Từ vụ sách Chuyện với Thanh: Việt Nam trong vòng xoáy đấu tố, chụp mũ, tại sao? (BBC)

 (BBC)

Đấu tố và phản đấu tố là những xu hướng nổi bật tại Việt Nam trong thời gian gần đây

17 tháng 7 2026

Báo chí Việt Nam đang có nhiều bài viết chỉ trích tình trạng đấu tố trên mạng xã hội và cảnh báo về những “hệ lụy khôn lường”. Cục trưởng Cục Báo chí cũng lên tiếng về vấn đề này. Nhưng đấu tố từ đâu mà có, và báo chí có thực sự vô can?

“Chỉ từ một đoạn video vài chục giây, một bức ảnh thiếu bối cảnh, một bài đăng chưa được kiểm chứng hoặc vài dòng trạng thái đầy cảm xúc, hàng nghìn bình luận đã vội vàng kết luận ai đúng, ai sai; ai đáng bị cách chức, tẩy chay hay ‘xóa sổ’ khỏi đời sống xã hội,” báo điện tử VOV viết vào ngày 14/7.

“Điều đáng lo ngại không chỉ là số phận của một con người, mà còn là nguy cơ văn hóa phản biện bị biến dạng và nguyên tắc pháp quyền bị thách thức bởi những ‘phiên tòa’ của dư luận,” báo Dân Việt dẫn lời Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học, vào ngày 15/7.

Báo Công an Nhân dân, tờ báo có truyền thống đăng các bài báo tố cáo, quy chụp những cá nhân và tổ chức mà họ cho là “phản động”, cũng đăng bài Phản biện hay quy kết?

Nhìn chung, các báo cảnh báo về nhiều hậu quả khác nhau của nạn đấu tố, như tàn phá khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại danh dự cá nhân, doanh nghiệp, bào mòn niềm tin xã hội.

Các bài viết nói trên xuất hiện trong bối cảnh mạng xã hội sục sôi đấu tố những cá nhân, tổ chức liên quan tới cuốn sách Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng, đặc biệt khi mà đối tượng bị tố cáo không chỉ là những người liên quan trực tiếp tới cuốn sách, mà còn đụng chạm tới quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông Nguyễn Đình Long, trong bài viết gửi tới BBC News Tiếng Việt vào ngày 15/7, nhận định rằng đối tượng của sự nghi ngờ ngày càng mở rộng.

“Một tác giả dẫn đến một nhà xuất bản; một nhà xuất bản dẫn đến một trường đại học; rồi đến những người từng giới thiệu, từng khen ngợi hay từng xuất hiện cùng tác giả,” ông nêu bật hiệu ứng leo thang. 

“CẦN XỬ LÝ NGHIÊM KHẮC TỔNG BIÊN TẬP BÁO NHÂN DÂN,” ông Phan Trung Can – một trong những tiếng nói nổi bật trong làn sóng “chống lật sử”, “chống cách mạng màu” ở trên mạng xã hội – sau khi chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam và nhóm làm sách Chuyện với Thanh, đã tấn công tới nhân vật ở thượng tầng.

Người mà ông Can, và những người cùng lập trường với ông, chỉ trích lần này là Tổng Biên tập báo Nhân Dân Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. “Tội trạng” của ông Minh, theo những người chỉ trích, là đã đăng hai bài viết tích cực về cuốn sách này trên báo Nhân Dân.

Ông Phan Trung Can hiện đã sửa bài viết “cần xử lý nghiêm khắc…” nói trên.

Tác giả Nguyễn Thành Nam làm việc với an ninh khi bị khởi tố liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Khi báo chí phản đấu tố

“Một nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội.

“Trong khi đó, ‘phiên tòa’ trên mạng xã hội đôi khi vận hành theo logic ngược lại: Kết luận trước, tìm chứng cứ sau; cảm xúc trước, sự thật sau; ý chí của số đông được coi như ‘luật pháp’.

“Trong ‘phiên tòa’ ấy, bị cáo không có luật sư, không được đối chất, không có quyền kháng cáo. ‘Bản án’ được ‘tuyên’ và được cố xúy bằng lượt chia sẻ, bình luận và biểu tượng cảm xúc,” bài báo của VOV viết.

Bài viết còn có đoạn: “Tự do ngôn luận không bao gồm quyền bịa đặt, vu khống, xâm phạm đời tư hay kích động trừng phạt. Phản biện không phải sỉ nhục hay chống đối, yêu nước không phải quy chụp, và công luận không thể thay thế cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.”

Báo Công an Nhân dân cũng dẫn lại bài viết này vào ngày 14/7, cho thấy tờ báo này cũng chống việc “quy kết”, “chụp mũ”, “đấu tố”.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy là những hình ảnh gạch chéo, những bài viết quy chụp cũng đã xuất hiện từ lâu trên báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo Công an Nhân dân vốn là tờ báo có nhiều bài viết quy chụp, đặc biệt là các bài viết tố cáo văn nghệ sĩ hải ngoại, các tiếng nói bất đồng chính kiến, các góc nhìn khác với chính quyền ở trong nước.

Trong vụ việc liên quan tới sách Chuyện với Thanh, chính tờ báo này trước đó đã có ít nhất hai bài báo chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam, với những câu từ đầy tính quy kết, quy chụp.

“Trong cuốn sách và chuỗi video trên các nền tảng mạng xã hội, ông Nam thể hiện sự cợt nhả, xuyên tạc, tuyên truyền tư tưởng ‘xét lại lịch sử’ vô cùng nguy hại.

“Bằng các chiêu bài gọi là ‘đối thoại’, ‘phản biện’, ‘giải mật lịch sử’, ‘lật lại sự thật’, ‘giáo dục bằng con đường khác’… để gieo rắc hoài nghi về lịch sử cách mạng, Bác Hồ và nền tảng tư tưởng của Đảng,” Trung tá, Tiến sĩ Lê Thế Cương viết như lời một bản cáo trạng trong bài báo Không thể nhân danh “phản biện”, “khai phóng” để xuyên tạc lịch sử, lãnh tụ đăng trên Công an Nhân dân hôm 2/7.

Báo Công an Nhân dân sau đó còn tạo dư luận theo hướng kết án khi chia sẻ bài viết lên Facebook.

“Đề nghị quý báo CAND vạch trần bộ mặt của những kẻ đã tiếp tay, tung hô cho cuốn sách của Nguyễn Thành Nam,” một tài khoản bình luận.

Chưa dừng lại ở đó, báo Công an Nhân dân còn đăng tiếp một bài viết vào hôm 5/7, trong đó khẳng định rằng “nhiều ý kiến bạn đọc khẳng định bài báo [hôm 2/7] đã chỉ ra những sai phạm nghiêm trọng” trong cuốn sách và “đặt vấn đề cần làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan trong hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật và trách nhiệm trong quản lý, xuất bản”.

Bài viết kết luận rằng tác giả Nguyễn Thành Nam, thông qua cuốn sách, đã “xét lại lịch sử, tầm thường hóa lãnh tụ”.

Bài đăng trên Facebook giới thiệu bài viết này một lần nữa được nhiều người hưởng ứng.

“Bài báo quá hay quá sắc bén, chém thẳng tay lũ nhân danh trí thức tẩy trắng lịch sử, lũ vô ơn. Đề nghị điều tra tổng thể có hay không dấu hiệu cấu kết với các tổ chức nước ngoài một cách có hệ thống,” là một trong số hàng trăm lời bình.

Có thể thấy, nếu xét theo những tiêu chí mà bài báo nói trên của VOV nêu ra, và Công an Nhân dân đăng lại, rằng “nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội”, thì chính báo Công an Nhân dân trước đó đã có những lời lẽ quy kết, buộc tội tác giả Nguyễn Thành Nam, trước cả khi công an công bố quyết định khởi tố, chứ chưa cần nói đến một bản án có hiệu lực của tòa án.

Tác giả Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về hành vi "tuyên truyền chống Nhà nước" sau khi xuất bản sách Chuyện với Thanh

Play video, “Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?”, Thời lượng 13,01

13:01

Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?

Khi đấu tố chạm tới quyền lực thượng tầng

Ngày 7/7, thông tin ông Nguyễn Thành Nam bị khởi tố, bắt tạm giam xuất hiện trên gần như tất cả các trang báo ở Việt Nam.

Như thể được chứng minh rằng những ý kiến, chỉ trích của mình là đúng, những người đấu tố dường như càng trở nên quyết liệt hơn.

