ĐÔI LỜI VỀ “CHỮ VN SONG SONG 4.0”

Image may contain: 1 person, text
No photo description available.
Image may contain: 2 people, people standing and ocean
Image may contain: text
Image may contain: text
+2
Nguyễn HọcFollow

ĐÔI LỜI VỀ “CHỮ VN SONG SONG 4.0”

Đỗ Duy Ngọc

Cấp bản quyền chỉ là công nhận cái công trình tào lao đó của mấy anh thôi chứ không phải xác định giá trị của nó. Nhớ lấy điều đó để đừng đem cái chứng nhận bản quyền đó ra hù thiên hạ. Thực tế nó chỉ là Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy này cấp để tránh chuyện có người tranh dành công trình này thôi, hoàn toàn không phải là giấy chứng nhận về mặt học thuật. Mấy anh sáng chế, sáng tạo cái gì cũng được, đó là quyền của mỗi người, nhưng đừng nghĩ là người ta sẽ sử dụng nó. Người ta cấp cái bằng này cũng như cấp bằng sáng chế ra cái chổi lông vịt thay vì bằng lông gà hay sáng chế cái ống xịt tưới nước thay vì tưới bằng bình thế thôi, nó chẳng có giá trị nào cả. Hàng năm ở Việt Nam hàng trăm bằng Tiến sĩ được cấp, chẳng có bao nhiêu đề tài trong các luận văn đấy giúp ích cho đời. Cái công trình của các anh cũng giống vậy thôi. Báo chí làm rùm beng chuyện này chứng tỏ những người viết báo chẳng có chút kiến thức vỡ lòng nào về chữ quốc ngữ.

Chẳng có ai ngu si, dốt nát đến độ đem chuyện bôi bẩn, làm xấu tiếng Việt để thay thế chữ Việt trong sáng, đẹp đẽ như đã có mặt trong đời sống của người dân Việt suốt cả một thời gian dài. Người Việt hôm nay yêu tiếng nước mình, chữ viết của nước mình từ khi bập bẹ và lúc bắt đầu cầm bút viết những con chữ đầu đời. Chắc chắn không ai có thể chấp nhận lối viết quái dị, xấu xí của mấy anh. Và như thế, các anh đừng có mơ tưởng hão huyền cái loại chữ không dấu như con chó cụt đuôi này được đưa vào giảng dạy cho học sinh. Ngay từ mới hình thành, những người sáng tạo ra chữ quốc ngữ đã dựa vào tiếng nói của người Việt để tạo nên chữ viết. Chính cái âm điệu trầm bổng của tiếng Việt mà nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ của thế giới đã cho rằng tiếng Việt nói như hát. Và âm điệu đó đã sinh ra các dấu trong chữ quốc ngữ.

Tiếng Việt khác với các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan ở nhiều đặc điểm, trong đó đặc điểm rõ nhất là tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu. Theo quan điểm ngữ âm học hiện đại về thanh điệu, thanh điệu tiếng Việt trong chức năng khu biệt nghĩa, là sự khác biệt về cao độ (pitch) và chất giọng (voice quality), khi phát âm âm tiết. Về cao độ (khái niệm về cảm thụ, tương ứng với khái niệm tần số thanh cơ bản (F0), về vật lí), các thanh điệu có thể phân biệt về 1- đường nét (contour) – đó là diễn tiến (sự biến đổi) F0 trong thời gian phát âm âm tiết; 2- âm vực (pitch level) – đó là vùng cao độ mà ở đó một thanh điệu được thể hiện (tính từ điểm thấp nhất đến điểm cao nhất về cao độ). Chất giọng là khái niệm về mặt cảm thụ, tương ứng với khái niệm kiểu tạo thanh (Phonation type), xét về mặt sinh lí tạo sản lời nói. Kiểu tạo thanh là kiểu thức rung dây thanh, tạo nên sự khác biệt về trạng thái thanh môn và lượng dòng khí đi qua thanh môn, khi phát âm âm tiết.

Khi các giáo sĩ châu Ấu mới tiếp xúc với tiếng Việt, việc phát âm đúng thanh điệu tiếng Việt là khó khăn lớn nhất đối với họ. Linh mục C. Borri đến Đàng trong năm 1618 thú nhận rằng, muốn hiểu và nói được tiếng Việt hoàn toàn phải dành ra 4 năm để học. Marini cho rằng, “dường như dân Việt bẩm sinh đã có một cơ thể rất chính xác, được điều chỉnh thật đúng và hoà hợp hoàn toàn với trí óc cùng buồng phổi; phải nói là, theo tự nhiên, người Việt là nhạc sư, vì họ có tài phát âm một cách nhẹ nhàng và chỉ hơi biến thanh là đã khác nghĩa”. Tháng 12 năm 1624, Linh mục Alexandre de Rhode từ Áo Môn đi tầu buôn Bồ Đào Nha vào Cửa Hàn đến Thanh Chiêm tức thủ phủ Quang Nam Dinh và học tiếng Việt tại đó. Về tiếng Việt ông viết: “Riêng tôi xin thú nhận rằng khi vừa tới đàng trong nghe người Việt nói chuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe chim hót và tôi đâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ có thể học được tiếng Việt”. ( Alexandre de Rhodes, 1653 tr. 72 ; dân theo 2 : tr. 12).

