Nguyễn Thị Kim Tiến được tại ngoại sau khi nộp ‘khắc phục’ nửa triệu đô la

Ba’o Nguoi-Viet

March 1, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bà Nguyễn Thị Kim Tiến, cựu bộ trưởng Y Tế Việt Nam, đã được cho tại ngoại hậu tra sau khi nộp tiền “khắc phục hậu quả” 14.5 tỷ đồng ($556,728) dù bà ta chỉ bị cáo buộc nhận hối lộ 7 tỷ đồng ($268,765).

Báo Dân Việt hôm 28 Tháng Hai tiết lộ tin này khi cho biết bà Kim Tiến được “bảo lĩnh.”

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến khi còn tại vị ghế bộ trưởng Y Tế Việt Nam trong các năm 2011-2019. (Hình: Dân Việt)

Bản tin viện dẫn Điều 121 của Bộ Luật Hình Sự CSVN: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan điều tra, Viện Kiểm Sát, tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.”

Báo này viết thêm rằng không rõ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào “bảo lĩnh” cho bà Kim Tiến.

Trên lý thuyết, biện pháp “bảo lĩnh” chỉ dành cho các bị can “bị cáo buộc tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng.”

Trong khi đó, bà Kim Tiến bị truy tố với cáo buộc “gây thất thoát 803 tỷ đồng ($30.8 triệu)” trong dự án xây dựng cơ sở hai của bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Việt Đức bên ngoài Hà Nội.

Trước khi vụ truy tố bị can Kim Tiến được công bố, hồi năm ngoái, bà ta bị đảng kỷ luật với cáo buộc “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,” “vi phạm trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và “khiến dư luận bất bình, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị.”

Trên trang cá nhân có 69,000 lượt “follower,” bà Kim Tiến ngừng cập nhật sau khi đăng tấm hình chụp cùng bà Đào Hồng Lan, đương chức bộ trưởng Y Tế, hồi đầu Tháng Ba năm ngoái.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến tại một phiên họp ở Quốc Hội Việt Nam. (Hình: Chính Phủ)

Bà Tiến đăng tấm hình cùng dòng triết lý: “…Trên thế gian này, thử thách, khó khăn là điều tất yếu của cuộc sống. Chúng ta không thể trốn tránh, không thể bám chấp để đau khổ và oán trách mà phải đương đầu, vượt qua để sống tốt hơn, thương yêu và chia sẻ hơn với chúng sinh trong cùng một vũ trụ bao la này. Đó là triết lý của đạo Phật và của các tôn giáo khác- sống với hiện tại, trân quý và trọn vẹn với từng khoảnh khắc của cuộc sống, trong chánh niệm.”

Tên tuổi bà Nguyễn Thị Kim Tiến gắn liền với các vụ bê bối như vaccine giả, thuốc giả chữa ung thư liên quan công ty VN Pharma…

Bà ta được biết đến là cháu ngoại của ông Hà Huy Tập, cố tổng bí thư đảng CSVN. Vì là “con ông cháu cha,” bà Kim Tiến được ưu ái ngồi ghế bộ trưởng Y Tế hai nhiệm kỳ, dù dính nhiều vụ bê bối và bị công luận kêu gọi từ chức nhiều lần. (N.H.K) [kn]


 

SIÊU DỰ ÁN VÀ QUY TRÌNH “CHƯA BỊ LỘ”: KHI QUỐC GIA LÀ CÁI MỎ VÀ NHÂN DÂN LÀ CON NỢ

Nhật Ký Yêu Nước added a photo to the album: Tham Nhũng tại VN

SIÊU DỰ ÁN VÀ QUY TRÌNH “CHƯA BỊ LỘ”: KHI QUỐC GIA LÀ CÁI MỎ VÀ NHÂN DÂN LÀ CON NỢ

Vụ án bắt giam hàng loạt cán bộ huyện Long Thành và thu giữ hơn 10.000 hồ sơ đền bù khống không phải là một “tai nạn” quản lý hay sự tha hóa của vài cá nhân đơn lẻ. Nó giống như việc bạn lật một tảng đá lên và thấy cả một hệ sinh thái bòn rút đang hoạt động nhịp nhàng. Trong một thể chế độc tài toàn trị, các siêu dự án thường mang hai lớp ý nghĩa: Trên tivi, đó là biểu tượng của sự “cất cánh” quốc gia; nhưng trong bóng tối, đó là chiếc bánh vẽ khổng lồ để chia chác ngân sách.

