Thấy gì trong buổi lể tiếp đón tàu sân bay Carl Vinson hôm nay
Thấy đoàn Mỹ ngoài Thuyền trưởng tàu Carl Vinson, đại sứ quán Mỹ Daniel Kritenbrink còn có hai người không bình thường:
– Đô đốc Scott Swift Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương.
– Chuẩn đô đốc John Fuller Tư lệnh nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ.
Thấy đoàn Việt cao nhất chỉ ông Lâm Quang Minh giám đốc sở Ngoại vụ Đà Nẵng tiếp đoàn Mỹ.
Thấy vậy là chưa thấy, phải thấy: – Mỹ không xem đây là chuyện một con tàu ghé thăm bình thường, hay như ghé Phi và các nước khác. Mà họ xem đây là chuyện Thái Bình Dương, chuyện quân sự. – Việt không xem đây là chuyện quân sự mà xem là chuyện ngoại giao một tàu nước ngoài ghé Đà Nẵng.
Và như vậy mới thấy chính Mỹ chủ động chuyện này, muốn cho T+ thấy không dể xâm lược Việt. Cho quân dân Việt thấy Mỹ luôn là người bạn, sẳn sàng bênh vực giúp đỡ.
Và như vậy mới thấy V+ dầu biết Mỹ giúp thế nhưng vẫn sợ T+, nên rón rén không dám tiếp chu đáo.
Một cảnh giao thông hỗn loạn ở Việt Nam. Ảnh: báo TN
Dường như có một quy luật rất ít người để ý đến, đó là tình trạng giao thông, phong cách ứng xử của người đi đường biểu lộ trình độ, nếp sống văn hóa của một dân tộc.
Tuần vừa qua, trong một stt trên Facebook, một người bạn phàn nàn, đúng hơn là bực tức lẫn giận dữ, đưa lên những “sự cố” mà bạn đã gặp trong một khoảng thời gian chưa tới một tiếng đồng hồ “tham gia giao thông” như sau:
“Quốc lộ. Một mụ chạy ngược chiều, không đội mũ bảo hiểm. Đang chạy bỗng lạng lạng ra giữa làn xe đang xuôi chiều, thắng kít, móc điện thoại ra alo alo. Nó lạng ra tránh mụ. Muốn dừng xe lại đạp cho mụ một phát nhưng nó lại chạy luôn.
Quốc lộ. Một thằng có tí tuổi rồ ga từ sau vượt lên, lạng vào trước mặt nó rồi nhả ga. Nó thắng vội. Văng tục, ‘Địt cụ thằng già!’
Quốc lộ. Một thằng có tí tuổi khác rồ ga vượt xe của một bà mẹ chở con nhỏ. Cũng lạng vào đầu xe và giảm ga trước đầu xe họ. Nó muốn rồ ga phóng lên tống cho thằng già một đạp nhưng nó lại thôi.
Ngã tư. Đèn xanh. Xe đang lưu thông. Một thằng tầm tuổi nó băng qua đường, tay huơ huơ lên trời. Một đứa trẻ phải thắng gấp để không tông vào hắn. Hắn chỉ tay vào mặt đứa trẻ chửi địt mẹ địt cha. Nó lại muốn bay xuống xe tát cho thằng nọ một phát, nhưng nó chạy luôn.
Tắc đường. Xe nhích từng chút. Thằng chạy sau đít nó bóp còi tin tin tin tin. Nó muốn bỏ xe lao xuống túm cổ áo tống một đấm vào mặt hắn. Nhưng nó chỉ quay đầu lại đưa ngón tay giữa lên rồi lại tiếp tục nhúc nhích giữa dòng xe cộ.
Dốc cầu. Mụ trẻ chạy xe ga. Thằng con đứng ở trước, chỗ để chân, đầu gục vào cổ xe, ngủ gật. Mụ vừa chạy lên dốc cầu bằng một tay, tay kia thò túi quần móc điện thoại ra, mắt nhìn điện thoại, tay bấm bấm.
Nó chạy trờ tới. ‘Ê, mày muốn tự sát thì dừng xe lại, đặt thằng bé xuống rồi nhảy xuống cầu kia kìa, con dở!’
Con mụ chửi vói theo cái gì chẳng biết. Thằng bạn chạy cùng chứng kiến, vượt lên, bảo: ‘Mày trông hiền lành thế thôi mà có lúc đanh đá gớm!’
…
Càng ngày nó càng hạn chế ra đường vì nó sợ một lúc nào đó con quỷ trong người nó sẽ không chịu ở yên mà nhảy xổ ra, gây họa”.
Con quỷ trong người bạn chưa nhẩy xổ ra gây họa nhưng rõ ràng chỉ trong 6 ngày nghỉ Tết Mậu Tuất đã xảy ra 231 tai nạn lưu thông trên cả nước, gây thiệt mạng cho 179 người và 183 người khác bị thương, tăng 27% so với cùng thời gian năm 2017.
Tình trạng này thật ra đã có từ lâu dưới chế độ CSVN chứ không phải mới đây nhưng càng ngày càng gia tăng, nhanh hơn tăng trưởng kinh tế hàng năm. Từ lúc dân số ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, thủ đô Hà Nội… tăng lên đến chóng mặt vì dân nhập cư từ các tỉnh khác, do mưu sinh, ào ạt kéo về, cộng với số lượng xe gắn máy, ô tô được nhập cảng, cấp giấy phép lưu hành bừa bãi, không tương ứng với sự phát triển đường xá, cầu cống.
Status của bạn diễn tả khá đầy đủ cách ứng xử kém văn hóa, thiếu ý thức, không được giáo dục, coi thường sinh mạng mình lẫn mạng sống người khác trong một xã hội phát triển không bình thường.
Câu hỏi được đặt ra: Đâu là nguyên nhân chính đưa đến cách ứng xử thiếu văn hóa của người dân trong khi giao thông trên đường phố như vậy?
Thật dễ dàng kết luận: Ồ! Luật pháp không nghiêm minh, người dân không được giáo dục về luật lệ giao thông, bằng lái không được cấp phát đúng tiêu chuẩn thi cử, cảnh sát giao thông không làm tròn phận sự, không có trách nhiệm, đời sống có quá nhiều căng thẳng, dễ sinh ra nóng giận…vân vân và vân vân…
Tất nhiên những nguyên nhân vừa kể không sai, nhưng chưa đủ. Nguyên nhân chính tiềm ẩn trong bản chất của đa số người Việt Nam cần phải nói đến, đó là lòng ích kỷ, muốn vượt lên hơn người khác, sự tự tôn, tâm lý kẻ cả, lúc nào cũng nghĩ rằng mình phải, mình đúng, dù có trái lè ra. Những tính xấu này dễ dàng biểu lộ khi “tham gia giao thông”.
