Vài suy nghĩ về cao tốc Ma-dê in Vietnam

 Ba’o Tiếng Dân

Mai Quang Hiền

20-2-2024

– Cao tốc mà mỗi chiều chỉ có 1 làn, không dải phân cách cứng, không làn dừng khẩn cấp, thậm chí còn không có cả chỗ dừng để đi… tè, thì tốt nhất không nên gọi là đường cao tốc để tránh ngộ nhận và thất vọng, gây ảnh hưởng tâm lý.

– Cao tốc mà có biển báo đại khái “làn dừng khẩn cấp cách 1.500m”, tức là thông báo rằng còn 1.500m nữa mới đến chỗ dừng khẩn cấp. Đã gọi là “dừng khẩn cấp” rồi mà còn phải đợi gần 2km mới tới thì không khác gì bên bệnh viện có thông báo “hết giờ cấp cứu”. Mấy bác làm đường này mà cho đi làm bác sĩ sản khoa thì chắc thường xuyên yêu cầu sản phụ… hoãn đẻ.

– Nhiều chỗ đã giải phóng mặt bằng xong rồi mà cũng vẫn không chịu làm thêm làn đường cứu nạn (làn thoát xe, dừng khẩn cấp…). Làn khẩn cấp thì đâu cần phải kiên cố gì lắm đâu mà sợ tốn kinh phí? Cứ đắp đất và trải đá dăm lên để dừng đỗ khẩn cấp cũng được mà nhỉ?

– Trên cao tốc phiên bản 1 làn mà gặp xe tải nặng dẫn đoàn thì coi như cả đoàn phải bò theo hàng chục km. Vì đó mà người ta sinh ra ý tưởng là cứ xa xa lại làm 1 đoạn phình ra để cho các xe vượt nhau. Làm đường vượt đứt đoạn kiểu này nghe có vẻ hợp lý trên lý thuyết, nhưng lại rất bất hợp lý trên thực tế. Tại sao vậy, mời các bác đọc tiếp sẽ hiểu.

– Địa hình thực tế các tuyến cao tốc đều trải qua đồi núi. Các xe tải nặng khi lên dốc thì chỉ bò được với tốc độ 20-40km/h, lúc này các xe khác rất muốn vượt thì lại không vượt được, vì chỉ có 1 làn, và không được phép làm đoạn vượt ở đoạn dốc. Đến chỗ được phép vượt (làn vượt phình ra) thì thường là chỗ chân dốc, địa hình bằng phẳng, lúc này các xe tải nặng đã trở về tốc độ cao (70-80km/h) các xe khác muốn vượt thì buộc phải tăng tốc quá tốc độ cho phép, và đang chạy nhanh thì gặp ngay nút thắt cổ chai gom 2-3 làn thành 1 làn thì rất nguy hiểm. Và vụ tai nạn vừa rồi đã chứng minh điều đó.

– Bỏ qua lỗi quá tốc độ lúc vượt xe. Việc bố trí cứ khoảng 10km thì có 1 đoạn đường vượt dài 1,5km là bất hợp lý. Tôi xin đưa con số tính toán như sau:

Xe tải lúc tới đoạn đường vượt thì thường đạt tốc độ 70-80km/h. Các xe khác muốn vượt thì buộc phải chạy nhanh hơn, nhưng cũng sợ lỗi quá tốc độ và điều kiện đường hẹp, nên cùng lắm cũng chỉ chạy khoảng 90km/h. Tốc độ chênh lệch giữa xe vượt và xe bị vượt là khoảng 5-10km/h. Nếu vượt xong đoạn chiều dài xe container dài 20m, cộng với chiều dài bản thân xe vượt và khoảng cách an toàn (tổng cộng 30m) thì phải mất ít nhất 10 giây, với tốc độ trung bình 85km/h thì xe vượt cần phải chạy ít nhất là 230m thì mới vượt được xe cần vượt. Như vậy, với chiều dài đoạn đường cho phép vượt là 1500m thì chỉ có nhiều nhất là 6-7 xe có thể vượt qua được xe cần vượt phía trước (theo 1 cách trật tự, không ẩu).

Một tuyến cao tốc dài cỡ 100km, mà nếu cứ 10km mới bố trí 1 đoạn vượt theo dự tính, thì cả tuyến chỉ có 10 đoạn được vượt, và với 10 chỗ vượt này thì chỉ có 60-70 xe có thể vượt qua được 1 xe tải. Trong khi thực tế giao thông dịp cao điểm, phía sau mỗi xe tải dẫn đoàn là hàng trăm xe, nếu không tranh thủ vượt nhanh và ẩu thì có đi hết cả tuyến cao tốc cũng không kịp vượt được xe tải phía trước, mà nếu không vượt được thì khi đến đoạn lên dốc lại phải kiên nhẫn rùa bò theo sau nó. (Trên tuyến có quy định tốc độ tối thiểu là 60km/h, nhưng thực tế xe tải nặng khi lên dốc chạy rất chậm, đây cũng là 1 bất cập khác cần xử lý).

Bởi thế mà nhiều tài xế sinh ra tâm lý ức chế, cố gắng bằng mọi cách vượt qua cho được xe tải nặng phía trước. (Tâm lý cố vượt xe container thể hiện rất rõ trong clip tai nạn hôm rồi).

– Hiện trạng thực tế như vậy đã gây ra tâm lý ức chế cho lái xe, khiến lái xe phải chạy nhanh hơn, ẩu hơn, cộng với cách thiết kế làn vượt thiếu khoa học (nút thắt gom làn rất gấp, gom 1 phát 3 làn thành 1, biển báo cộng gờ giảm tốc quá gần khúc cua…) đã gây ra nguy cơ tai nạn rất cao.

Đến đây, đừng bác nào nói lỗi chủ yếu là do tài xế nhé, lỗi chủ quan của người lái xe đương nhiên là sẽ phải trả giá bằng nguy cơ tai nạn cao. Nhưng ở đây tôi nói về lỗi thiết kế, gây ra tỷ lệ rủi ro cao thì chính là lỗi của thiết kế.

– Làm cao tốc Bắc Nam là quá cần thiết. Cần thì phải làm, mà làm thì phải làm cho tới, chứ đừng làm nửa chừng để tạo ra những cái bẫy chết người.

Thiếu tiền thì ráng đi vay mà làm. Vay làm thứ gì còn được, vay làm đường thì tôi ủng hộ.


 

Việt Nam có kế hoạch xuất khẩu 125.000 người lao động trong năm 2024

21/02/2024

Lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Photo Cổng thông tin Chính phủ.

Lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Photo Cổng thông tin Chính phủ.

Việt Nam dự kiến đưa 125.000 người lao động ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng vào năm 2024, tập trung vào các thị trường truyền thống như Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc giữa lúc nước này siết chặt công tác quản lý, ngăn việc lao động ở lại bất hợp pháp.

Thông tấn xã Việt Nam hôm 20/2 dẫn lời một quan chức Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) nói rằng trong năm nay Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 48.000 lao động đến Đài Loan, 63.000 lao động đến Nhật Bản và 8.500 người đến Hàn Quốc.

Việt Nam ưu tiên đưa người lao động ở các vùng miền khó khăn và các đối tượng chính sách đi làm việc ở nước ngoài, ông Nguyễn Như Tuấn, Phó Trưởng phòng Thông tin-Tuyên truyền, Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ LĐ-TB-XH được TTXVN dẫn lời cho biết.

Ông Tuấn cho rằng việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài không đơn giản là tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, xóa đói, giảm nghèo mà còn là cách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước trong tương lai.

Năm 2023, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đạt đỉnh điểm với 155.000 người, trong đó, Nhật Bản tiếp nhận hơn 80.000 lao động; Đài Loan đón hơn 58.000 lao động, Hàn Quốc đón hơn 11.000 lao động.

Hiện có khoảng 650.000 lao động Việt Nam làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH. Trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 140.000 lao động.

Tại Nhật Bản, hiện có khoảng 380.000 lao động Việt Nam, chiếm 18% tổng số lao động người nước ngoài tại nước này, vẫn thống kê trên.

Tại Đài Loan, hiện có 260.000 lao động Việt Nam, chiếm 35% tổng số lao động nước ngoài, trong khi Hàn Quốc đang sử dụng hơn 50.000 lao động Việt Nam, chiếm hơn 11% lao động nước ngoài tại nước này.

Tạp chí Điện tử Lao động và Công đoàn cho biết tính chung hiện có 46.600 người bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp tại các nước, chiếm 6% tổng số lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng.

Trong đó, số người bỏ trốn ở thị trường Hàn Quốc có tỷ lệ cao nhất, với hơn 12.200 người, chiếm tới 26% tổng số lao động sang làm việc ở nước này. Con số này ở Đài Loan là hơn 24.000 người, chiếm 9%; trong khi ở Nhật Bản là gần 4.700 người, vẫn tạp chí trên.

Như VOA đưa tin, vào tháng 8/2022, Việt Nam phải dừng tuyển chọn xuất khẩu lao động đi Hàn Quốc đối với cư dân ở bốn tỉnh gồm Hải Dương, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa theo chương trình Hệ thống Cấp phép Việc làm (EPS) do chính quyền Hàn Quốc siết chặt quy chế cấp thị thực sau khi xảy ra tình trạng lao động cư trú bất hợp pháp, bỏ ra ngoài khi chưa hết hạn hợp đồng hoặc hết hạn không về nước.

Tuy nhiên, vào tháng 1 năm nay, chính phủ Hàn Quốc đã gỡ bỏ lệnh cấm này, nhưng những lao động có thân nhân gồm bố mẹ, vợ chồng, con, anh, chị, em ruột đang cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc sẽ không được tham gia chương trình EPS


 

Phạm Minh Chính ‘mất tích’, lộ hình X-quang cánh tay gãy

February 20, 2024

Bao Dat Viet

Hình chụp phim cánh tay bị gãy của Phạm Minh Chính

Phạm Minh Chính đột nhiên mất tích ít nhất ba ngày trong lúc một ảnh chụp X-quang một cánh tay bị gãy rò rỉ cho thấy tên bệnh nhân là Phạm Minh Chính, sinh năm 1959 và được mổ cấp cứu tại một bệnh viện ở tỉnh Nghệ An, trùng khớp với tin đồn ban đầu.

Ảnh chụp phim X-quang của Chính được cho là rò rỉ từ Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An.

Ngày chụp X-quang và ca mổ không có trong ảnh chụp, ngoài chi tiết “tháng 2/2024”.

Trong khi đó, báo đảng vẫn đưa tin chỉ đạo của Chính nhưng không kèm hình ảnh mới nhất. Chương trình Thời sự VTV vào lúc 7 giờ tối mỗi ngày cũng không thấy Phạm Minh Chính hiện diện, chỉ chỏ như mọi khi.

Trước đó, Phạm Minh Chính vắng mặt làm dấy lên tin đồn cho rằng ông này “bị tông xe gãy tay” trong khi trốn đoàn tùy tùng để làm việc riêng ở tỉnh Nghệ An.

Facebooker Hoàng Dũng cho hay hôm 18/2: “Tin đồn thủ tướng Phạm Minh Chính được cho là bị tai nạn giao thông trong khi trốn đoàn tuỳ tùng để làm việc riêng, cần phải cho điều tra và công bố sớm.