Trong “Báo cáo vắn tắt về tiếng An nam hay Đông kinh”, Alexandre De Rhodes khẳng định hệ thống thanh điệu được phản ánh trong chữ Quốc ngữ là hệ thống thanh điệu Bắc Bộ (Tonkin- Đông Kinh). Tác giả đã miêu tả rất ấn tượng các “giọng” (thanh điệu) và đặt tên cho từng giọng (thanh điệu). “Thứ nhất, giọng bằng là giọng phát âm không uốn tiếng chút nào. Thứ hai, giọng sắc là giọng phát âm bằng cách nhấn tiếng và đẩy tiếng ra giống như người biểu lộ cơn giận. Thứ ba là giọng trầm và phát âm bằng cách hạ thấp tiếng. Thứ tư là giọng uốn cong, được diễn tả bằng cách uốn cong tiếng phát ra từ đáy ngực, và sau đó được nâng lên một cách cao vang. Thứ năm là giọng được gọi là nặng trĩu hay cực nhọc, bởi vì giọng này được diễn tả bằng việc phát âm từ đáy ngực với sự nặng trĩu hay cực nhọc nào đó, và nó được ghi bằng dấu chấm dưới. Sau hết, giọng thứ sáu là giọng nhẹ, bởi vì nó được phát ra với việc uốn cong tiếng cách nhẹ nhàng, như khi chúng ta có thói quen hỏi , itane (phải vậy không)? và những tiếng giống như vậy, và bởi vậy, dấu hiệu này được ghi bằng dấu hỏi“.

Việc các nhà truyền giáo sử dụng các dấu ghi thanh điệu cũng có lí do. 4 trong 5 dấu thanh có nguồn gốc Hi Lạp gồm dấu Huyền, Sắc, Ngã, Nặng, dấu Hỏi có nguồn gốc La Tinh. Việc lựa chọn dấu (hình dáng đồ họa, vị trí đặt dấu) để ghi mỗi thanh điệu được căn cứ vào cách phát âm của thanh đó. (NGUYỄN VĂN LỢI – Đăng lại từ báo cáo “Sự hình thành cách ghi thanh điệu chữ Quốc ngữ”)

Đoạn văn được trích trên cho thấy các dấu trong chữ Việt phát xuất từ cái hồn của tiếng Việt. Nay các anh bỏ mất dấu đi, hỏi tiếng Việt còn gì trong chữ viết mới của các anh. Chính các anh, bằng cái sáng chế công trình quái dị đó đã tước mất cái hồn vía, cái bản sắc đặc biệt trong chữ Việt mà các giáo sĩ Francisco de Pina, Joao Roiz; Gaspar Luis; Antonio Barbosa, Cristoforo Borri; Alexandre de Rhodes và Gaspar d’Amaral mất một thời gian rất dài mới tạo ra được.

Bằng công trình chữ Việt không dấu gọi là “Chữ VN song song 4.0” của hai tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình đã làm xấu đi chữ Việt, tạo ra một lối viết què quặt khó coi. Nhìn lối viết chữ này, người ta sẽ không còn thấy chữ Việt mà cứ nghĩ là lối chữ viết của một nhóm thổ dân nào đó. Chuyện cấp chứng nhận đăng ký quyền tác giả là chuyện bình thường, có gì đâu mà phải ầm ĩ thế!

Với tư cách là một con dân đất Việt, nói tiếng Việt và sử dụng chữ Việt suốt gần cả đời người, đồng thời là một thầy giáo dạy chữ Việt mấy chục năm, tôi phủ nhận công trình này.
2.4.2020
DODUYNGOC

Bổ sung: Đây là một đoạn văn được viết theo lối chữ mới đăng trong face của tác giả. Nói thiệt, đọc và hiểu được, chết liền! Xin hỏi có ai hiểu chi không?

BILQ

Ahp kogy xugx lal bilq xahp*Nhugo ahp mulb em-lal bok cat tragx*Bok cat zail fagv lagh *Soi ahj nagx fa ley*Bok depr des cat vagl*Thojp thojz hagl thogy dugx *Nhuo lagh les moo magl*Sudb wanl namo beny sogj *Ahp xin laml bilq bisb *Hony mais cat vagl em *Hony thatf kes thatf emy *Hony emy demd mais mais *Das hony roid hony lair *Cho denb mais muly doik *Denb tan caz datb troik *Ahp moix thoiy zaol zatr Cugs coj ki aol atr*Nhuo wilb nat bok em *Lal luc triwd iwy menb*Wapf benb cuaz wayl demy *Ahp kogy xugx lal bilq xahp *Nhugo cugs xin laml bilq bisb *Deq hat mais beny gahl*Motf tihl chugp kogy hetb*Deq nhugw ki botr tugp tragx xoaj*Val joj ved bay toaz noio noio *Nhuo hony mais wanl namo kogy thoaz*Boiv iwy bok lamx lamx em oio.
—————–
CVNSS 4.0, Chuj Wylg Bihl zikr trogp bail thoo “Bilq” cuaz Xaly Ziwf

https://kenh14.vn/tieng-viet-khong-dau-chinh-thuc-duoc-cap-

Luật sư Lê Thị Công Nhân: “bệnh viện Bạch Mai là hang ổ tham nhũng vĩ đại, trắng trợn và tàn nhẫn nhất Việt Nam”

