luôn luôn trình bày rất thẳng thắn đại để như thế này :  “Trên thế giới ngày nay, chúng ta có đến trên 2 tỷ người tín đồ Thiên chúa giáo gồm Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo, trên 1.5 tỷ người tín đồ Ấn độ giáo và Phật giáo và trên 1 tỷ người tín đồ Hồi giáo. Khối quần chúng tín đồ lớn lao như thế đó là một nguồn tài nguyên vô biên, mà cho đến nay chưa được mấy ai trong các tổ chức quốc tế chú trọng đúng mức để động viên thuyết phục họ cùng bắt tay dấn thân vào việc giải quyết những khó khăn bế tắc trầm trọng có tầm vóc tòan cầu. Riêng cá nhân tôi là một mục sư Thiên chúa giáo, thì với khả năng hạn hẹp của mình, tôi đã cùng với các tín đồ của nhà thờ Saddenback phát động kế hoạch PEACE để góp phần vào công cuộc phục vụ bà con đang gặp khó khăn ở nhiều nơi, cụ thể như ở Rwanda. Và tôi cũng ước mong quý vị tất cả nên chú ý đến cái khối tiềm năng vĩ đại này, hầu đề ra được những giải pháp tốt đẹp cho thế giới chúng ta đang gặp bao nhiêu bế tắc khủng hỏang ngày nay…”

Dịp khác, ông còn gợi ra hình ảnh tôn giáo là cái chân thứ ba để cùng hợp với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để tạo được thế đứng vững chắc cho tòan bộ chiếc ghế của thế giới ngày nay. Với uy tín sẵn có, Warren có dịp thường xuyên trao đổi và hợp tác với các nhân vật có tầm vóc họat động rộng rãi tòan cầu, điển hình như cựu Tổng thống Bill Clinton, cựu Thủ tướng Tony Blair …

Trong mùa tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, Warren đã mời được cả hai ứng cử viên John McCain và Barak Obama cùng đến Saddenback để trình bày với cử tri về lập trường của mỗi người trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Và mục sư Warren lại còn được mời đọc lời kinh cầu nguyện trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama tại thủ đô Washington vào đầu năm 2009.

Tạp chí US News and World Report xếp hạng Rick Warren là một trong “25 vị lãnh đạo hàng đầu của nước Mỹ” vào năm 2005. Tạp chí Time thì gọi ông là một trong “15 nhà lãnh đạo thế giới đáng kể nhất trong năm 2004” và cũng là một trong “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới” vào năm 2005. Còn báo Newsweek trong năm 2006, thì gọi ông là một trong “15 nhân vật đã làm cho nước Mỹ trở thành vĩ đại”.

Tuy được tung hô khen tặng như vậy, Warren vẫn luôn giữ được sự khiêm cung đạo hạnh của một tu sĩ. Ông thường xuyên cầu nguyện và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào sự dẫn dắt của Thiên chúa trên bước đường phục vụ tha nhân. Niềm xác tín và lòng nhiệt thành của ông đối với sứ mệnh rao giảng lời Chúa như vậy đã lôi cuốn, thuyết phục được hàng triệu tín đồ cũng như các mục sư khác cùng nhau dấn thân nhập cuộc vào những chương trình cụ thể, thiết thực nhằm chống lại nạn nghèo đói và bệnh tật, mở mang về giáo dục cho lớp người bị gạt ra ngòai lề xã hội và bảo vệ môi sinh trên phạm vi tòan cầu.

Tư tưởng cũng như hành động của mục sư Rick Warren quả thật là rất gần gũi với lập trường của Hội đồng Giám mục Công giáo Châu Mỹ La tinh (CELAM) đã được xác định từ lâu, đó là “Sự Chọn lựa của Giáo hội đối với Người Nghèo khổ” ( Church’s Option for the Poor) vậy./

California đầu tháng Mười 2010

Đòan Thanh Liêm

TẠI SAO KHÔNG CÓ HÔI CỦA Ở NHẬT ?

TẠI SAO KHÔNG CÓ HÔI CỦA Ở NHẬT ?

Lúc gian khó mới tỏ lòng người, lấy lửa thử vàng, vàng vẫn còn nguyên vẹn. Khi trận động đất sóng thần năm 2011 xảy ra, người Nhật Bản đã cho tất cả các dân tộc trên thế giới một bài học sâu sắc về đạo đức và những chuẩn tắc làm người.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới mỗi khi có thiên tai đến là người ta lại chứng kiến những cảnh rối ren, hỗn loạn, cướp giật, hôi của tràn lan. “Nhưng ở xứ sở “mặt trời mọc” ( Nhật Bản ) thì lại khác. Nơi ấy, hàng vạn người đã mất hết nhà cửa, và thậm chí mất hết người thân… vậy mà họ vẫn lặng lẽ xếp hàng nhận từng nắm cơm trắng, cuộn mình trong những chiếc chăn mỏng thành hàng, thành lối trong chỗ trú nạn. Không hỗn loạn, không tranh cướp, không một ai tích trữ, không một ai kêu than. Có chăng chỉ là những dòng nước mắt lặng lẽ như lặn vào sâu thẳm”.

Cảnh tượng truyền thông thế giới ghi nhận không phải là cảnh tượng hỗn loạn, cướp giật, hôi của, mà là cảnh đoàn người trật tự xếp hàng chờ hàng cứu trợ. Dù khi tới phiên mình có thể lương thực đã hết nhưng họ vẫn kiên nhẫn xếp hàng. Nhiều câu chuyện kể lại có nhiều người đã nhường khẩu phần của mình cho người khó khăn hơn.

Tại một cửa hàng khác đã tan hoang vì động đất, người ta thấy một máy ATM và nhiều thùng lương thực bên trong vẫn còn nguyên vẹn, mặc dù xung quanh không có ai bảo vệ.

Tờ Telegraph ghi nhận: Hàng hóa dù rất khan hiếm, lương thức thiếu thốn, như không hề có tình trạng đầu cơ tăng giá bán – các siêu thị giảm giá 20% và các chủ máy bán nước tự động phát không nước uống cho mọi người – tất cả cùng đoàn kết để tồn tại.

Du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản chia sẻ: “Không thấy cảnh cướp bóc, chen lấn, xô đẩy nơi mua thức ăn hay trong ga điện ngầm đang tắc nghẽn. Mọi người xử sự rất bình tĩnh dù ai cũng đều căng thẳng và lo lắng. Giá cả thị trường Nhật Bản cũng không nhân dịp này mà tăng.”

Anh Hà Minh Thành một người Việt ở Nhật Bản đã gửi mail kể một câu chuyện như sau: “Tối hôm qua em được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng em chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc ao thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, em sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn. Nên mới lại hỏi thăm. Nó kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của nó làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường nó nhìn thấy chiếc xe và cha nó bị nước cuốn trôi, 100% khả năng chắc là chết rồi. Hỏi mẹ nó đâu, nó nói nhà nó nằm ngay bờ biển, mẹ và em của nó chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe em hỏi đến thân nhân. Nhìn thấy nó lạnh em mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của em bị rơi ra ngoài, em nhặt lên đưa cho nó và nói: “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói.”

Thằng bé nhận túi lương khô của em, khom người cảm ơn. Em tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng. Ngạc nhiên vô cùng, em hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nỏ trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.

Em nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác khóc để mọi người không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy em một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.”

Câu chuyện này được rất nhiều báo chí trong nước đăng tải, gây xúc động mạnh mẽ, xem đây là điều huyền hoặc diễn ra tại Nhật Bản.

Một câu chuyện khác đăng trên blog của cô gái lấy tên Shopia. Chuyện kể về bạn của Sophia, cùng với mẹ và đứa em trai 2 tuổi bị mắc kẹt trong cơn sóng thần và đang tìm mọi cách để trèo lên ban công tòa nhà gần nhất. “Họ không ngừng kêu cứu, và một người đàn ông đã nhìn thấy họ từ ban công căn nhà phía sau. Rồi người đàn ông đó ngay lập tức nhảy khỏi ban công xuống nước, giúp bạn tôi, mẹ cô ấy và cậu em trai trèo lên ban công vào căn nhà. Nước lúc đấy càng ngày càng mạnh, không thể đứng vững được nữa. Trong hoàn cảnh đó, người mẹ đã kiên quyết để hai đứa con mình lên trước rồi người đàn ông xa lạ đứng dưới đỡ bà lên. Khi chỉ còn người đàn ông ở bên dưới, và người mẹ đang nắm chặt tay ân nhân để kéo lên, “bất chợt một chiếc ôtô ( trong hàng trăm chiếc ) bị nước cuốn tràn tới đúng hướng người đàn ông đó. Mọi người ở bên trên gào thét, nhưng rồi đột nhiên, người đàn ông ấy giật khỏi tay mẹ bạn tôi, để bà ấy không bị kéo theo xuống nước. Chiếc ô tô đâm vào ông ấy và cuốn ông hất đi.”

Trước đó, họ là những con người hoàn toàn xa lạ, có gia đình riêng, có cuộc sống riêng… nhưng khi thảm họa bất ngờ ập đến, đứng trước những lựa chọn giữa sự sống và cái chết, họ có thể chấp nhận tặng cả cuộc sống cho nhau. Những câu chuyện ấy ngày nay tưởng chừng chỉ có trong trí tưởng tượng thì lại xảy ra ở Nhật Bản.