Nếu đúng thủ tướng bị xe máy đâm làm gãy tay thì ngay khi khoẻ mạnh, cần xuất hiện trên TV với cánh tay bị băng bó nhưng vẫn chỉ đạo họp hành. Điều này rất tốt cho thủ tướng, tăng hình ảnh và uy tín lên gấp bội.

Nhưng nếu thủ tướng đi vi hành gặp một số đối tượng ở Nghệ An để bàn bạc sắp xếp ghế trong vài tháng tới thì Tô Lâm cần phải quán triệt và làm rõ. Nguyễn Phú Trọng cũng cần được báo cáo.

Dư luận hỏi liệu đó có phải một vụ ám sát hay không, chắc sẽ không có câu trả lời. Còn nếu đó là tin bịa đặt để gây xáo trộn thì đơn giản thủ tướng chỉ cần lên TV lúc 19 giờ hàng ngày. Đã hai ngày rồi…”

Lần gần nhất Chính xuất hiện trước công luận là thay Võ Văn Thưởng diễn cảnh “xuống đồng cấy lúa” tại một cánh đồng ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, hôm mùng Sáu Tết.

Tại đây, ông này cầm khay mạ non, ngồi trên máy cấy, phát tiền lì xì cho nông dân, để các phóng viên đi theo chụp hình. Người được nhìn thấy đứng cạnh, “diễn phụ họa” cho Chính là Lê Minh Hoan, bộ trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.

Chính và các thuộc cấp tham gia “diễn xuất” tại tỉnh Hải Dương là để quảng bá cho việc ứng dụng cơ giới hóa trong gieo cấy lúa, và đây là mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong sản xuất lúa (cánh đồng không dấu chân nông dân).

Đáng lưu ý, Võ Văn Thưởng không tham gia lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn ở tỉnh Hà Nam vào mùng Bảy Tết năm nay, theo thông lệ hằng năm vốn chỉ dành cho đương kim chủ tịch nước.

Trên mạng xã hội, có ý kiến suy đoán rằng Thưởng muốn tránh cái huông của một số đời chủ tịch nước gần đây hoặc mất ghế (như Nguyễn Xuân Phúc) hoặc qua đời (Trần Đại Quang) không lâu sau khi thực hiện nghi thức xuống đồng cấy lúa tại lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn.

Và nếu đúng là có cái huông này thì Phạm Minh Chính đã nhận lãnh sau khi ngồi máy cấy.


 

Tin nhắn từ một cựu tín đồ chùa Ba Vàng

Ba’o Tieng Dan

Thái Hạo

19-2-2024

Một cựu tín đồ chùa Ba Vàng nhắn cho tôi (tôi đã sửa một số chỗ viết tắt và lỗi văn bản):

Chào Thái Hạo, tôi luôn theo dõi các bài viết của Thầy, rất thời sự, rất đúng và rất có tâm, có tầm.

Xin giới thiệu, tôi là Phật tử chùa Ba Vàng hai năm về trước. Cách đây hai năm tôi đã bỏ vì thấy lối tu không đúng, đụng đâu cũng hô hào cúng dường.

Không bao giờ giải tán được đám u mê đó đâu, vì tất cả họ đã được quy y miễn phí và được kết nạp vào CLB Cúc Vàng do Cô Yến lãnh đạo, có chỉ đạo hàng ngày từ trên xuống dưới, hàng tháng có họp định kỳ trực tuyến.

Có đến 600 đạo tràng trong cả nước trực thuộc CLB Cúc Vàng, cô gọi đến Chùa là đến, cô bảo đi đâu là đi và tất nhiên, người chỉ đạo Cô là Thầy Minh rồi. Các Đạo tràng trưởng được tẩy não để về tẩy não lại cho các Phật tử và QT [quyến thuộc?] là họp hàng tháng qua Zoom có đầy đủ các Phật tử, cô Yến giảng và nhồi nhét các loại kiến thức âm phủ của cô ấy.

Hơn 2 vạn Phật tử về chùa Ba Vàng dự Đại lễ Phật đản, một bài Pháp vĩ ...

Nguy hiểm nhất là con cháu các Phật tử đó cũng tham gia CLB La Hầu La cũng do Cô Yến phụ trách và cũng sinh hoạt hàng tháng qua Zoom, các cháu cũng ngồi nghe cô Yến giảng đạo lý, lồng cả sự mê muội vào.

Không biết ở các đạo tràng khác thì sao, đạo tràng nơi tôi sinh hoạt trước đây thì đạo tràng trưởng mới học hết lớp 4, các thành phần toàn người ít học, người già, người có hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật… mong được hết bệnh hoặc được giải thoát.

CLB Cúc Vàng do bà Yến cầm đầu hoạt động rất mạnh và có các cấp, từ Chùa đến các tỉnh, đến các huyện, các xã và thị trấn, cô Yến bảo ngày mai có mặt ở Chùa thì đố ai dám vắng mặt trừ trường hợp bất khả kháng thôi.

Tôi chỉ muốn thêm tư liệu cho Thầy viết bài, cần gì Thầy cứ nhắn tôi cung cấp thông tin cho.

Tạm đình chỉ các chức vụ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với sư ...

Tôi có nhiều bạn tốt đang theo cô Yến, nói không được, nên tôi không muốn lộ diện, mất tình bạn, Thầy đừng đưa tôi lên nhé.

Chỉ có giải tán CLB Cúc vàng hay Thầy Minh chuyển đi Chùa khác thì may ra dân mới hết u mê.

Hôm mùng 8 [Âm lịch] đúng là đông thật, vì họ huy động 100% các đạo tràng của CLB Cúc Vàng về Chùa để tu Bát Quan Trai và phô trương thanh thế, tôi thấy ở đây các Phật tử đi hết Thầy à. Mang theo cả con cháu, thành phần CLB La Hầu La“.

_____

Xin gửi đến những người và cơ quan có có chức phận quản lý, đề nghị làm rõ tất cả các tổ chức và hoạt động của chùa này, từ đó có những hành động cần thiết, không thể để cho tình trạng lừa dối và trục lợi tiếp tục diễn ra (nếu có).


 

 Đau xót trong ngày mùng 8!Lê Huyền Ái Mỹ

Báo Tiếng Dân

Lê Huyền Ái Mỹ

16-2-2024

Sáng sớm, lướt màn hình, thảng thốt với bản tin “cháy nhà ở quận 10, 4 người tử vong”. Vẫn còn những ngày “mùng mền” ăn Tết. Lại là ngày “phát”, mùng 8, nhiều nơi chọn để mở hàng, khai trương. Thảm kịch xảy ra ở một trong những quận lớn, sát trung tâm. Thiệt đến bốn nhân mạng. Không phải thảm họa đầu tiên cũng chẳng phải thảm kịch cuối cùng. Nhưng cứ mỗi lần xảy ra lại kéo theo, lan ra xa một nỗi đau khác.

Ban đầu, nhìn địa chỉ nhà, những hai dấu xuyệt, nằm trong hẻm sâu, hình ảnh cho thấy những tấm cửa sắt đan kín; Nam Bộ nói chung, TP.HCM nói riêng lại đang những ngày nắng nóng kinh dị nên nghĩ ngay đến chập điện, hoặc một lý do “khách quan” nào đó .

Rồi thấy ông bí thư thành ủy có mặt tại hiện trường, chia sẻ, tìm hiểu sự việc. Nghĩ những ngày đỉnh dịch hồi 2020, ổng cũng xuống địa bàn mấy con hẻm, sau đó cho dời dân “lành bệnh” ra vùng xanh, để tránh lây nhiễm. Việc cứu cấp cái “lửa gần” ấy lại giúp nhìn ra “nước xa”, tức phải tái quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch khu dân cư (nghèo) để không lặp lại thảm kịch nếu đại dịch quay lại, hoặc bùng phát chuẩn mới. Thì nay, liệu thành phố có đủ “vốn” và còn đất để giãn dân, nhất là những khu đô thị có mật độ dân số cao, điều kiện sống thấp?

Nhưng, tới bản tin trưa, báo chí đưa theo cơ quan chức năng, vụ việc “có nhiều dấu hiệu nghi bị do phóng hỏa, vì mâu thuẫn trong gia đình”. Vnexpress đưa ý kiến người dân sống cạnh đó, nói luôn “người đốt là người đòi bán nhà, mấy người kia không chịu bán vì nhà của cha mẹ để lại. Dọa đốt nhà mấy lần rồi…”.

Không “thảng thốt” nổi nữa.

Những “suy diễn” vụn vặt theo chiều hướng quản trị xã hội hay không gian sống đô thị cũng tắt ngúm. Nó, một lần nữa là chuyện tài sản và phân chia tài sản, là xung đột không có lối thoát mà cuối cùng chỉ dắt nhau vào thảm kịch. Còn đó câu chuyện đau lòng đến tột cùng ở Hưng Yên, cũng do tranh chấp tài sản mà ba người con gái đốt nhà mẹ ruột, hậu quả, mẹ và hai con gái chết, người còn lại lãnh án tù 22 năm.

Tôi cũng từng chứng kiến gia đình một chị bạn có tranh chấp tài sản, cũng chín người muốn giữ, một người muốn bán. Một đêm, người duy nhất ấy đổ đầy bình xăng xe, nốc rượu. May mà người nhà nhận thấy dấu hiệu nên dắt con xe ra khỏi nhà, đợi “ông thần” tỉnh rượu để nói chuyện phải trái. Đâu chừng năm sau, căn nhà được bán.

Mình không ở trong tình huống cụ thể, cũng không/chưa vướng vào hoàn cảnh hay nghịch cảnh ấy, sẽ không dám nói đúng sai, phải quấy. Nhưng, lẽ nào sự cùng cực lại đẩy đến việc kêu đòi cho bằng được phải bán, phải chia; để khi không thành thì nảy sinh sự tàn nhẫn, bất chấp, hủy diệt nhau? Lan ra cả nhà bên cạnh, như hệ quả của “đám cháy” về mặt xã hội mà mỗi một hành vi đơn lẻ vẫn có thể gây nên.

Và cả việc “dọa đốt nhà mấy lần rồi” lại không cho thấy đó đã là hiểm họa được báo trước. Hay là lòng người không đoán định được để rồi phải trả giá bằng mạng sống?

Nước xa không thể cứu lửa gần, lại là ngọn lửa mà ta tự châm thì nước đã hóa thành… xăng mất rồi.

Thật đau và xót trước thảm kịch này, ngay trong ngày mùng 8!

Hôm nay, cũng là lễ đàn Pháp hội Dược sư. Trong lời cầu nguyện “Tiêu tai diên thọ, kỳ quốc thới dân an, nguyện phong điều vũ thuận”, xin thành kính tưởng niệm các chiến sĩ, đồng bào đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất quê hương trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược năm 1979, xin hồi hướng bốn sinh linh vừa ra đi…


 

VTV Cần Thơ gỡ tên Petrus Trương Vĩnh Ký theo yêu cầu của ‘dư luận viên’

Ba’o Nguoi-Viet

February 16, 2024

CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Mạng xã hội hôm 16 Tháng Hai dấy lên bàn tán xoay quanh việc đài VTV Cần Thơ, thuộc đài Truyền Hình Việt Nam, đột ngột xóa tên học giả, nhà ngôn ngữ học Petrus Trương Vĩnh Ký khỏi chương trình tạp chí Xuân “Năm Rồng Trên Đất Chín Rồng.”