NGHIEPDOANBAOCHI.ORG

Luật sư Lê Thị Công Nhân: “bệnh viện Bạch Mai là hang ổ tham nhũng vĩ đại, trắng trợn và tàn nhẫn nhất Việt Nam”

Ngày 31 tháng 03 năm 2020, luật sư Lê Thị Công Nhân ở Hà Nội viết trên Facebook cá nhân: “Quyên góp cho bệnh viện Bạch Mai ư ? Không, đó là hang ổ tham nhũng vĩ đại, trắng trợn & tàn nhẫn…

Việt Nam sẽ tạm đóng cửa biên giới với Lào, Campuchia

Quyết định trên của Chính phủ Việt Nam được truyền thông trong nước loan vào ngày 31/3, nêu cụ thể việc tạm dừng các hoạt động qua lại biên giới đối với người tại các Cửa khẩu chính, phụ, đường mòn, lối mở tại khu vực biên giới của Việt Nam với Lào và Campuchia được áp dụng từ 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2020.

 

RFA.ORG

Việt Nam sẽ tạm đóng cửa biên giới với Lào, Campuchia

Chính phủ Việt Nam quyết định tạm dừng các hoạt động qua lại biên giới giữa Việt Nam-Campuchia và Việt Nam –Lào.

Tính hẹp hòi và cố chấp của người Việt

Hẹp hòi và cố chấp là hai tính cách thường đi đôi với nhau, nó trái ngược với bao dung, vị tha. Trong rất nhiều bài viết về giáo dục, tôi luôn nói cha mẹ đừng trách phạt khi con nhận lỗi với mình. Hãy bao dung với lỗi của trẻ, hướng dẫn thêm cho trẻ để trẻ học bài học kinh nghiệm từ lỗi sai của mình, và khen trẻ khi trẻ làm sai mà biết tự nhận ra và tự thú nhận, xin lỗi. Đó là một hành động dũng cảm.

Ông cha ta có câu, “đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại.” Đó là một câu triết lý thấm đẫm tư tưởng bao dung và đầy tinh thần hòa giải hòa hợp của dân tộc. Nhưng, thực tế, cách hành xử của ông bà cha mẹ trong gia đình xưa nay, cách con người ứng xử trong xã hội, cách chúng ta đang ứng xử với nhau có được như thế chưa? Hay chúng ta vẫn đã và đang ứng xử rất hẹp hòi với nhau, với cả người thân, thậm chí con cái mà không nghĩ đó là hẹp hòi, cứ lầm tưởng đó là nghiêm khắc?

Trong đời, ai không có lỗi? Ai không một lần sai? Ai cũng có. Có cái lỗi lớn, có cái sai nhỏ, có cái nhẹ hều nhưng cũng có cái làm tổn hại, tổn thương rất lớn. Khi phạm lỗi, ai cũng muốn được người khác thấu hiểu nguyên nhân, thông cảm và tha lỗi cho mình. Nhưng khi người khác phạm lỗi thì ta lại khắt khe, chỉ trích, không chấp nhận giải thích, không bỏ qua, không tha thứ, hoặc dèm pha kể cả dạy đời, thậm chí xúc phạm họ, xa lánh họ. Ta trách người không hiểu ta nhưng ta cũng không hiểu người. Cách giáo dục hà khắc của ông bà mình, theo Nho giáo, mà cũng chỉ nửa vời hời hợt, cộng với nền giáo dục hiện tại đã làm cho người Việt chúng ta ngày càng mâu thuẫn nội tại kinh khủng và nó bộc lộ hết ra mỗi khi có chuyện.

Tôi hiếm thấy người dám dũng cảm nhận mình sai. Khi gặp được những người như vậy, tôi lập tức kết bạn và mặc định có sự tin tưởng nhất định. Vì sao vậy? Vì họ là những người chịu học, chịu xét lại bản thân, dám chịu trách nhiệm cho hậu quả do lỗi của mình gây ra. Đó là người tốt. Chúng ta thường thấy nhất cảnh khi ai đó làm sai, bị “đánh,” dồn ép đến mức không thể chạy được nữa thì mới buộc phải nhận lỗi, nhận sai. Bọn trẻ con ngay trong nhà, làm vỡ cái lọ quý, nó giấu tiệt, bạn phải tra hỏi, đánh hoặc dọa đánh đã đời cuối cùng nó mới khai thật. Vì sao vậy? Có bao giờ bạn nghĩ đó là do lỗi của chính mình, của chúng ta chưa? Khi người ta thấy trước đó bạn hẹp hòi cố chấp không tha thứ bỏ qua cho lỗi của người khác thì họ sẽ không tin bạn sẽ bỏ qua cho họ nếu họ nhận lỗi với bạn. Ngược lại, người ta sợ.