Dưới đây là những góc nhìn trần trụi về nghệ thuật làm giàu từ mồ hôi nước mắt của nhân dân:

Triết lý nhân sự: Cán bộ “trong sạch” là người… chưa bị lộ

Có một câu đùa cay đắng nhưng phản ánh đúng thực tại nền chính trị hiện nay: “Người cộng sản trong sạch là người chưa đến lượt bị gọi tên.” Hãy nhìn lên thượng tầng kiến trúc. Không cần nói đâu xa, những nhân vật từng giữ những vị trí quyền lực tuyệt đối, từng đứng trên bục cao rao giảng về đạo đức cách mạng, về “chống tham nhũng không có vùng cấm” như ông Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng, hay Vương Đình Huệ… cuối cùng đều phải lần lượt rời ghế vì những “vi phạm, khuyết điểm” liên quan đến sự lũng đoạn của các tập đoàn sân sau (Việt Á, Phúc Sơn, Thuận An…).

Nếu những người ở đỉnh cao nhất của kim tự tháp quyền lực – những người được phễu lọc của Đảng lựa chọn kỹ càng nhất – còn gục ngã trước những khối tiền khổng lồ, thì làm sao có thể trông mong sự “trong sạch” từ những viên chức cấp xã, cấp huyện đang trực tiếp cầm cân nảy mực 16 tỷ đô la tại Long Thành? Khi quyền lực không bị giám sát bởi báo chí độc lập và các đảng phái đối lập, lòng tham của con người tự khắc sẽ biến mọi kẽ hở luật pháp thành mỏ vàng.

Kịch bản bòn rút qua vỏ bọc “Siêu dự án”

Sân bay Long Thành là một ví dụ kinh điển của việc mượn danh “chủ trương lớn” để thực hiện tư lợi nhỏ.

Nghệ thuật xào xáo hồ sơ: Việc chỉnh sửa thời gian, hô biến nguồn gốc đất trong hơn 10.000 bộ hồ sơ không thể do một cá nhân thực hiện. Nó đòi hỏi một quy trình khép kín từ ấp, xã lên đến huyện. Họ ăn chặn trên chính mảnh đất của những người nông dân bị mất sinh kế, dùng bút xóa và con dấu để biến tiền ngân sách thành tiền trong tài khoản gia đình.

Quyền lực tuyệt đối sinh ra tham nhũng tuyệt đối: Khi người dân phản đối quy trình đền bù bất công, họ dễ dàng bị quy kết là “cản trở sự phát triển” hoặc “chống đối chủ trương”. Cán bộ dùng chính tấm khiên quyền lực của nhà nước để bảo vệ cho hành vi ăn cướp của mình.

Nguyên lý kinh tế XHCN: Lãi chui vào túi tư, Lỗ chia đều cho toàn dân

Tại sao những cán bộ từ cấp thấp đến cấp cao lại dũng cảm nhắm mắt làm liều, ký duyệt những dự án ngàn tỷ không có hiệu quả, hoặc khai khống hàng vạn hồ sơ? Câu trả lời nằm ở nguyên lý phân bổ rủi ro quái đản nhất: Họ không bao giờ phải trả giá bằng tiền túi của mình.

Khi dự án đội vốn, chậm tiến độ hay bồi thường sai quy định, ai là người chịu thiệt? Ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước lấy từ đâu? Từ thuế thu nhập, thuế VAT, từ từng lít xăng, gói mì tôm mà hàng chục triệu người lao động đang oằn lưng gánh vác.

Đó là lý do các cán bộ cứ “tự nhiên mà lỗ”. Đầu tư thua lỗ, thất thoát ngàn tỷ thì cùng lắm là vài cá nhân “nhận hình thức kỷ luật”, đi tù vài năm, trong khi khối tài sản kếch xù đã kịp tẩu tán cho vợ con ở trời Tây. Còn cục nợ công khổng lồ kia sẽ được chia đều lên đầu 100 triệu người dân, biến những đứa trẻ chưa ra đời đã mang sẵn nợ trên vai.

Trò chơi bắt sâu trên một cái cây mục rễ

Việc bắt giam vài chủ tịch xã hay giám đốc quỹ đất huyện thực chất chỉ là hành động “cắt ngọn cỏ”. Chừng nào mảnh đất dung dưỡng cho cỏ dại – tức là một thể chế độc quyền, nơi thông tin bị bưng bít, người dân không có quyền giám sát trực tiếp, và báo chí chỉ là công cụ tuyên truyền – vẫn còn tồn tại, thì chừng đó cỏ dại sẽ lại mọc lên.

Người ta không thể giải quyết triệt để vấn đề tham nhũng bằng cách kêu gọi “đạo đức cách mạng” hay mong chờ sự tự giác trình báo. Một quốc gia chỉ có thể minh bạch khi có thể chế dân chủ thực sự, nơi người dân có quyền dùng lá phiếu phế truất những kẻ tham nhũng và hệ thống tư pháp hoàn toàn độc lập với quyền lực chính trị.


 

‘Nghịch tử’ 19 tuổi ở Đà Nẵng giết cha ruột vì mâu thuẫn gia đình

Ba’o Nguoi-Viet

February 24, 2026

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Người dân sống ở phường An Hải, Đà Nẵng, rúng động khi phát hiện một ông 42 tuổi, quê phường Sơn Trà, thiệt mạng trong nhà do con trai sát hại.