Theo đó, ở phút 4:28 của phóng sự dài 55 phút, nhà đài đục bỏ hình ảnh và tên tuổi của ông Petrus Ký. Đoạn video clip này trên YouTube VTV Cần Thơ cũng đã bị gỡ bỏ.

Hình ảnh ông Petrus Trương Vĩnh Ký trước và sau trên đài truyền hình VTV Cần Thơ. (Hình: Chụp qua màn hình)

Trong kịch bản ban đầu, tên tuổi ông Petrus Ký được nhắc đến trong số các danh nhân lịch sử tiêu biểu của vùng đất “địa linh nhân kiệt,” cạnh những nhân vật như như Bác Vật Lang, Trần Văn Khê, Nguyễn Đình Chiểu, Lương Định Của, Cao Văn Lầu, Lưu Hữu Phước, Trương Định…

Việc VTV Cần Thơ gỡ clip về ông Petrus Ký diễn ra sau khi đài VTV1 cũng của đài Truyền Hình Việt Nam gỡ clip “Khát Vọng Non Sông” về nhân vật này.

Hành động nêu trên của nhà đài được cho là để đáp ứng yêu cầu của giới “dư luận viên” lâu nay cho rằng ông Petrus Ký “có tội nhiều hơn có công.”

Trong số này, trang Facebook “Tifosi” lên tiếng chỉ trích đài VTV cho rằng việc VTV đặt ông Pétrus Ký cùng với những “anh hùng, nhà cách mạng, nhà tư tưởng và yêu nước lớn của dân tộc” là “một sự xúc phạm to lớn.”

Trang này còn cho rằng VTV đã cố gắng “tẩy trắng” cho ông Pétrus Ký, cũng như mô tả đây là “những âm mưu rõ ràng là có ý đồ, như muốn len lỏi bào chữa cho những con người phản bội lại lợi ích quốc gia, dân tộc.”

Liên quan chủ đề nêu trên, Facebooker Nguyễn Huynhthi Ái đặt câu hỏi trên một diễn đàn: “Vậy công-tội của một nhân vật lịch sử được xét như thế nào? Dưới nhãn quan nào? Phải chăng công-tội cần được xét dưới nhãn quan của chính quyền hiện nay?”

Tại Sài Gòn, tượng Petrus Trương Vĩnh Ký trước đây được đặt ở công viên trước Dinh Độc Lập, sau này gọi là công viên 30 Tháng Tư.

Sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975, bức tượng được đưa về Bảo Tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Theo Wikipedia, đối với báo chí viết bằng chữ Quốc Ngữ tại Việt Nam, ông Pétrus Ký được coi là người tiên phong vì đã sáng lập, làm tổng biên tập tờ báo viết chữ quốc ngữ đầu tiên mang tên Gia Định Báo.

Một phim tài liệu về ông Petrus Trương Vĩnh Ký phát trên VTV1 đài Truyền Hình Việt Nam. (Hình: Chụp qua màn hình)

Ở Sài Gòn trước năm 1975 có tới hai con đường mang tên ông Pétrus Ký với hai tên khác nhau. Đường Petrus Ký của đô thành Sài Gòn nay là đường Lê Hồng Phong ở quận 5 và quận 10, còn đường Trương Vĩnh Ký của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Nguyễn Văn Bảo ở quận Gò Vấp.

Hiện nay vẫn còn một con đường mang tên ông tại quận Tân Phú, Sài Gòn. Ngoài ra còn có một trường trung học tư thục mang tên ông ở quận 11, Sài Gòn, và một ngôi trường mang tên ông tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. (N.H.K) [qd]


 

Ông Trương Tấn Sang nhắc nhớ Đảng Cộng Sản về hiểm họa Trung Cộng chăng?

Báo Lề Phải đăng ở vị trí khiêm tốn cảnh ông Trương Tấn Sang đi viếng các liệt sĩ trong cuộc chiến bảo vệ Hà Giang chống Trung Cộng xâm lăng.

Ông cựu chủ tịch nước từng có câu nói nổi tiếng: “Quân Đội là để bảo vệ Tổ Quốc và cần phải được độc lập”

 

Đây là năm thứ hai, ông Sang đến tưởng niệm cầu siêu cho các chiến sĩ hy sinh ở Vị Xuyên.

 

Cùng đi dự lễ còn có cựu phó thủ tướng thất sủng, Vũ Đức Đam

Từ Hà Nội, giáo sư Nguyễn Đồng Cống, nêu ý kiến với đài VOA rằng sự kiện ngày 17/2/1979 là bài học lịch sử mà các thế hệ người Việt nên ghi nhớ.

“Cuộc chiến năm 1979 ở biên giới rõ ràng là một hành động tráo trở của Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình. Ông Đặng Tiểu Bình ngang nhiên cho rằng phải dạy cho Việt Nam một bài học. Nguyên nhân sâu xa là Trung Quốc đánh để trả thù việc quân Việt Nam đánh Pol Pot ở Campuchia trong lúc Pol Pot được Trung Quốc ủng hộ rất mạnh”.

“Đó là một cuộc chiến tranh mà dân Việt Nam phải ghi nhớ”, vị giáo sư ngành xây dựng, từng nhận danh hiệu “Nhà Giáo Nhân Dân” và đã từ bỏ Đảng, nhấn mạnh.

Bản tuyên bố nhắc lại biến cố này với việc Bắc Kinh “xua 600,000 quân chiến đấu và phục vụ chiến đấu cùng 400 xe tăng xâm lược Việt Nam…”.

Bà Sương Quỳnh ở Đà Lạt, một thành viên của CLB Lê Hiếu Đằng, nêu ý kiến cá nhân của bà với VOA:

“Chúng tôi mong muốn nhà cầm quyền Việt Nam phải công nhận cuộc chiến này, không vì lý do gì, vì lịch sử là lịch sử, để người dân Việt Nam biết về sự thật của cuộc chiến đẫm máu này. Tôi ủng hộ những lời kêu gọi của các trí thức và muốn rằng chính quyền Việt Nam phải lắng nghe những điều đó”.

Các nhóm dân sự và các trí thức này nhận thấy rằng từ trước đến nay nhà nước không tổ chức lễ tưởng niệm 17/2, nhưng họ cùng các nhóm độc lập khác và cộng đồng mạng “lề dân” thường tổ chức thắp hương ở các khu vực khác nhau để ghi nhớ sự kiện này.

Trưa 17-2, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng phu nhân và đoàn công tác đã đến nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang) dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ.

 
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dâng hương tưởng nhớ liệt sĩ tại nghĩa trang Vị Xuyên - Ảnh: VŨ TUẤN

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dâng hương tưởng nhớ liệt sĩ tại nghĩa trang Vị Xuyên – Ảnh: VŨ TUẤN

Cùng tham gia lễ dâng hương có Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, quyền Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Nguyễn Mạnh Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Văn Sơn cùng các lãnh đạo tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang…

Ông Trương Tấn Sang và đoàn đã thỉnh chuông tại đền thờ liệt sĩ, ghi sổ lưu niệm và dâng hoa tưởng nhớ các liệt sĩ tại nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác dâng hoa tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ - Ảnh: VŨ TUẤN

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác dâng hoa tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ – Ảnh: VŨ TUẤN

Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên, nơi an nghỉ của hơn 1.800 liệt sĩ cùng một mộ tập thể các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc để bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc từ năm 1979 – 1989.

Nghĩa trang được khởi công xây dựng từ năm 1990. Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên mới được nâng cấp, mở rộng quy mô hơn 10ha, trở thành một công trình tưởng niệm mang dáng dấp của một công viên giữa chập chùng núi đá vùng biên giới Hà Giang.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác dâng hương tại đền thờ - Ảnh: VŨ TUẤN

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác dâng hương tại đền thờ – Ảnh: VŨ TUẤN

Trong cuộc chiến đấu này, các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất, quyết tâm giữ vững từng mỏm đồi, vách đá, điểm cao bằng tinh thần quả cảm “Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử”.

Riêng tại mặt trận Vị Xuyên, hơn 4.000 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hơn 9.000 người bị thương và hiện vẫn còn hàng nghìn hài cốt của chiến sĩ nằm rải rác trong khe đá, thung sâu chưa tìm thấy và quy tập được.

Báo Tuổi Trẻ nhấn mạnh, họ không quên cuộc chống xâm lăng: “45 năm đã qua, chiến công và tên tuổi của các anh hùng liệt sĩ đã trở thành bất tử, khắc ghi vào lịch sử dân tộc và mãi mãi được ghi nhớ trong tâm trí mỗi thế hệ người dân Việt Nam.”

Thỉnh chuông tại đền thờ liệt sĩ Vị Xuyên - Ảnh: VŨ TUẤN

Thỉnh chuông tại đền thờ liệt sĩ Vị Xuyên – Ảnh: VŨ TUẤN

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các đại biểu dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ, tri ân công lao các anh hùng liệt sĩ đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc…

Trong chương trình công tác, cùng ngày nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài hương 468 ở xã biên giới Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên; khánh thành, bàn giao điểm trường Bản Hình ở xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên; thăm hỏi, tặng quà và mời cơm 220 cựu chiến binh huyện Vị Xuyên.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự lễ bàn giao nhà và ...

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm và làm việc tại Hà Giang - Đài  Phát thanh và Truyền hình Hà Giang

Viết trong sổ tưởng niệm tại Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên, Trương Tấn Sang viết: “Ngày 17 tháng 2 năm 2019. Đời đời nhớ ơn các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước. Đảng, Tổ quốc, Nhân dân đời đời ghi nhớ công lao của các anh hùng, liệt sĩ đã chiến đấu anh dũng, bảo vệ biên cương Tổ quốc trong giai đoạn tháng 2-1979 ở biên giới phía Bắc và kéo dài cả 10 năm ròng rã; đầy hy sinh nhưng cũng đầy khí phách Việt Nam! Kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các đồng chí!”.

Họ (Các nhà hoạt động dân chủ yêu nước) cũng cho VOA biết rằng việc tưởng niệm này, dù với quy mô rất nhỏ, vẫn thường thì bị chính quyền ngăn cản, cấm đoán.

“Việt Nam là quốc gia láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam cần một môi trường hòa bình, hợp tác bình đẳng, cùng phát triển. Nhưng lịch sử là lịch sử, lịch sử phải được đánh giá đúng và không lãng quên, vì lịch sử tự vệ của Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược là máu xương của toàn dân tộc qua 4.000 năm lịch sử”, bản tuyên bố chung viết.

Các nhóm xã hội dân sự cho rằng biến cố ngày 17/2/1979 và những gây hấn liên tiếp trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam cho đến hôm nay đã cho toàn thể nhân dân Việt nam cũng như toàn nhân loại hiểu một cách chính xác “quyền lợi quốc gia dân tộc của Trung Quốc và của Đảng Cộng sản Trung Quốc là tối thượng, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ ai, bất cứ lúc nào, khi cần thiết”.