“Giờ em đi ngủ. Mai em điểm các báo lăng xê; Mốt em gọi tên mấy anh chị nhà văn, nhà báo, TS bát nháo ‘bênh’ Nguyễn Thành Nam,” ông Phan Trung Can viết vào ngày 7/7.

Và đó đúng là những gì ông đã làm sau đó khi nhắc tên một loạt cá nhân mà ông cho rằng đã có lời bênh vực hoặc ca ngợi ông Nam, hoặc tác phẩm Chuyện với Thanh. Cùng lúc, mạng xã hội cũng đưa ra danh sách những người mà họ cho rằng cần bị điều tra, xử lý.

Trong danh sách này có tên ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập báo Nhân Dân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Tới ngày 10/7, ông Can đăng lời kêu gọi chính quyền cần “xử lý nghiêm khắc” ông Minh. Bài đăng này đã nhận được hàng ngàn lượt thích, cùng hàng trăm bình luận, đa số đồng tình. Đó là thời điểm mà nhiều người đánh giá rằng ông Can đã “vượt lằn ranh đỏ” và “gió bắt đầu đảo chiều”.

Ngày hôm sau, 11/7, đánh dấu thời điểm chính quyền bắt đầu có động thái chỉ trích hoạt động đấu tố trên mạng xã hội.

Nhiều người đã chia sẻ lại bài viết trên Facebook của ông Lưu Đình Phúc, Cục trưởng Cục Báo chí, chỉ trích việc “đấu tố cực đoan”.

“Thay vì tranh luận về hành vi thì chuyển sang kết tội con người; thay vì chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền thì coi ‘phán quyết của mạng xã hội’ là quyết định, và nếu sự việc diễn ra trên thực tế thì các quan điểm cực đoan cho rằng do có tiếng nói của ‘họ’ mới có kết quả như vậy,” Cục trưởng Cục Báo chí Lưu Đình Phúc viết.

Ngày 12/7, bài viết tương tự của ông Phúc đã xuất hiện trên báo Tuổi Trẻ, sau đó được website của Cục Báo chí, mà ông Phúc đứng đầu, đăng tải lại.

Tới ngày 14/7, VOV có bài viết chỉ trích tệ đấu tố. Ngày 15 và 16/7, các báo chính thống khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân trí… cũng có các bài viết phê bình đấu tố.

Những ai theo dõi báo chí và mạng xã hội, có thể thấy tệ đấu tố, quy chụp đã xuất hiện từ lâu, chứ không phải đợi đến trường hợp cuốn sách Chuyện với Thanh. Đối tượng đấu tố thường tập trung vào các nhân vật bị coi là “phản động”, “lật sử”, “lệch chuẩn”. Những người đề cao công trạng của Tả quân Lê Văn Duyệt, hoặc có đánh giá tích cực về Vua Gia Long… đều dễ dàng bị tấn công, đấu tố.

Một số người thường bày tỏ lập trường ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán chủ nghĩa tư bản còn lên tiếng tố cáo Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhà sư Thích Minh Tuệ, bằng cách đưa ra các cáo buộc không có bằng chứng về tội “phản quốc”, “hợp tác với CIA”, “âm mưu cách mạng màu”, mà không lãnh hậu quả nào hay bị “tuýt còi”.

Không ít cơ quan báo chí chính thống cũng tham gia vào làn sóng này, với các video và bài viết có dấu gạch chéo vào những nhân vật mà họ lên án, dù những người này vẫn là công dân tự do chưa nhận bất kỳ bản án nào ở thời điểm báo đăng bài.

Tuy nhiên, khi làn sóng đấu tố chạm tới các tầng nấc cao trong guồng máy chính trị, đèn đỏ đã được bật lên.

Ông Lê Quốc Minh là nhân vật cấp cao nhất bị gọi tên trong vụ việc liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Đấu tố trên báo chí chính thống

Tệ đấu tố không mới ở Việt Nam, chỉ khác lần này phong trào đấu tố có vẻ tấn công nhiều hướng hơn, và người bị đấu tố có cả “lề phải”, thậm chí có quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lâu nay, phong trào đấu tố chủ yếu nhằm vào các đối tượng bị coi là “phản động”, hoặc bất kỳ ai bày tỏ quan điểm trái với lập trường của Đảng. Họ dễ dàng bị gọi là “3 que”, “phản động”, “khát nước”, “chống phá”.

Giới nhạc sĩ, nghệ sĩ là những mục tiêu dễ gặp nhất.

Năm 2023, một làn sóng tấn công trực tuyến đã nhằm vào ca sĩ Hanni Phạm, thành viên người Úc gốc Việt trong nhóm nhạc K-pop NewJeans, vì cho rằng gia đình cô “ủng hộ Việt Nam Cộng hòa”.

Năm 2024, ca sĩ Ngọc Mai, Miss Grand Việt Nam Võ Lê Quế Anh, Tổng Giám đốc Công ty Sen Vàng Phạm Kim Dung là một số người trong giới giải trí bị gắn mác “ba que”, mà không có bằng chứng rõ ràng nào.

Nhiều ca sĩ hải ngoại cũng bị “đào” lại những bức ảnh, video cũ quay cảnh họ biểu diễn ở một khu vực có cờ vàng ba sọc đỏ.

Cũng năm 2024, mạng xã hội và Truyền hình Quốc phòng Việt Nam đấu tố Trường Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng đây là “ổ cách mạng màu”.

Gần đây hơn, Bộ Giáo dục bị đấu tố là có âm mưu xấu khi ủng hộ giáo dục khai phóng. Hai chữ “khai phóng” nhạy cảm tới mức ngay cả lời của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu sau đó cũng bị chỉnh sửa trên báo chí.

Cuốn sách Địa lý lớp 11, với trang bìa in hình tượng Nữ thần Tự do, nhà thờ thánh Basil và núi Phú Sĩ, cũng bị lấy ra làm “bằng chứng” cho rằng Bộ Giáo dục có tư tưởng sính ngoại. Nhiều người đặt câu hỏi sao không dùng hình ảnh Việt Nam để minh họa ở trang bìa, dù đây là cuốn sách địa lý thế giới.

Không chỉ trên mạng xã hội, báo chí cũng đấu tố người dân.

Ngày 20/5, chương trình Góc nhìn sự thật của Truyền hình Công an Nhân dân (ANTV) đã có phóng sự lên án nghệ sĩ Vượng Râu, tập trung vào các bài viết của nghệ sĩ này trên mạng xã hội mà họ cho là “xuyên tạc, chống phá”. Hình ảnh Vượng Râu bị gạch chéo, ông bị ANTV công khai gọi là “gã hề xuyên tạc lịch sử, chống phá đất nước”, dù rằng nghệ sĩ này vẫn là một công dân với đầy đủ quyền được pháp luật bảo hộ.

Trên mạng xã hội, nhiều người đã đặt câu hỏi về việc tại sao một cơ quan báo chí có thể tấn công một công dân với các ngôn từ mang tính cáo buộc, xúc phạm như vậy.

Trước Chuyện với Thanh, cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng bị đấu tố trên mạng, với cáo buộc rằng sách bôi nhọ hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ”. Làn sóng chỉ trích đã dẫn tới việc chính quyền rút tên Nỗi buồn chiến tranh ra khỏi một danh sách tôn vinh.

Trong những đợt đấu tố trước đây, không thấy báo chí đồng loạt lên bài phản đấu tố. Nhưng lần này, khi sự chỉ trích chạm tới quyền lực thượng tầng, báo chí đã đăng bài phê phán tệ đấu tố.

Quan sát tình hình xã hội thời gian qua, nhiều người nhắc tới phong trào Nhân văn giai phẩm – nỗ lực của một nhóm văn nghệ sĩ thời thập niên 1950 nhằm thúc đẩy tự do sáng tác và phản biện xã hội, nhưng sau đó bị chính quyền đàn áp, nhiều người tham gia bị xử lý và cấm hoạt động – hoặc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc – chiến dịch do Mao Trạch Đông phát động nhằm củng cố tư tưởng cộng sản nhưng dần đưa xã hội tới một thời kỳ hỗn loạn chính trị.

Sau Cách mạng Văn hóa, Hồng Vệ binh dần thất sủng và mất chỗ đứng.


 

TRÁCH AI ?

Xuyên Sơn

 TRÁCH AI ?

Hai vợ chồng đến từ một tỉnh miền Tây. Gia đình có vẻ là khá giả.

Người chồng đau nhiều, đi lại rất khó khăn, chỉ có thể đi được vài bước chân, hai chân rất yếu, sức cơ giảm nhiều.

