‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

Tạp ghi Huy Phương

Nguoi-viet.com

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi người Nam “nhận họ,” người Bắc “nhận hàng,” bao nhiêu kho đạn, lương thực, thuốc men, máy móc… được chở về Bắc để vỗ béo cho cán bộ cao cấp, kể cả 16 tấn vàng, tài sản quốc gia, bị bọn cán bộ cao cấp, mỗi người “cấu véo” một tí, thì miền Nam trở thành một bãi rác hoang tàn. Sau khi đưa vào tù quân cán chính miền Nam, đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng kinh tế mới, thì dân đen, loại không biên chế, không còn cái ăn cái mặc, đau ốm không thuốc men.

Lá cây khoai mì. (Hình minh họa: Issouf Sanogo/AFP/Getty Images)

Cái ăn đã không có, trừ gạo mục từ các mật khu mang về, bo bo, bột mì, khoai sắn nộp nghĩa vụ lẫn đất cát còn không đủ no, thì chuyện đau ốm khó khăn – khắc phục. Xuyên tâm liên là vị thuốc độc nhất toàn năng phổ biến trong quần chúng dành cho những “ông chủ” của đất nước, như Tạ Phong Tần đã viết: “… sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ai bị bệnh gì vô bệnh viện Bạc Liêu cũng đều được bác sĩ kê toa hai thứ thuốc không bao giờ thay đổi là xuyên tâm liên (viên nén) và chai xi-rô Lạc Tiên, đem về uống đến phù cả mặt mũi mà vẫn không hết ho…” Không phải chỉ có Bạc Liêu mà cả toàn quốc! Phổ biến thì súc muối hay nhỏ nước tỏi vào lỗ mũi. Trong nhà tù “cải tạo” ngoài Bắc, thì phái đoàn y sĩ từ Hà Nội về nhổ răng cho tù bằng kềm, búa, đục thợ rèn, 10 anh thì sưng mặt hết bảy.

Xuyên tâm liên là thứ cây thuốc có ở phía Nam Trung Quốc. Theo tính vị ghi trong tài liệu y học dân gian Quảng Châu, thì cây “xuyên tâm liên” này có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thủng, giảm đau. Được dùng chữa vết thương, tẩm gạc đắp vết thương hoặc làm dịch nhỏ giọt rửa vết thương; chữa viêm họng, viêm phế quản, lị cấp (nước sắc xuyên tâm liên cùng với bồ công anh, sài đất…).

Vào khoảng thời gian “mở cửa” khi mà Việt Cộng đã cho dân chúng nhận những thùng quà từ ngoại quốc gửi về, đặc biệt là những người vượt biên đến được Mỹ, thì hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu ra lệnh tịch thu thuốc Tylenol trong những thùng quà với lý do là có chất độc, cần phải kiểm nghiệm. Mặc dầu Tylenol đã vài lần bị thu hồi (recall) tại Mỹ, nhưng đó là một thứ thuốc bán rất chạy trên thị trường Bắc Mỹ, đứng hàng thứ ba trong các loại thuốc đau nhức. Nếu hải quan tịch thu Tylenol và thiêu hủy tại chỗ thì không nói, đằng này trong lúc thuốc men khan hiếm, thuốc này dành cho cán bộ dùng, và được tuồn ra ngoài chợ trời để bán với giá cao.

Về cái ăn thì thịt là món hiếm, chỉ có trong các cửa hàng nhà nước, hay được chuyển lậu, bằng cách bó vào đùi, vào mông để qua mắt các trạm kiểm soát. Nhưng nhân dân đã có một thứ “thịt” dễ kiếm khác, đó là ngọn “lá sắn” bỏ đi, sau khi “thu hoạch” củ sắn (khoai mì) nông dân ủ thành phân xanh.

Báo Nhân Dân, “Cơ Quan Trung Ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tiếng Nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân Việt Nam,” vào khoảng thời gian 1978-79 đã có những bài báo nghiên cứu để đưa đến kết luận: “Ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò,” vì lá sắn chứa rất nhiều chất protein. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ, là vì trong trại tù ở Bắc Thái, bọn tù chúng tôi đã phải tập họp ngồi nghe bọn “trật tự-thi đua” đọc đi đọc lại bài nghiên cứu khốn nạn “ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò.” Trong khi dân nếu tin chuyện đảng hướng dẫn, ăn lá sắn đến vàng da, mờ người, thì Bộ Chính Trị và các quan chức dùng sữa, thịt bò Jersy từ trại Ba Vì và sâm nhung hảo hạng. Cái này thì không phải chờ đến sau Tháng Tư, 1975, mà trước kia, Nguyễn Chí Thiện đã nói lên giữa hai màu da mặt tương phản giữa lãnh tụ phè phỡn và quần chúng tí hon, tương lai của đất nước:

“Nước da hai bác mầu hồng

nước da các cháu nhi đồng mầu xanh

giữa hai cái mặt bành bành

chiếc khăn quàng đỏ quấn quanh cổ cò!”

Về sau mới biết vì sao có chuyện lá sắn có protein: Nguyên ngành chăn nuôi Bắc Việt nghiên cứu ngọn lá sắn nếu đem ủ chua vào khẩu phần vỗ béo bò thịt sẽ làm tăng lượng hấp thụ thức ăn. Trọng lượng bò được vỗ béo tăng dần theo mức bổ sung ngọn lá sắn ủ chua trong thức ăn của bò hằng ngày. Việc ủ chua lá sắn cho bò đã tiết kiệm được thức ăn. Nhân dân không được đảng xem là người mà xem như trâu bò, được dùng lá sắn thay cho cá thịt. Dân ngu thì cứ tin đảng và nhà nước tận cùng, đảng và nhà nước thì dối trá, ai chết mặc ai. Cuộc nghiên cứu của những “đỉnh cao trí tuệ” đã được đăng tải trên báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng Sản thì ai mà không dám không tin. Con bò ăn lá sắn lên cân, thì con người XHCN cũng có thể ăn lá sắn để tăng sức, con gà toi nhỏ mũi bằng nước tỏi được, thì con người XHCN có thể nhỏ mũi bằng nước tỏi để khỏi toi.

Câu chuyện này làm chúng ta nhớ lại một anh hoạn lợn (thiến heo) bên Tàu, có bà vợ cứ sòn sòn đẻ năm một, cứ nghĩ là cơ phận con người cũng giống heo, cắt tử cung đi là hết đẻ. Một ngày “đẹp trời” nọ, anh trói vợ ra giữa sân, dùng đồ nghề quyết tâm làm cho vợ cai đẻ, bằng cách tìm cách cắt bỏ tử cung của vợ. Lẽ cố nhiên, bà vợ không sao tránh khỏi cái chết do tri thức của anh chồng hoạn lợn ngu dốt. Dân Việt Nam thời “cách mạng” không thiếu người chết, vì các bậc lãnh đạo quốc gia, có đầu óc và tư duy của những anh chàng “thiến heo” loại này.

Thời “cách mạng” đổi đời, dân được khuyến khích đói thì ăn lá sắn, ốm đau thì đã có nước đái, nhân dân tự sản xuất, không cần phải bào chế hay “nhập khẩu!”