Tuyên bố nhận định rằng các khẩu hiệu “đồng chí”, “cùng hệ tư tưởng”, “cùng chung vận mệnh” chỉ là “xảo trá lừa dối, chẳng có ý nghĩa gì trong quan hệ giữa hai nước”.

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đưa quân tấn công 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, gồm Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Báo chí trong nước đưa tin Bắc Kinh đã “huy động cả hải quân và không quân”, với 60 vạn quân và hàng trăm xe tăng, xe bọc thép và hàng ngàn khẩu pháo mở đầu cuộc tấn công. Ngày 5/3/1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên. Trong cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu chiến tranh, chiến thắng và bắt đầu rút quân.

Các nhóm dân sự và các trí thức này nhận thấy rằng từ trước đến nay nhà nước không tổ chức lễ tưởng niệm 17/2, nhưng họ cùng các nhóm độc lập khác và cộng đồng mạng “lề dân” thường tổ chức thắp hương ở các khu vực khác nhau để ghi nhớ sự kiện này.

Hồi tháng 1/2022, trong một động thái được dư luận chú ý, Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Minh Chính, đến thắp hương tại Khu tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Pò Hèn, thuộc thành phố Móng Cái, Quảng Ninh, để tưởng niệm các liệt sỹ của đất nước đã ngã xuống trong cuộc chiến này.

Từ trước đến nay chính quyền thường kiểm soát chặt chẽ các hoạt động đông người liên quan đến yếu tố Trung Quốc và ngăn cấm các hoạt động tưởng niệm do các nhóm dân sự tổ chức.

“Tôi thấy ông Thủ tướng có đi thắp hương, nhưng người dân đi tưởng niệm thì bị ngăn cản”, bà Sương Quỳnh bày tỏ.

Trả lời phỏng vấn đài VOV hôm 16/2 về cuộc chiến này, giáo sư Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nêu nhận định: “Chúng ta nhìn lại sự kiện này, định vị về tính chất của cuộc chiến này không phải là để khắc sâu hận thù mà là để nhắc nhở trong quan hệ hai nước có một vết hằn như vậy, có một cái hố ngăn cách như vậy”.

“Bây giờ chúng ta bước qua cái hố đó bằng cây cầu hữu nghị. Chúng ta luôn luôn nhớ là dưới cầu là có cái hố ấy như một sự nhắc nhở trong tương lai không bao giờ để nó tái diễn”, vẫn lời giáo sư Giang.

 

 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tuổi Rồng

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cận Tết năm Thìn, Marianne Brown (Guardian Weekly) có bài “Vietnam’s parents want a dragon son.” Trời! Tưởng gì, chớ cả Tầu lẫn Ta ai mà không muốn có con trai tuổi Rồng.

Nhâm Thìn, tất nhiên, lại càng bảnh dữ nữa. Nam nhâm nữ quí thì sang mà lị. Theo tuviso.com: “Tuổi Nhâm Thìn có nhiều hy vọng tốt đẹp về vấn đề tình duyên và tương lai về cuộc sống, có phần tốt đẹp về tình cảm và tài lộc, vào trung vận và hậu vận thì được nhiều tốt đẹp về hạnh phúc, công danh có phần lên cao.”

Hổng dám “cao” đâu! Phạm Viết Đào, Trần Đức Thạch, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thành đều nhâm thìn hết trơn đó chớ nhưng hậu vận – rõ ràng – lận đận (thấy bà luôn) chớ có “tốt đẹp” hay “hạnh phúc” khỉ mốc gì đâu. Cả bốn ông đều đã (hoặc đang) trong hộp!

FB Lê Văn Sơn cho hay:

“Vào buổi sáng … ngày 23/5/2020, nhà báo tự do Nguyễn Tường Thụy bị nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đang khám nhà và đọc lệnh bắt giam. Ông Thụy là Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập.

Nhà văn Phạm Chí Thành, có bút danh là Phạm Thành, người gốc Thanh Hóa, sống tại Hà Nội. Thường biết đến như là chủ trang blog Bà Đầm Xòe đã bị cộng sản Hà Nội bắt giam ngày 21/5/2020 với cái gọi là ‘Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ theo điều 117 BLHS 2015.

Trước đó, vào ngày 23/4/2020, nhà thơ Trần Đức Thạch, người Nghệ An bị bắt với cái gọi là ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ theo điều 109 Bộ luật hình sự.

Có một vài điểm chung của 3 nhà yêu nước, các ông đều sinh năm 1952. Ông Thụy, ông Thạch là cựu chiến binh. Ông Phạm Thành từng giữ chức vụ thư ký tòa soạn của Đài phát thanh Việt Nam.”

Thực ra thì chả riêng gì ông Thụy, với ông Thạch mà cả bốn ông đều đã từng là cựu chiến binh ráo trọi. Sau một cuộc chiến tương tàn, họ mới (chưng hửng) nhận ra rằng chống Mỹ chả cứu được ai mà chỉ để dọn đường cho Tầu xâm lược Việt. Tệ hơn nữa là sau tháng 4 năm 1975 thì cả hai miền – Nam/Bắc – đều bị đặt dưới sự thống trị của một tập đoàn lãnh đạo bất xứng, bất tài, ngu dốt, tham lam, và lệ thuộc ngoại bang.

Bởi thế nên sau khi buông súng thì Phạm Viết Đào, Trần Đức Thạch, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thành cầm bút. Chính ngòi viết, và những vấn đề thường được xuyên được họ đặt ra (chủ quyền đất nước và vô số những bất cập của chế độ hiện hành) đã khiến cả bốn đều bị bắt giam, chứ chả phải vì tuổi rồng hay tuổi rắn gì đâu.

Mà rồng rắn, nói nào ngay, cũng có này con nọ. Hanh thông hay lận đận còn tùy vào thái độ sống của từng người. Xin đan cử một thí dụ, một con rồng khác (Nguyễn Thế Thảo) để rộng đường dư luận.

Theo Wikipedia: “Ông sinh ngày 21 tháng 3 năm 1952, nguyên quán tại xã Nhân Hòa, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông là Kiến trúc sư tốt nghiệp tại Ba Lan, Tiến sĩ Kinh tế và Lý luận Chính trị cao cấp… là một cựu chính khách Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IXX và XI, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhiệm kỳ (2007 – 2015), Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI và XII, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh… Sau Đại hội XII năm 2016 ông nghỉ hưu.”

Tuy sinh cùng thời và cùng nơi nhưng Phạm Viết Đào, Trần Đức Thạch, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thành đều đi vào nơi lửa đạn còn Nguyễn Thế Thảo thì đi du học. Thảo có đủ thử bằng cấp, kể cả bằng Tiến Sỹ Lý Luận Chính Trị (và đại biểu quốc hội nhiều khóa) nhưng không bao giờ mở miệng trước mọi vấn đề cấp thiết của đất nước: Bauxit, Vinashin, Formosa, Giàn Khoan …

Lần duy nhất ông đã lên tiếng (vào hôm 13 tháng 7 năm 2012) là để phê phán những cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, và cáo buộc những người người tham gia khiếu kiện về đất đai là gây phức tạp an ninh – trật tự.” Tuy “kín tiếng” nhưng Nguyễn Thế Thảo lại có nhiều sáng kiến và hành động thì vô cùng quyết liệt.

Ông là tác nhân chính trong vụ đốn hạ 6700 cây xanh (trên 190 tuyến phố ở Hà Nội) và chính là tác giả của những vở kịch “cắt đá” hay “múa đôi” vẫn được trình diễn hằng năm, cho mãi đến hôm nay. Cứ đến ngày 17 tháng 2, khi người dân Hà Nội đến trước tượng đài Lý Thái Tổ để tưởng niệm những chiến sỹ đã hy sinh để bảo vệ biển đảo và biên giới (Việt /Trung) thì thế nào cũng có những màn ca vũ … “tự phát” để giúp vui cho thêm phần … rôm rả!

T.S Nguyễn Xuân Diện có nhận xét rằng Nguyễn Thế Thảo “đã để lại một nhiệm kỳ tồi tệ và không có một di sản gì đáng kể.” Nhà báo Trương Duy Nhất thì có cái nhìn hơi khác. Theo ông dấu ấn đậm nét nhất mà Nguyễn Thế Thảo lưu lại trong lòng người Hà Nội là hình ảnh “một con rắn khổng lồ, án ngữ trên tầng trung tâm của Thủ đô: tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông.”

Chắc hẳn là ông Nguyễn Thế Thảo không bận tâm chi nhiều về dăm ba điều tiếng eo sèo thượng dẫn. Điểm chính là là ông đã hạ cánh an toàn và sẽ có một cuộc sống phú túc, an nhàn, và dật lạc – thế thôi. Thế mới biết hậu vận của chúng ta không tùy vào tuổi tác mà tùy vào cách ứng xử của từng người. Kẻ đốn cây, người đốn chữ. Kẻ ngồi mát ăn bát vàng và kẻ ngồi tù đếm lịch.

Và hậu vận đất nước cũng tùy thuộc không ít nhiều vào hậu vận của con dân. Xứ sở càng nhiều những con rồng vinh thân phì gia nhờ cõng rắn thì tương lai đất nước càng khốn nạn.


 

Chủ tịch xã ở Lâm Đồng treo cổ chết vào Mùng Năm Tết

February 14, 2024

Ba’o Nguoi-Viet

LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Nhà chức trách xác nhận ông Lê Viết Thống, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, treo cổ chết ngay tại cơ quan vào hôm 14 Tháng Hai, tức Mùng Năm Tết Giáp Thìn 2024.

Theo báo Thanh Niên, vụ việc được một số công chức phát giác khi họ đến cơ quan trực Tết.

Sự việc xảy ra ngay tại trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (Hình: Thanh Niên)

Bản tin cũng dẫn lời một cán bộ xã Lộc Nga rằng những ngày gần đây, ông Thống “không có biểu hiện gì bất thường.”

Công An Tỉnh Lâm Đồng được ghi nhận xuất hiện tại hiện trường và tiến hành giảo nghiệm tử thi để điều tra nguyên nhân vụ treo cổ.

Trước vụ này, cứ vài ba tháng, các báo ở Việt Nam lại tường thuật một vụ giới chức nhà nước treo cổ chết ngay tại cơ quan nhưng không công bố nguyên nhân cụ thể là do vấn đề cá nhân hay có sai phạm trong công tác.

Trong một vụ xảy ra gần đây, theo báo Lao Động hồi trung tuần Tháng Mười Hai năm ngoái, ông LVĐ, 40 tuổi, phó trưởng Phòng Nội Chính, Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Cà Mau, treo cổ chết ngay tại tầng bốn của cơ quan này.

Bản tin dẫn lời người nhà của ông Đ. cho biết, trước khi sự việc xảy ra, ông này “có biểu hiện thường xuyên mất ngủ” nhưng không rõ liệu ông có bị trầm cảm hay không.

Người nhà đã tìm kiếm ông LVĐ từ ngày hôm trước cho đến khi được cơ quan gọi thông báo tin buồn.

