Lệ Khánh. “Em là gái trời bắt xấu”

Lệ Khánh. “Em là gái trời bắt xấu”

  1. Mở bài

Vào những năm của thập niên 60, trên thi đàn xuất hiện những bài thơ của một nữ sĩ làm xôn xao dư luận trong giới văn nghệ và độc giả yêu thơ. Đó là Lệ Khánh với những bài thơ “Em là gái trời bắt xấu”

“Em là gái trời bắt xấu” là tiếng than não nùng của những mối tình tan vở và ngang trái. Cũng là lý do đưa đến tan vở. Lệ Khánh ngậm ngùi than thở:

“Chuyện thủy chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay”.

Một lần tình yêu chấp cánh bay đi, người tình ở lại lệ tràn chia ly. Mối tình sau cùng của Lệ Khánh là nhà thơ kiêm nhạc sĩ Thục Vũ, Vũ Văn Sâm. Thơ và nhạc quyện vào nhau, cuốn hút giới yêu thơ và người ngưỡng mộ một thời trước kia.

Mối tình trái ngang, là yêu một người “không phải của mình”, một người đã có vợ con.

Cuộc sống ngoài đời của Lệ Khánh cũng đầy gian nan. Tù tội vì làm thơ. Vất vả trong khu kinh tế mới. Bàn tay cầm viết làm thơ, thơ đã chết, nên bàn tay yếu đuối của một tiểu thư khuê các phải chẻ tre đốn củi để được chén cơm manh áo. Nổi đau nầy không phải là chỉ riêng của nữ sĩ mà là nổi đau của cả đồng bào miền Nam Việt Nam đầy mất mát, mất tài sản, mất tự do dân chủ, nói chung là mất tất cả vì chế độ Cộng Sản.

  1. Những mối tình dang dở của Lệ Khánh
    1. Người tình Alpha Đỏ.

Người tình đầu tiên của Lệ Khánh là anh chàng Alpha Đỏ, sinh viên sĩ quan khóa 17 Võ Bị Quốc Gia (Đà Lạt), tên là Phạm H. Th. (H.n.L.) Người sĩ quan nầy phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân.

Vết thương tình đầu đời đã phá nát tấm lòng của nhà thơ nữ lần đầu tiên biết yêu.

Mối tình dang dở gây nhiều đau khổ cho Lệ Khánh, đó là ông Alpha Đỏ  kết hôn với người bạn của cô.

Có phải “Em là gái trời bắt xấu”?

Nổi đau nầy khiến cho Lệ Khánh có những bài thơ da diết trên thi đàn của một thời trước kia.

  1. Dang dở lần thứ hai

Sau khi chia tay với người yêu đầu đời, một thời gian sau Lệ Khánh có mối tình với nhà văn Mủ Đỏ Hoàng Ngọc Liên, cựu trung tá binh chủng Nhảy Dù.

Ông nhà văn mủ đỏ nầy thường hay bay đi, bay lại Sài Gòn-Đà Lạt hàng tuần. Khi ông làm bài thơ “Kỷ niệm sinh nhật em”, thì Lệ Khánh có ngay bài “Kỷ niệm sinh nhật anh” để đáp lại.

Lệ Khánh có bài thơ cho người tình mũ đỏ.

    Hờn dỗi 

Đã ba ngày em đợi thư anh đó

Thứ năm buồn úp mặt khóc biết không?

Em giận anh, tức quá muốn lấy chồng

Cho xong chuyện để đừng thương với nhớ

Anh kiêu lắm cứ tưởng mình mũ đỏ

Đại úy “to” rồi quên con bé Cao Nguyên

Đang chờ thư anh, viết mãi một tên

Tên anh đó, người chi lười rứa đó

Em nhất định mai không thèm trông ngóng

Đại úy gì lười hơn hủi nữa cơ

Ba ngày rồi con bé chả làm thơ

Tức rứa đó, để bi chừ em lại khóc.

Lệ Khánh.

Hai người cặp kè bên nhau một thời gian dài, Lệ Khánh biết được ông nầy quá bay bướm, có nhiều bồ nhí ở Sài Gòn, nên chia tay. Lại mỗi lần tình yêu chấp cánh bay đi, người tình ở lại lệ tràn chia ly.

Lại thêm một vết thương trong lòng nhà thơ Lệ Khánh. Có phải vì “Em là gái trời bắt xấu?. Nếu Lệ Khánh là một tuyệt sắc giai nhân thì ra sao?

3.Mối tình ngang trái với nhạc sĩ Thục Vũ

  1. Vài nét về nhạc sĩ Thục Vũ

Nhạc sĩ Thục Vũ, tên thật là Vũ Văn Sâm, sinh năm 1932 tại xã Trực Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tốt nghiệp khóa 4 phụ ở Đà Lạt năm 1954.

Bước đầu binh nghiệp. Thục Vũ phục vụ ở Đà Nẵng, và sau đó là Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Sau thời gian tu nghiệp ở Hoa Kỳ, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Ở đó ông sáng tác bản nhạc “Quang Trung hành khúc” .

Đơn vị sau cùng của Trung tá Thục Vũ là làm trưởng khối Chiến tranh Chính trị của trường Bộ Binh Long Thành.

Sau khi miền Nam sụp đổ, Thục Vũ bị tù cải tạo. Lúc đầu tập trung ở Long Khánh, rồi sau đó về trại Tân Hiệp, Biên Hòa. Giữa năm 1976 bị đưa đến Sơn La, là nơi rừng thiêng nước độc, sơn lam chướng khí. Bịnh đau gan mà không có thuốc chữa trị, mất vào ngày 15-11-1976, để lại vợ và 5 đứa con, một người yêu bé nhỏ với đứa con trai, Dương Khánh Thục.

Khi ở trại Suối Máu, Biên Hòa, Thục Vũ sáng tác bản nhạc “Suối máu” với những câu thơ cũng của Thục Vũ :

Anh Ở Đây

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây

Áo rách xác xơ vai gầy

Cùng chung kiếp sống lưu đầy

Anh ở đây, ngày này cơm chưa đầy chén

Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây

Vẫn giếng nước sâu bên cầu

Tìm trăng, trăng vướng dây gàu

Anh ở đây, ngày này bên trong rào sắt

Hận thù ưu tư chồng chất

Giữa lòng núi cũ sông xưa”.

  1. Mối tình ngang trái

Thục Vũ là một nhạc sĩ cũng là nhà thơ. Vốn cùng nghệ sĩ nên họ đồng cảm, đồng điệu nhau qua lời thơ tiếng nhạc.

Mối tình ngang trái vì Thục Vũ đã có vợ con. Tình trường lại tiếp tục lận đận. Số phận hẩm hiu. Lệ Khánh đã yêu một người “không phải của mình”.

Tình ngang trái được Lệ Khánh diễn đạt qua những lời thơ trong bài “Vòng Tay Nào Cho Em”

“Lỡ yêu người có vợ con

Thì đừng nói chuyện sắc son mà buồn

Vòng tay nào ôm vợ

Còn vòng tay nào anh ôm em?”

“Anh hãy về đi với vợ hiền
Và đàn con nhỏ còn ngây thơ
Phần em chỉ sống bơ vơ
Tình ta đành lỡ duyên nhau
Thì xin hãy hẹn mai sau…”

“Vòng tay” là cử chỉ yêu đương qua 4 câu dưới đây.

“Vòng tay anh chắc giờ đây quá chật?

Ôm vợ hiền, ôm con dại còn đâu

Vâng. Còn đâu người con gái đến sau

Thương, nhớ, tiếc sao ngỡ ngàng biết mấy?”

Lệ Khánh diễn đạt tình yêu bằng những cử chỉ cụ thể, là sự hòa hợp chuyền hơi ấm giữa hai thân xác, “Vòng Tay”. Ôm nhau thì phải hôn nhau…tuần tự hành động thể hiện tình yêu theo luật tự nhiên.

Người con gái đến sau chịu nhiều thiệt thòi, gợi nhớ đến bài “Lấy chồng chung” của Hồ Xuân Hương.

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Năm thì mười hoạ hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không”.

  1. Bài thơ “Em là gái trời bắt xấu”

 

Chiều chúa nhật đợi chờ anh mãi mãi

Sao trễ giờ cho chua xót anh ơi

Hẹn hò chi ? Chừ lỡ dở cả rồi

Tình mới chớm đã vội vàng lịm tắt

Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Liệu người ta đáp trả lại hay không

Đến bao giờ dẫm được xác pháo hồng

Áo cưới đỏ cười vui cô dâu mới

Anh hẹn đúng hai giờ anh sẽ tới

Nhưng sao chừ trời đã tối… anh đâu?

Mưa hôm nay êm như tiếng mưa ngâu

Anh lỗi hẹn nên chiều buồn rứa đó

Tôi gục mặt khóc thầm bên cửa sổ

Mà cô đơn trời hỡi vẫn cô đơn

Nơi xa xôi, anh có biết tôi buồn

Anh có biết tôi cười mắt ngấn lệ?

Anh lỗi hẹn hay là anh đến trễ

Cho chiều nay đường phố lạnh mưa thu

Và đêm nay thành thị ướt sương mù

Người con gái gục đầu thương mệnh bạc?

Chuyện thủy chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay

Sao yêu anh cho đau khổ thế này

Thà câm nín như ngày xưa anh nhỉ ?