Đó là câu chuyện “niệu liệu pháp” từ cuốn sách của Bác Sĩ F.O. Quinn (Mỹ) do nhà nước xuất bản năm 1989, trong đó đã đề cập đến “phương pháp tự chữa bệnh bằng nước tiểu đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng hiệu quả trị bệnh lại rất cao.”

Thời điểm này, cuốn sách xuất bản nhằm mục đích dạy cho dân chúng biết “khắc phục” chứ không phải là một chuyện tình cờ. Sau này giới y học trong nước công nhận nội dung “niệu liệu pháp” thiếu khoa học và gây hậu quả nặng nề, một số người bệnh vì uống nước đái! Cuốn sách sau đó bị cấm lưu hành và trôi vào quên lãng.

Ngày còn nhỏ, ở nhà quê, tôi cũng có nghe nước tiểu trẻ em cho đàn bà mới sinh dậy và có công dụng chữa các chứng bệnh như sốt nóng, ho ra máu, thổ huyết, hoa mắt chóng mặt, tay chân lạnh do huyết dồn lên đầu, sản hậu ứ huyết, tổn thương, huyết ứ… Nhưng không phải nước tiểu được đồn đãi “trị được bá bệnh” như “xuyên tâm liên” mà người dân khốn cùng phải làm liều.

“Trong nước tiểu có hàng loạt chất độc hại như: Amoniac dùng để tẩy rửa, Creatinine làm co bắp thịt, gây chuột rút, đau đớn, Amylase gây hạ đường máu, Ure gây hôn mê, Bilirubine và chì là chất cực độc, lân dùng để bón cây, ngoài ra còn hàng ngàn loại vi trùng, nấm, virus từ nước tiểu, rồi từ hậu môn xâm nhập qua nước tiểu khi chảy xuống… Do đó, có thể nói, nước tiểu người lớn là… thuốc độc.” (VT News)

Nhà văn Quang Lập (Hội Văn Nghệ Bình Thị Thiên) viết trong Blog năm 1985-86: “Vài ngày sau thằng Thịnh đưa tờ báo có bài: ‘Niệu liệu pháp phản khoa học, một trò lừa đảo!’” Cả hội mới ngớ người ra.

Anh Nguyễn Khoa Điềm nói hội mình anh em dại quá toàn nghe người ta xúi bậy. Anh Vĩ nói rất hay sự tuyên truyền rỉ tai nguy hiểm thế nào, tôi đã nói rồi tiếc thay anh em trí thức cả lại không ai cảnh giác.

Anh Nguyễn Quang Hà cười ha ha ha nói, tôi lừa các ông thế mà các ông cũng tin. Anh Văn Lợi nói Lập ơi tao thử trí thông minh mày, chứ đời nào tao uống. Mình cũng nói với Ngô Minh em trêu anh chứ có họa ngu mới đi uống nước đái. Ngô Minh cũng cười khe khe nói tao cũng lừa mày chứ sức mấy tao ngu!”

“Vì bởi người dân ngu quá lợn…” nên mới dễ bị chúng bịp.

Dân trí thức lại còn giở trò bịp nhau.

Thời “giải phóng” đảng nói với dân: “Đừng ăn những gì chúng ông ăn (có đâu mà ăn) mà hãy ăn những gì chúng ông nói!”

Dượng rể của Kim Jong Un trốn sang Mỹ vì sợ thanh trừng

Dượng rể của Kim Jong Un trốn sang Mỹ vì sợ thanh trừng

Nguoi-viet.com

SEOUL, Nam Hàn (AFP)Dượng rể của nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un cho hay nỗi hãi sợ về các cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ nhà nước Cộng Sản Bắc Hàn đã khiến ông cùng vợ phải bỏ trốn sang Mỹ gần 20 năm trước đây.


Kim Jong Un gieo rắc nỗi sợ hãi lên ngay cả người thân ruột thịt của mình. (Hình: Getty Images)

Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn Yonhap, ông Ri Kang cho hay hai vợ chồng ông đã rất lo sợ về những gì có thể xảy ra cho họ trong trường hợp có cuộc tranh giành quyền lực một khi cha của Kim Jong Un là Kim Jong Il qua đời.

Ông Ri là chồng bà Ko Yong-Suk, em gái của mẹ Kim Jong Un.

“Sau gần hai thập niên sống gần Kim Jong Il, tôi thấy rõ sự tàn bạo của quyền lực,” ông Ri cho biết hôm Thứ Tư. “Tôi nghĩ không nên ở gần thứ quyền lực này.”

Ông Ri và bà Ko từng có nhiệm vụ trông nom Kim Jong Un khi ông ta còn là một thiếu niên và được gửi đi học ở Thụy Sĩ. Họ sau đó quyết định sang Mỹ tị nạn, thay vì trở về Bắc Hàn năm 1998.

Mẹ của Kim Jong Un lúc đó bệnh nặng và được điều trị ở Âu Châu, rồi sau đó qua đời ở Pháp năm 2004.

Kim Jong Il qua đời 13 năm sau khi hai vợ chồng này bỏ trốn và cuộc chuyển giao quyền hành cho Kim Jong Un diễn ra khá suôn sẻ.

Tuy nhiên, những gì xảy ra sau đó đã chứng nghiệm nỗi lo sợ của họ khi Kim Jong Un ra lệnh giết dượng rể khác là Jang Song-Thaek.

Câu chuyện của họ được biết tới sau khi bà Ko đưa đơn kiện ba người Bắc Hàn đào thoát và đang sống ở Seoul, với lý do bôi nhọ danh dự và nói xấu về bà. Ông Ri cho hay hai vợ chồng có một tiệm giặt ủi rất thành công ở Mỹ. (V.Giang)

Vụ Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

Vụ Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

 Đặng Hà

Trong phiên họp Quốc hội Liên bang Đức ngày 03.12.2015 vừa qua, một Nghị quyết được đệ trình để thảo luận và biểu quyết thông qua. Nghị quyết này mang tên “Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới và trong phần thảo luận trước khi biểu quyết nghị sĩ Frank Heinrich (đảng CDU/CSU) đã nêu ra trường hợp cô Đỗ Thị Minh Hạnh trong bài phát biểu của ông. Trong đó ông kể rõ về vụ công an Việt Nam hành hung dã man cô Đỗ Thị Minh Hạnh:

clip_image002

Mới tuần rồi tôi nhận được tin cô Minh Hạnh – với tư cách là thành viên của công đoàn độc lập Lao Động Việt“- đã bị bắt giữ cùng với một đồng nghiệp vì can tội tham gia buổi gặp gỡ và trò chuyện với công nhân của một doanh nghiệp Nam Hàn Lực lượng công an đã giải tán cuộc họp mặt này và bắt giữ cô Minh Hạnh cùng với đồng nghiệp Trương Minh Đức. Họ bị giam giữ đến sáng ngày hôm sau và đã bị công an đánh đập tàn nhẫn. Cô Minh Hạnh với thương tích ở đầu và mắt đã phải vào bệnh viện chữa trị. Cho đến hôm nay cô vẫn còn bị rối loạn thị giác.”