Trước đó, trong một vụ tự sát cũng xảy ra ở tỉnh Cà Mau, vào ngày 11 Tháng Mười Hai cùng năm, thi thể ông TTH, 46 tuổi, giám đốc Trung Tâm Đăng Kiểm Tàu Cá Tỉnh Cà Mau, được phát giác trong phòng làm việc. Theo hồ sơ của công an địa phương, trên thi thể ông H. có tổng cộng 13 vết thương ở vùng bụng và ngực.

Một lá thư tuyệt mệnh được cho là do ông H. để lại có nội dung xin lỗi mọi người và vợ con.

Cũng theo báo Lao Động, ông H. căn dặn trong thư rằng gia đình không yêu cầu giảo nghiệm tử thi và đem thi thể đi thiêu, sau đó lấy tro cốt gửi vào chùa.

Đến nay, công luận không thấy các báo ở Việt Nam cập nhật kết quả điều tra của công an sau vụ tự sát của hai giới chức nêu trên. (N.H.K)


 

Kể chuyện đêm giao thừa: Nỗi buồn của ông Nguyễn Xuân Phúc

Chính trị gia trong thể chế cộng sản là vậy, cho dù đương chức hoặc “về vườn đuổi gà”, vẫn ăn không ngon, ngủ chẳng yên, lo sợ đủ điều.

Báo Tiếng Dân

Mai Hoa Kiếm

9-2-2024

Từng ngồi ghế thủ tướng, chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng An ninh, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, Nguyễn Xuân Phúc được xem là người ở trên tận cùng của đỉnh cao quyền lực. Tuy nhiên, song hành với ông ngoài tiền bạc, vật chất, niềm vui, hạnh phúc… nguyên thủ quốc gia quyền lực ngút trời như ông cũng không tránh khỏi cay đắng, tủi nhục, khi rời chính trường và ông đã phải ôm những nỗi buồn nuốt không trôi theo suốt cuộc đời mình.

Nỗi buồn thứ nhất

Vào những ngày giáp tết năm ngoái, ngày 17-1-2023, tức 26 tháng Chạp năm Nhâm Dần, Hội nghị Trung ương bất thường đã tước bỏ mọi chức vụ trong đảng đối với Nguyễn Xuân Phúc. Một ngày sau, quốc hội “đảng cử dân bầu” tiếp tục làm cú bất thường, bắt ông trả hết “áo mão cân đai” chủ tịch nước, để về làm thứ dân.

Đây là nỗi nhục có lẽ sẽ bám theo ông suốt cả cuộc đời, khi các “đồng chí” của ông chọn thời điểm để truất phế ông, loại bỏ ông đúng vào dịp Tết Nguyên đán, dịp mà người ta chỉ mang đến những điều tốt đẹp, may mắn cho nhau!

Những kẻ hàng ngày tay bắt mặt mừng, ôm hôn thắm tình đồng chí… nay đã quay lưng, tráo trở nhanh quá. Những kẻ cùng “nền tảng tư tưởng” với ông đã lần lượt bắt giam những người thân, ruột thịt trong gia đình ông: Trần Văn Tân, Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Nguyễn Bạch Thuỳ Linh… Thậm chí chúng còn đe doạ bắt cả vợ con ông, để buộc ông phải viết đơn xin thôi chức, về vườn.

Có lẽ ông Phúc sẽ không bao giờ quên mùa Xuân chạm ngõ năm ngoái. Chỉ còn vài ngày nữa là tới lần thứ hai ông gởi lời chúc Tết đến cả nước, bỗng dưng “tổng đà chủ” Nguyễn Phú Trọng nhảy vào, giành mất cái quyền của nguyên thủ quốc gia, lên sóng truyền hình đêm giao thừa của ông.

Là “nhân sự đặc biệt” khoá 13, Nguyễn Xuân Phúc ngồi ghế chủ tịch nước chỉ hơn 21 tháng (5-4-2021 đến 18-1-2023), là điều hiếm có trong chế độ cộng sản!

Vợ chồng ông Nguyễn Xuân Phúc tại nhà riêng. Nguồn: Mai Hoa Kiếm/ dành riêng cho Tiếng Dân

Nỗi buồn thứ hai

Ở trong Bộ Chính trị liên tiếp ba nhiệm kỳ, Nguyễn Xuân Phúc không đủ thủ đoạn, mưu lược, lẫn tài ứng biến để cài cắm người của ông vào hàng ngũ lãnh đạo cấp cao. Vì thế, trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, không hề có “đệ tử” của ông Phúc. Cho nên, khi ông bị bao vây, bị phê bình chỉ trích, bị tấn công tới tấp nhằm tước bỏ quyền bính, thì không có ai đứng ra bảo vệ ông.

Trước và sau thời điểm ông Phúc bị đồng đảng đưa ra “làm thịt”, đám đàn em của ông cũng bị các “đồng chí” đem ra làm bia để nhả đạn:

Nguyễn Văn Hùng, Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban Kiểm tra Trung ương, bị dồn ép đến nhảy lầu siêu thoát hôm 21-11-2022, ở tuổi 59.

– Trần Văn Minh, Phó Chánh Thanh tra Chính phủ, bị bức tử, treo cổ tại nhà riêng vào ngày 4-3-2023, ở tuổi 56.

– Phan Việt Cường, bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam, đã phải rời bỏ nhiệm sở, xin nghỉ việc, về hưu non, khi còn hai năm nữa mới hết nhiệm kỳ. Cùng lúc, tập thể Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, các Phó bí thư, các Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, lãnh đạo UBND tỉnh, giám đốc các sở ban ngành Quảng Nam đều bị dính kỷ luật. Kẻ bị khai trừ, người bị cách chức, cảnh cáo… không kể hết.

Trần Đức Quận, bí thư Tỉnh uỷ và Trần Văn Hiệp, chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, hai “đệ tử ruột” và là đồng hương Quảng Nam – Đà Nẵng của ông Phúc cũng bị giăng bẫy, bị mời ra Hà Nội “họp đột xuất” rồi bắt giam luôn mà không cần báo cho hệ thống chính trị tỉnh Lâm Đồng biết tin.

– Nguyễn Công Khế, người bạn thâm tình với Nguyễn Xuân Phúc đã bị tống giam hơn ba tuần trước. Khế chơi với ông Phúc từ những năm đầu của thập niên 1980, khi ông Phúc chỉ là chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Một sự trùng hợp lạ lùng là vụ án mà Khế bị dính, lại có bút phê của ông Phúc, khi ông làm bộ trưởng.

Nỗi buồn thứ ba

Cha ông Phúc là cụ Nguyễn Văn Hiền, sinh năm 1917, hiện sống tại Đà Nẵng. Cụ Hiền theo Việt Minh, sau tập kết ra Bắc, huy hiệu 75 năm tuổi đảng. Mẹ ông Phúc là bà Nguyễn Thị Đằng (1922-1966), là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cả mẹ và chị gái ông đều là liệt sĩ. Ông Phúc còn có anh ruột Nguyễn Quốc Dũng, là Anh hùng Lực lượng Vũ trang.

Vợ ông Phúc là bà Trần Thị Nguyệt Thu, sinh năm 1962. Bà Thu là con gái của ông Trần Văn Dõng (1931-1968) và bà Võ Thị Cương, sinh năm 1934. Bà Cương theo du kích quân từ năm 18 tuổi. Sau này bà Cương mở hiệu may Kim Cương tại Cầu Vồng, đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), Đà Nẵng. Vì làm giao liên và tiếp tế cho Việt Cộng, nên bà bị bắt giam, giai đoạn 1969-1971. Ông Dõng tập kết ra Bắc, sau quay lại chiến trường Quảng Nam và bị phục kích, hy sinh năm 1968, để lại cho bà Cương năm người con.

Kể dông dài như vậy để thấy ông Nguyễn Xuân Phúc có lý lịch “đỏ rực” như thế nào. Với truyền thống gia đình, bề dày công tác, bản lĩnh chính trị như vậy, nhưng ông vẫn bị đánh văng khỏi “tứ trụ” khi đang ở trên đỉnh cao quyền lực, chưa kể các “đồng đảng” của ông lựa đúng thời điểm giáp Tết để truất phế ông, thử hỏi có nỗi buồn nào lớn hơn?

Nỗi buồn thứ tư

Vợ ông, bà Trần Thị Nguyệt Thu có một chị gái tên là Trần Thị Nguyệt Phương, sinh năm 1960. Bà Nguyệt Phương là giáo viên đã nghỉ hưu, có chồng là doanh nhân thành đạt ở Đà Nẵng.

Trong đại dịch Covid 19, vợ chồng bà Nguyệt Phương cũng đã đóng góp nhiều tỷ đồng cho địa phương chống dịch. Mẹ của hai bà Nguyệt Phương và Nguyệt Thu, cụ Võ Thị Cương cũng ủng hộ “quỹ vacine chống dịch” 100 triệu đồng.

Vợ chồng bà Trần Thị Nguyệt Phương, em vợ và em cột chèo của ông Phúc. Nguồn: Tác giả gửi riêng cho Tiếng Dân

Bà Võ Thị Cương, mẹ vợ ông Nguyễn Xuân Phúc và số tiền ủng hộ quỹ vaccine 100 triệu đồng, cùng thư cảm ơn của MTTQ gửi gia đình bà. Nguồn: Ảnh độc quyền của Tiếng Dân

Đại án Việt Á liên quan test kit nổ ra. Cơ quan điều tra không dám công khai 80% cổ phần đáng ngờ trong công ty Việt Á, khiến dư luận xã hội có nhiều suy đoán. Cổ phần Việt Á là của sân sau quan chức, hay của các đồng chí “nước lạ”?

Chỉ biết rằng, sự lập lờ của đảng khi bắn thông tin ra ngoài, khiến bàn dân thiên hạ cứ đồn thổi, thêu dệt, gán ghép bà Trần Thị Nguyệt Thu là “trùm cuối”. Thực tế, thông tin này không đúng, nhưng ông Phúc không thể giải bày, bởi ông vừa lên tiếng phân bua “Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng, liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp giám đốc Việt Á… ” thì ông đã bị Tuyên giáo cho báo chí… bịt miệng! Điều này khiến ông ôm nỗi buồn vô tận.

Nỗi buồn thứ… n

Sẽ không kể hết được những nỗi buồn của Nguyễn Xuân Phúc, một người Quảng Nam, có mặt trong Bộ Chính trị ba khóa 11, 12 và 13 (Riêng người Quảng Nam có mặt liên tục trong Bộ Chính trị 6 khoá, từ khoá 8 đến khoá 13). Khi ông Phúc rời chính trường, đại diện Quảng Nam sẽ chấm dứt hiện diện trong Bộ Chính trị nhiều khoá tiếp theo, vì không có bất kỳ gương mặt nào nổi trội.

Trong một diễn biến khác, dàn cán bộ, đàn em của ông Phúc bị đánh te tua ngay trên đất Quảng Nam. Quảng Nam hết nhân sự, đồ đệ của Nguyễn Bá Thanh là Lương Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1976, là ủy viên dự khuyết Trung ương khoá 13 đã … “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Mới đây, Triết được Trung ương bổ nhiệm làm bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam, thay cho Phan Việt Cường, một đàn em của ông Phúc vừa bị mất chức.

