Chết vì rượu

Chết vì rượu

Huy Phương

Việt Nam đang được xem là một “cường quốc” về bia rượu. (Hình: Getty Images)

Tôi không biết uống rượu nhưng khi ai có lòng đem cho mình một chai rượu quý, tôi vẫn dành để biếu lại cho một người bạn thân uống được rượu, mà uống một cách thông minh.

Người xưa phong lưu thì có cầm, kỳ, thi, tửu. Nhà thơ Tú Xương cũng không qua cảnh “một trà, một rượu, một đàn bà.” Rượu luôn luôn đi với thơ, dễ chừng không có rượu, cõi đời không có thơ, (bầu rượu, túi thơ.) Có bạn bè thì phải có rượu “chén chú, chén anh.” (Rượu ngon phải có bạn hiền!)

Một trong những cái “chẳng cũng sướng sao” của Kim Thánh Thán là gặp lúc bạn đến nhà mà đủ tiền mua rượu đãi bạn: “…Người bạn xa mười năm, thình lình đến vào chiều hôm. Mở cửa chào xong, chẳng kịp hỏi đi thuyền hay đi bộ, cũng chẳng kịp mời ngồi ghế hay ngồi giường… Hàn huyên qua loa, liền chạy mau vào nhà trong, sẽ hỏi vợ: “Mình có được như bà vợ Tô Đông Pha, sẵn có rượu để dành không?” Vợ cười, rút cành trâm vàng đưa cho. Tính ra có thể đãi khách được ba ngày… Chẳng cũng sướng sao!”

Trong tình yêu cũng thế: “Em ơi! Lửa tắt, bình khô rượu, Đời vắng em rồi, say với ai?”(VHC).

Trong lễ cưới hỏi của người Việt thì có khay rượu đi đầu, “giúp em một thúng xôi vò, hai con lợn béo, một vò rượu tăm!” Đôi tân lang và tân giai nhân cùng nhau uống rượu làm lễ giao bôi, họ hàng thì nâng ly rượu mừng cho đôi trẻ. Khi vui uống ly rượu mừng, lúc buồn mượn ly rượu giải sầu. Có ly rượu mừng và cũng có ly rượu phạt. Trong Tam Quốc Chí thì “Quan Vũ lên ngựa ra chém Hoa Hùng, chạy về chén rượu uống dở vẫn còn nóng!”

Người Trung Hoa, người Việt thì đám cưới cũng rượu, đám tang cũng rượu. Không có rượu, coi như lễ nghĩa không thành (Vô tửu bất thành lễ). Trong nhiều nghi lễ khác cũng cần có rượu, đặc biệt là trong các nghi lễ cưới hỏi. Trong phong tục cưới hỏi của người Việt, khay trầu rượu luôn được đi hàng đầu. Như vậy thì chúng ta cũng có thể nói: rượu là một nét văn hóa của người Việt.

Tai hại của rượu thì ai cũng đã thấy. Ngay ở Hoa Kỳ, tệ nạn nghiện rượu từng là thảm kịch trong gia đình của Tổng Thống Donald Trump. Người anh của ông là Fred Jr. đã qua đời vào năm 1981, vì nghiện rượu. Gia đình Ông Trump không ai uống rượu, năm ngoái (2018), ông đã tặng $100,000 trích từ tiền lương của ông trong quý thứ ba của năm cho cơ quan “National Institute on Alcohol Abuse and Alcoholism.”

Và ngày nay, thế giới đang báo động vì tai nạn uống rượu lái xe gây chết người.

Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO nói rượu là thủ phạm đứng hạng 3 gây ra số người chết và thương tật nhiều nhất trên thế giới, ước chừng có 2.5 triệu người chết mỗi năm.

Ở Hoa Kỳ, nghiên cứu cũng cho thấy rằng 5 thành phố tại California, như Vista, Hemet, Delano, Murrieta, và Pittsburg, việc tử vong do DUI (Driving under the influence – Lái xe dưới sự ảnh hưởng của rượu hay ma túy), gia tăng từ 140 tới 700% từ năm 2012 tới 2017. Trong thời gian 5 năm, hơn 5,500 người chết từ tai nạn do say rượu lái xe tại California.

Nhưng ở Mỹ có luật lệ nghiêm minh, cơ quan cảnh sát cũng làm việc đứng đắn, dân trí cao nên rượu không phải chuyện “quốc nạn” như ở đất nước Việt Nam.