Báo Time chọn Thủ Tướng Đức là ‘Nhân Vật Năm 2015’

Báo Time chọn Thủ Tướng Đức là ‘Nhân Vật Năm 2015’
Nguoi-viet.com

WASHINGTON, DC (NV)Tuần báo Time hôm Thứ Tư loan báo việc chọn Thủ Tướng Ðức Angela Merkel làm “Nhân Vật Năm 2015,” ca ngợi khả năng lãnh đạo của bà, đưa nước Ðức qua tình trạng nợ nần cũng như đối phó với cuộc khủng hoảng di dân từng đe dọa làm tan vỡ khối EU.


Thủ Tướng Angela Merkel. (Hình: Sean Gallup/Getty Images)

“Do đã dám đòi hỏi ở quốc gia mình nhiều hơn là các chính trị gia khác, do đã giữ vững lập trường chống lại độc tài cũng như không chọn lựa sự dễ dàng, và cũng do luôn giữ vai trò lãnh đạo về mặt đạo đức, vốn là điều hiếm thấy trong thế giới này, bà Angela Merkel là Nhân Vật Trong Năm của tuần báo Time,” theo chủ biên Nancy Gibbs.

Tuần báo Time coi bà như là người lãnh đạo mặc nhiên của khối EU, sau khi trong năm nay bà đã hai lần đưa khối này qua hai cuộc khủng hoảng – vụ Hy Lạp bị khánh tận và cuộc khủng hoảng di dân.

Trong suốt thời gian có cuộc khủng hoảng của khối sử dụng đồng Euro (eurozone), khi cả lục địa Âu Châu lo lắng nhìn về Berlin để xem phản ứng từ nơi này, bà Merkel tiếp tục kêu gọi phải có tinh thần kỷ luật trong việc duy trì các giới hạn ngân sách và giảm chi tiêu.

Tuy nhiên, trong mùa Hè vừa qua, nhà lãnh đạo thường vẫn rất cẩn thận này đã có canh bạc chính trị lớn nhất từ một thập niên nay khi kêu gọi dân chúng Ðức mở rộng cửa đón nhận người tị nạn.

Là con gái của một Mục Sư Lutheran, bà Merkel lớn lên sau Bức Màn Sắt của thế giới cộng sản và nay được coi là người phụ nữ có quyền lực nhất thế giới.

Chủ biên Gibbs của tờ Time nói rằng khi phải đối diện với khó khăn, dù là cuộc khủng hoảng tài chánh ở Hy Lạp hay làn sóng người tị nạn lũ lượt kéo tới, bà không hề chọn sự thỏa hiệp dễ dãi.

“Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với bà, nhưng bà không chọn con đường dễ dàng. Các nhà lãnh đạo thường chỉ được thử thách mỗi khi mà người dân không muốn đi theo,” theo chủ biên Nancy Gibbs. (V.Giang)

Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam

Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc

Trên báo chí trong nước, thỉnh thoảng có một số người còn nhiều tâm huyết lên tiếng báo động về tình trạng khủng hoảng của tiếng Việt. Bằng chứng họ nêu lên thường là những cách viết tắt, cố tình sai chính tả hoặc pha nhiều tiếng nước ngoài của giới trẻ trên facebook hay các blog. Nhưng dường như chưa ai thấy điều này: sự khủng hoảng trong tiếng Việt chủ yếu nằm trong lãnh vực chính trị và xuất phát từ giới cầm quyền. Nó nằm ngay trong các nghị quyết của đảng, các bài diễn văn của giới lãnh đạo và, cụ thể nhất, trên trang báo Nhân Dân hay Tạp chí Cộng sản, rồi từ đó, lan đi khắp nơi, trên các cơ quan truyền thông cũng như ở miệng của các cán bộ và đảng viên các cấp.

Không phải người ta không thấy những sự khủng hoảng ấy. Thấy nên phản ứng. Có ba loại phản ứng chính.

Thứ nhất, không tin những gì chính quyền nói. Một trong những câu nói được nhắc nhở nhiều nhất của ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Xin lưu ý: câu nói ấy chỉ thực sự gây tiếng vang và được phổ biến rộng rãi chủ yếu sau năm 1975, lúc ông Thiệu đã trở thành con người của quá khứ.

Thứ hai, chính những người cộng sản, ngay cả cộng sản cao cấp, cũng thấy thẹn thùng khi sử dụng loại ngôn ngữ họ sáng chế và từng ra sức áp đặt lên xã hội. Có thể nêu lên hai ví dụ. Một là với chữ “đồng chí”. Trước, đó là cách xưng hô chính thức và phổ cập. Sau, nó chỉ hiện hữu trong các cuộc hội nghị. Nói chuyện với nhau, hầu như không ai gọi nhau là “đồng chí” nữa. Nghe chữ “đồng chí” là sợ: nó báo hiệu một màn đấu đá hoặc một tai họa (1). Ngay ở Trung Quốc, chính quyền cũng khuyên dân chúng hạn chế dùng chữ “đồng chí” trên các phương tiện giao thông công cộng (2). Hai là chữ “cộng sản”.

Với nhiều người, kể cả đảng viên, cứ nghe người khác gọi mình là “cộng sản”, họ có cảm giác như nghe một lời chửi mắng. Chứ không có chút tự hào trong đó cả. Nhớ, đã khá lâu, trong một cuộc gặp gỡ ở Úc, một người là đảng viên khá cao cấp, hiện đang làm việc trong ngành truyền thông ở Việt Nam, nhắc đến cuốn Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991 & 1996) của tôi, rồi hỏi: “Sao anh không đặt nhan đề là ‘Văn học dưới chế độ xã hội chủ nghĩa’ nhỉ?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Thế có khác gì nhau không?” Anh ấy đáp: “Khác chứ. Chữ ‘xã hội chủ nghĩa’ nghe thanh lịch hơn; còn chữ ‘chế độ cộng sản’ nghe ghê quá, cứ như một lời kết án.” Tôi lại hỏi: “Anh là đảng viên mà cũng có ấn tượng vậy sao?” Anh ấy đáp, thật thà: “Đó là ấn tượng chung của toàn xã hội mà. Tên đảng thì không ai dám đổi, nhưng trong đời sống hàng ngày, nghe mấy chữ ấy, mình cũng thấy ngài ngại.”

Thứ ba, phản ứng lại sự lũng đoạn ngôn ngữ của chính quyền dưới hình thức phản-ngôn ngữ (anti-language) qua những cách nói hoàn toàn bất chấp nguyên tắc ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp thông thường.

Hiện tượng phản-ngôn ngữ, vốn xuất hiện và phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, trong vài thập niên trở lại đây, có nhiều hình thức khác nhau.