Khi người ta không bao dung cho người khác thì sẽ không tin có kẻ khác bao dung mình. Có lỗi thì… thôi thôi giấu nhẹm. Người làm gì sai, phát ngôn gì chưa chuẩn, khi được nhắc, không dám nhận mình sai vì sợ cái đứa nhắc và đám đông xúm lại chỉ trỏ bàn tán thêm mắm dặm muối “đừng tin nó nữa”, “trời ơi giờ mới biết cái bộ mặt”, và nhiều lời lẽ móc máy cay nghiệt khác, người thực lòng tha thứ rất hiếm hoi. Nỗi sợ này làm người ta dù biết mình sai cũng vẫn sẽ cố phòng thủ, phản ứng tới cùng bởi biết không có đường lui. Ta gặp phản ứng này rất nhiều trên mạng. Hãy hiểu, họ không được bao dung, họ đang phản ứng trong di chứng tổn thương, và chính sự hẹp hòi, cố chấp của ta đẩy họ tới bước bất chấp. Khi ta làm gì sai, xu hướng lặp lại y chang người ta chửi mắng trước đó. Vô thức.

Sự hẹp hòi, cố chấp trong mỗi chúng ta làm cho chúng ta không thể yêu thương nhau và ghét bỏ nhau rất dữ tợn mỗi khi có ai đó phạm lỗi hoặc ta nghĩ họ có lỗi. Lỗi của người ta dù nhỏ cũng thành lớn. Rồi phản ứng qua lại. Dùng xăng cứu lửa. Rồi thì, chúng ta thấy, người Việt mình mồm thì nói yêu nhau nhưng thể hiện thì lại trái ngược hoàn toàn. Không thể làm việc cùng. Không thể đoàn kết. Không thể hàn gắn. Không thể sẻ chia. Không thể có thành công.

Làm sao để sửa tâm thức hẹp hòi, cố chấp?

Về mặt logic, xin hãy tìm hiểu và tập thói quen suy đoán vô tội. Không vội nhận định khi chưa có đủ chứng cứ để chứng minh cho lập luận của mình, chưa bao quát các góc nhìn. Cái này thiên về mặt lý trí, loại bỏ cảm xúc yêu ghét. Khi có lối tư duy này, ta dễ dàng nhìn nhận sự việc, con người, những lỗi sai phạm một cách rõ ràng, chính xác và có tính công bằng. Khi người có lỗi nhìn thấy ở bạn sự công bằng, họ sẽ dễ nhận lỗi với bạn hơn. Bạn cũng sẽ không thể hẹp hòi và cố chấp được bởi lý trí và tính thực tế bắt bạn phải bỏ qua vì bạn đặt mục đích, lý tưởng lên trên.

Về mặt tình cảm, xin hãy nghĩ về những điều người có lỗi đã từng làm được tốt, hãy tìm hiểu nguyên nhân, tâm lý của họ, hãy nghĩ đến những gì đã có với nhau, và chậm rãi trong việc buông lời phán xét, chỉ trích, xúc phạm. Hãy dùng sự chân thành để nói nhau nghe và tỏ lòng bao dung ra trước với niềm tin người có lỗi sẽ thay đổi, cũng như ta vững tin là ta sẽ thay đổi khi ta phạm sai lầm.

Tôi biết là khó. Tôi vẫn đang trong quá trình học và tự tập cho mình, vẫn có lúc va vấp, nhưng phải tập bởi chỉ có vậy mới bỏ được sự hẹp hòi cố chấp ra khỏi đầu mình.

Dân tộc mình chịu nhiều tổn thương lắm rồi. Cày xéo thêm nhau làm chi? Chúng ta phải sửa, cho mình, cho con cháu, cho việc chung.

Theo facebook Nguyễn Thị Bích Ngà

XÃ HỘI VIỆT NAM… VÌ SAO BĂNG HOẠI

“Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Đó lại chính là những “bài học thực tế ko sách vở, ko lý thuyết” mà giáo dục VN đang dạy cho học sinh và toàn xã hội. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên…”

Một vị giáo sư Bỉ qua đây dạy, ngày nghỉ ông tranh thủ đi chụp hình kỷ niệm tại sân Tao Đàn. Khi chiếc để camera vừa đặt xuống để mở túi, ông bị giật luôn. Kẻ cướp hành xử ngay chốn đông người, còn vị giáo sự nọ cũng không kịp than vãn và phỉ bác. Ông tự an ủi với tôi rằng “thôi thì cái máy của tôi cũ quá rồi, đây là dịp để mua cái mới”. Một người bạn khác, ra chợ Bến Thành bị móc ví. Ông ấy hới ha hớt hải vì mất hộ chiếu và giấy tờ tùy thân. Được một lúc sau có người vỗ vai nói nhỏ bằng tiếng Anh hẳn hoi, rằng ví của ông đang ở góc bên kia đường. Ông đi đến và thấy ví của mình đó, tiền mất nhưng may mắn là còn giấy tờ. Ông ấy hài hước: “đám ăn cướp Việt Nam văn minh đấy”.