Theo báo VietNamNet, hôm 24 Tháng Hai, Công An Thành Phố Đà Nẵng đã bắt giữ nghi can NTB, 19 tuổi, ở phường An Hải, để điều tra về tội “giết người.”

Gia đình tổ chức hậu sự cho nạn nhân NCT tại nhà riêng ở phường An Hải, Đà Nẵng. (Hình: Đ.C/VietNamNet)

Nghi can B. bị cáo buộc đã giết chết cha ruột của mình là ông NCT, 42 tuổi, quê phường Sơn Trà, ngay tại nhà trên đường Nguyễn Thiện Kế, phường An Hải, Đà Nẵng.

Bản tin cho biết, sáng sớm cùng ngày, người dân phát hiện ông T. thiệt mạng trong nhà với nhiều vết thương.

Nhận được tin báo, Công An Phường An Hải đến hiện trường khám nghiệm. Tại đây, công an phát hiện một chiếc chày và một chiếc búa được cho là hung khí bị vứt bên hông nhà.

Khi giới hữu trách đến hiện trường, nghi can B. đã rời khỏi nhà. Qua điều tra, công an xác định hung thủ là con trai của nạn nhân nên bắt giữ nghi can B.

Bước đầu, cơ quan hữu trách nhận định nguyên nhân sự việc xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình.

Các vụ “nghịch tử” gây án mạng xảy ra liên tiếp thời gian qua tại Việt Nam.

Theo báo Người Lao Động hôm 2 Tháng Mười Một, 2025, nghi can TCT, 29 tuổi, ở xã Tam Giang, tỉnh Đắk Lắk, thường đi làm thuê ở xa.

Cách đây hơn một tháng, nghi can T. về chịu tang bà ngoại ở cùng thôn. Trong những ngày anh ta ở nhà, trong gia đình xảy ra mâu thuẫn.

Nơi nghi can TCT, con trai ông TCG, treo cổ tự sát là mảnh rẫy của gia đình. (Hình: Công An Đắk Lắk)

Vào chiều 1 Tháng Mười Một, 2025, nghi can T. chở mẹ mình bị bệnh tâm thần về nhà người thân bên ngoại. Sau đó, anh ta quay về nhà, dùng dao sát hại cha mình là ông TCG, 50 tuổi.

Nhân chứng là hàng xóm cho biết nhìn thấy nghi can T. rời khỏi nhà bằng xe gắn máy ngay trước lúc họ phát giác ông G. nằm trước nhà với nhiều vết thương trên người, cạnh đó có một con dao dính máu. Hàng xóm đưa ông G. đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng, nạn nhân đã thiệt mạng.

Đến sáng hôm sau 2 Tháng Mười Một, 2025, lực lượng công an phát giác nghi can T. treo cổ chết ở mảnh rẫy của gia đình, cách nhà khoảng 400 mét. (Tr.N) [kn]


 

BÀ CÁT HANH LONG (NGUYỄN THỊ NĂM)

Xuyên Sơn

BÀ CÁT HANH LONG (NGUYỄN THỊ NĂM)

Hôm nay là tròn 64 năm, ngày cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) bị xử tử.

Làm cách nào một người yêu nước, góp cho cách mạng 800 lạng vàng như cụ bà lại bị cách mạng xử tử?

Đó là những câu chuyện rất lạ của một thời lịch sử.

Bà Cát Hanh Long (tên hiệu trong buôn bán giao dịch của bà Năm)

sinh năm 1906, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, vốn là một người đàn bà giỏi làm ăn trên đất cảng Hải Phòng, từ nhiều nghề khác nhau trong đó có buôn bán tơ, sắt vụn, bà đã sớm thành đạt trên thương trường, xây nhà tậu ruộng…

Nhà giàu, được giác ngộ nên bà Năm trở thành nguồn cung cấp tài chính cho cách mạng thời từ trước tháng 9 năm 1945 mà bây giờ gia đình tập hợp lại thành một hồ sơ dày đặc từ việc góp 20.000 đồng bạc Đông Dương tương đương bẩy trăm lạng vàng đến thóc gạo, vải vóc, nhà cửa …

Dù đã đứng tuổi theo quan niệm đương thời, nhưng người phụ nữ 40 tuổi của thành phố cảng ấy đã phóng xe nhà treo cờ đỏ sao vàng từ Hải Phòng lên thẳng chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền.

Sau năm 1945, bà Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, và mua lại hai đồn điền lớn của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên. Hai con trai bà đều đi theo kháng chiến.

Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức “Tuần lễ vàng”, bà đóng góp hơn 100 lạng vàng.

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”,

bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên…

Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà.

Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị…

Khi Cuộc cải cách ruộng đất triển khai vào năm 1953, những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là “giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại.” và bà trở thành địa chủ đầu tiên bị đem ra “xử lý”.