Năm 2008, lần về VN cách đây đúng 10 năm, người viết chứng kiến một tai nạn giao thông. Trên xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa, hai chiếc taxi đụng nhau khá nặng. Hai lái xe bước ra gầm gè chửi nhau, quơ tay múa chân, đổ lỗi cho nhau, bỏ mặc mấy hành khách trong xe đang bị chấn thương, có người bị chảy máu đầu.
Người đi đường thấy thế mới gọi chiếc taxi khác đưa nạn nhân vào bệnh viện. Không biết sự việc sau đó đã được giải quyết như thế nào, nhưng trong các nước có luật pháp nghiêm minh, rõ ràng, hành động bỏ mặc hành khách khi bị tai nạn để tranh cãi phải trái của lái xe, dễ bị truy tố ra tòa về tội thiếu trách nhiệm trong việc vận chuyền hành khách.
Cũng lần về đó, được người anh họ chở vào Chợ Lớn ăn mì hoành thánh. Hai anh em đang chạy chiếc Honda 50 chậm chậm trên đường Trần Hưng Đạo thì một cô gái chạy vọt qua mặt, cắt đầu quẹo phải. Tai nạn xẩy ra, người viết chỉ xây xát nhẹ, người anh trầy đầu gối khá nặng. Cô gái trạc độ 20-22 tuổi không bị ngã, thắng xe lại, nhẩy xuống nói khơi khơi: Sao chú chạy xe kỳ vậy?
Người anh họ vừa đau vừa giận dữ trả lời: Kỳ là sao? Cô chạy cắt đầu tôi, gây tai nạn còn hỏi ngang thế à? Cô gái nhún vai: Cháu tưởng chú cũng quẹo phải!
– Mja! Chạy xe mà tưởng là sao? May là lúc đó có anh bảo vệ một công ty trông thấy tai nạn rõ ràng do cô gái gây ra nên bước đến, nói cô gái đứng đó để anh gọi cảnh sát giao thông đến làm biên bản. Lúc đó cô mới biết sợ và rối rít xin lỗi được bỏ qua nhưng với lý do rất xấc xược là cô phải đi đến trường học ngay bây giờ.
Người viết từng ghé qua Thái Lan, Singapore và nhiều thành phố, thủ đô các nước khác trên thế giới, nhưng có lẽ không nơi nào văn hóa ứng xử khi xảy ra tai nạn giao thông giống như ở Việt Nam. Cách ứng xử biểu lộ sự hung hăng, trốn tránh trách nhiệm, luôn tìm cách giành lẽ phải về mình.
Việc hành xử kém văn minh, thiếu lịch sự nơi nào cũng có, tuy nhiên ở những đất nước luật pháp nghiêm minh, việc biểu lộ thái độ bất chấp an toàn giao thông chỉ là cá thể, dễ bị phạt vạ rất nặng, tương tự như việc nhục mạ người khác bằng lời nói hay cử chỉ khiếm nhã.
Không so sánh Việt Nam với Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Philippines… chỉ so sánh với Bangladesh. Thu nhập bình quân của người Việt Nam cao hơn, dân số VN ít hơn, mật độ dân số thưa thớt hơn, phát triển kinh tế hàng năm cao hơn nhưng văn hóa ứng xử trong giao thông của người Việt còn kém xa người dân Bangadesh ở thủ đô Dhaka. Tại sao?
Lỗi chính tất nhiên do chế độ CS gây ra, bộ Giao Thông-Vận Tải, CSGT, giáo dục học đường, giáo dục xã hội không làm tròn trách nhiệm, nhưng chính người dân cũng góp phần không ít vào tệ nạn cư xử kém văn hóa lúc đi đường.
Nên xử sự như thế nào khi giao thông trên đường phố, khi tai nạn xẩy ra cho đúng với văn hóa mà chúng ta thường tự hào? Độc giả hãy tự tìm câu trả lời cho chính mình bởi vì biểu lộ văn hóa giao thông cũng chính là biểu lộ văn hóa mà chúng ta hấp thụ được từ trong gia đình, giáo dục học đường, xã hội.
Nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.
Reuters
Đất đai mãi là vấn đề nhức nhối trong xã hội chủ nghĩa
00:00/00:00
Trong năm 2017 vừa qua, đất đai vẫn là một trong những vẫn đề nhạy cảm, chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa người dân với doanh nghiệp và chính quyền, dẫn đến nhiều sự việc đáng quan ngại điển hình như vụ ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Cho đến nay số lượng vụ việc khiếu nại về đất đai vẫn chiếm tỷ lệ cao và không ngừng tăng thêm.
Người dân khó khăn vì chính sách đất đai
Trước khi bị thu hồi 300 ha đất nông nghiệp vào năm 2010, người dân phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội có cuộc sống ổn định, ấm no với nghề nông nghiệp truyền thống nhiều đời.
Theo ông Trịnh Bá Phương – một người kiên trì chống lại việc cưỡng chế đất đai tại Dương Nội, từ sau khi mất đất, những người nông dân này mất đi tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất, mà không có nghề nghiệp thay thế dẫn tới sinh kế bị đảo lộn, đời sống trở nên khó khăn và tệ nạn xã hội tăng lên.
Một số người nhận được một chút tiền đền bù đó thì quay sang làm ăn kinh tế, nhưng mà những người nông dân chỉ có trong tay cái cày, cái cuốc, không được tri thức hóa, cũng không có kinh nghiệm làm ăn, nên đa phần là thất bại. – Anh Trịnh Bá Phương
“Thì độ tuổi lao động đó, đến nay chính quyền và doanh nghiệp chỉ bố trí công ăn việc làm được cho 26 người, còn lại là thất nghiệp hết. Một số người nhận được một chút tiền đền bù đó thì quay sang làm ăn kinh tế, nhưng mà những người nông dân chỉ có trong tay cái cày, cái cuốc, không được tri thức hóa, cũng không có kinh nghiệm làm ăn, nên đa phần là thất bại. Sau khi làm ăn thì thua lỗ. Đầu tư xe cộ cũng thua lỗ nặng nề. Còn một số nhà thì họ nhận một chút tiền đền bù thì họ chỉ xây nhà, mua được cái xe thì hết sạch. Đến nay họ rơi vào cảnh sống rất khó khăn.”