Truyền thông thế giới đều ngả mũ thán phục kỳ tích Nhật Bản

Ông Ed West viết trên tờ Telegraph: “Tinh thần đoàn kết của người Nhật thật mạnh mẽ. Sức mạnh của xã hội Nhật Bản có lẽ gây ấn tượng còn hơn cả sức mạnh công nghệ của họ.”

Còn tổng biên tập báo Bangkok Post Pichai Chuensuksawadi không thể tin được đã phải thốt lên: “Chẳng phải đã bao nhiêu lần chúng ta thấy cảnh hôi của, cướp giật và bạo lực sau một thảm họa thiên nhiên đó sao ?”

Giáo sư Gregory Pflugfelder chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại học Columbia ( Mỹ ), nhận định: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắc rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ nào để mô tả chính xác hành động này.”

Nhà phân tích Ed West đặt câu hỏi trên tờ Telegraph: “Tại sao không có hôi của ở Nhật Bản ?” Trang web tìm kiếm Google cho thấy có 2.770.000 người đã đặt ra vấn đề tương tự như ông West.

Điều gì tạo nên kỳ tích Nhật Bản ?

Sau trận động đất gây sóng thần ở Nhật Bản, thế giới lao vào tìm hiểu xem điều gì đã tạo nên kỳ tích ở Nhật Bản, và họ đã tìm được câu trả lời: Đó là đức tin và giáo dục đạo đức.

– Đức tin

Đa số người Nhật theo Thần Giáo, Phật Giáo. Ngoài ra Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín của Nho Giáo ( do Khổng Tử đề xướng ). Với những ai sống ở các quốc gia bị ảnh hưởng bởi thuyết vô Thần thì khi nói đến “đức tin” họ chỉ phì cười, đơn giản bởi vì họ không còn tin nữa, mà không nghĩ rằng bản thân mình đã bị học thuyết vô thần tẩy não cắt đứt mất mối liên hệ với cội nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, đến mức không còn hiểu tin để làm gì.

Còn tại các nước khác như Nhật Bản thì “đức tin” đó là tự nhiên và đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người. Người Nhật đã sử dụng “đức tin” của mình khi đối mặt tất cả những vấn đề trong cuộc sống, kể cả những tình huống hiểm nguy nhất.

Một dân tộc có “đức tin” thì dân tộc đó vẫn còn có chuẩn mực đạo đức, nếu một dân tộc không còn “đức tin” thì càng ngày càng sa đọa, đạo đức tụt trên dốc lớn.

Một dân tộc không có “đức tin”, lại còn bị ảnh hưởng của học thuyết đấu tranh thay cho văn hóa cổ truyền dân tộc, thì con người sẽ đấu tranh với nhau, người với người xem nhau như thù địch, bằng mặt không bằng lòng, không thể đoàn kết.

– Giáo dục lấy đạo đức là cốt lõi

Nhật Bản trở thành một nước có nền giáo dục tiên tiến là nhờ thực hiện tiêu chí “con người = đạo đức”, đề cao tính tự lập và tinh thần kỷ luật. ( Hình bìa sách giáo khoa Đạo Đức của học sinh Nhật ).

Tư tưởng của người Nhật vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hóa cổ truyền của dân tộc mình. Tinh thần kế thừa và phát triển văn hóa cổ truyềnlà một trong những mục tiêu chủ yếu nhất trong giáo dục, đạo đức là cốt lõi là điều mà một học sinh phải biết đến đầu tiên.

Giáo dục Nhật Bản vận hành theo nguyên lý “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Phương châm của người Nhật là: “Cần phải nhắm tới thực hiện xã hội ở đó từng công dân có thể mài giũa nhân cách bản thân…”

Trẻ em Nhật Bản ngay từ mẫu giáo đã được giáo dục những quy tắc ứng xử căn bản. Trẻ em được dạy khi gặp tình huống nào phải xin lỗi hay cảm ơn, và áp dụng ngay trong cuộc sống hàng ngày. Vì thế mà trẻ em đã biết những gì tốt đẹp nên làm, và những gì không nên làm từ rất sớm.

Trẻ cũng được thực hành thói quen giúp đỡ người khác như phục vụ đồ ăn cho các bạn.

Khi học tiểu học, trẻ em được giáo dục nhân cách và tính sáng tạo, ứng xử văn minh.

Bìa sách giáo khoa Đạo đức của học sinh Nhật. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Bìa sách giáo khoa Đạo đức của học sinh Nhật. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Không nên làm những điều xấu như chơi xấu bạn, ăn cắp, vẽ bậy... Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Không nên làm những điều xấu như chơi xấu bạn, ăn cắp, vẽ bậy… Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Luôn quan tâm giúp đỡ người xung quanh. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Luôn quan tâm giúp đỡ người xung quanh. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Sách giáo khoa môn đạo đức là rất quan trọng, các giáo viên luôn nhắc nhở học sinh rằng: “Bất kỳ ở đâu, bất kỳ khi nào, bao nhiêu lần đi nữa các em hãy giở cuốn sách đạo đức, để suy nghĩ xem trong cuộc sống điều gì là quan trọng nhất đối với chúng ta, và hãy phát huy nó trong đời sống của bản thân mình.”

Lên cấp 2 trẻ được học cách ứng xử với những lời phê bình, tôn trọng người khác và tôn trọng sự thật.

Đạo đức là môn học bắt buộc và được chú trọng, nhưng lại không có giáo trình thống nhất, điều này giúp giáo viên linh động sáng tạo được các bài giảng riêng phù hợp với học sinh. Trong đó văn hóa cổ truyền của dân tộc luôn là kho tàng quý giá được các giáo viên vận dụng vào các bài giảng và thực hành. Học sinh sớm học các tình huống ứng xử khác nhau, mỗi tình huống đều vận dụng đạo đức để xác định mình nên hành xử thế nào cho đúng.

Trẻ em Nhật Bản được giáo dục lao động từ những công việc vừa sức. (ảnh: Internet)

Trẻ em Nhật Bản được giáo dục lao động từ những công việc vừa sức. (ảnh: Internet)

Hiệu quả có được từ giáo dục đạo đức

Do được giáo dục đạo đức từ nhỏ rất kỹ về lý thuyết, đặc biệt về thực hành, liên hệ thực tiễn, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa, học sinh được thực hành hành vi đạo đức ở mọi lĩnh vực nên hành vi đạo đức được hình thành ở mọi học sinh.

Không có hiện tượng quay cóp, ăn cắp, bạo lực học đường. Học sinh thể hiện tình yêu thương, kính trọng thầy cô, tình thân ái với bạn bè đúng mức. Các hành vi vi phạm đạo đức của học sinh là ít và cá biệt chứ không nổi cộm.

Ở ngoài xã hội, học sinh Nhật luôn là người ứng xử có văn hóa. Người Việt Nam hay nước ngoài đến Nhật Bản có thể thấy có nhiều cây ăn trái chín trĩu quả, hay những cây hoa cảnh khoe sắc hấp dẫn ở công viên, ở hai bên đường đi. Nhưng không hề có ai có suy nghĩ hái những bông hoa hay trái cây đó cả.

“Đức tin” và giáo dục đạo đức đã tạo nên một kỳ tích Nhật Bản, một kỳ tích mà bất kỳ một nhà giáo dục hay một nhà lãnh đạo nào trên thế giới cũng đều ngưỡng mộ và mong muốn.

NGỌN HẢI ĐĂNG, từ Đại Kỷ Nguyên Việt Nam

Từ EPHATA 650

Hướng đạo Việt Nam và những hy vọng trong tương lai

Hướng đạo Việt Nam và những hy vọng trong tương lai

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-19

RFA

07192015-vn-scout-jambor-2015.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tại hè Cổ Loa 2015. Đạo Sài Gòn từ 28 tháng 6, 2015 tại đèo Nước Ngọt Bà Rịa

Tại hè Cổ Loa 2015. Đạo Sài Gòn từ 28 tháng 6, 2015 tại đèo Nước Ngọt Bà Rịa

giupich.org

Tại hè Cổ Loa 2015. Đạo Sài Gòn từ 28 tháng 6, 2015 tại đèo Nước Ngọt Bà Rịa

giupich.org

Cả ngàn hướng đạo sinh tham gia sinh hoạt Trại họp bạn Hướng đạo Việt Nam có tên Hợp Lực- Đồng Tiến 2015 trong mấy ngày qua tại một số khu vực ở miền nam, sau khi nơi dự định diễn ra trại chính ở Đồng Nai bị ngăn chặn. Đây là sinh họat nhằm kỷ niệm 85 năm Hướng Đạo Việt Nam, kỷ niệm 50 năm ngành Kha Việt Nam.

Nhân dịp này Gia Minh trình bày một số thông tin liên quan hoạt động của Hướng Đạo tại Việt Nam trong những năm từ sau 1975 đến nay và mong mỏi được chính thức phục hoạt của Hướng Đạo Việt Nam.

Hoạt động không chính thức

Hình ảnh sôi nổi- tháo vát của những Hướng đạo sinh cả nam lẫn nữ, từ các bạn trẻ ở độ tuổi thanh thiếu niên đến trung niên, không lạ gì đối với nhiều người trên thế giới lâu nay và cả ở Việt Nam trong những năm trước 1975 tại miền nam.

Tuy nhiên sinh hoạt của những nhóm Hướng đạo như thế không còn được tự do sau khi lực lượng miền bắc tiến vào tiếp quản miền nam. Mặc dù không được tự do như trước, các nhóm ở miền nam vẫn duy trì sinh hoạt trong vòng hạn chế của cơ quan chức năng.