Ở Châu Âu những năm 1960, 1970 dường như rất ít tệ nạn. Cho tới khi bức tường Berlin sụp đổ, dân cộng sản Đông Ấu có thể tràn qua các nước Châu Âu và từ đó tệ nạn xuất hiện nhiều hơn. Bởi tệ nạn xã hội thường xuất phát nhiều ở các nước Đông Âu. Các quốc gia cộng sản ở Đông Âu kinh tế kém phát triển, nền giáo dục cũng chưa cao. Khi sang Tây Âu họ thấy ở đây giàu quá, dân hiền quá, xe đạp để ngoài đường không cần khóa nên họ lấy. Nhưng vấn đề của chúng ta lại khác, tình trạng đến mức trầm trọng khi người ta sẵn sàng giết cha mẹ vì vài trăm ngàn. Hay những hành động côn đồ xảy ra giữa chợ mà không ai phản đối… đó là sự băng hoại về đạo đức.

Trộm, cướp… đến từ cuộc sống khó khăn nhưng sự chiếm đoạt của các ác lại nằm ở giáo dục và khi giá trị đạo đức bị hủy hoại, tha hóa rõ ràng. Bởi kinh tế khó khăn thì sau thời gian suy thoái sẽ vực dậy. Địa ốc đóng băng thì có ngày phục hồi. Đồng tiền mất giá và từ giá mới sẽ vươn lên. Nhưng nền giáo dục của ViệtNam đang lầm đường lạc lối. Nền giáo dục không tạo được con người có nhân cách, có niềm tin đạo đức, biết sống lương thiện, biết sống thương yêu… Thay vào đó là từ ngay tấm bé trẻ con đã thấy một xã hội vị kỷ, thực dụng, chỉ thấy tiền là chính. Giáo dục thường thức, giáo dục công dân đang có vấn đề. Tuổi trẻ xao nhãn học văn, ngán gẫm học sử vì bài học, vì sách giaó khoa quá ư cứng nhắc, một chiều, không hấp dẫn, không sinh động.
Thời VNCH cùng một bài học lịch sử, ngay trong một trường, ông A giảng thế này, ông B thế khác. Ông thân hữu, ông thân tả. Nhờ đó học sinh đã có cái nhìn độc lập, có nhận thức rằng ông này nói đúng, ông kia nói chưa chắc đúng. Hồi đó chúng tôi được dạy sử Việt Nam, được dạy lịch sử thế giới, thống nhất Đức, Ý, lịch sử giành độc lập Hoa Kỳ, Các mạng dân chủ dân quyền Pháp, kể cả cách mạng tháng 10 của Lê Nin. Người dạy tôi năm đó là một ông thầy thân tả và có cảm tình với XHCN. Mọi ý kiến đều được tôn trọng . Vì vậy, thời xưa đậu tú tài đã là trí thức, rất vững vàng. Tú tài thời xưa khác hẳn tú tài ngày nay. Tú tài thời nay không có hiểu biết thực, không có tự lập và không có đầu óc phê phán.”

Thời điểm Pháp thuộc, đất nước ta bị bóc lột, dân Việt bị bần cùng hóa. Đây là lý do chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Hiện thực xã hội lúc đó cũng có thể là thời điểm đen tối nhưng cũng có nhà văn phản tỉnh, trí thức tả chân. Cụ thể như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố trong tác phẩm của họ tố cáo trước dư luận những tội ác của thực dân và sự cùng cực của dân tộc bị trị. Nhưng những cuốn sách ấy được xuất bản, và truyền lại cho hậu thế. Còn bây giờ tôi không thấy những cuốn sách như vậy. Không phải không có những người tài mà những cuốn sách đó khó được in ấn xuất bản một cách chính diện. Người tốt giờ đây phải co cụm lại, im lặng…

Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Đó lại chính là những “bài học thực tế, ko sách vở,ko lý thuyết” mà giáo dục VN đang dạy cho học sinh và toàn xã hội. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên…
Tội phạm không sợ bị trừng trị, không sợ bị lên án, Họ đánh mất lòng tự trọng nên thay vì xấu hổ và lo sợ chúng lại quay ra thách thức xã hội, hành hung những người dám ngăn cản mình. Cái ác hành hoành, người tốt, người có đạo đức, vốn là rường cột của xã hội họ lại phải lui về thúc thủ, bàn quan. Bởi vì nếu can thiệp họ sẽ gặp tai họa, gặp rắc rối.

Hồi cách mạng năm 1789 ở bên Pháp, giáo dục nằm trong tay nhà thờ. Cách mạng thành công, trường học được giải phóng, việc giáo dục trở thành lĩnh vực của thế nhân, chính quyền dân sự. Tuy nhiên, người Công giáo vẫn có có quyền mở lớp riêng cho họ… Những người theo đạo có quyền đi học ở mọi trường lớp và đức tin của những con chiên được nhà nước đảm bảo và tôn trọng. Xin kể một kinh nghiệm cá nhân mà tôi đã thâu thập tại Bỉ. Tôi là người theo đạo Phật, vợ tôi là người Công Giáo. Các con tôi theo đạo bố nhưng vì trường công giáo rất nghiêm, tôi ghi tên các con theo học tiểu và trung học tại đây. Nhưng không vì thế mà chúng bị phân biệt. Ở trường con tôi đứng đầu lớp về môn học giáo lý công giáo, tuy chúng nó thưa với thầy cô là chúng nó theo đạo Phật. Những nhưng thầy cô ở đây nói rằng: Con tin vào điều gì hãy giữ vừng niềm tin đó. Đằng này chúng ta đưa chính trị vào trường học, nhồi nhét quan điểm một chiều trong trường học. Thay vì khuyến khích yêu thương nâng đỡ nhau để giải quyết các vấn đề thì có một thời ta lại khuyến khích đấu tranh để sống còn. Mà đấu tranh giai cấp là tiêu diệt kẻ thù, tiêu diệt thế lực thù địch… Thói ghen ghét, đố kỵ ở đâu cũng có, nhưng tôi có cảm nhận tại ViệtNamngày nay, những tật xấu này có phần gay gắt một cách không bình thường.