Vì Thượng Đế đày tôi làm Thi-Sĩ

Nên tâm tình trào ngọn bút thành thơ

Dâng riêng anh anh nhận lấy, hững hờ

Tôi hổ thẹn bực mình đem đăng báo

Thiên hạ đọc bảo nhau rằng tôi láo

Đẹp như tiên vờ nói xấu vô duyên

Buồn không anh? Một số kiếp truân chuyên

Làm con gái không bạc vàng nhan sắc

Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Người ta sao ? Không nói chuyện ân tình

Hẹn hò rồi còn nỡ để một mình

Tôi đứng đợi suốt chiều mưa chúa nhật

Lần sau nhé bận gì anh cứ khất

Xin sẵn sàng đứng đợi vạn mùa đông

Bạn bè đi qua trao vội thiếp hồng

Tôi vẫn mặc để chờ anh trọn kiếp
 

Lệ Khánh 1965

Bài nầy được Thanh Ngọc&Hồng Lâm phổ nhạc, qua tiếng hát của Thanh Thúy.

  1. Tâm sự của Lệ Khánh qua bài thơ “Em là gái trời bắt xấu”

Cô gái Huế có bút hiệu rất là định mệnh. Lệ Khánh. Vì vậy mà cả đời cô đẫm lệ vì khóc, nước mắt nhiều hơn nụ cười.

Trong khi chờ đợi người tình trễ hẹn, cô gái miên man nghĩ ngợi. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Không biết người ta có đáp trả lại tình mình hay không?  Mình có được cái diễm phúc trở thành cô dâu với áo cưới đỏ, đạp lên xác pháo hồng, hân hoan bước lên xe hoa cùng người yêu đi trọn đường tình, đến bến bờ hạnh phúc?

“Đến bao giờ dẫm được xác pháo hồng

Áo cưới đỏ cười vui cô dâu mới”.

Đa số những câu thơ của Lệ Khánh cần phải đọc liên tiếp từ câu trên xuống câu dưới thì nghĩa mới liên tục. Không ngắt câu.

Ngày chủ nhật, trông chờ người tình lỗi hẹn, người thiếu nữ nầy phân vân, thắc mắc miên man nghĩ ngợi trong nhiều câu hỏi.

“Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Liệu người ta đáp trả lại hay không?”

Cái mặc cảm của người con gái bị trời bắt xấu thể hiện như sau.

“Hẹn hò chi? Chừ lỡ dở cả rồi

Tình mới chớm đã vội vàng lịm tắt”

“Mưa hôm nay êm như tiếng mưa ngâu

Anh lỗi hẹn nên chiều buồn rứa đó”

Mưa trong cảnh đợi chờ buồn như mưa ngâu, ập xuống cả buổi chiều ở xứ lạnh, sương mù. Đà Lạt.

“Mưa ngâu” xuất xứ từ câu chuyện trên thiên đình, là Ngưu Lang và Chức Nữ. Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng, vì say mê tiên nữ đệt vải tên Chức Nữ. Cả hai bỏ bê việc làm nên bị Ngọc Hoàng phạt hai người phải xa nhau, người ở bên nây sông Ngân, người ở bên kia bờ sông.  Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình, cho hai người gặp nhau chỉ một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch. Đàn quạ bắt cầu cho hai người gặp nhau. Cầu Ô Thước.

Sau khi gặp nhau, lúc chia tay, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt, nước mắt buồn chia ly tràn xuống trần gian bằng những cơn mưa. Mưa ngâu.

“Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa”

(Nguyên Sa)

Giọt Mưa Thu (1942) là bản nhạc nổi tiếng của Đặng Thế Phong, làm rung động trái tim của nhiều thế hệ.

Lệ Khánh nghĩ đến nổi đau buồn của cặp tình nhân trong khi chia xa.

Hẹn mà không đến làm cho người yêu nhỏ khóc thầm trong cô đơn và ngóng chờ bên khung cửa. Thục Vũ lớn hơn Lệ Khánh một con giáp, 12 tuổi. (1932-1944)

Trong nổi buồn chờ trông, Lệ Khánh nghĩ đến thân phận mình, nghèo mà không có bằng cấp.

“Chuyện thủy chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay”

Buồn không anh? Một số kiếp truân chuyên

Làm con gái không bạc vàng nhan sắc”

“Em là gái trời bắt xấu”

Xấu ở đây không có nghĩa là hoàn toàn xấu, mà là để so sánh với cái sắc đẹp diễm kiều, quyến rũ như một điều kiện để thu hút và cầm giữ người đàn ông.

Người phụ nữ có hai điều kiện để làm tầm ngắm của đàn ông đó là sắc đẹp nghiêng thành đổ nước. “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” hay “Nhất tiếu khuynh nhân thành. Tái tiếu khuynh nhân quốc”. Sắc đẹp làm chết đứng người anh hùng vì tay mỹ nhân.

Điều kiện thứ hai là tài năng.

Về tài năng, cụ thể là bằng cấp và địa vị. Trong hệ thống hành chánh của chính phủ thì địa vị bao gồm những chức vụ như: chủ sự phòng, chánh sự vụ sở, giám đốc nha…Ngoài xã hội thì phải là bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư…

Lệ Khánh chỉ có chức vụ tầm thường là thơ ký.

Lệ Khánh có tài làm thơ, nữ sĩ chiếm địa vị “công chúa”, “hoàng hậu” trong lòng người yêu thơ. Thơ văn là món ăn tinh thần, nên không làm no bao tử được.

  1. Vài nét về Lệ Khánh

Nhà thơ Lệ Khánh tên thật là Dương Thị Khánh sinh năm 1944 tại Thừa Thiên – Huế. Con của Phó Trưởng ty Cảnh sát Đà Lạt.

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Em là gái trời bắt xấu (thơ tập 1, 2, 3, 4, 5) – Khai Trí Sài gòn xuất bản: 1964- 1965- 1966.
  • Vòng tay nào cho em (thơ 1966)
  • Nói với người yêu (thơ 1967)

Nhà xuất bản Khai Trí đã in 5 tập thơ “Em là gái trời bắt xấu”, 2 tập thơ “Vòng tay nào cho em”, và “Nói với người yêu”, đã có một số độc giả khổng lồ.

Lệ Khánh hiện ở số 71 đường 3 tháng 2, thành phố Đà Lạt.

  1. Cuộc đời lận đận của Lệ Khánh

Nhà văn nữ Hoài Linh Phương (Minneapolis, MN) thân tình với Lệ Khánh như chị em ruột, cả gia đình Hoài Linh Phương cũng xem Lệ Khánh như người thân trong gia đình.

Hoài Linh Phương thuật lại cuộc đời lận đận của Lệ Khánh bên ngoài những vần thơ.

“Thân hình chị đẹp, nếu không nói là hấp dẫn. Tôi nhận ra chị rất mượt mà, có gì đâu mà gọi là “Em là gái trời bắt xấu”? như chị thường than thở. Nhìn khuôn mặt của chị tôi không thấy có điều gì “khuyết điểm” cả”. Lệ Khánh không tuyệt đẹp nhưng không có nghĩa là xấu như chị thường hay than thở”.

Lệ Khánh làm công chức ở tòa Hành chánh thị xã Đà Lạt, rồi sau đó chuyển về Sài Gòn, làm công chức tại tòa Hành chánh tỉnh Gia Định.

Chị liều lĩnh đắm mình trong mối tình ngang trái. Câu chuyện một màu Alpha đỏ khi xưa đã là quá khứ. Và cháu Dương Khánh Thục ra đời.

  1. Sao không thấy bóng dáng của nhạc sĩ Thục Vũ?

Nhà văn Hoài Linh Phương viết trong tùy bút, kể về cô Khánh như sau.

“Chị không có ai là họ hàng thân thuộc ở Sài Gòn cả. Mỗi ngày tôi vào thăm chị ở nhà bảo sanh Đức Chính, đường Cao Thắng, Sài Gòn, tôi mang theo những thứ cần thiết, ru cháu Thục.

Người đàn ông của chị, tôi chỉ gặp một lần trước kia, khi tôi mới quen chị”. Ý muốn nói là hiện tại chưa gặp lại một lần nào cả.

“Chị sống một mình với con trên căn gác nhỏ, mái lợp tôn, ở con hẻm sâu trong đường Nguyễn Huệ, Gia Định. Căn gác nóng hầm hập vào mùa hè, nóng như đổ lửa.

Chị cô đơn trong cảnh đời phồn hoa xa lạ. Cô đơn, xót xa nhìn con khóc mà không thấy cha. Thơ chị phản phất tiếng thở dài:

“Bây giờ mẹ chỉ có con

Con thơ thơm sửa, mẹ mòn tuổi yêu”

Trong cảnh phồn hoa náo nhiệt mà Lệ Khánh cảm thấy rất cô đơn vì thiếu vắng người tình, thiếu hơi ấm của tình yêu lúc ban đầu. Người cha phải nhìn mặt con mình. Con thơ cần phải có cha chăm sóc. Nhưng không thấy nhạc sĩ Thục Vũ ở đó. Ở thời điểm sinh con, người chồng phải có mặt bên vợ trong lúc sinh đẻ.

Đàn ông đi biển có đôi

Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

“Tôi thương cảm sự nhẫn nhục của chị. Cơn mê đã tàn, tình yêu đã tắt. Từ một tiểu thơ, con gái của một Phó ty Cảnh Sát Đà Lạt, với nhà cao cửa rộng, chị theo đuổi một hạnh phúc mong manh. Yêu một người “không phải của mình” để bắt đầu một đời bạc phận, long đong”.