 

Bà bị lên án với tội danh “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Trong bài viết “Địa chủ ác ghê” của C.B trên báo Nhân dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 có kể tội bà là

“Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân…”. Cũng theo đó, Nguyễn Thị Năm đã “thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến” và cũng theo đó thì Nguyễn Thị Năm “không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác”.

Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép bà đã bị đem ra xử bắn ở Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên lúc 8 giờ tối ngày 29 tháng Năm Âm lịch năm 1953. Khi bà vừa tuổi 47.

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.”

Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.”

Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.

Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô:

“Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”

Hồi ký Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Ông Nguyễn Hanh, con trai bà Năm kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước.

Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác.

Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này.

Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 chết thảm trong một tai nạn xe máy.

Năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì, gia đình ông Hanh mới tìm thấy di hài bà Năm cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn, bà Cúc vợ ông Hanh cho hay sở dĩ chiếc vòng ấy còn vì bà Năm đeo từ hồi trẻ nó thít chặt vào cườm tay, khi đấu tố có người đã cố rút ra nhưng không được.

Di hài bà Năm được đưa về nằm bên mộ chồng là làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội.

Cụ ông Nguyễn Hanh, người đảng viên Cộng sản khi mới 21 tuổi, người sĩ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay thổ lộ rằng từ 1993 ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các đời Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng… xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là Liệt sĩ, nhưng không một ai trả lời.

Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái Nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là “Tư sản – địa chủ kháng chiến”.

Ông than thở:

“Mẹ tôi từng nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, nhiều người biết chuyện nhưng đã cao tuổi, nên sau khi họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng”.

Ảnh: Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953) lúc ngoài 40 tuổi.

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/…/Chuyen-ve-nguoi-phu-nu-tung…/

Nguồn fb Thái Nguyễn


 

VIỆN DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ CHỈ CÒN 3 NGƯỜI: “BUỒN LẮM”…

8 SÀI GÒN

VIỆN DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ CHỈ CÒN 3 NGƯỜI: “BUỒN LẮM”…

Vừa qua, nhóm nghệ sĩ Ngũ Long Du Ký đã tới Viện dưỡng lão nghệ sĩ để thăm hỏi các nghệ sĩ già neo đơn nơi đây.

Nghệ sĩ Phương Dung chia sẻ: “Năm nay kinh tế khó khăn và nhóm chúng tôi cũng khó khăn. Chúng tôi bận quá không đi quay Youtube được nên không kiếm được tiền.

Bù lại, chúng tôi được nhiều người bạn đồng hành, hỗ trợ và đóng góp nhiều nên chúng tôi đi thăm được nhiều cô chú nghệ sĩ hơn. Mọi năm chúng tôi chỉ đi thăm được khoảng 10 cô chú nghệ sĩ thì năm nay phải đi được 40, 50 người.

Chúng tôi tới cả chùa Tịnh xá Ngọc Quang (nơi ở của một số nghệ sĩ nghèo) và Viện dưỡng lão nghệ sĩ. Chúng tôi xin cảm ơn những người bạn đã đồng hành cùng nhóm chúng tôi. Trong đó có một nghệ sĩ giấu tên. Chúng tôi đã phải đi tới 4 ngày rồi vẫn chưa đi hết các cô chú nghệ sĩ.

Ngoài ra, có một số cô chú nghệ sĩ năm nay chúng tôi không đi thăm vì đã được các mạnh thường quân khác giúp đỡ rồi. Chúng tôi muốn chia lại cho những cô chú chưa được ai giúp đỡ”.

Nghệ sĩ Phi Phụng nói: “Viện dưỡng lão nghệ sĩ năm nay buồn lắm vì còn có mấy người”.

Người đầu tiên nhóm nghệ sĩ tới thăm tại viện dưỡng lão là nghệ sĩ cải lương Huỳnh Thanh Trà.

Ông tâm sự: “Tôi sinh năm 1945, năm nay 81 tuổi rồi. Trước tôi làm kép chính của đoàn kịch Kim Cương. Giờ tôi vẫn đứng được nhưng đi lại thì phải chống gậy.

Ở viện dưỡng lão này hiện tại còn có 5 người thôi. Lúc trước có 7 người nhưng 2 người mới qua đời nên còn 5 người thôi. Cô Diệu Hiền ở phòng bên cạnh tôi còn Mạc Can và Ngọc Đáng yếu quá giờ phải xuống nằm ở trạm xá.

Ngọc Đáng mới bị té ngã do hai chân đi không được, Mạc Can cũng vậy. Thành ra bây giờ cả viện dưỡng lão chỉ còn 3 người. Trong đó có tôi. Tôi phải cố đi lại trong phòng dù phải chống gậy, nếu không đi xương khớp cứng lại còn không đi nổi nữa”.

Được biết, Viện dưỡng lão nghệ sĩ là nơi cưu mang các nghệ sĩ nghèo neo đơn không nơi nương tựa.