Ở trường hiện nay tôi thấy ít có chủ trương dạy con thương yêu cha mẹ. Chỉ thấy dạy yêu tổ quốc nhưng người ViệtNamcũng như các dân tộc khác, căn bản là gia đình. Trẻ con phải được dạy yêu thương cái nôi là yêu cha mẹ, yêu anh em, yêu ông bà rồi mới yêu cái cây đa, yêu cái đình làng, cánh đồng lúa chin, con sông nho nhỏ uốn quanh làng quê, con đường phố rợp bóng mát cây xanh, rồi mới đến yêu tổ quốc với tất cả những yếu tố văn hoá, lịch sử đi theo: Tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du…. Vì với trẻ con tổ quốc là điều gì rất mông lung. 5, 6 tuổi biết thế nào là tình yêu tổ quốc. Tuổi này nó cần bàn tay ấm áp của mẹ, sự vuốt ve của cha, sự nâng đỡ của anh và bài học giáo dục mỗi ngày ở nhà, ở trường cũng phải thường xuyên như vậy. Nhưng dường như bài học thương yêu, đề cao những tâm hồn cao thượng, tình tương thân tương ái, nhiễu điều phủ lấy giá gương, thương người như thể thương thân, đã bị làm cho mờ nhạt từ lâu. Một môi trường như vậy mà bạo lực không xuất hiện mới là điều lạ.

* Stt này là mình trích ra từ những đoạn mình ưng ý trong bài phỏng vấn của Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (Việt kiều Bỉ) với báo Pháp Luật . Và có 1 đoạn nói về dạy sử thời VNCH là từ 1 bài viết khác của GS Nguyen Dang Hung
Khi được phỏng vấn giáo sư đang ở VN và còn cộng tác làm việc ở VN nên ko thể nói hết những nguyên nhân gốc rễ, ko thể nhắc đến những khía cạnh pháp luật – quản lý xã hội ảnh hưởng như thế nào… tuy nhiên cách nói của giáo sư rất thích hợp cho những ai thích đọc kiểu viết nhẹ nhàng, ko gay gắt, ít đề cập trực tiếp đến chế độ 

Các bạn có thể xem toàn bộ bài phỏng vấn của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng ở đây. Bài phỏng vấn này báo Pháp luật cũng ko dám đăng lên

 http://anhhaisg.blogspot.com/…/oi-thoai-voi-gs-nguyen-ang-h…

Nguồn: fb Nam Dao

Tòa Đại Sứ: Công dân Mỹ nên ‘rời Việt Nam sớm nhất có thể’

Tòa Đại Sứ: Công dân Mỹ nên ‘rời Việt Nam sớm nhất có thể’

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam khuyến cáo công dân Mỹ ‘rời Việt Nam sớm nhất có thể’ vì các chuyến bay thương mại cất cánh từ Việt Nam đang giảm nhanh chóng.

Thông báo nêu trên được Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam phát đi vào chiều 19 Tháng Ba.

Bản thông cáo viết: “Đại Sứ Quán Hoa Kỳ khuyến cáo tất cả các công dân Hoa Kỳ đang sinh sống hoặc du lịch tại Việt Nam rằng hiện nay, số lượng các chuyến bay thương mại cất cánh từ Việt Nam đang giảm nhanh chóng. Nếu như bạn đang cân nhắc việc rời khỏi Việt Nam, Đại Sứ Quán khuyến cáo công dân Hoa Kỳ thu xếp việc đi lại của mình trong thời gian sớm nhất.”

Một ngày trước, Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã thông báo tạm ngừng phỏng vấn cấp xét thị thực.

Theo VnExpress hôm 19 Tháng Ba, Hãng Hàng Không Vietnam Airlines vừa loan báo tạm dừng toàn bộ đường bay quốc tế từ hôm 25 Tháng Ba đến hết 30 Tháng Tư, 2020. Cùng thời điểm, Vietjet Air thông báo các đường bay giữa Việt Nam và Thái Lan, Singapore, Malaysia, Cambodia, Myanmar và Indonesia của hãng này tạm dừng từ hôm 20 Tháng Ba. Việc cắt giảm chuyến bay được hãng hàng không của tỉ phú Nguyễn Thị Phương Thảo nêu là “do ảnh hưởng của dịch bệnh, cũng như quy định mới của chính phủ Việt Nam liên quan đến nhập cảnh, cách ly”.