Nhớ, lần đầu tiên tôi về Việt Nam là vào cuối năm 1996. Lần ấy, tôi ở Việt Nam đến bốn tuần. Một trong những ấn tượng sâu đậm nhất còn lại trong tôi là những thay đổi trong tiếng Việt. Có nhiều từ mới và nhiều cách nói mới tôi chỉ mới nghe lần đầu. Ví dụ, trà Lipton được gọi là “trà giật giật”; cái robinet loại mới, có cần nhấc lên nhấc xuống (thay vì vặn theo chiều kim đồng hồ) trong bồn rửa mặt được gọi là “cái gật gù”; ăn cơm vỉa hè được gọi là “cơm bụi”; khuôn mặt trầm ngâm được mô tả là “rất tâm trạng”; hoàn cảnh khó khăn được xem là “rất hoàn cảnh”; thịt beefsteak được gọi là “bò né”. Sau này, đọc báo trong nước, tôi gặp vô số các từ mới khác, như: “đại gia”, “thiếu gia” (3), “chân dài”, “chảnh” (kênh kiệu) (4), “bèo” (rẻ mạt), “khủng” (lớn); “tám” (tán gẫu); “buôn dưa lê” (lê la, nhiều chuyện), “chém gió” (tán chuyện), “gà tóc nâu” (bạn gái), “xe ôm” (bạn trai), “máu khô” (tiền bạc), “con nghẽo” (xe máy), v.v.
Trong các từ mới ấy, có từ hay có từ dở, tuy nhiên, tất cả đều bình thường. Ngôn ngữ lúc nào cũng gắn liền với cuộc sống. Cuộc sống thay đổi, ngôn ngữ thay đổi theo. Những sản phẩm mới, hiện tượng mới và tâm thức mới dẫn đến sự ra đời của các từ mới. Ở đâu cũng vậy. Tất cả các từ điển lớn trên thế giới đều có thói quen cập nhật các từ mới hàng năm. Có năm số từ mới ấy lên đến cả hàng ngàn. Việt Nam không phải và không thể là một ngoại lệ. Đối diện với những từ mới ấy, có hai điều nên tránh: một, xem đó là những từ ngớ ngẩn rồi phủ nhận tuốt luốt; và hai, xem đó là từ…Việt Cộng và tìm cách chối bỏ chúng.

Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhất không phải là sự xuất hiện của các từ mới hay các tiếng lóng mới ấy. Mà là những cách nói mới, rất lạ tai, thậm chí, quái gở, phổ biến khắp nơi, ngay cả trong giới trí thức và văn nghệ sĩ tiếng tăm, đặc biệt ở Hà Nội.
Có thể tóm gọn các cách nói mới ấy vào bốn điểm.

Thứ nhất, hiện tượng dùng nguyên cả một cụm từ hoặc một từ ghép hoặc một tên riêng của một người, một địa phương hoặc một nước để chỉ lấy ra một từ tố trong đó. Ví dụ, thay vì nói “lâu”, người ta nói “Hà Văn Lâu” (hay “Hồng Lâu Mộng”); thay vì nói “đông” (đúc), người ta nói “Hà Đông”; thay vì nói “xa”, người ta nói “Natasha” (chỉ lấy âm cuối, “Sha”, phát âm theo giọng miền Bắc là “xa”); thay vì nói “xinh” (xắn), người ta nói “nhà vệ sinh” (âm /s/ bị biến thành /x/); thay vì nói “tiện”, người ta nói “đê tiện”; thay vì nói “cạn” (ly), người ta nói “Bắc Cạn”; thay vì nói “can” (ngăn), người ta nói “Lương Văn Can”; và thay vì nói “chia” (tiền), người ta nói “Campuchia”. Cuối cùng, người ta có một mẩu đối thoại lạ lùng như sau:

“Đi gì mà Hà Văn Lâu thế?”
”Ừ, tại đường Hà Đông quá!”
”Từ đấy đến đây có Natasa không?”
“Không. À, mà hôm nay em trông hơi nhà vệ sinh đấy nhé!”
“Khéo nịnh! Tí nữa, đi về, có đê tiện, mua giùm em tờ báo nhé!”
“Ừ, mà thôi, bây giờ nhậu đi!”
“Ừ, Bắc Cạn đi, các bạn ơi!”
“Thôi, tôi Lương Văn Can đấy!”
”Này, hết bao nhiêu đấy, để còn Campuchia?”

Thứ hai, hiện tượng dùng chữ “vô tư”. Lúc ở Hà Nội, một trong những từ tôi nghe nhiều nhất là từ “vô tư”. Nó được dùng một cách lạm phát.  Cái gì cũng “vô tư”. Bạn bè, gồm toàn các giáo sư và nhà văn nổi tiếng ở Hà Nội, rủ tôi vào quán thịt cầy. Thấy tôi thoáng chút ngần ngại, họ liền nói: “Cứ vô tư đi mà! Thịt cầy ở đây ngon lắm!” Sau khi uống vài ly rượu, cảm thấy hơi chếnh choáng, tôi xin phép ngưng, họ lại nói: “Không sao đâu, cứ vô tư uống thêm vài ly nữa cho vui. Rượu này ngâm thuốc, bổ lắm!” Cuối tiệc, tôi giành trả tiền, họ lại nói: “Không, bọn tôi đãi, anh cứ vô tư đi!” Cứ thế, trong suốt bữa tiệc hai ba tiếng đồng hồ, tôi nghe không dưới vài chục lần từ “vô tư”. Chữ “vô tư” ấy phổ biến đến độ lọt cả vào trong thơ Nguyễn Duy:

Mình vô tư với ta đi
Vô tư nhau chả cần chi nhiều lời
Vô tư thế chấp đời người
Trắng tay còn chút coi trời bằng vung
Luật chơi cấm kị nửa chừng
Vô tư đặt cọc tận cùng chiếu manh
Liền em vô tư liền anh
Không ngây không dại không đành phải không.

Thứ ba, hiện tượng dùng các phụ từ “hơi bị”. Bình thường, trong tiếng Việt, “bị”, đối lập với “được”, chỉ những gì có ý nghĩa tiêu cực và ngoài ý muốn. Bất cứ người Việt Nam nào cũng biết sự khác biệt giữa hai cách nói “Tôi được thưởng” và “Tôi bị phạt”. Vậy mà, ở Việt Nam, ít nhất từ giữa thập niên 1990 đến nay, ở đâu, người ta cũng nghe kiểu nói “Cô ấy hơi bị hấp dẫn”, “Ông ấy hơi bị giỏi”, “chiếc xe ấy hơi bị sang”, “nhà ấy hơi bị giàu”, hay “bức tranh ấy hơi bị đẹp”, v.v.
Cuối cùng là hiện tượng các thành ngữ mới đã được Thành Phong sưu tập và minh họa trong cuốn Sát thủ đầu mưng mủ (sau đó bị tịch thu, năm 2011), bao gồm những câu kiểu:

ăn chơi sợ gì mưa rơi
buồn như con chuồn chuồn
chán như con gián
chảnh như con cá cảnh
chuyện nhỏ như con thỏ
bực như con mực
cực như con chó mực
đau khổ như con hổ
đen như con mèo hen
đói như con chó sói
đơn giản như đan rổ
dốt như con tốt
đuối như trái chuối
ghét như con bọ chét
già như quả cà
hồn nhiên như cô tiên
im như con chim
lạnh lùng con thạch sùng
ngất ngây con gà tây
ngốc như con ốc
phê như con tê tê
sành điệu củ kiệu
tê tái con gà mái
thô bỉ như con khỉ
tự nhiên như cô tiên
tinh vi sờ ti con lợn
xinh như con tinh tinh

Tất cả những hiện tượng trên đều có một số đặc điểm chung. Thứ nhất, có lẽ chúng xuất phát từ Hà Nội, sau đó, lan truyền ra cả nước, kể cả Sài Gòn. Thứ hai, chúng phổ biến không phải chỉ trong giới trẻ mà còn cả trong giới trí thức lớn tuổi, kể cả giới học giả, giáo sư đại học và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Thứ ba, tất cả những cách nói ấy đều ngược ngạo, thậm chí, vô nghĩa. Chả có ai có thể giải thích được những kiểu nói như “buồn như con chuồn chuồn” hay “chán như con gián” hay “im như con chim”, “xinh như con tinh tinh”… trừ một điều duy nhất: chúng có vần vè với nhau. Vậy thôi.