Trong khi đó, từ năm 2010 đến nay, phần đất bị thu hồi đã được xây dựng thành nhà ở liền kề, chung cư, đường xá chiếm phần nhỏ, và phần lớn là bỏ hoang, không sử dụng đến. Đây là một nghịch lý: người cần đất sản xuất thì không có, người được giao đất thì để hoang hóa bởi không bán được bất động sản.
Trái lại, trường hợp ông Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng, Hải Phòng, kể từ sau vụ việc trấn động cả nước với tiếng súng hoa cải giữ đất tháng 1/2012, mảnh đất của ông nay đã được giao lại, không bị thu hồi, và được tiếp tục sử dụng từ đó đến nay. Sau khi mãn tù vào tháng 9/2015, gia đình ông Vươn đã tiếp tục triển khai những ý tưởng sản xuất, kinh doanh và quai đê lấn biển.
“Sau khi sự kiện năm 2012 xảy ra, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan, chính quyền địa phương đã giao lại toàn bộ đất cho gia đình tôi. Nhưng mà để làm thủ tục (sử dụng) ổn định, lâu dài thì đang vướng vấn đề quy hoạch của Sân bay quốc tế phía Bắc. Cho nên bây giờ, không những tôi và tất cả bà con ở cái vùng này, lên đến hàng ngàn hecta đất đều phải nằm trong tình trạng chung là quy hoạch. Không hiểu là quy hoạch sau này có được triển khai hay không thì chưa rõ. Trước mắt ở trong tình cảnh là treo. Rất là lãng phí cho đồng vốn, không những tôi mà bà con Tiên Lãng đã bỏ ra đầu tư.”
Tác động nhãn tiền về kinh doanh mà ông Vươn đang hứng chịu là những quả trứng vịt biển của ông đang gặp khó khăn trong thủ tục hành chính vì đất đai bị quy hoạch treo, dẫn đến hệ quả không thể được cấp chứng nhận truy xuất nguồn gốc hàng hóa.
Chính dự án Cảng hàng không quốc tế phía Bắc được phê duyệt dưới thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đến sự việc gia đình ông Vươn bị cưỡng chế đất năm 2012. Hiện gia đình ông Vươn và người dân Tiên Lãng chưa biết tương lai mảnh đất họ đang sử dụng sẽ thế nào, khi thời hạn sử dụng đã hết và không được giao lại.
Sự phản kháng của người dân
Trường hợp ở Dương Nội từ năm 2010 đến nay và Tiên Lãng năm 2012 hay xã Đồng Tâm năm 2017 hoặc nhiều câu chuyện đất đai khác đều có điểm chung là người dân đã cương quyết phản kháng, chống lại việc chính quyền tổ chức cưỡng chế, thu hồi đất bằng bạo lực.
Không những tôi và tất cả bà con ở cái vùng này, lên đến hàng ngàn hecta đất đều phải nằm trong tình trạng chung là quy hoạch. Không hiểu là quy hoạch sau này có được triển khai hay không thì chưa rõ. Trước mắt ở trong tình cảnh là treo. – Ông Đoàn Văn Vươn
Tháng 10/2016, 30 nhân viên Công ty Long Sơn đã mang máy móc, hung khí vào san ủi, phá hủy cây điều, cà phê của nhà ông Đặng Văn Hiến và hai hộ dân khác tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông, dẫn đến việc các hộ gia đình này phản kháng lại bằng súng, gây nên hậu quả 3 người chết và13 người bị thương – đều là nhân viên công ty Long Sơn. Đây có thể nói là vụ việc cưỡng chế gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất về nhân mạng.
Và sau đó chính người bị hại là ông Đặng Văn Hiến lại bị mức án tử hình với cùng tội danh “giết người”. Về phía công ty Long Sơn một số nhân viên tham gia chỉ bị tù vài năm với cùng tội danh “hủy hoại tài sản”.
Người dân tại Đắc Nông, những người cùng cảnh ngộ với gia đình ông Hiến, cũng như giới quan tâm trong cả nước đã có những tiếng nói thể hiện sự bất bình về bản án này, đặc biệt là mức án tử hình đối với ông Hiến là quá nặng và Tòa án đã không xem xét vụ việc một cách toàn diện hơn.
Sự việc tại Đắc Nông được ông Trịnh Bá Phương cho là có nhiều điểm tương đồng với sự việc tại Dương Nội, nhất là sự phản kháng của người dân để bảo vệ đất đai, tài sản mà họ đã dày công vất vả gây dựng.
“Theo tôi, đó là sự phản kháng chính đáng của người dân khi bị dồn đến đường cùng. Khi mà đơn từ, thậm chí vụ của Đặng Văn Hiến đã lên đến ông Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình có chỉ đạo giải quyết. Thế nhưng họ đã trì trệ, các cơ quan, doanh nghiệp – công ty Long Sơn và chính quyền địa phương cấu kết với nhau, cố tình cướp đoạt đất đai, không giải quyết khiếu nại của ông Đặng Văn Hiến, cũng như người dân tại Đắc Nông. Dẫn đến tình thế cuối cùng, ông Đặng Văn Hiến đã buộc phải nổ súng để bảo vệ cái mảnh đất của mình.”
Ông Đoàn Văn Vươn đặt vấn đề về vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong sự việc của ông Đặng Văn Hiến.
“Nếu như mổ xẻ ra, chắc chắn phải có chính quyền đứng đằng sau. Bởi vì công ty này không thể nào có được những công cụ như khiên chống đạn – cái này chỉ được trang bị cho lực lượng Cảnh sát cơ động, chống bạo động. Thế mà tại sao công ty này lại có để mà sử dụng cho việc tự động cưỡng chế, hủy hoại, chiếm đất của người dân. Qua thông tin, để mà mổ xẻ thì tôi thấy nó rất có vấn đề.”
Mong muốn của người dân về đất đai
Khi đưa ra đấu giá để bán đất cho người dân thì bằng hình thức đấu giá, nhưng khi thu hồi thì bằng định giá. Và dễ tạo ra kẽ hở cho người có chức có quyền tham nhũng đất đai, và những doanh nghiệp “sân sau” lợi dụng để sâu xé, nhằm làm thiệt hại đến quyền lợi người dân. – Ông Đoàn Văn Vươn
Theo Hiến pháp Việt Nam, đất đai thuộc “sở hữu toàn dân”, do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và khi cần sử dụng nhằm mục đích “phát triển kinh tế – xã hội” thì luật cho phép chính quyền được thu hồi để giao cho doanh nghiệp.