LUẬN BÀN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT

May be an image of one or more people


 

4 SỰ THẬT TÀN KHỐC VỀ CÁI TẾT NĂM NAY …- Anmai CSsR

Anmai CSsR

Nếu không có gì bất ngờ, cái Tết này sẽ là một cú tát thẳng vào mặt những ai còn đang mơ mộng về một mùa xuân ấm áp, sum vầy. Không phải vì thời tiết khắc nghiệt hay dịch bệnh hoành hành, mà bởi vì thực tế phũ phàng của cuộc sống đã lột trần hết thảy những ảo mộng. Tết, vốn dĩ là dịp để con người ta dừng lại, thở phào và tận hưởng, nay đã biến thành một gánh nặng khổng lồ, một cuộc chiến âm thầm với ví tiền và lòng tự trọng. Dưới đây là 4 hiện tượng trần trụi mà ai cũng thấy, nhưng ít ai dám nói ra toẹt móng heo. Bởi lẽ, thừa nhận chúng đồng nghĩa với việc nhìn thẳng vào gương mặt méo mó của chính mình trong xã hội này – một xã hội mà tiền bạc không chỉ là phương tiện, mà còn là thước đo của hạnh phúc, của tình thân, và thậm chí của cả sự tồn tại.

Thứ nhất, dòng người về quê không còn mang theo nụ cười, mà là sự tháo chạy khỏi cơn ác mộng đô thị. Hãy nhìn kỹ những hình ảnh trên đường cao tốc những ngày giáp Tết: những chiếc xe máy chất đầy đồ đạc lỉnh kỉnh, từ vali cũ kỹ đến thùng carton buộc dây chằng chịt, rời khỏi thành phố từ đầu tháng Chạp. Đừng vội nghĩ đó là vì họ “xong việc sớm” hay háo hức về với quê hương. Không, đó là hình ảnh của sự thất bại, của những đợt cắt giảm nhân sự ồ ạt mà các công ty lớn nhỏ đang âm thầm thực hiện dưới vỏ bọc “tái cấu trúc”. Anh công nhân xóm trọ tôi vừa trả phòng hôm qua, mắt đỏ hoe bảo: “Về sớm đỡ tiền trọ em ạ, chứ ở lại lấy gì bỏ vào mồm?”. Câu nói ấy không chỉ là lời than vãn cá nhân, mà là tiếng kêu thét của hàng triệu lao động phổ thông đang bị đẩy ra rìa xã hội. Họ về quê không phải để ăn Tết, mà để trốn tránh cái đói, cái nợ nần chồng chất ở chốn phồn hoa giả tạo.

Ngược lại, nhiều dân văn phòng – những kẻ được cho là “thành đạt” – lại bám trụ lại thành phố, không phải vì yêu thích ánh đèn neon hay nhịp sống hối hả, mà vì về quê bây giờ là một gánh nặng tài chính khổng lồ. Vé xe khách tăng giá gấp đôi, quà cáp cho họ hàng phải “xứng tầm” để giữ thể diện, tiền mừng tuổi cho con cháu phải “đủ đô” để tránh bị chê bai. Thôi thì đành mang tiếng “bận việc” hoặc “dịch bệnh chưa yên”, ở lại một mình trong căn phòng trọ ẩm mốc, ăn mì gói qua ngày. Thâm thúy thay, cái Tết này đã biến dòng người di cư thành một cuộc chạy đua với nghèo đói: kẻ chạy về để sống sót, kẻ ở lại để che đậy sự kiệt quệ. Và giữa dòng chảy ấy, không ai cười nổi, vì nụ cười đã bị thay thế bằng những cái thở dài nặng trĩu.

Thứ hai, Tết bây giờ là “nghĩa vụ” chứ không phải lễ hội, một gánh nặng đè lên vai người lớn như tảng đá Sisyphus. Ngày xưa, trẻ con đếm từng ngày chờ Tết để được ăn ngon, mặc đẹp, nhận phong bao đỏ. Người lớn thì mong Tết để sum họp, nghỉ ngơi sau một năm vất vả. Nhưng giờ đây, Tết đã biến chất thành một “deadline” kinh hoàng, một kỳ thi cuối năm mà ai cũng biết mình sẽ trượt. Tiền đâu để lì xì cho con cháu? Tiền đâu để trả nợ ngân hàng, trả tiền nhà, trả đủ thứ hóa đơn tích tụ? Những câu hỏi ấy ám ảnh từng giấc ngủ, biến mấy ngày nghỉ Tết thành khoảng thời gian lo âu triền miên. Thay vì sum vầy bên mâm cỗ, người ta nằm dài trên giường, bấm điện thoại lướt TikTok đến mụ mị đầu óc, chỉ để trốn tránh thực tại phũ phàng. Những video hài hước, những clip du lịch sang chảnh trên mạng xã hội trở thành liều thuốc phiện tạm thời, giúp quên đi cái ví đang mỏng dần và những cuộc gọi đòi nợ sắp tới.