Trong lịch sử tiếng Việt, thỉnh thoảng lại xuất hiện những hiện tượng mới, đặc biệt trong khẩu ngữ, nhiều nhất là trong tiếng lóng. Tuy nhiên, có lẽ chưa bao giờ lại có những hiện tượng nói năng ngược ngạo và vô nghĩa như hiện nay. Ở miền Nam trước năm 1975, người ta làm quen với những kiểu nói như “lính mà em”, “tiền lính tính liền”, “sức mấy mà buồn”, “bỏ đi Tám”, “OK Salem”, “mút mùa Lệ Thủy”, “thơm như múi mít”, “bắt bò lạc”, “một câu xanh rờn”, v.v. Với hầu hết những kiểu nói như thế, người ta có thể hiểu được. Còn bây giờ? Không ai có thể giải thích được. Chúng ngược ngạo đến mức quái đản. Và chúng vô nghĩa đến mức phi lý.

Vậy tại sao chúng lại ra đời, hơn nữa, phổ biến rộng rãi trong xã hội, ngay trong giới có học thuộc loại cao nhất nước?
Dĩ nhiên không phải vì người ta không biết. Biết, chắc chắn là biết; nhưng người ta vẫn chọn những cách nói ấy. Đó là một chọn lựa có ý thức chứ không phải một thói quen vô tình. Sự chọn lựa ấy chỉ có thể được giải thích bằng một cách: người ta muốn nói khác. Khác với cái gì? Với những quy ước ngôn ngữ đang thống trị trong xã hội và thời đại của họ. Khi những cái khác ấy được thực hiện một cách bất chấp luận lý và quy luật, chúng trở thành một thách thức, một sự chối bỏ, hay đúng hơn, một sự phản kháng. Bình thường, không ai phản kháng ngôn ngữ. Bởi ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ. Người ta chỉ phản kháng tính chất giả dối, khuôn sáo, cũ kỹ, chật chội trong ngôn ngữ hoặc đằng sau ngôn ngữ: văn hóa, chính trị và xã hội. Bởi vậy, tôi mới xem những cách nói ngược ngạo phổ biến tại Việt Nam hiện nay như một thứ phản-ngôn ngữ: nó là một phần của thứ đối-văn hóa (counter-culture), xuất phát từ động cơ muốn thoát khỏi, thậm chí, chống lại những giá trị, những quy phạm và những chuẩn mực mà người ta không còn tin tưởng và cũng không muốn chấp nhận nữa.

Nói cách khác, nếu việc sử dụng ngôn ngữ trong bộ máy tuyên truyền của đảng và nhà nước Việt Nam mang đầy tính chính trị thì hiện tượng phản-ngôn ngữ đang phổ biến tại Việt Nam hiện nay cũng có tính chính trị. Thứ chính trị trên dựa trên sự áp chế, độc tài và giả dối; thứ chính trị dưới là một sự phản kháng lại thứ chính trị trên nhưng lại dựa trên một thứ chủ nghĩa hư vô đầy tuyệt vọng.

***
Chú thích:

  1. Có thể thấy điều này qua một ví dụ khá tiêu biểu: Bài thơ “Cho một nhà văn nằm xuống” viết nhân cái chết của nhà văn Nguyên Hồng của Trần Mạnh Hảo (1982) bị phê phán kịch liệt. Võ Văn Kiệt, lúc ấy là Bí thư thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, cho gọi Trần Mạnh Hảo đến gặp. Trần Mạnh Hảo rất sợ. Thế nhưng cảm giác sợ hãi ấy tiêu tan ngay khi ông nghe câu nói đầu tiên của Võ Văn Kiệt: “Hảo à! Đù má… Mày làm cái gì mà dữ vậy?” Trần Mạnh Hảo giải thích: “Anh phải hiểu rằng tính cách người Nam Bộ là thế. Sống với nhau trong cơ quan hay lúc sinh hoạt thường hay dùng câu ĐM kèm theo. Thân tình mới có câu ĐM. Còn đã gọi nhau bằng đồng chí là ‘có chuyện’. Nghe được lời mắng của anh Sáu (Võ Văn Kiệt) lại có kèm ĐM, tôi biết ngay là ‘thoát’.” Chuyện này được thuật lại trong bài “Much Ado About Nothing” của Phạm Xuân Nguyên trên Talawas.
  1. http://www.reuters.com/article/2010/05/31/us-china-comrade-idUSTRE64U0WP20100531
  1. Cả hai từ “đại gia” và “thiếu gia” đều là những từ cũ, ngày xưa; bây giờ được dùng lại.
  1. Gần đây, chữ “chảnh” còn được nói dưới hình thức tiếng Anh bồi là “lemon question” (chanh + hỏi); cũng như chữ “vô tư” còn được nói là “no four” (không = vô + bốn = tư). Giống như trước 1975, người ta từng nói “no star where” – không sao đâu.

Tang lễ cô Nguyễn Thị Thanh Tín sẽ diễn ra ở nhà thờ Saint Barbara

Tang lễ cô Nguyễn Thị Thanh Tín sẽ diễn ra ở nhà thờ Saint Barbara
Nguoi-viet.com

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, Calif. (NV) –Chiều ngày Thứ Hai, 7 Tháng 12, thi hài cô Nguyễn Thị Thanh Tín, một trong 14 nạn nhân qua đời trong vụ thảm sát ở San Bernardino hôm Thứ Tư tuần rồi đã được đưa về nhà quàn Peek Family ở thành phố Westminster và tang lễ sẽ được tổ chức ở nhà thờ Saint Barbara vào Thứ Bảy tuần này.

 
Cô Nguyễn Thị Thanh Tín, nạn nhân của vụ thảm sát ở San Bernardino hôm Thứ Tư, 2 Tháng 12, 2015 (Hình: Gia đình cung cấp)

Theo cáo phó của gia đình, linh cửu cô Thanh Tín được quàn tại Peek Family Funeral Home, 7801 Bolsa Ave, Phòng số 1, Westminster, CA 92683.

Nghi thức phát tang được tổ chức từ lúc 10 giờ sáng đến 11 giờ sáng Thứ Sáu, 11 Tháng 12, 2015. Sau đó là lễ thăm viếng đến 7 giờ tối.

Lễ an táng diễn ra lúc 8 giờ sáng Thứ Bảy, 12 Tháng 12, 2015, tại nhà thờ Saint Barbara, 730 S. Euclid St., Santa Ana, CA 92704.