Nguyễn Xuân Hiếu là quý tử của Nguyễn Xuân Phúc. Từ khi Hiếu ở Mỹ quay về Việt Nam, Hiếu vẫn loay hoay công tác Đoàn, chưa biết tương lai sẽ về đâu. Chức vụ “loằng ngoằng” của Hiếu hiện nay là Ủy viên Ban chấp hành, Phó Trưởng ban Đoàn kết tập hợp Thanh niên Trung ương Đoàn, Ủy viên Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam.

Ảnh: Quý tử Nguyễn Xuân Hiếu. Nguồn: Mai Hoa Kiếm/ Tiếng Dân

Chính trị gia trong thể chế cộng sản là vậy, cho dù đương chức hoặc “về vườn đuổi gà”, vẫn ăn không ngon, ngủ chẳng yên, lo sợ đủ điều.

Quan địa phương thì sợ bị khởi tố, phải “nôn” ra cho quan trên, cống nộp lại tài sản cướp được bao nhiêu năm cho đồng đảng. Quan triều đình thì sợ bị “đánh bã”, chết bất đắc kỳ tử, sợ bị biến thành “củi” ném vào lò. Cán bộ cấp cao thì sợ các cuộc thanh trừng, giết người diệt khẩu.

Đáng sợ hơn, là bị đầu độc phóng xạ, để rồi dở sống, dở chết, người không ra người, ngợm không ra ngợm. Ông Phúc con giữ được mạng khi về với vợ con, kể ra cũng còn may hơn Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh…


 

Triều cường ngày Tết ‘nhấn chìm’ nhiều nhà dân, đường sá ở miền Tây

Ba’o Nguoi-Viet

February 13, 2024

TIỀN GIANG, Việt Nam (NV) – Sáng Mùng Bốn Tết Giáp Thìn, nhiều tuyến đường, con hẻm ở miền Tây bị ngập sâu do triều cường dâng cao, nước bẩn tràn vào nhiều nhà dân gây đảo lộn cuộc sống.

Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, từ chiều tối 13 Tháng Hai, triều cường (một trong bốn chu kỳ của thủy triều, bao gồm ngập triều [nước lớn], triều cường, triều rút [nước ròng] và triều thấp) tiếp tục dâng cao làm nhiều tuyến đường ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đặc biệt là khu vực bùng binh Trung Lương, bị ngập nặng.

Nhà dân ở khu vực chợ Cầu Cống, phường 10, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bị nước ngập do triều cường. (Hình: Hoài Thương/Tuổi Trẻ)

Cụ thể, khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, khu vực chợ Cầu Cống thuộc phường 10, thành phố Mỹ Tho, tiếp tục bị ngập nặng, nhiều đoạn ngập cả bánh xe, khiến việc đi lại của người dân rất vất vả.

Đặc biệt, một số nhà của người dân ở khu phố 3, phường 10, thành phố Mỹ Tho, bị ngập nặng, nước dâng cao hơn nửa mét, buộc người dân phải kê đồ đạc lên cao tránh bị ướt, cuộc sống sinh hoạt thường ngày bị đảo lộn.

Nói về nguyên nhân gây ngập nặng, công ty Khai Thác Công Trình Thủy Lợi Tiền Giang cho biết do sông Tiền bị nước mặn xâm nhập ở mức báo động 3 vào sâu trong địa phận thành phố Mỹ Tho, nên phải đóng cống Bảo Định để ngăn mặn “khẩn cấp,” khiến nước tràn vào nội ô thành phố.

“Cống đóng gây ngập làm ảnh hưởng đến giao thông và nhà dân là điều bất khả kháng,” đại diện công ty phân bua.

Tương tự, tại thành phố Cần Thơ, cùng ngày do mực nước ở các sông, hồ, kênh rạch dâng cao đã làm nhiều con hẻm, đường phố thuộc quận Ninh Kiều, bị ngập nặng.

Tại các hẻm thuộc đường Đề Thám, Lý Tự Trọng, Mậu Thân, hồ Bún Xáng, đường Huỳnh Cương (hồ Xáng Thổi), Cách Mạng Tháng Tám… nước tràn vô nhà cửa, quán xá…làm ảnh hưởng sinh hoạt và buôn bán của người dân.

Trước đó, hôm Mùng Ba Tết Giáp Thìn, triều cường cũng đã gây ngập các tuyến hẻm, đường phố ở quận Ninh Kiều.

Khu vực đường Huỳnh Cương (hồ Xáng Thổi) và đường Nguyễn Thần Hiến, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, bị ngập nước. (Hình: Thái Lũy/Tuổi Trẻ)

Nhiều người dân cho hay, việc triều cường gây ngập đường phố vào dịp Tết ở Cần Thơ rất ít khi xảy ra, việc này chỉ mới bắt đầu từ Tết năm ngoái và năm nay.

Theo Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Cần Thơ, nước ngập một số tuyến đường nội ô thành phố mấy ngày qua là do con nước triều cường đầu Tháng Giêng Âm Lịch, mực nước dưới báo động 3 và có thể còn tiếp diễn trong vài ngày tới. Sau đó nước suy yếu dần và hết hẳn. (Tr.N)


 

THỬ TÌM HIỂU VÀI NÉT VỀ “BÀN THỜ ÔNG THIÊN” QUA VÀI TRANG SÁCH CŨ

Góc nhìn An-Nam

(Tác giả: Hai Trầu).

Nhắc tới miền quê thuộc miền Tây Nam nước Việt, không ai là không biết tục thờ cùng “Bàn Thờ Ông Thiên” nơi trước sân ở mỗi nhà; nhưng danh từ “Bàn Thờ Ông Thiên “ có từ khi nào thì khó mà xác định một cách chắc chắn.

Lần dở lại các trang sách cũ, như quyển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huình-Tịnh Của (1) không có danh từ này. Rồi đến các tự điển như “Hán Việt Từ Nguyên” hoặc “Tầm Nguyên Từ Điển” của Bửu Kế (2) cũng không thấy nhắc đến danh từ này. Lần mò tìm trong “Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển” của Trịnh Vân Thanh (3) cũng không có vết tích gì về “Bàn Thờ Ông Thiên”. Ngay như quyển “Việt Nam Tân Tự Điển” của Thanh Nghị, do nhà xuất bản Thời Thế (Sài Gòn), 1951, cũng không có ghi lại danh từ này dù việc thiết lập “Bàn Thờ Ông Thiên” đã có từ rất lâu trước đó.

Vì muốn tìm hiểu việc thờ cúng “Bàn Thờ Ông Thiên” rất phổ thông này nơi các làng quê, chúng tôi tìm đọc qua các sách vở có liên quan đến đất Nam Kỳ như “Một Tháng Ở Nam Kỳ” trong quyển Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh (4), “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang & Lịch Sử Đất An Giang” cũng như “Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam” của Sơn Nam (5) đều không thấy nhắc đến việc thờ Trời này.

Rồi chúng tôi dò tìm lại “Việt Nam Phong Tục” của Phan Kế Bính, “Làng Xóm Việt Nam” của Toan Ánh (6) đều không thấy vết tích gì về “Bàn Thờ Ông Thiên”.

Đến như cuốn “Thần, Người Và Đất Việt” (bản mới) của Tạ Chí Đại Trường (7) tác giả có khảo sát rất chi ly về các tín ngưỡng trong việc thờ phượng tế tự cùng các tôn giáo vùng đất Nam Kỳ, nhưng cũng không thấy nhắc đến việc cúng kiến nơi “Bàn Thờ Ông Thiên”.

Thành ra, càng tìm kiếm sách vở nhắc đến “Bàn Thờ Ông Thiên”, dù chưa gặp, nhưng tôi vẫn không nản lòng vì qua việc tìm kiếm này, tôi có dịp đọc lại nhiều sách cũ mà lúc bình thường tôi chưa đọc kỹ.

Thế rồi, qua cuốn du ký và biên khảo“Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười” của Nguyễn Hiến Lê, tác giả kể:

“Ngoài Bắc làng nào cũng có chùa, và phụ nữ thường đi lễ Phật đấy, song ít nhà có bàn thờ Phật và số người ăn chay không đáng kể.

Anh Bình mỉm cười:

-Anh quên rằng dân quê Bắc-Việt suốt năm ăn chay sao ? “Tứ thời rau muống, tứ thời tương.”

-Ngay những nhà giàu ở thành-thị cũng ít ăn chay, ít lắm, mà có ăn chay thì chỉ ăn tại chùa, trong những dịp có hội hè, tế lễ thôi. Trong này mười gia đình thì tám chin gia đình có bàn thờ Phật hoặc bàn thờ ông Thiên và nhà nào cũng có người ăn chay.

Đi ghe trong các kinh, rạch, vào lúc sẩm tối, ta thường thấy hai bên bờ, cứ vài chục thước lại hiện lên những đốm đỏ, nhỏ như đom-đóm; đó là hương thắp trước mỗi nhà. Có xóm vang lên tiếng tụng kinh gõ mõ. Có miền tới ngày rằm, mùng một, không sao kiếm được ở chợ các món thịt, cá. Nhà nào cũng ăn chay và có nhiều người ăn chay trường. Cảnh ấy, ở Bắc-Việt tuyệt-nhiên không thấy.”(

Ở cuối trang tác giả chú thích về “Bàn thờ ông Thiên”: “Một bàn thờ nhỏ đặt trên một cái trụ ở giữa trời tại giữa sân, trước nhà, để thờ Trời Phật” (9).

Có được những bút lục vừa kể chúng tôi mừng lắm, ít ra có một bậc tiền bối ghi lại việc thờ phượng Trời Phật này bằng giấy trắng mực đen thay vì mình chỉ biết qua truyền miệng với nhau. Thế nhưng, vì muốn tìm học hỏi thêm, nên chúng tôi tìm đọc lại “Văn Minh Miệt Vườn” của Sơn Nam, và bắt gặp nhà văn ghi lại đôi nét về khung cảnh nhà cửa miệt vườn như dưới đây:

“Chúng tôi thử phác họa một ngôi nhà ở Miệt Vườn, chủ nhân là dân điền chủ bậc trung. Nhiều ngôi nhà cất sau này dựng hàng rào sắt, có xây hồ nước lộ thiên, có lầu. Theo ý chúng tôi thì những ngôi nhà tân thời ấy, không tiêu biểu cho lắm, tốt hơn là nên chọn lựa một kiểu nhà hơi xưa, cất vào khoảng năm 1905-1910, lần hồi gia chủ mua sắm thêm bàn ghế bên trong, tu bổ lại.

Địa điểm chọn lựa là vùng Cái Bè, ở bờ sông Tiền, nơi nổi tiếng nhờ vườn cam và cũng là vùng đất xưa. Hy vọng rằng kiểu nhà sau đây- nhà của điền chủ- nói lên được phần nào cách ăn ở của người Miệt Vườn hồi đầu thế kỷ, với nhiều tiểu dị nhưng cũng có nhiều nét đại đồng. Những người phú nông, trung nông cất nhà theo quan niệm ăn ở và thẩm mỹ ấy, nhiều chi tiết được thay đổi tùy theo túi tiền của gia chủ.

Mỗi nhà là một cung điện bình dân, với nhà thủy tọa, với sân rộng, hòn non bộ, cây kiểng. Sau nhà là vườn tược, trước sân và bên hông thì trồng cây để lấy bóng mát. Nhà không quá kín đối với người ngoài.