Khi đưa ra đấu giá để bán đất cho người dân thì bằng hình thức đấu giá, nhưng khi thu hồi thì bằng định giá. Và dễ tạo ra kẽ hở cho người có chức có quyền tham nhũng đất đai, và những doanh nghiệp “sân sau” lợi dụng để sâu xé, nhằm làm thiệt hại đến quyền lợi người dân. – Ông Đoàn Văn Vươn
Theo ông Đoàn Văn Vươn, chế định về sở hữu đất đai như vậy chính là mầm mống dẫn đến hệ lụy tham nhũng, khiếu kiện kéo dài, bất công trong lĩnh vực đất đai, kéo theo sự kìm hãm phát triển xã hội.
“Vì đa sở hữu thì đất của tư nhân thuộc tư nhân, của nhà nước thuộc nhà nước, của ai thuộc người ấy, rất rõ ràng. Chứ không thể có một khái niệm mù mờ (sở hữu toàn dân) như thế này. Khi đưa ra đấu giá để bán đất cho người dân thì bằng hình thức đấu giá, nhưng khi thu hồi thì bằng định giá. Và dễ tạo ra kẽ hở cho người có chức có quyền tham nhũng đất đai, và những doanh nghiệp “sân sau” lợi dụng để sâu xé, nhằm làm thiệt hại đến quyền lợi người dân. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến hệ lụy, mâu thuẫn và đỉnh điểm đã xảy ra như vụ việc nhà tôi, hoặc Đắc Nông, hoặc Đồng Tâm, hoặc còn nhiều nơi khác. Một điều không đáng có.”
Chung quan điểm với ông Vươn, ông Trịnh Bá Phương cũng mong mỏi quyền sở hữu đất đai của người dân phải được tôn trọng, khi doanh nghiệp hay chính quyền muốn lấy đất thì phải thương lượng giá cả với người dân theo cơ chế thị trường, chứ không thể là sự áp giá bất công như hiện nay.
Lời cảnh cáo của các chuyên gia về sự thua lỗ gần như chắc chắn của các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã trở thành sự thật.
Cuộc thanh tra mới nhất cho thấy Tổ hợp Dự án Bauxite-Nhôm Lâm Đồng ở Tân Rai thua lỗ 3,696 tỉ đồng, tương đương hơn 164 triệu Mỹ kim, sau 3 năm hoạt động. Còn Nhà máy Sản xuất Alumin Nhân Cơ bị đội vốn lên gấp 5 lần.
Trong dự án Tân Rai, tính từ tháng 10 năm 2013 đến hết tháng 9 năm 2016, lỗ do hoạt động sản xuất kinh doanh là 2,520 tỉ đồng, còn lại là lỗ do chênh lệch tỉ giá.
Tổng kinh phí cho dự án Tân Rai vào năm 2006 là hơn 7,787 tỉ đồng. Sau 4 lần điều chỉnh, tổng kinh phí cho dự án này đã tăng lên tới hơn 15,414 tỉ đồng, gần gấp đôi con số ban đầu. Tiến độ thực hiện cũng chậm 4 năm.
Tuy nhiên, cuộc thanh tra đánh giá trong năm 2017, dự án Tân Rai sẽ hết lỗ sau thời gian “lỗ kế hoạch” là 4 năm. Với dự án Nhân Cơ, tổng kinh phí đã tăng từ 3,285 tỉ đồng năm 2007 lên tới 16,821 tỉ đồng năm 2014 sau 2 lần điều chỉnh tăng công suất lên hơn gấp đôi.
Truyền thông trong nước đưa tin về cuộc thanh tra tại hai dự án bauxite Tây Nguyên hôm Thứ Ba 14/03, nhắc lại rằng sự thua lỗ và hiệu quả kinh tế kém cỏi của các dự bán này đã được các chuyên gia cảnh cáo từ trước. Một số nhân sĩ, cựu giới chức và cựu tướng lãnh của chế độ thì đã nhiều lần cảnh cáo về các mối hiểm họa quốc phòng và môi trường.
1. Tranh ấn thường là các quan chức, hy vọng có Ấn của Đức Thánh Trần sẽ được thăng quan, tiến chức to hơn, nhiều bổng lộc hơn; có Ấn, có uy của Đức thánh yểm trợ sẽ không sợ các đồng chí hại mình, kiểu như mấy đồng chí Yên Bái xử nhau, hay như anh Thăng, Thanh… thì khốn. Một số dân làm ăn, muốn nhờ uy Đức Thánh để làm ăn lớn, gian tham mà không sợ bị trừng phạt…
2. Cướp lộc là loại thường dân, chủ yếu thanh niên, vừa tin rằng cướp được lộc là được may: làm ăn phát tài, đẻ con trai, trúng cá cược, số đề…, vừa hiếu kỳ, a dua đám đông, cứ cướp được là sướng. Cậy khỏe, cướp được nhiều, chia bớt cho bạn bè, chứng tỏ mình hơn những thằng khác…
3. Chen nhau dâng lễ vật cầu cúng tại đền, chùa, miếu… vì nghĩ rằng Thần, Phật… cũng như các “quan trên”, có quyền ban phát kiểu “xin – cho”. Họ coi đó như hình thức hối lộ Thánh, Thần; lễ càng to, càng quỵ lụy cầu xin khẩn thiết, càng được các Ngài rủ lòng thương, bố thí cho càng nhiều, càng tốt. Họ có tâm lý nô lệ rất lạ, vừa cầu xin, vừa sợ hãi. Họ vào đền, chùa phải đặt lễ hết các ban, bệ, nhét tiền vào tay tất cả các “Ngài’, không dám “qua mặt” Ngài nào! Họ đi hết chùa này đến đền khác, càng nhiều càng tốt. Cũng giống như tôi đã thấy một cậu trợ lý của sếp cấp tỉnh than thở, mấy ngày Tết, cháu phải đi đưa hơn 60 suất quà Tết cho các sếp liên quan ở tỉnh và trung ương…
4. Hàng vạn người chen chúc nhau tại các chùa để cúng dâng sao giải hạn, có thể vì họ hoặc người thân có bệnh tật, mong qua khỏi; hoặc cảm thấy bất an, cầu tại nạn không xảy đến.. Nhưng có lẽ nhiều người buôn gian, bán lận từng bị “hạn”, nay muốn tiếp tục làm ăn phi pháp, mà không bị “hạn”… Có thể có cả các quan chức, mong sao không gặp “hạn” như anh Thanh, Thăng, hay các TS, PGS mong thoát “hạn”, không bị Hội đồng cho vào Danh sách bị loại, để khỏi “tiền mất, tật mang”!…
5. Chung quy lại, họ không có niềm tin vào xã hội, không tin vào chân lý, công lý, đạo lý, không tin vào ai, không tin vào chính bản thân mình… Trong tâm thức trống rỗng và hỗn tạp, họ chỉ còn biết hy vọng vào các thế lực siêu nhiện rủ lòng thương hại!