Thâm thúy ở chỗ, cái Tết này không còn là dịp để tái tạo năng lượng, mà là khoảng lặng để lộ rõ sự kiệt sức của con người hiện đại. Không ai còn háo hức với pháo hoa hay múa lân; họ chỉ thấy mệt mỏi, chờ cho hết mấy ngày này để quay lại guồng quay kiếm tiền – một guồng quay mà chính nó đã biến Tết thành gánh nặng. Suy cho cùng, Tết không phải là lễ hội nữa, mà là một nghi thức xã hội bắt buộc, nơi con người ta phải diễn vai “hạnh phúc” để che đậy nỗi sợ hãi sâu thẳm: sợ nghèo, sợ cô đơn, sợ bị xã hội phán xét. Và trong vở kịch ấy, không ai là người thắng cuộc, chỉ có những kẻ thua cuộc mệt mỏi.

Thứ ba, những cuộc gặp gỡ xã giao sặc mùi “diễn”, nơi tình thân bị thay thế bởi sự tọc mạch và ghen tị. Đến nhà nhau chúc Tết, ngày xưa là dịp để hỏi han sức khỏe, chia sẻ niềm vui. Giờ đây, câu cửa miệng không còn là “Chúc năm mới mạnh khỏe”, mà là màn tra khảo không khoan nhượng: “Lương tháng bao nhiêu?”, “Thưởng Tết nhiều không?”, “Sao chưa mua nhà/xe?”, “Con cái học hành thế nào?”. Người hỏi thì tọc mạch dưới vỏ bọc “quan tâm”, người trả lời thì gượng gạo, cố gắng tô vẽ một bức tranh đẹp đẽ để che đậy thực tế xám xịt. Kết cục là gì? Cả đám lôi điện thoại ra, mạnh ai nấy lướt, ngồi chung một mâm cơm mà hồn ai nấy giữ. Tiếng cười vang lên không phải từ niềm vui thực sự, mà từ sự miễn cưỡng, như những diễn viên nghiệp dư trong một vở kịch tồi.

Thâm thúy thay, cái Tết này đã phơi bày sự mỏng manh của tình thân trong xã hội vật chất. Tình thân bây giờ mỏng như tờ polime trong ví: hết tiền là hết tình. Những cuộc gặp gỡ không còn là để gắn kết, mà là để so đo, để khẳng định vị thế. Ai giàu thì khoe khoang, ai nghèo thì né tránh; và giữa khoảng trống ấy, sự chân thành biến mất. Chúng ta ngồi bên nhau, nhưng thực ra đang cô lập chính mình trong thế giới ảo của mạng xã hội, nơi mọi thứ đều đẹp đẽ hơn thực tế. Tết, thay vì là cầu nối, nay trở thành lưỡi dao cắt đứt những mối liên hệ mong manh còn sót lại, để lại một nỗi trống rỗng mà không ai dám thừa nhận.

Thứ tư, hoa Tết ế ẩm vì cái bụng đang đói, nơi lãng mạn bị nghiền nát dưới bánh xe nghèo túng. Đừng trách người ta không có gu thẩm mỹ, không biết thưởng hoa hay yêu cái đẹp. Khi cơm áo gạo tiền đè nặng lên vai, thì một chậu mai vàng rực rỡ hay cành đào thắm hồng trở nên quá xa xỉ, quá vô nghĩa. Chợ hoa Tết năm nay, người ta đi ngắm thì nhiều, mua thì ít; những ánh mắt ái ngại của người bán và cái lắc đầu tiếc nuối của người mua là minh chứng rõ nhất cho sự chết chóc của lãng mạn. “Đẹp thật, nhưng để tiền mua gạo thôi”, một chị bán hàng rong thì thầm, và câu nói ấy vang vọng như một lời nguyền rủa lên toàn bộ không khí Tết. Hoa không ế vì xấu, mà ế vì xã hội đang đói – đói tiền, đói hy vọng, đói cả niềm tin vào tương lai.

Thâm thúy ở đây là sự tương phản giữa vẻ đẹp bề ngoài và thực tế bên trong: Tết khoe sắc với hoa đào mai nở, nhưng lòng người thì héo úa như lá úa dưới nắng gió. Sự nghèo túng không chỉ giết chết cái bụng, mà còn giết chết tâm hồn; nó biến con người ta thành những cỗ máy sống sót, nơi cảm xúc thẩm mỹ bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Và trong cái vòng luẩn quẩn ấy, chúng ta nhận ra rằng, cái đẹp chỉ tồn tại khi nhu cầu cơ bản được đáp ứng – một chân lý mà triết gia Maslow đã nói từ lâu, nhưng nay mới thực sự thấm thía trong bối cảnh Tết Việt.