Ở Việt Nam, chỉ tính trong một năm 2016, ước tính có 79,000 người chết vì uống rượu bia, và hàng trăm ngàn người khác phải vào bệnh viện vì các bệnh liên quan đến rượu như gan, tim mạch, ung thư, đột quỵ.

Việt Nam được xem là một “cường quốc” về rượu. WHO cho biết người Việt tiêu thụ trung bình một người trên 15 tuổi tiêu thụ 8.3 lít cồn nguyên chất trong năm 2016, trong khi các quốc gia trong khu vực sử dụng ít hơn nhiều như ở Mông Cổ là 7.4 lít, Trung Quốc là 7.2 lít, Campuchia là 6.7 lít, Philippine là 6.6 lít và Singapore chỉ có 2 lít.

Đàn ông Việt Nam sử dụng rượu bia càng ngày càng tăng, cứ 100 người đàn ông thì có 77% người uống rượu bia, gia tăng từ năm 2015 so với năm 2010 là 15%.

Rượu “góp mặt” trong 70% số vụ phạm pháp hình sự ở nhóm dưới 30 tuổi (giết người, hiếp dâm…)

Mỗi năm có, 4,800 người tử vong do tai nạn giao thông vì say rượu. Dịp Tết Kỷ Hợi vừa qua có 60% trong số 500 ca cấp cứu nhập viện liên quan đến rượu bia. Ước tính thiệt hại kinh tế do rượu bia, mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 65,000 tỉ đồng (khoảng $2.8 tỷ).

Bây giờ rượu không còn “nhấp” hay “nhâm nhi” mà phải “nhậu,” “nốc,” “dzô!” Uống rượu ngày nay không còn là cái thú tao nhã, phong lưu nữa mà đã trở thành một tệ nạn, lan tràn khắp đất nước. Đám cưới phải nhậu, đám ma cũng nhậu, mừng nhà mới, con tốt nghiệp cũng nhậu, lên lương, lên chức cũng nhậu, thảo luận làm ăn, ký khế ước cũng nhậu, mừng vô đảng viên cũng nhậu. Ngày thường nhậu, cuối tuần nhậu nhiều hơn. Rượu vào lời ra, nôn mửa, la lối, đánh giết nhau, vật vã trên vỉa hè, chẳng còn một chút gì gọi là nhân cách.

Và theo quan niệm từ xưa, đàn ông, nam nhi thì phải biết uống rượu. “Nam vô tửu, như kỳ vô phong.” (Đàn ông không rượu, như lá cờ không có gió.) Nhậu mới là đàn ông, nhậu mới là chịu chơi. Xã hội ngày nay, thằng đàn ông không rượu là đồ hèn. (Cởi quần mặc váy đi anh,Về cho con bú, cơm canh lau nhà..) Buổi chiều tan sở, ra thẳng quán nhậu. Không nhậu với thủ trưởng, đồng nghiệp thì đừng hòng có phe cánh hay sống còn.

Chuyện xưa kể, ngày xưa có một chàng trai bị quỷ đòi mạng. Anh chàng van xin tha tội. Quỉ ra điều kiện, phải làm ba việc, uống rượu, đốt nhà hay giết mẹ! Đốt nhà, giết mẹ thì không nỡ, chàng trai chọn điều kiện uống rượu. Nhưng khi rượu vào mất trí khôn, chàng trai đốt nhà rồi giết luôn mẹ. Ngày nay cứ mở Google ra, đánh mấy chữ “Say rượu, giết Mẹ,” sẽ thấy hiện lên hàng trăm trường hợp đi nhậu say rượu về, con trai cầm dao giết mẹ, hay cha giết cả nhà, bạn bè đâm nhau lòi ruột.

Trong chuyện Tam Quốc, có chuyện Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, ba người tâm đầu ý hợp, cùng nhau uống mấy vò rượu mà kết bái huynh đệ tại vườn đào. Ngày nay ở Việt Nam có chuyện hai anh em kết nghĩa, sau bữa nhậu say túy lúy, ông anh nham nhở sờ vào vùng kín của ông em, khiến người này tức giận vác dao chém chết ông anh kết nghĩa.