Một số du khách Châu Âu đang chờ chuyến bay tại phi trường Nội Bài. (Hình: Zing)

Báo Zing hôm 19 Tháng Ba cho hay nhiều đoàn du khách quốc tế đang kẹt ở Hà Nội muốn đi các nước Châu Âu hiện tại đều phải chọn bay vòng qua Bangkok, Thái Lan vì một số đường bay thẳng đang tạm dừng để phòng dịch COVID-19.

Trước đó, từ hôm 18 Tháng Ba, Hà Nội loan báo tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài, bên cạnh việc áp dụng cách ly tập trung 14 ngày đối với người nhập cảnh từ Mỹ, Châu Âu và các quốc gia ASEAN.

VnExpress cho hay, do hàng trăm chuyến bay nội địa và quốc tế liên tục bị cắt giảm, gần nửa tiếp viên của Hãng Vietnam Airlines hiện đã phải xin nghỉ không lương. Con số này được ghi nhận là 1,400 người. Tờ báo dẫn lời ông Phan Ngọc Linh, trưởng đoàn tiếp viên Vietnam Airlines rằng các tiếp viên của hãng này buộc phải lựa chọn hoặc tạm hoãn hợp đồng làm việc từ một đến ba tháng không nhận lương hoặc đi làm một tuần nghỉ hai tuần…

Trong một diễn biến khác, Thủ Tướng Cambodia Hun Sen loan báo trên Facebook rằng nước này chính thức tạm dừng nhập cảnh đối với công dân Việt Nam từ 23 giờ 59 phút ngày 20 Tháng Ba nhằm “tránh những phiền toái của yêu cầu phải cách ly phòng dịch virus COVID-19”. Quyết định này có hiệu lực đối với người Việt Nam nhập cảnh bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không. (N.H.K)

Vietnam Airlines dừng tất cả các đường bay quốc tế đi/đến Việt Nam

Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) thông báo tạm dừng khai thác tất cả đường bay quốc tế trong mạng bay của hãng đến các nước đến hết tháng 4/2020. 

vietnam airlines, covid-19
Vietnam Airlines sẽ dừng tất cả các đường bay quốc tế đi/đến Việt Nam đến hết tháng 4/2020. (Ảnh minh họa: Vytautas Kielaitis/Shutterstock)

Cụ thể, các đường bay Đông Nam Á gồm Singapore, Thái Lan, Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar sẽ tạm dừng khai thác hai chiều từ ngày 21/3.

Đường bay Anh, Nhật Bản tạm dừng hai chiều từ ngày 23/3; trong khi đường bay Đức, Úc tạm dừng chiều Việt Nam đi từ ngày 24/3, chiều về Việt Nam từ ngày 25/3.

Trước đó, Vietnam Airlines đã tạm dừng khai thác các đường bay giữa Việt Nam với Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Hàn Quốc, Pháp, Malaysia, Nga và Đài Loan.

Với các hành khách bị ảnh hưởng, Vietnam Airlines cho biết hãng sẽ miễn lệ phí và điều kiện thay đổi ngày bay, thay đổi hành trình trên vé cho tất cả hành khách bay quốc tế bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 xuất vé trước ngày 25/3.

Nguyễn Quân

Danh ca Thái Thanh từ trần

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 3 people, people smiling, suit
No photo description available.
Huỳnh Duy Lộc

Danh ca Thái Thanh từ trần

Danh ca Thái Thanh đã từ trần vào lúc 11:50 AM, ngày thứ ba 17.3.2020 tạI Orange county, bang California.

Bản tin của VnExpress: https://vnexpress.net/…/danh-ca-thai-thanh-qua-doi-4070193.…

Thái Thanh và “Tình hoài hương”

Trong một chương trình nhạc Phạm Duy ở hải ngoại nhiều năm về trước, nhạc sĩ Phạm Duy có bày tỏ lòng tri ân đối với người em vợ của ông là nữ ca sĩ Thái Thanh: “Không có Thái Thanh thì sẽ không có ai biết đến Phạm Duy”. Câu nói của Phạm Duy không phải là một lời xưng tụng quá mức vì Thái Thanh thật sự là người đã thể hiện xuất sắc rất nhiều ca khúc do ông sáng tác.

Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ thứ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức ca sĩ Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ. Thái Thanh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, khi 12 tuổi, Thái Thanh theo các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn nên cha mẹ cô lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long. Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi nhưng từ nhỏ, cô không theo học nhạc ở trường lớp nào. Chị em Phạm Thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm Thị Băng Thanh thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Đầu năm 1949, chị em họ Phạm gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa).

Tuy nhiên giọng hát của Thái Thanh chỉ được mọi người biết tới khi cô theo gia đình rời vùng kháng chiến, về thành và vào miền Nam vào năm 1951. Từ đó, tên tuổi của cô gắn liền với ban nhạc Thăng Long và những nhạc phẩm của Phạm Đình Chương, anh trai cô, Phạm Duy, anh rể cô, và rất nhiều nhạc sĩ khác cùng thời.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi chép về khoảng thời gian thành lập ban hợp ca Thăng Long ở miền Nam: “Một buổi sáng tháng 6 năm 1951. Trên chuyến máy bay cất cánh từ Gia Lâm, lời chào tạm biệt Hà Nội chưa kịp tan trong lòng mọi người, gia đình họ Phạm đã tới Saigon vào một trưa hè sáng sủa và mát mẻ. Chúng tôi xuống sân bay Tân Sơn Nhứt với một lời chào khác: Saigon, chào em!