Nhà mát cất ở mé sông, kiểu nhà thúy tọa, có “băn” bằng cây đóng chung quanh. Đây là nơi lý tưởng để ngắm cảnh khi trăng lên, khi nước lớn. Bên cầu mát là trại lá nhỏ để ghe xuồng đậu, từ chiếc ghe hầu, mui ghe chạm trổ phết vàng sơn son, đến chiếc ghe lườn, xuồng be, xuồng vỏ gòn.

Rời nhà mát, gặp con đường cái, chạy dài theo mé rạch. Qua lộ, đến cổng vào nhà. Cổng ít khi đóng lại, nhiều khi không có cửa. Cổng bằng cây, bằng gạch. Nếu túng thiếu hoặc yêu mến thiên nhiên, cứ trồng cây, uốn cho nhánh giao lại theo hình vòng nguyệt, hai bên là hàng rào bằng cây khô hoặc cây tươi như dâm bụt, cây trà kiểng, cây kim quit.

Từ cổng vào nhà là con đường lót gạch tàu, bên đường viền cỏ dền tây, bông nở ngày, bông vạn thọ hoặc cây đinh lăng.

Bàn thờ ông Thiên dựng giữa sân, gần đường cái. Nhiều khi gia chủ bố trí thêm một cây trụ, trên chót là cái lồng cửa kiếng, ban đêm thấp ngọn đèn dầu lửa cho vui. “(10)

Qua đoạn trích vừa kể bàn về ngôi nhà hồi đời xưa, tức là vào những năm 1905-1910 nơi miệt vườn đã có “Bàn Thờ Ông Thiên” tươm tất rồi với ngôi nhà tiêu biểu vừa kể . Điều đó cho thấy, sự thờ Trời Phật qua Bàn Thờ Ông Thiên có lẽ nó đã có khá lâu trước đó.

Trở lại nhận xét của Nguyễn Hiến Lê về tín ngưởng của dân Nam-Việt trong cuốn “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”, tác giả viết:

“Ở chùa bước ra, tôi nói với anh Bình:

-Theo Chu Duy-Chi, tác giả cuốn :”Trung-Quốc Văn-Nghệ Tư-Trào Sử-Lược”, thì miền nam Trung-Hoa khí hậu mát-mẻ, đất cát phì nhiêu, việc mưu-sinh nhẹ-nhàng, nên dân-gian thường được nhàn-hạ, có thì giờ không-tưởng, suy-nghĩ về lẽ huyền bí của Vũ-trụ, tìm cách thoát tục tu tiên. Óc tưởng-tượng của họ phong phú mà óc thực tế thì kém, văn-chương lãng-mạn phát-đạt hơn văn-chương tả thực. Trang-Tử và Khuất-Nguyên đều là người phương Nam, còn Khổng-Tử là người phương Bắc.

-Thuyết ấy áp dụng vào nước ta cũng có chỗ đúng. Như ở Nam-Việt này, đạo Khổng không phát triển bằng các tôn-giáo Lão, Phật.”(11)

Chính vì ảnh hưởng bởi Lão Giáo và Phật Giáo hơn các tông giáo khác cho nên việc thờ Trời Phật qua Bàn Thờ Ông Thiên của dân Nam-Việt là một lẽ hết sức tự nhiên. Thêm vào đó, theo Nguyễn Văn Huyên, trong Văn Minh Việt Nam, bàn về đạo Lão, tác giả viết :

“Vị thần tối cao của những người theo đạo Lão, điều khiển tất cả các thần khác, là Ngọc Hoàng. Ông ở trung tâm của Trời…” và “Ngọc Hoàng thường được gọi là ông Trời hay Trời. Trong ý thức dân gian, Trời là căn nguyên của các hiện tượng khí quyển và sự che chở cho người trần. Trời là nguyên nhân nội tại của tất cả; Trời chủ trì cái sống, cái chết, hạnh phúc, sự giàu nghèo, v.v… Trời chẳng phải là sức mạnh mù quáng; Trời xem xét, suy nghĩ, phán xét. Về mặt vật chất thì Trời được tiêu biểu bằng vòm trời tạo thành một nửa thế gian, nửa kia là Đất. Toàn thể vũ trụ được gọi là Trời Đất”.(12).

Ngoài ra, bàn thêm về Ngọc Hoàng, tức Ông Trời, tác giả Nguyễn Văn Huyên ghi tiếp:

“Người Việt nói rằng: “Ngọc Hoàng lúc khai thiên lập địa là một con chim màu đỏ. Lúc trời đất chưa ra khỏi sự hỗn mang, và bóng tối còn bao trùm vạn vật, Ngọc Hoàng đã cai trị vật chất bất động và lộn xộn. Sau này, khi Trời được giải thoát, đứng trên cao, và Đất được giải tỏa, nằm dưới thấp, thì Ngọc Hoàng ngự trị 36 cung điện của các thần trên Trời và 72 thần của các tầng của Đất. Ông là chúa tể của Mặt Trời, Mặt Trăng, các vì Sao, Gió, Mây, Sét và Mưa. Các thần và ma của núi, sông, rừng, cánh đồng, biển, cũng như các sinh vật đủ loại người, chim trên không, cá dưới biển đều trở thành thần dân của Ngọc Hoàng. Ở thời Bàn Cổ xa xưa, khi con người còn hoang dã ăn thịt sống và uống máu tươi súc vật, thì Ngọc Hoàng cử Phục Hy xuống truyền cho họ những yếu tố của văn minh, cử Thần Nông dạy họ làm ruộng, và Hiên Viên dạy họ dệt vải lanh và dệt lụa. Chính Ngọc Hoàng đã tạo nên các nền trật tự thái bình vinh quang của Nghiêu và Thuấn, và sai Vũ Vương đắp đê ngăn nước trong trận lụt tràn khắp thế gian. Ngọc Hoàng còn phái xuống trần Cao Đào để thiết lập công lý giữa mọi người, Tiết để định ra năm mối quan hệ xã hội lớn, Khổng Tử để viết Ngũ Kinh, và tất cả các bậc hiền giả đã làm rạng rỡ loài người”.(13)

Do vậy, vốn là xứ nông nghiệp, nên khi khấn vái, người ta cầu khấn Ngọc Hoàng, tức Ông Trời, cùng các vị thần linh đệ tử của Ngài trong tất cả các sự kiên liên qua tới cuộc sống như sinh đẻ, bệnh tật, dịch bệnh, hạn hán, lụt lội, mưa nắng, mùa màng v.v… như qua các thực tế trong việc van vái nơi “Bàn Thờ Ông Thiên” mỗi ngày hoặc qua văn chương truyền khẩu còn lưu lại mãi mãi:

“Lạy Trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy đầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp…”

Về hình thể Bàn Thờ Ông Thiên”, thì ai ai có qua vùng đất Nam Việt cũng đã thấy và đã biết hình dáng loại bàn thờ này, giống như nhị vị tiền bối Nguyễn Hiến Lê và Sơn Nam lược kể. Thuở còn nghèo, mới khai hoang lập ấp, người ta chặt cây tràm, hoặc đốn gốc tre gai dài chừng từ 1 thước 60 đến hai thước làm trụ dựng làm bàn thờ ông Thiên. Trên đầu trụ đóng cây thành hình chữ thập nhằm mục đích giữ cho miếng ván dùng làm bệ thờ không bị lật rớt. Sau đó lựa miếng ván vuông vức khoảng chừng bốn tấc đặt lên chữ thập này. Và vậy là có bàn thờ ông Thiên với cái lon thiếc làm chỗ cấm nhang, chai nước mưa, ba cái ly nhỏ để cúng nước và một chai nhỏ dùng làm bình bông cúng Trời Phật. Bông thường thường là bông trang, bông huệ, bông điệp, bông mồng gà trồng ngay nơi bàn ông Thiên mà mỗi nhà nào cũng có trồng khi bắt đầu dựng trụ thiết lập chỗ thờ cúng này.

Dùng cây tràm, dùng gốc tre lâu ngày trụ bàn thờ ông Thiên bị mưa nắng làm mục, người ta mới nghĩ đến việc dùng cây vông nem hoặc cây gòn làm trụ vì các loại cây này khi cắm xuống đất chúng sẽ đăm rễ ra nhánh nên trụ sẽ sống lưu niên từ năm này qua năm khác không sợ mục; chỉ có điều lâu lâu nên để ý mé bớt các các nhánh vông, nhánh gòn cho gọn để bàn thờ được tươm tất và đẹp mắt.

Dần dần về sau vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 miệt chợ Thủ thuộc Chợ Mới (An Giang) và nhiều nơi khác thuộc Long Xuyên như Cần Sây, Rạch Gòi Lớn, hoặc các vùng thuộc Châu Đốc, Cần Thơ, Sa Đéc, nói chung các vùng thuộc Tiền Giang và Hậu Giang người ta nghĩ ra cách đúc Bàn Thờ Ông Thiên bằng xi măng cốt sắt và để bán tại chỗ hoặc có ghe chở bán khắp các làng quê trong vùng. Do vậy sau này, ít thấy bàn thờ ông Thiên làm bằng cây vông, cây gòn, gốc tre hay các loại cây gỗ khác và chỉ còn vài nhà vì quá nghèo không mua nổi bàn ông Thiên đúc xi măng thì mới còn dùng các loại cây cối có sẵn trong vườn làm trụ bàn ông Thiên.

Về tên gọi “Bàn Thờ Ông Thiên”, qua sách vở như vừa ghi bên trên, thoạt kỳ thủy ai ai cũng gọi “Bàn Thờ Ông Thiên” nhưng rồi dần dần vì tính giản dị của cư dân nơi vùng sông nước Cửu Long này nên nguyên chữ “Bàn Thờ Ông Thiên” được lược ngắn bớt chữ “thờ” thành ra “Bàn Ông Thiên . Chẳng hạn vùng An Phú, nhà văn Khiêm Cung Dương Văn Chung cho biết dân nơi ấy gọi “Bàn Ông Thiên”. Ở vùng Châu Phong, theo chị Lộc Tưởng, người chủ trương trang nhà Thất Sơn Châu Đốc cũng cho biết ở đây người ta cũng gọi “Bàn Ông Thiên”.