Một Huynh trưởng Hướng đạo, ông Phạm Thanh Hiệp, người tổ chức cho Hướng đạo sinh hoạt công khai tại Sài Gòn giới thiệu lại tình hình Hướng đạo trong nước lâu nay như sau:

“ Sau năm 75 ngưng sinh hoạt; nhưng những anh em Hướng đạo Công giáo vẫn còn sinh hoạt trong Nhà thờ chui. Năm 1987 tôi là người tập hợp sinh hoạt hướng đạo công khai; những lần như vậy đều bị dẹp hết dưới danh nghĩa của Hội Liên hiệp Thanh niên. Hoặc là những sinh hoạt dưới danh nghĩa câu lạc bộ theo hình thức hướng đạo đều bị Nhà nước không cho. Nhưng sau đó phát triển dần dần, có thể dùng từ ‘chui mà hoạt động công khai’. Và Nhà nước không thấy có gì nguy hại nên để cho hoạt động, và nó phát triển.”

Mặt pháp lý

Một cựu hướng đạo sinh, luật sư Nguyễn Lệnh, trình bày về mặt pháp lý chiếu theo luật pháp Việt Nam trong việc sinh hoạt của những hội đoàn như Hướng đạo Việt Nam:

“ Thực ra hệ thống pháp luật Việt Nam cho đến hiện nay có rất đầy đủ dành cho các tổ chức muốn thành lập hội , trong đó cụ thể như hội Hướng đạo Việt Nam đã có mặt trên đất nước Việt Nam một cách hợp pháp từ năm 1946 cho đến năm 1975. Tuy nhiên,  sau khi thống nhất đất nước, trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam chưa được áp dụng một cách rõ ràng. Do đó cho nên việc thực hiện đó cũng gây khó khăn cho việc xin tái lập hoặc xin sinh hoạt bình thường của Hội Hướng đạo Việt Nam.

Logo Trại họp bạn Hướng đạo Việt Nam có tên Hợp Lực- 2015

 

” Sau năm 75 ngưng sinh hoạt; nhưng những anh em Hướng đạo Công giáo vẫn còn sinh hoạt trong Nhà thờ chui. Năm 1987 tôi là người tập hợp sinh hoạt hướng đạo công khai; những lần như vậy đều bị dẹp hết dưới danh nghĩa của Hội Liên hiệp Thanh niên. Hoặc là những sinh hoạt dưới danh nghĩa câu lạc bộ theo hình thức hướng đạo đều bị Nhà nước không cho

ông Phạm Thanh Hiệp”

Hơn nữa bên cạnh đó có một hệ thống các văn bản của tổ chức đảng chỉ đạo việc sinh hoạt của Hội Hướng đạo Việt Nam. Chính các văn bản của tổ chức đảng này là nguyên nhân chính khiến cho việc xin tái lập Hội Hướng đạo Việt Nam mà trước đây đã có nhiều Huynh trưởng gởi thư, văn bản, đơn đến các tổ chức chính quyền, tổ chức Nhà nước và cả tổ chức đảng để xin nhưng vẫn chưa được. Người duy nhất được có câu trả lời chính thức là ông Đăng Văn Việt, người đã gửi đơn đến Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch và được chính thức trả lời qua văn bản của thứ trưởng Bộ Văn hóa- Thê thao và Du lịch. Đó là văn bản đầu tiên đứng về trách nhiệm cơ quan thẩm quyền Nhà nước chính thức trả lời lý do vì sao mà chưa cho phép Hội Hướng đạo Việt Nam trước đây được tái sinh hoạt, trong đó có viện dẫn cả lý do từ một văn bản của Ban Bí thư Trung ương chưa cho phép Hội Hướng đạo Việt Nam được sinh hoạt trở lại.”

Yêu cầu phục hoạt

Như phát biểu của cựu hướng đạo sinh luật sư Nguyễn Lệnh, thì một người từng tham gia Hướng Đạo Việt Nam từ thời kỳ đầu mới thành lập, ông Đặng Văn Việt, người còn được mệnh danh là ‘con hùm xám đường số 4, vào đầu tháng 3 năm 2011 gửi một thư đến lãnh đạo chính quyền Hà Nội xin khôi phục lại sinh hoạt Hướng đạo.

Câu trả lời của cơ quan chức năng khiến ông Đặng Văn Việt vô cùng thất vọng. Ông cho biết:

“ Chưa có một hồi âm nào gọi là ‘hưởng ứng’ cả, mà gần như người ta muốn bảo vệ Đoàn Thanh niên, không ai đụng chạm đến, thứ hai muốn Đoàn Thanh niên độc quyền lãnh đạo thanh niên trong toàn quốc, thành ra không muốn có Hướng đạo làm thêm cho việc này nữa. Cho đến bây giờ tôi vẫn kiên trì chờ đợi những quan điểm mới, những suy nghĩ mới, tư tưởng mới của những nhà lãnh đạo có đầu óc tiên tiến hơn.

Theo tôi phong trào Hướng đạo là phong trào quốc tế và nhân đạo, mang đầy tính nhân đạo và nhân văn nên không hề có tổn hại gì cho một đất nước mà chỉ có lợi cho đất nước; không có tổn hại gì cho chính quyền đương thời. Nên việc cấm đoán Hướng đạo là một việc phi lý. Một việc làm không hợp với xu thế của thế giới cũng như không hợp với lòng người. Tôi nghĩ trước sau gì thì Hướng đạo cũng được cho hoạt động lại bình thường. Tôi kiên trì quan điểm ấy. Mong rằng sắp đến những người lãnh đạo của Nhà nước có một tí cấp tiến trong đầu óc không có lý do gì để ngăn cản Hướng đạo hoạt động cả. Vì Hướng đạo chỉ là một phong trào quần chúng của những người yêu nước trẻ muốn hoạt động cho lợi ích của xã hội, cho lợi ích của đồng bào toàn quốc.

” Chưa có một hồi âm nào gọi là ‘hưởng ứng’ cả, mà gần như người ta muốn bảo vệ Đoàn Thanh niên, không ai đụng chạm đến, thứ hai muốn Đoàn Thanh niên độc quyền lãnh đạo thanh niên trong toàn quốc, thành ra không muốn có Hướng đạo làm thêm cho việc này nữa

ông Đặng Văn Việt”

Nếu nó có hại, có cản trở thì nên cho biết lý do để ngăn chặn; trái lại không có cản trở gì, không có làm tổn hại gì mà không cho hoạt động là một chuyện hoàn toàn phi lý.

Đây là hoạt động trên cả thế giới chứ đâu phải có nhà nước nào quản lý mới hoạt động được đâu. Chỉ có nhà nước cộng sản không yêu Hướng đạo, không ủng hộ Hướng đạo… Nếu không cấm Hướng đạo hoạt động bình thường như trước đây thì lợi cho đất nước bao nhiêu, lợi cho lãnh đạo, chính quyền Nhà nước này bao nhiêu; thế nhưng cho đến bây giờ họ không chịu làm. Thật là đáng tiếc!”

Một người trong ban tổ chức Trại họp bạn Hướng Đạo Việt Nam Hợp lực- Đồng tiến 2015 khi được hỏi về sinh hoạt lớn này đã từ chối trả lời vì cho rằng đây là chuyện nhạy cảm.

Trên trang facebook có tên Hướng Đạo Việt Nam, nhiều chia sẽ động viên rằng dù không được làm lễ khai mạc trại nhưng một số hoạt động vẫn được diễn ra và nhiều đoàn cũng tiến hành sinh hoạt tại các địa điểm khác nhau. Họ nhắc nhau hướng đạo sinh trong khó khăn vẫn vui tươi, trong nỗi buồn sẽ có niềm vui khác… anh em vẫn tiếp diễn Hợp Lực trên mọi miền quê hương Việt Nam.

Có nên học Y Khoa vì Mỹ sẽ thiếu bác sĩ trầm trọng?

Có nên học Y Khoa vì Mỹ sẽ thiếu bác sĩ trầm trọng?

Nguoi-viet.com
Thiên An/Người Việt (tổng hợp)

Bạn muốn làm bác sĩ.

Ừ, thì còn gì tốt hơn là việc mỗi ngày đi làm được tận tay chăm sóc cho sức khỏe và sinh mạng của biết bao người. Rồi thì thu nhập cao. Rồi thì gia đình sẽ tự hào. Và nhất là khi ngành Y đang rất cần bạn, theo một báo cáo của Hiệp Hội Các Đại Học Y Khoa (AAMC) dự đoán năm 2025, Hoa Kỳ sẽ thiếu hụt đến hơn 100,000 bác sĩ.

Hoa Kỳ có thật sự thiếu đến hơn 100,000 bác sĩ trong 10 năm tới?
(Hình: Getty Images)

Trong những năm gần đây, nhiều trường mới về Y, và cả Nha, Dược, Nhãn Khoa… liên tục xuất hiện. Cũng dễ hiểu, vì mất cả chục năm trời mới đào tạo được một bác sĩ. Để phục vụ cho nhu cầu lớn của 2025, người ta phải hành động từ bây giờ.

Nếu ngành bác sĩ thực sự là ước mơ mà bạn sẽ theo đuổi bất kỳ giá nào, thì chẳng có lý do gì cản trở được bạn.

Nhưng nếu bạn còn đang phân vân giữa những sở thích nghề nghiệp, thì hãy đừng vội tin vào dự đoán của hiệp hội AAMC.

Nhiều chuyên gia đang bày tỏ lo ngại về con số quá lớn mà AAMC đưa ra, mặc dù nhu cầu bác sĩ dễ dàng giải thích được được, như việc già đi của thành phần tuổi “baby boomer” đông đảo và  luật cải tổ y tế “Obamacare” tạo điều kiện cho tất cả mọi người có bảo hiểm.

Nhìn vào lịch sử, đây chẳng phải là lần đầu tiên Hoa Kỳ được dự đoán là sẽ thiếu hụt bác sĩ. Trong những năm 1960 và 1970, cũng vì sợ thiếu bác sĩ mà Mỹ đầu tư để tăng gấp đôi lượng sinh viên y khoa. Kết quả, số bác sĩ những năm 1980 trở nên quá dư thừa so với mức cần thiết. Ngược lại, cũng có lúc Mỹ dự đoán sẽ thừa bác sĩ, nhưng hóa ra sau đó lại bị thiếu hụt.

Với các nhà kinh tế và làm luật, “dư còn hơn thiếu,” họ có thể mở các chương trình để AAMC có thể đào tạo thêm thật nhiều bác sĩ. Nhưng đối với các bạn trẻ, việc chọn ngành học có thể là quyết định cả tương lai của một người. Điều này càng đúng hơn với nghề bác sĩ.

Cái giá để trở thành một bác sĩ là gì thì còn tùy câu trả lời của từng cá nhân, nhưng nói chung sẽ bao gồm: những năm học miệt mài với điểm số phải gần như hoàn hảo, những sinh hoạt ngoại khóa để phát triển kỹ năng xã hội, những tuần luyện thi MCAT và viết bộ hồ sơ xin nhập học để vượt qua tỉ lệ 50% sẽ trúng tuyển, sau khi may mắn được nhận học là khoảng chục năm nữa ở giảng đường đại học Y khoa, số nợ trung bình khoảng $200,000 một khi ra trường, những năm thực tập gian khổ, và sau đó là công việc hằng ngày chẳng dễ dàng và những bài thi định kỳ để giữ bằng hành nghề sau khi đã là bác sĩ… Chẳng ai lại muốn mình chọn lầm nghề.

Vì vậy, khi đọc dự đoán của AAMC là sẽ thiếu hụt đến hơn 100,000 bác sĩ trong 10 năm tới nên cần tăng việc đào tạo thêm hàng ngàn bác sĩ mỗi năm, thì các bạn trẻ cũng nên tìm hiểu thêm ý kiến từ phía phản bác báo cáo của AAMC.

Một số chuyên gia lập luận rằng Hoa Kỳ sẽ không cần mở thêm thật nhiều trường Y và tăng số sinh viên Y, với nhiều lý do. Thứ nhất, việc đào tạo bác sĩ nhiều hơn trong những năm qua càng tăng thì số bác sĩ tại những nơi thành thị và đã có quá nhiều bác sĩ, còn những vùng hẻo lánh cần bác sĩ thì vẫn cứ thiếu bác sĩ. Thứ hai, dân số đông và già nhanh, chỉ các ngành chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi là thực sự cần thêm bác sĩ. Thứ ba, kỹ thuật y tế ngày càng tiến bộ giúp cho mỗi bác sĩ phục vụ được nhiều bệnh nhân hơn. Và thứ tư, hệ thống y tế có thể thay đổi để cách phục vụ bệnh nhân được hiệu quả hơn, như dựa thêm vào y tá, dược sĩ hay các bác sĩ nhập cư, để giữ hoặc giảm tỉ lệ bệnh nhân/bác sĩ.

Một bên yêu cầu mở thêm trường và nhận thêm sinh viên, một bên mạnh mẽ phản đối. Tuy vậy, có những con số thực tế mà hai bên đều đồng ý. Sau đây là một vài thông tin tổng hợp (*) mà các học sinh sinh viên yêu thích ngành Y có thể tham khảo.

Có nên chọn nghề dựa theo dự đoán nhu cầu công việc trong tương lai?
(Hình minh họa: Getty Images)

1. Theo thống kê, cứ ba bác sĩ ở Mỹ thì có một người trên 65 tuổi. Theo khảo sát, 60% bác sĩ nói sẽ có một lượng lớn bác sĩ nghỉ hưu trong ba năm tới.

2. So với các bác sĩ chuyên khoa, nhu cầu của bác sĩ đa khoa (bác sĩ gia đình) tăng cao hơn. Mức thu nhập cao hơn của bác sĩ chuyên khoa là một trong những lý do giải thích nhiều bác sĩ ra trường không chọn đa khoa.

3. Trong số các chuyên khoa, các khoa về giải phẫu và ung thư cần nhiều bác sĩ. Số bệnh nhân ung thư của Mỹ được dự đoán mức tăng cao nhất. Hiện tại, ở các vùng hẻo lánh, bác sĩ chuyên khoa về ung thư đã thiếu hụt. Lãnh vực giải phẫu cũng tương tự.

4. Thành phần “baby boomers” sinh từ 1946-1964 chiếm đến khoảng 20% dân số hiện đang già đi, kéo theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho người lớn tuổi trong 10 năm tới.

5. Về mặt địa lý, nhu cầu bác sĩ tại các vùng hẻo lánh ít người ngày càng tăng cao. Hiện tại thì nhiều vùng trên nước Mỹ đã thiếu bác sĩ, như Arizona, Idaho, Illinois, Montana, North Dakota, South Carolina, South Dakota, Alabama, Missourii, Wyoming, New Mexico, trầm trọng nhất là Louisiana và Mississippi.

6. Về thành phần dân số, thống kê cho thấy các bác sĩ sau khi ra trường có xu hướng trở về những cộng đồng mà họ xuất xứ. Do đó, nhu cầu bác sĩ là cao nhất cho các cộng đồng thiểu số có ít người theo ngành bác sĩ.

7. Về nơi làm việc, khảo sát cho thấy các bác sĩ trẻ ít muốn làm việc cho chính phủ và quân đội.

8. Hiện có 18 tiểu bang cho phép y tá được định và chữa một số bệnh. Giới y tá được cho là sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết gánh nặng y tế của Mỹ trong thời gian tới.

9. Khảo sát cho thấy khoảng 1/3 các bác sĩ nói sẽ không khuyên người khác theo ngành Y, với lý do là sự thiếu cân bằng về công việc và đời sống, cũng như về công sức và thu nhập.

10. Tỉ lệ thành công của các đơn xin vào trường Y hiện là 44.5%.

(*) Nguồn:

AAMC, Health Affairs, The Annals of Family Medicine, Medicus Firm, và Becker’s Hospital Review.

Liên lạc tác giả: vu.an@nguoi-viet.com

Tội phạm ở Việt Nam ngày càng ‘liều lĩnh, manh động và dã man’

Tội phạm ở Việt Nam ngày càng ‘liều lĩnh, manh động và dã man’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Hàng ngày trên mặt báo chí tại Việt Nam, người ta thường xuyên thấy càng ngày càng nhiều các thứ tin cướp của, giết người, xác trôi sông, xác chết trong rừng, dưới cống rất dã man.

Truyền thông Việt Nam loan tin, theo phúc trình từ một hội nghị về phòng chống tội phạm, từ đầu năm 2015 đến nay, lực lượng chức năng đã điều tra, khám phá trên 21,400 vụ phạm pháp hình sự, bắt và xử lý gần 42,000 đối tượng.


Người dân kéo đến nơi xảy ra vụ án ở Bình Phước hôm 7 tháng 7, 2015 để theo dõi. (Hình: báo Lao Ðộng)

Báo Lao Ðộng dẫn lời ông Phan Văn Vĩnh, tổng cục trưởng Tổng Cục Cảnh Sát, cho rằng, tuy số vụ phạm pháp ở Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2015 giảm hơn 3% so với cùng kỳ năm 2014. Song, theo phúc trình của Tổng Cục Cảnh Sát cho hay, việc cướp tài sản lại tăng 6.3%.

Theo nguồn tin này, “Tội phạm trộm cắp tài sản vẫn diễn ra rất nhiều (chiếm gần 45% tổng số vụ phạm pháp hình sự), nhất là trộm cắp tài sản ở khu vực nông thôn; Tội phạm chống người thi hành công vụ tăng, hành vi chống đối manh động, côn đồ, liều lĩnh xảy ra ở nhiều địa phương, nhất là chống lại lực lượng công an; Tội phạm mại dâm gia tăng, tổ chức mại dâm “sex tour,” xuất hiện nhiều vụ xưng là người mẫu.”

Nguồn tin thuật lại rằng, công an triệt phá trên 1,200 băng, nhóm tội phạm; phát hiện 7,800 vụ phạm tội về kinh tế, 114 vụ tham nhũng, trên 6,400 vụ vi phạm pháp luật về môi trường; điều tra, khám phá 150 vụ án mua bán người, bắt 244 đối tượng và xác minh, giải cứu, tiếp nhận 449 nạn nhân và bắt giữ trên 7,300 vụ với 11,600 đối tượng phạm tội về ma túy…

Nổi bật nhất trong 6 tháng qua là đã xảy ra nhiều vụ giết nhiều người, giết người cướp tài sản đặc biệt nghiêm trọng, gây chấn động dư luận. Ðiển hình như: Vụ án giết chủ quán cơm chay, cướp 1 xe máy ở Bà Rịa-Vũng Tàu, hung thủ khai nhận trong tháng 8 và 9 năm 2014 đã gây ra 3 vụ giết người, cướp tài sản tại 3 nơi Hải Phòng, Sài Gòn. Quảng Ngãi.