Để sinh sống trong cuộc đời đã đổi mới, chúng tôi tới hát tại Đài phát thanh Pháp-Á (Radio France- Asie), phòng thu thanh đặt ở đại lộ de La Somme (đường Hàm Nghi) gần chợ Bến Thành. Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban Thăng Long (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung, Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc. Về phần nhạc mục (répertoire), ban Thăng Long đã có một số bài rất ăn khách do tôi soạn từ trước như “Nương chiều”, “Gánh lúa” hay mới soạn như “Tình ca”, “Tình hoài hương”… Ngoài ra những bài như “Nhạc đường xa” của Phạm Duy Nhượng, “Đợi anh về” của Văn Chung, “Được mùa”, “Tiếng dân chài” của Phạm Đình Chương cũng được hát…
Băng Thanh, cô em út trong gia đình, đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng. Thái Thanh khởi sự làm mê hoặc lòng người bằng giọng hát hãy còn rất mỏng của cô bé 17 tuổi. Bước vào nghề hát vào tuổi dậy thì, dù chẳng theo học một lớp dạy hát nào. Thái Thanh có lối hát rất Việt Nam, nghĩa là nhấn giọng vào từng chữ, giống như lối hát dân ca, hát chèo, hát chầu văn. Những bài như “Tình ca”, “Tình hoài hương” với âm vực rất rộng lúc đó được tôi soạn ra cốt để cho Thái Thanh hát và chỉ có cô mới hát nổi những nốt rất trầm (nốt Sol dưới) hoặc rất cao (nốt Sol trên) của hai tác phẩm này. Từ đó trở đi, đa số ca khúc của tôi đều dựa vào khả năng của giọng hát Thái Thanh. Cho tới khi tôi có thêm giọng Duy Quang, Julie và Thái Hiền…” (Hồi ký Phạm Duy, chương 1, tập 3)

Nữ ca sĩ Quỳnh Giao cũng nhận định về giọng ca Thái Thanh: “Thái Thanh có giọng hát đẹp như Kim Tước hay Ánh Tuyết, Mộc Lan, Châu Hà. Nhưng Thái Thanh lại khác hẳn mọi người ở khả năng phát âm rất rõ lời. Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu, từng chữ với âm sắc hoàn toàn Việt Nam…” (Thái Thanh, lời ru của mẹ – Tạp ghi, tr. 310-311)

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các quan chức văn hóa đến kêu gọi cô hát các bài hát tuyên truyền cho chế độ mới, nhưng cô nhất quyết từ chối. Chính vì vậy, cô bị cấm trình diễn, cấm xuất hiện trên báo chí, truyền hình, phát thanh suốt 10 năm liền cho đến khi sang Mỹ định cư vào năm 1985. Trong những năm đầu tiên tại Mỹ, cô là một trong những ca sĩ được mời đi lưu diễn nhiều nhất và được mời thu âm cho nhiều chương trình ca nhạc của Trung tâm Diễm Xưa. Sau đó, cô mở lớp dạy hát tại nơi dạy nhạc của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở quận Cam, bang Cali. Năm 1999, ở tuổi 65, cô quyết định giải nghệ và việc này được đánh dấu bằng một đêm trình diễn đặc biệt của cô cùng với các con và các cháu.

Phạm Duy đã chia sẻ về tâm tình của ông và bối cảnh trong đó ông đã viết ca khúc “Tình hoài hương”, ca khúc được Thái Thanh thể hiện thành công hơn ai hết: ”Gần hai năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ tại Sàigòn, rồi đi hát chỗ gần chỗ xa… Khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài “Tình hoài hương” (1952). Nó là một bài hát hoài cảm, là sự nhớ nhung của riêng tôi đối với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa. Ngờ đâu nó sẽ là bài hát hoài hương của một triệu người di cư vào Nam 2 năm sau đó. Rồi khi một triệu người khác, trong một thời gian khác, nghĩa là sau ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, phải vượt trời, vượt biển ra khỏi bán đảo chữ S thì bài “Tình hoài hương” của 20 năm trước lại trở thành một bài hát rất hợp tình, hợp cảnh… Bài hát nói tới sự nhớ thương con sông đào xinh xắn, nhớ phiên chợ chiều xa tắp, nhớ vòm tre non và làn khói ấm hương thôn nơi đó, trong mảnh đời thơ ngây của tôi, có con trâu lành nằm mộng bên đàn em bé, có mẹ già yêu dấu ngồi nghe tiếng sáo chơi vơi… Chao ôi là nhớ nhung!”

Ca khúc “Tình hoài hương” với giọng ca Thái Thanh (hát live):
https://youtu.be/lXiY-j1JI4U

Ca khúc “Tình hoài hương” trên Paris By Night 19:
https://youtu.be/rw-8IWG9vxM

Ảnh: Nữ danh ca Thái Thanh với Hoài Trung, Hoài Bắc Phạm Đình Chương và nhạc phẩm “Tình hoài hương”