Nhắc đến vùng Châu Phong của chị Lộc Tưởng, chúng tôi nhớ lại trong sách “Bangsa Champa, Tìm Về Một Cội nguồn Cách Xa”, của tác giả Đỗ Hải Minh, biên khảo về đời sống đồng bào Chăm vùng cù lao Châu Phong có nhận xét về sự khác biệt giữa nhà cửa cư dân Việt và cư dân Chăm trong vùng, với tục thờ cúng “Bàn Ông Thiên” như sau:

“Từ bên này bờ sông nhìn sang bên kia, không xa lắm, chỉ vào khoảng 50 thước là cùng, tiếng trẻ em vui đùa vẫn vọng mồn một sang bên này bờ, nhưng thực tế là hai thế giới khác biệt. Thật vậy, nhà cửa bên kia sông, thường đắp nền cao rồi dựng cột và vách lên, bên trong nhà có bàn thờ tổ tiên,bày biện bàn ghế, giường ngủ có chân cao. Hầu như trước nhà nào cũng có một bàn thờ nhỏ gọn gọi là “Bàn ông Thiên” buổi chiều khói hương nghi ngút. Bên này sông, trái lại, nhà nhà đều có sàn; cột thường bằng cây nguyên bào nhẵn, cao khỏi đầu người, mặt tiền nhà nào cũng có một cái thang rắn chắc bằng gỗ, và bên trong nhà hầu như không có bàn ghế, nên khi khách đến nhà thì chủ nhà thường trải chiếc chiếu hoặc tấm thảm, để chủ khách cùng ngồi xếp bằng trên sàn gỗ. Nhà cửa phần lớn sát vào nhau, cả làng hầu như không có nhà nào trồng rau quả, vườn tược, nhứt là vườn trầu xanh tươi như bên kia bờ.”(14)

Qua nhận xét vừa trích về “Bàn Ông Thiên”, cho thấy học giả Đỗ Hải Minh dù là người Chăm nhưng ông rất am tường việc tín ngưỡng của cư dân Việt quanh vùng Châu Phong.

Từ “Bàn Thờ Ông Thiên”, rút gọn còn “Bàn Ông Thiên”, nhưng danh từ này còn lược gọn thêm một lần nữa khi nhiều vùng bỏ bớt chữ “Ông” và thành “Bàn Thiên” và vẫn ngầm hiểu danh từ này dùng để gọi “Bàn Thờ Ông Thiên”, hoặc “Bàn Ông Thiên”.

Theo Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ giải nghĩa : “Bàn Thiên (danh từ): Còn gọi là Bàn Trời, tấm ván vuông có chân cao lối 1 m 60 trồng trước sân ngay cửa để thờ Trời hoặc kiến trúc giống cái nhà nhỏ vuông-vức lối 50cm mỗi cạnh”(15)

Ngoài ra, theo Từ Điển Từ Ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, cắt nghĩa “Bàn Ông Thiên” là bàn thờ trước sân nhà để đặt nhang, đồ cúng, làm bằng một tấm vuông nhỏ được đặt trên một trụ cao ngang tầm với người lớn; “Bàn Thiên”: Bàn thờ Trời, Phật ở trước sân nhà ở nông thôn.” Trong phần cắt nghĩa hai danh từ “Bàn Ông Thiên” và “Bàn Thiên”, tác giả có ghi thêm hai thí dụ dẫn chứng:

“Tôi thấy ông chủ nhà vào trong thắp một nắm nhang, cháy đỏ, đem ra trước sân thắp lên bàn Ông Thiên rồi qùi xuống khấn vái, khá to tiếng.”(Sơn Nam) và “Ông Hương Ba đứng trước bàn Thiên vái ba vái, rồi lẩm bẩm điều gì tôi cũng không nghe rõ.” (Phi Vân)(16)

Điều đáng lưu ý là hai bộ từ điển vừa kể của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ cũng như của Huỳnh Công Tín đều không có chữ “Bàn Thông Thiên” như nhiều người nói dân quê miền Tây còn gọi danh từ này để chỉ “Bàn Thờ Ông Thiên”. Và đây cũng là một điều làm tôi cố ý tìm tòi xem xưa nay có ai gọi “Bàn Thờ Ông Thiên” là “Bàn Thông Thiên” không?

Lần mò tìm đọc lại các sách mà tôi hiện có, may sao chỉ có tác giả Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh trong quyển “Tân Châu Xưa” khi lược kể về cách thờ phượng của ông đạo Tưởng ở Tân Châu, các tác giả viết:

“Vào lối năm 1928, một cái am tạm làm bằng tre lá được dựng lên tại phần đất ông Nguyễn Chánh Sắt, tọa lạc giữa Long Đức Tự và ấp chiến lược Long An “A” hiện giờ, mà tục thường gọi con đường này là “Đường Chùa”, thuộc xã Long Phú, cách quận lỵ Tân Châu độ một cây số ngàn. Ấylà cái am của Ba Quốc cất để tu tâm dưỡng tánh(…)

Khách tò mò đến am nhận thấy chốn tôn nghiêm của ông sắp đặt thật có ngăn nắp: từ cột cái trở vô, ông lên cái gác thờ “Quan Đế Thánh Quân” tức “Quan Vân Trường” hiển thánh đời Tam Quốc, “Thục, Ngô, Ngụy” bên Tàu, gọi “Bàn Tổ” hay “Bàn Thầy”. Bên tả thờ Thần, bên hữu thờ Thánh. Đối diện bàn thờ Quan Công là cái khánh thờ “Chư Vị Năm Ông”.

Trên gác có xây cái liêu kín để ông tịnh và có đưa ra cái thiên thai để tiếp nhận những người đạo hạnh tập tuyệt thực. Phía trong có dành căn phòng thờ “Sơn thần” để chữa bịnh. tại giữa sân lại dựng lên “Bàn Thông Thiên” theo cổ tục nước ta. Chung quanh chỗ thờ Trời có trồng bông mồng gà và bông vạn thọ, nên lộ lên một phong cảnh thật trang nghiêm.”(17).

Về cách cúng lạy “Bàn Thông Thiên” của ông đaọ Tưởng, tác giả ghi tiếp:

“Mỗi ngày hành lễ ba thời: khuya, ngọ, chiều. Mỗi khi hành lễ cũng có chuông mõ như các nhà chùa. Đây là cách ông lạy: trước hết ông lễ bàn Thầy, bàn Thánh, bàn Thần, bàn Chư Vị Năm Ông, mỗi bàn 12 lạy gồm 48 lạy. Khi xong, ông ra lễ bàn Thông Thiêng bằng lối lạy đủ bốn hướng: “Đông, Tây, Nam, Bắc” cũng 48 lạy phân ra mỗi hướng 12 lạy y như Bàn Thầy.” (18)

Qua ghi nhận này, chúng tôi thấy việc cúng lạy nơi Bàn Thờ Ông Thiên tùy mỗi nơi, mỗi nhà, mỗi người, lấy cái tâm thành kính tưởng Trời Phật làm trọng, không nhất thiết ai ai cũng theo cách lạy 48 lạy như ông Đạo Tưởng. Cúng lạy mỗi ngày ba thời, mỗi thời lạy 48 lạy mà rồi qua sách Tân Châu Xưa với “Pha bạo loạn tế cờ” nghe qua mà ớn thần hồn.

Tóm lại, qua vài trang sách cũ nhìn lại việc gọi tên một cổ tục trong việc thờ Trời Phật nơi “Bàn Thờ Ông Thiên” của cư dân vùng châu thổ Cửu Long cho thấy dân cư các vùng sông nước Nam Việt này rất tin TRỜI PHẬT và không ai bảo ai nhưng mỗi nhà, mỗi người đều thành tâm thờ kính và cầu khấn TRỜI PHẬT tạo thành một nét tín ngưỡng rất đơn giản mà thiêng liêng, rất gần gũi mà cao siêu vòi vọi. Dù với bất cứ danh gọi nào, dù “Bàn Thờ Ông Thiên”, “Bàn Ông Thiên”, “Bàn Thiên” hay “Bàn Thông Thiên” thì mục đích và ý tưởng của cư dân vùng đất Nam Việt này đã tạo cho mình một đời sống tâm linh rất phong phú, thanh cao, an lạc vậy !

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 16-03- 2012

Phụ chú:

1/ “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huình Tịnh Của, Sài Gòn, Imprimerie REY, CURIOL&Cie, 1895.

2/ “Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên” của Bửu Kế, nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 1999. ‘Tầm Nguyên Từ Điển” của Bửu Kế, nhà xuất bản Thanh Niên, 2005

3/ “Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển” của Trịnh Vân Thanh, bản in 1966.

4/ “Hành Trình Nhật Ký” vớ “Một Tháng Ở Nam Kỳ” của Phạm Quỳnh , đăng trong tạp chí Nam Phong , xuất bản năm 1917 tại Hà Nội; Xuất bản thành sách tại Paris năm 1997. In lần thứ hai tại San Jose, An Tiêm xuất bản, 2002

5/ “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang & Lịch Sử Đất An Giang” của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, Việt Nam, năm 2003.

“Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam” của Sơn Nam do Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản, không ghi năm.

6/ “Việt Nam Phong Tục” của Phan Kế Bính, nhà xuất bản Miền Nam, không ghi năm.

“Làng Xóm Việt Nam” của Toan Ánh, do Đại Nam (Hoa Kỳ) tái bản, không ghi năm.

7/ “ Thần, Người và Đất Việt” (Bản Mới) do nhà xuất bản Văn Học, California, Hoa Kỳ, năm 2000.

8/“Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”, Du Ký và Biên Khảo, của Nguyễn Hiến Lê, loại sách “Học Làm Người”, Sài Gòn, 1954, trang 114.

9/ “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”, sđd, trang 114.

10/ “Văn Minh Miệt Vườn” của Sơn Nam, nhà xuất bản Hồng Lĩnh, 1992, trang 111.

11/ “ Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”, sđd, trang 113.

12/ “Văn Minh Việt Nam” của Nguyễn Văn Huyên, nguyên văn tiếng Pháp, bản tiếng Việt do nhà xuất bản Hội Nhà Văn & Công ty Văn Hóa Phương Nam ấn hành, năm 2005, trang 336.

13/ “Văn Minh Việt Nam” của Nguyễn Văn Huyên, sđd, trang 347.

14/ “Bangsa Champa, Tìm Về Với Một Cội Nguồn Cách Xa” của Đỗ Hải Minh & Dorohiêm, Seacaef&Viet Foundation xuất bản, California (Hoa Kỳ, năm 2004, trang 26.

15/ “Việt Nam Tự Điển” của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, năm 1970, Quyển Thượng, trang 59.

16/ “Từ Điển Từ Ngữ Nam Bộ” của Huỳnh Công Tín, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Việt Nam, năm 2007, trang 116.

17/ “Tân Châu Xưa” của Nguyễn Văn Kiềm & Huỳnh Minh, nhà xuất bản Thanh Niên, Việt Nam, 2003, trang 165.

18/ “ Tân Châu Xưa”, sđd, trang 166.

http://thatsonchaudoc.com/…/TimHieuVaiNetVeBanThoOngThi…

=========

Vietnam 1962-67. Anton Cistaro Collection. VAS078799.

Tết đâu đó ở Đồng bằng Sông Cửu Long 1967. Photo by Bobbey Nelson.

Tên đúng là bàn Thông Thiên, nhưng thường được gọi tắc là bàn Thiên. THIÊN chứ không phải là THIÊNG.

Bàn thờ ông Thiên (ông Trời) thường thấy ở Gia Định hoặc ngoại ô Saigon, nơi có đất trống để thờ với trái cây ngũ quả. Mấy đứa nhỏ nghịch phá thường lấy cắp đĩa trái cây này.

Đây là cửa Lá Sách, rất chắc chắn, thông gió, phong thủy, ở bên trong nhìn thấy được bên ngoài, mà bên ngoài không biết. Gợi nhớ kỷ niệm, quê nhà năm xưa, cây đèn dầu, bình bông Thọ (Vạn thọ), bàn Thiên. Thật bình yên, ấm áp !

@người theo dõi