Hay gần đây nhất là vụ giết 6 người ở Bình Phước, 4 người ở Nghệ An được coi như những cảnh báo về tình trạng tội phạm ngày càng “manh động, liều lĩnh hơn,” có tính chất nghiêm trọng gia tăng. (Tr.N)

Ông Việt Nam bị 13 năm tù vì ăn cắp thông tin 200 triệu người Mỹ

Ông Việt Nam bị 13 năm tù vì ăn cắp thông tin 200 triệu người Mỹ

Nguoi-viet.com

NEW HAMPSHIRE (NV) – Một tin tặc dùng máy tính tại nhà ở Việt Nam lên internet đánh cắp thông tin cá nhân của 200 triệu người Mỹ rồi bán cho các tổ chức tội phạm khắp nơi trên thế giới, kiếm tiền triệu.

Hình chụp hộ chiếu của tin tặc Ngô Minh Hiếu mới bị tòa án ở New Hampshire kết án 13 năm tù. (Hình: Dân Trí)

Theo bản thông cáo báo chí phổ biến chung của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ và Sở Mật Vụ Liên Bang hôm Thứ Ba, 14 Tháng Bảy, một người quốc tịch Việt Nam tên Ngô Minh Hiếu, 25 tuổi, đã bị tòa án liên bang ở tiểu bang New Hampshire kết án 13 năm tù vì tội như kể trên.

Ông Hiếu bị cáo buộc đã xâm nhập vào hệ thống máy điện toán của một số công ty ở Mỹ, lấy trộm thông tin cá nhân (personal identifiably information) của khách hàng của họ rồi bán lại cho những bọn tin tặc khắp nơi.

Theo bản thông cáo trên, Ngô Minh Hiếu đã nhìn nhận các tội danh bị các cơ quan tư pháp của chính phủ Hoa Kỳ truy tố.

“Từ nhà tại Việt Nam, ông Ngô Minh Hiếu đã dùng thị trường trên mạng để bán thông tin cá nhân của hàng triệu người Mỹ bị anh đánh cắp, cho hơn 1,000 tội phạm rải rác khắp thế giới,” bà Leslie R. Caldwell, phó biện lý liên bang được dẫn lời trên bản thông cáo báo chí, cho biết. “Các tên tội phạm mua và bán thông tin cá nhân vì chúng thấy kiếm được nhiều tiền mà lại ít nguy hiểm. Xác định được và kết tội tin tặc như Ngô Minh Hiếu là một trong những cách chúng ta có thể thay đổi cách tính toán hơn thiệt đó.”

“Vụ án này chứng tỏ vấn nạn ăn cắp thông tin cá nhân là một mối nguy cho cả thế giới và liên quan đến tất cả mọi người chúng ta,” ông Donald Feith, quyền công tố viên, nhận định. “Tôi công nhận việc làm tuyệt vời của Sở Mật Vụ đã xác định được Hiếu và bắt ông. Vụ này chứng tỏ cơ quan tư pháp Hoa Kỳ có thể hợp tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật để điều tra và kết án các tên trộm thông tin cá nhân cho dù chúng ở bên kia nửa vòng trái đất.”

Theo tin tức trước đây, Ngô Minh Hiếu đã bị Sở Mật Vụ Mỹ gài bẫy, dụ qua Mỹ làm ăn. Khi tới đảo Guam, một vùng lãnh thổ của Mỹ trên Thái Bình Dương, thì bị bắt và đưa về New Hampshire. Dù bắt ông Hiếu từ Tháng Hai, 2013 nhưng mãi đến sau này mới thấy Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ ra một bản thông cáo báo chí nói truy tố Ngô Thanh Hiếu về 15 tội danh, tổng cộng có thể đối diện đến 42 năm tù.

Theo bản cáo trạng tóm tắt các lời thú nhận, Ngô Thanh Hiếu, từ năm 2007 đến 2013, mở một số gian hàng trên mạng đặt tên như “superget.info” và “findget.me” để bán các “lô sản phẩm” đã đánh cắp. Những lô hàng này được gọi bằng tiếng lóng là “fullz” thông thường gồm có tên cá nhân, ngày tháng năm sinh, số thẻ an sinh xã hội, số trương mục ngân hàng.

“Ngô Minh Hiếu nhìn nhận đã dánh cắp và rao bán các dữ liệu thẻ tín dụng, thường gồm cả số thẻ, ngày hết hạn, tên, địa chỉ và số điện thoại. Ngô Minh Hiếu nhìn nhận đã xâm nhập vào máy của một công ty ở New Jersey để ăn cắp kho dữ liệu,” bản thông cáo của Bộ Tư Pháp Mỹ viết.

Tin tức trước đây cho hay, Hiếu giả dạng làm một thám tử dịch vụ điều tra an ninh mạng nên đã có cơ hội xâm nhập vào kho dữ liệu khổng lồ của công ty dịch vụ dữ liệu cá nhân Exparian. Đây là một trong ba công ty cung cấp dữ liệu cá nhân rất phổ biến cho các công ty tài trợ tín dụng mua nhà, mua xe hay cấp thẻ tín dụng tại nước Mỹ.

“Ngô Minh Hiếu đã kiếm được gần $2 triệu từ các vụ bán các lô dữ liệu thông tin cá nhân,” bản tin của Bộ Tư Pháp cho hay.

Hiếu từng là một du học sinh ngành công nghệ thông tin ở Auckland, Tân Tây Lan, vào các năm 2008-2009.  Khi học tại đây, Hiếu bị dính vào một vụ lường gạt tín dụng và bị cấm quay lại học khi về Việt Nam nghỉ hè. Để trả thù, Hiếu đã “hack” vào trang mạng của nhà trường. (TN)

Học sinh VN: Quang Trung và Nguyễn Huệ là ‘bạn chiến đấu’

Học sinh VN: Quang Trung và Nguyễn Huệ là ‘bạn chiến đấu’

Nguoi-viet.com
HÀ NỘI 13-7 (NV) – Các học sinh được đài truyền hành nhà nước VTV1 phỏng vấn trắc nghiệm kiến thức lịch sử đều không biết Quang Trung Nguyễn Huệ là ai, thậm chí còn nói các điều làm người ta ngỡ ngàng.

Học sinh này cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là bố con. (Hình: Dân Trí – cắt từ video clip).

Báo Dân Trí hôm Chủ Nhật 12/7/2015 thuật lại kèm theo video clip của đài VTV1 phát hình phóng sự phỏng vấn kiến thức học sinh trong mục “Chuyển động 24h” hôm Thứ Bảy trước đó. Các câu trả lời về kiến thức sử học của 7 học sinh cấp trung học cơ sở tại Việt Nam sây sốc cho mọi người khi được phóng viên hỏi “Quang Trung và Nguyễn Huệ có mối quan hệ gì với nhau?”

Một học sinh trả lời cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em. Học sinh này còn nói “Ông Nguyễn Du chính là ông Quang Trung.” Một học sinh nói hai ông Quang Trung và Nguyễn Huệ là “bạn chiến đấu.” Một học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là bố con. Chỉ có một học sinh hiểu đúng Quang Trung Nguyễn Huệ là … một.

Sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam ở các cấp từ tiểu học, đều nhắc đến trận chiến thắng lẫy lừng tại Ngọc Hồi – Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ (vua Quang Trung) chỉ huy đánh tan tành quân nhà Thanh xâm lược vào thế kỷ 18.

Môn sử học từ bậc Tiểu học đến Trung học ở Việt Nam từng bị đả kích rất nhiều về sai lầm đầy ngập trong sách giáo khoa do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo CSVN độc quyền in ấn phát hành, đến cách dạy máy móc buồn ngủ của các ông bà thày giáo. Các điều này dẫn đến hệ quả là học sinh không ưa môn sử.

Học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em. Em còn nói “Ông Nguyễn Du chính là ông Quang Trung” (Hình Dân Trí- cắt từ video clip)

Tờ VietnamNet hôm 13/7/2015 dẫn các con số thống kê từ kỳ thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông vừa diễn ra và năm 2014 cho thấy rất ít học sinh chọn môn sử (thi nhiệm ý).

“Số liệu thống kê của hai năm gần đây nhất cho thấy, trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 toàn quốc có 910,831 học sinh đăng ký dự thi, có số lượng thí sinh đăng ký thấp nhất trong 4 môn thi tự chọn là môn lịch sử với 104,959, chiếm 11.52%. “ Vietnamnet kể. “Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2015 vừa qua, môn Lịch sử cũng có số lượng thí sinh chọn thi thấp nhất, với 153,688 em đăng ký (chiếm 15,3% trong tổng số gần 960 nghìn thí sinh đăng ký dự thi).”

Dẫn ra những chi tiết đáng ngao ngán hơn, Vietnamnet cho biết “Trường Lương Thế Vinh (Hà Nội), chỉ có 1 học sinh chọn môn Lịch sử. Trường THPT Việt Đức (Hà Nội) có 3% Trường THPT Đinh Tiên Hoàng có 6% học sinh đăng ký thi môn này… Trong buổi sáng ngày 4/7, các điểm thi ở Yên Thành và thị xã Thái Hòa (Nghệ An) do Hội đồng thi của Sở GD-ĐT Nghệ An chủ trì, chỉ có duy nhất 1 thí sinh thi môn Lịch sử…”

Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, phân tích trên Vietnamnet về sự sai lầm của những ông quan quản lý giáo dục: “Quan niệm hiện nay không đúng từ rất nhiều phía, khi cho rằng lịch sử chỉ là một môn học, mà quên đi nó còn là thứ để dung dưỡng tâm hồn, lòng yêu quê hương đất nước. Nếu nhìn nhận như vậy, thái độ của chúng ta đối với môn lịch sử sẽ khác chứ không phải như chúng ta đang làm hiện nay. Đây là lỗi của nhà quản lý.”