Trong văn chương thấy người xưa uống rượu có phong cách, chừng mực, uống rượu như là một thứ nghệ thuật, đắp bồi cho giá trị cuộc sống. Ngày nay, Việt Nam là một nước nghèo, lại mang tiếng là đứng đầu vì rượu chè, tai nạn giao thông, ung thư, án mạng, hiếp dâm, phá thai…con người mất nhân cách, lâm cảnh tù đày…

Nói đến chuyện say rượu, phải nói đến nhân vật Chí Phèo. Nhà văn Nam Cao đã kết án đanh thép cái xã hội phong kiến, thực dân tàn bạo, tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, vùi dập cả đạo đức, nhân tính.

Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp,” viết bằng tiếng Pháp và được in năm 1925-1926 trên một tờ báo của Quốc Tế Cộng Sản, Nguyễn Ái Quốc cho rằng Pháp đầu độc dân Việt Nam, bằng cách bắt họ uống rượu theo tiêu chuẩn đầu người (?) Nhưng cứ nhìn con số người chết vì rượu, và những tệ nạn xã hội do rượu gây ra dưới thế hệ Hồ Chí Minh, cái thời mà Tổng Bí Thư đã ca tụng “đất nước ta chưa bao giờ có được như ngày hôm nay,” thì cái chế độ này còn độc ác và gây tội lỗi cho dân tộc Việt Nam gấp trăm lần thời nô lệ!

Quốc Hội CSVN hiện nay đang dùng dằng chưa muốn đem việc hạn chế rượu thành luật, vì rượu là “nền văn hóa thế giới,” thậm chí dẫn cả thơ của Hồ Chí Minh, cho rằng “chỉ khi bị tước đoạt tự do mới không được uống rượu!” (Trong tù không rượu cũng không hoa)!

Để giữ gìn sức khỏe, Lãn Ông đã khuyên: “bán dạ tam bôi tửu, bình minh nhất trản trà…”(Nửa đêm ba chén rượu, sáng sớm một tuần trà, mỗi ngày cứ như thế, thầy thuốc không đến nhà). Chuyện này không chắc lắm, nhưng “nốc” rượu như Việt Nam ngày nay, bác sĩ cũng chạy xa, xe cứu thương đến nhà, và cuối cùng, đạo tì khiêng xác ra… 

(Huy Phương)

GỌNG KỀM LỊCH SỬ * tác giả BÙI DIỄM & David Chanoff

GỌNG KỀM LỊCH SỬ 
tác giả BÙI DIỄM & David Chanoff

@Tú Donald

Đã có nhiều quyển sách viết về Việt Nam trong những năm vừa qua, trong số này, không ít đã diễn tả tường tận những cảnh tượng của chế độ cũ, những cuộc tranh chấp ngấm ngầm trong chánh phủ hay trên bàn đàm phán. Tất cả đều viết về những việc thật gần, thật cận, hoặc từ năm 1960–1975, hoặc từ những năm sau. Mỗi quyển đều nói lên cương vị của người viết hay về một giai đoạn đặc thù của lịch sử. Nhưng quyển Gọng Kềm Lịch Sử, nguyên tác In The Jaws Of History của ông Bùi Diễm và David Chanoff có lẽ đã ám ảnh người đọc sâu xa hơn tất cả.

Chỉ nói riêng về chiều dài, tác giả đã đi ngược suốt từ thời Pháp thuộc qua thời kỳ Bảo Đại, ông Diệm, ông Thiệu cho đến những ngày chót khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ và đề cập đến những nhân vật chìm, nổi trong chính trường từ lúc phôi thai như những học sinh ở trường Thăng Long cùng Ban Giảng Huấn cho đến những sảnh đường quyền lực ở Hoa Thịnh Đốn. Trong suốt hơn 700 trang sách, ông Bùi Diễm, nguyên Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn, con ruột học giả Bùi Ưu Thiên và cháu ruột sử gia Trần Trọng Kim đã thuật lại cuộc đời của mình cũng như cuộc đời của những người cùng lứa tuổi. Từ ngày biết nhận xét cho đến lúc đã thực sự bị cắt rời khỏi đất nước, cuộc đời tác giả được mở ra gần như trọn vẹn trong 36 chương sách: “Gọng Kềm, Hội Kín, Khủng Bố, Lập Trường… Đảo Chánh…” Tất cả những danh từ nói về những cảm quan cũng như các biến cố quá khứ đều nằm gọn trong “Gọng kềm lịch sử,” một bầu không khí khắc nghiệt, mang tính chất định mệnh chẳng khác nào bầu không khí của Chiến Tranh và Hòa Bình. Quyển sách dù nặng phần chính trị nhưng mang đầy tính chất văn chương trong lời viết. Có lẽ lối viết là do nỗ lực cố đem cảm quan của riêng người kể (hoặc thế hệ người kể như đã minh xác trong lời mở đầu) đến với người đọc nên mặc dù quyển sách được viết từ lối nhìn chủ quan, chính cảm quan của người kể đã mang lại tính chất văn chương trong lối diễn tả.

Đã bao năm qua lịch sử vẫn theo sát những kẻ sống sót, vẫn toan tính nghiền nát số phận của những kẻ bất hạnh. Bên nhà kẻ thắng cuộc nhất thời vẫn vẽ vời, tô son điểm phấn cho “Cuộc Đại Thắng Mùa Xuân.” Bên ngoài, từng loạt hồi ký của Neil Sheehan, của Frank Snepp, của David Halberstam, của… Khép giữa hai gọng kềm này là những vết hằn, những người khốn khổ trong cuộc đã ngàn đời im lặng hoặc vẫn thảm sầu trong im lặng của bất công. Hình như chẳng có gì đáng nhớ. Hình như chẳng có gì cao đẹp. Hình như tất cả chỉ là những thủ đoạn thần sầu của những người lãnh đạo đã mù quáng vì uy quyền, đã mất hẳn nhân tâm. Hình như… Chẳng có gì đáng cần biết thêm. Chẳng có gì cần để học hỏi. Tất cả đều chỉ là lỗi lầm và tất cả đều là những việc đã qua, sẽ qua hoặc nên cho qua. Đã có lần người ta tin rằng sự thật chắc chắn phải nằm trong những quyển sách viết dài dằng dặc, đổ hất trách nhiệm về phía những vết hằn đang câm lặng. Nhưng người ta đã quá hấp tấp, vì những vết hằn đã lên tiếng. Tiếng nói thống khổ của những nạn nhân một đời đi tìm lý tưởng. Tiếng nói của tủi cực phải ấm ức phát ra từ tiềm thức vì tai nạn xảy ra chập chồng đã đẩy lui vào ký ức tầm mức quan trọng của những tai ương lần trước.

Trong gọng kềm lịch sử, máu và nước mắt của một thế hệ đã đổ ra thành một thiên bi kịch dài triền miên suốt một giòng đời và người kể lại bằng tâm thức từng cuộc sống của những vết hằn mà chính bản thân mình chứng kiến. Qua câu chuyện của người kể, những vết hằn quằn quại, di động trong khổ đau của hố thẳm im lặng, nhưng người kể không hề quên họ. Tất cả những gì đã mất, đã qua, đã khuất sâu trong âm ỉ của thời gian đều còn sống, mặc dầu chỉ còn sống trong ký ức và người kể vạch dần ký ức của mình để đưa ra những miểng đá hóa thạch cục cằn trong tâm tưởng. Trong thế kẹp ác liệt của lịch sử những vết hằn từ từ hiện rõ, chỗ đỏ ối, chỗ tím, chỗ thâm quầng, chỗ đen đủi, nhưng tất cả đều hiện diện. Và những vết hằn đứng đó mãi mãi điểm tô cho lịch sử.

GỌNG KỀM LỊCH SỬ 
tác giả BÙI DIỄM & David Chanoff

Nguồn:https://www.facebook.com/groups/1399481216981167/permalink/2349646841964595/

Image may contain: 1 person, sitting and suit
Image may contain: outdoor

Mẹ và em trai của tù nhân lương tâm Hoàng Bình – đã đi thăm nuôi Hoàng Bình ở trại An Điềm (Quảng Nam)

Trần Bang
FB Pham Doan Trang:

Sáng nay (23/7/2019), bà Phạm Thị Vạn và anh Hoàng Nguyên – mẹ và em trai của tù nhân lương tâm Hoàng Bình – đã đi thăm nuôi Hoàng Bình ở trại An Điềm (Quảng Nam).

Điều cần ghi nhận là công an, quản giáo ở trại An Điềm đối xử nhẹ nhàng, lịch sự, và để cho ba mẹ con trò chuyện thoải mái trong hơn một giờ đồng hồ. Nhờ đó, Hoàng Nguyên hỏi thăm được anh trai khá nhiều. Hoàng Bình đã khoẻ lại sau đợt tuyệt thực dài ngày để bảo vệ bạn tù Nguyễn Văn Hoá, và cũng đã biết thông tin về vụ tuyệt thực của tù nhân lương tâm trại 5 (Thanh Hoá), trại 6 (Nghệ An) để phản đối chính sách ngược đãi của nhà tù. Hoàng Bình khá lo ngại về sức khoẻ của anh em hai trại này, chia sẻ với Hoàng Nguyên: “Ở An Điềm này thì còn đỡ chứ bên trại 5, trại 6 anh từng ở, anh biết. Nóng lắm. Dựa lưng vào tường mà thấy như bị lột cả da ra”.

Hoàng Bình gửi lời cảm ơn và thăm hỏi tất cả những bạn bè, người quan tâm, ủng hộ ở bên ngoài. Anh có một nguyện vọng là được đọc sách, và nhắn Hoàng Nguyên xin, mua, tập hợp sách để chuyển vào trại giúp. Anh cũng trao cho Hoàng Nguyên hai cây chanh leo anh mới trồng, để tặng linh mục Nguyễn Đình Thục (giáo xứ Song Ngọc, Nghệ An) và linh mục Nguyễn Thanh Tịnh (giáo xứ Cồn Sẻ, Quảng Bình).

* * *

1. Đội ngũ công an, quản giáo hai trại giam số 5 và số 6, và lực lượng an ninh Nghệ An-Thanh Hoá nghĩ gì về câu chuyện này? Tại sao không thể cư xử đàng hoàng với tù nhân lương tâm và thân nhân, bạn bè họ? Nếu đôi bên có thể trao đổi, trò chuyện, đối thoại một cách bình đẳng, lịch sự, như những con người với nhau, thì ai hơi đâu tuyệt thực, ai hơi đâu tuần hành đến trại hay chửi rủa công an làm chi?

Hãy nhớ: Không một người dân thường nào với tư duy bình thường lại muốn chỉ trích, lên án, chửi bới công an, coi công an là “súc vật”, “chó săn”… cả. Khi điều đó xảy ra, chỉ có thể là do họ đang phải sống trong một xã hội bất thường tới mức bệnh hoạn, nơi bộ máy công an táng tận lương tâm ra sức phục vụ một chế độ độc tài cũng táng tận lương tâm như nó.

2. Bạn bè, những người quan tâm, những người có lòng muốn giúp đỡ Hoàng Bình, xin gửi sách (các thể loại, đặc biệt là lịch sử, xã hội, từ điển bách khoa, khoa học tự nhiên như vật lý, thực vật học) cho em trai của Hoàng Bình là Hoàng Nguyên, để Hoàng Nguyên tập hợp và gửi vào cho anh. Xin trân trọng cảm ơn.

Image may contain: one or more people, plant and outdoor

 Nếu hôm nay là ngày cuối cùng: Các bạn sẽ làm gì?

 Nếu hôm nay là ngày cuối cùng: Các bạn sẽ làm gì?

Lũ tí hon đần độn dưới kia, chúng bây có biết MẤT NƯỚC LÀ GÌ không vậy ??

Nghệ sĩ Hồng Nhung, vợ anh hề Xuân Bắc bảo với tôi là chị ấy đã viết đơn xin ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam, chị ấy cũng đã mạnh mẽ chia sẻ những bài viết nhạy cảm của tôi.

Tôi tự hỏi, nếu vừa rồi mình không viết vài bài tâm huyết bênh vực chị ấy, liệu chàng diễn viên nổi tiếng, học trò của chị ấy cho tới các nghệ sĩ, báo đài có lên tiếng bênh vực chị ấy nữa hay không?

Cũng có tới hai tổng biên tập vào kết bạn với tôi, nhiều nghệ sĩ cho tới các bạn trẻ chưa một lần bày tỏ quan điểm về tình hình đất nước thì nay đã mạnh mẽ bày tỏ.

Tất nhiên, với những người như ông Lại Văn Sâm (tiếng là nhà báo nhưng cả đời chỉ vui lạc trên sân khấu, ông ấy mới tuyên bố rằng những chủ tài khoản facebook bày tỏ lòng yêu nước kia đang mạo danh ông ấy, ngoài ra ông ấy không bình luận gì thêm) hay chàng phóng viên Lê Kiên bên báo Tuổi Trẻ (kẻ bồi bút được cho tiền đi du lịch, ca ngợi đặc khu Thâm Quyến và gọi những người phản đối đặc khu là đặc ngu) thì với tôi, không thể gọi họ là nhà báo!

Các bạn có biết không? Thâm Quyến, trông xa hoa, lộng lẫy là thế, nhưng đằng sau vẫn là những giọt nước mắt, những thân phận đáy cùng của xã hội.

Theo số liệu mà tôi nhận được, vào năm 2003, có tới một nửa số công ty ở Thâm Quyến nợ lương nhân viên, có ít nhất 1/3 công nhân nhận lương dưới mức tối thiểu.

Trung Quốc, mang tiếng là một quốc gia siêu cường, nhưng thực ra phần lớn dân Trung Quốc không có đủ tiền để đi du lịch Thâm Quyến.

Trung Quốc, được mệnh danh là nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng nhanh là nhờ vào việc chúng khai thác tài nguyên một cách vô tội vạ, tài nguyên nước chúng quá nhiều, diện tích quá lớn, dân số quá đông, phần lớn bị bóc lột đến cùng cực, mức chênh lệch giàu nghèo cao, rồi cả bệnh tật, ô nhiễm,… Trung Quốc không thiếu gì những làng ung thư, bản thân Bắc Kinh cũng được các nhà khoa học coi là thủ đô ung thư của thế giới.

Cho nên, bản thân người dân trong nước còn bị đối xử như thế, còn không được dùng facebook, thứ hạng công dân thấp kém được đánh giá thông qua tấm hộ chiếu, nạn buôn bán nội tạng, buôn bán trẻ em hoành hành… thì mong gì chúng đối xử tốt với thế giới.

Còn với Việt Nam thì sao?

Có những đế quốc xa lạ chỉ đến xâm chiếm một lần rồi đi. Còn với Trung Quốc, tiếng là người bạn trung thành xuyên suốt chiều dài lịch sử nhưng chưa bao giờ chúng coi Việt Nam là bạn ! Cái mà được gọi là đặc khu với thời hạn cho thuê 99 năm kia thực chất là kịch bản do Tập Cận Bình vẽ ra chứ chẳng phải ai khác, ý đồ tái chiếm đã quá rõ ràng.

Việt Nam cũng rất muốn tự lập nhưng khổ nỗi đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ, cho nên việc hôm nay các bạn mới bày tỏ hình như là hơi muộn.

Có người bảo tôi nước nào mà chả nợ. Đúng vậy, ai ra đời cũng phải nợ, nhưng có người làm được, trả được, còn có người sinh ra đã ăn tàn phá hại, chúng sinh ra chỉ để nợ.

Khi gần chết đói, không ai cho vay nữa thì chúng vòi vĩnh mẹ cha, rồi chúng bán cả ruộng vườn, đất cát, mồ mả tổ tiên nếu mà bán được, chúng cũng đào lên bán.

Cuối cùng, cho tôi hỏi thật nhé, các bạn có lo cho con cái của mình hay không? Các bạn có nghĩ rằng một ngày nào đó khi các bạn chết đi, con cháu nhà các bạn – trong thân phận nô lệ sẽ thắp hương lên bàn thờ rồi hỏi vào thời điểm chúng con bị đe dọa, sao bố mẹ không nói gì? bố mẹ đang ở đâu?

Các bạn có bao giờ hối tiếc về sự vô cảm của mình hay không? Và nếu như hiểu ra điều gì đó, nếu hôm nay là ngày cuối cùng, các bạn có dám bày tỏ chính kiến với tư cách một con người hay không?

Đỗ Cao Cường

From: Tu-Phung

Dối trá hay mộng ảo?

Dối trá hay mộng ảo?

Nguyễn Thùy Dương

Trong hàng ngàn cuộc cướp đất diễn ra trên đất nước này, việc để nổ một quả bom như Thủ Thiêm tạo tiền đề cho những con người đi đòi quyền lợi vốn dĩ thuộc về mình.

Người Việt có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Mở ra Thủ Thiêm thì dễ, đóng nó lại thì quá khó. Nó chỉ dễ khi người giải quyết thật lòng, có thiện chí. Hoặc dễ đối với loài thú đội lốt người “cùng hung, cực ác”. Muốn biết chính quyền ta thuộc loại nào cứ nhìn cách họ giải quyết vấn đề.

Khi có tin đồn, thành phố chuẩn bị 3.000 tỷ để đền cho dân 4,3 ha tại Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm. Tôi phải cười sặc cả nước. Đầu tàu kinh tế cả nước, nộp về trung ương khoảng 80% ngân sách. Để duy trì sự sống cho chính quyền thành phố còn khó, 3000 tỷ đào đâu ra. Muốn xây nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm, thành phố phải bán mảnh đất vàng 1.500 tỷ. Ngân sách nhà nước thì truy nợ mỗi ngày, 3000 tỷ là do nằm mơ ảo ảnh hay mộng du hơn 10 lần trúng Vietlot giải lớn nhất mà có? Huống hồ gì cái sai của chính quyền Tp. HCM đối với Thủ Thiêm không phải nằm trong 4,3 ha với 321 hộ hoặc 331 hộ mà là toàn bộ gần 960 ha, với hơn 14.000 hộ dân bị ảnh hưởng. Liên tục nhắc tới 321 hộ, rồi 331 hộ ở 4,3 ha trước báo chí và dư luận nhằm giảm thiểu tối đa số hộ bị ảnh hưởng, số diện tích liên quan. Vậy có thật thà, có thiện chí hay không? Liên tục dùng tin ảo, tiền ảo để mụ mị người dân 4,3 ha nhằm nhấn chìm hơn 14.000 hộ bị ảnh hưởng liệu có Nhân Tính chăng?

Qua hai ngày tiếp xúc với dân 4,3 ha vào ngày 19-20/7/2019, chuyện đền bù cho những hộ dân về họp bị dân chửi thề vào mặt vì độ “có học, có đạo đức” của cán bộ ta. Bằng kinh nghiệm nhiều lần bị chơi xỏ, ví dụ: “phát nước suối kêu kí nhận về đổi thành kí đồng ý không khiếu nại, khiếu kiện về sau chẳng hạn”, dân 4,3 ha đã nhận ra mình không khéo thành tội đồ với toàn dân Thủ Thiêm. Và họ không hề thiện chí khi vẫn cố ăn gian từng mét đất, từng kẽ hở để cướp lần hai.

Vậy tiền đâu để đền cho dân, tôi xin phép nói thẳng. Dù cái thẳng này có thể mang tới bất lợi cho tôi. Tiền đâu đền à? Dùng ngân sách Nhà nước đền cho người dân mất đất, mất thanh xuân, mất cuộc đời, mất niềm tin… Trung Ương thu về khoản 80% thu nhập của Tp. HCM đã khi nào Trung Ương nghĩ đến trách nhiệm với “dân nghèo” thành phố HCM? Ở đây, tôi tránh dùng từ dân oan vì án có được lập đâu mà gọi là dân oan. Còn ai cố tình không lập án thì kẻ đó tự biết. Thu về 80% nguồn thu để rồi khi “nguồn thu” vỡ nợ, ngoảnh mặt coi có đặng không? Thu về gần hết nguồn thu của Tp để đến khi dân Tp cần được bồi thường đúng thì bắt Tp tự chịu. Mình vẫn thu cho đủ của mình liệu có hợp lòng dân không? Mở ra đại án chỉ thoả mãn tính dân tuý, thoả mãn sự kiềm nén của Nhân Dân biến một nhân vật hoặc tập thể nào đó thành hình tượng anh hùng. Thì anh hùng đó không đúng nghĩa rồi!

Anh hùng thực sự làm việc gì thì mục đích cuối cùng vẫn là lợi ích của Nhân Dân. Mà lợi ích đó phải được chứng minh cụ thể qua hành động và kết quả. Nói Trung Ương không liên quan đến đau khổ, bần cùng của Nhân Dân các tỉnh thành trên đất nước này là Nguỵ Biện, là Vô Trách Nhiệm.

Nguồn: FB Nguyễn Thùy Dương

VANDOANVIET.BLOGSPOT.COM
Nguyễn Thùy Dương Trong hàng ngàn cuộc cướp đất diễn ra trên đất nước này, việc để nổ một quả bom như Thủ Thiêm tạo tiền đề cho những con ng…

Điện giật, 2 bé tử vong: Đơn vị thi công tự ý kéo dây điện hạ thế

hẻm 188 Tam Bình, phường Tam Phú (quận Thủ Đức, TP.HCM) vẫn chưa hết bất ngờ khi 3 trẻ bị điện giật tại công trình thi công đường Vành Đai 2.

Vụ việc làm bé Lê Minh Châu (10 tuổi, quê Bình Thuận) và Trương Đặng Văn Bình (10 tuổi, quận Thủ Đức) tử vong. Bé gái Trương Đặng Bích Ngọc (13 tuổi) bị thương nặng, phải nhập viện cấp cứu. Trong các nạn nhân, bé Bình và Ngọc là chị em.

Anh Trương Văn Hòa chạy ra thì thấy con bị điện giật nên cởi áo làm bao tay rồi kéo bé Bình, bé Ngọc ra ngoài.Anh định cứu bé Châu nhưng luồng điện 3 pha quá mạnh nên không thể tiếp cận.

Theo người dân, đường Vành Đai 2 qua khu vực được thi công từ đầu năm đến nay. Bãi đất trống tại công trình là nơi nhiều trẻ em khu phố hay ra chơi đùa vào buổi chiều.

CHUYỆN Ở BÃI TƯ CHÍNH VÀ QUYỀN ĐƯỢC BIẾT CỦA DÂN

Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit
Liên Trà

Fb Huynh Ngoc Chenh

CHUYỆN Ở BÃI TƯ CHÍNH VÀ QUYỀN ĐƯỢC BIẾT CỦA DÂN
Trung cộng đã đưa tàu vào vùng đặc quyền kinh tế của VN ở bãi Tư Chính để quấy phá và thăm dò dầu khí cả nửa tháng nhưng người dân không hề biết chính thức.

Các chiến sĩ hải quân phải đối đầu với chúng rất căng thẳng qua chừng đó ngày trời trong âm thầm và đơn độc.

100 triệu dân không hề biết về cuộc chiến nguy hiểm và cam go nầy. 100 triệu dân không hề có thông tin gì về việc xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng và kéo dài chưa biết bao giờ mới chấm dứt của Trung cộng.

Nếu không có những thông tin không chính thức từ các nguồn tin nước ngoài thì liệu nhà cầm quyền còn giấu nhẹm sự việc nghiêm trọng nầy đến bao giờ?

Tại sao giặc đến trước cửa nhà lại không cho dân biết, lại không la làng lên phản đối và la lên cho cả thế giới biết trong suốt nửa tháng trời?

Điều đó chỉ giải thích được khi hiểu rằng, khi sự việc xảy ra, nhà cầm quyền nghĩ ngay đến “đại cục” nghĩa là đến lợi ích của Tàu cộng và cũng là lợi ích của đảng chứ không nghĩ đến lợi ích của đất nước và của toàn dân. Nhà cầm quyền biết rằng khi la lên phản đối hành động xâm phạm sai trái của Tàu cộng, chắc chắn sẽ làm chóp bu ở Trung Nam Hải nổi giận, đảng sẽ gánh nhận mọi phiền hà, bởi đảng đã dựa quá sâu vào chúng nó để tồn tại. Thêm vào đó, nếu đảng phải nhượng bộ gì đó với Tàu cộng để được yên thân thì người dân cũng không biết để phản đối, hoặc biết thì cũng chuyện đã rồi như vụ mất một phần lớn thác Bản Giốc.

Một nửa tháng để các chiến sĩ tiền tiêu chiến đấu trong âm thầm cô độc, 100 triệu dân không hề biết đến để lên tiếng ùng hộ động viên khích lệ là một tội ác lớn.

Người dân có thề không cần biết các chiến sĩ chiến đấu theo phương cách nào, nhưng phải biết, họ đang chiến đấu với kẻ thù ngày đêm.

Giấu nhẹm mọi thông tin về việc chủ quyền đất nước đang bị đe dọa là nhà cầm quyền đã tỏ ra hoàn toàn không tin vào người dân, khinh thường người dân và sợ hãi người dân về một điều ám ảnh nào đó.

Ám ảnh đó đã được ông chủ tịch nước nói trắng phớ ra là “thế lực thù địch” trong dân. Phát ngôn đầu tiên của ông khi trở lại làm việc không nói về mối đe dọa của giặc ngoại xâm ở bãi Tư Chính mà nhắm ngay vào dân, sợ trong dân có kẻ lợi dụng lòng yêu nước để gây nguy hại cho đảng.

Đáng buồn, nỗi sợ hãi đó của ông Trọng đã được một nhóm nhà báo nhanh nhạy nắm bắt hoặc được mớm ý trước nên tiếp tay bưng bít thông tin hoặc cuồng nhiệt ủng hộ sự bưng bít thông tin về căng thẳng ở bãi Tư Chính đối với người dân. Lẽ ra họ phải là người đi đầu trong việc đấu tranh cho quyền được thông tin của người dân, họ lại làm ngược lại.

Không cần mọi người khinh miệt, nhóm nhà báo đó đã tự khinh miệt chính mình khi đảng của họ buộc lòng phải công bố sự thật về diễn biến ở bãi Tư Chính.