Sau thánh lễ ở nhà thờ, linh cửu Thanh Tín sẽ được di chuyển đến nơi an nghỉ tại nghĩa trang Chúa Chiên Lành (Good sherpherd Cemetery) 8301 Talbert Ave., Huntington Beach, CA 92648.

Theo lời ông Phú Nguyễn, bác ruột của Thanh Tín cho biết, “Hiện tại gia đình đang còn phải lo nhiều giấy tờ thủ tục cho bên FBI để họ cần có ‘security’ cho buổi lễ nếu không sợ sẽ rối hết lên do quá nhiều cơ quan truyền thông, báo chí khắp nơi quan tâm đến sự kiện này. Hơn nữa, đây không phải là một trường hợp bình thường.”

“Bên cạnh đó, căn phòng Số 1 đặt linh cửu của Tín – là nơi ‘con bé’ thích vì ông ngoại từng làm đám tang ở đó nên gia đình chọn nơi đó cho Tín – quá nhỏ nên cũng phải tính rất kỹ nếu không cũng sẽ lộn xộn,” ông Phú nói thêm trong sự lo lắng.

Để chuẩn bị cho đám tang của cô Thanh Tín, một trang mạng kêu gọi gây quỹ cho cô cũng đã được thiết lập từ bốn ngày trước.

Tính đến 7 giờ tối Thứ Hai, 7 Tháng 12, số tiền gây quỹ giúp đám tang cô Nguyễn Thị Thanh Tín trên website GoFundMe đã lên tới con số $49,010, vượt khá xa mục tiêu lúc đầu là $10,000.

Lời kêu gọi đóng góp này được đưa ra bởi cô Phạm Kim Oanh vào ngày 3 Tháng 12, sau khi cảnh sát chính thức xác nhận Thanh Tín là một trong 14 nạn nhân bị bắn chết trong vụ thảm sát ở San Bernardino, California hôm Thứ Tư tuần trước.

Trong lời kêu gọi đóng góp cho tang lễ của Thanh Tín, cô Kim Oanh viết:

“Cảm ơn sự hào phóng và những lời tử tế của mọi người. Sự đóng góp của quý vị sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho gia đình Tín rất nhiều. Trong những lúc như thế này, mới thấy mọi người đoàn kết giúp đỡ nhau tuyệt vời ra sao.”

Theo đó, 100% số tiền quyên góp được chuyển thẳng đến gia đình của nạn nhân Thanh Tín.

Cho đến thời điểm này, lời kêu gọi này đã được 5,500 lượt chuyền đi, với 1,002 người tham gia đóng góp. Có người đóng góp $5.00, cũng có người đóng góp $500.00, mỗi người tùy theo khả năng của mình, không phân biệt sắc tộc. Nhưng qua đó, cho thấy sự tiếc thương vô bờ của mọi người dành cho cô gái này.

Cuộc quyên góp vẫn còn đang tiếp tục. Những ai muốn tham gia có thể vào địa chỉ dưới đây https://www.gofundme.com/jxd93cgs

Cô Nguyễn Thị Thanh Tín, sanh ngày 6 Tháng Tư, năm 1984, tại Giáo xứ Phú Hiệp ở Di Linh, Đà Lạt. Cô sang Mỹ lúc 8 tuổi, tốt nghiệp trung học Valley High School, Santa Ana, sau đó tốt nghiệp cử nhân khoa học sức khỏe tại đại học Cal State Fullerton. Lúc qua đời, cô đang là nhân viên thanh tra thực phẩm của Sở Y Tế San Bernardino, đồng nghiệp của nghi can Syed Rizwan Farook, người đã nã súng vào các đồng nghiệp mình, và sau đó bị cảnh sát bắn chết trong một cuộc rượt đuổi.

Thanh Tín ra đi trong sự tiếc thương tột cùng của gia đình, người thân và tất cả những ai quan tâm. Đặc biệt, điều khiến mọi người đau lòng hơn là cô vừa mới thử áo cưới một tuần trước ngày xảy ra vụ thảm sát với dự tính đám cưới diễn ra vào năm tới.

Gần 14 triệu người Việt bị rối loạn tâm thần

Gần 14 triệu người Việt bị rối loạn tâm thần

07/12/2015

– Gần 14 triệu người Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến. Gần 1/5 trong số này mắc các rối loạn tâm thần nặng.

 

Đây là số liệu được đưa ra tại hội thảo lấy ý kiến hoàn thiện chiến lược quốc gia về sức khỏe tâm thần tại Hà Nội sáng nay.

Theo ông Trần Quý Tường, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, rối loạn tâm thần là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất hiện nay, là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật.

 tâm thần, dấu hiệu tâm thần, chiến lược quốc gia về tâm thần, tỉ lệ bị tâm thần, rối loạn tâm thần
Một bệnh nhân tâm thần đang điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương

Theo nghiên cứu, gần 15% dân số Việt Nam (tương đương gần 14 triệu người) mắc các bệnh về rối loạn tâm thần, trong đó khoảng 3 triệu người mắc rối loạn tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, sa sút trí tuệ, chậm phát triển. Con số này vẫn không ngừng tăng.

Nguyên nhân chủ yếu do làm việc suốt ngày đêm, áp lực công việc lớn, căng thẳng, tiêu thụ rượu bia nhiều, cách biệt giàu – nghèo, ly hôn, thất nghiệp…

Tuy nhiên số lượng người bệnh rối loạn tâm thần được chữa trị còn cực kỳ thấp, cứ 10 người chỉ có 2-3 người được điều trị, trong đó điều trị bằng thuốc vẫn là chủ yếu, điều trị tâm lý rất hạn chế. Chưa kể số lượng bác sĩ chuyên khoa tâm thần còn rất ít, cả nước có 850 bác sĩ nhưng chỉ tập trung tại tuyến trung ương và các thành phố lớn.

Bên cạnh đó, do nhận thức hạn chế, người dân vẫn chưa hiểu đúng về sức khỏe tâm thần, đánh đồng tất cả đều là “điên” mà không biết có nhiều rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, mất ngủ, lo âu… dẫn đến tình trạng kì thị, phân biệt đối xử.

Để giảm bớt gánh nặng do rối loạn tâm thần gây ra, Việt Nam xây dựng chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe tâm thần, phấn đấu ban hành luật Sức khỏe tâm thần trước năm 2020 và đặt ra mục tiêu 50% bệnh nhân rối loạn tâm thần được điều trị vào năm 2025. Hàng năm, ngân sách y tế sẽ dành ít nhất 5% cho lĩnh vực sức khỏe tâm thần.

Thúy Hạnh

Nha Trang: Hàng chục thanh niên bắn, chém nhau trước vũ trường

Nha Trang: Hàng chục thanh niên bắn, chém nhau trước vũ trường
Nguoi-viet.com

NHA TRANG (NV) – Hàng chục thanh niên của hai nhóm khác nhau đã lao vào đâm, chém, bắn nhau làm náo loạn khu vực phía trước một vũ trường tại thành phố Nha Trang đêm Thứ Bảy sang ngày Chủ Nhật.