Chú ý rằng, các quan chức cấp cao, không xuất đầu lộ diện cầu cúng ở những nơi xô bồ, mà đi riêng, kín đáo, và chủ yếu cho vợ con, anh em đi cúng thay, nhưng Sớ thì đề rõ tên thật để các “Ngài” nhớ đến, đoái thương…
Mình chỉ cúng giỗ tổ tiên và thỉnh thoảng thắp hương ở đền chùa khi vãng cảnh, nhưng chỉ để tỏ lòng thành kính, chứ không cầu xin gì, vì Phật tại Tâm mà! Do vậy, những phán đoán nêu trên của người ngoài cuộc, chắc còn nhiều thiếu sót, mong các bạn bổ sung, chỉ giáo…
Trong khoảng thời gian 5-7 năm gần đây, một số hoạt động xã hội mang nặng tính chất mê tín, dị đoan chợt bộc phát mạnh mẽ với những lễ hội, những buổi cúng sao giải hạn, đăng đàn cầu phước, khai ấn, dâng hương, hái lộc đầu năm… ngày càng nhiều hơn, số lượng người tham gia đông hơn, từ vài ngàn lên đến hàng chục rồi hàng trăm ngàn.
Điểm đặc biệt của những lễ hội, những buổi cầu an, dâng hương, cúng sao, khai ấn… là sự có mặt, tham gia của những lãnh đạo đất nước từ Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng đến Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc… điều mà cách đây khoảng vài chục năm hoàn toàn bị chế độ CS nghiêm cấm, bài trừ triệt để.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang cùng các lãnh đạo tại lễ khai ấn đền Trần năm 2017
Là những kẻ chủ trương vô thần, hoàn toàn không tin vào tiền kiếp, hậu kiếp, thiên đường, địa ngục…, lý do nào khiến chế độ CSVN quay ngoắt 180° trong chính sách bài trừ mê tín, dị đoan, phá hoại tôn giáo? Từ chỗ cấm đoán, tiêu diệt, phỉ báng tôn giáo đến việc khai ấn, cúng sao giải hạn, hái lộc đầu năm, phải chăng lãnh đạo cộng sản VN đã có những chuyển biến tích cực về tư tưởng, tâm linh?
Hoàn toàn không phải. Người CS làm việc gì cũng có mục đích rõ ràng, có kế hoạch, chủ trương, chính sách. Chính sách, chủ trương, kế hoạch của họ luôn được nghiên cứu kỹ càng, cặn kẽ, suy tính hơn thiệt. Người CS có thể ngu dốt về văn hóa, về lịch sự, về kiến thức khoa học, kỹ thuật, về phát triển kinh tế… nhưng không ngu dốt về tổ chức, tuyên truyền, lèo lái, trấn áp dư luận và luôn sẵn sàng dùng đủ mọi thủ đoạn, phương tiện để đạt được mục đích.
Thập niên cuối của thế kỷ 20 và thập niên đầu thế kỷ 21, một sự lừa bịp trắng trợn, bẩn thỉu, gian ác do chế độ CS chủ trương là vấn đề đi tìm hài cốt của các chiến binh cộng sản Bắc Việt thông qua các nhà “ngoại cảm” nổi tiếng như Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Thị Nguyện… Sau một thời gian nổi đình đám, các nhà ngoại cảm bị lột mặt nạ lừa bịp, việc tìm hài cốt mới chấm dứt trong sự ê chề, nhục nhã.
Nhắc lại chuyện ngoại cảm này để hiểu tại sao thời gian mấy năm gần đây, chuyện khai ấn đền Trần, cúng sao giải hạn, hái lộc đầu năm lại được phục hồi, cổ võ, khuyến khích một cách ồn ào, náo nhiệt với sự tham dự của các quan chức, lãnh đạo cao cấp của chế độ.
Những hình ảnh về khai ấn đền Trần, công khai ở Nam Định, lén lút ở Hà Nội, cầu sao giải hạn ở chùa Phúc Khánh, Đống Đa, Hà Nội trong những ngày qua cho thấy chế độ CS Hà Nội đã được mục đích. Đó là chính sách ngu dân hóa, hay nói rõ hơn, họ muốn người dân quay trở lại với trình độ văn hóa, văn minh ở các thế kỷ trước, tin tưởng vào phép lạ, quyền năng của thần thánh, Phật, Chúa… để quên đi thực tại là mọi vấn đề không thể giải quyết được trong xã hội VN hiện nay đều do đảng CSVN gây ra.
Giải thích về tệ nạn mê tín này, trong một stt của mình trên facebook được báo Tiếng Dân đăng lại, tác giả Nguyễn Thị Bích Ngà viết như sau:
Trích: “Một xã hội mà ăn cái gì cũng sợ nhiễm độc, sợ bệnh tật, đi ra đường thì không biết chết vì tai nạn giao thông lúc nào, con cái ra đường thì không biết chúng sẽ bị lôi kéo vào các thói xấu nào đang đầy rẫy ngoài kia, công việc, làm ăn có thể bị mất trắng, phá sản chẳng theo một quy luật nào, thậm chí cái nhà mình đang ở cũng không phải của mình mà có thể mất bất cứ lúc nào chỉ vì một thằng có tiền nào đó nó cứ hứng muốn giải tỏa để xây cái mả mẹ gì đó và nó chỉ cần đền bù giá rẻ mạt là xong, cãi kiện nó đánh, nó bỏ tù..
Thậm chí, nói cái gì cũng phải lựa lời mà kheo khéo nếu không muốn bị đám đông chửi, đánh, đâm… nhìn nhau cũng bị đánh chết cơ mà. Và những đứa cố gắng thay đổi cái môi trường xã hội đó bằng cách phản biện xã hội, bằng cách đấu tranh với chính quyền thì bị trù dập, bị kiểm soát, bị kết an, bỏ tù và tù ngày càng nặng…thì con người ta biết trông vào đâu. bấu víu vào đâu để vượt qua nỗi sợ và nỗi bất an để tồn tại ngoài trông chờ vào thế lực siêu nhiên?”