Lệ Khánh muốn về Đà Lạt để gần cha mẹ và cho con được thấy ông bà ngoại và các cậu, dì. Cầm sự vụ lịnh thuyên chuyển trong tay, chưa kịp trình diện nhiệm sở thì Đà Lạt mất. Cả nhà lại di tản về Sài Gòn với hai bàn tay trắng. Tất cả sống trong căn nhà gần như bỏ hoang mà người cha đã mua trước kia.

Từ đó, cuộc sống của Lệ Khánh hoàn toàn bất định ở nhiều nơi khác nhau. Muốn gặp cũng khó.

  1. Lệ Khánh bị tù

Sau đó được tin Lệ Khánh bị bắt bỏ tù, nằm trong số 200 nhà văn, nhà báo, bị ghép tội là thực hiện văn hóa đồi trụy, gởi bài ra ngoại quốc bôi bác chế độ, nói chung là “Những tên biệt kích cầm bút”.

Thành phần bị bắt giam gồm có: Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Sĩ Tế, Dương Nghiễm Mậu,  Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Khuất Duy Trác, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tư và Lý Thụy Ý…và Lệ Khánh.

  1. Bị đi kinh tế mới

Ra tù. Vì không có hộ khẩu thường trú nên phải đi kinh tế mới. Nhìn chung quanh chỉ thấy rừng núi. Đêm đêm nghe tiếng gió hú. Ban ngày phải đi đốn tre, xẻ gỗ làm củi đem về Sài Gòn bán để tìm chén cơm, manh áo.

Từ giả vùng kinh tế mới, Lệ Khánh trở về Sài Gòn nhưng cuộc sống bất định, lang thang, rạc rày, lam lũ…

Có một lần bạn bè phát hiện ra Lệ Khánh bán những rổ chanh ớt, kim chỉ ở bến xe Chợ Lớn. Chị đội cái nón lá sâu, rộng vành, sụp xuống để tránh mặt người quen.

  1. Trở về Đà Lạt

Cả gia đình trở về Đà Lạt. Lệ Khánh bán quần áo cũ. Bán ở chợ không có khách hàng, cho nên chị phải trèo đèo, leo núi, quảy cái túi quần áo cũ trên vai, đi vào những buôn Thượng xa xôi. Khi về đến nhà, tay chân rã rời. Mọi người yên giấc.

  1. Kết luận

Người con gái Đà Lạt, xứ sương mù thơ mộng, đã để lại cho đời những vần thơ gây xao xuyến lòng người của một thời trong quá khứ. Nữ sĩ Lệ Khánh, một bút hiệu định mệnh, buồn nhiều hơn vui. Nước mắt nhiều hơn nụ cười.

Yêu thơ của nữ sĩ Lệ Khánh, quý trọng tài năng và trải lòng chia xẻ niềm đau bạc phận do sự đổi đời vĩ đại trong lịch sử Việt Nam.

Cám ơn nữ sĩ đã để lại cho đời những vần thơ hay, trong một đoạn đường của lịch sử thi ca Việt Nam.

Xin chúc sức khỏe và cầu mong vạn sự an lành cho nhà thơ quý mến Lệ Khánh.

Trúc Giang

Minnesota ngày 27-6-2020

BA “KHÔNG” …

Diep Nong
BA “KHÔNG” …

Cách đây mười năm, tôi có một người khách hàng là một thương gia Úc, chuyên đi VN thu mua hạt điều về cho công ty của ông. Ông hay ghé tiệm của tôi ăn bánh, uống cà phê, trò chuyện chút ít mỗi khi ông từ VN về lại Úc. Và một hôm, sau khi tôi thối tiền, trao tiền thối tận tay ông, cám ơn ông như tôi thường làm như thế với tất cả các khách hàng của tôi, ông ta chợt nói:
-Người VN của cô rất dễ thương, chân chất tốt bụng. Nhưng, tôi ngạc nhiên khi thấy họ có ba cái KHÔNG…
– Là ba cái gì thưa ông?
Ông ta nheo mắt liếc tôi, vừa cười vừa nói vui vẻ:
– “Thứ nhứt là không biết … ĐI BỘ! Đi mua gói thuốc lá ở đầu đường cũng leo lên xe đạp hay xe gắn máy, không chịu đi bộ! Thứ nhì là không biết CÁM ƠN. Thứ ba là không biết XIN LỖI! Mà, tôi biết là trong lòng của họ rất tri ân chuyện tôi làm giúp họ, hay họ cũng cảm thấy có lỗi, mà họ vờ đi, giả lả rồi.. đánh trống lãng qua chuyện khác… Họ ít khi nào nói lời cám ơn hay xin lỗi với tôi lắm… Hình như họ không quen dùng, hay họ cảm thấy chỉ cần cám ơn … thầm kín, hay xin lỗi…thầm kín trong lòng là đủ rồi?!
Ông ta đã làm tôi vừa tức vừa ngượng, dù biết ông không có ý chỉ trích riêng tôi… Tôi bỗng nhớ lại cái TÔI của tôi ngày xưa, hồi còn ở Việt Nam đã lâu lắm …

Bản thân tôi khi còn trẻ cũng rất ít xin lỗi ai, ngoại trừ lúc nằm… úp, chõng mông lên ăn đòn quắn đít, miệng tôi bỗng leo lẽo tuôn ra như cái máy cả tràng dài:
-… Con xin lỗi, con xin lỗi… hu huhu… cho con xin lỗi “măng”… Hu huhu…
Tôi cũng chẳng có “dịp” nói cám ơn với ai cả, ngoại trừ mấy ngày Tết, được lì xì thì phải khoanh tay cúi đầu cám ơn ( không thôi là bị đòn!) Các cậu, các dì và bà chị Hai tôi đang ở ngoại quốc, hay gửi quà về ngập mặt cho gia đình tôi, từ cái chảo ” không dính”, nồi áp suất, đến máy đánh trứng, máy xay sinh tố…; từ con búp bê biết nói đến quần áo, nữ trang đẹp cho riêng tôi. Tôi thích lắm, chỉ biết ” hưởng” chứ tôi cũng chẳng “có dịp” nói lời cám ơn!
Qua nước ngoài được vài năm, một hôm, khi ngồi quây quần dùng cơm chiều, tôi sai con gái 6 tuổi của tôi đứng lên lấy cho tôi cái thìa. Nó trao cho tôi, tôi thản nhiên cầm lấy và múc thức ăn. Con bé đứng chết trân nhìn tôi vài giây, rồi nó phụng phịu nói:
– You are… welcome, mẹ!
Tôi giật mình nhìn nó. Tôi bỗng vở lẽ ra ngay, tại sao mình sai nó mà mình không nói một lời cám ơn với nó, hay một câu khen thưởng nó?! Từ đó, tôi luôn miệng nói cám ơn nó, nói xin lỗi với nó, xem con mình như bạn, như người lớn. Và nó vui hẳn lên, nó tíu tít, lăn xả giúp việc nhà với tôi nhiều hơn trước rất nhiều.
Ở nước ngoài, lời cám ơn được nghe rất thường xuyên, trong nhà, ngoài đường: sếp cám ơn nhân viên; bạn bè cám ơn nhau; cha mẹ cám ơn con cái; chồng cám ơn vợ… Và, không phải mình làm cha làm mẹ có nghĩa là mình lúc nào cũng hoàn hảo! Không phải mình làm sếp, là cấp trên, vai vế là ông bà, chú bác mà có lỗi thì không cần phải xin lỗi! Ngay cả là lãnh tụ của một quốc gia cũng phải cúi đầu xin lỗi dân chúng kia mà?! Lời xin lỗi được nói ra ở khắp nơi, không hề phân biệt giai cấp, tuổi tác, giàu nghèo, vai vế lớn nhỏ.Trong nhà tôi, tôi cũng thường chân tình xin lỗi con mình dù chuyện nhỏ thôi. Thí dụ như:
– Cho mẹ xin lỗi con nhé, mẹ đã đến đón con trễ mất 10’…
-Ồ! Mẹ đã nhầm… Con mới đúng. Mum sorry…

Bây giờ, sau hơn ba mươi năm sống ở xứ người, tôi không khỏi ngạc nhiên khi tôi thấy bạn bè mình, người quen của mình vẫn điềm nhiên …cười trừ khi làm lỗi, dù lỗi lớn hay nhỏ. Họ giả “nai” ngơ ngác, đánh trống lãng bằng cách nói bâng quơ gì đó cho qua chuyện, hoặc có những đấng ông chồng làm lỗi với vợ con, nhưng vẫn xem mình là “bề trên”, không bao giờ biết nói câu XIN LỖI…
Dù bất kỳ lỗi lớn nhỏ thế nào, dù bất kỳ quan hệ ngoài xã hội hay gia đình như thế nào mà nói KHÔNG với CÁM ƠN, nói KHÔNG với XIN LỖI, sẽ làm cho người đối diện bị tổn thương, rồi họ sẽ dần dần xa lánh mình. Mà tại sao mình không CÁM ƠN, hay XIN LỖI? Có khó lắm không? Mình sẽ được người đối diện trân trọng mình hơn, yêu quý mình hơn nếu mình thốt ra chữ CÁM ƠN. Và dỉ nhiên, sau câu nói XIN LỖI thì chuyện dù lớn cũng hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không, phải không các bạn….
Cho DN XIN LỔI đến những ai mà DN đã vô tình tổn thương nhé! Và, DN thật CÁM ƠN tất cả các bạn hữu xa gần đã quý mến DN bao lâu nay, đã ghé đọc chuyện phiếm này.
Thân chúc tất cả bạn hữu một ngày tràn đầy năng lượng và thật an lành.

DN

Image may contain: plant, flower and table
Image may contain: 1 person, standing, sky, child and outdoor

14 TIẾNG Ở ” ĐỊA NGỤC “.

Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: 1 person, text
Image may contain: text and outdoor
Image may contain: 1 person, text
Ngô Thứ

Nguyễn Như Phong

14 TIẾNG Ở ” ĐỊA NGỤC “.

Tôi bị ngã đập đầu xuống đường, bất tỉnh. Anh em ở cơ quan vội vàng đưa vào cấp cứu ở Bệnh viện Chợ Rẫy và sau đó tôi được đưa vào khoa Chấn thương sọ não.

Khi tỉnh dậy, nhận biết được xung quanh, trí óc dần trở lại bình thường, thì quả thật, tôi không thể hiểu được mình đang ở trên trần gian hay dưới địa ngục. Xung quanh tôi, người bị thương nằm xếp như cá hộp. Đó là chưa kể những người nhà bệnh nhân còn nằm vạ vật ngoài hành lang, dưới gầm giường.

Ở các khu chụp X-quang, chụp CT, tưởng như không còn chỗ chen chân. Những người còn đứng được, ngồi được thì buộc phải chờ, vì luôn luôn phải ưu tiên những người nằm trên băng ca được chiếu chụp trước.

Tôi phải nằm lại khoa một đêm để các bác sĩ theo dõi có bị chảy máu não không. Đó có lẽ là đêm dài nhất trong cuộc đời tôi, bởi tiếng la hét, tiếng rú, tiếng kêu rên của những người bị chấn thương, tiếng gọi nhau gấp gáp của các bác sĩ, y tá, rồi cả tiếng dỗ dành, tiếng an ủi, động viên người bệnh. Tôi cũng đã chứng kiến trong đêm những người đàn ông đã ở tuổi trung niên bế bà mẹ đi vệ sinh, rồi đứng quạt cho mẹ ngủ…

Tự nhiên tôi cứ nghĩ, tại sao người ta xây lắm cổng chào, tượng đài thế, mà không nghĩ đến làm thế nào để mở rộng bệnh viện, giảm tải cho người bệnh và giảm bớt áp lực cho đội ngũ nhân viên y tế ở đây.

Tôi có hỏi một bác sĩ rằng tại sao ở đây chỉ có một máy chụp CT? Đầu tư thêm máy chụp CT đâu có phải quá tốn kém. Anh thở dài và nói: Không có đất để làm phòng chụp…!

Quái lạ! Một bệnh viện lớn như này, là bệnh viện trung tâm của tất cả các tỉnh phía Nam mà chỉ có một máy chụp CT, để đến nỗi có những người phải chờ 3 tiếng đồng hồ mới đến lượt chụp thì quả là điều không thể chấp nhận.

Chúng ta cứ nói nhiều đến Đảng, Chính phủ, chăm lo cho công tác an sinh xã hội, chăm lo cho sự nghiệp y tế và giáo dục, nhưng xem ra những chủ trương đó còn trên giấy, trên đài, báo nhiều hơn là trên thực tế. Vẫn biết, bấy lâu nay, ngành Y tế đã rất nhức nhối về việc quá tải ở các bệnh viện lớn, và cũng đã có nhiều giải pháp giảm tải được đặt ra từ thời Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến. Nhưng với những gì mà tôi được chứng kiến ở khoa Cấp cứu và khoa Chấn thương sọ não ở Bệnh viện Chợ Rẫy thì những biện pháp kia xem ra còn đang ở đâu đó rất xa vời.

Một xã hội phát triển, được đánh giá cao hay thấp xin đừng nhìn vào bữa ăn, đừng nhìn vào xe cộ chạy trên đường, hay những tòa biệt thự, những khách sạn lộng lẫy. Hãy nhìn vào bệnh viện, nhìn vào trường học.

Tôi cũng mong rằng các vị lãnh đạo hãy bớt “chém gió” đi! Các vị hãy đến những nơi như phòng cấp cứu của Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức và hãy chịu khó ngồi lại vài tiếng đồng hồ để chứng kiến, để có thể cảm nhận được nỗi vất vả và sự làm việc đến kiệt sức của nhân viên y tế, nỗi khốn khổ của người bệnh vì phải chờ đợi và phải bỏ ra những khoản tiền luôn luôn quá khả năng đối với người nghèo.

Hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, nhất là những vị có chức, có quyền hãy nhớ câu này: “Tiên thiên hạ, chi ưu nhi ưu/ Hậu thiên hạ, chi lạc nhi lạc” (Tạm dịch: Hãy lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=987113881724905&id=100012789074562

Bất đồng chính kiến Việt Nam: Mưu sinh và viễn kiến (P2).

Hoang Le Thanh
Bất đồng chính kiến Việt Nam: Mưu sinh và viễn kiến (P2).

Quốc Phương
BBC News Tiếng Việt
01/7/2020

Trong phần hai cuộc bút đàm với BBC News Tiếng Việt hôm 29/6/2020, năm nhà hoạt động chia sẻ viễn kiến, kỳ vọng của mình về tương lai của đất nước, và bình luận về khía cạnh mưu sinh như một điều kiện sống và hoạt động mà giới này đang phải đối diện.

Nhà báo tự do Cát Linh (từ Hà Nội):

Khó khăn thì vô vàn. Một người bình thường cũng đã rất khó khăn để có đủ chi tiêu qua ngày. Còn với những người tham gia các hoạt động xã hội thì họ phải hy sinh rất lớn, bỏ nhiều thời gian, ít thời gian cho gia đình, công việc có thể nhẹ thì nhắc nhở, nặng thì đuổi việc, … rất nhiều yếu tố cấu thành những khó khăn này.

Bản thân là một nhà báo tự do thì tôi thấy rằng rất khó để có một chỗ ở ổn định vì luôn bị quấy nhiễu, ép chuyển nhà, công việc tự do thì thu nhập cũng thất thường… và xã hội thì nhiều người vẫn nghĩ rằng mình là một người nguy hiểm, đây là điều đáng đau lòng nhất.

Nhà hoạt động Sương Quỳnh (nhà báo độc lập từ Sài Gòn):

Đúng là vấn đề mưu sinh là vấn đề khó khăn nhất cho các nhà tranh đấu. Chính vì thế nhà cầm quyền quyết triệt công việc hay làm ăn của họ. Hầu hết những người tranh đấu ở Việt Nam đều vướng mắc về vấn đề này, sự tương trợ cũng chỉ mang tính cách chia sẻ. Không như đấu tranh ở Hong Kong có đủ các tầng lớp tham gia trong đó có cả tầng lớp trung lưu và doanh nhân, tỷ phú nên họ vững vàng về vật chất. Do đó ở Việt Nam nhiều người đấu tranh tâm huyết đành lùi một bước để mưu sinh. Đó là điều khó khăn tôi cho là bậc nhất trong phong trào đấu tranh hiện giờ.

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung (cựu tù nhân chính trị):

Cô lập kinh tế, chặt đứt nguồn mưu sinh của các nhà hoạt động luôn là một trong những biện pháp đầu tiên mà nhà cầm quyền áp dụng. Bản thân tôi khi đang thử việc trong một công ty du lịch thì cũng bị an ninh làm khó dễ nên công ty đó đã buộc phải từ chối nhận tôi vào làm. Một số công ty khác cũng phỏng vấn tôi để tuyển dụng nhưng đã từ chối khi biết tôi từng là tù nhân chính trị.

Nhà hoạt động Nguyễn Vũ Bình (cựu Biên tập viên Tạp chí Cộng sản):

Câu hỏi nêu đúng vấn đề nan giải của giới bất đồng chính kiến hiện nay. Đối với chế độ toàn trị, đấu tranh tức là tránh vào đâu? Việc đầu tiên họ làm là phong tỏa vấn đề công ăn việc làm, thu nhập. Vấn đề mưu sinh thường nhật là vấn đề nan giải với không ít người đấu tranh. Nhiều bạn trẻ đấu tranh đã phải dừng bước, hạn chế tham gia vì còn phải lo sự tồn tại, duy trì cuộc sống. Đây là điều rất đáng tiếc. Vì sự phức tạp của môi trường đấu tranh, và sự hạn chế nhiều mặt, chưa có tổ chức nào, hội nhóm cộng đồng nào giúp được vấn đề căn bản, thiết thân này một cách bài bản, hệ thống. Bản thân tôi có lẽ vì đấu tranh lâu năm nên có được công việc đủ duy trì sự tồn tại, nhưng muốn làm việc gì nhiều hơn cho việc đấu tranh cũng rất khó khăn về nguồn lực, rất khó.

TSKH Nguyễn Quang A:

Cộng sản ở mọi nơi luôn đánh vào cái dạ dày của các nhà hoạt động và tạo cho họ nhiều khó khăn về mưu sinh, nhưng thời nay có ngàn vạn cách để né cú đòn đó của nhà cầm quyền. Người Việt Nam chí ít cũng đã đòi lại được một số quyền kinh tế và về phương diện này các nhà hoạt động thời nay có thuận lợi hơn các vị tiền bối rất rất nhiều.

Chuyển động trước Đại hội 13?

Bản quyền hình ảnh AFP/GETTY IMAGES

BBC: Đã đang có sự chuyển động nào đáng nói, đáng ghi nhận nhất trong lòng các giới này và tương lai, viễn kiến sẽ ra sao, so với các thế hệ cũ, bối cảnh cũ, sẽ có xu hướng, tính mới nào, đặc biệt trước thềm Đại hội ĐCSVN lần thứ 13 thì ra sao?

Nhà báo tự do Cát Linh:

Việt Nam đã thay đổi . Trong quá trình hội nhập với thế giới và để được bắt tay với thế giới thì dù muốn hay không, Việt Nam phải thay đổi. Điều đáng ghi nhận là nhiều người dân cũng đã hiểu được các mặt trái, phải của xã hội. Còn tinh thần xã hội, tinh thần để lên tiếng lên án những cái xấu thì cần thêm nhiều sự dũng cảm. Bên cạnh đó một số những chính trị gia không ngại phản biện trước các diễn đàn.

Đối với Việt Nam, chúng ta cần thời gian và mọi thứ sẽ thay đổi để Việt Nam có một Việt Nam rất riêng. Và nhắc lại là chúng ta không thể vội vàng. Đưa một quốc gia trở nên hùng mạnh thì cần trách nhiệm, nhận thức của tất cả mọi công dân.

Đại hội sắp tới sẽ có những sự thay đổi, trật tự mới trong hàng ngũ chính trường sẽ được sắp xếp lại. Nhưng để ảnh hưởng đến những vấn đề của xã hội thì cần phải quan sát thêm vì hiện tại chúng ta chưa biết ai sẽ lên và ai sẽ xuống.

Bà Sương Quỳnh:

Những chuyển động đáng nói là càng ngày càng nhiều người dân đã thức tỉnh và nhìn nhận ra rõ nét hiện trạng đất nước bây giờ. Đó là nhờ mạng xã hội đã nỗ lực trong hàng chục năm qua dù những người đóng góp nhiều người phải trả giá bằng tù tội hay bị quản thúc, theo dõi gắt gao tại nhà.

Th.S Nguyễn Tiến Trung:

Theo tôi, trước thềm Đại hội ĐCSVN lần thứ 13 thì phong trào dân chủ – xã hội dân sự sẽ đi xuống vì cuộc đàn áp đang khốc liệt. Rất nhiều nhà hoạt động đã bị bắt thời gian gần đây, kể cả những người thuộc diện sức khỏe yếu, độ tuổi “thất thập cổ lai hy”. Tuy nhiên, trước sự hung hăng bành trướng của cộng sản Trung Quốc trên biển Đông và trên toàn thế giới, các quốc gia dân chủ, văn minh và các quốc gia bị dính “bẫy nợ” đã nhận thức rõ ràng mối nguy hiểm của chế độ cộng sản Trung Quốc, sự tranh đấu, cạnh tranh khốc liệt giữa các cường quốc này sẽ tác động rất lớn đến cục diện chính trường Việt Nam với thuận lợi thuộc về những người dân chủ. Tác động của hậu Thế chiến II giữa hai phe Đồng minh và phát xít đã định hình nên Việt Nam hiện tại và bây giờ lịch sử sẽ lặp lại. Cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia dân chủ và Trung Cộng độc tài sẽ định hình chính trị Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

Chuyển động đáng nói, đáng ghi nhận nhất trong lòng các giới này, đó là họ nhận thức được cuộc đấu tranh rất khó khăn, gian khổ và nan giải sau một thời gian đàn áp khắc nghiệt của nhà cầm quyền. Khi họ nhận thức được thực tế, đúng và sát thì sẽ đưa ra những chương trình, kế hoạch và công việc phù hợp hơn, dẫn tới hiệu quả hơn và giảm bớt các tổn thất.

TSKH Nguyễn Quang A:

Cuộc đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ không bao giờ chấm dứt, ngay cả ở các nền dân chủ tiên tiến. Lơi là một chút là thấy hậu quả ngay. Chính vì thế nó là một quá trình liên tục phải được duy trì nuôi dưỡng, nhắc lại (vì chứng quên là bản chất của con người). Tôi không thích kiểu so với các thế hệ trước, nó là quá trình liên tục nên phải dựa vào quá khứ (cả hay để phát huy và tránh cái dở) nhưng phải tỉnh táo vì thế giới luôn thay đổi, chỉ dựa vào kinh nghiệm cũ không ổn, phải học từ các nơi khác nhưng không nên sao chép (copy) mà phải làm cho hợp với hôm nay. Đại hội 13 của ĐCSVN chỉ là một chặng, tìm mọi cách (kể cả gây sức ép cho đến thuyết phục với các giải pháp đề xuất đa dạng). Cuộc đấu tranh này diễn ra trên nhiều mặt trận, cần nhiều đội quân khác nhau với các phương pháp và đối sách khác nhau.

Đủ năng lực và sẵn sàng?

BBC: Nếu ngay ngày mai có sự thay đổi điều kiện chính trị, thể chế ở đất nước, liệu các giới trên (bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động) đã sẵn sàng và có đủ khả năng, năng lực để bước ra tham chính, chấp chính, lãnh đạo, quản trị đất nước hay chưa, vì sao và thế nào?

Nhà báo tự do Cát Linh:

Tôi nghĩ rằng việc tham chính, quản trị đất nước là vị trí của những người được người dân lựa chọn. Những người bất đồng chính kiến chỉ bày tỏ ý kiến của họ trước một ý kiến khác. Bất đồng chính kiến, thúc đẩy xã hội minh bạch, phát triển… không có nghĩa là họ muốn tham chính, muốn làm chính trị.

Bà Sương Quỳnh:

Nếu có sự biến đổi và chính quyền thuộc về nhân dân thì tôi tin có nhiều người thực tài sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo đất nước từ nước ngoài lẫn trong nước. Thực ra ngay trong bộ máy nhà nước hiện giờ tôi cũng tin có những người tài giỏi nhưng họ bị khống chế vì cơ chế nên họ không thể dùng tổng lực làm việc hữu hiệu. Nhưng nếu cơ chế thay đổi có thể họ sẽ phát huy được năng lực của mình, những người này nếu chứng tỏ uy tín sẽ được bầu vào bộ máy lãnh đạo. Tuy nhiên, để chế độ dân chủ thực thi như các nước văn minh thì Việt Nam còn phải trải qua nhiều năm để chọn được một lãnh đạo hoàn chỉnh đủ tài đức, khi đã có một bộ hiến pháp và pháp luật hoàn chỉnh để tuân thủ. Để chọn được lãnh đạo tài đức thì trình độ nhận thức, hiểu biết và ý thức của người dân phải gần được như người dân Hong Kong hiện giờ.

Th.S Nguyễn Tiến Trung:

Nếu ngày mai có sự thay đổi ngay lập tức thể chế chính trị tại Việt Nam, tôi tin rằng các tổ chức, cá nhân dân chủ đã sẵn sàng bước ra tranh cử vào các vị trí dân cử. Nên nhớ rằng phong trào dân chủ đã có quá trình phát triển rất lâu dài tại Việt Nam chứ không phải mới đây. Có rất nhiều chính đảng, cá nhân trong và ngoài nước đã và đang âm thầm chuẩn bị cho vấn đề Hiến pháp mới, bầu cử hậu cộng sản. Nhờ vào mạng xã hội, Internet, cộng đồng người Việt ở nước ngoài, trình độ dân trí ở Việt Nam đã cao hơn trước rất nhiều.

Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930, chỉ sau 15 năm, nhờ vào thời cơ Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3/1945 đã có thể lên nắm quyền vào tháng 8/1945. Đảng này chỉ có vỏn vẹn 5 tháng được hoạt động công khai nhưng đã lật đổ chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim để “cướp chính quyền”.

Hiện tại, thời cơ chắc chắn sẽ đến, nhưng tôi vẫn luôn mong mỏi tiến trình dân chủ hóa này sẽ diễn ra ôn hòa, trong tình tự dân tộc, vì sự phát triển tốt nhất của đất nước để xây dựng một nền dân chủ thực sự.

TSKH Nguyễn Quang A:

Đừng mong đợi sự thay đổi hay điều kiện, hãy góp phần tạo ra sự thay đổi và các điều kiện đó! Vì cuộc đấu tranh là lâu dài gian khổ nên chưa thể mong có thay đổi “lớn lao” trong thời gian ngắn nếu chúng ta không hành động mà chỉ mong ước hay than phiền, nhưng có thể xây dựng một số yếu tố của xã hội dân chủ, tự do ngay trong lòng chế độ độc tài (đó là cách tích cực, không có nó thì cả ngàn năm nữa cũng không có dân chủ và tự do).

Hãy thực thi quyền của mình được nêu long trọng trong công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (tức là luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia từ đầu các năm 1980), trong hiến pháp chưa được tốt lắm hiện nay (và như thế chính quyền Việt Nam phải có nghĩa vụ pháp lý để tạo điều kiện pháp lý cho nhân dân Việt Nam thực thi các quyền ấy). Mọi người dân hãy thực thi các quyền đó mà không đợi ai cho phép và phải đòi chính quyền tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho nhân dân thực thi các quyền vốn có đó của mình (đó là nghĩa vụ chính của chính quyền vì nhân dân nuôi họ để họ làm việc đó mà họ không làm được thì phải đuổi họ xuống) với phương châm “biến quyền trên giấy thành quyền thực tế”, theo tinh thần “quyền ta ta cứ làm” (chưa có luật là lỗi của quý vị; luật cản trở là vi hiến và vi phạm luật quốc tế). Từng bước một chúng ta có thể giành lại các quyền vốn có và được luật quốc tế cũng như hiến pháp quy định và đến khi giành được các quyền chính trị cơ bản (quyền lập các đảng chính trị, bầu cử tự do trong sạch và công bằng) thì dân chủ hoá thành công và quan trọng nhất với một xã hội dân sự sôi động như vậy tạo cơ sở vững chắc cho sự củng cố nền dân chủ mới một cách bền vững!

Ông Nguyễn Vũ Bình:

Câu trả lời là vừa có, vừa không. Có ở khía cạnh, khi chế độ sụp đổ, việc xây dựng thể chế dân chủ là việc sẽ xảy ra và chắc chắn xảy ra. Quá trình xây dựng thể chế dân chủ và việc người dân bầu chọn ra đội ngũ lãnh đạo đất nước chắc chắn sẽ được thực hiện. Như vậy, những người trong giới bất đồng chính kiến sẽ là những người được lựa chọn và có vị trí lãnh đạo trong tương lai. Điều đó có nghĩa là giới bất đồng chính kiến lúc nào cũng sẵn sàng tham gia vào việc điều hành, lãnh đạo đất nước. Nhưng nói là đủ khả năng, năng lực cũng rất khó nói (nói không đủ khả năng, năng lực cũng không được) vì để quản trị quốc gia, lãnh đạo đất nước nhất là trong giai đoạn chuyển đổi là việc không hề dễ dàng. Tuy nhiên, một thể chế dân chủ được xây dựng hữu hiệu sẽ sàng lọc tốt những người có đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. Có thể giai đoạn đầu gặp khó khăn, song Việt Nam sẽ không bao giờ thiếu những người có đủ năng lực để quản trị, lãnh đạo đất nước.

Nguồn: BBC
https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-53228012

*Mời xem lại phần 1
Bất đồng chính kiến Việt Nam: Góc nhìn qua các thế hệ (P1).

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3492325667452556&id=100000254726265

Image may contain: 1 person, sunglasses
Image may contain: one or more people, people sitting and outdoor

 MẠT THẾ HÌNH NHÂN

Liên Trà is with Cecilia Trà 
 MẠT THẾ HÌNH NHÂN

Làm sao chúng biết lấy tình thương !
Dậy sóng dương trần hóa nhiễu nhương
Cố đẩy hiền nhân chui địa ngục
Hòng đưa ngạ quỷ đến thiên đường !
Đầu trâu án ngữ trùm muôn nẻo
Mặt ngựa tung hoành khắp bốn phương !
Mạt thế hình người mang thú tính
Tội này sách sử chép ngàn chương !….

Liên Trà
.

Image may contain: 1 person, text

VNTB – Những Biện Toại, Đoàn Văn Vươn, Cấn Thị Thêu… ở Việt Nam

 

VIETNAMTHOIBAO.ORG

 (VNTB) – Biện Toại, Đoàn Văn Vươn, Cấn Thị Thêu… là những cái tên đại diện cho hình ảnh Người Nông dân Nổi dậy như bộ phim sử thi của điện ảnh Pháp sản xuất từ năm 2005, công chiếu năm 2007 (từ tháng Giêng), dài 150 phút, được đề cử hai Giải César, mà khán giả Việt Nam đã được xem qua truyền hình với tên “Jacquou Người nông dân nổi dậy”.

Jacquou, người nông dân nổi dậy” (Jacquou Le Croquant) là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng, tiêu biểu nhất trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn cánh tả Eugène Le Roy của Pháp.

Ông tổ của Jacquou là người nông dân nổi dậy thời Henri IV, thế kỷ XVI,  ông nội của cậu là người đốt lâu đài quý tộc trước Cách mạng 1789 bị kết án, cha cậu cũng được gắn cái nhãn Le Croquant, và sau này Jacquou cũng được đặt biệt danh đó. Sử sách ghi nhận những sự kiện nổi dậy của nông dân cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII tại tây nam nước Pháp.

“Jacquou, người nông dân nổi dậy” là một bộ phim hoài niệm một thời dĩ vãng của rất nhiều người Việt Nam. Ít ai ngờ rằng sau đó, ngay trên quê hương Việt, lại xảy ra nhiều “Jacquou”, qua chuyện đất đai của người nông dân đã bị ‘thu hồi’ bất chấp quyền lợi của người dân phút chốc lâm cảnh mất tài sản.

Nhiều người đã liên tưởng đến thảm kịch đồng Nọc Nạng ở miền sông nước đồng bằng Cửu Long thời Pháp thuộc, qua đó để thấy rằng ngay cả lúc mà lịch sử ghi rằng miền Nam Việt Nam chịu sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, thì công lý cho người nông dân vẫn là điều có thật.

Thế nhưng với người dân Việt, tạm không đề cập đến các chính sách cải cách đất đai ở miền Bắc, chỉ xét riêng miền Nam sau tháng tư 1975, đã có không ít những Biện Toại của đồng Nọc Nạng, nhưng chẳng mấy phiên tòa được mở ra để mong công lý soi xét.

Con giun xéo mãi cũng oằn, và thân phận giun dế ấy đã dựa vào sức mạnh truyền thông thời kỹ thuật số, để cất lên tiếng nói phản kháng và cộng đồng đã nhanh chóng ủng hộ họ. Vậy là bắt đầu có những Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, những Cấn Thị Thêu ở Dương Nội, và còn rất nhiều tên tuổi người dân khác bị mất đất ở Thủ Thiêm, ở Cồn Dầu, ở Cờ Đỏ, thậm chí ở ngay cả nội thành Sài Gòn của hôm nay là ‘vườn rau Lộc Hưng’.

Từ một vụ án tranh chấp xảy ra tại Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu vào năm 1928, địa danh Nọc Nạng đi vào văn học nghệ thuật như một biểu tượng bất khuất về người nông dân Nam bộ trong công cuộc khẩn hoang, và gìn giữ đất đai.

Những nhân vật có thật như Tám Luông, Mười Chức, Năm Nhẫn, Sáu Nhịn… lần lượt xuất hiện trong tiểu thuyết, cải lương, phim ảnh… Tính chất xung đột của câu chuyện, và cá tính can trường của nông dân đã khiến tác phẩm phản ánh Nọc Nạng có sức lôi cuốn đặc biệt với công chúng nhiều thế hệ.

Liệu mai này sẽ có những nhân vật ngoài đời bước vào văn chương, cho dòng văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam những thập niên đầu của thế kỷ 21?

VỤ ÁN ĐỒNG NỌC NẠNG

Vụ án Nọc Nạng (tiếng Pháp: l’Affaire de Phong Thanh) – tranh chấp đất đai lớn, xảy ra năm 1928 tại làng Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnhBạc Liêu (nay là ấp 4, xã Phong Thạnh B, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) giữa một bên là các gia đình nông dân Biện Toại, Mười Chức và bên kia là giới địa chủ cường hào ác bá và quan chức chính quyền thực dân Pháp cùng tham quan Nam triều.

Vụ án gây thiệt mạng 5 người, là một ví dụ điển hình của chính sách phân chia và quản lý ruộng đất bất công tại Nam Kỳ dưới thời thuộc Pháp, sau này, được chính quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn vinh như một biểu hiện của sự đấu tranh và phản kháng của nông dân với chính quyền thực dân Pháp.

Sáng 16 tháng 2 năm 1928, khoảng 7g, hai viên chức người Pháp là Tournier và Bouzou cùng bốn lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay viên chức làng tịch thu lúa của gia đình Biện Toại. Đến gần đống lúa, Tournier yêu cầu hương chức làng mời một người trong gia đình ra chứng kiến. Mười lăm phút sau, cô Nguyễn Thị Trọng, em gái Biện Toại đi ra, dắt theo một bé gái 14 tuổi, tên là Tư. Tournier đuổi Trọng, vì cho cô là phụ nữ và còn nhỏ tuổi, không thể chứng kiến việc đong lúa. Trọng không đi, còn yêu cầu đong lúa xong phải ghi biên nhận. Tournier từ chối, tát tai Trọng. Cô lập tức rút ra cây dao nhỏ. Tournier đập báng súng, làm cô ngất đi.

Bouzou tước dao khỏi tay Trọng. Trong lúc lấy dao, ông này bị một vết thương nhỏ không đáng kể ở tay. Đứa cháu tên Tư bèn chạy về cấp báo. Anh em Biện Toại từ nhà chạy ra, mang theo dao mác gậy gộc. Họ chia thành hai tốp, tốp đầu do Mười Chức, em ruột Biện Toại, dẫn đầu. Tốp thứ nhì do bà Nghĩa (vợ Mười Chức) dẫn đầu, tổng cộng năm đàn ông, năm phụ nữ. Tournier ra lệnh cho lính chuẩn bị ứng phó, bắn chỉ thiên, nhưng Mười Chức không dừng lại.

Tournier bèn bắn Mười Chức. Bị thương nặng, nhưng Mười Chức vẫn gắng nhào đến đâm lưỡi mác trúng bụng Tournier, rồi mới ngã xuống. Bạo lực trở nên không thể kiểm soát. Bouzou rút súng bắn bị thương nặng bốn người phía Biện Toại. Hết đạn, Bouzou lại lấy súng của Tournier bắn tiếp, làm nhiều người thương vong. Sáng hôm đó, Mười Chức và vợ đang mang thai (bà Nghĩa), một người anh tên Nhẫn, đều chết.

Nhịn, Liễu (hai em Mười Chức) bị thương nặng. Ba ngày sau, Nhịn chết tại bệnh viện. Về phía nhà cầm quyền, Tournier thiệt mạng ngày 17 tháng 2 tại bệnh viện Bạc Liêu. Tòa Đại hình Cần Thơ xét xử vụ án Nọc Nạn ngày 17 tháng 8 năm 1928. Chánh án là De Rozario, công tố viên là Moreau, Hội thẩm là ông Sự. Các luật sư biện hộ (miễn phí) cho gia đình Biện Toại là người Pháp, Tricon và Zévaco, theo lời nhờ của nhà báo Lê Trung Nghĩa.

Biện hộ của luật sư Luật sư Tricon nhận định nguồn gốc của vụ án là vấn đề điền địa. Ông cho rằng chính sách ruộng đất thời Nguyễn công bằng và hợp thực tế, còn luật lệ do người Pháp đặt ra chưa được áp dụng đúng, thiếu thực tế, những người trong Hội đồng phái viên chỉ ngồi một chỗ, chưa hề bước ra sở đất mà họ xem xét, chỉ quyết định dựa trên báo cáo. Luật sư Tricon ca ngợi tinh thần lao động khẩn hoang của gia đình Biện Toại: họ phải đấu tranh với thiên nhiên, với bọn cường hào, với cả các thủ tục pháp lý, nói: Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của trái tim (Non pas de la dictature de la force du mousqueton, mais de la dictature du coeur).

Luật sư Zévaco ca ngợi lời buộc tội của công tố viên, cho rằng chính sách của nhà nước thì tốt, nhưng người thừa hành xấu đã làm cho chính sách trở nên xấu đối với dân chúng. Zévaco nói nên sa thải vài ông phủ, ông huyện bất hảo và vạch rõ hành động của cặp bài trùng Bang Tắc-tri phủ H. đã dẫn đến tấn thảm kịch Nọc Nạn. Luật sư Zévaco xin tòa tha thứ cho các bị can, nói: Lần này sẽ có một bà lão khóc về cái chết của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ lên đó.

Án tuyên Tòa Đại hình Cần Thơ tuyên Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út Toại) và Tia (con trai Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, sáu tháng tù (đã bị tạm giam đủ sáu tháng). Miều (chồng Liễu), hai năm tù vì có tiền án ăn trộm, quan tri phủ H bị sa thải. Báo chí Sài Gòn bấy giờ đua nhau phản ánh vụ Nọc Nạn. Nhà báo xuống tận nơi điều tra. Dư luận từ mọi giới, kể cả người Pháp, đều thuận lợi cho gia đình Biện Toại. Họ chịu bất công quá lộ liễu. Họ là những tiểu điền chủ siêng năng nhưng bọn cường hào cấu kết với quan lại tham nhũng đã đẩy họ đến đường cùng.

Từ vụ án đồng Nọc Nạn có thể thấy người Pháp đã đưa vụ án ra xem xét ở góc độ đất đai chứ không lờ đi để dung túng cho những cái sai của cấp dưới. Vụ án Đồng Nọc Nạn đã mở ra một án lệ: Khi nông dân khai phá đất hoang, đóng thuế cho nhà nước, họ đương nhiên được sở hữu đất đai.

Lính đặc công đòi bồi thường sau 4 thập kỷ mang án oan giết người

Trần Bang
Lính đặc công đòi bồi thường sau 4 thập kỷ mang án oan giết người

08:19 29/06/2020 Chuyện vụ án

Hai anh em người lính trở về từ chiến tranh vẫn lành lặn nhưng bị bắt oan khiến một người chết trong trại giam vì bệnh tật (do bị đánh đập, hành hạ, đói rét… khi bị giam) người ra tù thành tàn tật…

Nhận tội vì bị đánh

“Họ đánh nhiều quá, bạn tù bảo em tôi bị đánh cho đứt ruột rồi nên tôi sợ không nhận sẽ bị đánh chết. Nghĩ thế nên tôi nhận tội, không chắc cũng bị đánh chết nốt. Lúc thực nghiệm hiện trường, công an bảo tôi diễn lại cảnh giết người nhưng tôi nói không giết thưa cán bộ nên một ông quát lên tống cha nó về trại.

Về rồi, họ cho vào ngách nhỏ chỉ đủ ngồi xổm, trước mặt chỉ có một lỗ to bằng quả trứng ngỗng để ngày 2 lần họ cho ăn, đút vào củ sắn. Đắng ngắt nhưng vẫn phải cố nuốt”, ông Trần Ngọc Chinh (SN 1941, ở Sông Lô, Vĩnh Phúc) kể lại.

Ông Chinh cho hay, ông nhập ngũ năm 1964, là chiến sĩ đặc công trong kháng chiến chống Mỹ. Rời quân ngũ, ông sống tại quê nhà nhưng ngày 3/3/1980, ông bị công an đọc lệnh khởi tố, bắt giam khi đang trồng lạc ngoài đồng để điều tra hành vi giết ông Chu Văn Quản.

Lính đặc công đòi bồi thường sau 4 thập kỷ mang án oan giết người

https://vtc.vn/…/linh-dac-cong-doi-boi-thuong-sau-4-thap-ky…

Image may contain: 2 people, people sitting
Image may contain: 1 person
No photo description available.

“TẾNG OAN DẬY ĐẤT, ÁN NGỜ LÒA MÂY”

Image may contain: text
Võ Văn Tạo

“TẾNG OAN DẬY ĐẤT, ÁN NGỜ LÒA MÂY”

(Tố Như, 350 năm trước)

Hãy dừng tay! Chớ gieo thêm nghiệp ác, gây quả báo cho con cháu các người.
Không ai làm lem luôc thêm bộ mặt chế độ trước nhân dân và quốc tế hiệu quả bằng các người.

Nhân dân biết hết, đừng mong khỏa lấp sai lầm, tội iác bằng sai lầm tội ác khác, làm dân thêm oán hận chế độ.

Bên cạnh Đầm Nọc Nạng, Lịch sử VN sẽ kg quên Đồng Tâm.

Đầm Nọc Nạng:

https://vi.m.wikipedia.org/…/V%E1%BB%A5_%C3%A1n_N%E1%BB%8Dc…

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nông Thôn & Nông Dân

Image may contain: 4 people

Tưởng Năng Tiến

S..D Tưởng Năng Tiến – Nông Thôn & Nông Dân

Gia đình tôi đã đón nhận từ trước rồi. Đấu tranh với bọn cộng sản này thì không thể nhanh vội được… Tôi tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng trong tương lai. Bọn cộng sản này là bọn ăn cướp, cướp bóc của dân và hà hiếp tiếng nói của dân sẽ phải trả giá.

Gia trưởng Trịnh Bá Khiêm (BBC 25/06/2020)

Tôi tình cờ đọc được một bức thư rất cảm động của thi sỹ Nguyễn Quang Thiều (“Thư Của Đứa Con Những Người Nông Dân”) trên trang mạng của nhà văn Đào Hiếu. Xin mạn phép ghi lại đôi ba đoạn ngắn:

“Cảnh làm ruộng của những người nông dân của mấy chục năm trước kia và bây giờ chẳng khác nhau chút nào. Có khác thì chỉ khác một điểm. Đó là người nông dân đi sau đít con trâu mấy chục năm trước kia hiện ra trong ảnh đen trắng còn người nông dân bây giờ vẫn đi sau đít trâu nhưng là trong ảnh màu rực rỡ….

Ngày đó, người nông dân được tuyên truyền về tương lai của những cánh đồng. Tương lai này có thể gọi là thời đại cơ giới hóa. Máy móc và kỹ thuật sẽ trợ giúp việc canh tác của họ. Bản thân những người nông dân cũng tin và mơ ước như thế. Nhưng cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp đã coi như tan biến. Ngay cả những người tuyên truyền về giấc mơ này cũng ‘ngủ’ thiếp từ lâu. Tôi mang cảm giác người nông dân bị bỏ mặc và trở nên bơ vơ trên cánh đồng đầy nắng mưa, bão gió.”

Chỉ có điều hơi đáng tiếc là tôi đã không thể nào chia sẻ được với tác giả của đoạn văn thượng dẫn cái “cảm giác người nông dân bị bỏ mặc và trở nên bơ vơ trên cánh đồng đầy nắng mưa, bão gió.” Ôi, nếu được (“bỏ mặc”) như thế thì may mắn cho họ biết chừng nào.

Được vậy thì làm gì có cảnh nhất đội nhì trời, rồi thay trời làm mưa hay nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài mà đói rách vẫn quần cho sớm tối. Được vậy thì làm gì có chuyện mỗi người làm việc bằng ba để cho chủ nhiệm xây nhà, lát sân. Được vậy thì làm gì có tình trạng lạm phát đầy tớ, “một xã rất nghèo có 2.000 hộ, với gần 1 vạn dân mà có tới… 500 cán bộ.”

Được vậy thì nông dân Quỳnh Lưu, Thái Bình đã không nổi dậy. Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Đặng Ngọc Viết, Đặng Văn Hiến đã không nổ súng. Và làm gì có chuyện một đứa bé vị thành niên phải (cùng cả gia đình) phải vào tù vì chống lệnh thu hồi, hay cảnh người dân khỏa thân giữ đất.

Cũng sẽ không có những mẩu tin nhan nhản hằng ngày trên báo chí khiến cho bất cứ ai (còn chút lương tri) cũng phải cau mày hay đỏ mặt:
– Trâu, bò ra đồng gặm cỏ phải đóng phí
– Phải đóng phí đồng ruộng mới được thả nuôi gà, vịt
– Ghánh nặng quê nghèo sức tàn lực kiệt
– Những giọt nước mắt trong chiến dịch thu ngân sách
– Đừng đẩy nông dân vào đường cùng

Đến bước đường cùng, khi nông dân buộc phải phản ứng hay lên tiếng đòi hỏi công bằng và công lý thì lập tức họ bị đáp trả bằng bạo lực. Biến cố xẩy ra tại thôn Hoành, vào rạng sáng ngày 09/01/2020, được thông tín viên Trọng Thành (RFI) tường thuật như sau:

“Truyền hình Nhà nước phổ biến đoạn phim, vào giữa trời đêm, cảnh sát cơ động xả súng dữ dội vào một ngôi nhà dân bình thường ở Đồng Tâm, như thể tấn công vào một hang ổ mafia. Một ngày sau, công an trả lại xác của người thủ lĩnh tinh thần cuộc đấu tranh giữ đất Đồng Tâm, ông Lê Đình Kình, 84 tuổi, với nhiều vết đạn. Thi thể bị mổ phanh. Hàng chục người dân bị bắt giữ, bị khởi tố về tội chống lại người thi hành công vụ, chống lại một quyết định giải tỏa đất của chính quyền.

Sau cuộc tập kích trong đêm, Đồng Tâm tiếp tục bị phong tỏa. Ba viên sĩ quan công an thiệt mạng, sau khi bị rớt xuống ‘giếng trời’ trong nhà dân, ngay lập tức được chủ tịch Nước truy tặng huân chương. Lực lượng công an phát động phong trào học tập ‘gương hy sinh’’ của ba chiến sĩ.”

Sự việc không dừng tại đó. Hơn 6 tháng sau, RFA thông tin:

“Sáng ngày 24-6-2020, Công an thành phố Hà Nội và công an tỉnh Hòa Bình tiến hành bắt giữ gia đình 3 người gồm bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư cùng với một nhà hoạt động ở cùng phường Dương Nội là bà Nguyễn Thị Tâm. Những người này thời gian qua đưa nhiều thông tin về vụ việc xảy ra ở xã Đồng Tâm vào đầu năm nay lên các trang mạng xã hội. Bạn nghĩ sao?”
Công luận, tất nhiên, phẫn nộ và phẫn uất:

-Từ Thức: “Sức chịu đựng của người VN quả thực khủng khiếp, nhưng hiện tượng những người nông dân như bà Thêu, bà Tâm can đảm đứng dậy, bất chấp hiểm nguy, chứng tỏ cái giới hạn đó đã vượt qua. Cái hố giữa dân và tập đoàn cầm quyền sẽ không ai lấp nổi.”

-Bùi Thanh Hiếu: “Tôi ứa nước mắt, tôi đau đớn trước thái độ bình thản của Trịnh Bá Phương lắm. Một người nông dân, một người cha, một người đàn ông hàng ngày ngồi chợ bốc cua cân bán, nào phải anh hùng gì đâu, được tôi luyện rèn giũa như quân đội, công an đâu. Cái khí chất ấy không phải khí chất của một anh hùng, một tráng sĩ. Đó là phản ứng của một con người hiền lành, chất phác đã tuyệt vọng về đạo lý, pháp luật ở xã hội này.”

-Trần Bang: “Nhìn vào ánh mắt của ba mẹ con nhà Trịnh Bá, lòng tôi như quặn thắt lại, ánh mắt đầy sầu thảm, gần như chỉ ánh nhìn đó thôi, mà như mang cả hình hài của đất nước hôm nay: đầy bất công, đầy đau khổ, bị đày đọa, áp bức, cùng cực vô vọng, không lối thoát từ trong ánh nhìn ấy.”

-Đỗ Việt Khoa: “Hiện nay, những kẻ có quyền thường chụp mũ cho những người phản kháng là phản động phá hoại đất nước? Thử hỏi ai thực sự là phản động chống phá đất nước ?”

-Phạm Thanh Nghiên : “Tóm lại, cả 6 người bị bắt ‘can tội’ nói thật, không chịu thoả hiệp, khuất phục trước chế độ độc tài.”

-Paul Trần Minh Nhật : “Điều tôi khâm phục nhất ở những người nông dân này là họ đã không chỉ đi đòi công bằng cho mình, mà đã tự trau dồi học tập và còn đòi công lý cho những người thấp cố bé miệng khác.”

-Trịnh Kim Tiến: “Dân oan, đặc biệt dân oan trong lĩnh vực đất đai chính là khối u chờ ngày phát tác của đảng. Họ không chữa trị cho lành, mà dùng bạo quyền bắt bớ, hành động này sẽ chỉ khiến cho khối u nhanh chuyển sang giai đoạn cuối hơn thôi.”

-Đoàn Thủy: “Bắt giữ một lúc sáu người nhằm cô lập tiếng nói của họ trước vụ án Đồng Tâm là cách mà Bộ Chính Trị Việt Nam một lần nữa áp dụng cho thấy tầm nhìn hạn hẹp, tư duy bạo lực và chủ nghĩa gông cùm vẫn chi phối mọi hoạt động của nhà nước Việt Nam trong nhiều năm qua và đang tiếp tục đe dọa người dân.”

-Pham Doan Trang: “Họ bị bắt vì họ là những người nông dân nổi dậy, là nhân chứng sống của một thời khủng bố đỏ tàn bạo, là những tiếng nói tranh đấu dũng cảm và chính trực nhất còn lại ở Việt Nam lúc này.”

Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư … Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.

KHÂM PHỤC

Hoa Kim Ngo is with Thu Đỗ and 2 others.
KHÂM PHỤC

Nhìn bức ảnh này của Trịnh Bá Tư ngạo nghễ khi bị bắt. Xem đoạn clip Trịnh Bá Phương livestream một cách bình thản trước bầy thú đang hung hăng phá cửa để bắt em. Em còn quay cả cảnh con trai mới chào đời được 3 ngày đang ngủ như thay lời chia ly với con trước giờ bị bắt, quả thật tôi rất đỗi khâm phục.

Một gia đình chị Cấn Thị Thêu kiên cường và quả cảm.

Không ai muốn đánh đổi sự bình yên và hạnh phúc gia đình để đổi lấy sự kiên cường đến như vậy. Họ chỉ là những người đòi công lý và đấu tranh với sự tàn ác, bất công.

Với những người như thế thì cả một bộ máy công quyền với quyền lực và vũ khí tận răng run sợ là phải rồi.

Sương Quỳnh

Image may contain: 2 people, selfie and closeup

“ĐÀY VUA KHÔNG KHẢ- ĐÀO MÃ KHÔNG BÀI”

Image may contain: 1 person, standing and outdoor
Image may contain: 1 person
Thai NC

“ĐÀY VUA KHÔNG KHẢ- ĐÀO MÃ KHÔNG BÀI”

Những bạn cùng thế hệ tôi có lẽ ít nhất một lần đã từng nghe hay đọc đâu đó 2 câu ca dao trên, và có bao giờ muốn biết nguồn gốc của nó từ đâu?
Năm 1907, do nhiều lần tỏ thái độ và có hành vi chống Pháp, vua Thành Thái bị chính quyền bảo hộ, dưới sự vận động của khâm sứ Ferdinand Lévecque, đòi truất phế. Triều thần theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua dự thảo chiếu thoái vị với lý do “sức khỏe không bảo đảm.” Xem xong bản dự thảo, vua Thành Thái chỉ cười nhạt, ghi ngay hai chữ “phê chuẩn” rồi quay lưng đi vào. Trong bản dự thảo này có đầy đủ chữ ký của các đại thần, trừ Tổng quản Cấm thành Ngô Đình Khả.
Thực dân Pháp sau khi phế truất vua Thành Thái đã quản thúc ngài tại Vũng Tàu, và đến năm 1916 đày sang đảo Reunion, thuộc châu Phi cùng với con là vua Duy Tân.

Năm 1912, một người Pháp tên là Mahé lên làm khâm sứ ở Huế, và ngay lập tức mở một chiến dịch đào tìm vàng ráo riết. Sau khi cướp lấy tượng vàng đúc từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, ông này lại muốn đào lăng vua Tự Ðức, vì nghe rằng dưới lăng có chôn nhiều báu vật. Trong khi các đại thần ngậm bồ hòn làm ngọt, thì duy có một người đứng lên phản đối. Người ấy tên là Nguyễn Hữu Bài, lúc ấy đang là Thượng thư bộ Công.

Dân chúng thời ấy vì vậy mà có câu “Đày vua không Khả, đào mả không Bài.”
Xin nói thêm rằng, đại thần Ngô Đình Khả là thân sinh của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm.

(st)