Ngoài trượt đốt sống và hẹp ống sống nặng, ông ấy lại đang trong cơn gút cấp. Đã thế, ông ấy lại còn bị viêm dạ dày ruột, tiêu chảy nhiễm trùng, bệnh mạch vành, viêm da mủ và tiểu đường type 2. Đã có chỉ định mổ cột sống cho ông chồng, nhưng chắc không bác sĩ nào dám cầm dao với tình trạng sức khỏe của như vậy.

Còn người vợ.

Chị ấy đã không còn đi được, teo cơ hai chân. Chị ấy cũng bị trượt đốt sống và hẹp ống sống rất nặng.

Riêng về tiểu đường thì đường huyết cao chất ngất, gần 20 chấm,

HbA1C cũng 16, 17 chấm.

Khớp gối sưng vù, nóng đỏ, siêu âm đầy dịch.

Chị này cũng đã có chỉ định mổ cho bệnh cột sống, nhưng chắc cũng không bác sĩ nào đủ dũng cảm mổ cho chị ấy.

Đến đây thì có lẽ ai cũng cho rằng cái gia đình này không quan tâm đến sức khỏe, cả hai vợ chồng đều để bệnh quá nặng mới đi khám. Để đến nông nỗi này, có lẽ lỗi hoàn toàn thuộc về bản thân người bệnh.

Nhưng không.

Họ cho biết họ có đi khám bệnh.

Nhưng khám mãi không thấy bớt, càng ngày càng nặng, nên mới khăn gói lên thành phố.

Hỏi họ khám thì bác sĩ nói sao, chẩn đoán bệnh gì.

Họ nói không thấy bác sĩ nói gì cả.

Anh chồng thì biết bị nhiều bịnh vì thấy có nhiều bác sĩ khám, cho nhiều toa, còn chị vợ thì nghĩ rằng bác sĩ chỉ khám bệnh thần kinh tọa thôi, vì chị bị đau lưng và đau chân, và không biết mình bị hàng loạt bệnh khác.

Tôi cho rằng, lỗi chính trong chuyện này là hệ thống y tế của chúng ta.

Bên cạnh hệ thống bảo vệ sức khỏe dành riêng cho các quan chức, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân được phó mặc cho những qui định của bảo hiểm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe được phó mặc cho mạng xã hội và các nhà quảng cáo.

Một số bệnh nhân cho tôi biết, họ đã phát hiện và điều trị loãng xương, hết loãng xương rồi.

Hỏi khám và điều trị ở đâu thì được biết là ở… siêu thị.

Các công ty sữa mang máy đo loãng xương loại không được công nhận làm tiêu chuẩn chẩn đoán, đến đo miễn phí tại các siêu thị, rồi bán sữa về uống, hai tuần sau đo lại hết loãng xương.

Tương tự vậy, các loại thực phẩm chức năng mà chỉ có trời mới biết tác dụng như thế nào, được quảng cáo đầy trên TV.

Người dân cứ tưởng rằng uống nó là trị bá bệnh, hoặc không thì cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chẳng có bệnh tật nào xâm phạm nổi.

Có đi về các miền quê mới thấy, những cái giường, những cái máy,

với hàng đống đèn xanh xanh đỏ đỏ, chớp chớp nhá nhá, có giá vài chục triệu, có khi cả trăm triệu, được mang giới thiệu công khai, có khi còn có sự giúp sức của chính quyền hoặc các cơ quan đoàn thể địa phương.

Người có tiền thì mua máy về xài, người ít tiền thì trả tiền thuê máy để nằm, hãnh diện vì được những cái máy đấy trị bá bệnh cho mình…

Vào trong bệnh viện thì chỉ được làm xét nghiệm này mà không được làm cái khác, thậm chí là chỉ được dùng thuốc này mà không được dùng thuốc khác. Một ngày khám hàng mấy trăm bệnh nhân, bác sĩ, ngoài việc sợ bị bệnh nhân kiện cáo, lại sợ bị BHYT xuất toán, chẳng còn thời gian giải thích.

Hôm nào ít bệnh, có thời gian giải thích thì bị cho là lạm dụng BHYT, có khi đi tù như chơi.

Cứ thế, cả nền y tế được thả nổi.

Sức khỏe của người dân được thả nổi. Khi xảy ra những câu chuyện như gia đình bệnh nhân nói trên, thì, hoặc là qui kết cho bản thân người bệnh, hoặc là chê bai bác sĩ ở tỉnh chuyên môn tệ quá.

Còn cái cốt lõi, là cả một hệ thống chăm sóc sức khỏe bất bình đẳng, bởi sự ảnh hưởng của hệ thống chính trị phân chia đẳng cấp quan – dân,

nơi mà những kẻ hoạch định chính sách không trực tiếp trải nghiệm sản phẩm của mình, thì vô can.

Thanh Lan


 

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Donry Nguyen

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Ở Sài Gòn, không xa Dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền.

Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô.

Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản.

Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra.

Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào:

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí.

Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam.

Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn.

Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành.

Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa.

Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản trên khắp đất nước…

NGUYỄN HẠNH

—————————

-ÔN CỐ TRI TÂN

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Toan giết sạch học trò hay chữ.

Không diệt được Bách gia chư tử,

Mà chính mình lại bị diệt vong.

Xem bao đời lịch sử Tây Đông,

Đâu cũng trọng hiền tài, nhân sĩ.

Vốn học thức tạo nên người tài trí,

Giúp quốc gia tự chủ trường tồn.

Có một thời Giai Phẩm Nhân Văn,

Bị đấu tố sa vòng tù tội

Bọn ngu si ghét người tài giỏi,

Quyết ra tay “hạ thủ bất hườn”.

Những Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần…

Tên tuổi họ lại thêm lừng lẫy.

Tác phẩm họ còn nguyên giá trị,

Thấm đẫm tình dân tộc bao la.

Trời phương Nam hội tụ tinh hoa,

Nơi góp mặt anh tài cả nước.

Cùng sáng tạo thơ, văn, âm nhạc,

Trên lâu đài dân chủ tự do.

Cuộc phân tranh thế trận xoay cờ,

Khi phương Bắc tiến vào cướp bóc.

Chúng ra tay gồm thâu đốt sạch,

Cả một nền văn học Nước Nam.

Họ thay vào học thuyết lai căng,

Gieo rắc nỗi thù hằn giai cấp.

Biến văn chương trở thành nọc độc,

Phá tan hoang đạo đức bao đời.

Sự hung hăng cũng chỉ một thời,

Men chiến thắng lần hồi nguội lạnh.

Mớ nhạc đỏ im hơi tắt tiếng,

Đám văn nô bồi bút co vòi.

Và nhạc vàng rực rỡ lên ngôi,

Văn thơ cũ vùng lên sống lại.

Bao tài danh phục hồi tên tuổi

Giống như xưa, vốn nó vẫn là…

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Rốt cuộc lại tự mình hủy diệt.

Kẻ độc tài ngày nay nên biết

Càng bạo tàn càng kết liễu nhanh.

-Donry Nguyễn-


 

Dám làm dám chịu

Kim LeCâu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam

Dám làm dám chịu

Những gì đang xẩy ra quanh vụ đấu tố, bắt bớ các nhà văn, biên tập viên, nhà xuất bản ở Việt Nam khiến tôi nghĩ đến bài “Nỗi đau khổ không chỉ của riêng ai” viết cách đây một năm.

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/31129502989974377

Những người thấp cổ bé họng, bị mất đất, bị bọn cường hào mới chèn ép luôn quằn quại đau khổ vì án oan. Nhiều khi hàng chục năm, có khi cả đời. Nhiều người bán hết cả nhà cửa, gia tài để lên Hà Nội, ăn chực nằm chờ, khiếu kiện, kêu oan cho người thân. Họ ngủ, nghỉ ở đâu cũng bị xua đuổi. Thế rồi cuối cùng con cái mình vẫn bị giết chết như tù nhân Lê Văn Mạnh. Gia đình tử tù Hồ Duy Hải sống khắc khoải suốt 12 năm qua. Vụ án lên đến Chủ tịch nước, Quốc hội mà vẫn không ai dám quyết. Chàng trai Nguyễn Văn Chưởng chờ chết trong tù suốt gần 20 năm qua. Nếu có lúc nào đó được ra khỏi tù, chắc cậu sẽ khó trở lại cuộc đời bình thường.

Nhiều lắm, những chuyện bất công đang diễn ra trước mắt chúng ta.