Nhận định này của Nguyễn Thị Bích Ngà không sai, nhưng tác giả chỉ mới nói ra có một nửa, nửa còn lại để cho người đọc suy nghĩ, góp ý thêm. Tuy nhiên, để có thể góp ý, độc giả phải suy nghĩ, tìm hiểu căn nguyên của vấn đề, điều không phải ai cũng có thể làm được.
Khi một xã hội mà đa số người dân dễ dàng chấp nhận thực tại với đầy rẫy những bất công vừa kể trên – mặc tình cho những kẻ lãnh đạo đất nước, những cán bộ, quan chức chính quyền, từ anh, chị chủ tịch xã, phường đến các cán bộ trung, cao cấp ở các phòng, sở, bộ, ngành ở trung ương đưa ra những chính sách, kế hoạch bóc lột, hút máu người dân một cách tùy tiện, vô tội vạ đến nỗi bà Nguyễn Thị Doan, cựu phó chủ tịch quốc hội đã phải than rằng: “Người ta ăn của dân không chừa một thứ gì”, xã hội đó phải chạy đi tìm một sức mạnh ở thần thánh không phải là điều khó hiểu.
Trong một đoạn khác, tác giả Bích Ngà viết thêm: “Con người khi được sống trong một môi trường xã hội có sự bình ổn nhất định, được phát triển, làm việc, cống hiến, được nói, được bảo vệ bằng một nhà nước có luật dành cho mọi người chứ không ngoại lệ, an sinh xã hội được đảm bảo một cách tương đối thì họ có cần phải trông chờ vào một thế lực siêu nhiên nào không? Về văn hóa, niềm tin tâm linh vào một tôn giáo nào đó chắc chắn là có nhưng mê tín, ngông muội, trông chờ hoàn toàn vào đó thì không.
Lý giải như thế để thấy, chửi mắng họ là một điều rất dễ, nhưng việc chửi mắng thậm tệ đó thật ra không giải quyết được vấn đề. Họ-chúng ta-là những kẻ thật đáng thương biết mấy trong xã hội, trong thời cuộc này. Nghĩ cách để niềm tin vào tâm linh kia biến thành niềm tin vào một điều cụ thể, chuyển hóa nó thành động lực để thúc đẩy, làm thay đổi xã hội từ bất an thành bình an là một việc rất khó và cần rất nhiều thời gian lẫn công sức, trí tuệ. Trong quá trình đó, chửi mắng thậm tệ đám đông không làm cho họ nhận ra vấn đề, chỉ làm cho họ xa lánh thêm. Họ cần sự thấu hiểu và hướng dẫn, không cần sự phán xét”.
Đúng như vậy. Chỉ trích, phê bình sự u mê, ngu dốt của những người mê tín, xô đẩy, chen lấn, đạp lên đầu, lên cổ nhau để quyết dành cho được miếng lộc đầu năm hay chạm tay vào ấn, thật là dễ dàng, đồng thời cũng làm cho những người hiểu biết, cảm thấy nhẹ nhõm và tự hào rằng mình khôn ngoan, tỉnh táo, không tham gia vào những chuyện mê tín vớ vẩn.
Tuy nhiên, suy nghĩ cho cùng, có mê tín, mông muội, chen lấn, dẫm đạp lên nhau để quyết dành cho được miếng lộc, chạm tay vào ấn, hoặc không mê tín, ngu dốt, hoàn toàn dững dưng với những chuyện trên thì tất cả cũng đều có chung một số phận. Tất cả đều vướng vào một cái bẫy của chế độ CSVN đưa ra, đó là cái bẫy định hướng. Chế độ CS với ban tuyên giáo, thúc đẩy, tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân vào những sự kiện dị đoan, mê tín theo chủ trương, mục đích của họ theo từng thời kỳ.
Tất cả vẫn phải ăn thực phẩm độc, vẫn phải trả phí BOT, phải đổ xăng đắt lòi kèn, phải nhích từng chút trên đường vào những giờ tan sở, vẫn dễ dàng bị cướp giật bất cứ lúc nào sở hở hay bị hành hung vì những lý do vớ vẩn, vào bệnh viện vẫn phải gặp những bác sĩ, y tá, điều dưỡng thiếu trách nhiệm, vô lương tâm… ngoại trừ trường hợp thật giàu, thật nhiều tiền để có thể chọn lựa thức ăn, bệnh viện, trường học, nhà ở… Nhưng ai là những kẻ thật giầu, thừa tiền, lắm bạc để có thể hưởng được những tiêu chuẩn này? Chẳng khó để có câu trả lời.
Người tỉnh táo phải làm sao để giải thích cho người mê tín, dị đoan hiểu rằng, chẳng có Phật, Chúa, Allah, thần thánh nào có thể giảm giá xăng, làm cho thực phẩm bớt nhiễm độc, nhà cửa, đất đai không bị chiếm đoạt bất hợp pháp, hay chỉ được đền bù rẻ mạt, ra đường không dễ dàng bị cắt hộ khẩu một cách lãng nhách vì một tài xế xe vận tải vừa lái, vừa bấm tin nhắn, con cái đi học không bị bạn bè đánh hội đồng vì tội dám tranh luận với bí thư đoàn trong lớp học…
Muốn thay đổi cuộc sống của mình, của gia đình cho tốt đẹp, bình yên hơn, muốn cho xã hội bớt đi với những bất công, mâu thuẫn, đói nghèo, bạo lực, bất an từng giờ, từng phút, từng ngày thì chỉ có con người mới làm được, không thần thánh hay sức mạnh siêu nhân nào có thể làm nổi. Chỉ có ước muốn, ý chí, lòng can đảm, sự kiên trì, tinh thần đoàn kết của chính bản thân từng người dân mới có thể tạo thành sức mạnh phá tan lòng mê tín, dị đoan, ngu muội, tin tưởng vào thánh thần, thoát được cái bẫy định hướng mà chế độ CS đang ngu dân hóa để dẫn dắt, lèo lái, cai trị.
Một nhà hoạt động ở Việt Nam vừa đưa ra một lời kêu gọi nửa đùa nửa thật với nội dung “toàn quốc chống BOT”, nhằm chống lại âm mưu biến việc chặn đường đòi…
Xuất khẩu lao động chỉ là sự đánh tráo khái niệm của cụm từ “mua bán nô lệ” mà Cộng sản Việt Nam muốn che đi sự yếu kém trong điều hành đất nước ,khi con người được xuất khẩu như một món hàng thì giá trị của con người không còn là con người mà họ phải sống dưới quyền một con người ,đó là nô lệ !
Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam ,người Việt được xuất khẩu như những món hàng ,người dân Việt phải phải cúi đầu đi làm thuê cho các nước lân bang mà ở đó thậm chí như Lào ,Campuchia ,Malaysia ..người dân Việt phải bán sức lao động làm lao nô mà ở đó họ phải chịu nhiều tủi nhục ,bị hành hạ ,bị ngược đãi ,bóc lột lao động trong quá trình làm việc sinh sống ở nước ngoài như tịch thu hộ chiếu và giấy tờ tùy thân, bị ép làm việc quá thời gian, quá sức mà không được trả lương ,bị phân biệt đối xử và bạo lực thể xác, tinh thần…
Nhưng với những lãnh đạo họ không dám nhìn nhận sự thật đó ,họ không dám nhìn nhận thực đó ,họ luôn sống mị dân bằng những tuyên truyền với những “khẩu hiệu” mỹ miều tốt đẹp ,họ cho người dân ăn bánh vẻ ,tự sướng …điều này nó càng làm cho đất nước tụt hậu ,kém phát triển mà thôi ..!
Giá trị nền tảng giáo dục của một quốc gia chẳng đáng để bảo vệ bằng ghế cũa một tên Bộ trưởng bất lương.
Chính quyền dùng hành vi vô đạo đức để bảo vệ một con người vô đạo đức. Đây là hành động bất lương của chính quyền.
Với Chính quyền, tên bộ trưởng vô đạo đức còn đáng giá hơn sự trong sạch cả một ngành giáo dục.
Mời đọc:
HỌ HY SINH CÁI GÌ & BẢO VỆ CÁI GÌ?
Stt Nguyễn Hưng Việt
Qua vụ phanh phui việc ông Phùng Xuân Nhạ đạo văn là một việc nghiêm trọng. Với người bình thường đã là không thể chấp nhận nói chi ông là bộ trưởng.
Đạo đức người chủ gia đình ảnh hưởng đến con cái, đạo đức người thầy ảnh hưởng đến học trò, đạo đức người lãnh đạo ngành sẽ ảnh hưởng đến nghành mà ông ta quản lý. Ngành giáo dục luôn treo khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn”, nghĩa là phải học làm người có đạo đức trước mới đến học chữ. Ấy vậy mà với bằng chứng đạo văn không thể chối cãi, Phùng Xuân Nhạ vẫn im lặng ngồi lì. Tệ hơn nữa, một số tờ báo quốc doanh đã tấn công cá nhân người tố cáo là GS Nguyễn Tiến Dũng.
Trong việc này, điều trước tiên là người dân cần tiếng nói ông Phùng Xuân Nhạ thì chẳng thấy ông này lên tiếng. Người dân cần đối chất việc có hay không chuyện ông bộ trưởng đạo văn thì chỉ thấy im lặng. Điều này vô cùng nghiêm trọng, vì nó ảnh hưởng đến cả nghành giáo dục.
Nếu ông bộ trưởng chứng minh mình không đạo văn thì báo chí mới có quyền nói GS Nguyễn Tiến Dũng vì mục đích chính trị hay mục đích cá nhân gì đấy. Nhưng không chứng minh được mà tấn công ngược lại người tố cáo thì rõ ràng đó là hành động trả thù. Nếu ông bộ trưởng lặng im, thì dân sẽ hiểu ông ta có vi phạm nghiêm trọng đạo đức của một nhà giáo dục. Khi đó việc tố cáo của GS Dũng là trách nhiệm phải làm của người chân chính.
Hiện tượng ông Nhạ im lặng và báo chí tấn công giáo sư Dũng để che chở cho ông Nhạ lại là một việc làm còn nghiêm trọng nữa. Chính quyền dùng hành vi vô đạo đức để bảo vệ một con người vô đạo đức. Đây là hành động bất lương của chính quyền này. Với Chính quyền, một quan chức vô đạo đức còn đáng giá hơn sự trong sạch cả một ngành giáo dục.
Với thái độ che chở ông Nhạ của chính quyền như thế là quá rõ. Giá trị quốc gia chẳng đáng để bảo vệ, nó thua cái chỗ đặt đít của một thằng bộ trưởng (tức cái ghế của nó). Vậy nhân dân giao phó số phận mình cho chính quyền này nắm, thì cái ngày số phận cả dân tộc này sẽ bị đem làm một món hàng là khó tránh khỏi. Hy sinh cả ngành giáo dục để che lấp tội lỗi một thằng bộ trưởng vô đạo đức, thì việc đem số phận 90 triệu dân hy sinh cho một tội đồ bán nước, tại sao không?
Vì chính sách 1 con, Trung Quốc đang dư hàng trăm triệu đàn ông. TQ biến ngay điểm yếu này thành điểm mạnh để xâm chiếm Việt Nam.
Theo chiến lược di dân, TQ đưa những người đàn ông ế vợ sang VN tìm vợ, qua nhiều kênh như du lịch, hợp tác lao động, nhà đầu tư… hỗ trợ cho mỗi đối tượng này một số tiền khoảng từ 5000 usd đến hàng trăm ngàn usd. Lẫn trong đám người này là các nhân viên an ninh và quân nhân TQ. Đây là cuộc xâm lược mền nên chỉ số ít người VN nhận biết.
Đàn ông TQ tới khắp mọi nơi ở VN. Việc đầu tiên là qua các cơ sở môi giới, tiếp cận, làm quen với gái Việt. Chỉ cần 1 tuần là họ đã có gái Việt vì nhiều phụ nữ VN nghèo, thất nghiệp, cần tiền, sẵn sàng kết hôn dưới nhiều hình thức. Tiếp theo, người TQ sẽ bỏ ra một số tiền để mua đất, nhà, doanh nghiệp cho cô bồ (vợ) đứng tên, rồi họ tiến hành thành lập Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh với gái Việt mà địa chỉ pháp nhân là mảnh đất, nhà, DN đó với tỷ lệ vốp pháp định cao thuộc về phía TQ, đúng theo luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư của VN.
Vậy là người TQ có đủ cơ sở pháp lý để sống, làm việc, mua nhà đất, cưới vợ, sinh con, đưa người TQ khác tới VN làm việc… lại cưới vợ… đẻ con…
Khi người TQ đạt đến số lượng lớn, TQ sẽ có chính sách áp đặt, chi phối VN.
Đàn ông nghèo, thất nghiệp của VN sẽ bị khốn cùng, ế vợ, tuyệt vọng, bị bán sang nước khác làm culi.