Suy cho cùng, Tết không buồn, chỉ có lòng người đang héo hon vì tiền bạc eo hẹp. Khi cái bụng chưa no, đừng mong người ta cười nói vui vẻ; khi ví tiền mỏng, đừng hy vọng tình thân dày dặn. Cái Tết này là gương soi chiếu rõ nhất cho xã hội: một xã hội mà thành công được đo bằng con số ngân hàng, và hạnh phúc chỉ là ảo ảnh cho những kẻ may mắn. Muốn Tết vui? Hãy cày cuốc ngay từ bây giờ đi, đừng đợi phép màu từ ông trời hay từ chính phủ. Bởi lẽ, trong thế giới này, phép màu duy nhất là mồ hôi và nước mắt của chính bạn. Và nếu không, cái Tết năm sau sẽ còn tàn khốc hơn, như một vòng lặp vô tận của sự thất vọng.

Lm. Anmai, CSsR

No photo description available.


 

Hà Nội: Hoa Tết ế ẩm hôm 28 Tết, người bán lỗ bạc tỷ

Ba’o Nguoi-Viet

February 15, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 15 Tháng Hai (28 Tháng Chạp), những người bán hoa, cây kiểng Tết tại Hà Nội đồng loạt treo bảng “xả hàng” trước nguy cơ lỗ nặng.

Theo ghi nhận của phóng viên báo Tuổi Trẻ, việc giảm giá tận đáy diễn ra với các loại hoa đào, mai, tắc (quất), thậm chí một cặp chậu mai nhỏ ở khu vực chợ hoa Tết Mỹ Đình chỉ còn 100,000 đồng ($3.9) nhưng vẫn không có người mua.

Chậu mai hôm 15 Tháng Hai (28 Tháng Chạp) hạ giá chỉ còn 100,000 đồng ($3.9) một cặp. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bà Đỗ Thị Oanh, quê Hưng Yên, không giấu được vẻ buồn bã khi đứng giữa dãy các chậu mai vàng chưa bán được dù chỉ còn một ngày là Tết Bính Ngọ 2026.

Bà Oanh nhập khoảng 2,000 cây mai vàng từ tỉnh Bến Tre, nay là Vĩnh Long, ra Hà Nội để bán nhưng đến hôm 15 Tháng Hai vẫn còn 600 cây chưa bán được.

Người phụ nữ cho biết, chi phí vận chuyển mai tốn 40 triệu đồng ($1,540), thuê hai kho chứa cây hết 30 triệu đồng ($1,155). Do hàng trăm cây mai bị ế, bà Oanh nhẩm tính rằng mình đã lỗ rất nặng.

“Giờ bán để thu lại được đồng nào hay đồng đó,” người phụ nữ nói.

Cùng cảnh ngộ, ông Lê Đình Chính, dân Hà Nội, cho biết năm nay ông nhập khoảng 300 cây đào thế cỡ to, nhưng đến 28 Tết vẫn còn 100 cây chưa bán được.

Số vốn đọng lại lên tới 1 tỉ đồng ($38,506), chưa kể chi phí vận chuyển.

Những người bán tắc (quất) kiểng cầm chắc lỗ nặng. (Hình: Tuổi Trẻ)

“Đào tôi nhập chủ yếu là loại đào thế cỡ lớn, nếu cho thuê thì khoảng 10 triệu đồng ($385) mỗi cây, còn bán thì 16 triệu đồng ($616). Nhưng đến sát Tết vẫn rất ế ẩm. Năm ngoái đào không nở kịp cũng ế. Năm nay nhuận, đào nở rộ cũng vẫn ế,” ông Chính thở dài nói.

Không còn hy vọng bán được hết lượng cây đào vào hôm 29 Tết, người đàn ông sau đó phải thuê xe cẩu để chở các chậu đào ế về vườn dưỡng lại cây cho mùa Tết năm sau.

Cùng thời điểm, tại những quầy bán tắc trên phố Trần Vỹ, các chậu nhỏ để bàn chỉ còn 120,000 đồng ($4.6) mỗi chậu nhưng khách chỉ ghé qua coi, trả giá rồi bỏ đi.

“Tôi chuẩn bị 1,200 cây, đến chiều 28 Tết vẫn còn 500 cây, đủ các loại lớn nhỏ. Giảm giá rất sâu rồi nhưng khách vẫn mặc cả, có người trả giá xong lại bỏ đi,” ông Phạm Quang Long, người bán tắc cho hay. (N.H.K) [kn]


 

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Xuan Ly is with Phaolô Hiển Nguyễn 

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Quy định buộc Việt kiều phải khai báo tạm trú trong vòng 12 giờ cùng mức phạt “cắt cổ” lên đến 20 triệu đồng đang lộ rõ là một nước cờ kinh tế đầy toan tính. Đây không đơn thuần là quản lý hành chính, mà là một “thuế nhớ nước” được dàn dựng công phu để tận thu nguồn ngoại tệ sống.