Nhưng kể cả những kẻ tưởng như nằm chiếu trên của sự bất công  cũng chẳng sướng gì. Từ các vị tứ trụ, bộ chính trị, đại biểu quốc hội, đến chủ các tập đoàn nghìn tỷ, ai cũng có thể bị trảm bất cứ lúc nào. Thậm chí kể cả những người tin yêu chế độ, sùng tín lãnh tụ, muốn đưa một luồng sinh khí mới vào sử thi ca ngợi cũng có thể bị đập chết như ngóe. Tội danh thì không bao giờ thiếu. Bí thì bổ sung thêm vào luật hình sự những con số 88, 117, 331…. Luật pháp “cây nhà lá vườn” hay ở chỗ: Muốn thông qua quốc hội lúc nào cũng xong.

Đó chính là cái bi kịch trong một hệ thống kiên quyết không chịu xây dựng và phát triển xã hội dựa trên một nền tư pháp độc lập và khai phóng con người. Những kẻ cổ vũ hoặc góp phần xây dựng nền tư pháp bỏ túi đến lúc nào đó sẽ bị chính nó quật lại.

Thiên hạ đang nói về nạn đấu tố như những năm 1990 về trước. Họ mang “Cách mạng Văn hóa”, “Nhân văn Giai phẩm” ra so sánh. Về hiện tượng thì các vụ lùm xùm về sách vở gần đây giống như những gì diễn ra trong quá khứ. Nhưng về bản chất thì đã khác.

Trước kia nhà nước yếu kém, cả về kinh tế cũng như chính trị. “Thù trong giặc ngoài” là điều được nhắc đến thời đó. Đất nước bị cô lập nặng nề, chỉ vỏn vẹn có 12-13 nước bạn XHCN giúp đỡ và cổ vũ. Từ cây kim sợi chỉ đến hạt lúa mỳ phải xin từ nước ngoài. Sinh hoạt văn hóa thì nghèo nàn như phim “Bạch Mao Nữ” và buồn như “Chung một dòng sông”. Công cụ hiếm hoi để đảm bảo sự tồn tại của chế độ chỉ là sức mạnh quân sự và chuyên chính công an. Do đó mọi tư tưởng làm ảnh hưởng đến tính chính danh của chế độ, của đảng, của lãnh tụ đều bị đập chết ngay từ trong trứng.

Ngày nay Việt Nam đã ở vào một vị thế khác. Cho dù vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển, chưa công nghiệp hóa xong, nhưng là một quốc gia không chỉ đang tự nuôi sống được mình, mà bắt đầu tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sinh hoạt văn hóa và tự do báo chí tuy vẫn bị xếp vào danh sách 10 quốc gia mất tự do nhất hành tinh [1], nhưng người Việt khi vào Internet vẫn có nhiều lựa chọn hơn ở Trung Quốc, hoặc thậm chí ở Nga.

Điều quan trọng hơn cả là nhà nước này đã tự tin hơn.

Người ta biết rằng chế độ độc đảng không còn là trở ngại trong quan hệ quốc tế. Đã có hai vị Tổng Bí Thư đi thăm nước ngoài với cương vị đúng đầu nhà nước. Có được ba tổng thống Mỹ cùng vài nguyên thủ Tây Âu, Bắc Âu gọi họ một cách lễ phép: “Thưa ông Tổng bí thư”. Các nguyên thủ phương tây nay biết rõ rằng, để làm việc với Việt Nam một cách hiệu quả, phải nói chuyện với Tổng Bí thư. Hiến pháp chỉ là hình thức.

Sự tự tin này lên đến mức mọi phân định trách nhiệm giữa chính quyền và đảng cầm quyền đã bị xóa bỏ. Các cơ quan báo chí nhà nước như đài phát thanh VOV, truyền hình VTV, TTXVN rồi kể cả các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng trực thuộc đảng cầm quyền.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đều từ công an, quân đội mà ra nên họ rõ hơn ai hết về mối đe dọa của chế độ. Số bản án, các vụ bắt bớ, kỷ luật dành cho quan chức, doanh nhân trong những năm qua đã vượt xa số các vụ án dành cho người bất đồng chính kiến. Đó đang và sẽ là thực tế ở Việt Nam. Thực tế này cũng gây ra những nhiễu loạn cho công chúng khi nhìn vào các sự việc. Cả “Nỗi buồn Chiến tranh” hay “Nói chuyện với Thanh” lúc đầu đều được báo chí chính thống vinh danh để rồi tác giả bị đánh hội đồng. Rồi chính các cơ quan ca ngợi họ đều rút lui, xóa bài. Thậm chí có lúc đại diện phe chính thống còn lên tiếng phê phán đám đông đánh hội đồng (Như ông cục trưởng gì đó vừa làm).

Đại loại là đều ê chề như nhau, người ca ngợi rồi rút lui, người bị đánh và đám đông đánh hội đồng.

Trong lúc người ta hỏi học sinh làm sao để nước ta có được những người như Steve Job, thì lại diễn ra đấu tố văn hóa, trong khi kêu gọi tinh giảm bộ máy hành chính thì lại bắt người dân đến thăm họ hàng qua đêm phải khai báo… Tất cả những dích dắc đó chứng tỏ nỗi sợ vấn còn quá lớn. Tôi không tin là các NXB sơ sót điều gì. Nền kiểm duyệt mà tôi cọ xát suốt bao năm qua chưa bao giờ lơ đãng.

Phong trào tạo phản chủ yếu xuất phát từ những cựu quan chức văn hóa bảo thủ. Tuy họ không nắm quyền lực nữa, nhưng vẫn đại diện cho một lực lượng đáng kể trong xã hội. Đám đông này thổi bùng ngọn lửa “Cách mạng” để được sống lại với quá khứ của họ. Ngọn lửa này cháy to rát mặt đến mức những người chủ trương làm ngơ cho dòng chảy cuối cùng cũng phải gật đầu “cho trảm”. Lúc đầu muốn chơi trò đột phá, nhưng khi bị tạo phản thì không ai dám chịu.

Nguyên nhân của bi kịch nằm ở lực lượng “Âm binh” được nuôi dưỡng từ trước kia, nay dù muốn hay không, cũng vẫn không kiểm soát nổi.

Mất kiểm soát và thiếu bản lĩnh bản lĩnh thì thối lui.

Tất nhiên cái thực tế này sẽ còn kéo dài, bất chấp tất cả mọi mong muốn “Hóa rồng” trong “Kỷ nguyên vươn mình”. Người ta vẫn dám chấp vì luôn tin vào tăng trưởng 8-10% /năm kéo dài sẽ đưa vị thế Việt Nam tiếp tục lên cao. Điều này duy trì được chừng nào đất nước tiếp tục phát triển bằng cơ bắp, bằng gia công, bằng xuất khẩu nông sản, tài nguyên, bằng những cái giá của môi trường.

Nhưng rồi thế hệ vàng sẽ chấm dứt, lao động chân tay sẽ cạn. Đến lúc đó đất nước cần những con người có có phẩm chất để tạo ra những sản phẩm cao cấp như Chips, AI, Nano. Những con người đó không thể sinh ra trong một xã hội không có tự do học thuât, không có tự do tư tưởng, mà chỉ quen a dua đánh hội đồng.

Giả sử ngày mai có phép thần để chấm dứt các trò ngu muội đó đi, thì cũng phải mất cả chục năm để nền giáo dục khai phóng và văn hóa nhân bản mới cho ra những con người đủ phẩm chất cạnh tranh với thế giới.

Phẩm chất con người không chỉ là kiến thức, mà quan trong hơn là lý trí, đạo đức và ý chí.

Đó là điều duy nhất tôi muốn nói.

Các nhân vật từng được ưu ái, chuyên nằm chiếu trên khi ra tòa thường ăn năn, khóc lóc, xin được tha để chuộc tội lỗi. Họ càng khóc lóc thì những người xưa nay tung hô nâng đỡ họ càng tìm cách xa lánh, phủi tay. Họ có nhiều tiền để sống dễ chịu hơn trong tù, được pháp luật nương tay cho ra sớm. Nhưng họ ra tù một các lặng lẽ, giấu giếm. Vì thể tôi không mất công để viết họ.

Ngược lại những người không hề được nương tay như Hùng Gàn Lê,  hoặc Pham Doan Trang khiến tôi kính trọng. Trước tòa họ luôn tỏ ra có khí phách “Dám làm, dám chịu”. Trong suốt 5 năm Hùng Gàn ngồi tù, mẹ con Tử Đinh Hương luôn nhận được sự đùm bọc của bạn bè. Ngày Hùng ra tù, hàng ngàn người chờ trên mạng mong được nhìn vợ chồng em hội ngộ. Năm năm tù đã làm Hùng suy kiệt về sức khỏe, tài sản, sự nghiệp. Nhưng em không rời bỏ nguyên tắc của cuộc đời.