Học sinh cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là “bạn chiến đấu”. (Hình: Dân Trí – cắt từ video clip).

Đồng thời, ông nói “Nếu không cẩn thận, việc đưa các sự kiện, con số, ngày tháng vào chương trình dạy học lại thành ra mớ kiến thức cực kỳ khó nhớ. Dạy học theo phương pháp tiếp cận nội dung như hiện nay là một cách bắt học sinh phải nhớ những thứ khó nhớ đó, làm khô cứng một thứ lẽ ra rất sinh động. Đây là lỗi của chương trình”

Sách giáo khoa các cấp của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo CSVN độc quyền phổ biến từng bị đả kích rất nhiều lần về những sai sót đầy ngập từ chính tả văn phạm đến kiến thức khoa học, lịch sử.

Hai năm trước, ngày 15/10/2013, tờ báo Người Lao Động trong bài “Sách giáo khoa đầy sạn” từng viết “Không phải chỉ một lần các chuyên gia lịch sử, thậm chí cả Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã lên tiếng về những sai sót …này. Tuy nhiên, đến lần tái bản thứ 11 năm 2013, những “hạt sạn” nêu trên vẫn giữ nguyên.” (về sách lịch sử lớp 6).

Nạn chạy chọt, mua bán bằng cấp rất phổ biến tại Việt Nam, nhưng giữa Tháng 5-2015 vừa qua, hệ thống thông tin tuyên truyền tại Việt Nam dựa vào một phúc trình của Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD) tung hô rằng giáo dục Việt Nam xếp hạng thứ 12, vượt xa nhiều nước tân tiến trên thế giới.

Trong cách phân tích của OECD, giáo dục của nước Anh đứng thứ 20, Pháp thứ 23, Mỹ thứ 28 và Thụy Điển chỉ xếp thứ 35. Không thấy học sinh sinh viên các nước vừa kể đổ xô nhau đến Việt Nam xin học, chỉ thấy những gia đình giầu có, quan quyền tại Việt Nam cho con sang Mỹ và các nước Âu Tây du học ngày một nhiều hơn chứ không ở lại Việt Nam. (TN)

Đại Sứ Ted Osius họp sôi nổi với cộng đồng Việt tại Little Saigon

Đại Sứ Ted Osius họp sôi nổi với cộng đồng Việt tại Little Saigon

Nguoi-viet.com

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Những hàng ghế tại hội trường của Coastline Community College, Westminster, chiều Chủ Nhật, 12 Tháng Bảy, đầy kín người Mỹ gốc Việt đến tham dự buổi tiếp xúc gặp gỡ cộng đồng của Đại Sứ Hoa Kỳ Ted Osius, chỉ vài ngày sau cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Đại Sứ Ted Osius rút thẻ “nhân quyền” trong túi ra, trong buổi nói chuyện
với cộng đồng Việt Nam ở Little Saigon. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhiều người cho biết đã lái xe từ San Diego, từ Pomona đến từ sáng để kịp có mặt trong buổi gặp gỡ hiếm có và đúng thời điểm này, do văn phòng Dân Biểu Alan Lowenthal tổ chức hết sức chu đáo. Cùng ngồi bàn chủ tọa với Đại Sứ Ted Osius, còn có các dân biểu Ed Royce, Loretta Sanchez, Dana Rohrabacher và dĩ nhiên, Dân Biểu Alan Lowenthal, cùng đến để gặp gỡ cử tri gốc Việt.

Ông Alan Lowenthal được Thị Trưởng Trí Tạ của Westminster giới thiệu là một “Freedom Fighter,” cho biết, “Kể từ ngày Đại Sứ Ted Osius được bổ nhiệm làm đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông đã hứa là sẽ làm việc chặt chẽ với tôi để đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam được cải thiện.”

Ông nói thêm, “Năm nay, đánh dấu một thời điểm đặc biệt, 40 năm sau khi Sài Gòn thất thủ, là một ‘bắt đầu mới’ (new beginning) cho hai quốc gia, và Việt Nam hiểu rằng, nếu họ muốn thắt chặt bang giao với Hoa Kỳ, thì cần phải cải thiện nhân quyền.”

Dân Biểu Ed Royce nói, “Tôi tin rằng nếu cộng đồng này (cộng đồng người Mỹ gốc Việt) tiếp tục quan tâm, thì tự do tôn giáo và tự do phát biểu sẽ xẩy ra tại Việt Nam. Chúng ta hãy cam kết làm tất cả những gì có thể để điều đó xảy ra!”

Đến phần phát biểu của mình, Dân Biểu Loretta Sanchez đề cập đến việc một phụ nữ biểu tình phản đối việc đền bù giải tỏa bất công, đã bị xe xúc cán lên người, nói “sự kiện này làm tôi rùng mình!” và nhận định, “Nhân quyền tại Việt Nam còn cần phải cải thiện nhiều. Sở dĩ cộng đồng chúng ta (người Mỹ gốc Việt) phải đấu tranh đòi nhân quyền cho Việt Nam là vì người thân của chúng ta còn ở đó.”

“Dĩ nhiên, là người Hoa Kỳ, chúng ta muốn nhân quyền cho tất cả mọi người trên thế giới, nhưng khi đấu tranh cho người thân thì chắc chắc chúng ta sẽ sốt ruột hơn,” bà Sanchez nói thêm.

Thị Trưởng Garden Grove Bảo Nguyễn (phải) đặt câu hỏi với
Đại Sứ Ted Osius. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Dân Biểu Dana Rohrabacher nói rằng ông đồng ý với tất cả những gì các đồng viện của mình đã trình bày, và đề nghị với Đại Sứ Ted Osious, “Trong tiến trình kết thân thêm với Việt Nam, chúng ta hãy đi từng bước một, và đòi hỏi họ đưa ra những cải thiện cụ thể, chẳng hạn yêu cầu họ công bố chính sách mới, trong đó họ cho phép sự có mặt của những tờ báo đối nghịch, cho phép những đảng đối nghịch được hoạt động…”

“Hãy đừng giả vờ là nhân quyền Việt Nam sẽ thay đổi, nếu chúng ta thấy là họ không thể thay đổi!” Dân Biểu Dana Rohrabacher khuyến cáo.

Đại Sứ Ted Osius gần như chiếm ngay được thiện cảm của mọi người khi ông chào hỏi cử tọa và phát biểu khoảng 5 phút bằng một thứ tiếng Việt khá chuẩn. Ông cho biết giờ đây nói được tiếng Việt bằng giọng Bắc, dù khi mới học tiếng Việt chỉ biết nói giọng Nam. Nhiều người bật cười khi ông “khoe” có thể hiểu được người Việt nói với ông bằng bất cứ giọng gì, Nam Trung Bắc.

Nhưng những tiếng cười khá hiếm hoi này nhanh chóng nhường chỗ cho những lời phát biểu hết sức trang nghiêm và mục hỏi đáp sôi nổi.

Về tình hình nhân quyền tại Việt Nam, Đại Sứ Ted Osius bày tỏ rằng ông “lạc quan” vì nhiều lý do. Rồi rút túi đưa ra một cái thẻ to bằng hai danh thiếp chập lại, hai mặt chi chít chữ, khẳng định, “Tôi là một viên chức nhân quyền. Tại tòa đại sứ, nhân viên của chúng tôi đều mang theo cái thẻ này, để nhắc nhở là mỗi nhân viên tòa đại sứ là một viên chức nhân quyền, để nhắc nhở mỗi nhân viên về những điều chúng ta đang yêu cầu chính phủ Việt Nam thực hiện.”

“Trong mọi thảo luận với chính phủ Việt Nam, cải thiện nhân quyền với chúng tôi là một cột trụ then chốt. Chúng tôi đã đề nghị với chính phủ Việt Nam nên cải tổ luật. Chúng tôi sẽ có thành công không? Tôi không biết. Nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cố gắng.”

Từ trái, Dân Biểu Dana Rohrabacher, Dân Biểu Alan Lowenthal, Dân Biểu
Ed Royce, và Đại Sứ Ted Osius trong buổi gặp gỡ truyền thông Việt Ngữ.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Đại Sứ Ted Osius đã bắt được chính xác mạch của cộng đồng khi ông nói ngay về nhân quyền, và đó cũng là trọng tâm của buổi hội thảo. Buổi họp kéo dài hai tiếng đồng hồ hào hứng ngay từ câu phát biểu đầu của ông. Lòng quan tâm và nỗi ưu tư sâu xa về đất nước bên kia bờ đại dương của các đồng hương gốc Việt được biểu lộ qua những câu hỏi đủ loại được đưa ra liên tục.

Tại sao nước Mỹ luôn đặt vấn đề nhân quyền với Việt Nam ở mọi mốc quan trọng của quá trình đến gần nhau hơn của hai quốc gia, mà Việt Nam cho đến giờ vẫn chưa có nhân quyền? Phải làm gì để Việt Nam có nhân quyền, có tự do tôn giáo, có tự do phát biểu? Có chắc là Mỹ càng giúp Việt Nam được sung túc, càng giúp Việt Nam bảo vệ được an ninh quốc gia, thì nhân quyền của người dân Việt Nam càng được bảo đảm?

Có câu hỏi được đặt ra như một lời than, câu khác nghe như một lời trách nhẹ nhàng. Đại Sứ Ted Osius đáp trả mọi thắc mắc của cử tọa bằng kiến thức sâu rộng, bằng sự am tường của ông về tình hình Việt Nam, và bằng sự thẳng thắn, trả lời “tôi không biết” khi ông không có câu trả lời, nhưng quan trọng hơn cả, bằng sự cảm thông, ân cần của một nhà ngoại giao tinh tế, nghe được cả tâm tư trĩu nặng của người hỏi.

Các vị dân cử mở đầu phần hỏi đáp.

“Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào bởi những nhóm đấu tranh cho dân chủ cả ở trong nước lẫn hải ngoại?”

“Câu hỏi rất hay!” Đại Sứ Ted Osius nói trước khi trả lời câu hỏi trên của Thị Trưởng Bảo Nguyễn của Garden Grove.

Rồi ông trình bày, “Ảnh hưởng lớn nhất, theo tôi, là khiến giới trẻ Việt Nam mở mang được tầm nhìn của họ. Đó là công việc của các blogger, các cá nhân trên trang Facebook của họ. Những người này cho giới trẻ Việt Nam thấy được một thế giới trong đó người dân có thể chọn được chính phủ, và một nơi họ được phát biểu một cách tự do, bàn thảo với người đồng trang lứa với họ mà không sợ bị kiểm duyệt. Tôi đặt niềm hy vọng lớn vào xã hội dân sự ngày càng phát triển ở Việt Nam, và chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ sự phát triển của các xã hội dân sự.”

Đông đảo người Việt đến nghe đại sứ Mỹ tại Việt Nam nói chuyện.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Một người trong cử tọa đặt vấn đề về tù nhân lương tâm, hỏi rằng làm thế nào để không còn tù nhân lương tâm nữa, chứ không phải chỉ là thả người này rồi bắt người kia.

Đại Sứ Ted Osius đáp, “Hơn lúc nào hết Việt Nam muốn được thịnh vượng và an ninh quốc gia được bảo đảm, Hoa Kỳ là nước duy nhất có thể mang đến cho Việt Nam điều đó. Vì thế theo tôi đây cũng chỉ là vấn đề thời gian. Tôi hỏi họ (chính quyền Việt Nam) quý vị muốn chọn điều gì? Muốn nhốt thêm người vào nhà tù hay muốn có một nền kinh tế thịnh vượng? Muốn nhốt thêm người vào nhà tù hay muốn giới trẻ được đào tạo đúng mức? Theo những cuộc thăm dò của chúng tôi, 92% người được hỏi muốn thân hơn với Mỹ, chỉ khoảng một nửa số đó muốn thân hơn với Nhật, và rất ít những người được hỏi trả lời là muốn thân hơn với Trung Quốc.”

Rồi ông nhấn mạnh, “Đây là thời điểm rất đặc biệt để thúc đẩy sự thay đổi, chúng ta phải cùng nhau nắm lấy cơ hội này, bỏ lỡ cơ hội là lơ là với trách nhiệm.”

Theo sau cuộc gặp mặt với cộng đồng, Đại Sứ Ted Osius có cuộc gặp gỡ riêng với báo chí.

Trả lời câu hỏi là chuyến đi này đã cho ông thấy được điều gì rõ nhất và cuộc tiếp xúc này sẽ ảnh hưởng ông như thế nào trong vai trò một đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Đại Sứ Ted Osius bày tỏ, “Tôi đã nghe được nhiều điều mà trước chuyến đi này cũng đã biết, nhưng phải tiếp xúc, phải gặp gỡ, mới hiểu rõ hơn được tâm tư của người Mỹ gốc Việt, mới cảm nhận được những vết đau vẫn còn đó, mới thấy sự quyết tâm của những người muốn đấu tranh cho nhân quyền cho Việt Nam, và tôi sẽ trở về Việt Nam tích cực hơn trong vai trò xúc tiến việc cải thiện nhân quyền cho Việt Nam.”

Về câu hỏi việc một thành phố Hoa Kỳ kết nghĩa với một thành phố Việt Nam là điều nên hay không nên làm, vẫn với mục đích hỗ trợ nhân quyền cho Việt Nam, Đại Sứ Ted Osius trả lời, “Theo tôi thì khi chúng ta có nhiều người dân ở hai nước qua lại với nhau, đó là điều tốt. Khi chúng ta có nhiều du học sinh giữa hai bên, đó là điều tốt, nói tóm lại quan hệ giữa hai quốc gia không chỉ là quan hệ giữa hai chính quyền, mà còn là quan hệ giữa những người dân với nhau.”

Một nhà báo khác đặt vấn đề về giao thương giữa hai quốc gia, nói rằng mậu dịch giữa hai nước thiếu cân bằng, Việt Nam xuất cảng nhiều hàng qua Mỹ hơn Mỹ xuất cảng hàng qua Việt Nam, và hỏi chúng ta phải làm gì để thay đổi tình trạng đó.

Đại Sứ Ted Osius trả lời, “Chúng ta đã làm cho giao thương cân bằng thêm trong thời gian gần đây. Chúng ta đã ký kết hai thỏa thuận, hàng không Việt Nam sẽ mua của Boeing $7 tỷ tiền máy bay, và VietJetAir sẽ mua của Boeing một số máy bay trị giá $6 tỷ. Hai hợp đồng này tạo nhiều công ăn việc làm cho người Mỹ. Ngoài ra ngành nông nghiệp của chúng ta hơn 50% qua Việt Nam, gồm đậu nành, thịt gà, và nhiều thứ khác. Dĩ nhiên cũng có những sự thiếu quân bình, và chúng ta đang tìm cách giải quyết.

Một nhà báo nhắc đến quan điểm vẫn rất khác nhau giữa Hoa Kỳ và Việt Nam và nhân quyền, và yêu cầu Đại Sứ Ted Osius giải thích tại sao ông có thể “lạc quan” khi một mặt Tổng Thống Obama khi gặp ông Nguyễn Phú Trọng, đã khéo léo nhắc đến việc phải cải thiện nhân quyền thì mới có thể có một quan hệ thân thiết hơn với Mỹ, trong khi đó, ông Nguyễn Phú Trọng, ngay sau đó đã nói rằng người dân Việt Nam chưa bao giờ được hưởng một nền dân chủ tốt hơn bây giờ.

Đại Sứ Ted Osius giải thích, “Tôi đã làm việc trong tương quan của hai quốc gia trong vòng 20 năm qua, và tôi đã thấy có nhiều cải tiến. Những cải tiến này, tuy thế chưa đủ, nhưng tôi vẫn xem là có cải tiến, đó là điều khiến tôi lạc quan. Tôi nghĩ rằng xu hướng hiện giờ đang đi đúng chiều. Tôi cũng tin là quyền của công dân sẽ được cải thiện vì sự có mặt của các công ty Mỹ. Tôi sẽ không đính chính lời phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng hay của bất cứ ai khác. Chứng cớ của những cải thiện trong thời gian qua khiến tôi phấn khởi.”

Dân Biểu Alan Lowenthal tiếp lời Đại Sứ Ted Osius, “Khi đến thăm Việt Nam, tôi có nêu vấn đề với một số lãnh đạo về tù nhân lương tâm. Tôi nói với họ, nếu các ông muốn chúng tôi hỗ trợ thì phải thả hết các tù nhân lương tâm. Họ nói, chúng tôi không có tù nhân lương tâm, đó toàn là những người phạm luật, nhưng rồi họ lại nói có thể luật của chúng tôi cần phải thay đổi. Chính vì thế tôi nghĩ là có thể cơ hội để thay đổi. Đó là một điểm để chúng ta hy vọng.”

Liên lạc tác giả: hagiang@nguoi-viet.com

Chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc chết dần. Nhà cầm quyền tìm kiếm sự hỗ trợ trong truyền thống

Chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc chết dần. Nhà cầm quyền tìm kiếm sự hỗ trợ trong truyền thống

RFA

Maciej Michalek – Lê Diễn Đức dịch

86 triệu đảng viên Cộng Sản Trung Quốc vào đảng vì quyền lợi hơn là lý tưởng – Ảnh: TVN24

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc đưa tin rằng các tổ chức của đảng Cộng Sản sẽ sớm được dạy về văn hóa truyền thống và lịch sử của đất nước họ. Trung Quốc từ lâu đã không hoàn toàn tuân theo con đường cộng sản và ngày càng công khai trở lại với truyền thống, điều này có ý nghĩa rằng – dần dần sẽ có sự thay đổi hệ tư tưởng của siêu cường Châu Á này.

Vào tuần trước người ta thông báo rằng trong các trường học quan trọng nhất cho công chức ở Trung Quốc đã đuợc cung cấp sách giáo khoa về văn hóa truyền thống và lịch sử Trung Quốc. Tổng cộng có 21 cuốn sách – bao gồm cả sách nói về “ưu thế quốc tế” của văn hóa Trung Quốc – đây là môn mới đối với đối tượng giảng dạy của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, dự kiến ​​sẽ đưa vào chương trình ngay từ tháng 9.

Chính quyền mới, truyền thống cũ

Trong thời gian ngắn tới đấy sẽ có một môn học gọi là “guoxue” (quốc học), một môn có kiến ​​thức rộng nói về di sản nền văn minh Trung Quốc, bao gồm lịch sử, triết học, nghệ thuật và văn học. Tuy nhiên Đảng Cộng Sản Trung Quốc kể từ khi nắm chính quyền vào năm 1949, luôn có vấn đề với truyền thống dân tộc.

Sự lây lan sự nhiệt tình cách mạng và tạo ra một xã hội xã hội chủ nghĩa mới được kết hợp với những chỉ trích của quá khứ và Nho giáo được nói tới cho giới triết học xã hội và chính trị Trung Quốc như là nguồn gốc làm suy yếu nhà nước. Các giai đoạn đỉnh cao của cuộc chiến với lịch sử của chính mình đã diễn ra trong những năm 60 và 70, khi, trong cái gọi là “Cách mạng Văn hóa”, ở Trung Quốc người ta đã phá hủy các tòa nhà lịch sử, di tích, cổ vật, sách cũ.