Cuộc xâm chiếm gái cùng với các cuộc chiến trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự với sự tiếp tay của Việt gian và người Việt ham tiền sẽ biến VN thành thuộc địa của TQ.
Cũng như Tây Tạng, người Việt sẽ bị đồng hóa, bị đầu độc, bị nô dịch ngay trên quê hương mình dẫn đến nguy cơ diệt vong.
Cứ u mê, tự sướng, ăn chơi
Cứ làm giàu, cứ yên phận đời
Cứ tin đất nước nhất mọi thời
Là Tây Tạng nếu không đổi mới.
Ảnh minh họa
Phạm Văn Hải
Nỗi nhục của đảng CSVN, sau hơn 70 năm có mặt ở VN, đảng viên biến thái cho thấy không chỉ sai về hánh động xin ấn, mà sai cả lý thuyết cốt lõi của duy vật biện chứng đã làm nên chủ nghĩa CS.
Tại sao quan chức CS lại lo xin ấn đền chùa thì có hai vấn đề, thứ nhất họ đã ăn nên làm ra nhờ vào vị trí quan chức của họ và bây giờ họ cầu xin để có được nhiều hơn nữa, thứ hai họ đã không còn tin vào cái đảng đã cho họ cái chức vị đó nữa nên ho cầu xin thần thánh để chức vụ được chắc chắn.
Lãnh đạo đảng có quản lý nổi trường hợp này không? Vì điều này thế hiện rõ nhất cái tư duy của đảng viên mà ông TBT và ban tuyên huấn gọi là diễn biến hoà bình
(BVPL) – Có điều khác biệt ở 2 lễ hội diễn ra cùng một ngày ở Hải Phòng. Đó là Lễ hội phát ấn ở di tích Bạch Đằng Giang, quan chức Hải Phòng xếp hàng lấy ấn, còn Lễ hội “quan thề không tham nhũng” thì thưa vắng cán bộ lãn…
Sách ‘Chính trị bình dân’ của tác giả Phạm Đoan Trang. Ảnh: internet
Trong mấy ngày vừa qua, tôi nhận được rất nhiều hỗ trợ vật chất và chia sẻ tinh thần. Tiền mặt, quần áo, đồ dùng cá nhân, cả mì ăn liền, thuốc giảm đau, thuốc diệt muỗi và… nước hoa xịt phòng ùn ùn đổ về làm tôi đã bối rối càng bối rối hơn, vì vốn dĩ tôi không mang vác nặng được.
Bên cạnh đó là vô vàn lời chia sẻ từ rất, rất nhiều người. Tôi không sao trả lời hết, chỉ mong được bà con thông cảm mà lượng thứ. Tuy vậy, có một tin nhắn từ một nhà báo, bạn đồng nghiệp, mà tôi đã đọc và cố trao đổi lại dù lúc đó là gần 2h sáng:
“Chị. Em thấy hoảng sợ, em bị dằn vặt vì ý nghĩ em đang ở đây, Việt Nam, làm người viết, để làm gì? Làm gì khi mà mọi ý tưởng đều bị ném vào im lặng? Nhìn chị, em không hiểu điều gì đang diễn ra và sẽ nghiền nát những người viết”.
Tôi thẫn thờ mất vài phút, không biết phải nói với bạn thế nào, bởi vì chính tôi cũng không hiểu. Không thể nghĩ đến bây giờ, năm 2018, tức là cuối thập niên thứ hai của thế kỷ 21, mà chính quyền và công an Việt Nam vẫn hành xử hệt như hồi thập niên 50 của thế kỷ trước: tóm cổ một người viết sách lên đồn và “điều tra, làm rõ” xem động cơ viết là gì, yêu cầu tóm tắt nội dung sách, khai rõ in ở đâu, đã cho, tặng những ai, có quen biết gì với những người bị tịch thu sách, v.v.
Và họ vừa bất ngờ, vừa khó chịu khi tác giả trả lời: “Đúng, tôi viết cuốn ấy đấy. Nội dung là gì thì mời các anh tự tìm đọc. Còn việc tôi cho, tặng, biếu hay bán cho ai là chuyện riêng của tôi, các anh không có quyền và không có tư cách hỏi”.
Chỉ đơn giản là công an Việt Nam và các cảnh sát tư tưởng nói chung không quen bị từ chối như thế. Họ không tưởng tượng được là lại có những không gian, những lĩnh vực mà họ không thể thò đầu, thọc mũi vào để quản lý, kiểm soát, định hướng…
Dù sao chăng nữa, nói “hành xử như thập niên 50 thế kỷ trước” là nói về phía chính quyền. Còn về phía xã hội thì đã tốt hơn quá nhiều, vô cùng nhiều. Tôi đã không phải như người viết văn mấy chục năm về trước, viết tay, gói lá chuối bỏ chum sành chôn xuống đất, mong một ngày con cháu hoặc ai đó có hảo tâm, có điều kiện sẽ tìm ra, moi lên và in giúp. Tôi đã không phải đi câu cá trộm như nhà văn Phùng Quán, không phải về quê nhặt đá thồ gạch như thi sĩ Hữu Loan, không bị chòm xóm, họ hàng, bạn bè xua đuổi, xa lánh như hàng chục nạn nhân của Nhân văn Giai phẩm, Xét lại…
Ngược lại, tôi còn may mắn vô cùng vì được không biết bao nhiêu người giúp đỡ, cả những người công khai lẫn những người âm thầm ủng hộ.
Nhưng cho dù thế nào, tôi cũng muốn rằng tôi là nhân chứng của thế hệ người viết cuối cùng ở Việt Nam còn bị truy đuổi thế này. Mong rằng kể từ nay về sau, sẽ không còn những vụ đàn áp mang những cái tên như Nhân văn Giai phẩm, Xét lại, Đổi mới văn nghệ như ngày trước hay Dân chủ, Xã hội dân sự… như bây giờ nữa.
Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho nở mặt đàn bà nước Nam…
Cảm ơn những gì chị đã làm cho đất nước Việt Nam!!!
Những ý tưởng trong cuốn sách Chính Trị Bình Dân của chị rất bình dân nhưng sao lại quá cao siêu với 95 triệu người dân Việt Nam? Tôi chắc rằng chỉ cần 1% người dân Việt Nam đọc và hiểu được ý tưởng cuốn sách của chị thì người dân Việt Nam sẽ không còn làm nô lệ cho đảng Cọng Sản.
Có phải người dân Việt Nam thật sự thông minh và anh hùng như họ đã tự hào hay chỉ là những tấm khẩu hiệu đầy rẫy ngoài đường?