Các thanh niên hỗn chiến trước quán bar ở Nha Trang. (Hình: VnExpress)

Theo tin hai báo VnExpress và Thanh Niên, vì “mâu thuẫn” với nhau trên sàn nhảy của vũ trường Nha Trang Lodge trên đường Lê Thánh Tôn, phường Lộc Thọ, Nha Trang, hàng chục thanh niên của hai phe đã kéo nhau ra ngoài, cách vũ trường khoảng 20 mét rồi lao vào đâm chém, bắn nhau, bằng nhiều loại vũ khí.

Trong số những khách đến chơi tại vũ trường Nha Trang Lodge tối Thứ Bảy, 5 Tháng Mười Hai, có một nhóm khách khoảng 20 thanh niên đi trên ba chiếc xe hơi từ huyện Cam Lâm tới. Nghe kể là họ “tổ chức sinh nhật cho một thành viên của nhóm.”

Đến rạng sáng Chủ Nhật, theo VnExpress kể, “Lúc đã say, một số người trong đoàn lên sân khấu nhảy, va chạm với nhóm thanh niên đến từ huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang. Xô xát xảy ra, hai bên xông vào nhau ẩu đả. Bị bảo vệ vũ trường ngăn cản, hai bên kéo nhau ra ngoài ăn thua.”

Theo VnExpress, “Hai bên bất ngờ rút súng bắn cá, súng bắn đạn bi, mã tấu… tấn công nhau. Tiếng người la hét vang dội, náo loạn cả khu vực. Người dân và khách vũ trường hoảng loạn.” Được thông báo, lực lượng cảnh sát 113 đến nơi và “buộc phải nổ nhiều phát súng chỉ thiên để ngăn chặn xô xát.”

Có nhiều người bị thương trong vụ đâm chém loạn xạ này. Đặc biệt, một thanh niên 30 tuổi tên Nguyễn Anh Đức, cư ngụ tại Diên Khánh “bị chém nhiều nhát, bỏ chạy được một đoạn thì ngã gục. Nạn nhân được đưa vào bệnh viện đa khoa Khánh Hòa cấp cứu trong tình trạng nguy kịch.”

Vũ khí của hai nhóm, trong vụ hỗn chiến. (Hình: VnExpress)

Theo tờ Thanh Niên, lực lượng 113 đã “khống chế 13 người đưa về trụ sở công an phường Lộc Thọ làm việc.” Công an cũng thu giữ nhiều loại vũ khí gồm: một súng ngắn bắn đạn bi, một súng bắn cá, một kiếm Nhật, ba mã tấu, một cây mác, và hai con dao. Những người liên quan ẩu đả đã bỏ trốn đang bị truy bắt.

Ngày Thứ Tư, 2 Tháng Mười Hai, vừa qua, một nhóm khoảng 30 “tay giang hồ” mang theo một số vũ khí đã đến nhà một thanh niên 26 tuổi tên Đặng Trần Kỳ tại xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, trèo tường định vào “xử” anh này.

Lý do, theo báo Pháp Luật và Xã Hội, Kỳ có mâu thuẫn với người chủ tiệm cầm đồ tên Lê Duy Cảnh, 30 tuổi, về lương bổng nên Cảnh đã thuê một băng giang hồ tới “đánh dằn mặt.” Tuy nhiên, công an đã ngăn chặn và bắt giữ một số người.

Đầu Tháng Chín vừa qua, một “đại tiệc” của khoảng 500 tay anh chị giang hồ cả nước dự tính tổ chức tại một khu nghỉ dưỡng thuộc quận Đồ Sơn, Hải Phòng, đã bị công an ngăn chặn, theo tờ Pháp Luật Thành Phố. (TN)

Chết thảm vì bị một phụ nữ tự tử rơi trúng người

Tây Ban Nha: Chết thảm vì bị một phụ nữ tự tử rơi trúng người

Dân Việt 04/12/2015

Người phụ nữ bất ngờ nhảy xuống từ ban công căn hộ để tự sát nhưng rơi trúng một cụ ông đang ngồi nghỉ bên dưới. Người phụ nữ sống sót, còn cụ ông không may tử nạn.

Theo Telegraph, người phụ nữ 48 tuổi ở Alicante, Tây Ban Nha được cho là mắc chứng trầm cảm nên đã nhảy lầu tự sát. Tuy nhiên, bà này lại rơi trúng một cụ ông 81 tuổi đang ngồi nghỉ trên ghế phía dưới. Cụ ông được cho là đã chết ngay tại chỗ bởi sức nặng của người phụ nữ. Chiếc ghế cụ ông ngồi cũng bị sập.

Khu vực hiện trường – chiếc ghế nơi cụ ông ngồi bị gãy sập.

Các nhân chứng cho hay, người phụ nữ đã nhảy xuống từ ban công căn hộ trên tầng 7 của mình.

Sau đó, bà được đưa tới bệnh viện San Juan ở Alicante trong tình trạng đa chấn thương. Theo Telegraph, nạn nhân hiện ở tình trạng ổn định. Góa phụ của cụ ông, cụ bà 85 tuổi đã bị sốc trước cái chết đột ngột của chồng.

Cách đây 5 năm trước, vụ việc tương tự từng xảy ra tại thành phố Malaga khi một thiếu nữ 18 tuổi nhảy lầu tự tử trúng một cụ bà tình cờ đi qua vào thời điểm ấy. Thiếu nữ sau đó sống sót còn cụ bà không qua khỏi.

Trong năm 2009, một người đàn ông 50 tuổi ở Viladecans, gần Barcelona cũng thiệt mạng khi một người phụ nữ nhảy từ căn hộ 8 tầng để tự sát nhưng rơi trúng vào ông. Trong vụ việc này, cả người phụ nữ cố gắng tự sát cũng thiệt mạng

Văn Hóa Gì Vậy

Văn Hóa Gì Vậy

Việt Báo

Trần Khải

6-12-2015

Nguồn ảnh: báo Petrotimes

Việt Nam là đất nước có nhiều văn hóa nhất? Đó là theo định nghĩa của nhà nước.

Tại sao các nước khác không đặt vấn đề phong danh hiệu văn hóa cho nhau? Tại sao chỉ tại Việt Nam thôi? Nghĩa là, bạn đi xóm nào, cũng thấy có bảng hiệu “văn hóa”…

Báo Tuổi Trẻ cho biết người Việt được danh hiệu này nhiều tới mệt nghỉ.

Bản tin nói, có “hơn 85% gia đình VN hiện nay là gia đình văn hóa. Song Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng đời sống văn hóa còn rất nhiều vấn đề, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh còn nhiều chuyện nhức nhối… “

Ông Đam lấy quyền gì chỉ trích dân Việt Nam kém văn hóa? Và nếu đúng thế, có phải ông Đam nói rằng tiêu chuẩn văn hóa VN cấp ra thấp tới mức bi thảm, trong khi cả nước đang tiến lên thiên đường xã hội chủ nghĩa không cần kinh qua chủ nghĩa tư bản?

Bản tin báo TT ghi lời một tổ trưởng tổ dân phố ở TP.SG cho biết tổ dân phố của mình có 100% gia đình văn hóa. Tuy nhiên vị tổ trưởng này cũng công nhận có một vài gia đình không phù hợp nhưng vẫn được xét là gia đình văn hóa bởi các tiêu chí quá chung chung.

Bản tin khác của báo Tuổi Trẻ ngày 3-12-2015 ghi rằng “Gia đình văn hóa càng nhiều, văn hóa… càng xuống cấp?”

Bản tin Tuổi Trẻ viết:

“Năm 2015, cả nước có gần 19 triệu gia đình trong tổng số hơn 22 triệu gia đình đạt chuẩn danh hiệu gia đình văn hóa, trong khi đó, tình trạng bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, xuống cấp về đạo đức gia đình, xã hội và các giá trị văn hóa gia đình truyền thống có nguy cơ mai một…

…Bạn Toàn (Gò Vấp) cũng tán thành: “Tất cả chỉ là hình thức và giờ đọc lên nghe “quê” lắm. Gia đình tôi không có danh hiệu “gia đình văn hóa” nhưng là trí thức, trình độ thấp nhất là thạc sĩ, cao nhất là tiến sĩ; luôn chấp hành tốt pháp luật, không tệ nạn hay điều tiếng gì với hàng xóm.

Cách nhà tôi một căn là gia đình đạt chuẩn văn hóa. Chủ hộ học chưa hết cấp hai. Hai vợ chồng có tật xấu là hay trộm cắp vặt trong xóm ai cũng biết và họ hay chửi thề miết.

Bởi vậy nói thật, có xét duyệt danh hiệu gia đình văn hóa cho gia đình tôi thì tôi xin miễn, không dám nhận đâu. Có thực mới vực được đạo. Người ta chỉ cần nhìn vào năng lực, tư cách, đạo đức là đủ hiểu văn hóa hay không rồi”….”(ngưng trích)

Tại sao bỗng dưng cả nước bàn về văn hóa?

Có phải trước 1975 không có gia đình nào mang danh hiệu văn hóa thì phải…

Mây hôm trước, thắc mắc về văn hóa bùng khởi là khi các cánh đồng hoa bỗng dưng bị các thanh niên, thiếu nữ, “sản phẩm cháu ngoan Bác Hồ” nhào ra đồng hoa đê chụp hình, giẫm đạp tưng bừng.

Bản tin VnExpress ghi bản tin “Hoa tam giác mạch gẫy nát vì bị giẫm đạp” nguyên do:

“Nhiều bạn trẻ muốn tạo dáng chụp ảnh với hoa tam giác mạch đã giẫm đạp lên hoa, làm gẫy nát mất đi vẻ tự nhiên của luống hoa, ảnh hưởng đến mùa màng địa phương…

…Ngày 12/11 mới khai mạc lễ hội Hoa tam giác mạch lần đầu tiên ở Hà Giang, nhưng ngay từ cuối tháng 10, du khách đã đến đây rất đông. Rất nhiều luống hoa đã bị giẫm đạp, nhiều diện tích trồng hoa được trồng theo các hình khác nhau để phục vụ lễ hội cũng bị tàn phá dưới bàn chân của con người. Khách du lịch nhảy, giẫm nát, lăn lộn trên những ruộng hoa để tạo dáng chụp ảnh….”

Sao nỡ vùi hoa dập liễu như thế? Các chuyện này nghe như dường chỉ xảy ra ở miền Bắc thôi, và hình như chưa nghe chuyện tương tự ở Sài Gòn? Hay chỉ phần nào ở Sài Gòn thôi?

Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Thân, tựa đề “Người Việt đang thể hiện cái văn hóa gì vậy?” đăng ở báo Một Thế Giới đặt vấn đề:

“…Nhưng chúng ta hãy nghiêm chỉnh nhìn lại mình ngày hôm nay. Thứ văn hóa phản văn hóa giẫm lên hoa chỉ giúp chúng ta dễ nhìn bản thân mình, dễ so sánh mình với các dân tộc khác trong gia đình nhân loại mà thôi.

Nam thanh nữ tú của chúng ta, ngay ở Hà Nội hay Sài Gòn đã cư xử như thế nào trong nhà, ngoài đường phố? Hàng ngàn người đã đổ dồn về một đường phố hẹp, chen chúc giẫm đạp nhau để mong nhận một cái bánh sushi miễn phí. Sau hàng chục năm sống trong cảnh bao cấp, thiếu thốn, mãi đến nay người ta vẫn chưa học được thói quen xếp hàng. Người ta chen lấn khắp nơi, thậm chí lúc chỉ có hai ba người. Hình như nỗi ám ảnh “mất phần” vẫn dai dẳng sống trong tâm trí nhiều người, hễ có chút danh lợi là nghĩ ngay đến “cướp”!”…

Cướp? Ai dạy cho dân mình văn hóa cướp như thế?

Có phải chính Đảng CSVN sử dụng chữ “cướp chính quyền” trong mục từ Cách mạng tháng Tám trên Wikipedia tiếng Việt:

“Sau khi Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội và nhiều nơi khác, Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim ở Huế nộp đơn xin từ chức…”

Không chỉ đơn giản thế đâu. Hãỹ nhớ xem chuyện mấy lần đổi tiến, mấy đợt đánh tư sản… có phải là cướp hay không?

Và nhiêu nữa… Đó cũng là văn hóa xã hội chủ nghĩa vậy.

____

Mời xem thêm: Gia đình văn hóa kiểu gì? (PT).

Sau 351 năm mới tìm thấy ngôi mộ người đã khai sinh ra những mẫu tự Việt Nam

Sau 351 năm mới tìm thấy ngôi mộ người đã khai sinh ra những mẫu tự Việt Nam

Văn Khang/ Văn Khố Ức Trai / Đại Học Chiến Tranh Chính Trị VNCH

 Nhóm tìm kiếm chụp trước mộ Cha Đắc Lộ tại Iran    Cha Đắc Lộ 1591 – 1660

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ), Người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng .

Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng, “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ”.

Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã “giải phóng ” nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu .

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi ” hồ hởi ” . Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi ” tham quan ” và nói về lịch sử nhà thờ.

Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi: “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.

Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

Anh Trần Đình Mỹ gởi

Bị tấn công sau buổi thảo luận Nhân quyền

Bị tấn công sau buổi thảo luận Nhân quyền
2015-12-06

NguyenVanDai-622.jpg

LS Nguyễn Văn Đài (thứ 2 từ trái sang), trong một cuộc gặp với các Thượng nghị sĩ Mỹ tại Hà Nội hồi tháng 9/2013.

Photo: RFA

Tin từ Việt Nam cho hay các Luật sư Nguyễn Văn Đài và hai ông Vũ Văn Minh, Lý Quang Sơn bị kẻ lạ mặt tấn công sau khi có cuộc Thảo Luận Nhân Quyền tại Nam Đàn- Nghệ An, trong chiến dịch Tuần lễ Nhân quyền cho Việt Nam.

Ba người đã bị những kẻ đi trong 3 chiếc xe Camry che biển số đánh trọng thương.

Luật sư Đài bị đánh bầm dập, bắt lên xe ô tô ở thị trấn Quán Hành tỉnh Nghệ An đưa đi đâu chưa rõ.