Trên  cửa miệng là cách mạng, trong tim là người Trung Quốc

Mặc dù vậy, cá nhân Mao Trạch Đông thích văn học cổ điển Trung Quốc, và các nhà lãnh đạo tiếp theo cũng bắt đầu mạnh dạn hơn gắn bó với văn hóa và truyền thống cổ xưa. Khổng Tử và những lời dạy của ông cuối cùng đã chính thức giành lại vị thế một di sản vô giá của quốc gia, mà minh chứng là việc đặt tên của triết gia này cho các trung tâm xúc tiến mở ra trên toàn thế giới nhằm quảng bá ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, tức là các Viện Khổng Tử. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc ngày càng đưa nhiều các triết lý Trung Quốc khác như Pháp gia, Đạo giáo và Mặc gia, trên cơ sở đó tìm cách cố vấn cho chính quyền Bắc Kinh.

Có thể lưu ý rằng chính sách đối ngoại của Trung Quốc ngày càng được tiến hành phù hợp với các giả định tư tưởng của chính trị truyền thống hơn là học thuyết cộng sản. Bởi vì trong vị trí của cách mạng và chính sách tương phản xuất hiện các hành động được cân nhắc và dài hạn, trong đó, ít nhất là về mặt lý thuyết, các giá trị được nhấn mạnh như sự hài hòa, đạo đức và tìm kiếm lợi ích lẫn nhau.

Phong cách hoạt động mới có thể được nhìn thấy trong một số ví dụ, làm thế nào Bắc Kinh tìm cách biến đổi môi trường quốc tế hiện nay. Trước sự bá quyền thế giới của Mỹ, Trung Quốc tìm cách giảm dần vai trò của Mỹ và gia tăng ảnh hưởng của mình thông qua những tổ chức quốc tế mới như Ngân hàng Châu Á Đầu tư Hạ tầng và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, cũng như ký kết thỏa thuận thương mại tự do với Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á.

“Dân tộc không có phẩm hạnh không thể kéo dài”

Sự tiến dần tới di sản văn hóa vĩ đại của Trung Quốc có lý do của nó. Ý thức hệ cộng sản, mặc dù vẫn được giảng dạy trong tất cả các trường học, đã nhàm chán và không còn truyền cảm hứng. Đa số các đảng viên mới của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đang đông hơn bao giờ hết, gia nhập đảng vì mong muốn cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ chứ không phải từ sự nhiệt tình tư tưởng.

Đồng thời, với dân tộc Trung Quốc đang bị thay đổi nhanh chóng về nhân khẩu học, xã hội và kinh tế, ngày càng trở nên khó khăn để tìm ra một la bàn đạo đức để họ có thể gắn bó với người dân. Phao cứu của xã hội không tôn giáo và đời sống với một ý thức hệ ngày càng yếu đi là “sự trở lại với cội nguồn của mình”, bởi vì nếu không có nó họ “không thể biết chính mình”, như Chủ tịch Tập Cận Bình giải thích.

Phá sản tư tưởng

Tuy nghiên, đối với Đảng Cộng sản, quảng bá truyền thống và văn hóa Trung Quốc khá khó khăn, vì những ý tưởng của Nho giáo, Đạo giáo, và các tư tưởng triết học khác mâu thuẫn với ý thức hệ Cộng Sản. Do đó, việc từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản ở Trung Quốc được thực hiện một cách kín đáo, để xã hội không có ấn tượng rằng quyền lực độc tài hiện nay là một hệ tư tưởng phá sản.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ nhiều thập kỷ nay cố gắng giả vờ rằng họ không thay đổi hướng đi mà chỉ thực hiện sự điều chỉnh liên tục. Kết quả là, ngày nay dễ dàng nhận ra rằng, những gì liên quan đến ý thức hệ cũ chủ yếu chỉ ở tên gọi và biểu tượng của nhà nước.

Nhiều khuôn mặt của chủ nghĩa xã hội

Bằng cách này, hệ thống chính trị chính thức của nhà nước vẫn là “chủ nghĩa xã hội” nhưng mang “đặc sắc Trung Quốc”. Đó là cách xác định thuận tiện, để trên một mặt, cho thấy sự liên tục với sự khởi đầu của cuộc khởi nghĩa cách mạng ở Trung Quốc, mặt khác có thể được diễn dịch tự do theo những cần thiết chính trị. Thật vậy, “đặc sắc Trung Quốc” là gì, không ai biết, và chỉ có Đảng mới có thể quyết định.

Tương tự như vậy, trong kinh tế vẫn được gọi là “thị trường’ nhưng “xã hội chủ nghĩa”. Trên lý thuyết, hệ thống này có nghĩa là Trung Quốc tham gia vào kinh tế thị trường, nhưng thông qua các đối tượng quốc doanh. Trong thực tế ở Trung Quốc đang hoành hành chủ nghĩa tư bản tham lam dựa trên sở hữu tư nhân, và tăng nhanh lối sống tiêu dùng được “phát minh” tại các nước giàu có ở châu Âu và Hoa Kỳ.

Chủ nghĩa xã hội Trung Quốc – lý thuyết và thực hành

Có bao nhiêu lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa xã hội đang hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Trung Quốc? Thực tế cho thấy trong nhiều khía cạnh, ít hơn so với dân chủ và tư bản chủ nghĩa ở Ba Lan.

Ở Trung Quốc, tiếp cận với giáo dục miễn phí ở một mức độ đạt yêu cầu gần như là ảo, còn được nhà nước trả tiền cho học đại học rất khó khăn. Hệ thống an sinh xã hội, bao gồm lương hưu trí, không thích hợp, cộng với chính sách một con và tăng dân số, sự cứu rỗi duy nhất là phải tư nhân hóa một phần của nó.

Ngoài ra chất lượng và tiếp cận chăm sóc sức khỏe cộng đồng đang ở mức rất thấp. Như vậy cũng chưa đủ, ở Trung Quốc rất hiếm hoi việc trợ  cấp – ở Ba Lan thì thành luật – đối với học sinh, sinh viên, hoặc những người khuyết tật.

Bức tranh của “chủ nghĩa xã hội” ở Trung Quốc được bổ sung khoảng cách tài chính khổng lồ giữa người giàu nhất và nghèo nhất tạo ra trong ba thập kỷ qua – sự tập trung của cải vào giới giàu có nhất trong xã hội Trung Quốc ngày nay thậm chí còn lớn hơn ở Hoa Kỳ.

Kết thúc chủ nghĩa cộng sản và sự khởi đầu là gì?

Trở lại cội nguồn của tư tưởng chính trị ở Trung Quốc không có nghĩa là Trung Quốc lại áp dụng hệ tư tưởng Nho giáo ở vị trí của hiện tại, được xem là Cộng Sản. Trung Quốc có thể sẽ vẫn còn tiếp tục lâu dài với cờ đỏ và búa liềm.

Bởi vì, sự thay đổi hệ tư tưởng chính trị Trung Quốc dựa trên việc ngày mỗi đưa vào tuyên truyền và giáo dục nhiều đối tượng khác như tư tưởng Nho giáo. Nhìn thấy rõ ràng trong hành vi của Tập Cận Bình, người mà đồng thời vừa nói đến di sản vĩ đại của quá khứ, đứng đầu là tư tưởng của Khổng Tử, vừa ca ngợi chủ nghĩa cộng sản là con đường duy nhất đúng cho đất nước.

Đề cập đến nguồn gốc của mình chủ yếu là để thực hiện một chính sách rõ ràng. Thứ nhất, đánh giá cao thành tựu kinh tế sẽ làm cho Đảng Cộng sản Trung Quốc có sự cảm thông và ủng hộ của xã hội. Thứ hai, nuôi dưỡng trong xã hội kiến ​​thức về di sản và niềm tự hào dân tộc. Thứ ba, nhấn mạnh Trung Quốc khác biệt với các nước khác và không cần phải lấy khuôn mẫu từ nước ngoài, bởi vì Trung Quốc có cái của riêng mình, tốt hơn.

Nho giáo bị khủng bố và ám ảnh

Một số người Trung Quốc nói rằng Nho giáo ở Trung Quốc tồn tại trong hai hình thức – bị bức hại bởi nhà cầm quyền khi họ cố gắng để áp đặt một hệ tư tưởng khác, hoặc bắt bớ người dân khi chính phủ  sử dụng nó để căn cước hóa chế độ chuyên chế.

Dù thế tranh luận thế nào thì quan điểm này đúng hay không cũng hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm của những người Cộng Sản Trung Quốc. Vào thời Mao Trạch Đông Nho giáo bị tấn công và phá hủy, và bây giờ họ đang cố gắng chọn lọc sử dụng để củng cố quyền lực của mình. Chính quyền muốn tồn tại phải đưa ra cho người dân một cái gì đó nhiều hơn là các trích dẫn từ chủ nghĩa Marx và sách đỏ của Mao Trạch Đông.

Bản Việt ngữ © Lê Diễn Đức

—————————————————————————————-

Dịch từ tiếng Ba Lan bài được đăng trên trang Web của TV tin tức Ba Lan TVN24 ngày 11 tháng 7 năm 2015 tại link: http://www.tvn24.pl/chiny-odchodza-od-komunizmu-i-siegaja-do-tradycji,558226,s.html