Tôi không bao giờ quên hình ảnh Đoan Trang bị giải ra khỏi phiên tòa hôm 14.12.2021. Trang không khóc, chỉ ngoái cổ lại tìm mẹ để nói: „Mẹ ơi con yêu mẹ! Con không sợ gì đâu. Mẹ giữ sức khỏe nhé!“.

THO NGUYEN 


 

Nam Kỳ Hào Sảng

“Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu”.

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng.

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền. Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân.

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần em ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?”

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?”

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.”

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Kim Duncan chuyển

From: T. Nguyen 


 

LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN- PHẠM SƠN LIÊM

 PHẠM SƠN LIÊM

 “Anh tên gì?”

“…”

“Số quân?”

“…”

“Đơn vị?”

Người sĩ quan già dụi tàn thuốc Bastos xuống gạt tàn. Ông ngước lên. Đôi mắt lạnh như đá.

“Hỏi ít thôi… sống lâu hơn.”

Cả căn phòng im bặt.

   Người ta nói… Một người lính phải có số quân. 

Để lãnh lương.

Để lĩnh quân trang.

Để báo tử nếu hy sinh.

Để khắc lên bia mộ.

Nhưng…

Có những người sinh ra trong cuộc chiến… Lại được huấn luyện để biến mất khỏi mọi hồ sơ công khai.

Không bảng tên.

Không cấp hiệu để khoe.

Không đơn vị để kể.

Chỉ có một mật danh……và một lệnh hành quân.

 “Các anh đi đâu?”

“Không được hỏi.”

“Bao giờ về?”

“Nếu còn.”

“Có ai đón không?”

“Có…”

“Ai?”

Người toán trưởng cười nhạt.

“Thượng Đế.”

   Họ là những quân nhân được tuyển chọn vào các công tác đặc biệt, phối hợp với MACV–SOG và Nha Kỹ Thuật trong những nhiệm vụ bí mật.

Có những chuyến đi… Không có trên bản đồ.

Có những mục tiêu… Không có trong bản tin.

Có những chiến công…Không được công bố

Và cũng có những cái chết…

Không kèn.

Không trống.

Không vòng hoa.

   Trực thăng chỉ xuất hiện vài phút.

Thả người.

Cất cánh.

Mọi thứ lại chìm vào tiếng của rừng.

Người đi…

Tự sống.

Tự chiến đấu.

Tự tìm đường về.

Nếu còn đường.

   “Mất liên lạc!”

“Bao lâu?”

“Ba ngày.”

“Cứu không?”

Viên sĩ quan nhìn tấm bản đồ rất lâu. Rồi gấp lại.

Giọng ông lạnh đến gai người.

“Không ai biết họ ở đó.”

Chỉ một câu.

Đủ khiến cả căn hầm nặng như chì.

   Nhiều năm sau… Một nhà báo hỏi một cựu quân nhân:

“Ông có thể kể về những ngày ấy không?”

Ông lắc đầu.

“Đã giải mật rồi mà.”

Ông mỉm cười.

Một nụ cười buồn.

“Giấy tờ có thể giải mật…”

“…nhưng lời hứa với đồng đội thì không.”

  Có người hỏi:

“Điều đáng sợ nhất của chiến tranh là gì?”

Không phải đạn.

Không phải mìn.

Không phải những cánh rừng tối.

Mà là… Ngày anh ngã xuống…

Không ai dám gọi tên anh.

Không phải vì anh không xứng đáng.

Mà vì nhiệm vụ của anh được sinh ra trong bóng tối.

Và có những người lính…

Đã chấp nhận sống cả tuổi thanh xuân trong bóng tối ấy.

Để khi đất nước cần… Họ xuất hiện. Khi nhiệm vụ xong… Họ biến mất.

Không đòi một lời tung hô.

Không cần huân chương.

Chỉ để lại một câu nói mà những người từng khoác áo trận đều hiểu:

“Có những người lính chiến đấu cho Tổ quốc… nhưng ngay cả lịch sử cũng không biết hết tên họ.”

Phạm Sơn Liêm.

 From: Tu-Phung


 

TẠI SAO NHẠC XƯA SỐNG LÂU?

Xuyên Sơn

TẠI SAO NHẠC XƯA SỐNG LÂU?

Dễ thấy, có những bài hát đã ngót nghét gần trăm năm nhưng vẫn được nghe đi nghe lại.

Có những ca sĩ đã 70, 80 tuổi đứng trên sân khấu vẫn được khán giả reo hò.

Họ – đại diện cho thế hệ nhạc xưa chưa bao giờ tự nhận cho mình bất kỳ một danh hiệu nào nhưng sẽ sống mãi trong lòng người yêu nhạc.

Một thế hệ những ca sĩ như Thái Thanh, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Lệ Thu, Tuấn Vũ, Chế Linh,… có lẽ sẽ không bao giờ lặp lại nữa.

Vậy, tại sao nhạc xưa lại sống lâu?

Thứ nhất, ngày xưa người ta sáng tác nhạc bằng cảm xúc, bằng câu chuyện.

Đa phần đều là những câu chuyện của chính người nhạc sĩ hoặc câu chuyện họ được nghe, được thấy.

Cho nên câu từ, giai điệu trong bài hát rất thật, qua bao nhiêu thế hệ vẫn có thể đồng điệu.

Ngày xưa, các nhạc sĩ sáng tác đa phần để “thỏa mãn” chính mình, không vì lợi nhuận.

Thế nên, nhạc xưa rất nguyên sơ còn người nhạc sĩ thì rất nghèo.

Ngày nay, sáng tác nhạc có sự thay đổi.

Có người sáng tác vì tiền, vì đơn đặt hàng, vì muốn nổi tiếng, vì chạy theo thị trường…

Âm nhạc đã không còn nguyên vẹn là cảm xúc nữa.

Thứ hai, tiêu chuẩn để được coi là ca sĩ ở thời xưa rất khắt khe.

Người ca sĩ phải có chất giọng tốt, phải được rèn luyện bài bản, khổ cực rèn luyện mới có được chỗ đứng trong lòng người hâm mộ.

Họ cũng chinh phục khán giả bằng giọng hát, bằng cảm xúc mà không cần đến sân khấu hoành tráng, trang phục lộng lẫy hay vũ đạo bắt mắt.

Thế nên nghe nhạc xưa có phần nào đó rất nhẹ nhàng, hát như kể chuyện, không phô diễn kỹ thuật, không bị tác động bởi ngoại cảnh.

Người ca sĩ nhập tâm như kể chuyện.

Những ca sĩ thời nay thường bị chi phối nhiều hơn, phải mặc đẹp, nhảy giỏi, phải có âm thanh tốt, phải chạy show, phải phô diễn kỹ thuật.

Thành ra, âm nhạc bị mất đi phần cảm xúc vốn có.

Có thể nói, thị trường âm nhạc thay đổi, nhiều người trẻ thích sôi động không còn ưa chuộng dòng nhạc xưa.

Nhưng nếu đã từng nghe nhạc xưa thì chắc chắn sẽ mê, sẽ nghiện, nghe hoài không chán!

Nguồn fb Khải Quang

(Gốc Nhạc Xưa)

*Tại sao nhạc xưa sống lâu, nhạc trẻ yểu mệnh?

Có một thực trạng là hiện nay, nhiều nhạc sĩ “đẻ” tác phẩm xoành xoạch, bán cho ca sĩ, lấy tiền xong, hết trách nhiệm.

Lời bài hát chẳng trao chuốt, nội dung nhảm nhí, giai điệu lai tạp nhạc

Hàn Quốc, Anh, Pháp…

bài nào cũng giống bài nào, không phân biệt được và chẳng có gì ấn tượng…

Cách đây không lâu, trong một buổi họp báo ra mắt về giải thưởng âm nhạc, người viết bài có đặt câu hỏi tại sao nhạc trẻ thường đoản mệnh, trong khi nhạc xưa có bài tồn tại gần cả thế kỷ, vẫn có người tìm nghe?

Một nhạc sĩ trẻ (chúng tôi xin không nêu tên) khá nổi tiếng trả lời, có vẻ rất mãn nguyện:

“Hiện nay một bài nhạc có tuổi thọ khoảng 3 tháng là đạt yêu cầu rồi.

Quan trọng là trong 3 tháng có nhiều người nghe, chứ không quan trọng tuổi thọ dài hay ngắn”.

Câu trả lời của chàng nhạc sĩ trẻ, chuyên viết bài theo đơn đặt hàng của ca sĩ cũng là một mấu chốt cho thấy dòng nhạc sáng tác trong giai đoạn hiện nay đa số kiểu mì ăn liền.

Nhạc sĩ “đẻ” tác phẩm xoành xoạch, bán cho ca sĩ, lấy tiền xong, hết trách nhiệm.

Lời bài hát chẳng trao chuốt, nội dung nhảm nhí, giai điệu lai tạp nhạc Hàn Quốc, Anh, Pháp…bài nào cũng giống bài nào, không phân biệt được và chẳng có ấn tượng.

Một số ca sĩ bù vào phần lời “nhảm” của bài hát bằng phần nhìn, ra sức đầu tư vũ đạo, trang phục, kỹ thuật…

chi phí có khi đội lên con số trăm triệu đồng, tỉ đồng.

Bài hát may mắn nổi đình nổi đám, lượt xem MV trên Youtube cao là được. Ca sĩ chỉ chú trọng vào lượt view, chẳng màng là ca khúc mình hát tồn tại bao lâu, ai nhớ.

Chính vì quá chú trọng vào lượt view, ca sĩ hò hét fan click vào bài hát trên Youtube, đồng thời thuê người cài view ngày đêm.

Đây là một việc làm phi lý và buồn cười, bởi có người click theo “ý nguyện” của ca sĩ nhưng chẳng buồn xem nội dung, nghe lời bài hát.

Vậy số view có phản ánh được lượng khán giả thực sự yêu thích,thưởng thức  tác phẩm âm nhạc không?

Hay đó chỉ là con số dùng để trang trí cho “bảng xếp hạng” của MV?

Ca sĩ Sơn Tùng, hiện đang được gọi là “ông hoàng Youtube”.

Mỗi lần chàng ca sĩ sinh năm 1994 gốc Thái Bình tung ra sản phẩm âm nhạc mới, lượt người xem MV tăng lên chóng mặt, hàng triệu view.

Điều đáng bàn, những bài Sơn Tùng hát:

Nắng ấm xa dần, Em của ngày hôm qua, Anh sai rồi, Không phải dạng vừa đâu…

khán giả phải vất vả vểnh tai xem anh chàng này hát gì, cứ ngỡ như tiếng nước ngoài, kèm những lời “hú hớ… ơ ơ”.

Buồn cười hơn nữa, là các MV hát tiếng Việt của anh chàng này trên Youtube đều có chạy dòng chữ phụ đề Việt bên dưới, giống như phụ đề các bộ phim nước ngoài.

Lượt view cao, rầm rộ trong một thời gian ngắn, các ca khúc chìm vào quên lãng, chẳng ai còn nhớ đến, chẳng còn ai tìm nghe.

CHẠY NGAY ĐI | RUN NOW |

SƠN TÙNG M-TP

https://youtu.be/32sYGCOYJUM

Có lần ngồi ở một quán cà phê, người viết bài này nghe Sơn Tùng hát một ca khúc, nhưng không tài nào hiểu mình đang nghe gì, quay sang một thanh niên trẻ đang lắc lư theo nhạc, hỏi xem… nghĩa lời bài hát.

Anh chàng thanh niên cười:

“Em chịu. Chủ yếu là nghe giai điệu, chẳng cần nghe lời làm gì đâu anh”. Chính vì người nghe chỉ quan tâm giai điệu, chẳng buồn quan tâm lời, không hiểu nội dung ca khúc, mới dẫn đến nguyên nhân bài hát ít sống thọ.

Một bài hát muốn sống lâu với thời gian, điều cốt lõi đầu tiên là khán giả phải nhẩm hát được ca khúc ấy, thuộc lời một cách tự nhiên.

Bởi ngoài ca sĩ hát ca khúc, khán giả cũng phải hát được thì ca khúc đó mới được lan truyền, lưu truyền.

Còn đại đa số các bài hát được sáng tác hiện nay, lời còn nghe không rõ, nghĩa không hiểu, bố ai thuộc cho nổi. Nghe cho vui lúc đó, rồi quên ngay.

Nhạc xưa, có những bài tròn gần 1 thế kỷ, chẳng hạn như trường ca

Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương.

Giai điệu hùng hồn, có lúc bi ai của người thiếu phụ chờ chồng thời chinh chiến đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài hát vẫn còn xuất hiện ở các chương trình ca nhạc lớn.

Thái Thanh – Hòn Vọng Phu 1

– Thu Âm Trước 1975

https://youtu.be/RZ87MDiIPuE

Nhạc xưa hay đã đành, người hát ca khúc cũng thường được nhạc sĩ chọn mặt gửi vàng.

Chính vì lẽ đó, mà ca khúc càng có sức sông mãnh liệt, lan toả.

Chẳng hạn như nhắc đến trường ca

Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương, khán giả nghĩ ngay đến danh ca

Thái Thanh.

Nhắc đến Nửa đêm ngoài phố của Trúc Phương, không thể không kể đến danh ca Thanh Thuý.

Một lần tôi ngồi trong cánh gà cùng ca sĩ Giao Linh.

Bà chờ một ca sĩ khác hát xong ca khúc Em đến thăm anh một chiều mưa

của nhạc sĩ Tô Vũ thì đến lượt trình diễn.

Nghe nữ ca sĩ kia cất câu:

“Em đến thăm anh một chiều mưa.

Mưa dầm dề đường trơn ướt tiêu điều…”,

danh ca Giao Linh không kiềm được cảm xúc, vỗ tay thốt lên:

“Các cụ ngày xưa viết nhạc không thể nào chê được. Tôi thích nhất hai từ 

“dầm dề”, gợi cảnh chiều mưa buồn, ảm đạm. Người con gái đến thăm người yêu thật lãng mạn, ấm áp.”

Giao Linh – Anh Về Kẻo Mưa

– Thu Âm Trước 1975

https://youtu.be/udJYPBzuBIw

Cũng theo lời ca sĩ Giao Linh:

“Thời của chúng tôi, mỗi khi nhạc sĩ sáng tác xong một bài, giao cho ca sĩ nào, thì ca sĩ đó phải tập luyện rất vất vả.

Như bài “Em về kẻo trời mưa” của nhạc sĩ Ngân Giang, tôi hát mới hai mươi tuổi. Phải tập cùng ban nhạc, có nhạc sĩ hướng dẫn đúng phần hồn ca khúc trong suốt nhiều tháng ròng. Chính vì vậy, những ca sĩ Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan mới 15-16 tuổi đã có thể trình bày một ca khúc rất sâu sắc và giọng hát cùng ca khúc dễ dàng đi vào lòng khán giả.

Khán giả thuộc nằm lòng lời bài hát, thấy chính mình trong từng ca khúc, có sự đồng cảm.

Ai cũng có thể cất giọng vài câu.

Chính vì thế ca khúc sống bền bỉ cùng thời gian, lưu truyền qua nhiều thế hệ”.

Theo Lê Ngọc Dương Cầm (Petrotimes)


 

XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Giáo Phận Bắc Ninh 

XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Tôi ngồi một mình – giữa lòng nhà thờ.

2h chiều – không một bóng người.

Sự trầm mặc, đau thương phủ kín ngôi nhà thờ to lớn, trong những ngày đầy cơ cực.

Tiếng xe chuyển đồ, những lời mặc cả bán mua thi thoảng hắt vào qua ô cửa sổ. Như ngàn vạn sự giày xéo tan nát xứ Đạo này…

Năm  1883,  đức cha Antonio Colomer Lễ đứng giữa xứ Đạo này đọc vang sắc lệnh của Toà Thánh, thành lập Hạt đại diện Tông toà Bắc Đàng Ngoài (Giáo phận Bắc Ninh).

Năm đó, Toà Giám mục đặt ở Tử Nê.

Năm đó, tiểu chủng viện đặt ở Tử Nê.

Năm đó, đức cha Lễ nhận Tử Nê là quê hương thứ 2 tại Việt Nam…

Và cũng năm đó, chắc chắn tổ tiên chúng tôi dù có giàu trí tưởng tượng thế nào, cũng không tưởng tượng được rằng một ngày nào đó con cháu mình sẽ phải rời bỏ quê cha đất tổ để hi sinh vì lợi ích chung.

Chúng tôi đồng thuận với dự án. Ủng hộ sự phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Nhưng…

Hỡi ôi, chữ nhưng đầy đau đớn…

Giữa những lúc khó khăn này. Chúng tôi lại chẳng được khóc cho những điều đang tới.

Đâu đó người ta từng nói: tiếng khóc là sự chống cự cuối cùng của con người khi đến tận cùng số phận.

Nhưng không ai (có quyền) được khóc.(!)

Phải gượng cười, phải bình thường như những ngày bình yên xưa cũ. Khi mà:

Đi long đong cả vài ngày ngoài đường chẳng thuê nổi một nhà tạm trú, vì giá nhà đã quá cao, từ 10-15tr/tháng mà một gia đình không thể gánh gồng được. Khi mà hỗ trợ thuê nhà là 1tr5/tháng/người. Một gia đình bình thường 2 vợ chồng và 2 con chỉ vỏn vẹn 6 triệu. Số tiền 4-9 triệu còn lại ai sẽ chịu?

Tái định cư vẫn chưa thành hình, mà lịch bàn giao nhà và bàn giao tái định cư thì đã sát gần. Chúng tôi mới chỉ thấy những cánh đồng lấp đầy bằng đất. Điện, đường, nước…những thứ cơ bản cho 1 khu tái định cư vẫn là cái gì đó mịt mù chưa rõ ràng, chưa định hình.(!?)

Số tiền đền bù cầm về, khi ra tái định cư, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính để được cấp đất thì chẳng còn đáng bao nhiêu để xây dựng lại một ngôi nhà y như ngồi nhà cũ. Chưa một lần chúng tôi dám đòi hỏi đền bù cao hơn, chúng tôi chỉ cần sự công bằng.

Kế sinh nhai rồi sẽ ra sao?

Câu hỏi mông lung khó trả lời nhất.

Ruộng chẳng còn, đất thì chỉ đủ xây nhà, cái đơn giản nhất là trồng mớ rau bán qua ngày cũng không thể. Những ông bà, cô chú đã 40-50 tuổi không bằng cấp, không nghề nghiệp cụ thể rồi sẽ mất bao lâu để tìm, để học, và liệu có tìm có học được một nghề gì mới để tự nuôi sống chính mình?!.

Vậy mà lại chẳng được khóc.

Vì nếu khóc. Nước mắt đó ai lau?

Phải ra đi.

Phải thiệt thòi.

Phải xoay sở trong lúc tình người ít ỏi.

Tôi nhìn thấy 400 năm của xứ đạo này như chạy như 1 cuốn phim cực nhanh trong đầu. Thấy bao vất vả hi sinh của cha, ông đã qua để xây dựng mảnh đất này.

Kính lạy những bậc Cha, Ông đã xây dựng mảnh đất này. Xin thứ tha bao điều lỗi phạm nếu chúng con đã làm gì sai. Xin chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con ơn sức mạnh để dân làng vượt qua được biến cố này cách bình an…

Tôi nhìn lên Thánh giá Chúa.

Trong im lặng, thầm cầu nguyện: Lạy Chúa, xưa trong vườn cây dầu. Trước khi bước vào cuộc thương khó. Chúa lo buồn đổ mồ hôi máu. Xin cho chúng con “được khóc” để nguôi ngoai trong lòng bao tủi hờn…

….Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ

  Nhưng cứu chúng con cho khỏi (mọi) sự dữ… Amen!

Người Tử Nê

#gpbacninh #sanbaygiabinh


 

Khi sự thật của người dân bị gọi là xuyên tạc..

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

Khi Hà Nội còn trong khói lửa, người dân không tiếc máu xương. Họ chiến đấu, họ hy sinh, họ bảo vệ từng con phố, từng góc nhà. Đảng gọi, họ đi. Không hỏi nhiều, không đòi hỏi gì.

Rồi đất nước thống nhất, họ trở về, cúi đầu lao động, đóng thuế, nuôi bộ máy. Cũng không hỏi nhiều, cũng không đòi hỏi gì.

Nhưng đến khi mảnh đất của họ lọt vào tầm ngắm quy hoạch, câu chuyện đổi chiều hoàn toàn. Họ không còn là nhân dân nữa. Họ trở thành đối tượng cưỡng chế, thành kẻ xuyên tạc, thành mối đe dọa an ninh trật tự.

Báo Công an Hà Nội viết rằng bên cạnh đa số người dân đồng thuận và chấp hành, vẫn còn một số cá nhân lợi dụng tình hình để xuyên tạc thông tin, kích động tâm lý bức xúc, kêu gọi căng băng rôn, tụ tập đông người, khiếu kiện vượt cấp.

Đọc đoạn đó, người ta cần hỏi thêm một câu: những người bị gọi là kích động bức xúc đó đang bức xúc về chuyện gì?

Họ đang bức xúc vì nhà của họ sắp bị giải tỏa. Vì đền bù không thỏa đáng. Vì sinh kế chưa được đảm bảo. Vì tương lai sau giải tỏa mù mịt không ai giải thích rõ ràng.

Đó không phải là bức xúc được kích động từ bên ngoài. Đó là bức xúc nảy sinh từ chính cuộc sống của họ, từ chính mảnh đất mà họ đang đứng trên đó.

Tuyên giáo chỉ đạo lên bài cảnh tỉnh bà con trước luận điệu xuyên tạc.

Nhưng cái gì là xuyên tạc ở đây? Người dân nói rằng đền bù quá thấp, đó là xuyên tạc hay là sự thật mà họ đang sống? Người dân nói rằng chưa biết sau giải tỏa sẽ ra sao, đó là kích động hay là nỗi lo chính đáng của bất kỳ ai mất đi chỗ ở và sinh kế?

Khi sự thật của người dân bị gọi là xuyên tạc, và nỗi lo của họ bị gọi là kích động, thì ngôn ngữ đang được dùng không phải để phản ánh thực tế mà để che giấu nó.

Có một vòng tròn rất buồn trong câu chuyện này.

Ngày xưa Đảng cần dân, dân hy sinh. Lớn lên Đảng cần tiền, dân đóng thuế. Bây giờ Đảng cần đất, dân phải nhường. Đổi lại, dân nhận được một khoản đền bù không đủ bắt đầu lại, một tương lai không ai đảm bảo, và thêm một danh hiệu mới: đối tượng chống phá.

Ngàn lần được gọi là nhân dân anh hùng, nhưng chỉ cần một lần cản trở quyền lợi của người nắm quyền, tất cả những danh hiệu đó tan biến.

Điều người dân đang nhận ra, có lẽ muộn hơn họ muốn, là giá trị của họ trong mắt bộ máy này được tính theo từng giai đoạn.

Khi cần người chiến đấu, họ là anh hùng. Khi cần người đóng thuế, họ là trụ cột. Khi cần đất để làm dự án, họ là chướng ngại vật cần được giải phóng mặt bằng.

Và khi họ dám hỏi tại sao, dám căng băng rôn đòi câu trả lời, dám không chịu im lặng trước cái tương lai mà người khác đã sắp xếp sẵn cho họ, họ trở thành đối tượng cần cảnh tỉnh, cần xử lý, cần đưa vào bài báo như một mối nguy.

Không có gì thay đổi nhanh hơn cách một chính quyền nhìn nhận người dân của mình, khi giữa hai bên xuất hiện một mảnh đất có giá trị.

Và không có gì làm người dân tỉnh ngộ nhanh hơn cái khoảnh khắc họ nhận ra rằng mọi lời ca ngợi, mọi danh hiệu, mọi khẩu hiệu về nhân dân là chủ nhân, đều có thể biến mất trong một buổi sáng khi đoàn cưỡng chế gõ cửa nhà họ.

Đảng cần tiền và lợi ích. Dân phải trả bằng mồ hôi, tài sản và đôi khi cả xương máu. Công thức đó chưa bao giờ thay đổi. Chỉ là không phải lúc nào nó cũng hiện ra rõ ràng đến vậy. 


 

Xuất khẩu lao động: Thành công kinh tế hay bằng chứng rõ ràng của sự thất bại trong nước?

Góc Nhìn Mới is with Anthony D. Nguyen.

Xuất khẩu lao động: Thành công kinh tế hay bằng chứng rõ ràng của sự thất bại trong nước?

Xuất khẩu lao động đã trở thành “cứu cánh” quen thuộc của hàng loạt nước đang phát triển. Hàng triệu người Việt cộng sản phải bỏ quê hương, xa vợ con để đi làm thuê ở Nhật, Hàn, Đài Loan hay Trung Đông.

Phía “tích cực” thì vẫn được ca ngợi như cũ: giảm áp lực thất nghiệp, mang về kiều hối, vài người về nước được tí vốn liếng với vài kỹ năng. Nghe thì hay ho.

Nhưng nhìn thẳng vào sự thật thì đau lòng hơn nhiều.

Thứ nhất, nếu trong nước lương cao, việc làm ổn, cơ hội thăng tiến rõ ràng, thì có bao nhiêu người chịu cảnh xa nhà mấy năm trời, làm những công việc chân tay vất vả, bị đối xử như lao động hạng hai ở nước ngoài? Việc hàng loạt người dân phải “bán sức” cho nước ngoài chính là minh chứng sống động cho sự chênh lệch thu nhập và chất lượng cuộc sống quá lớn.

Thứ hai, một nền kinh tế lành mạnh mà phải đẩy thế hệ trẻ khỏe mạnh, có học vấn ra nước ngoài hàng loạt để kiếm sống thì rõ ràng đang có vấn đề nghiêm trọng. Đây không phải là “thành công”, mà là lời cảnh báo đỏ về khả năng tạo việc làm chất lượng cao trong nước. Nhiều nước đang phát triển vẫn đang mắc kẹt trong cái vòng luẩn quẩn này.

Thứ ba, đừng có cố tình đánh đồng giữa “chủ động chọn cơ hội quốc tế” với “buộc phải đi vì ở nhà không còn đường nào khác”. Hầu hết lao động xuất khẩu là trường hợp thứ hai. Họ đi không phải vì quá ham muốn phiêu lưu, mà vì trong nước thiếu lựa chọn tử tế. Một đất nước thực sự phát triển phải tạo ra môi trường khiến người dân muốn ở lại, chứ không phải ép họ phải ra đi để culi.

Tóm lại, xuất khẩu lao động không phải là minh chứng cho sức mạnh kinh tế, mà phần lớn là triệu chứng của một nền kinh tế chưa đủ sức giữ chân người dân. Nó mang lại ngoại tệ, nhưng cũng đang làm hao mòn nguồn nhân lực trẻ, làm chậm quá trình công nghiệp hóa thực sự và duy trì tình trạng “lao động giá rẻ xuất khẩu”.

Mục tiêu dài hạn của một quốc gia có trách nhiệm không phải là cạnh tranh xem ai đưa được nhiều công dân ra nước ngoài hơn, mà là xây dựng một nền kinh tế đủ hấp dẫn để người dân không buộc phải ra đi mới sống nổi. Còn hiện tại, thì cứ tiếp tục tự vỗ vai “thành công” kiểu này, thì cũng chỉ là tự an ủi bản thân mà thôi.

#BBCTiengViet #viralreelschallenge #viralreels #NguyenVanDai #thoibaode #ToLam #phanvangiang #leminhhung #BacNinh #GiaBinh #viettan #datdenbu #Datduanphanlo #datduan 


 

Sáng nay ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.- Lâm Tây

Dương Văn Dương

Sáng nay tôi có mặt ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ rất sớm.

Điều đập vào mắt tôi không phải là những tòa nhà lớn hay những thiết bị y tế hiện đại, mà là dòng người đông đúc đang lặng lẽ xếp hàng từ sáng tinh mơ.

Có những người đeo trên vai chiếc ba lô đã cũ. Có người kéo theo vali, túi xách lỉnh kỉnh. Nhìn cách họ chuẩn bị hành lý, tôi đoán nhiều người đã đi từ các tỉnh rất xa, bắt xe xuyên đêm để kịp đến bệnh viện khi trời còn chưa sáng.

Trên những hàng ghế đá, dưới những gốc cây, ngoài hành lang bệnh viện… nhiều người nằm co ro chợp mắt. Có người già tóc đã bạc trắng. Có người là những bệnh nhân gầy gò vì bệnh tật. Có những người con, người vợ, người chồng đang túc trực bên người thân của mình.

Bữa sáng của họ đôi khi chỉ là một ổ bánh mì, một gói xôi, một ly nước lọc mang theo từ nhà.

Không ai than vãn.

Không ai kể khổ.

Họ chỉ ngồi đó, lặng lẽ chờ đến lượt khám bệnh.

Nhìn những gương mặt mệt mỏi, lo âu và đầy hy vọng ấy, tôi bỗng thấy lòng mình nặng trĩu.

Ngoài kia, trên mạng xã hội, người ta tranh cãi về những điều rất nhỏ. Người ta hơn thua nhau từng câu nói, từng món đồ, từng chút danh lợi.

Nhưng ở đây, trong khuôn viên bệnh viện này, tôi nhận ra rằng có những người sẵn sàng đánh đổi tất cả chỉ để mua thêm một cơ hội được khỏe mạnh.

Đối với họ, hạnh phúc không phải là xe đẹp hay nhà lớn.

Hạnh phúc đơn giản chỉ là kết quả xét nghiệm tốt hơn hôm qua.

Là bác sĩ nói bệnh có thể điều trị được.

Là người thân của mình vượt qua được cơn nguy kịch.

Là được trở về nhà bình an sau những ngày dài chiến đấu với bệnh tật.

Có lẽ bệnh viện là nơi người ta nhìn thấy rõ nhất sự mong manh của kiếp người.

Nơi mà khoảng cách giữa giàu và nghèo vẫn còn đó, nhưng nỗi đau thì giống nhau.

Nơi mà ai cũng mang trong mình một câu chuyện riêng, một nỗi lo riêng, một lời cầu nguyện riêng.

Rời bệnh viện, tôi mang theo rất nhiều suy nghĩ.

Tôi thấy biết ơn vì mình còn khỏe mạnh.

Biết ơn vì những người thân yêu vẫn còn ở bên cạnh.

Và biết ơn vì cuộc sống này, dù còn nhiều khó khăn, nhưng chúng ta vẫn còn cơ hội để sống, để yêu thương và để trở về nhà mỗi ngày.

Nếu hôm nay bạn đang khỏe mạnh, xin đừng xem đó là điều hiển nhiên.

Bởi ở đâu đó ngoài kia, có rất nhiều người đang dành tất cả tiền bạc, thời gian và hy vọng chỉ để đổi lấy điều mà chúng ta đang có mỗi ngày

Lâm Tây


 

Cúi xuống…. !

Nguyễn Hoàng Tuấn

Cúi xuống…. !

Giữa một thành phố luôn vội vã, lòng tử tế vẫn là điều đẹp nhất có thể trao cho nhau.

Có lẽ rất nhiều người đã từng đi ngang qua một chiếc xe như thế.

Có người mua vài cân hoa quả rồi vội vã rời đi.

Có người mặc cả thêm vài nghìn đồng.

Có người thậm chí chẳng buồn ngoái nhìn.

Để chiếc xe ấy có mặt trên con phố từ sáng sớm, có khi người bán đã thức dậy từ ba, bốn giờ sáng, lặn lội đến chợ đầu mối, lựa từng giỏ hàng, chở cả trăm ký trái cây len lỏi qua những con đường còn tối, mang theo hy vọng rằng hôm nay sẽ bán hết trước khi trời tối.

Nghề bán hàng rong không có lương tháng.

Không có bảo hiểm.

Không có ngày nghỉ.

Không có ai trả tiền cho những giờ ngồi chờ khách, cho những ngày mưa ế ẩm, hay những lúc trái cây hỏng phải mang về. Mỗi quả bán được đều là từng đồng tiền đổi bằng mồ hôi và thời gian.

Điều khiến người ta xúc động không chỉ là sự vất vả.

Mà là dù cuộc sống nhiều nhọc nhằn đến vậy, họ vẫn chọn tiếp tục.

Ngày này qua ngày khác.

Mùa hè nắng gắt, mùa đông cắt da, những cơn mưa bất chợt… chiếc xe vẫn lăn bánh. Không phải vì họ không biết mệt, mà bởi phía sau còn một mái nhà cần tiền chợ, một đứa con cần tiền học, một gia đình đang chờ bữa cơm tối.

Bức ảnh này cũng nhắc chúng ta về một điều rất giản dị: đằng sau mỗi người lao động bình thường đều là một câu chuyện mà ta không nhìn thấy.

Vì thế, nếu một ngày nào đó bạn dừng lại mua vài quả táo, một chùm nho hay vài trái chanh từ một chiếc xe ven đường, hãy mỉm cười với họ. Đừng mặc cả nếu mức giá đã hợp lý. Đôi khi, vài nghìn đồng không làm chúng ta giàu hay nghèo đi, nhưng lại có thể giúp một người bán hàng rong kết thúc một ngày dài với nhiều hy vọng hơn.

Và biết đâu, chính những con người lặng lẽ bên những chiếc xe đạp cũ ấy mới là những người đang gánh trên vai vẻ đẹp bền bỉ nhất của một thành phố.