Khi Sự Mệt Mỏi Trở Thành “Mỏ Vàng”

Tại sao lại là con số 12 giờ cực đoan? Sau một chuyến bay vắt kiệt sức lực, ai cũng cần nghỉ ngơi. Chính cái khoảng thời gian “ngơ ngác” vì lệch múi giờ ấy là lúc cái bẫy sập xuống. Chỉ cần gia đình lơ là, một biên bản phạt bằng cả tháng lương sẽ được chìa ra ngay lập tức. Đây là chiến lược “tận thu trên sự sơ hở”, biến niềm vui đoàn viên thành nỗi lo sợ bị rình rập.

Thông Điệp Ngầm: “Gửi Tiền Về, Thân Đừng Về”

Nhiều người tin rằng đây là một phần của thuyết âm mưu nhằm tối ưu hóa nguồn thu mà không cần phục vụ:

  • Hành chính hóa sự phiền hà: Thủ tục rắc rối khiến kiều bào nản lòng. Thông điệp ẩn ý rất rõ ràng: “Chúng tôi cần đô-la của các bạn, nhưng không mặn mà với sự hiện diện của các bạn.”
  • Cánh tay nối dài của ngân sách: Biến mỗi chủ nhà thành một “cai ngục” tự nguyện vì sợ phạt. Sự “rực rỡ” của thời đại này chính là biến tình thân thành công cụ để bào tiền một cách hợp pháp.

Về quê ăn Tết mà cứ như đi “trốn nã”, vừa xuống sân bay đã phải lo chạy ra phường trước khi bị “vặt lông”. Phải chăng đây chính là chiến dịch “giữ chân kiều bào ở lại hải ngoại” để họ chỉ việc ngồi yên và chuyển tiền về cho an toàn?

Le Anh

May be an image of text that says 'EATONONE NENCO NENCOICINE EATON EATONSIEI hML Chiến Dịch "Bào" Việt Kiều: Khi Tình Quê Hương Có Giá 20 Triệu!'


 

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

8 SÀI GÒN

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

Ở Bệnh viện Chợ Rẫy, dường như người ta không đo thời gian bằng đồng hồ, mà bằng những cái thở dài, những tiếng gọi khẽ trong đêm, và bằng ánh mắt chờ đợi, sợ hãi và hy vọng của người thân ngồi co ro ngoài hành lang.

Tôi thấy những chiếc giường kê sát nhau, trong và cả ngoài hành lang, thấy người nhà ngủ gục trên ghế nhựa, trên sàn lạnh, thấy những bữa ăn vội, những chai nước truyền chậm từng giọt.

Lên xuống cầu thang hay bước qua văn phòng các Khoa, tôi gặp các bác sĩ bước nhanh giữa ca trực đêm, mắt đỏ vì thiếu ngủ, tay vẫn vững khi ghi hồ sơ.

Có những y tá, điều dưỡng cúi xuống chỉnh lại tấm mền cho bệnh nhân, nhẹ như sợ làm đau thêm một niềm hy vọng mong manh.

Chợ Rẫy quá tải – vâng, đã quá tải thật sự – điều đó ai cũng biết. Nhưng giữa sự quá tải ấy, người ta vẫn thấy sự tận tâm không hề cạn.

Không phải ai đến đây cũng vì bệnh nặng nhất, nhưng ai đến đây cũng mang theo nỗi sợ lớn nhất của đời mình.

Và khi đứng giữa ranh giới mong manh của sinh vs tử, người ta chọn nơi mà họ tin là “còn nước còn tát”.

Chợ Rẫy không chỉ chữa bệnh, Chợ Rẫy đang gánh niềm tin của cả một xã hội – niềm tin rằng khi khó khăn nhất, vẫn có một nơi để họ gửi gắm hy vọng.

Nếu có điều gì khiến người ta lặng đi khi rời bệnh viện, thì đó không chỉ là nỗi mệt mỏi, mà là một suy nghĩ rất dài: “Làm sao để những nơi như thế này bớt gánh nặng, để những con người thầm lặng này được làm việc trong điều kiện xứng đáng hơn?”

Bởi y tế không chỉ là chữa bệnh. Y tế là nơi người dân gửi gắm niềm hy vọng cuối cùng. Và Chợ Rẫy – trong sự chật chội và ồn ào của mình – vẫn đang làm điều đó, mỗi ngày.

LÊ TUẤN


 

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

My Lan Pham

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.

Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính.

Ông Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương khi mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“NGỰA SẢI THẲNG ĐÉT”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa xuyên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng ban đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thì phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

ƯỚT NHƯ CHUỘT LỘT

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19:

“Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường… Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo cao su của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề… Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

MỘT NGƯỜI LIÊM KHIẾT VÀ KHÔNG VỤ LỢI

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Dưới thời Paul Doumer, Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên tại Châu Á được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, lập Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược…

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, với thành tích sáng chói ở Đông Dương ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một người tâm thần là cựu y sĩ trong hồng quân Liên Xô tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer xây dựng trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn.

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.

Chuyện của Sơn

Ảnh: Paul Doumer và vua Thành Thái năm 1899 và Thái Sơn lên màu


 

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu