Một tấn gà tây thối, 10 tấn lòng lợn bốc mùi… vào tiệc tất niên

Cận Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng mạnh. Đây cũng là dịp để các loại thực phẩm bẩn như lòng lợn tối, đùi gà bốc mùi hay thịt vịt, trứng gà non,… không rõ nguồn gốc ồ ạt tấn công thị trường.
About this website

NĂM 2020: VÌ SAO VN TRỞ THÀNH NƯỚC “SẠT NGHIỆP”?

Image may contain: one or more people and text
8 SÀI GÒN

NĂM 2020: VÌ SAO VN TRỞ THÀNH NƯỚC “SẠT NGHIỆP”?

Hổm rày, nhiều Fbker trích phát biểu của Nông Đức Mạnh hồi năm 2006 đã nói rằng: “Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng mở ra một giai đoạn phát triển mới… để đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại” với hàm ý rằng, ông Mạnh cho dân ăn cái “bánh vẽ – công nghiệp hiện đại”.

Nhưng tôi không trách ông Mạnh, vì ông chỉ là kẻ “nói theo”. Lê Duẩn mới là người chủ xướng cái “bánh vẽ – công nghiệp” này.

Lê Duẩn là “nhà tiên tri” từng phán: “Lạm phát chỉ xảy ra ở các nước tư bản, XHCN không có lạm phát”, nên năm 1985 ông cho đổi tiền lần cuối, thì sang năm 1986, khi ông chết, lạm phát lên 3 con số: 774,7%, để “thành kính phân lô”!

Ngay sau 30/4/1975, Lê Duẩn đã vạch ra chủ trương “3 dòng thác cách mạng”: Cách mạng quan hệ sản xuất; cách mạng văn hóa tư tưởng; và cách mạng khoa học kỹ thuật.

Riêng “Cách mạng khoa học kỹ thuật”, Lê Duẩn chỉ đạo: “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”.

Nhưng thực chất “cách mạng khoa học kỹ thuật” là đánh vào các trí thức tư sản và tước đoạt tài sản của các tư sản thương nghiệp vả công nghiệp (nói tránh đi là “tư liệu sản xuất”)

Sài gòn – Chợ lớn – Gia định có 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân – chiếm 80% năng lực sản xuất của cả miền Nam, đã bị quốc hữu hóa (quốc doanh) và tập thể hóa (HTX)

Cách mạng khoa học kỹ thuật (CMKHKT) là bắt GS Nguyễn Duy Xuân (Viện trưởng Viện ĐH Cần thơ, làm bộ trưởng giáo dục chỉ 2 ngày) đi cải tạo và chết trong trại năm 1986.

CMKHKT là thay GS Nguyễn Chung Tú (Hiệu trưởng ĐH Khoa học Sài gòn) bằng PTS Lý Hòa (khi tập kết mới học lớp 4) và cho GS Phạm Hoàng Hộ (nhà thực vật học Đông dương) làm hiệu phó bù nhìn.

Trí thức tìm cách vượt biên, ông Võ Văn Kiệt (bí thư Thành ủy TPHCM) phải sai ông Huỳnh Kim Báu (chủ tịch Hội trí thức yêu nước) đi lãnh các trí thức bị bắt vì vượt biên về, như GS Châu Tâm Luân.

Hãng máy may Sinco bị quốc doanh vẫn phải lưu dụng người cũ có tài như Ông Quang Nhiêu. Anh Đào Hiếu kể trên trang cá nhân, khi còn làm PV Tuổi Trẻ, anh có đưa tin, ông Nhiêu và tập thể KS đã chế tạo thành công cái thuyền (phụ tùng duy nhất phải nhập từ chính hãng Sinco).

Máy may Sinco 100% nội địa hóa, nhưng với sự “lãnh đạo tài tình của Đảng ủy công ty”, Sinco ngày nay không hề sản xuất máy may, mà chuyên sản xuất máy xay lúa, máy chế biến tiêu đen, và máy giết mổ gia cầm!!!

Với sự lãnh đạo tài tình của Đảng ủy công ty, Sinco phải bán trụ sở và nhà máy ở Bình Chánh (dọn về Bến Lức) và hàng trăm cửa hàng bán máy may ở nội thành Sài gòn cho tập đoàn Điện máy Nguyễn Kim.

“3 dòng thác cách mạng” trở thành “3 dòng thác lợi ích”.

Tương tự, Nhà máy dụng cụ đo cơ khí Nhà Bè (nơi sản xuất palme và thước cặp duy nhất trong nước), nhờ CMKHKT, nhà máy này phải bán các máy móc cơ khí có độ chính xác 1 phần ngàn milimet cho tư nhân, và bán nhà xưởng cho đại gia địa ốc xây chung cư, rồi sáp nhập công nhân vào Caric.

Caric là hãng đóng tàu lớn nhất Đông dương, ở Thủ Thiêm bị giải tỏa, phải dời về Q.7 và chỉ sửa chữa tàu biển để nuôi đám “tàn quân” (công nhân còn sót lại)!

Sau 30/4/1975, Công ty cơ khí miền Nam, Công ty luyện kim đen (miền Nam luyện sắt từ sắt phế liệu, miền Bắc luyện từ quặng), Công ty luyện kim màu (luyện vàng bạc, đồng thau)… được lập ra để quản lý nền kỹ nghệ tân tiến ở miền Nam thành kỹ nghệ… lụn bại.

Lãnh đạo, cán bộ các công ty và công nhân cùng ăn cắp nguyên vật liệu đem bán ra chợ trời. Cũng nhờ “tính ăn căp XHCN” mà các tổ hợp và cơ sở sản xuất tư nhân mới có phụ tùng thay thế máy móc và có nguyên liệu sản suất hàng tiêu dùng.

Cũng nhờ các cơ sở SX tư nhân này, mà khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, VN không thiếu hàng tiêu dùng, mà trái lại du học sinh và lao động hợp tác người Việt còn mang hàng tiêu dùng “Made in Hồng Kông – bên hông Chợ Lớn” sang Đông Âu bán, và nhiều người thành đại gia như Phạm Nhật Vượng, Bầu Kiên…

Do kế hoạch hóa, các chỉ tiêu sản xuất cho các NM quốc doanh đều do các Bộ giao xuống, nên không phù hợp nhu cầu, vì vậy sản xuất mặt hàng chính (mặt hàng A) không đủ trả lương công nhân. Nhờ thế, các NM quốc doanh được phép sản xuất mặt hàng phụ (mặt hàng B, mặt hàng C) để trả thêm phụ cấp công nhân.

Thí dụ, mặt hàng A của Sinco là máy may, mặt hàng phụ là máy xay lúa. Mặt hàng A của NM Dụng cụ đo cơ khí Nhà Bè là thước cặp và Palme, thì mặt hàng phụ là khung xe đạp và xích xe đạp.

Do quá đà sản xuất mặt hàng phụ, nên không cải tiến măt hàng chính và để mất thị phần.

Năm 1990-1991, do mô hình TCT 90, 91, mẹ và con, nên “các công ty cơ khí miền nam, công ty luyên kim màu, luyện kim đen chấm dứt CMKHKT. Rồi, TCT tiến hành cổ phần hóa (tức bán cho tư nhân), CMKHKT bị “đổi màu” thành “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”.

Cuối năm 1997, thủ tướng Võ Văn Kiệt họp chính phủ tại Dinh Thống Nhất, tôi hỏi bộ trưởng Bộ Công nghiệp Đặng Vũ Chư: “Tại sao trong 6 ngành mũi nhọn để đến năm 2020 VN thành nước công nghiệp hiện đại, lại không có ngành luyện kim? Vì nếu luyện kim không chế ra đủ loại thép carbon (VN mới sản suất được thép C45) và thép hợp kim thì “ngành mũi nhọn chế tạo máy” lấy nguyên liệu ở đâu mà chế?”

Bộ trưởng Chư cười: “Anh ở báo Phụ Nữ hỏi chi chuyện chuyên môn sâu vậy?”.

Và, đúng như tôi thắc mắc, đến năm 2020, ngành luyện kim không cán được sắt tấm, phải nhập cuộn sắt tấm về để cán sóng và mạ kẽm thành tole lợp nhà; hoặc bẻ sắt tấm thành sắt hộp, sắt V, sắt Z, sắt U, sắt I để phục vụ ngành xây dựng, do đó “ngành mũi nhọn cơ khí chế tạo máy” không chế tạo được ốc, vít như nhiều người đã nói!

Sau cùng đến đời thủ tướng 3X, nhóm lợi ích đã thâu tóm các ngành trọng yếu của quốc gia, vì được vay nợ nước ngoài để đầu tư bừa bãi, rồi bỏ túi riêng như: Dầu khí – Điện lực – Ngân hàng – Viễn thông – Hàng không – Khu chế xuất – Khu công nghệ – Dịch vụ du lịch – Dịch vụ xuất cảnh lao động….

Vì vậy, “bánh vẽ” CMKHKT đã tan tành! Năm 2020 VN không thành “nước công nghiệp hiện đại” mà thành “nước sạt nghiệp hại điện”!

MAI BÁ KIẾM

Quan hệ với Trung Quốc: ‘Chính phủ Việt Nam phải nghe dân, bằng không sẽ mất hết quyền lợi dân tộc’

About this website

 

RFA.ORG
Vụ việc căng thẳng tại Bãi Tư Chính, ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu từ tháng 6 và kéo dài đến gần cuối tháng 10 cho thấy rõ thái độ của Bắc Kinh đối với Hà Nội; mặc dù trên lý thuyết hai nước có cùng ý thứ…
Vụ việc căng thẳng tại Bãi Tư Chính, ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu từ tháng 6 và kéo dài đến gần cuối tháng 10 cho thấy rõ thái độ của Bắc Kinh đối với Hà Nội; mặc dù trên lý thuyết hai nước có cùng ý thứ…

Người đàn ông chết trong nhà tạm giữ, công an nói người này tự treo cổ

SBTN.TV
Tin từ Tây Ninh: Truyền thông nhà nước cộng sản đưa tin ông Phan Quốc Thắng ở thành phố Tây Ninh, người bị bắt vì đâm một thượng uý công an, đã treo cổ trong buồng tạm giam và tử vong. Báo chí đưa tin ông Thắng bị bắt ngày 31/12/2019…

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Sông Cửu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Sông Cửu

03/01/2020
blank

Hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác, hành động để sông Mê Công mãi là dòng chảy của hòa bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của những quốc gia, người dân trong khu vực.

T.T Nguyễn Xuân Phúc

Cuối năm, chính xác là vào ngày 18 tháng 12 năm 2019, FB Thanh Hieu Bui (hốt hoảng) báo động về một tai họa … đã hơi bị cũ: “Cái tin này mới đáng sợ này, đồng bằng Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước, chuyện này liên quan khủng khiếp đến đời sống nhân dân. Một trong những nguyên nhân là bọn Tàu Khựa nó lấy nước nguồn sông, khiến mực nước sông xuống thấp, nước mặn tràn vào.” 

Nạn ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu không phải là hiện tượng mới mẻ gì đâu, ông Lái Gió ạ:

“Mười ngày trước Giáng Sinh, ngư phủ Nguyễn Văn Chơn và vợ cư ngụ tại huyện Lấp Vò Tỉnh Đồng Tháp đã lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai Xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký.

Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn (cartilaginous fishes) gồm các giống cá mập, cá nhám, cá đuối và là cá nước mặn. Đây cũng là lần đầu tiên ngư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long lưới được một con cá nước mặn lớn như vậy rất xa biển và trên một khúc sông nằm sâu trong đất liền… Cho sẻ thịt bán ngay tại bến số tiền thu được lên tới ngót 2 triệu đồng tính ra khoảng 140 đô la như món quà Giáng Sinh mà cả hai vợ chồng anh đã không thể nào ngờ tới. Nhưng ‘Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai’ như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì khi mà nước sông Cửu Long xuống mức thấp nhất so với 73 năm trở lại đây và có nơi mực nước sông chưa được hai thước gây sạt lở hai bên bờ làm thiệt hại nhà cửa và cả nhân mạng.

Nhiều chuyên gia Việt Nam ở ngoại quốc và cả trong nước đã lên tiếng báo động về hiểm họa hạn hán với sông Cửu Long có thể cạn dòng do các công trình xây đập ngăn nước của các quốc gia Thượng Nguồn Thái Lào và nhất là chuỗi tám con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam Trung Hoa mà lâu nay chánh quyền Hà Nội vẫn không hề lên tiếng phản đối…

Và khi một con cá đuối nước mặn lớn như vậy có thể vào tới Đồng Tháp thì đó là báo hiệu nạn ngập mặn (salt intrusion) đã vào rất sâu trong vùng châu thổ, nơi vốn là đất của ‘sữa và mật ngọt’ hay đúng hơn vùng đất của ‘phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng…’ (Ngô Thế Vinh. Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Westminster, CA: Văn Nghệ, 2000). 

Cùng vào thời điểm này, trong một cuộc phỏng vấn do Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện – vào tháng 11 năm 2000 – tác giả của tác phẩm thượng dẫn cũng bầy tỏ sự lo ngại về “giai đoạn toàn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã ô nhiễm đã hoàn toàn ngập mặn thì vĩnh viễn chẳng còn đâu một nền Văn Minh Miệt Vườn và cũng không còn đâu Vựa Lúa để nuôi sống ngót 100 triệu dân của cả nước.”

blank

Nỗi bận tâm và bi quan của Bùi Thanh Hiếu và Ngô Thế Vinh, tiếc thay, không được Bộ Trưởng Tài Nguyên & Môi Trường (kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sông Mê Công Việt Nam) hiện nay đồng tình hay chia sẻ. Nhân vật này vốn rất lạc quan. Mọi “sự cố” về môi sinh đều được đương sự lấp liếm rằng sự việc “chưa đáng quan ngại,” vẫn ở ngưỡng “an toàn” hay “vẫn trong qui chuẩn.”

Tại Hội Nghị Toàn Thể Ủy Ban Sông Mê Công Việt Nam lần thứ nhất của năm 2018, Trần Hồng Hà “đánh giá cao chương trình hành động của uy ban” do … chính ông ta làm chủ tịch! Cái ủy ban này hoạt động ra sao? Câu trả lời có thể tìm được trong nhiều mẩu tin, đọc được trong năm 2019:

Nhà nước VN đã chủ động “đối phó với nguy cơ xoá sổ” này bằng … nghị quyết:   N.Q 20/NQ-CP, ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2017: “Đưa ra những chiến lược có tầm nhìn mới, định hướng chiến lược, các giải pháp toàn diện, căn cơ, đồng bộ, huy động tối đa các nguồn lực và sự tham gia của các thành phần kinh tế để phát triển bền vững ĐBSCL.” 

Qua năm 2018, VTC NEWS (đọc được vào hôm 20 tháng 6) ái ngại cho hay: “1,7 triệu người đã rời khỏi đồng bằng Sông Cửu Long.” Thế là Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc ký thêm cái Quyết Định 417/QĐ-TTg để ban hành chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.”

Thiệt là “quyền biến” và “linh động” hết biết luôn!

Chỉ có điều đáng phàn nàn là những khẩu hiệu, cũng như những Nghị Quyết (và Quyết Định) quyết liệt của ông T.T – xem ra – không có tác dụng gì ráo trọi đến vấn đề sống còn của 18 triệu dân nơi ĐBSCL! 

Thế còn Quốc Hội? 

Nếu tôi nhớ không lầm thì thảm trạng của ĐBSCL, dù đã được nhiều vị thức giả đề cập đến từ cuối thế kỷ trước, chưa bao giờ được đưa vào nghị trình để bàn thảo một cách nghiêm trang và thấu đáo ở Quốc Hội Việt Nam cả. Cứ như thể đây là nơi tụ hội của những người bị tật (đui và điếc) vậy. Tôi còn e rằng không vị dân biểu nào biết là có một cơ quan chính phủ “chuyên trách” về vấn đề này nữa. 

Trụ sở Ủy Ban Sông Mêkong của nước Lào nằm sát cạnh bờ sông. Đôi khi, đi ngang qua toà nhà này – vào mùa nước lớn – tôi vẫn nghĩ vui rằng: Nếu đứng từ ban công mà quăng cần, dám câu được cá lắm nha, gẩn xịt hà. Còn Trụ sở Ủy Ban Sông Mêkong của nước ta thì nằm ở số 23 phố Hàng Tre – quận Hoàn Kiếm, Hà Nội – cách dòng sông Cửu đâu cỡ ngàn cây số. Cũng còn may là nó chưa bị đưa lên đến tận Hà Giang.

blank


T.S Nguyễn Thái Nguyên
 cho rằng: “Không thể đổ hết lỗi cho El Nino hay cho bọn ‘cướp nước’ Trung Quốc được, mặc dù đó là hai nhân tố khách quan rất lớn.” Trong viễn ảnh ĐBSCL bị xoá sổ thì tôi e rằng yếu tố chủ quan còn lớn hơn nhiều. Đó là cái thái độ hoàn toàn vô trách nhiệm của tầng lớp lãnh đạo VN hiện nay trước mọi vấn đề (lớn/nhỏ) của đất nước. Khi giới người này đủ nhẫn tâm để có thể tháo cạn nước của một dòng sông, và đốt cháy nguyên một khu rừng (chỉ vì cần có vài con cá nướng trui để nhậu chơi) thì hiểm họa về môi sinh đang đe doạ dòng sinh mệnh của cả dân tộc, chứ nào có riêng chi chỉ dòng sông Cửu.

Đất nước cần tiềm lực tự nhiên hay tiềm lực nhân văn?

Đã hơn 40 năm kể từ ngày toàn cõi Việt Nam không còn binh đao, lửa đạn. Chỉ cần 20-30 năm, nhiều quốc gia ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hongkong… đã hóa rồng hóa hổ. Nhưng, đã 40 năm mà Việt Nam vẫn nằm trong top 30 nước nghèo nhất thế giới. Cần phải đặt ra câu hỏi: Tại sao lại thế, và đất nước cần tiềm lực nào để phát triển?

Đất nước cần tiềm lực tự nhiên hay tiềm lực nhân văn?

Đề thi môn văn tốt nghiệp phổ thông trung học năm học 2017-2018 là bài thơ Đánh Thúc Tiềm Lực được Nguyễn Duy viết vào năm 1980-1982 trong thời kỳ đất nước quá nghèo khổ, được xếp vào hàng 5 nước nghèo khổ nhất thế giới vào thời điểm đó. Nhưng, cần phải nhận thức chính xác rằng, đất nước vào thời kỳ ấy có nhiều tiềm lực vật chất để không nghèo đói: Rừng vẫn vàng, biển vẫn bạc, tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được khai thác nhiều, đất đai vẫn mênh mông. Thế nhưng, vào thời điểm ấy cơ chế quan liêu bao cấp chính là dây thòng lòng bóp nghẹt tất cả.

Trong nhận thức non trẻ của các em học sinh phổ thông, có lẽ hầu hết các em tin rằng Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm lực vật chất- tài nguyên khoáng sản để đánh thức, để phát triển như nhà thơ Nguyễn Duy. Nhưng, nếu có em nào đó viết đúng sự thật rằng, tiềm lực tự nhiên của đất nước không còn nữa, bài thi của em đó có bị điểm o không? Nếu chịu khó suy xét, có thể thấy rằng, Việt Nam không còn tiềm lực vật chất để phát triển nữa. Rừng- về cơ bản đã bị quan chức và những chính sách sai lầm phá hết. Biển- về cơ bản đã chết khi nguồn lợi hải sản đã bị khai cùng thác tận, và bị đầu độc ô nhiễm nặng nề. Dầu khí biển- về cơ bản cũng đã hết, và quan trọng nhất là 67 lô dầu khí biển đang mất dần vào tay bạn vàng bốn tốt Trung Hoa. “ Rừng đã hết và biển thì đang chết” có lẽ là câu thơ đau xót nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Đất đai- về cơ bản đã nằm trong tay các thương gia trục lợi và các nhóm tư bản thân hữu. Tài nguyên khoáng sản- về cơ bản đã hết. Việt Nam có tiềm lực vật chất nào nữa để mà đánh thức, để mà phát triển? Có nên trách người ra đề không có nhận thức về những thực tiễn đau lòng? Có nên xem xét rằng, người ra đề thi đã chính trị hóa sâu sắc bài thơ để tuyên truyền, mị dân về sự giàu có tài nguyên của đất nước? Nếu đặt ra những câu hỏi này, cần phải có thái độ cảm thông với các em học sinh vì các em đã bị cung cấp một ngộ nhận.

Thế giới đã qua rồi cái thời phát triển bằng tài nguyên khoáng sản, họ thấu hiểu “lời nguyền tài nguyên” là gì(Lời nguyền tài nguyên là một thuật ngữ chỉ việc khai thác tài nguyên chỉ làm lợi cho một nhóm người, không có lợi cho cộng đồng và đất nước, tàn phá môi trường…). Nước Nga của hoàng đế đỏ Putin đầy rẫy tài nguyên khoáng sản quý hiếm, đất hiếm và tồn tại bằng khai khoáng nhưng có giàu mạnh chút nào đâu. Lục địa đen cũng đầy rẫy tài nguyên khoáng sản nhưng vẫn đắm chìm vào đói nghèo và lạc hậu. Trong khi đó, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và hàng chục quốc gia khác không có tài nguyên khoáng sản, hoặc kiên quyết không khai thác tài nguyên khoáng sản vẫn phát triển như vũ bão, vẫn giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc. Từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ, Anh và nhiều quốc gia khác đã kiên quyến nói không với khai thác mỏ để phát triển bằng kinh tế tri thức, bằng sáng tạo. Nước Mỹ dồi dào khoáng sản nhưng Mỹ không khai thác. Nước Mỹ nhập nguyên liệu phôi thép từ Liên xô cũ và nay là CHLB Nga về và chỉ sau vài tuần nước Mỹ đã có những sản phẩm thép đặc hữu có giá trị cao ngất. Giá trị cao ngất đó đến từ trí tuệ và sáng tạo chứ không đến từ khai thác và luyện thô. Nước Mỹ có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt vào hàng cao nhất thế giới, nhưng nước Mỹ chỉ khai thác nhỏ giọt, chủ yếu nhập khẩu. Trí tuệ và sức sáng tạo không ngưng nghỉ của nước Mỹ đã giúp cho nước Mỹ kiên định với con đường “giọt dầu cuối cùng của thế giới là giọt dầu của nước Mỹ”. Kiên định con đường ấy, nước Mỹ đã sản sinh ra công nghệ khai thác dầu đá phiến với hệ số thu hồi dầu cao gấp đôi các công nghệ hiện có, qua đó giảm giá thành, nâng cao sản lượng. Chính công nghệ này đã giúp giá dầu xuống thấp trong 4 năm nay. Với nước Mỹ, trí tuệ và sáng tạo làm nên thành tựu chứ không phải là tiềm lực tự nhiên.

Câu chuyện thành công- thất bại của các quốc gia không phải là câu chuyện tiềm lực tự nhiên, tài nhiên khoáng sán, mà chính là câu chuyện của các tiềm lực nhân văn, mà cụ thể là thể chế chính trị ưu việt hay thể chế chính trị tồi tệ, câu chuyện của tự do hay nô lệ, câu chuyện tôn trọng nhân quyền hay chà đạp nhân quyền.

Các quốc gia tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền đều là những quốc gia giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, New Zealand, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc……Ở đó, họ có đa nguyên và đa nguyên chính trị, có tự do bầu cử, có tam quyền phân lập để giám sát quyền lực, để chống tha hóa quyền lực. Ở đó có tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do học thuật, tự do xuất bản, tự do biểu diễn, tự do sáng tác… Tự do là nền móng của sáng tạo, mà sáng tạo lại là nền tảng của phát triển và thịnh vượng, và họ giàu có là điều tất nhiên. Ở các quốc gia đó, quyền con người- nhân quyền được nhà nước và cộng đồng tôn trọng tuyệt đối. Khi nhân quyền được coi trọng và tôn trọng, con người luôn có hứng khởi để sống, để làm việc, để sáng tạo và cống hiến.

Nếu soi chiếu đơn giản các đặc trưng cơ bản của tự do- dân chủ- nhân quyền, hãy can đảm đặt câu hỏi: Việt Nam đã có tự do- dân chủ -nhân quyền hay chưa? Câu trả lời chính xác là, đó là mặt hàng xa xỉ mà nhân dân Việt Nam đang mong mỏi. Và khi chưa có mặt hàng xa xỉ đó, Việt Nam vẫn cứ phải lầm lũi trong đói nghèo, khổ đau và bất hạnh như những quốc gia thiếu vắng tự do- dân chủ- nhân quyền khác!

Việt Nam không còn tiềm lực tự nhiên để đánh thức, để phát triển, vậy cần gì để phát triển? Câu trả lời thật đơn giản: Việt Nam đang rất cần tiềm lực nhân văn đặc biệt Tự Do- Dân Chủ- Nhân Quyền. Đó là giải pháp vạn năng để sửa chữa những sai lầm của quá khứ, để phát triển trong hiện tại và thịnh vượng- hạnh phúc trong tương lai.

BỊ BẮT VÌ… ĐỌC VÀ GIỚI THIỆU SÁCH

Image may contain: 2 people, hat, baby, child and closeup
Lan Pham

BỊ BẮT VÌ… ĐỌC VÀ GIỚI THIỆU SÁCH

Vào khoảng 2h chiều nay (03/01/2020), vợ chồng anh Hồ Sỹ Quyết (nick Quyet Ho) đang ngồi trong nhà riêng ở khu EcoPark thì nghe tiếng chuông cửa. Anh Quyết vừa ra mở cửa thì khoảng một chục công an, gồm chủ yếu là an ninh thường phục, ập vào nhà như cơn lốc.

Đoàn “khách không mời mà đến” này tự ý khám xét, lục lọi đồ nhà Quyết, lấy đi máy tính, máy quay phim, điện thoại di động và thẻ ngân hàng của cả hai vợ chồng, cùng một số sách do Nhà xuất bản Tự Do phát hành, rồi bắt cả anh Quyết và vợ là chị Trâm về đồn công an huyện Văn Giang (Hưng Yên), tách riêng hai người ra thẩm vấn. Nội dung thẩm vấn xoáy vào mối quan hệ của Quyết và Trâm với Nhà xuất bản Tự Do, tại sao có sách, mua như thế nào, liên hệ với những ai, v.v.

Tới chiều tối, công an “tạm tha” chị Trâm, có thể do hai vợ chồng còn đứa con nhỏ 3-4 tuổi ở nhà. Chị Trâm hỏi thăm tình hình chồng, hỏi xem bao giờ anh Quyết được thả, công an đáp: “Còn tùy thái độ, tùy sự hợp tác của anh ấy”.

Đây không phải lần đầu tiên công an bắt bớ, khám xét người đọc sách của Nhà xuất bản Tự Do, càng không phải lần đầu tiên lực lượng này cướp điện thoại, máy tính, và sách của nạn nhân. Từ khi họ mở chiến dịch tấn công Nhà xuất bản Tự Do cùng các ấn phẩm của Tự Do từ đầu tháng 10/2019 đến nay, gần 100 độc giả trên cả nước đã bị câu lưu, thẩm vấn, cướp đồ đạc tài sản.

Cách đây vài ngày, an ninh ở TP.HCM cũng đột nhiên kéo đến tư gia của một độc giả, đòi khám nhà (không cần lệnh), và bắt khổ chủ phải chứng minh mình “không phải người của Nhà xuất bản Tự Do”.

Với cách hành xử này, lực lượng an ninh tỏ ra rằng họ sẵn sàng bất chấp tất cả: luật pháp, nhân quyền, đạo đức, lương tâm…

Anh Hồ Sỹ Quyết sinh năm 1988, quê Nghệ An, hiện sinh sống cùng gia đình nhỏ ở Hà Nội. Anh ham đọc sách, và đã từng làm video giới thiệu một vài đầu sách của Nhà xuất bản Tự Do.

Nguồn: Phạm Đoan Trang

Việt Nam bắt 12 nhà báo trong năm 2019

Thanh Duong Le and Hieu Vo shared a link.

Việt Nam bắt 12 nhà báo trong năm 2019

Các nhà báo bị chính quyền Việt Nam bắt giữ. Từ trái qua: nhà báo Phạm Chí Dũng, nhà báo Trương Duy Nhất, nhà báo Phạm Văn Hóa

Các nhà báo bị chính quyền Việt Nam bắt giữ. Từ trái qua: nhà báo Phạm Chí Dũng, nhà báo Trương Duy Nhất, nhà báo Phạm Văn Hóa

Photo: RFA

Việt Nam bỏ tù 12 nhà báo trong năm 2019 và là một trong nhóm 10 nước hàng đầu thế giới có biện pháp đàn áp đối với báo giới chỉ trích chính phủ.

Thông cáo báo chí của Ủy Ban Bảo vệ Ký giả- CPJ, trụ sở tại Hoa Kỳ công bố ngày 11 tháng 12 kết luận như vừa nêu. Cụ thể trên toàn thế giới có ít nhất 250 nhà báo bị bỏ tù trong năm 2019. Năm ngoái con số cũng tương tự chỉ nhỉnh hơn một chút là 255.

Trung Quốc là nước bỏ tù nhà báo nhiều nhất trong năm nay với số lượng ít nhất là 48 người; trở thành quốc gia đứng đầu đàn áp giới ký giả trong năm 2019. Theo CPJ thì số lượng nhà báo tại Hoa Lục bị bỏ tù tăng đều đặn mỗi năm kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền và củng cố kiểm soát chính trị tại đất nước đông dân nhất thế giới này.

Tại Việt Nam, kể sau kỳ đại hội đảng lần thứ 12 vào tháng giêng năm 2016 và ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử chức tổng bí thư, biện pháp đàn áp được nhận định tăng mạnh hơn so với trước đó. Nhà báo mới nhất bị bắt vào ngày 21 tháng 11 vừa qua là ông Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập.

CPJ tổng kết đa số những nhà báo bị bỏ tù đều đối diện với cáo buộc chống nhà nước hoặc bị cho là đưa tin giả.

Theo CPJ thì chừng 8% những nhà báo bị bỏ tù trên thế giới trong năm 2019 là nữ giới; giảm so với tỷ lệ 13% vào năm ngoái

CPJ cho rằng các nhà báo không thể bị cầm tù chỉ vì thực thi nhiệm vụ đưa tin của họ.

Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản?

 
About this website

Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản?

Thanh Trúc-RFA
2020-01-01

Nhân sự trong đảng!

Mạng Infonet.vn trích dẫn nguyên văn lời ông Trần Quốc Vượng rằng “Kiên quyết sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người bản lĩnh chính trị không vững vàng; phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút; thiếu gương mẫu, mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm”; bản thân hoặc vợ, chồng, con vi phạm.”

Đến ngày 30 tháng Mười Hai, bài viết tựa đề “ Ba Điều Sáng Tỏ Từ Bài Phát Biểu Của Ông Trần Quốc Vượng”  của tác giả Nguyễn Ngọc Chu được đưa lên trang baotiengdan.com, nêu bật 3 điều mà người viết cho rằng ông Trần Quốc Vượng đã xác định đúng. Thứ nhất là  “Cơ đồ xây dựng 75 năm có nguy cơ sụp đỗ”. Thứ hai, “ Không ai mang máy bay, đại bác đền để lật đổ ta, ta không làm tốt thì ta tự lật đổ ta, chẳng phải do kẻ thù đâu”.

Vẫn theo tác giả Nguyễn Ngọc Chu trên baotiengdan.com, ông Trần Quốc Vượng đang chỉ ra rằng thế lực thù địch phản động, thường bị Nhà Nước xử phạt theo Điều 117 Bộ Luật Hình Sự, chừng như không đến từ bên ngoài chính quyền mà ngay trong nội bộ, và chừng như trước giờ nhiều người trong chính quyền đã định nghĩa sai thế nào là ‘thù địch” là ‘phản động’.

Đây là ý kiến của một nhà phản biện trên một trang mạng độc lập, còn ý kiến của người dân, người quan sát thời cuộc, hoặc người hoạt động chính trị thì sao?

Một nhà quan sát và hoạt động chính trị từ Paris, ông Nguyễn Gia Kiểng, cho biết sau khi tham khảo bài nói chuyện của ông Trần Quốc Vượng hôm 25 tháng Mười Hai thì cảm nghĩ của ông là đang có sự khó khăn trong công tác chuẩn bị tư tưởng cũng như chọn lựa nhân sự trước thềm Đại Hội Đảng lần thứ 13 tới đây:

“Sau đại Hội Đảng 12 họ đã lấy quyết định nhất thể hóa, rập khuôn theo công thức tổ chức của Trung Quốc, là thống nhất Nhà Nước với Đảng, thâu gồm hai chức vụ tổng bí thư và chủ tịch nước trong Hiến Pháp đã được sửa đổi năm 2013, cho chủ tịch nước những quyền rất lớn, đặc biệt quyền đứng đầu quân đội. Họ đã tập trung quyền lực đó vào trong tay ông Nguyễn Phú Trọng. Nhưng ông Nguyễn Phú Trọng đột nhiên bị tai biến và chắc chắn không thể tiếp tục cầm quyền được nữa”.

“Cho nên vấn đề đặt ra là phải chọn người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng, và người có nhiều khả năng mà ông Nguyễn Phú Trọng và thân cận của ông Trọng muốn đặt vào chức vị thế ông Nguyễn Phú Trọng không ai khác hơn là ông Trần Quốc Vượng. Cho nên ông Trần Quốc Vượng là người lo lắng vấn đề cơ cấu nhân sự cho Đại Hội Đảng 13”.

Vẫn theo lời ông Nguyễn Gia Kiểng, tổ chức gọi là bộ máy sàng lọc của đảng, trong đó kỷ luật là trên hết, đã loại trừ hầu  như gần hết những người có tư kiến, có nhân cách, chỉ để lại những con người mà khả năng lớn nhất là giữ im lặng trong suốt thời gian qua:

“Họ cũng không có những con người để mà giải quyết cùng một lúc nhiều vấn đề phúc tạp, cho nên ông Trần Quốc Vượng có lý, lần này đảng cộng sản sẽ rất lúng túng trong việc chuẩn bị Đại Hội 13, sẽ rất chia rẽ, sẽ có tranh cãi gay gắt bởi không có người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng. Năm 2020 sẽ là một năm khó khăn, đòi hỏi một nhân sự lãnh đạo vừa có thiện chí vừa có tài ba mà điều đó thì đảng cộng sản không có. Cho nên đảng cộng sản lúng túng về nhân sự, lúng túng vì bị đe dọa, lúng túng vì chia  rẽ trong chọn lựa và quản lý”.

Đấu đá nội bộ!

Cô Nguyễn Hoàng Vi, thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, bày tỏ:

“ Khi nghe ông Trần Quốc Vượng thì điều đầu tiên trong đầu tôi là một dấu hỏi. Nếu như trong thời điểm bình thường mà không phải là trước Đại Hội Đảng thì tôi cho rằng đó là những lời thật lòng của ông ấy. Nhưng mà trước Đại Hội Đảng mà ông phát biểu như vậy thì tôi nghĩ nó mang tính chất đấu đá, phe phái với nhau hơn là sự trung thực của ông”

“Ông Trần Quốc Vượng muốn dùng lá bài “chính ta lật đổ ta” có thể là đề thanh trừng nội bô, ghế này ghế nọ trong đảng với nhau. Tôi không chắc rằng sau này ông ấy có quay lại đỗ thừa cho dân, đỗ thừa cho thế lực thù địch thế này thế kia”

Dù muốn dù không, cô Nguyễn Hoàng Vi vẫn cho rằng lời nói của ông Trần Quốc Vượng có sức tác động nhất định đến tư duy phải thay đổi, phải cải thiện mà đảng cộng sản biết rõ nhưng không chịu thực hiện:

“ Gốc rễ của vấn đề, đúng như lời phát biểu của ông, sự sụp đổ, sự phát triển của đất nước và của đảng cộng sản nói chung không phải từ chính thế lực thù địch như Ban Tuyên Giáo của đảng cộng sản tuyên truyền bấy lâu nay. Người dân biết điều đó hơn ai hết và bây giờ ông Vượng chỉ muốn mượn cái điều mà ai cũng biết nhưng không dám nói để làm tăng uy tín của ông lên mà thôi”.

“ Gốc rễ của vấn đề, đúng như lời phát biểu của ông, sự sụp đổ, sự phát triển của đất nước và của đảng cộng sản nói chung không phải từ chính thế lực thù địch như Ban Tuyên Giáo của đảng cộng sản tuyên truyền bấy lâu nay. Người dân biết điều đó hơn ai hết và bây giờ ông Vượng chỉ muốn mượn cái điều mà ai cũng biết nhưng không dám nói để làm tăng uy tín của ông lên mà thôi”, Nguyễn Hoàng Vi

Đồng tình với ông Trần Quốc Vượng, rằng kẻ thù làm hại ta chính là ta chứ không ai khác, là ý kiến của phó  giáo sư tiến sĩ, chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, cựu giám đốc Học Viện Hải Quân Nhân Dân Việt Nam:

Từ xa xưa chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói cán bộ phải thật sự vì nước, vì dân, vì đảng. Thế thì cán bộ chọn ra mà trước thì tốt sau đó biến chất thì trở lại là phản dân, phản nước. Câu nói “chọn cán bộ hết sức quan trọng” của vị lãnh đạo đó tôi hoàn toàn đồng ý, vì nếu chúng ta làm sai thì nó dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề, đi đến chuyện dân mất tin. Trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam từ xưa đến nay, khi cán bộ làm cho dân mất tin rồi thì rõ ràng rất nguy hiểm cho việc duy trì quyền lực của Nhà Nước và quyền lực của nhân dân. Tôi thấy câu nói rất đúng thôi”.

“Kinh nghiệm và bài học đau đớn vừa qua ví dụ như vụ xét xử AVG, rồi gần đây vụ xử ông Nguyễn Trung Tín, nguyên phó chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh, rồi một loạt các vụ xử khác nữa, là những bài học phải nói là thấm thía và đau đớn cho quá trình chọn cán bộ ở nước Việt Nam chúng tôi”.

Người dân giám sát!

Nhằm minh chứng cho câu nói “ Ta không làm tốt thì tự ta lật đổ ta” mà ông Trần Quốc Vượng tuyên bố mới rồi, chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm nhấn mạnh không chỉ cán bộ tốt là quan trọng mà  vai trò của nhân dân cũng quan trọng không kém: 

“Tới đây, Đại Hội Đảng thứ 13, có chọn cán bộ tất nhiên phải cán bộ tốt. Nhưng tôi cũng có đề nghị là chọn xong rồi, bố trí xong rồi, Đại Hội Đảng xong rồi phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát quyền lực. Phải kiểm soát quyền lực khi cán bộ được đưa vào vị trí quyền lực rồi, và tôi nói cái giám sát quyền lực tốt nhất là nhân dân. Nhân dân là người giám sát quyền lực một cách chặt chẽ nhất và trung thực nhất”

Thường trực Ban Bí Thư Trần Quốc Vượng đã dám đưa ra tín hiệu quan trọng về nhân lực và nhân sự trong đảng cộng sản  những ngày tới đây,  nguyên Vụ truởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân Vận Trung ương, ông Nguyễn Khắc Mai, nhận định như vậy:

“ Trần Quốc Vượng đáng khen vì dám nói là nếu đảng cộng sản không thay đổi thì nguy cơ bị lật đổ là hiện thực. Ít ra Trần Quốc Vượng đã dám nói lên điều này”

“Chỉ coi trọng cái yếu tố cán bộ không thì không đủ. Bây giờ cho là họ có sàng lọc, chọn lựa tử tế đi nhưng mà đường lối vẫn như cũ, vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội và kinh tế nhà nước, vẫn là đảng độc quyền toàn trị cả đường lối phát triển đất nước, thể chế chính trị không phù  hợp, không dân chủ, không tam quyền phân lập thì tất cả những yếu tố ấy mới thật sự là nguyên nhân tổng hợp làm cho sụp đổ đảng cộng sản”, Ông Nguyễn Khắc Mai

Rõ là đảng cộng sản bắt đầu nhận thức ra vấn đề, ông Nguyễn Khắc Mai phân tích, đó là đội ngũ đảng viên cán bộ thiếu năng lực và thối nát. Có điều nhận thức này chừng như thiếu một yếu tố cần thiết là lấy dân làm gốc:

“Chỉ coi trọng cái yếu tố cán bộ không thì không đủ. Bây giờ cho là họ có sàng lọc, chọn lựa tử tế đi nhưng mà đường lối vẫn như cũ, vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội và kinh tế nhà nước, vẫn là đảng độc quyền toàn trị cả đường lối phát triển đất nước, thể chế chính trị không phù  hợp, không dân chủ, không tam quyền phân lập thì tất cả những yếu tố ấy mới thật sự là nguyên nhân tổng hợp làm cho sụp đổ đảng cộng sản”.

Tóm lại, theo nhà lý luận Nguyễn Khắc Mai, kẻ thù là ta, ta tự lật đổ ta,  là nhận thức quan trọng mà mỗi cán bộ đảng viên đang giữ trọng trách trong bộ máy Nhà Nước phải ghi tâm khắc cốt để không biến mình thành những con sâu đục khoét một chế độ đã quá nhiều tai tiếng:

“ Lời ông Trần Quốc Vượng có thể coi như một nhận thức mới, không còn đổ riệt cho “thế lực thù địch nữa”. Cái  nhân tố nội bộ làm cho chế độ này sụp đổ, làm cho đảng cộng sản này sụp đổ nằm ngay trong lòng của họ”.

RFA.ORG
Ông Trần Quốc Vượng, Thường Trực Ban Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, hôm 25 tháng Mười Hai vừa qua tại Hội Nghị Toàn Quốc Tổng Kết Công Tác Tổ Chức Xây Dựng Đảng năm 2019, Triển Khai Nhiệm Vụ năm 2020, nhấn mạnh rằng “ Phải h…..

Tội ác của Tố Hữu đối với cái chết của nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Image may contain: 1 person, closeup

Liên Trà is with Van Tuan Vo.

Fb:Ngọc Tuyên Đàm

Tội ác của Tố Hữu đối với cái chết của nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.

Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.

Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.

Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã leo lên đến chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Năm 1976, Huy Cận được cộng sản cử vào Saigon cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.

Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười”.

Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.

Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.

Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với BS Phan Huy Quát (cựu Thủ Tướng VNCH).

Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, cộng sản biết ông sắp chết nên thả về. Chỉ 5 ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của Tố Hữu.

THAM NHŨNG

Image may contain: 1 person, text
THAM NHŨNG

Nắm trong tay mọi quyền lực, độc tài đẻ ra tham nhũng. Không có tam quyền phân lập, không có tự do ngôn luận và không có đối lập, độc tài dung dưỡng tham nhũng. Dưới một chế độ độc tài, việc thanh trừng tham nhũng, do đó, không phải là một nỗ lực làm sạch bộ máy cầm quyền mà chủ yếu là một cuộc tranh chấp quyền lực giữa các phe nhóm. Sau các vụ án chống tham nhũng ồn ào, đâu lại hoàn đấy, tham nhũng vẫn tràn lan.

Và nghiêm trọng.

Như cũ.

– Nguyễn Hưng Quốc

Hình minh hoạ